Author Archives
xuân đã cạn ngày
người xưa nâng chén mà hào sảng
ngâm thơ xuân rượu uống ngang mày
ta nay bắt chước làm hảo hán
cũng uống nửa chừng dăm chén say
nhớ bạn nhớ trăng sầu mấy nỗi
vất chén mà ca giữa chợ đời
cớ sao ta hát đời chìm nổi
lệ ứa trong lòng ngỡ hát chơi…
sáu mươi lăm tuổi mà tay trắng
vỗ giấc mù sương lạnh chỗ nằm
đâu hay bốn phương trời cay đắng
biệt mù thăm thẳm khói sầu giăng
ta gửi đời ta vào cát bụi
sá gì dăm hớp mãi chưa say
ngoảnh lại cõi dương trần ngắn ngủi
dung chi ta một gã bất tài
thì cát bụi cuối cùng là bụi cát
thơ ta đây lỉnh kỉnh lạc câu từ
ngàn thi sĩ còn hận đời đen bạc
huống chi đời ta một gã phàm phu
cuối năm ngồi uống cùng mây trắng
rượu dổm cơ hồ sao chẳng say
nghe vọng tiếng chim về trong nắng
mới biết rằng xuân đã cạn ngày…
ngày thơ đinh dậu
nguyễn minh phúc
MÀU MẮT CHƯA QUÊN
Tháng Chín, tôi trở lại trường cũ ghi tên học một lớp. Buổi chiều tôi đáp xe điện ngầm đến trường. Mùa thu, năm giờ chiều trời đã nhá nhem. Bước vội về hướng lớp học tôi nghe gió lao xao trên ngọn cây, thứ gió đặc biệt của mùa thu làm lá rung mà cành không lay. Thoảng trong gió hình như có ai gọi tên tôi theo đúng kiểu Việt Nam. Tôi nhìn chung quanh chẳng thấy ai và tự nhủ mình chỉ giỏi tưởng tượng. Đã gần hai mươi năm tôi mới trở lại trường, ngay từ lúc còn đi học chẳng ai có thể gọi tên tôi bằng tiếng Việt. Chỉ có một người làm việc chung có thể gọi tên tôi như thế. Tôi đang cắm cúi bước đi chợt nhận ra có người đứng chắn ngang đường; ngẩng mặt lên tôi nhìn thấy Scott.
Anh cười tươi. Bao nhiêu năm rồi sao nụ cười và ánh mắt ấy vẫn còn rất trẻ. Trong nắng chiều chập choạng, tóc anh đã nhiều sợi bạc. “Tôi thấy em từ lúc em đi ngang Colton Hall, gọi em khản cả giọng mà em không nghe.” Tôi ngạc nhiên. “Thì ra đó chính là anh? Tôi nghe tiếng gọi nhưng chẳng thấy người. Và cũng không nghĩ là ở đây có người biết tên mình.” Chỉ có Scott là người có thể gọi tên tôi phát âm đúng cách. Có lẽ vì anh đã thực tập biết bao nhiêu lần. Lòng tôi chùng xuống.
Khi mới biết nhau, cái tên của tôi đơn giản hai chữ như vậy; mà anh, cũng như bao nhiêu người Mỹ khác, đều vất vả khó khăn trong việc phát âm. Tôi dễ dãi bảo mọi người gọi tôi bằng gì cũng được. “Cứ cười ‘Ha Ha’ thì tôi biết ngay đó chính là tôi!” Tuy thế, dần dần anh phát âm tên tôi thật chính xác và không ngần ngại sửa sai những người làm việc chung với một chút bỡn cợt. Scott hỏi: “Em đã ăn tối chưa? Tôi đang đói, em có thể dành cho tôi vài phút không? Sáu giờ lớp học mới bắt đầu. Em làm gì ở đây?” Tôi nói, “trời nhá nhem thế này mà anh cũng nhận ra tôi, hay thật!” Scott nhìn tôi: “Em chẳng khác ngày xưa bao nhiêu, vẫn mái tóc dài, vẫn dáng đi cúi đầu.” Anh trêu: “Và vẫn không cao thêm chút nào.”
Tôi ngoan ngoãn theo Scott đi ra phía sau khuôn viên của trường nơi có những quán ăn cho sinh viên. Và trong chừng ba mươi phút ngắn ngủi giữa pizza và trà Lipton, chúng tôi cố gắng ghi nhận phần đời của nhau trong mười năm không gặp, tưởng như tình đã cũ. Gió thu như nhẹ nhàng thổi bay đi lớp tro tàn, ngọn lửa của than hồng vẫn còn âm ỉ cháy.
Chúng tôi làm việc chung với nhau. Tôi có nhiệm vụ đặt thang và bậc thềm cho công nhân phụ trách công việc chăm sóc cầu quay có thể lên xuống dễ dàng. Scott có nhiệm vụ cung cấp ngân quỹ, và vượt qua những luật lệ lỗi thời áp dụng lên những chiếc cầu cổ lỗ sĩ của công ty xe lửa. Công việc không khó nhưng người ta cấm đoán và đòi hỏi đủ thứ giấy tờ phức tạp; lý do là vì đây là một trong những cây cầu đã hơn trăm tuổi. Giới bảo tồn văn hóa không muốn làm mất vẻ cổ kính của cây cầu. Nhóm kỹ sư muốn công việc dễ dàng nhanh chóng và ít tổn phí. Nếu ai đã từng làm việc cho cơ quan nhà nước của Mỹ sẽ biết là đôi khi vì bè nhóm phe phái, ai cũng muốn làm vua một cõi, người ta tha hồ gây khó khăn làm cản trở công việc của nhau. Scott gọi điện thoại yêu cầu tôi đưa anh đến chỗ cây cầu ở gần cửa biển. Tôi hẹn giờ, chỉ đường và chúng tôi gặp nhau ở bên đầu của cây cầu.
Trời đã bắt đầu xuân. Hôm ấy nắng ấm dù mới mấy ngày trước một cơn bão tuyết đã để lại cả mét tuyết. Tuyết đã được gom thành từng đống cao nghệu rải rác khắp nơi. Scott nhìn tôi trong áo thun dài tay, quần jean, nón bảo hộ, anh cười tự giới thiệu, rồi bảo thêm, “trông cô như vẫn còn là học sinh Trung học.” Tôi cười, “Tôi đã có gần mười năm kinh nghiệm lận lưng rồi đấy nhé.”
