NHỮNG ĐOẠN VIẾT NGẮN VỀ QUÊ HƯƠNG

 

duyenanh

…Thù hận dân tộc khởi sự từ cây cầu định mệnh này. Nước mắt quê hương bắt nguồn từ dòng sông oan nghiệt này. Lịch sử nào cũng có những thời của chiến tranh và những thời của hòa bình. Thời của chiến tranh mười năm vừa qua trên giang sơn gấm vóc Việt Nam. Nó vừa qua bằng những giọt lệ. Không phải là giọt lệ reo vui hòa bình mà là giọt lệ bẽ bàng phân chia tổ quốc. Một lần huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ. Một lần Thập nhị sứ quân làm đau đớn ý nghĩa đồng bào. Một lần sông Gianh buồn tủi. Và, bây giờ, sông Bến Hải ô nhục. Vẫn một dòng sông biểu tượng của xa rời tình tự, của đứt khúc anh em, nhưng hôm nay, dòng sông ngầu đỏ ý thức hệ. Thù hận dân tộc có xuất xứ rõ nét bằng ý thức hệ, bằng chủ nghĩa hoàn toàn xa lạ với dân tộc chúng ta. Thì mặc kệ nó thôi, cái vĩnh cửu của Việt Nam là cần thiết. Tổ tiên chúng ta đã biết ngậm thống khổ, đã can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh, đã kiên nhẫn chiến đấu cho sự tồn tại vĩnh cửu của Việt Nam. Cuối cùng, sông Gianh chỉ còn là hồi tưởng một thời ta xa nhau, một thời tình yêu héo úa, một thời hạnh phúc ngẩn ngơ. Chúng ta cũng biết ngậm thống khổ, cũng biết can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh, cũng biết kiên nhẫn xây dựng lại một miền quê hương đổ vỡ sau hòa bình què cụt. Để lấp sông Bến Hải. Để con người gần gũi con người. Để anh yêu em, nhớ em như ca dao đã dạy chúng ta yêu nhau, nhớ nhau. Thế thì miền Nam thân yêu, cái nôi đời êm ái, đã ru chúng ta niềm hy vọng, đã phả vào hồn chúng ta nỗi ước mơ làm lại quê hương, làm đẹp quê hương, làm đoàn tụ quê hương, làm rực rỡ quê hương. Chúng ta tiếp nối kinh nghiệm của tiền nhân; ý chí của tiền nhân, dũng cảm của tiền nhân, vượt lên mọi thống khổ, vượt lên mọi thù hận. Để Việt Nam mãi mãi ngạo nghễ dưới mặt trời. Và, vậy đó sự phồn vinh bắt đầu ở miền Nam, ý nghĩa rạng ngời của đời sống bắt đầu ở miền Nam. Chúng ta sáng tạo một thời yêu thương thay đổi một thời thù hận. Chúng ta bắt nòng súng nở hoa thơm ngát hương nhân ái. Chúng ta bắt đạn câm. Chúng ta bắt tạo hóa mỉm cười độ lượng. Rồi, như tiền nhân, bằng trái tim bồi hồi, xao xuyến những giấc mơ xanh; bằng những nốt nhạc nhẩy múa trên môi: “Việt Nam, Việt Nam nghe tự vào đời… Việt Nam không đòi xương máu… Tự do, công bình, bác ái muôn đời…” Chúng ta đã có miền Nam, nơi đồn trú của tình tự dân tộc, của lãng mạn dân tộc, của cao thượng dân tộc, của thi ca chan chứa tình người, của tiểu thuyết tràn trề nhân bản, của âm nhạc đưa hồn lên cao. Để tô thắm triết lý Rồng Tiên, để keo sơn cái còn vĩnh viễn của Việt Nam. Chúng ta đã quên thở dài. Chúng ta cất tiếng hát…
Buồn thay, chúng ta chưa được hát no đầy giọng ca, chưa được hát đẫy đà nốt nhạc thì cây cầu định mệnh kia cựa quậy, dòng sông oan nghiệt nọ nổi sóng, thứ sóng tham vọng của chủ nghĩa cộng sản xâm lược. Những giọt nước mắt Việt Nam bắt đầu ứa ra từ miền Bắc. Rồi những giọt nước mắt chẩy dài theo tuổi nhỏ quắt queo đeo trên lưng cái hiện tại ê chề miệt mài bước đường vô định, theo dân hiền bị cưỡng bức chuyên chở đau thương mà lê chân dọc lối mòn vô vọng. Nước mắt cùng máu rướm chân không thấm vào lòng đất quê hương. Nước mắt trên vai phụ nữ dân công gồng gánh. Nước mắt lên thác xuống ghềnh. Nước mắt nhục nhằn của thân phận Việt Nam đã làm cỏ rừng xúc động, đã làm đá suối nghẹn ngào. Họ thiếu trái tim nên họ không ái ngại đất lún. Họ thiếu con mắt nên họ không thương xót trẻ thơ vác súng đạn băng rừng, vượt núi. Và họ gây chiến tranh. Súng đã nổ. Đạn cộng sản khiến ứa máu thanh bình của chúng ta. Bây giờ là nước mắt miền Nam. Nước mắt của chết chóc, của thương tích, của sợ hãi. Nước mắt của mẹ già. Nước mắt của em bé. Nước mắt của tất cả. Phải làm những giọt nước mắt ngừng chẩy. Phải ngăn chặn chiến tranh. Tuổi trẻ miền Nam giã từ gia đình đi lo việc cứu nước, giữ nước…

Tổ quốc gọi, tuổi trẻ lên đường. Vất bỏ lại những phù phiếm vật chất và chấp nhận cuộc đời gian nan. Bởi vì, đã là lính, đã tình nguyện vào nơi gió cát. Những vầng trán kiêu hãnh ngẩng cao: Danh dự, Trách nhiệm, Tổ quốc Vinh quang bao giờ cũng phải trả giá bằng nhiệt tình và lòng tự phụ. Nhiệt tình là phóng thẳng lên phía quân thù, là chỉ biết tiến không biết lùi, là chỉ biết thắng không biết bại, là thèm sống vinh và sợ chết nhục. Tự phụ là vừa chiến đấu bảo vệ non sông ngoài tiền tuyến vừa bảo vệ hạnh phúc cho đồng bào ở hậu phương.
Hãy hồn nhiên, em bé! Hãy nhẩy múa, hát hò, reo vui Em đừng thèm nghĩ đến chiến tranh, em bé nhé? Chiến tranh là ác quỷ. Đã có anh diệt ác quỷ. Em bé thiên thần ơi, mãi mãi là mắt ngọc, tóc ngọc, môi ngọc, lời ngọc, hồn ngọc. Để anh nhẹ bước chiến chinh. Người lính Việt Nam cộng hòa tuyệt vời. Chẳng còn ngôn ngữ nào cao quý hơn để vinh danh lính của chúng ta, những con người biết sống, biết chiến đấu và biết chết. Hơn cả hào hùng, lính của chúng ta lãng mạn nhất loài người, chấp nhận chiến đấu cho sự sống còn của dân tộc và cả cho tình yêu của mọi người. Nói rõ rệt, lính của chúng ta chiến đấu để làm rực rỡ ý nghĩa của Cái Thật, Cái Tốt, Cái Đẹp của con người. Đó là những người lính đi chiến đấu vì con người, vì tình người, vì đạo nghĩa Việt Nam, vì tình tự Việt Nam, vì những cái tồn tại vĩnh cửu của Việt Nam. Yên vui hậu phương, đó là mềm vui của người lính sa trường, đó là lý do chắc tay súng và ngắm đúng kẻ thù. Không có thứ huy chương nào xứng đáng cho sự hy sinh của người lính Việt Nam cộng hòa cả. Chắc chắn, họ không chiến đấu vì huy chương. Lý tưởng chiến đấu của họ chỉ được nhìn thấy khi chúng ta chứng kiến họ đứng giữa biên giới sống chết. Họ sống vì cái sống của mọi người. Họ chết cũng vì cái sống của mọi người. Người lính đã quên cả sự sống lẫn sự chết của mình. Và ngay cả lúc đứng giữa biên giới của sống chết, người lính Việt Nam cộng hòa vẫn còn thừa niềm xúc động để nhỏ nước mắt xót thương đồng bào mình trong điêu linh, tang tóc của chinh chiến. Có lẽ, chúng ta đã vô tình không chịu hỏi lính của chúng ta nghĩ gì. Vậy thì anh làm ơn trả lời đồng bào anh, anh đã nghĩ gì, người lính?

Không, anh còn khiêm tốn lắm, người lính Việt Nam cộng hòa. Đề đồng bào anh nghĩ về anh, nghĩ về lính lãng mạn, hào hùng mà biểu tượng là người lính nhẩy dù Nguyễn Đình Bảo. Quân sử việt Nam đã trân trọng viết bằng son thắm những trang chính xác về thiên thần mũ đỏ. Chẳng thể thiếu sót tên tuổi và chiến tích vang động đất trời của chiến sĩ dù. Hơn cả chính sử, ngoại sử, huyền sử, tiểu thuyết dã sử còn đưa lính mũ đỏ vào trong những lớp sương mầu thần thoại. Hãy hỏi những con chim đậu trên giây điện xem chúng có ngậm nhạc ngợi ca Nguyễn văn Đương, Nguyễn Đình Bảo. Hãy hỏi kẻ thù xem họ có nghiêng mình trước sự dũng cảm của những người lính dù ở lại Charlie. Cho phép tôi được nhỏ một giọt nước mắt muộn màng tưởng mộ những người lính dù đã đi vào lịch sử.

