XUỐNG THẤP MỘT THOÁNG BUỒN

 

Không hẹn mùa
Tháng hai đã về ngang ngõ
Trái tim khô cằn 
Ứa nhựa khôi nguyên 
Một cánh hoa mỏng manh
Vẫn thấu lòng thấu dạ
Tình yêu ơi! Trong mấy chớp mắt…. em mãi hồn nhiên.

Ta đã cũ và em đã cũ
Còn biết bông đùa với cơn mộng dưới hoa
Thơm thảo chút hương thuở ban sơ dập dồn lên tóc gió
Bỗng dưng….tay lật nghiêng chiều thoáng hiện một mờ xa.

Trở tay lần đếm mấy mùa hoa bên phố 
Chén tình cay em chưa cạn hết tâm giao
Vút bay những trở giấc với vầng trăng khuyết 
Cõi vắng….. bây chừ ta thương suốt một gửi trao.

Một đường mây khuất xa còn vương dòng sông trong mắt 
Ai không đau khi nghiêng mặt một bể dâu
Đâu phải bên tê em không mòn tấc dạ
Bên ni….ngước mặt ta ru lại hồng phai tìm mãi trong lắng sâu.

Hoàng Chẩm

VỀ BẠN TRI ÂM : THI VĂN SĨ LÊ MAI LĨNH

 

                                  

Thả tiếu: 

Nhân sinh hàm khổ lụy / Y phạn tích bại thành

Phóng thủ vạn sự tuyệt / Đắc tiếu, tiếu nhất thanh.

Hãy Cười: 

Kiếp người nhiều khổ nhọc,/ Cơm áo lắm được thua,

Buông tay muôn việc hết,/Ðùa được, thì cứ đùa! 

(Nguyên tác và dịch: Hạt Cát)

 

***

Thi Sĩ Lê Mai Lĩnh đă gởi tặng thi phẩm THƠ TÌNH THẾ KỶ, LƯƠNG QUYỀN – CÔ LÁNG GIỀNG và TUYỂN TẬP LÊ MAI LĨNH như món quà Xuân quí. Bỏ qua một thời gian cũng khá lâu đọc các tác phẩm, Nguyên Lạc xin được ghi ra đây CẢM NHẬN của mình thành một bài viết.  Bài này xem như lời cảm ơn trân trọng đến Thi Nhân!

Xin mạn phép được chụp ra đây, ghi vài hàng tiểu sử,  cùng vài trích đoạn tuyệt vời (riêng với Nguyên Lạc tôi) tuyển chọn trong các tác phẩm.

  1. VÀI HÀNG TIỂU SỬ

Thi sĩ Lê Mai Lĩnh tên thật là Lê Văn Chính sinh năm 1942 tai Làng Quảng Điền, xã Triều Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Khởi nghiệp văn chương từ năm 16 tuổi (1958) với bút hiệu SƯƠNG BIẾN THUỲ. Từ sau ngày lưu vong sang Hoa Kỳ (1/1994) lấy bút hiệu Lê Mai Lĩnh

Lê Văn Chính là Trung Úy sĩ quan VNCH. Sau khi “Bên thắng cuộc” chiếm miền Nam, ông được Đảng “vĩ đại” ưu ái cho ghi tên vào học  trường “Đại Học Nhăn Răng” Í lộn Nhân Dân. Đại học đó có tên là “Học tập Cải Tạo” mà thi sĩ Hà Thúc Sinh đặt tên là “Đại Học Máu”. Chuyên “ngâm cú” môn: “Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn” (*). Mặc dù học hành bê bối, vậy mà còn “bài đặt” Đề Nghị  Ngài TBT Lê Duẩn “đáng kính”, yêu cầu THAY ĐỔI ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO, Đảng và nhà nước cũng khoan hồng cho “tốt nghiệp” sau 8 năm, rồi “đạp” ra khỏi VN, đến xứ “tư bản giãy chết” Hoa Kỳ.

Sang ở Hoa Kỳ, ông tiếp tục sự nghiệp văn chương với tên Lê Mai Lĩnh và sau này KHÙNG THI SĨ sáng tác nhiều bài thơ “trong sáng đầy ấn tượng”. Ông tặng tui một bài, đọc đã quá, tui đưa vào bài Loạn Bút về Chữ Tình của tui luôn (đăng trên trang Bạn Văn Nghệ của thi sĩ Trần Yên Hòa)(**) Đó là lý lịch trích ngang của ông. Tui không dám nói nhiều, sợ người đời nói rằng tui xạo, thấy sang bắt quàng. Thôi để tui hú ông thần khác vào nói hộ.