Scott cao lớn vạm vỡ như một ông thần hộ pháp. Tóc anh vàng tơ, mắt xanh như màu biển, màu trời, và màu của cây cầu ngày hôm ấy. Scott có cái vẻ đỏm dáng của dân làm việc văn phòng sống trong thành phố, đi ra cầu mà anh mặc áo trắng quần ka ki như thể đây là bộ đồ cũ nhất và xấu nhất của anh. Cái áo khoác mỏng không cài cúc dù chỉ mới mười giờ sáng. Gió biển lồng lộng làm tôi thấy lạnh. Cơn bão tuyết đã qua nhưng trời vẫn lộng gió và lạnh. Anh khen trời đẹp và mát.
Tôi dẫn Scott băng ngang cầu, nhắc chừng anh ngoái đầu trông chừng xe lửa. Tôi chỉ cho anh những chỗ trú an toàn nếu xe lửa đến giữa lúc chúng tôi đi trên cầu. Tôi nói, để chứng tỏ tôi biết rõ môi trường và công việc của tôi. “Cầu dài chừng sáu trăm mét. Thời khóa biểu cho biết là sẽ có xe lửa chạy ngang trong vòng hai mươi phút nữa nhưng chúng ta không thể ỷ y.” Đến giữa cầu chúng tôi leo xuống chân cầu. Từ chân cầu chúng tôi phải vào hầm, chỗ đặt cái trục quay bằng thép của cầu. Tôi chỉ Scott những chỗ có mỡ bò được dùng để làm trơn máy. Dặn anh đừng dựa lưng bất cứ nơi nào nếu anh không muốn ném cái áo trắng của anh vào sọt rác.
Từ trên thành cầu, Scott nhảy xuống gọn gàng và đưa tay đỡ tôi xuống hầm. Tôi đã trồng vào người bộ đồ bảo hộ lao động màu nâu mà các người làm việc chung thường bảo làm tôi giống cái bánh ginger bread. Lúc mới xuống từ ngoài sáng vào chúng tôi không nhìn thấy gì, một lúc sau định thần nhìn kỹ Scott nói: “Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu thấy ở đây có một bộ xương khô và chuột bò lúc nhúc.” Tôi cười, “nơi đây tuy tối tăm bẩn thỉu nhưng không đến nỗi mất an toàn. Người canh giữ cầu ở trên cái tháp kia.” Tôi mở túi xách lấy ra cái đèn bấm, bản vẽ, giải thích công việc của tôi. Những người thợ chăm nom và sửa chữa máy quay cầu cần có thang để công việc của họ an toàn và hữu hiệu hơn. Scott cười, “nếu có thang những người nhỏ bé như cô không cần phải có người giúp.” Tôi nói, “bình thường dưới hầm không tối như thế này, tuy nhiên trận bão tuyết mấy ngày trước đã lấp đi nhiều chỗ cho ánh sáng rọi vào. Và nếu tuyết không lấp lối, tôi có thể tự leo lên xuống dễ dàng.” Scott đưa mắt nhìn chung quanh nào là nùi giẻ rách dính dầu, tàn thuốc lá, chai đựng sô đa bằng nhựa, những cái ly đựng cà phê bằng mốp xốp: “Công việc này không khó tuy nhiên chỗ này chật hẹp khó xoay trở.” Gió thổi qua những kẽ hở của cầu nghe như tiếng hú. Tôi rùng mình vì lạnh. Qua Mỹ bao nhiêu năm tôi vẫn giữ bản chất của cô gái miền nhiệt đới, dưới hai mươi độ C là tôi thấy khó chịu.
Chúng tôi đo đạc, ghi chép, chụp ảnh xong trời đã trưa. Mây lại tụ về làm chúng tôi sợ bị mắc mưa nên thu xếp ra về. Lúc xuống dễ dàng nhưng bây giờ leo lên là chuyện khó. Scott nhảy lên bám lấy thành cầu rồi đu nhẹ nhàng lên như một lực sĩ. Còn tôi, tôi không thể tự leo lên. Tôi bám lấy một thanh ngang đưa cái túi xách có chứa bản vẽ, máy chụp hình, thước đo, của mình cho Scott mang lên trước, nhưng hai cánh tay của tôi quá yếu nên tôi không thể tự đu lên như Scott. Scott muốn kéo tôi lên nhưng thành cầu ở gần mé nước nếu sơ xuất cả hai sẽ rơi xuống nước. Cửa biển, nước chảy xiết, và ở buổi đầu xuân như thế này có lẽ nước lạnh cỡ chừng tám độ. Nếu rơi xuống chắc là khó sống. Loay hoay một hồi, thấy không có cách nào hiệu quả, Scott nhảy xuống trở lại. Scott bảo tôi, “thế này nhé, cô đứng lên đầu gối của tôi, bám tay vào vách thép của cầu, leo lên hai cánh tay của tôi và leo lên mặt ngang của thành cầu. Cẩn thận đừng để rơi xuống biển nhé.”
Tôi cởi đôi ủng, cởi cả bộ quần áo bảo hộ lao động dày cui ngăn cản tôi không thể xoay trở dễ dàng, nhưng hai cánh tay của Scott vẫn còn chông chênh quá. Cái nón bảo hộ của tôi cứ va vào hết nơi này đến nơi kia kêu côm cốp. Cuối cùng, tôi phải ngồi lên vai Scott, anh đứng lên rồi tôi đứng lên vai anh, tay anh đẩy tôi lên rồi cho đến khi tôi có thể nằm lên mặt thép của thành cầu thấp nhất. Trong lúc vất vả như thế cái nón của tôi rơi xuống trúng đầu Scott và tóc của tôi xõa đầy mặt anh. Vốn không quen việc người lạ chạm vào người tôi nghe người mình nóng hổi, tim đập thình thình, mùi kem dùng để cạo râu, hơi thở đàn ông hăng hăng của Scott làm tôi ngây ngất. Chỉ một cái quay đầu là môi sẽ chạm và thân thể sẽ bốc cháy khi những sợi thần kinh đã căng thẳng cực độ vì sợ và hoạt động mạnh. Khi lên khỏi cầu cả hai chúng tôi đều bẩn thỉu, cái áo trắng và cái quần ka ki của anh dính cả dấu giày ủng của tôi.