Chiến tranh là trò chơi thô bỉ. Không ai thích chơi trò chơi của chiến tranh cả. Con người sinh ra không phải để săn đuổi giết nhau. Chúng ta không chơi chiến tranh, chúng ta chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Vì thế, nước mắt còn ứa ra tội nghiệp cho tuổi trẻ miền Bắc bị cộng sản tước đoạt linh hồn đích thật Việt Nam để nhồi nhét vào đầu óc họ cái lý tưởng phi nhân bản, phi dân tộc, cái lý tưởng giải phóng bịp bợm của chủ nghĩa mù, của chế độ điếc, của lãnh tụ ngu. Hãy nhìn những người bộ đội “sinh Bắc, tử Nam”? Hãy nhìn họ, hãy suy nghĩ về cái chết của họ, sẽ có một lời kết án nghiêm khắc chủ nghĩa cộng sản. Cộng sản cứ đẩy họ vào một chiến thắng ảo tưởng. Bộ đội miền Bắc cứ chết thảm, cứ thua nhục… Bằng súng đạn, hỏa tiễn của Liên xô, Trung quốc, cộng sản Việt Nam đã cầy nát quê hương miền Nam của người Việt Nam, đã sát hại người Việt Nam. Rõ ràng, cộng sản Việt Nam vì cái chủ nghĩa quốc tế vô sản mà phản bội quốc gia. Chính nghĩa quốc gia thuộc về chúng ta, của chúng ta. Chính nghĩa ấy đã được người lính Việt Nam thắp sáng ở khắp chiến trường. Nơi nào người lính Cộng Hòa đến, nơi ấy cộng sản thảm bại. Nơi nào cờ vàng chiến thắng tung bay, nơi ấy tự do, thanh bình, no ấm. “Việt Nam không đòi xương máu”. Chúng ta đòi hòa bình để xây dựng đất nước chúng ta phồn thịnh, dân tộc chúng ta hạnh phúc, thương yêu. đoàn tụ. Nhưng cộng sản điên cuồng “thề phanh thây, uống máu” chúng ta, chúng ta cần dạy dỗ họ những bài học nhân bản, để họ trở về con người đầy đủ nhân tính, để hủy diệt thú tính của họ. Chúng ta không thèm mơ ước chiến lợi phẩm tính bằng xác T-54, bằng AK, bằng B-40. Chúng ta mơ ước những cánh đồng lúa chín, những nhà máy phun khói, những chuyến tầu đến đi, những mái trường rộn rã tiếng chim non ca hót. Chúng ta không gây chiến mà chúng ta phải tham chiến. Và vì chiến tranh, chúng ta mất mát khá nhiều. Nước mắt vẫn rơi theo máu rơi. Những giọt nước mắt cay đắng nhất vẫn là những giọt nước mắt của người vợ lính đi nhận xác chồng tử trận.

Đã bao nhiêu người vợ lính mắt đẫm lệ đi nhận xác chồng? Đã bao nhiêu người vợ lính tìm thấy xác chồng và chẳng biết xác chồng mình ở đâu? Tôi lại xin được nhỏ giọt nước mắt muộn màng ngưỡng mộ chinh phụ của thời đại tôi. Và không thể nào tha thứ cho cộng sản. Chủ nghĩa hèn mạt của họ, thêm một lần, chứng tỏ sự phi dân tộc của họ. Họ đã xúc phạm đến cả những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Họ đã dẫm giép râu lên phong tục, tập quán ngàn đời của người Việt Nam. Cộng sản không khước từ một cơ hội nào để bắt máu chẩy, để đòi nước mắt rơi, để chém giết. Cộng sản đem chiến tranh vào thành phố. B-40 của họ đã thụt cháy bàn thờ tổ tiên của chúng ta ngày Tết. Họ đã bắn đạn AK nát phong bao mừng tuổi trẻ thơ. Đạn tội ác của cộng sản thay pháo đốt mừng xuân. Bầy thú dữ vô thành phố. Những gì đã xảy ra? Đi hỏi thùng rác đầu đường, thùng rác cũng phẫn nộ vì bị găm đạn cộng sản. Đi hỏi con chó rên rỉ dưới chân cột đèn, con chó cũng phẫn nộ vì bị găm đạn cộng sản. Đừng hỏi người. Đừng hỏi. Hãy nhìn khói bốc mù trời thành phố. Hãy nghe đạn nổ kinh hoàng. Hãy ngắm những khuôn mặt sợ hãi. Và những giọt nước mắt đêm xuân… Và rồi sẽ có một định nghĩa về những giọt nước mắt.
Đánh đâu thua đấy, càng đánh càng thua. Cộng sản đã phải trả giá chua cay cho vụ Mậu Thân đến nỗi Hồ Chí Minh phẫn mà chết. Cộng sản lại tiếp tục trả giá chua cay cho mùa hè đỏ lửa. Họ đã phiêu lưu vào chiến tranh một cách dại dột. Họ không thể ngờ họ đã phải đương đầu với anh hùng miền Nam. Mỗi người lính Cộng hòa là một hào kiệt, một tráng sĩ… Sa lầy quân sự ở chiến trường miền Nam vì tham vọng xâm lăng, cộng sản đã bóc lột đến giọt mồ hôi lao động cuối cùng của dân miền Bắc. “Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng”, dân miền Bắc đã phải dân công thủy lợi phục vụ chế độ bạo tàn hơn cả nô lệ thời thực dân. Phẩm cách con người hầu như bị tước đoạt hết và quyền sống thì chẳng còn. Vì “giải phóng miền Nam” mà dân miền Bắc đói khổ, ngu dốt, lạc hậu. Bộ đội đã mượn xuống tuổi 16? 16 tuổi phải cầm súng lao vào chỗ chết. Cái ưu việt của chủ nghĩa, cái nôi của loài người, cái đỉnh cao trí tuệ cộng sản ở những chiếc xe đạp thồ đá, thồ cây…

Nhưng mà giọt nước mắt cho Việt Nam bẽ bàng nhất, thê lương nhất thì lại ở đây, ở ngay nước Mỹ. Những kẻ phản chiến đã để lương tri của họ ngủ vùi trong một thời mê sảng. âu châu văn minh, âu châu của công bình, bác ái đã nhắm mắt lại toa rập với những kẻ phản chiến một chiều. Buồn cho âu châu ấy, âu châu của trí tuệ âu châu biết phán xét đã quên trí tuệ cựu lục địa, bám gót bọn chăn bò Mỹ để lên án bom đạn Mỹ và giả vở không đếm xỉa hỏa tiễn Liên xô, đại bác Trung quốc. Rốt cuộc, âu châu và Hoa Kỳ đều bị đám khố rách cộng sản huyễn hoặc một cách đáng thương hại. Thế trận thay đổi bằng sự trợ giúp đắc lực của phản chiến Mỹ, báo chí Mỹ, truyền thông Mỹ và âu châu. Chúng ta khó tin sự phản tỉnh. Bởi vì, cá sấu chưa cười khi nhai nghiến con mồi. Bởi vì, nỗi khổ của dân tộc chúng ta vẫn còn sáng giá cho bọn làm dáng tiến bộ, làm dáng hòa bình…

Nỗi khổ của dân tộc chúng ta còn là đường rầy oan nghiệt cho chuyến tầu hữu nghị phản phúc của nước lớn nghiến nát thô bạo. Bom Mỹ, hỏa tiễn Liên xô, đại bác Trung quốc đã tàn phá đất nước chúng ta hai mươi năm. Nhân danh ai, nhân danh cái gì? Lái buôn súng đạn, phù thủy chủ nghĩa đem thân phận tổ quốc chúng ta, đem xương máu dân tộc chúng ta mua bán, đổi chác? Chẳng có gì cao quý để nhân danh cả, ngoài quyền lợi tư bản và quyền lợi cộng sản. Những tâm hồn tư bản bần tiện, những tâm hồn cộng sản bần tiện, những tâm hồn bá quyền bần tiện, bọn đấu thầu chiến tranh lại lột lưỡi đấu thầu hòa bình. Mỏ con ó cứ nhọn. Móng vuốt con gấu cứ sắc ác điểu và ác thú ôm nhau hôn, ôm nhau khiêu vũ trên bãi tha ma. Cùng với sự phản phúc của tư bản, sự bẻ gẫy lương tâm của thế giới tự do, nước mắt Việt Nam ứa ra cho một chia lìa đòi đoạn…

Chúng ta lại ra đi. Lần này chúng ta bỏ tổ quốc ra đi. Làm sao có thể đo được mức độ nước mắt Việt Nam tuôn rơi cho một chuyến đi não nề? Nước mắt chia lìa tình tự dân tộc, hai mươi năm trước bắt nguồn từ dòng sông Bến Hải. Bây giờ, nó bắt nguồn từ dòng sông nào? Có lẽ, người Việt Nam sẽ đặt cho dòng sông ấy một cái tên. Phải, một cái tên. Để nhớ. Để kể cho con cháu nghe. Tên nó là Phản Bội. Thế thì nước mắt chia lìa tình tự dân tộc, hai mươi năm sau, bắt nguồn từ dòng sông Phản Bội. Hai mươi năm hai lần người Việt Nam sống đời du mục, thân phận du mục của thời đại đông đầy chó sói chủ nghĩa, cá sấu ý thức hệ. Lần thứ nhất, chúng ta tỵ nạn trên quê hương chúng ta. Lần thứ hai, chúng ta tỵ nạn ở những nơi chốn nào trên trái đất? Ôi, di cư? Ôi, di tản? Di tản ê chề gấp bội di cư. Hai mươi năm, tưởng chừng mới hôm qua. Mới hôm qua 1954…