– Ông ơi, vào gầy sòng!  Dạ đây là ly XO, xin mời ngài uống rồi nói giúp cho vài lời!

– Ực, khà! Hảo tửu, hảo tửu!  được rồi ta nói thế cho:

Tôi chưa gặp anh dù – Chỉ một lần,

Mà quý anh ngợp trời khí phách.

Dòng đời quanh co, ai dơ, ai sạch,

Huynh vẫn trong ngần một khối tinh anh.

Núi càng cao, sông càng thác lũ,

Mới biết ai thất phu, ai đấng anh hùng.

Trời càng cao, càng gió to, bão dữ,

Mới biết đâu là chim sẻ, chim hồng!

Tay hào kiệt vươn ngoài vạn lý,

Thì có sá gì một nhúm biển khơi?

Ly cụng ly, rượu tràn tràn sĩ khí,

Thiếu tiếng gươm khua vang bóng một thời!

Huynh nửa miệng cười đời ngạo nghễ

Cổ lai hy còn “Chống gậy tìm tình”!

(Uống Rượu Với Lê Mai Lĩnh – Kha Tiệm Ly)

Thấy chưa! Thôi bây giờ tui xin phép trích ra đây vài đoạn thơ của ông thần sư phụ  tui: Thi sĩ Lê Mai Lĩnh – KHÙNG THI SĨ .

  1. VÀI CẢM NHẬN NGẮN VỀ THƠ VĂN LÊ MAI LĨNH

Đầu tiên có thể nói thơ của Lê Mai Lĩnh là thơ TÌNH, thơ TÌNH CHỊU CHƠI, Tuyệt đối với TÌNH. TÌNH cho EM và cũng TÌNH cho ĐẤT NƯỚC.

Nào mời các bạn theo ông thần này “Chống gậy tìm tình” chơi.

Tìm tình như thế tìm trầm

Rừng thăm thẳm, núi cheo leo

Vì tình chống gậy cố trèo

Tình ơi, tình ơi, tình ơi.

 

Tìm tính, chống gậy tìm tình

Một mai gậy mòn, gối mỏi

Ta lê, ta lết, ta bò

Tình ơi, tình ơi, tình ơi.

( Chống gậy tìm tình)

Kế tiếp xem  Ngài “lụy” Tình như thế nào.

Ta ướp Trăng với trái tim si

Rượu được cất giữa bếp tình nóng bỏng

Nàng thơ ơi, hãy nhấp chén rượu tình.

Hãy nhấp chén rượu tình, Trăng ơi ta muốn chết

Trong mắt, môi và giữa địa đàng Trăng

Ta muốn chết dưới Trăng vàng, giếng ngọt

Cỏ biếc , suối, khe, ta bất xá, gục đầu.

(Lê Mai Lĩnh : Thơ Của Thời Trăng Mật)

– Bái phục, bái phục! Thơ TÌNH của Ngài nghe quá đã.

– Ha ha! Chưa hết đâu, dâng lên cho ta thêm một ly XO nữa, ta sẽ chỉ bảo thêm!

– Vâng đây, ly XO, kính xin Ngài đón nhận và cho thêm lời vàng!

– À há, hảo tửu, nhà ngươi hãy nghe ta  phán thêm đây:

Cảm ơn em,

Người đàn bà ngủ muộn.

Nhờ em, anh chàng còn muốn gõ mõ, tụng kinh

Gõ mõ thì mỏi tay

Tụng kinh thì mỏi miệng

Anh sẽ vì em

Miệng, tay dùng vào việc khác.

Cảm ơn em,

Người đàn bà ngủ muộn

Nhờ em, anh đứng, quỳ, nằm, bò đúng đội hình hành quân

Như thời tân binh

Trong quân trường Thủ Đức.