Trở về chỗ đậu xe, anh nói đùa về trọng lượng của tôi còn tôi chê đôi cánh tay của anh không đủ khỏe. Rồi tôi trêu trọng lượng của anh và anh trả đủa bằng cách chế nhạo đôi cánh tay yếu đuối của tôi. Scott rút khăn tay lau vài chỗ bẩn trên mặt tôi và nói “Cái nón của cô rơi làm u đầu tôi, nhưng vì tóc của cô rất thơm nên tôi tha thứ cho cô.” Tôi đỏ mặt, nhìn Scott rồi ngó ra biển và chợt nhận ra màu mắt anh thay đổi theo màu trời và màu nước biển. Tôi nói lảng. “Anh có biết là cầu dành riêng cho xe lửa, nếu băng ngang mặt nước thì phải sơn màu xanh biển còn băng ngang đất thì sơn màu xanh lá cây không?” Có những nơi tuyết đã tan tạo thành những vũng nước nhỏ Scott nắm tay giúp tôi nhảy qua những vũng tuyết này. Cái ngăn cách ban đầu giữa hai người làm việc khác phái cũng bắt đầu tan. Anh có cái ân cần săn sóc phụ nữ rất tự nhiên của đàn ông Âu Mỹ. Anh giúp tôi mở cửa xe và khi tôi ngồi vào xong anh đóng cửa lại. Tôi nhìn anh lái xe đi, sân nhà ai có những đóa hoa crocus nở tim tím vươn lên trên mặt đất còn đọng tuyết. Gió mang theo mùi hoa hyacinth làm tôi nhớ hai câu thơ “Trông theo ai đến cuối đường. Gió bay làm dậy mùi hương ngây lòng.” Dấu giày của tôi in trên quần của Scott và mùi kem cạo râu cùng với hơi thở của Scott dính đầy trên tóc tôi.
Tôi hỏi anh lập gia đình chưa, có con không, có hạnh phúc không? Anh cho tôi xem ảnh vợ và hai con trai. Vợ anh là người Phi Luật Tân, tóc dài, da màu mật, dáng nhỏ nhắn. Tôi ngạc nhiên. “Thế còn cô tóc vàng?” “Cô tóc vàng nào?” Tôi tả hình dáng cô gái tóc ngắn, dáng cao và thanh, đã thân mật quàng vai anh trong buổi tiệc tiễn đưa anh. Tôi có hứa đến dự nhưng không về kịp vì bận đi họp ở một cái cầu quay rất xa ở tận cái mõm bùn cuối tiểu bang. Anh bảo không nhớ ra, không biết tôi nói đến ai, có thể đó là một khách hàng, cũng có thể đó là cô em gái của anh đến gặp anh. Tôi hỏi: “Anh đến đây để làm gì?” “Tôi hiện đang làm chủ tịch hội đồng cựu sinh viên kiến trúc của trường. Tôi đến họp. Còn em?” “Lấy một lớp học cho vui.”
Do công việc chúng tôi gặp gỡ nhau thường xuyên. Tôi cung cấp tài liệu bản vẽ, ước tính tổn phí và những chuyện linh tinh. Scott cung cấp ngân quỹ và thuyết trình về dự án. Anh thuyết phục mọi người công việc này rất cần thiết. Chuyện hai chúng tôi bị kẹt dưới chân cầu là bằng chứng hiển nhiên. Nhân viên có thể bị tai nạn chết người nếu không có thang giúp thi hành công việc dễ dàng hơn. Chúng tôi sẽ cố gắng duy trì vẻ cổ kính của cây cầu. Tôi thán phục nhìn Scott làm chủ buổi thuyết trình dễ dàng bơi lội trong ao nhà. Ao nhà với anh nhưng lại là biển lạ với tôi. Nơi đây, phụ nữ và đặc biệt phụ nữ ngoại quốc, luôn luôn là người ngoại cuộc. Những lý luận Scott dùng trong buổi thuyết trình là của tôi nhưng anh nói người ta nghe còn tôi nói thì như viên đá nhỏ rơi xuống hồ không đủ khoắn thành vòng. Scott bảo nếu tôi đảm nhiệm công việc thuyết trình tôi sẽ được chú ý nhiều hơn nhưng tôi từ chối viện cớ là mình nói có giọng ngoại quốc người ta nghe không hiểu. “Em không biết, giọng nói người ngoại quốc có cái duyên của nó.” Anh nói, đôi mắt xanh cười lóng lánh.
Tôi nghe lòng mình nhiều mơ ước. Anh luôn tràn đầy trong tư tưởng tôi ngay cả khi anh không có mặt ở bên tôi. Tôi tìm đủ mọi cách để bôi xóa ý nghĩ của mình. Không khéo mình tự biến mình thành một cô Phà Ca thời đại và chế diễu mình khi tự so sánh với Tiểu Siêu. Chúng tôi ăn trưa chung với nhau một vài lần khi công việc cho phép nhưng không tiến xa hơn. Tôi vốn không thích bị lệ thuộc vào ai cả. Nương vào Scott tôi có thể vượt biên giới da màu, trở thành người nhập cuộc và nhờ đó sẽ tiến xa hơn trong lãnh vực nghề nghiệp nhưng như thế là tôi sẽ lệ thuộc vào cái bóng lớn của anh. Scott làm tôi thấy nhỏ bé và thèm được anh bảo bọc. Tôi mơ ước được che chở nâng niu và cố gắng từ bỏ niềm ao ước ấy. Đôi khi tôi nghĩ đến việc mang Scott vào cuộc đời tôi, dạy cho anh phong tục của tôi. Anh bảo rằng từ khi biết tôi anh thích ăn chả giò và phở. Tôi cười, anh cần phải biết ăn bánh cuốn và nước mắm, rồi còn mắm kho với cá bông lau rau kèn và bông súng chẻ. Và Việt Nam không chỉ có bao nhiêu đó thôi. Có lần tôi thử hát một câu tiếng Việt cho anh nghe, ngâm một câu Kiều, đọc một câu ca dao, rồi tôi bỗng nghe giọng của mình lạ lẫm, nhạt thếch. Tôi có thể bơi lội ngụp lặn trong phong tục xứ anh nhưng không thể nào giải thích cho anh hiểu sự rung cảm một câu thơ xưa trong lòng tôi “Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.” Và “quê nhà xa lắc xa lơ đó, ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.” Làm sao khi tôi gác chân ngang bụng anh, tôi có thể mang anh vào một không gian nơi đó có bóng trăng xuyên lá dừa, bát ngát hương lài, hương dạ lý ở một miền quê ngoài thành phố Sài Gòn có con kênh đào và đồng cỏ u ru. Nói thì tôi cứ nói nhưng chắc anh không bao giờ hiểu được hay thấy được những gì tôi đã thấy và vẫn còn đang thấy. Nếu giữa tôi và anh sẽ có những phút giây mê đắm của hai thể xác quyện thành một, thì những dị biệt mù mờ lẩn khuất trong ngõ ngách của tâm hồn sẽ không thể nào với tới dù ở cạnh bên nhau.