Người Mỹ nói “lịch sử đã sang trang ‘? Chúng ta phải hiểu họ chẳng còn thiết tha gì tới lý tưởng khai phóng tự do, dân chủ nữa. Con thò lò nào cũng có sáu mặt lương tâm. Và nó có thể thản nhiên cắn gẫy bất cứ thứ lương tâm nào không có lợi cho nó. Nhìn lại di cư 1954 để so sánh di tản 1975, chúng ta mới vỡ lẽ. Nước Pháp thua trận vẫn còn chinh phục được lòng biết ơn của chúng ta, vì họ đưa chúng ta vào Nam tử tế, họ xứng đáng văn minh và nhiều văn hóa. Nước Mỹ thua trận là thua hết. Họ thiếu văn hóa. Tinh thần trọc phú bần tiện Mỹ thể hiện rõ rệt ở cuộc di tản 1975 tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở sài gòn. Họ cam kết bảo vệ tự do, dân chủ miền Nam, họ đem danh dự tiệp Chủng Quốc Hoa kỳ làm lời hứa. Rồi họ phản phúc. Chúng ta thật sự hiểu lòng dạ Hoa kỳ từ lúc Gerald Ford tuyên bố: “Lịch sử đã sang trang.” Sự sang trang của lịch sử hoa kỳ ngoạn mục nhất, đối với họ, là cảnh tượng người Việt Nam đi tìm tự do một mình bằng thuyền gỗ lênh đênh trên đại dương. Bây giờ, thuyền nhân Việt Nam dũng cảm hơn dân tộc Mỹ, hơn loài người. Thuyền nhân Việt Nam vinh danh Tự Do cao quý Thuyền nhân Việt Nam đã mở mắt cho thế giới hoan lạc, ích kỷ bằng những giọt nước mắt khó quên của một thời đại mê sảng. Chẳng hiểu bọn phản chiến Mỹ ngu xuẩn, tôi mọi không công cho cộng sản có dám căng mắt nhận diện thuyền nhân Việt Nam ở địa danh buồn bã Poulau Bidong, Poulau Tengah, Sikew, Palawan, Song- kla… Hãy nhìn kỹ, thế giới thiển cận và trí tuệ những kẻ lên án chiến tranh Việt Nam tại âu châu, Mỹ châu và úc châu! Hãy nhìn kỹ xem những người trải dài thân phận mình suốt cuộc chiến hai mươi năm có phải là những người hiếu chiến, có phải là những người gây chiến, có phải là tội phạm chiến tranh? Không, người Việt Nam đấy, người Việt Nam nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản, của chủ nghĩa tư bản, của hỏa tiễn Liên xô, của bom đạn Hoa kỳ, của sự tráo trở, bịp bợm hèn mạt của các nước lớn đấy. Lý tưởng tự do dân chủ của Mỹ, lý tưởng cách mạng giải phóng của Liên xô đã bị người Việt Nam yêu quê hương mình tha thiết phải bỏ quê hương, bỏ sự nghiệp ngàn đời của tổ tiên để lại mà sống kiếp lưu đầy. Và những giọt nước mắt Việt Nam lưu vong ứa ra. Những giọt ngọc Việt Nam đánh dấu mốc đường oan của nhân loại. Em yêu dấu, hãy để những giọt nước mắt Việt Nam vang vọng đất trời…
Giọt nước mắt nhục nhằn
trên xiềng gông chung thân
Giọt nước mắt đợi chờ mòn nỗi đá ôm con
Giọt nước mắt thê lương
Giọt nước mắt quê hương
nghe buốt răng sâu, cây thù lá hờn…
Giọt nước mắt chẩy dài
theo thuyền nhân lênh đênh
Giọt nước mắt nghẹn ngào
biển ướp muối khô tim
Giọt nước mắt oan khiên
Giọt nước mốt cô đơn
ngơ ngác hỡi em quê người đảo điên
Giọt nước mắt lung linh màu nàng ngoan
hong tâm sự nát tan
mai em mình lớn khôn
ôi giọt nước mắt cho những thân phận sốt se
cho những tâm hồn tái tê
cho những con người não nề…
Giọt nước mắt tỏ tình thương ngàn xua hư vô
Giọt nước mất tội nghiệp còn thế giới hoang vu
Giọt nước mắt tâm tư
Giọt nước mắt ươm mơ
rơi xuống em ơi. xanh ngọc vàng tơ…
Phải lắm, em ạ, chúng ta chẳng cần những giọt nước mắt thế giới xót thương chúng ta. Chúng ta nhỏ nước mắt xót thương chúng ta và xót thương thế giới. Anh muốn giọt nước mắt của em, giọt nước mắt thuần khiết Việt Nam của em, nhỏ xuống làm lay động cái bóng tối u mê phủ kín lương tri của loài người. Hãy khóc, em ơi, bởi vì, những giọt nước mắt sẽ làm anh em mình khônlớn, sẽ làm anh em Việt Nam mình khôn lớn. Chúng ta cần thiết khôn lớn bằng những giọt nước mắt thống khổ. Để làm lại quê hương Việt Nam mai này. Chúng ta đi không phải ở lại. Chúng ta đi để về, sẽ về, phải về. Thiên đường đích thực là quê hương chúng ta, là Việt Nam yêu dấu, chỉ là Việt Nam thôi. Mọi nơi khác đều là cõi tạm và đều trống vắng. Vậy thì, anh rất sợ nước mắt không còn long lanh trong mắt em. Khi ấy, em đã quên nỗi khổ. Và em quên nỗi khổ, anh quên nỗi khổ, anh em mình không thể trở về Việt Nam được. Thế nên, những giọt nước mắt lưu vong sẽ nhắc nhở chúng ta một thời bơ vơ trên những thiên đường lạnh buốt. Giọt nước mắt hôm qua nhỏ xuống vuốt ve nỗi khổ. Giọt nước mắt hôm nay nhỏ xuống nuôi dưỡng nỗi khổ. Chúng ta quên nỗi khổ, ta quên luôn quê hương ta, dân tộc ta. Em yêu dấu, anh muốn tâm sự:
Giả sử ngày mai em về Sài gòn
em sẽ mang gì cho quê hương?
Em có còn gì cho quê hương?
sau nhiều năm biệt xứ
sau nhiều năm quá khứ nhầu úa?
Giả sử ngày mai em về Sài gòn
Em có còn là em nữa không?
Em có còn ngọt ngào suối trong
Em còn thuộc ca dao,
còn giữ áo cho nhau thuở nào?
Sợ em đã quên mùi hoàng lan đêm xuân
quên hương cau, thông vàng, bụi phấn
Dậu hoàng cúc thu dạt dào nỗi mình xưa
nhớ chăng em. thềm trưa mây mưa?
ôi giả sử ngày mai em về Sài gòn
Em thành người xa lạ quê hương
Em thành người đường quen xóa bóng
Linh hồn em lạnh cóng
Em vừa hay đã mất Sài gòn
Thế thì những giọt nước mắt lưu vong sẽ soi sáng nỗi khổ Việt Nam, em ơi! Nỗi khổ ấy ở quê nhà, nỗi khổ ấy ở quê người. Nỗi khổ ấy chỉ hết khi những giọt nước mắt vỡ ra thắp rực một hạnh phúc vĩnh cửu. Đó là ngày anh em mình hồi hương. Em, ngày mai sẽ đến. Anh em mình về Việt Nam như loài én báo hiệu mùa xuân trên khắp đất nước. Đêm đen của chủ nghĩa cộng sản tuyệt tích. Chúng ta đã xóa nó rồi.

Tiếng khóc Việt Nam vút lên trời. Trăng ngậm ngùi. Tiếng khóc Việt Nam phóng ra biển. Biển xao xuyến. Mẹ già nằm đó. Mẹ đợi chờ định cư mòn mỏi. Mẹ chết. Linh hồn mẹ lại vượt biển về quê hương. Đất quê hương sẽ ấm hồn mẹ. Mẹ đã đến Sài gòn bồi hồi như đêm vĩnh biệt thành phố ấy.

Nhưng Sài gòn ra sao? Nước mắt vẫn cần cho thành phố bất hạnh đó. Một thi sĩ viết:
Sài gòn trong nhà gửi nỗi buồn
Ra sân, ra ngõ trống, đời trơn
Ra phường, ra phố, ra tăm tắp
Nơi những đề lao giữa núi rừng
Sài gòn trong nhà mẹ ngóng con
Mắt sông cát lấp đã rêu cồn
Miệng thầm kinh nguyện lòng nghi hoặc
Ôi mãi cầu xin vẫn mỏi mòn
Sài gòn trong nhà vợ nhớ chồng
Nhớ khùng, nhớ dại, nhớ lung tung
Nhớ nhiều, nhớ mãi. không quên nhớ
Buổi tối tay anh bị siết còng
Sài gòn trong nhà con đợi cha
Năm sáu mùa xuân bố vắng nhà
Bao giờ bố mới về đây bố
Con lớn khôn rồi biết xót xa
Sài gòn trong nhà đầy ưu phiền
Rất hài hoà cảnh tượng chìm đen
Tủ giường. bàn ghế, nồi, xoong, chảo
Cùng với người chung một nỗi niềm
Sài gòn trong nhà vắng như tờ
Lâu lâu giọt nhỏ vọng hồn xua
Chú thạch thùng quen thôi tặc lưỡi
Và con nhện cũng chán giăng tơ
Sài gòn trong nhà, Sài gòn ơi
Hãy thinh không nhé, hãy trùng khơi
Hãy im lặng đến thời lên tiếng
Vì tiếng em cao vọng tuyệt vời
Sài gòn trong nhà buồn bã, Sài gòn ngoài phố ủ ê. Khuôn mặt chính xác của phồn vinh không giả tạo của xã hội chủ nghĩa đã phơi bày rõ rệt dưới ống kính trung thực của Tây phương. Nó là phần thưởng cao quý của những kẻ đòi hòa bình tức khắc ở Việt Nam. Hòa bình rồi đó. Hòa bình lâu rồi đó. Người đổi đời sống với ma ở nghĩa địa. Người lượm từng chiếc túi ny-lông dơ bẩn rửa sạch để bán kiếm tiền mua gạo chợ đen. Hòa bình rồi đó. Thù hận khởi sự, nhân quyền bị chà đạp, nhà tù mở rộng cửa lùa con người vô tội vào. Hòa bình rồi đó, một hòa bình rỗng tuếch, đói khổ. Thiên đường bánh vẽ cộng sản lộ nguyên hình. Cách mạng cai trị bằng chính sách gạo.
Ngày xưa roi điện thì còn
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương
Vẫn thứ roi gạo phũ phàng đã quất nát bao tử dân miền Bắc, lại quất ê chề bao tử dân miền Nam. Ông Hồ Chí Minh hứa hẹn: “Đánh xong giặc Mỹ ta sẽ xây dựng lại bằng mười năm xưa.” Chẳng phải thế đâu, chẳng bao giờ có xây dựng mà chỉ có băng hoại, băng hoại đến cả tình người. Con người tưởng đã được đoàn tụ trong khốn cùng, vẫn bị cưỡng bức ra đi. Lưu đầy tại quê nhà? Đi đâu? Những miền tù ngục ngụy trang kinh tế mới. Phấn cách mạng, son giải phóng đã nham nhở trên mặt hề chế độ cộng sản. Người Việt Nam lại đi, lại đói khổ, lại lếch thếch, lại bơ vơ. Và đó là định nghĩa tự do, hạnh phúc của Việt Nam dân chủ cộng hòa biến thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những ai còn ảo tưởng cộng sản nữa đây? Hãy nghe dân gian lên tiếng:
Từ khi ta có Bác Hồ
Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào…
Mãi mà là khó khăn, là con người oằn vai, cong lưng thay trâu bò trong một xã hội tô son khẩu hiệu “Xã hội cộng sản không còn người bóc lột người”. Cái xã hội tồi tệ đó, lãnh tụ ăn đặc táo và dân chúng ăn khoai mì, ngô, gạo hẩm ròng rã ba chục năm và sẽ ngàn năm…
Ai sinh ra cái củ mì
Hỏi: Để làm gì? Đáp: Để mà ăn
Nước nhà mãi mãi khó khăn
Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì
Con người bị nô lệ hóa, bị bóc lột tận cùng sức lao động, bị đói khổ, bệnh hoạn. Vậy mà chế độ cứ trơ trẽn khoác lác “Lao động là vinh quang”. Vậy mà Tố Hữu cứ nịnh hót Hồ Chí Minh:
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa của em thơ, lụa tặng già
Sữa nào tặng em thơ? Lụa nào tặng cụ già? Cụ già nằm rên rỉ trên nền đất trong căn nhà ọp ẹp vùng kinh tế mới. Em thơ vừa nhay vú mẹ vừa khóc vì mẹ ăn khoai mì vú làm sao căng sữa? Đảng thay người bóc lột người. Và người lam lũ, khốn nạn gấp trăm lần người dưới ách thống trị thực dân, đế quốc. Người đã có cách mạng, vẫn lao động thi đua với trâu bò. Người đã bị cưỡng bức “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” tồi tệ.
Và đây là Cung Thiếu Nhi của xã hội chủ nghĩa ấy, là trường học dạy bài “trồng người” của ông Hồ Chí Minh. Ở Cung Thiếu Nhi, ở Nhà Trẻ, ở Mẫu Giáo, ở Tiểu Học cộng sản, tuổi thơ đập đá mưu sinh, đập nát hồn nhiên hoa bướm. Tuổi thơ vừa đập đá vừa hát:
Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng
Lời Bác nay thành chiến thắng huy hoàng
Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông
Ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng chiến
đã thành công…
Kháng chiến đã thành công. Và hạnh phúc của tuổi thơ là đập đá. Em bé Sài gòn ơi, ngưng đập đá một chút, được không? Người chị dân công phẫn nộ, quắc mắt diều hâu chống đối cộng sản bóc lột sức lao động ơi, ngưng phẫn nộ một chút, được không? Em gái Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt ơi, ngưng cấy lúa một chút được không? Cho tôi hỏi:
– Sài gòn vui không em?
Và chúng ta đã nghe câu trả lời:
– Sài gòn chỉ vui khi các anh về.
***
Các anh sẽ về. Quân ta sẽ về. Súng đạn sắp theo người về giải thoát dân tộc. Chúng ta có quyền hồi tưởng những chiến thắng Pleime, Bastogne, Bình Long, Kontum, Quy Nhơn, Quảng Trị, Đồng Tháp… Chúng ta có quyền nghĩ tới ngày động đất niềm vui. Bởi vì, chúng ta ra đi chiến đấu cho tự do, không đi tìm tự do. Bởi vì, chúng ta ra đi ngậm thống khổ và còn long lanh những giọt nước mắt, không đi tìm hoan lạc và những trận cười vô nghĩa. Đau khổ làm chúng ta khôn lớn, làm hy vọng phục quốc của chúng ta mọc mầm. Nước mắt làm chúng ta không quên nhục nhằn mất nước và tưới xanh hy vọng của chúng ta. Chúng ta sẽ về như những người lính Cộng hòa năm xưa đã về thủ đô Sài gòn sau mỗi vinh quang chiến thắng. Vùng trời quê hương ta sẽ rộn ràng câu ca nhân ái:
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đáp yên vui dài lâu
Bấy giờ, em ơi, giọt nước mắt cho Việt Nam đoàn tụ, hạnh phúc, thương yêu…