Scott không săn đuổi quá đáng dù là tôi biết lòng anh mở cửa chờ đón tôi. Tôi không tiến tới dù chưa có người đàn ông nào làm tôi cơ thể thèm muốn đến thế. Tôi nhớ cái mùi đàn ông của anh đến ngây ngất. Tim tôi vẫn đập rộn ràng khi nghĩ đến buổi sáng dưới chân cầu. Scott thích mái tóc dài, dáng dấp nhỏ nhắn, nước da màu mật của tôi. Anh không ngần ngại nói với tôi điều này và ngạc nhiên khi tôi nói thật là tôi vẫn thường mang mặc cảm xấu xí. Màu da của anh và màu da của tôi thường làm tôi liên tưởng đến cà phê sữa và kem vanilla hay con ong bầu đậu trên hoa lan trắng. Anh thường bảo, “mỗi sáng em phải soi gương và tự bảo mình là Scott thấy em rất là xinh xắn.” Tôi nói xa xôi, “quan hệ làm việc không nên để lẫn tình cảm cá nhân. Những người làm việc chung dễ ghét nhau vì tranh tài giành chức giành quyền, tình cảm riêng tư thường bị tổn thương và chết sớm.” Anh hay nói đùa là tôi là hiện thân của sắt (thành cầu) và đá (chân cầu). Anh nói nếu vợ anh làm lương cao hơn, anh tình nguyện ở nhà nấu cơm và viết văn. “Nếu em trở thành xếp của tôi, tôi sẵn sàng nâng xếp lên khỏi đầu bằng hai cánh tay tôi.” Tôi dùng một ẩn dụ của dân kỹ thuật trả lời, “thép này đã từng đổ biết bao nhiêu mồ hôi đấy nhé!” Điều mà tôi muốn nói nhưng giữ lại lời là, tôi là một phiến đá biết sầu tư!
Rồi Scott xin thuyên chuyển qua một công ty khác. Buổi tiệc đưa tiễn anh tôi bận không về kịp chỉ thấy nhìn anh từ nơi xa khi tiệc đã tàn. Anh đứng nói chuyện có vẻ thân mật với một cô tóc vàng. May là chúng ta chưa có gì trước khi có cô gái xinh đẹp này. Tôi không tranh giành nên không thể nói tôi là người thua cuộc. Anh gọi điện thoại vài lần dặn tôi gọi lại cho anh nhưng tôi không trả lời. Thỉnh thoảng tôi có dịp trở lại cây cầu cũ, bây giờ đã có những bậc thang màu vàng gắn theo thành cầu người ta dễ dàng lên xuống. Tôi đứng tần ngần chỗ ngày xưa Scott đỡ tôi lên.
“Đặt chân lên dấu chân người đã khuất.
Trồng cây hoa lên dấu chân của người.
Suối ngừng xối. Rừng thôi thay lá.
Để giấc mơ người cũ lại về.”
Tôi tự nhắc nhở vì sao tôi không tiến tới. Tôi chọn nhìn thấy những dị biệt mà làm ngơ những tương đồng. Tôi chọn cái quá khứ quen thuộc của một quê nhà xa lắc xa lơ để từ chối một hiện tại còn quá xa lạ. Tôi được quyền chọn lựa, biết điều mình muốn và cả những điều mình không muốn. Tôi yên tâm với sự chọn lựa của mình. Scott không phải của tôi, chưa bao giờ là của tôi, mà sao tôi thấy trong sự chọn lựa này có nhiều mất mát đến độ làm tôi đau đớn.
Hôm nay gặp lại người năm xưa. Dòng đời mang chúng tôi đến gần nhau rồi cuốn chúng tôi xa nhau rồi đưa chúng tôi gặp lại nhau. Lần đầu tiên gặp anh trời vào xuân, gió lạnh và hoa bắt đầu nở. Lần này gặp lại anh trời chuyển sang thu, gió vẫn lạnh và lá bắt đầu rơi. Chúng tôi trao đổi số điện thoại. Anh nhắc lại ngày chúng mình bị vướng dưới chân cầu chưa có cell phone. Anh đưa tôi đến lớp học. Tôi nhìn bóng anh khuất dần ở hành lang hun hút. Lại thêm một lần nữa tôi mang cảm giác phải ở lại. Làm người ở lại có bao giờ vui.
Đêm đó tôi lái xe về. Nhà ai đó đã treo đèn Halloween sáng rực, những con ma dễ thương màu trắng, những bà phù thủy áo tím mặt xanh, và những trái bí màu cam vàng rực. Trong tôi vọng nhẹ một câu thơ Trong hồn tôi có một chút gì cô quạnh và vườn tôi xưa vẫn một vuông rất nhỏ. Ở những con đường tối, mặt trăng sáng lấp lánh lẽo đẽo theo tôi. Trong tâm tư tôi lãng đãng màu mắt của Scott. Ánh trăng trong veo lạnh lẽo, cái lạnh như thấm cùng bóng tối trong tim tôi thành những hạt sương lăn dài vòng quanh buồng tim âm thầm nhói buốt.