DUYÊN ANH
10-1987

NÊN SẦU KHỔ DỊU DÀNG

nguyentatnhien

 

1.
Những kỷ niệm đời xin hãy còn xanh
(Có một ngày mình bỏ trường bỏ lớp
Anh cũng đi như luật định trời dành
Em cũng đi như luật định trời dành)

2.
Nắng bờ sông như màu trang vở cũ
Thuở học trò em làm khổ ai chưa ?

3.
Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học
Bàn tay xương cầm hờ hẫng văn bằng

4.
Em hãy đứng trước gương làm dáng
Tự khen mình đẹp quá đi em
(Lỡ mai kia mốt nọ theo chồng
Còn đôi chút luyến lưu thời con gái)

Em hãy ra bờ sông nhìn nắng trải
Nhớ cho mình dáng dấp người yêu
(Lỡ dòng đời tóc điểm muối tiêu
Còn giây phút chạnh lòng như … mới lớn)

Mình hãy trách đời nhau nhiều hư hỏng
Rồi giận hờn cho kỷ niệm đầu tay
Thu miên man không thấy lá vàng bay
Anh phải nói: buồn chúng ta màu trắng

5.
Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng
Người thì không bắt bóng được bao giờ

6.
Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học
Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng

NGUYỄN TẤT NHIÊN
(1970 – Trích tập Thiên Tai)

Mùa Xuân Về Cội

nguyenythuan


Tính theo vai vế và sự liên hệ rắc rối của đại gia đình họ Nguyễn thì tôi phải gọi nàng bằng dì và xưng cháu. Đúng như lời giới thiệu trong thư của hai bà mẹ Ở Việt Nam gửi sang cho tôi và Vi để tìm bà con. Cho nó gần, cho nó thân. Ở xứ lạ quê người mà có họ hàng thân thích là may mắn lắm con ạ… Cả hai bà mẹ đều viết y chang như vậy để bọn tôi cùng tìm nhau, trong khi tính đến lúc nhận được thư thì hai đứa đã yêu nhau được gần hai năm.