Một nhân vật trong Alexis Zorba bỗng hiện về. “Rồi bạn sẽ không còn nhớ đôi mắt của chàng màu xanh hay màu đen!”
Tôi ước gì tôi có thể đồng tình với nhân vật ấy.
NGUYỄN THỊ HẢI HÀ
BÀI HÀNH VỀ THI CA
Thi ca cũng hệt như bóng đá
Hạng A thưa mà hạng B dày
Làm thơ cả nước gần trăm triệu
Trở thành thi sĩ đếm đầu tay
Trở thành thi sĩ đều thê thảm
Đứa bán ve chai, đứa chợ trời
Đứa nào cũng mánh đồ quốc cấm
Chỉ trừ thơ chẳng quốc doanh thôi
Thơ quốc doanh sơ sơ ngàn đứa
Chen chúc nhau mà đấu võ đài
Mánh mung chôm chỉa nghề buôn chữ
Nghị quyết chuyền nhau giắt lỗ tai
Nghị quyết chuyền nhau thơ minh họa
Mặc sức mà đi khách niêm vần
Chai mặt còn hơn nghề nằm ngửa
Lấy chồng, chẳng để một phương không!
Đã thế còn học đòi viết lách
Đội trên đạp dưới, bợ triều đình
Mình ta đủ chấp nghìn pho sách
Ngứa mồm chửi đổng cũng thành… kinh
Điểm danh thấy tủi cho văn học
Ngửa hết bàn tay muốn khóc thầm
Hạng A chưa kín trên mười ngón
Vậy mà quá nửa phụ nhân dân
Vậy mà quá nửa lo kiếm chác
Tham sinh úy tử sống xu thời
Lai căng vong bản quên nguồn gốc
Đêm chưa về đã tập làm dơi
Làm dơi có nghĩa là phạm tội
Thuở nhiễu nhương Phật phải xa chùa
Chúa ngừng giảng đạo vì chiên đói
Chữ nghĩa làm sao khỏi muối dưa
Chữ nghĩa làm sao không chay tịnh
Tuyên ngôn thi chết đứng giữa trời
Lên núi họ Cao xưa mài kiếm
Xuống đường thầy Tú dấn thân chơi
Nói chung thi phú chờ thi bá
Hạng A còn mấy kẻ giang hồ
Những thằng bán nước ta khai tử
Sợ đói làm sao trí tuệ no
Sợ đói cho nên thơ tiền chiến
Khom lưng mà an phận kéo cày
Bao danh sĩ, danh không… liêm sĩ
Từ hạng A rớt xuống B ngay
Thi ca cũng hệt như bóng đá
Hạng A thưa mà hạng B dày
Riêng ta tên tuổi không niêm yết
Hay chờ ngoại hạng mới kê khai?
BÙI CHÍ VINH
CỐ HƯƠNG

(Nhớ Hà Tĩnh)
Đang nhà mình lại nhớ nhà
Tới đầu làng đứng khóc oà, nhớ quê…
Một hôm nhớ quá tìm về
Lạc trong mấy nẻo chưa hề ghé chân
Ngang qua hẻm núi tần ngần
Nghe trầm buồn bước nghĩa quân lên đường…
Hồn ta mây gió bốn phương
Đôi khi ngồi khóc khói sương bên đèo
Chim chàng làng hót trong veo
Bên kia triền dốc, quê nghèo, mẹ ơi !
Ra sân ngửa mặt lên trời
Phơi khô cái nhớ tơi bời… cố hương.
Dũng KQĐ
THIỆP MỜI
Gởi đến các bạn NhaTrang Khánh Hoà và các thân hữu thiệp mời tham dự buổi ra mắt sách của thầy Ngô Đức Diễm (Ngô Quốc Sĩ) -một giáo sư dạy Triết , một bình luận gia tên tuổi của hải ngoại, đồng thời cũng là một cây bút của TUONGTRI.COM
Mong các bạn đến đông đủ, đúng giờ.
Cảm ơn các bạn rất nhiều
Người Con Gái Ngồi Đợi Một Chuyến Tàu Về
truyện dài cuối cùng của Duyên Anh trước 1975
Truyện dài còn dang dở của DUYÊN ANH – có lẽ, lần đầu tiên xuất hiện “đầy đủ” trên cõi thế – nơi tôi, như một tưởng nhớ 20 năm ngày mất của một người đã dựng bày thiên đường – thiên đường tuổi nhỏ/ thiên đường mộng tưởng / thiên đường của những viễn du vào lòng thiện, đi đến những vùng đất hứa nơi “nước mắt” biết “rơi khi tình ra đời”, nơi “đời người chỉ có một lần để cô gái nghe cậu trai nói trong cơn mê xúc động Cám Ơn Em Đã Yêu Anh” / thiên đường của những van lơn nhỏ nhoi “xin cho em một chiếc áo như mây trời”…
Do một cơ duyên chưa biết vì sao có (hoặc có chăng đến từ Luật Của Thỏi Nam Châm Tâm Trí – Law of Attraction ?!? – “J’ai fait la magique élude/ Du bonheur, qu’aucun n’élude – Ai nghĩ về hạnh phúc/ Sẽ đạt nguồn diễm phúc” (Arthur Rimbaud) – và những cơ duyên đẹp diệu kỳ này là một làm bằng xác tín trong tôi về một phép màu có thật của cuộc sống – rải rác trong gần 10 năm, những gương mặt thiếu nữ với đôi mắt xoe tròn, ngậm một nhánh cỏ hay một cành hoa…lãng đãng và bâng quơ nhìn vào cuộc sống, trao đi một trìu mến , du người đến một nỗi “ Bàng hoàng gặp lại ngày xưa tuyệt vời/ Ru ta sáng thế, ru người yêu nhau “ (Ru ta, ru người – Duyên Anh) …. từng số báo, ngẫu nhiên xô dạt vào đời tôi, để cuối cùng tròn vẹn những số báo theo thứ tự – như những cánh rong trôi dạt về miền tôi…từ một miên viễn xa ngái nào đó… trôi về và neo tặng những cơn mộng đẹp…
“Mộng này là thần tiên? Mộng này là quyến luyến” (TCS) … Một cơn mộng đẹp, một cơn mộng vô cùng cần kíp, khi “đời sống đã mang đi hết những câu kinh trinh bạch mà không phải lúc nào, giờ nào, thời nào cũng thổ lộ cùng nhau được”(TCS)… Tuổi Ngọc & Duyên Anh, thời ấy, năm ấy…, với “Thi ca trong sữa lúa/ Tiểu thuyết trên lụa đào”… hơn bốn thập niên sau, vẫn như đang cùng tâm tình, đang cùng gióng giã lên những hồi kinh tình yêu, tình thân, tình quê…