Và cách xưng hô! Than ôi, bọn tôi đã quen – anh em – mất rồi. Anh với em từ hồi mới gặp kìa. Đâu dễ gì mà sửa được. Hai bà mẹ gặp nhau quá muộn, muộn đến độ hảo ý mong con có họ hàng thân thích ở xứ lạ quê người thành mối phiền cho bọn tôi.
Mà phiền thật! Mặt Vi tái xanh khi nói với tôi về lá thư của mẹ nàng. Rồi càng tái hơn khi đọc thư của mẹ tôi. Cái tái của nàng lây sang tôi. Thật là một cú báo tin chết người. Chết chứ sao không? Bọn tôi đã dự định tháng sáu này dắt nhau đến nhà thờ. Chưa kịp báo tin vui về Việt Nam thì hai bà cụ đã phạng cho một quả quá nặng. Vi nghẹn ngào, nói như muốn khóc. 
– Anh tính sao? 
– Đã chắc gì đúng như hai bà cụ nói. 
– Chắc chứ. Anh thấy rõ ràng cả hai bà đều viết như nhau. Còn dặn dò chúng mình phải ráng tìm nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống… Phải chi mình đừng gặp. 
Tôi đón lấy lá thư từ tay Vi, đọc lại một lần nữa. Cố gắng tìm điểm nào đó để gạt phăng cái sợi giây liên hệ kỳ cục giữa hai đứa. Nhưng vô ích, bà cụ tôi chỉ viết về Vi vài giòng: – Ở bên nhà bác Phấn (tên mẹ Vi) từ Bắc mới vào thăm mẹ, có gì Vi là con gái cũng sang Mỹ, cùng ở California với con, con ráng tìm. Bác Phấn cũng viết thư sang bảo dì Vi tìm con. Con nên sang thăm, giúp đỡ dì Vi thường xuyên, cho nó gần cho nó thân. Ở xứ lạ quê người mà có họ hàng thân thích là may lắm con ạ. Con phải gọi dì Vi bằng dì và xưng cháu cho đúng phép tắc… – Chỉ bấy nhiêu câu nhắc về Vi, kèm theo địa chỉ của nàng và tự nhiên Vi nhẩy lên làm dì tôi. Bên mẹ Vi cũng vậy, cũng nhắc đến tôi với những lời lẽ như thế và kèm theo địa chỉ của tôi với câu: – Con ráng chăm nom, giúp đỡ cháu… – Giúp đỡ? Chúa ơi! Tôi còn lớn hơn Vi tới năm tuổi lận. Chăm nom? Phật ơi! Có tôi chăm tới để nom nàng thì có. Vi lúc nào cũng nũng nịu và hờn giận trong hai năm quen nhau. Lúc nào em cũng có anh để che chở. Đã có lần Vi bảo tôi khi ngồi tại một công viên. Vậy mà bây giờ mọi việc đều thay đổi. Hai bà cụ chỉ báo cho bọn tôi biết là dì cháu một cách khơi khơi, còn liên hệ thế nào chả nhắc đến. Nên điều quan trọng nhất mãi một năm sau cả hai mới được biết. 
Hãy tưởng tượng một năm trời kéo dài với cơn đau từ cú đấm vào tim thì đủ thấy thời gian dài đến độ nào. Đau lắm chứ sao không? Đang vui vẻ yêu nhau thì đột nhiên ngàn trùng xa cách vì lý do gia cảnh một cách lãng xẹt thì ai mà không chết được. Sống là ráng sống vậy thôi. Bọn tôi gượng gạo kéo dài liên hệ trong vòng mấy tháng đầu theo lời chỉ dẫn của hai bà mẹ. Những lần gặp gỡ không còn không khí tự nhiên, ân cần, tràn đầy hạnh phúc nữa mà thay bằng những câu hỏi thăm ngượng nghịu. Chán vô cùng là chán! Lần nào Vi cũng giữ thái độ e dè, tạo ra một khoảng cách giữa hai đứa. Lá thư quá – ép phê – với nàng. Hơn nữa, cái hình ảnh hai – dì cháu – mà hôn nhau như chim nếu hai bà già biết được dám có hai đám ma cùng ngày, cùng giờ ở Việt Nam lắm. Chẳng riêng Vi có thái độ đó. Mà chính tôi cũng giữ gìn. Những cử chỉ thân mật mất biến giữa hai đứa. Lúc nào cũng có một cái gì ngượng ngập, gượng ép bao quanh. 
Mệt hơn hết là lối xưng hô – dì cháu – , dĩ nhiên khó lòng mà gọi nhau trong trường hợp này. Còn – anh em – thì đâu được? Sự thật đã rõ rành rành, còn nằm trên hai lá thư gửi từ Việt Nam. Nên đành phải thay bằng cách khác. Tôi gọi trống tên nàng và xưng tôi. Nàng cũng chỉ gọi trống một tiếng anh và cũng xưng tôi. Lối xưng hô có tính cách gia đình này làm những lần gặp nhau trở thành buồn tẻ. Hai năm trời đã quen những lần anh em ngọt sớt. Đột nhiên thế này ai mà chịu nổi. Càng về sau chúng tôi càng cố tránh mặt nhau. Xưa tuần hai, ba lần. Rút xuống còn những buổi cuối tuần. Rồi hai, ba tuần một lần… 
Chúng tôi đang dối lẫn nhau và dối cả chính mình. Sáu tháng sau ngày nhận được thư, tôi quyết định bỏ về San Jose để sống. Bỏ lại Santa Ana với bao nhiêu kỷ niệm. Cùng Vi: bà – dì – người – yêu – tôi. 
Đi là phải. Ở lại chỉ làm đau lòng nhau thêm. Tôi đã nghĩ thế và Vi cũng nghĩ thế. Một trong hai đứa phải rời khỏi Santa Ana mới êm được. Ở lại có ngày dám cầm súng bắn chết người bà con oan gia, rồi quay súng tự tử y hệt tuồng cải lương Mỹ lắm à! Vượt biên sang đây mà phải đóng tuồng cải lương – Tự tử vì tình – thì lãng nhách! Và thằng đàn ông là tôi hy sinh là đúng. Ai lại để cho đàn bà con gái hy sinh bao giờ? Phải nịnh đầm chứ? Cho dù người được nịnh là bà dì trên trời rớt xuống một cách tàn nhẫn, rớt xuống một cách lãng xẹt, không… bằng chứng. 
Hãy khoan trách bọn tôi là yếu đuối và xử sự cải lương. Hãy khoan nói bảnh mà chê tụi này. Đoạn trường ai có qua cầu mới haỵ Đang yêu nhau ra rít, đang mơ ước đến ngày dắt nhau lên nhà thờ, cười mím chi với Chúa, đang hí hục lo toan tương lai với những nhi đồng trai, nhi đồng gái nối dõi cho đại gia đình họ Nguyễn một cách anh dũng thì bị cú nốc ao cũng vì đại gia đình họ Nguyễn. Chết chứ chả chơi đâu. Tưởng tượng đến cảnh một người con gái yêu mình và mình yêu nói chuyện như vầy xem sao.
– Anh khỏe chứ?
– Khỏe. Còn Vi?
– Cũng khỏe.
Im lặng.
– Anh đi làm đều chứ?
– Đều. Còn Vi?
– Cũng đều.
Lại im lặng.
– Vi nhận được tin nhà chứ?
– Không. Còn anh? 
– Cũng không.
Thêm một cú im lặng.
– Vi có gì lạ không?
– Không. Còn anh?
– Cũng không.
Lại im lặng. Lại tiếp tục những mẩu chuyện đại loại như thế. Lâu lâu thay đổi không khí thì hai đứa đi ăn sáng, dạo phố loanh quanh, uống cà phê rồi ai về nhà nấy. Đối thoại trong thời gian đi chơi cũng na ná như sau.
– Hôm nay thiên hạ đông ghê.
– Ờ, đông ghê!
– Chủ nhật có khác.
– Ờ, cuối tuần mà.
Im lặng xuống xe. Dắt nhau vào phở Hòa chẳng hạn. Dĩ nhiên hai đứa đi theo kiểu – nối đuôi – . Đứa trước đứa sau, bố bảo cũng không dám cầm tay chứ đừng nói ôm eo như trước.
– Vi ăn gì?
– Cho – tôi – tô tái nhỏ.
Xoay sang người hầu bàn, tôi gọi thức ăn. Xong, cả hai đứa nhìn nhau rồi tránh nhau. Mắt hai đứa hết nhìn lọ tương đỏ, lại nhìn sang lọ tương đen. Hết lọ tương đen lại sang lọ Ớt. Hết lọ Ớt lại sang lọ mắm. Hết lọ mắm lại quay về lọ tương đỏ. Cứ tưởng trên đời này ngoài những lọ tương, lọ mắm, lô ớt thì chẳng có gì quan trọng. Chán nhìn tương, mắm chúng tôi chuyển cái nhìn sang phía khác. Tuyệt nhiên không dám nhìn vào người đối diện. Hệt như đang ngồi một mình. Cho đến khi người hầu bàn bưng phở ra, Vi lau đũa theo thói quen – của những lần ăn trước – đặt trước mặt tôi. Tôi cũng nói theo thói quen – của những lần ăn trước – nhưng không thò tay nắm tay nàng nghịch ngợm trong khi nói – như những lần ăn trước.
– Cảm ơn Vi.
– Ăn đi anh.
– Ăn đi Vi.
Rồi mạnh đứa nào đứa nấy nhai, húp. Bây giờ tô phở trước mặt là điều đáng để ý nhất thế giới.
– Ăn được chứ?
– Ngon lắm. Còn anh?
– Cũng vậy vậy.
Xong đứng dậy trả tiền. Rồi sang khu Phước lộc Thọ đi vòng vòng. Cuối cùng là một màn cà phê với những câu đối thoại nhạt như nước ốc. Vậy là xong một lần đi chơi. Mạnh ai nấy về và ráng nghĩ như không có gì.
Làm bà con và vờ vĩnh hết yêu nhau được nửa năm, cả hai đều thấy tình trạng này không thể kéo dài được. Chịu sao thấu? Đến lúc nào đó cầm lòng không đặng thì phiền biết bao nhiêu? Thà không biết thì thôi. Biết mà vẫn ráng yêu thì tội hai bà già ở Việt Nam quá. Đành phải hát bài biệt lỵ Và tôi đi.*
Không hẳn tất cả các điều các cụ dạy đều đúng, đó là điều tôi nghiệm thấy ở San Jose Xa mặt cách lòng là điều rõ ràng nhất. Cách lòng đâu chả thấy chỉ thấy càng nhớ nhau thêm. Nhớ ray rứt, nhớ tàn bạo, nhớ quay quắt, nhớ như chưa bao giờ biết nhớ. Lúc nào cũng cảm thấy như thiếu một cái gì bên cạnh. Tôi đã thất vọng vì điều hai bà mẹ dạy bảo, bây giờ lại thất vọng hơn vì điều các cụ nói. Các cụ của chúng ta không còn hợp thời rồi. Ít nhất cũng sai trong trường hợp này. Tự nhiên cảm tình của tôi dành cho những người lớn tuổi ít hẳn đi. Tôi không còn khoái nghe họ nói nữa. Cho dù có bị nghe thì tôi cũng mang định kiến là họ nói không thiết thực và khó lòng áp dụng vào hoàn cảnh sống tại đây.
Không khó lòng sao cứ tưởng xa nhau, không gặp mặt và đến một vùng đất lạ hoắc thì sẽ nguôi ngoai là sai bét. Tôi nhớ Vi suốt ngày dù đã cố vùi đầu vào công việc. Nhưng vô ích, sau thời gian làm việc, khi vừa khóa cửa tòa soạn để về nhà là những ý nghĩ về Vi lại đến. Suốt con đường về lúc nào tôi cũng tưởng tượng đến cảnh có Vi ngồi bên cạnh, kể cho nàng nghe những mẩu chuyện mà tôi sẽ chế ra. Hẳn Vi sẽ cười, sẽ gật gật cái đầu như mọi khi… Như mọi khị Mẹ kiếp! Tôi nhăn mặt mỗi khi kỷ niệm trôi về với một tiếng chửi thề. Cố gắng nghĩ sang vấn đề khác, nhưng than ôi! Hình như tất cả mọi điều có trong cuộc sống này đều liên quan đến Vi.
Chưa hết. Đêm về moi thật là khổ tâm. Luôn luôn những kỷ niệm kéo về. Này là buổi chiều cuối năm ngoái hai đứa lang thang trong khu hội chợ xuân. Vi cười cười trước pho tượng mẫu trong cửa hàng thời trang và chê tôi nghèo. Này là buổi tối giao thừa tại khoảng vườn của ngôi chùa nằm trên đường First, hai đứa hôn nhau tôi cố tìm sớ hành trong kẽ răng khôn của nàng. Hơi thở thơm mùi hành pha với nước hoa vẫn còn phảng phất… Từng nơi chốn, từng thời gian trở lại làm tôi ngán ngẩm. Sau cùng để quên, tôi tìm đến những viên thuốc ngủ.
Nhưng vẫn không yên! Kỷ niệm bây giờ chạy luôn vào giấc ngủ. Những cảnh trong mơ cứ y hệt những cảnh quá khứ. Sáng dậy đầu nặng trĩu và ngây ngây say… cảm xúc còn sót lại trong mơ làm cái chán lại càng chán hơn. Tôi hết đường chối sự thật. Tôi hết đường dối mình.
Hai tháng sau tôi bò về Santa Ana thăm bạn bè. Lý do là thế và tôi đã tự nhủ: không dính dấp gì đến Vi trong chuyến đi này cả. Chỉ về thăm bạn bè và nhậu. Vậy thôi! Nghĩ thế và vui vẻ mua vé máy baỵ Nhưng lúc ngồi trên phi cơ, ý nghĩ bẻ cong lại. Cái náo nức của lần về này ngoài lý do thăm bạn bè còn có niềm vui về vùng đất có Vi đang ở nằm bên trong. Dù không gặp nàng – nhất định sẽ không gặp nàng – nhưng về đây tôi vẫn cảm thấy được an ủi, gần gũi hơn. Tôi nhìn xuống thành phố khi máy bay lượn vào phi đạo của phi trường John Wayne Dưới đó là Vi đang sống. Dưới đó là Vi đang ở một góc nào đó. Hẳn nàng đâu biết rằng tôi đang về. Cảm giác nao nao dấy lên trong lòng, tôi bùi ngùi đặt mình vào hoàn cảnh rất cải lương. Miệng lẩm bẩm hát lại bài nhạc cũ của Hoàng Quý. Đến khúc Em có hay chăng tôi về tự nhiên tôi run hẳn. Rồi ráng tưởng tượng đến một cảnh cảm động như phim Tàu. Vi tình cờ ra phi trường đón bạn bè hôm naỵ, bọn tôi sẽ gặp nhau. Chắc cảm động lắm. Nhưng để làm gì? Hình ảnh hai bà già ở Việt Nam hiện lên làm tôi cụt hứng, chấm dứt một cú tưởng tượng không thể xảy ra khi máy bay đáp xuống phi trường.
Ra đón tôi là người bạn làm thơ họ Trịnh. Gọi hắn bằng cái tên Trịnh thi sĩ cho dễ nhớ. Vừa gặp nhau Trịnh thi sĩ đã phang một câu.
– Mày có vẻ xuống sắc thấy rõ.
Tôi cười gượng xách túi quần áo đi theo hắn ra xe. Bên cạnh thân thể béo tốt, đầy đủ tình yêu của thằng bạn tôi cảm thấy mình yếu kém và xuống cơ hẳn. Hắn nhắc lại khi vừa mở máy xe.
– Mày sao vậy? Bịnh à?
– Ừ, bịnh cả tuần nay.
Tôi đáp bừa, vậy mà thằng thi sĩ này có vẻ tin. Nó hỏi tới.
– Bịnh gì? Ngủ được không?
Tôi ú ớ. Mẹ kiếp! Không lẽ lại bảo mỗi ngày ông vẫn tọng cơm ba lần, cộng thêm một viên thuốc ngủ mỗi tối.
– Có gì phải suy nghĩ không mày?
Suýt nữa tôi buột miệng chửi thề. Có thằng bạn tốt kể cũng phiền thật. Không lý lại bảo tao đang thất tình chứ bịnh hoạn gì. Đành phải ậm ừ cho xong chuyện. Nhưng chưa hết, đến quán cà phê Rendez vous trong khu Phước Lộc Thọ mới thật là phiền. Bạn bè đông đủ cả, toàn là những đứa lơ ngơ với cuộc sống, ở Mỹ mà vẫn đi trên mây và mỗi cuối tuần kéo ra ngồi tán dóc. Trịnh thi sĩ đưa tôi đến đó lúc bàn cà phê độ hơn chục đứa hệt như Trịnh thi sĩ, vừa gặp mặt, cả bọn đã tra hỏi. Có lẽ mặt tôi xuống sắc thật. Trước lòng tốt của bạn bè, tôi chỉ biết trả lời quanh co, sau cùng phịa đại.
– Tao… tao… ho ra máu… mấy bận.
Đến bây giờ tôi mới hiểu bạn bè thương nhau đến mức nào. Nghe tôi phịa, thằng thì khuyên cái này, thằng thì khuyên cái kia. Tôi vừa cảm động vừa xấu hổ vì đã nói dối lại vừa bực mình vì không biết nói lại thế nào. Cường bủng – chuyên viên thuốc ngủ đã chỉ dẫn cho tôi hiệu thuốc ngủ – an ủi.
– Đừng lo nghĩ gì nữa… Và làm như hiểu rõ tâm trạng tôi, hắn tiếp tục một cách lửng lơ – Từ từ rồi cũng qua!
Tôi giật thót người sau câu nói của hắn. Làm sao thằng này biết kỹ thế. Xoay sang hắn, tôi chăm chăm nhìn kỹ khuôn mặt thằng bạn thân có đôi má mỗi ngày một xệ xuống. Ngoài cặp kính có vẻ thông minh, còn lại tất cả mọi thứ trên mặt đều không có gì chứng minh rằng hắn hiểu chuyện. Cặp kính dĩ nhiên không biết nói, vậy thằng bạn này chỉ nói khơi khơi, nói theo linh tính. Tôi ậm ừ cố lái sang chuyện khác.
Thú thật trong lần về Santa Ana ngoài niềm vui với bạn bè, tôi còn tìm thây một điểm rất quan trọng. Đó là tâm trạng gần gũi với Vi. Suốt thời gian mấy ngày dù ở một quán cà phê hay trong một chầu nhậu lúc nào tôi cũng cảm thấy có Vi bên cạnh. Lãng mạn kiểu Tàu và cải lương kiểu Tây là tôi và Vi đang cùng hít thở chung một bầu không khí. An ủi rất nhiều, nên tôi tiếp tục chi tiền cho hãng American Airline đều đều để về Santa Ana… hít thở!
Dù thương tôi đến đâu Trịnh thi sĩ cũng phải bực mình vì cảnh đưa đón hoài. Ban đầu là hai tháng một lần, sau một tháng một lần, sau hai lần một tháng. Rồi mỗi tuần một lần. Tối thứ sáu từ San Jose bay về, sáng thứ hai từ Santa Ana lên. Tôi đi đi lại lại nghỉ cuối tuần ở Santa Ana để hít thở như một ông triệu phú đa tình. Lương mỗi tháng lãnh ra đủ để trả tiền ăn, tiền phòng, tiền máy baỵ Còn lại các khoản khác đều ké. Cà phê ké, nhậu ké, thuốc ké… Nghĩa là ké được cái gì là ké. Nhưng ké thì ké bạn bè tôi chẳng đứa nào quan tâm đến vấn đề ấy cả. Gặp nhau là mừng rồi. Duy nhất chỉ có Trịnh thi sĩ là rầu rĩ đáng lẽ những cuối tuần hắn dành cho cô bạn hay nũng nịu trọn vẹn thì phải san xẻ cho tôi bằng những lần ngồi đợi ở phi trường. Bực mình hơn nữa là những chuyến bay về phi trường John Wayne lại có thú trể giờ. Luôn luôn trể và luôn luôn kéo dài giây phút… thơ mộng của người đến đón đã có lần Trịnh thi sĩ bảo tôi, sau cú đợi ba tiếng.
Từ ngày nhận nhiệm vụ đón mày đến giờ, tự nhiên tao làm thơ được nhiều hơn…
Tôi chỉ cười trừ, chẳng biết nói gì hơn. Trong số bạn bè chỉ có thằng này là đúng giờ nhờ nó chắc ăn nhất! Chẳng bao giờ phải lo chuyện gọi tắc xi về nhà. Cứ thế, tôi làm phiền Trịnh thi sĩ dài dài. Nhưng tính cho cùng cả tôi lẫn nó đều có lợi. Tôi đỡ xuống sắc – nó bảo thế – và nó làm được khối thơ – cũng vẫn lời nó bảo.*
Bây giờ là tuần lễ cuối cùng của năm. Tôi đã chuẩn bị cho chuyến về Santa Ana ăn tết. Và Trịnh thi sĩ đang rầu rĩ chờ một cú phone hẹn giờ ra đón. Nhưng lần này không phải một mình Trịnh thi sĩ rầu rĩ, mà cả tôi nữa. Rầu thí mồ chứ giỡn sao? Không khí những ngày cuối năm làm lòng người chùng lại. Những kỷ niệm thường trở về rõ nét hơn bao giờ hết. Chỉ cần một thoáng gió se se lạnh, chỉ cần một tia nắng nhạt của chiều là đủ nhớ lại một trời ngập gió, ngập nắng thuở nào. Chuyện của tôi và Vi đâu có lâu dữ vậy? Đâu phải xảy ra từ thuở nào. Mới năm ngoái mà. Lại nữa, khung cảnh đâu phải đã chìm khuất vào quá khứ mà không thể tìm lại. Còn rành rành ở trên đất Mỹ. Đó – ngay Santa Ana đó, ngay khu Phước Lộc Thọ đó, ngay ngôi chùa đường First đó… Vậy mà chẳng còn gì. 
Tôi rầu rĩ nhìn xấp vé máy bay có hai màu xanh đỏ mà hình dung đến mùa xuân này của mình. Đầu tiên sẽ gặp một khuôn mặt cũng rầu rĩ của Trịnh thi sĩ ở phi trường. Rồi đến khung cảnh quen thuộc trong không khí xuân của những nơi hai đứa đã rong chơi năm ngoái. Biết Vi giờ này thế nào? Có còn nhớ đến tôi không? Trời đất! Sao tôi lại nghĩ thế. Vi rõ ràng là bà dì của tôi – một bà dì được ấn chứng hẳn hòi trên hai lá thự Quên đi! Quên đi! Tôi lẩm bẩm trong khi đầu óc vẫn hiện ra khung cảnh khu hội chợ năm ngoái có Vi bên cạnh. Những chi tiết nhỏ nhặt nhất đã được gặp chợt hiện về như đang trước mặt. Pho tượng mẫu với bộ quần áo mốt mới, cô ca sĩ hở rốn hát ở hội chợ, hai cô gái bưng phở, sợi hành trong kẻ răng khôn của Vị. Bất giác, tôi hít mạnh một hơi dài, trong không khí trước mặt “cái mùi thơm kỳ cục” từ hơi thở Vi đêm giao thừa lại về. 
Tôi thở dài đứng dậy khi người bưu tín viên đặt xấp thơ trước cửa. Lẫn trong đống bills gửi về là một lá thư từ Việt Nam. Tôi buồn rầu nhìn nét chữ xiêu vẹo của mẹ tôi trên phong bì mà đoán những điều mẹ tôi viết trong thự Lại những lời báo tin về gia đình, lại những câu thăm hỏi, âu lo quen thuộc và thế nào cũng có một đoạn mà tôi nản nhất -… Con gắng đến thăm dì Vi thường xuyên, ở xứ lạ quê người mà có họ hàng thân thích là may lắm… – Ôi! Chẳng biết hai bà mẹ ở Việt Nam thấy may tới mức nào, chứ ở đây bọn tôi chả được tí may mắn nào cả. Những đoạn nhắc về Vi trong thư đã bị tôi bỏ quên trong vòng nửa năm ở San Jose. 
Đúng như tôi đoán, phần đầu và phần giữa y chang những lời báo tin về gia đình, hỏi thăm tôi. Nhưng lần này tôi chỉ đoán đúng một nửa. Nghĩa là phần cuối thư cũng nhắc đến dì Vi Nhưng không phải một đoạn ngắn như mọi khi mà lại dài thoòng. 
– Con vẫn đến thăm dì Vi thường xuyên đấy chứ? Ở xứ lạ quê người mà có họ hàng thân thích là điều may lắm! À hôm nọ bác Phấn đến thăm nhà ta, có cho mẹ xem hình cái Vi (mẹ tôi đã xuống chức nàng). Con bé (lại xuống chức thấp và thân hơn nữa) trông kháu tệ. Mặt mũi sáng sủa, dễ xem mẹ cũng nói về con, bác Phấn cũng có vẻ thích lắm (sao kỳ vậy cà!). Con thấy cái Vi thế nào? Quên mất, mẹ chưa bảo con họ nhà mình và họ nhà bác Phấn xa lắm. Đến bốn năm đời cơ đấy, mà lại là họ ngoại. Cụ tằng tổ của con và cụ cao tổ của cái Vi là hai anh em cột chèo. Tiếng rằng có họ nhưng lại xa lắm. Máu mủ mấy đời cũng nhạt đi phải không con. Ở xứ lạ quê người chuyện trăm năm của con mẹ không dám bàn, nhưng mẹ khuyên con máu mủ có nhạt cũng còn hơn nước lã. Vã lại: – Cháu cậu mà lấy cháu cô, thóc lúa đầy bồ giống má nhà tạ – Mẹ và bác Phấn đều nghĩ thế. Thế nào bác Phấn cũng hỏi ý cái Vị Con thấy được thì tiến tới… -. 
Được quá đi chứ mẹ ơi! Tôi hét lên thật lớn khi đọc xong láthư của mẹ tôi. Bây giờ niềm tin về những điều các cụ nói đã thay đổi hẳn. Các cụ nói chả bao giờ sai cả. Nhất là lại nói bằng… thơ lục bát hẳn hòi: 
Cháu cậu mà lấy cháu cô Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta. 
Và tôi hiểu, chẳng cần phải qua một trường lớp nào ngtười ta vẫn có thể trở thành một nhà văn một cách dễ dàng. Mẹ tôi đấy, bà mới học xong cao đẳng tiểu học và đoạn thư trên không phải là một trong những áng văn hay nhất thứ giới hay sao? 