NGƯỜI CON GÁI NGỒI ĐỢI MỘT CHUYẾN TÀU… truyện dài mà tác giả Duyên Anh xác quyết không còn là “những truyện tình mộng tưởng quen thuộc bấy lâu” mà là một dựng bày như một “phản kháng đích thực” hòng “níu giữ ít nhiều mơ mộng của tuổi trẻ trong thời chiến”…
Nhưng rồi…(bất chấp cho những lạc quan của Duyên Anh ước vọng về “khởi hành từ bóng tối” và “hy vọng sẽ bình minh ở hoàng hôn” trong một bức Thư Toà Soạn trước đó 1 tháng…)
Người con gái ấy đã mù khơi, chuyến tàu đã không bao giờ tới…thiên đường cũng đã lỡ …với số báo áp cuối (số 156) (tôi đồ là thế, vì trước đến giờ vẫn chưa nghe hay thấy số báo 158 (nếu có thật) “sẽ” ra vào ngày 20/4/1975, 10 ngày trước cơn đại hồng thuỷ)… Nhưng hình ảnh đep đau thương và những ấp ủ nguyện ước về những chuyến tàu nối những sân ga hiu quạnh trên đất nước này, về linh cảm“nếu mai này hoà bình”, về ước vọng “một mai qua cơn mê”, về rộn ràng cuộc tao ngộ “ta đón nhau về, khi non nước yên bề sông núi vào hội yêu thương ”… và cũng, những măng sét, những đôi mắt, những ngọn cỏ, những cánh lá…trang bìa… đẹp “khó tin” như…huyền thoại …thì còn mãi…như những câu chuyện cổ tích!
Cuối cùng, nhắc đến Duyên Anh, nhắc đến Tuổi Ngọc và số phận của bền bỉ 157 tờ báo neo giữ & níu giữ “những năm tháng mơ mộng đẹp nhất đời người”, không khỏi thoáng rùng mình và xúc động – như một lời tiên liệu – khi hai truyện ngắn cuối cùng trong số báo 157 Tuổi Ngọc có tên lần lượt là “Đâu phải cái gì cũng mong manh” (Nguyễn Thanh Trịnh) và sau đó “ Rất dịu dàng ta đã khóc” (Ni)!
“Giọt nước mắt tỏ tình thương ngàn xưa hư vô
Giọt nước mắt tội nghiệp còn thế giới hoang vu
Giọt nước mắt tâm tư
Giọt nước mắt ươm mơ
Rơi xuống em ơi. Xanh ngọc vàng tơ…” (Giọt nước mắt cho Việt Nam – Duyên Anh)
“Đừng tuyệt vọng nghe không / Còn trang thơ thắm lại với trời hồng” (Bùi Giáng), và những giọt lệ có nào đâu tan đi, mà …đã ánh lên màu nhiệm Xanh Ngọc Vàng Tơ! “Đâu phải cái gì cũng mong manh”…
NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG HUY
Đầu năm lang thang sài gòn

thượng đế đã sáng tạo ra mùa xuân
còn người làm ra cái tết
sản phẩm cuối cùng của họ là rác rưởi
Chúa Trời tạo ra em và giao cho mẹ
phần em thêm vào là mớ giẻ rách
suốt ngày đi đi bán rẽ khuôn mặt mỹ miều cho cửa hàng son phấn
lang thang trên đương sài gòn những ngày đầu năm
như con xúc xăc lăn lóc cóc trong miệng chén
chẳng biết dừng phía nào
bên tài bên xỉu
hẹn với vũ trọng quang rồi mỗi người ngồi chờ nhau trong một cái hẽm khác nhau
người nào cũng ngong ngóng trông nhau
công phu như loài người dựng nên cái tháp babel
bạn đưa vê ngồi bên lề đường sương nguyệt ánh
vương vãi những bông hoa được vứt ra từ ba ngày tết
năm bảy chai bia và một đĩa đậu khuôn rán
một ông già gần tám mươi khuôn mặt khó đăm đăm như mộ dung phục
ngồi mơ về một phiên thiết triều cuối cùng
bao nhiêu năm trời với mỗi một chiêu : gậy ông đập lưng ông
quần thần lề đường vài đứa ăn theo vỗ đùi ké
ngồi tung hô một anh gàn thất thổ
qua đêm ở cái nhà trọ gần ga cho tiện đường
cô gái của năm ngoái vui vẻ chạy dến chuyện trò
đêm hiện tiền đào nguyên
cho đến lúc tôi đi đái
nàng mở điện thoại tôi mày mò đọc tin nhắn và gây gổ
nửa đêm gọi taxi và đi
còn lại tôi
nằm ôm khư khư nỗi niềm tự do thiểu não
gọi điện nhắn hai người bạn trẻ 10 năm không gặp về cùng ăn trưa
bây giờ đứa nào cũng ngoài ba mươi
tôi tin chúng nó vẫn còn trinh tiết
lặn lội từ nghệ an
theo chân ông hồ vào sài gòn
tìm đường cứu nước
cô gái nhà thơ mơ màng nhìn những ngọn đèn đường
liên tưởng đến những quả trứng của bà âu cơ được ấp ủ trong khoi bụi sài gòn
chờ đến ngày nở ra con rồng con phượng
có một mặt xúc xắc áp vào lòng đĩa
như một cuộc hẹn hò không ai chờ đợi
nàng đang ẩn chỗ nào đó với áo quần son phấn
mê man sửa soạn chụp hình trông giữ lại một thời xuân sắc
(Trong khi nàng chỉ ưa nhìn khi ở truồng )
sau lưng nàng
thời gian như một thằng ăn cắp
chờ chực lấy đi từng sợi lông mày
mấy người bạn trong cái ban liên lạc học sinh cũ đến chào
mời gọi nhau trở về những ngày xưa thân ái
nhậu
Và bàn tiếp về cuộc nhậu mai sau
tôi lăn tròn
và em không ngừng lắc
mọi người thì quay lưng lại với mùa xuân
phùng mang trợn má bảo vệ cho cái quyền được ăn tết
và xã rác
trần thiên thị
Pulitzer. Một huyền thoại báo chí
Mạch lạc, mọi người sẽ cảm ơn
Hình ảnh sống động, mọi người sẽ nhớ.