*
Mùa xuân, có những loài chim thiên di quay về tổ có những loài cá voi trở lại vùng biển đã sinh ra. Đó mới là chim và cá, nói chi tôi và Vi. Đại gia đình họ Nguyễn thuở xưa có hai cụ tổ nắm tay hai chị em của một gia đình, dắt đi giang hồ hai ngả. Xa tít và xa tít. Như hai đường cong tẽ hai bên, trên một vòng tròn. Xoay một vòng sẽ gặp nhau tại một điểm để làm thành vòng chu vi tròn trịa. Tôi và Vi đang đứng tại đó để nối lại vòng tròn cho đại gia đình họ Nguyễn. Các cụ cao tổ, tằng tổ hẳn sẽ mỉm cười khi thấy hạnh phúc đang về với chút, chít trong mùa xuân về cội. 
Ngày mai tôi về Santa Anạ.  Đón tôi tại phi trường John Wayne sẽ là Vi và mùa xuân tròn trịa. Thật tròn – để không có cái cười nào là rầu rĩ – kể cả nụ cười của Trịnh thi sĩ. Dĩ nhiên! 

Nguyễn Ý Thuần

Ra Tết

CÂY KEM

16650183_1239531019435602_1098938020_n

 

Tôi mê ăn kem nhưng không được phép.
Đúng ra, mẹ tôi chỉ cho tiền một hai tuần một cây. Không thấm tháp gì, nhất là vào mùa hè. Vừa hết năm học, bọn trẻ thám hiểm đồng quê, suốt ngày luồn trong những bụi rậm. Chơi bi, bẫy chim, bắt cào cào cho chim ăn, chia phe đánh nhau. Thời tiết mát, mùi hương lan đầy không khí, trong túi áo sơ mi của tôi bông cúc dại đã khô từ lâu. Khi tôi băng qua sân đình làng, thằng Hiển, ngồi đó từ bao giờ, đưa tay vẫy. Xung quanh nó, năm đứa khác. Hiển học trên tôi một lớp, nhưng lớn hơn nhiều tuổi, thường nghỉ học chăn trâu, cao lớn, ngăm đen, điểm đặc biệt: hàm răng dưới có hai hàm, do răng mọc không đều, khi cười mới lộ ra.
Vừa lúc đó trên đường làng, một đứa trẻ bán cà rem (kem) mang trên lưng cái thùng màu xanh lá cây, vừa đi vừa rao. Nó đi khuất rồi, chúng tôi vẫn cố nhìn theo, không đứa nào có tiền trong túi. Kem hồi đó một cây năm đồng, đồng tiền kẽm có hình cây trúc: số tiền khá lớn.
Phép lạ xảy ra. Hiển ngúc ngắc đầu bảo: đứa nào chạy theo kêu nó lại. Một đứa đuổi theo. Thằng bé bán kem quay lại, nhanh nhẹn nhưng khép nép tiến gần chúng tôi. Hiển ra dấu, thằng bé mở cái nắp thùng. Sáu đứa chụm đầu nhìn vào. Làn khói trắng bốc lên thơm lựng. Trong đời, tôi chưa gặp mùi hương nào quyến rũ thế. Thùng đựng kem chia nhiều ngăn, những màu khác nhau. Xanh mùi bạc hà, nâu mùi sô-cô-la, vàng có rắc những hột đậu phụng lấm tấm, đỏ hồng mùi dâu.
– Một cây cà rem bự, một thằng hô lớn. Ý nó gọi cho thằng Hiển.
– Thưa anh, loại gì? Thằng bé bán kem ngước nhìn Hiển, hỏi.
– Tao có tiền, đãi mỗi đứa một cây, cho bọn nó tự chọn, Hiển hất hàm.
Chúng tôi nhảy cẫng hò reo. Sáu đứa tất cả.
– Em cây xanh.
– Tao cây vàng.
– Có đậu phụng.
– Có bạc hà.
Nghe tiếng hô đã chảy nước bọt. Thấy tôi chưa kịp nói gì, thằng bé bán kem quay về phía tôi, ý hỏi. Tôi phân vân, mới đầu chọn cây xanh có mùi bạc hà, về sau đổi ý, thích cây vàng có rắc hột đậu phụng.
Cả bọn nín thở chờ đợi.
– Một cây sô-cô-la. Như chuyện thường xảy ra ở đời, khi người ta phân vân lưỡng lự quá lâu, phút cuối bao giờ cũng quyết định một cách đầy kinh ngạc, mà về sau sẽ hối hận. Tôi chưa kịp hối hận nhưng trong bụng đã bắt đầu tiếc mùi bạc hà.
Mỗi đứa một cây đứng mút giữa trưa trời nắng, chỉ Hiển là ngồi, vì nó là đàn anh, im lặng. Chúng tôi đi đi lại lại thưởng thức lạc thú giữa cơn khát. Một con chim cu về gù trên bụi tre trước sân đình. Trời nóng quá, ăn nhanh thì tiếc, ăn chậm thì kem chảy ra thành nước. Tôi cắn từng miếng nhỏ, chất ngọt, mùi thơm thấm vào kẽ răng; dịu dàng, gượng nhẹ dùng một cái lá chuối sạch hứng những giọt kem chảy xuống. Do kinh nghiệm, tôi học được cách thưởng thức trong lá chuối dư vị của thú vui êm ả. Khi những đứa kia vừa chén sạch, tôi đang ăn được hơn một nửa cây kem của mình, Hiển lại hô: mỗi đứa được kêu thêm một cây nữa.
Lần thứ hai, tôi chắc chắn chọn cây kem có mùi bạc hà.
Đến lần này thì hộp kem vừa hết sạch, chỉ còn một cây dư ra, phần của Hiển. Như vậy nó ăn ba cây. Thằng bé đóng nắp hộp kem trống trơn, rụt rè tiến lại gần, bảo: anh cho em xin tiền.
Hiển từ từ đưa mắt nhìn thằng bé một lúc, rồi ngoảnh mặt đi thật lâu.
Mùi kem bạc hà bay phảng phất trong không gian.
Thằng bé nhắc nhiều lần. Hiển quay mặt lại, nhìn nó như mới gặp lần đầu, hỏi: tiền gì hả mày? Tôi không bao giờ quên được ánh mắt của Hiển vào lúc ấy. Hàm răng nó lộ rõ.
Tôi đang mút gần xong cây kem của mình liền nhả ra, đứng ngẩn người.
Thằng bé sợ quá, van xin: anh trả tiền cho em. Hiển đứng lên, phủi quần, bảo: mày có giỏi thì đòi tiền đi. Bọn tôi đều đứng im. Giọt kem cuối cùng trong miệng tôi đắng ngắt. Tôi lùi lại một bước.
Thằng bé nhìn trước nhìn sau, biết không làm gì được, liền xốc thùng đựng kem lên, dây vải xám to bản bị rách xơ một chỗ quàng ngang lưng nó, siết thật chặt giữa hai xương bả vai nhô ra, lủi thủi bỏ đi. Nó vừa đi vừa khóc. Thùng đựng kem rung lên theo nhịp bước.
Trong sáu đứa chúng tôi: hai đứa nhảy lên sung sướng hò reo, tôn vinh thằng Hiển làm lãnh tụ; một đứa nhổ toẹt một bãi nước miếng, không biết nó nghĩ gì; hai đứa khác len lén bỏ đi. Chỉ còn tôi đứng đó một mình giữa trưa nắng gắt.
Tôi đứng đó rất lâu, phân vân không biết phải làm gì. Con chim cu trên ngọn tre trước sân đình gáy một hồi nữa rồi đổi ý, thất vọng, vụt bay đi, biến mất sau chân trời.
Nguyễn Đức Tùng

NGƯỜI HOMELESS VÀ CON CHÓ NHỎ

tonnuthudung

Người Homeless ngồi dưới gầm cầu Golden West
Cười với mây và thả ngụm khói bay
Giấc mơ trưa nay? Tôi hỏi, gã cau mày:
“Một chiếc Hamburger, một lon bia thật lạnh.”
Rất hồn nhiên gã xòe bàn tay bụi bặm:
“Cô có thể cho tôi?”
Tôi lục lọi hoang mang trong sâu thẳm tiếng cười
Không hề nhuốm một nỗi niềm cay đắng
“Một căn nhà, một chiếc xe, một gia đình đầm ấm?”
“Ồ không, sao lại phải bận tâm với  khoảnh khắc đó khi cuộc đời vốn ngắn”
Tôi chống tay nhìn vào đôi mắt gã âm u
Gã cũng nhìn tôi, nháy mắt gật gù:
“Cô là một Lady nhân hậu, cô tưởng mình là bà Thánh Thérésa?
Tôi, một kẻ lang thang không cửa không nhà
Nhưng tôi biết mình vô cùng hạnh phúc!
Và thấy cô, sao như sống trong tù ngục
Loay hoay tìm mà chẳng biết tìm chi!”
Tôi lại hoang mang lục lọi trong những câu nói lạ kỳ,
“Give me ten Dollars, Santa Thérésa, please!”
Tôi bật cười và vẫn mềm lòng như mọi khi…-Nheo mắt.
Đưa gã mười Dollars để gã đi uống bia và ăn fastfood.
Con chó nhỏ của gã nhìn tôi, vẫy đuôi cười , có lẽ nó cho rằng tôi là đồ ngốc…

Nhưng có hề chi! Tôi ( đôi khi) cũng ngốc nghếch kể gì!

Khá lâu sau tôi mới trở về
Dừng xe dưới gầm cầu Golden West
Gã Homeless phiêu dạt nơi nào không biết…
Tôi nhìn suốt con đường mòn vắng lặng
Gió tả tơi lay đôi bờ lau trắng.
Ngậm ngùi…

Giấc mơ trưa nay, tôi hỏi, gã đâu rồi?
Con chó nhỏ có đôi mắt biết cười có bên gã đến cùng trời cuối đất?
Bỗng nhiên tôi bật khóc
Tôi muôn đời thiếu nợ những đa đoan…

Tôn Nữ Thu Dung

16466986_1236168766438494_850663845_n

 

4 năm thấm thoát qua nhanh,
Tương Tri hãnh diện đồng hành cùng bạn đọc,
Tương Tri cảm kích tri ân những tác giả đã luôn đi cùng Tương Tri qua những đoạn đường gai cỏ.
Lời không dễ nói,
Nhưng Tương Tri đã, sẽ và mãi là một tiếng nói chân thực từ trái tim.

   BBT TƯƠNG TRI

15328264_1180302085358496_899872672_n15310290_1180218458700192_1429423110_n

Biết

 

 

nguyenhanchung

từng tuổi này anh biết phải quên ai
và cũng biết sẽ nhớ ai mãi mãi
dẫu trái tim có đôi lần vụng dại
nhưng anh tin nên vụng dại đôi lần

vì thơ anh lấn quấn với tha nhân
chẳng còn có cái gì ngăn cách nữa
tim thúc hối cứ yêu đi đừng sợ
mùa thu nào lá úa lại không rơi

khi xuống mồ chỉ còn có thơ thôi
một nhúm bột rắc vào sông viễn xứ
thơ không chết khi nhà ngươi quy khứ
anh nghe tim và hối hả lên đài

anh không cần không biết em yêu ai
yêu thi sĩ hay yêu chàng bán củi
bị tình phụ từ khi còn tí tuổi
rất lì đòn em đừng sợ anh đau

người thương anh đang ngồi đó chải đầu
và anh vẫn là tên chồng mẫu mực
em đừng sợ anh bị buồn oan ức
từng tuổi này anh biết nhớ quên ai
Nguyễn Hàn Chung