Và trên hết là sự chính xác, để mọi người sẽ được dẫn dắt bởi ánh sáng của nó
Đó là những nguyên tắc vàng về báo chí mà Pulitzer tâm nguyện.
Sinh ngày 10 tháng 4 năm 1847 ở Mako, Hungary trong một gia đình thương gia khá giả và mộ đạo gốc Do Thái. Ông được gia sư dạy kèm để học thêm ngoại ngữ Pháp và Đức. Sau khi cha ông mất gia đình bị khánh kiệt. Ốm gầy, thị lực kém và phổi yếu nên ông bị từ chối khi đầu quân nhập ngũ ở Châu Âu. Năm 1864 Pulitzer rời Hungary đến Mỹ năm 17 tuổi và gia nhập liên quân phía Bắc tham gia cuộc nội chiến trong 8 tháng. Sau nội chiến chàng thanh niên gốc Hung tay trắng này trở về định cư ở St. Louis, Missouri nơi có đông di dân người Đức. Ông phải ngủ lề đường, làm đủ mọi nghề vất vả để sinh kế từ bồi bàn, lái Taxi, chăn la… Trong thời gian nghỉ làm việc ông vào thư viện Mercantile ở St. Louis học tiếng Anh và đọc sách ngấu nghiến. Một chiều, ông và vài chục thanh niên được dụ đi làm một công việc đầy hứa hẹn trả lương cao chỉ với 5 đô la trả trước trong một trang trại làm đường ở Louisiana. Họ đáp xuống thuyền hơi nước. Tàu chạy được chừng 30 dặm thì dừng lại bến nhỏ và họ bị ép lên bờ. Biết là bị lừa, họ đi bộ về thành phố. Pulitzer viết một bài báo tố cáo vụ việc lừa đảo này. Bài được nhận đăng trên Westliche Post. Đó là bài báo đầu tiên cho sự nghiệp báo chí của ông.
Như một định mệnh gắn liền với nghiệp làm báo, với vốn sống nghèo khó lăn lộn trên trường đời của một kẻ di dân, Pulitzer dần dà trở thành một nhà báo chuyên nghiệp chân chính với những nguyên tắc và chuẩn mực được áp dụng cho đến ngày nay: tính trung thực và chính xác của tin tức. Bằng nguyên tắc và lương tâm nghề nghiệp, tên tuổi của ông ngày càng được biết đến khi ông viết những bài báo phơi bày những tệ nạn tham nhũng và phi pháp trong hàng ngũ viên chức chính phủ. Một lần ông đã tức giận bắn vào chân của một người khi ông này bảo Pulitzer đã bịa sai chuyện trên một bài báo. Pulitzer đã thoát án sau khi nhờ bạn bè đóng tiền phạt. Ông mê say làm báo suốt ngày từ 10 giờ sáng cho đến 2 giờ khuya. Tham gia đảng Cộng Hòa và trở thành dân biểu của tiểu bang. Sau đó nhìn thấy vài sự sai lạc và tham nhũng trong đảng Cộng Hòa, ông chuyển sang tham gia đảng Dân Chủ. Ở tòa soạn ông được thăng chức tổng biên tập. Năm 1872, ở tuổi 25, Pulitzer đã mua một phần trong Westliche Post với giá 3,000 USD và sau đó bán lại với giá lời. Ông cũng mua lại tờ báo St. Louis Dispatch và Post đang ở trong tình trạng ế ẩm, sáp nhập lại thành tờ báo riêng của mình. Cùng với chủ biên tập tài ba John A. Cockerill ông chủ trương nhắm đến những chủ đề tiêu cực và nóng bỏng trong thành phố St. Louis như bài bạc, trốn thuế, đường sá giao thông cần tu bổ… điều này làm tờ báo thành công bán đắt, gia tăng ấn bản.
Đến năm 1883, ở tuổi 36 ông mua lại tờ New York Wolrd đang làm ăn thua lỗ với giá $346,000. Để vực lại tờ báo, ông đã nhắm đến những câu chuyện xì-căn-đan, những chuyện nhạy cảm gây xúc động và liên quan đến đời sống của giới trung lưu và nghèo khó… Về mặt ấn loát trình bày, ông đã thay đổi các kiểu chữ tựa đề bắt mắt, ngắn gọn, đem những bài có tính thời sự nóng bỏng lên trang đầu, làm thay đổi toàn bộ bề ngoài nhàm chán và nội dung vốn thường khô khan, nặng mùi chính trị do các bài viết được tài trợ chiếm phần lớn số trang hồi bấy giờ.
Từ 15 ngàn ấn bản tờ New York World tăng lên 600 ngàn. Chỉ sau 2 năm từ khi Pulitzer nhảy vào New York, tờ báo của ông đứng đầu thị trường báo chí New York. Tuy vậy mọi chuyện bắt đầu thay đổi vào năm 1895 khi một đối thủ nặng ký cạnh tranh với ông xuất hiện. Đó là khi William Randolph Hearst, một chàng trai trẻ được thừa hưởng tờ báo San Francisco Examiner từ cha mình. Bằng nguồn vốn dồi dào và mưu lược trong kinh doanh, cùng với tham vọng làm bá chủ ngành báo chí cả nước, Hearst đã mua lại tờ New York Journal. Để từ đó cạnh tranh quyết liệt sống còn, ảnh hưởng đến vận mệnh báo chí của Pulitzer và ngay cả lịch sử nước Mỹ. Hearst bắt đầu trả lương cao để lôi kéo các ký giả, họa sĩ và biên tập viên giỏi từ các báo khác và ngay cả những cộng sự viên đắc lực của Pulitzer, như James J. Montague là họa sĩ đầu tiên sáng tạo ra những tranh biếm họa màu, cùng tất cả nhóm biên tập viên cho phụ bản cuối tuần của tờ World.
Bắt chước cách trình bày của báo New York World, Hearst còn tăng số trang và hạ giá cho tờ New York Journal của mình chỉ với 1 xu, ấn bản của tờ báo tăng cao đến con số 1 triệu. Không còn cách nào khác, Pulitzer buộc phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt này và xuống giá bằng giá 1 xu với đối thủ. Sự việc không dừng lại ở đó mà ngày càng nóng bỏng. Cả hai tờ báo đều tung hết vốn liếng và chiến thuật để lôi kéo độc giả cùng những phóng viên nòng cốt về phía mình. Hơn thế nữa, họ cho xuất bản vào số đặc biệt cuối tuần những trang in bằng mực màu vàng, với những nhân vật hoạt hình màu mè cùng những tựa đề câu khách, bắt mắt cuốn hút sự tò mò của độc giả.
Cuộc chiến giữa hai tờ báo lên đến đỉnh cao làm ảnh hưởng đến đời sống chính trị và đẩy nước Mỹ vào cuộc chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha. Bắt đầu bằng một sự kiện lớn xảy ra vào ngày 15 tháng 2 năm 1898, khi chiến hạm USS Maine được phái đến vịnh Cuba để sẵn sàng bảo vệ cho những người Mỹ ở đó, trong khi cuộc kháng chiến chống lại chính quyền đô hộ Tây Ban Nha bùng phát, chiến hạm bỗng nhiên phát nổ và chìm đắm mang theo 260 mạng thủy thủ đoàn. Hearst và Pulitzer nhanh chóng vào cuộc. Hearst đã tung đồ họa viên lỗi lạc Frederic Remington của mình đến Cuba cho phóng sự được đặt tựa là Cuộc chiến giành độc lập cho người dân Cuba. Khi nhận được điện tín là mọi chuyện yên tĩnh, không có dấu hiệu chiến tranh ở đó thì Hearst lờ đi và bảo: “Hãy ở đó. Anh cứ lo chuyện vẽ tranh minh họa và tôi sẽ lo chuyện chiến tranh.” Trên trang nhất Hearst đã cho đăng “kết luận” rằng chiến hạm bị đánh bởi người Tây Ban Nha. Và còn treo giải thưởng 50 ngàn đô cho việc điều tra thủ phạm làm đắm tàu. Không còn sự chọn lựa nào khác và tránh bị mất độc giả, tờ báo của Pulitzer cũng nhập cuộc, dù đặt tựa bài cho tin tức nóng hổi này có phần dè dặt, nhưng cũng đã làm lệch hướng dư luận cho sự thật của vụ đắm tàu, khi cho rằng tàu bị bom hoặc thủy lôi địch đánh chìm. Những hình vẽ minh họa cũng phóng đại lên sự thật ngoài mức tưởng tượng… Mặc dù vậy, 2 tháng sau nước Mỹ tham gia vào cuộc chiến kéo dài hơn 3 tháng rưỡi, lan rộng tới Philippines, Guam và Puerto Rico. Kết quả Tây Ban Nha từ bỏ chủ quyền tại Cuba, nhượng lại Quần đảo Philippines, Puerto Rico, và Guam cho Hoa Kỳ với giá 20 triệu đô la.
Thành ngữ yellow journalism, dựa theo cảm tính và phóng đại sự việc, có thể được hiểu bằng cụm từ “báo lá cải” để chỉ loại báo chí thiếu nghiêm túc từ đó ra đời. Tất nhiên nguyên tắc làm báo này hoàn toàn đi ngược lại những giá trị tối thượng và cao quý mà ban đầu Pulitzer đã đặt nền móng xây dựng. Đó là sự chính xác và trung thực đến mức tối đa của sự việc. Dường như lương tâm của Pulitzer đã bị cắn rứt khi đi chệch hướng trong một khoảng thời gian ngắn vì phải lao mình vào cạnh tranh với đối thủ, vì sự sinh tồn của tờ báo. Năm 1911, Pulitzer mất để lại 2 triệu đô trong di chúc cho trường đại học Columbia để mở khóa đào tạo học viên báo chí đầu tiên cho nước Mỹ. Năm 1917 trường đại học Columbia lập hội đồng trao giải Pulitzer, một giải cao quý cho nhiều lãnh vực văn hóa. Đặc biệt về báo chí.
Quyền lực của báo chí được xem là đệ tứ quyền, với khả năng và nhiệm vụ đương đầu với ba quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Dù không có một bộ thông tin hay cơ quan tuyên giáo nào kiểm soát, người làm báo chân chính phải có lương tâm nghề nghiệp, tôn trọng hiến pháp, lẽ phải và lý tưởng nhân đạo. Nhưng trên hết phải nói lên sự thực một cách chính xác. Vì lẽ đó giải Pulitzer mãi mãi được xem như một trong những giải danh giá nhất cho giới truyền thông và báo chí.
SEAN BẢO
TA NÉM HẾT ĐỜI THƠ VÀO NGỌN LỬA
Ta có lẽ thôi không làm thơ nữa
Chữ vô tâm ngăn cảm xúc vô hồn
Tình lạnh giá cần một vòng tay nhỏ
Mắt buồn đêm thắc thỏm một nụ hôn
Trời rét buốt thơ có làm ngọn lửa
Thăm thẳm đường đi hiu hắt lối về
Qua khe chữ gió ngông cuồng vật vã
Nghĩa lập lòe không giải được u mê
Vần điệu tả tơi trước làn sóng dữ
Nước lớn xô nước ròng đẩy dật dờ
Mớ đồng cảm chìm mất tăm trong lũ
Trận bão nào cũng quét sạch hoài mơ
Khi em khóc thơ làm sao dỗ được
Những nếp nhăn ngang dọc xé u tình
Cơn loạn sắc xô em về phía trước
Nhặt vui buồn hối hả bước qua thơ
Thả mong đợi lênh đênh vào quá khứ
Hồi âm chiều lặng lẽ vọng thu không
Ta ném hết đời thơ vào ngọn lửa
Lời ngọt ngào đâu níu được tay buông!
LƯU XÔNG PHA