PHỨC ÂM

10735644_826194720769236_378143114_n-1

trong trái tim một con nguòi
kẻ chết biết nói chuyện
hắn kể cho trần gian nghe về vết sẹo trên lưng
dấu xâm trên da
và vết nhăn trên trán

hắn nói với với người tu sỹ . đừng nguyện cầu
sẽ không có thiên đường hay nơi siêu thoát
cho dù địa ngục luôn ở nơi trần gian
hắn không bay như mây trời . đi về đâu .
hắn ở đây . còn lại chốn này
để kể nốt câu chuyện chưa xong
về một vết thương

chỉ có những con thú mới không thể nghe tiếng khóc
tiếng khóc của trẻ thơ
ban đêm nhớ mẹ
mẹ ban sáng mới vừa bị dẫn đi . vào nhà tù
với tang vật phạm tội
tội chống xâm lược và đòi quyền làm người
hắn chỉ vết thuơng xâm trên da
sâu trong xương
hắn nói
với con sông
qua con núi
tự do dù đến chết cũng phải đòi
khi đó biển dậy sóng muôn trùng
đất trổi tiếng thổ âm
rừng vang tiếng cồng . tiếng tù và . tiếng lá tre . tiếng tầm vông gọi nhau
tiếng linh hồn của nghìn năm lịch sử
bước dội về Thanh Long thành

trong trái tim một con người còn sống
không quên nguòi chết đi
không thể quên những con nguòi chết đi cho quê hương được sống
quê hương là bàn tay mẹ chải tóc cho con mỗi sáng tới trường
quê hương là nước mắt con thơ , vợ trẻ khóc vì tin cha , vì tin chồng chết trong tay giặc
chết trong tù .chết trong ngày mãn hạn tù lưng vẫn còn đeo số
chết trong rừng chết ngoài khơi nơi biển đất ngập tràn tầu lạ , người lạ
chết dần dà chết từ từ như cá bị nhiễm độc
chết trên hải đảo chết trên ngọn đồi khòng muốn bị mất trong tay giặc
chết trong đồn công an vì tội chưa có tội . tội làm dân
quê hương là buổi chiều có tiếng rao hàng , đêm xuống chợ khuya
quê hương là con sông những mùa nước lụt
quê hương là tiếng cười cuả em lúc ta bên nhau
quê hương là của tôi
cũng là của em
quê hương là con đường . có những buớc chân đi của những con nguoì sinh ra để yêu nhau
quê hương là lời nguòi đã chết nói cùng người đang sống
về ảo ảnh thiên đường của một vết thương
trong trái tim của loài nguòi
người chết biết nói

Ngô Yên Thái

TIẾNG SÁO

khuatdau

Như thường lệ, người đàn ông tắt đèn.
Một cơn mưa dục tình dữ dội trút xuống người nàng. Một cơn mưa đá, lạnh buốt. Từng sợi tóc cũng cảm nhận được cái buốt lạnh tái tê.
Mặc cho toàn thân chao đảo, nghiêng ngửa, nàng mở mắt ráo hoảnh nhìn vào bóng tối.
Đôi khi, những lúc như thế này, nàng chỉ còn biết bám lấy chiếc phao nghiệp chướng mà số phận vừa ném xuống. Bởi vì chỉ có thể như thế mới giải mã được tại sao mỗi ngày nàng vẫn còn đủ kiên nhẫn để chăm chút lo từng bữa ăn, từng chiếc áo cho người đàn ông gọi là chồng.
Và cũng bởi vì, bất cứ nơi nào người đàn ông ấy xuất hiện cũng tỏ ra là một người có giáo dục, có kiến thức, vừa hoạt bát mà cũng vừa hòa nhã. Ngay cả ở những nơi chợ búa, chàng cũng để lại sau lưng những tiếng xuýt xoa khen ngợi của những người, mà họa hoằn lắm những lời tử tế mới được thốt ra.
Lại càng không chê vào đâu được khi hai người bước tới những nơi sang trọng. Như một thân cây mạnh mẽ, rất hào hoa chàng để nàng tựa vào mình, khắng khít âu yếm, làm nên một cặp đôi hoàn hảo khiến nhiều người phải ghen tị.
Chàng cũng tự tin và lịch sự để cho những người đàn ông khác tán tỉnh vợ mình. “Có sao đâu, như một mùi hương, làm sao ngăn cản được mọi người cảm thấy thơm. Hãy để cho mọi người cùng thưởng thức”, chàng từng độ lượng nói thế.
Có thể nói, trước và sau khi lấy vợ, chàng vẫn khiến cho trái tim của nhiều người đẹp kêu leng keng và cứ muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, trong đó có nàng.
Nhưng khi trở về nhà, trút bỏ cái bộ veste cắt rất đẹp, chiếc cà vạt đắt tiền, đôi giày da Thụy Sĩ bóng lộn, chỉ còn quần đùi áo lá thôi, thì người đàn ông ấy lại hiện hình là một gã đàn ông thô lỗ.
“Em mê thằng đó à?”, gã hỏi.
“Sao anh lại vu oan cho em!”
“Vậy sao để nó bám riết theo như đỉa đói?”
“Em làm gì được nào!”
“Cô vẫn có cách.”
“Cách gì?”
“Thì cô vẫn cứ ngồi yên, vẫn không cười nói với ai hết”
“Nhưng anh bảo đi với anh phải tươi tắn vui vẻ lên kia mà”
“Nhưng chỉ với tôi thôi, biết chưa?”
“Thế thì ở nhà cũng đủ rồi, đưa em tới làm gì”
“Đưa cô tới là để cho đủ bộ, biết không?”
“Đủ bộ là sao?”
“Là tôi có địa vị, có nhà lầu xe hơi và một cô vợ đẹp”
“Té ra anh coi em là một món đồ trang sức của anh?”
“Chứ sao! Kim cương là trang sức cho đàn bà. Còn đàn bà là trang sức cho đàn ông. Tôi được trọng vọng, nịnh nọt là vì có cô”.
“Thế thì anh phải biết giữ gìn, nâng niu em chứ”
“Thì cô còn thiếu thứ gì nữa. Phấn son, hàng hiệu. Cô còn thiếu thứ gì nào?”
“Em không cần những thứ đó”
“Nhưng tôi cần. Cô phải nhớ điều ấy. Cô còn nợ tôi một đứa con xinh nữa kia!”
Nghe nói tới một đứa con, nàng bật khóc.
“Tôi biết cô chưa đến nỗi nào. Và cũng chẳng thằng nào cướp được cô khỏi tay tôi đâu. Thách đó! Những thằng gọi là nhà văn, nhà thơ, những thằng nhạc sĩ, họa sĩ, nói chung là cái bọn nghệ sĩ đói meo mà làm bộ đa tình đó. Chúng chỉ hít bụi sau tôi mà thôi. Nhưng tôi không chịu được những con mắt cú vọ nhìn vào ngực cô, đắm đuối dán vào mông cô, rồi lại nhìn tôi với đôi mắt hình viên đạn.”
Một người có hai mặt. Như ngày và đêm. Như tối và sáng!
Một đêm, trong lúc đang say sưa như quyết đấu với những bóng ma, gã bất chợt nghe có tiếng sáo. Lúc đầu, tiếng sáo có vẻ như tiếng một con ve hay một con ong. Nó lẩn quất bên tai gã, lúc trước mặt, lúc sau lưng, lúc như cười cợt, lúc như mai mỉa.
Sau cùng, như một viên đạn vô hình, trong một lúc không ngờ được, nó bắn thẳng vào giữa ngực gã.
Trong khi đó, người vợ đang nguội lạnh như một xác chết bỗng sống động, oằn người lên như một con rắn đang lột vỏ. Tiếng sáo càng thanh thoát, người nàng càng oằn lên, càng uốn lượn, quên mất gã chính là ngọn roi đang quất lên người nàng đến rướm máu. Có cảm giác như nàng là một làn khói u uất đang tìm cách bay lên để thoát khỏi căn phòng ẩm ướt, ngột ngạt.
Gã bực mình đứng dậy, đi khép mọi cánh cửa trong nhà. Nhưng khi trở lại, cơn hứng tình đã nguội lạnh. Gã xuôi xị nằm dài trên giường và như muốn phát điên lên khi nhận thấy, tiếng sáo dù nhỏ hơn, mảnh hơn như sợi chỉ vẫn đủ sức xuyên thủng gã. Lần này nó như những mũi kim khâu đang cố tìm cách khâu vá chỗ lồng ngực vừa bị rách toạt với những mũi khâu vụng về, đau không chịu được.
Gã đứng bật dậy, lao vào buồng tắm, mở nước xối ào ào.
Nhưng tiếng sáo vẫn bén như một đường gươm. Vẫn loang loáng bay lượn khắp nơi. Gã không ngớt nguyền rủa cái tiếng sáo chết dẫm đó. Chẳng những nó xuyên thủng tim gã, mà nó còn lấy đi cái bí mật riêng tư, đem ra khỏi phòng và thả bay trong gió.
Sáng hôm sau gã gọi thợ đến, biến phòng ngủ thành một phòng cách âm, mà ở đó tiếng hí của gã khi lên tột đỉnh va vào các bức tường dội lại nghe lanh canh khiến gã cảm thấy hết sức tự tin. Gã lại nốc những ly rượu được pha chế một cách bí mật, lại ăn những món ăn cũng bí mật không kém, như mây đen tụ lại, để rồi tiếp tục trút xuống những cơn mưa mặc dù người nàng đã sũng nước, sắp biến thành một cái hồ đầy nước mắt.
Và để triệt tận gốc cái tiếng sáo tọc mạch đáng nguyền rủa đó, để chỉ có gã với những sấm chớp bão giông, gã liền tổ chức một đêm thơ nhạc. Dĩ nhiên có thổi sáo.
Gã đủ tiền và đủ tài để biến nàng thành một chủ nhân như một nữ bá tước thích văn nghệ.
Đẹp diệu kỳ, rất có hồn và một nỗi buồn sâu thẳm, khiến nàng chẳng cần gắng gỏi chi nhiều, cũng đã trở thành người trong mộng của những ai may mắn được mời đến.
Có những giọng ngâm réo rắt. Có tiếng đàn thập lục thánh thót như mưa rơi. Và, có tiếng sáo như một sợi tơ vàng óng thả xuống từ cung trăng.
Gã, vừa lịch thiệp vừa thâm hiểm để vợ thù tiếp các nhạc công, đương nhiên có một người thổi sáo.
Anh ta cầm chiếc sáo trên tay, đủng đỉnh như một thi nhân đời Đường lúc nào cũng cầm theo một chiếc quạt. Họ chào nhau. Anh ta cũng đủ lịch sự và tinh tế để hôn phớt lên tay nàng. Và chỉ có thế thôi, máu trong người gã đã muốn sôi lên rồi.
Gã muốn cắn đôi môi ấy cho nát ra. Một đôi môi lúc nào cũng chúm chím như đang dấu một nụ cười.
Khi nó chụm lại, lướt nhẹ trên ống sáo ngà trước khi thổi, gã tưởng như hắn đang lướt trên thịt da vợ mình. Sau cái gáy mảnh mai đẹp như một nậm rượu cổ ấy. Trên khoảng ngực thơm như đồng lúa trổ đó. Trên rốn sâu, trên háng rộng và tận những ngón chân kia…
Và khi tiếng sáo cất lên, gã tưởng như chính hắn đang nâng vợ mình lên thổi!
Tiếng sáo càng mênh mang, dìu dặt thì vợ gã lại càng trở nên quyến rũ khêu gợi. Và như một con rắn hổ mang đang theo tiếng sáo trườn ra khỏi giỏ, nàng nhẹ nhàng bay ra khỏi phòng, lướt qua những ngọn cây, bay như cánh diều đứt dây rồi tan biến trong trời đêm xanh thẳm.

KHUẤT ĐẨU