Cũng tại em, do em và bởi vì em

Anh hít đất không thua gì thời bị huynh trưởng phạt

Khi ra nhà thăm nuôi mà không đi những bước khoan thai…

(Người Đàn Bà Ngủ Muộn -2 – Lê Mai Lĩnh)

– Đủ chưa?  Thôi bai (bye) ngươi, ta đi gõ mõ, tụng kinh,  rồi “bò đội hình hành quân”

 

***

Giỡn chơi cho vui, các bạn đừng phiền, chớ cái TÌNH của thi nhân cũng ẩn nỗi niềm trong đó. Buồn là chuyện muôn đời của nhân sinh, đâu ai tránh được? Giàu nghèo, sang hèn ai cũng có nỗi niềm riêng! Thử xem nỗi niềm của Thi nhân ra sao?

Này có BẮC KỲ không còn nhỏ

Cô dứt áo ra đi, vội vàng chi, để rơi lại vài hột nút

Thoạt dầu, ta cũng muốn giữ lại làm kỷ niệm cho một cuộc tình muộn, si và mê tơi

Để đôi lúc, kẹp giữa hai chân, tìm chút hơi ấm của người góa phụ đang độ xuân thì

Vậy, này cô BẮC KỲ không còn nhỏ

Hãy nhin thời gian, trở lại chút chút, để mang đi theo những hột nút nầy.

Đơm lên lại trên chiếc áo ngày xưa cô thường nhờ tôi giúp cô mở khuy

Những lúc tôi chậm tay, cô la tôi như mẹ la con

Nhưng tôi vui lắm, mỗi lần được cô la như mẹ la con.

(Hãy Trở Lại Nhặt Giùm Ta Mấy Hột Nút – Khùng Thi Sĩ LML)

Và đây là bài tôi tâm đắc nhất của Thi sĩ: TÌNH CHO ĐẤT NƯỚC.

Tôi mơ một ngày

Tôi trở lại Sài Gòn

Bắt tay và nói lời cảm ơn những người cầm bút

Tôi đã quen tên mà chưa gặp mặt:

Đỗ Trung Quân, Bùi Chát, Nguyễn Cung Thương, Bùi Chí Vinh

Tôi sẽ chào các bạn theo kiểu nhà binh

Dẫu ngày trước chúng ta không chung chiến hào

Chưa có dịp nổ súng vào đầu nhau

Nên nay vẫn còn làm thơ, vẫn còn uống rượu, vẫn còn chưởi thề, và ve gái

Vẫn còn phất phơ bay bướm, buớm bay.

Chúng tôi vinh danh người yêu như Nữ Hoàng, Nữ Chúa

Thượng Để chúng tôi không sợ, nhưng chúng tôi sợ những người tình

Người tình càng nhiều càng tốt

Chúng tôi không từ chối bao giờ, một ai

Em nào đến, chúng tôi đều nhận, vui vẻ cầm tay

Nhưng em nào muốn đi, chúng tôi sẵn sàng phóng thích

Thi sĩ, đàn bà, chúng tôi nương tựa vào nhau mà sống

Không có đàn bà, thi sĩ chết rập

Không có thi sĩ, đàn bà cũng thoi thóp

Như gà nuốt dây thun.

Chúng tôi là vậy, chúng tôi là những người làm thơ

Thi sĩ là công dân thế giới

Nhưng với bọn độc tài, chúng sợ chúng tôi như sợ cọp

 

Chúng có thể cầm tù hay hãm hại xác thân thi sĩ

Nhưng với trái tim, tâm hồn thi sĩ, chúng đừng hòng

Chúng tôi, thi sĩ, những người không chết

 

Chúng tôi, thi sĩ, quan toà của lịch sử

Nhốt chúng thiên thu trong mọi lời thơ

Cầm tù chúng muôn đời trong những bài thơ bất tử.

(Thi Sĩ, Đàn Bà và Nhà Độc Tài)

Còn nhiều nhiều nữa những bài thơ và văn rất tuyệt, các bạn hãy tìm đọc.

Sẵn đây Nguyên Lạc tôi xin trích ra đây một đoạn văn (theo tôi) tuyệt vời  của Thi Văn Sĩ LÊ MAI LĨNH.

[…Tôi cũng nhớ tới một tình huống khác của một người bạn tôi, nhà văn Trần Hoài Thư, trong truyện ngắn Vườn Mía, đăng trên tạp chí Dân Việt số này. Nguyên văn đoạn văn hay tình huống đó như sau: «Một ngày nọ đại đội chúng tôi rời Tam Quan trở lại đơn vị sau gần một tháng hành quân, khi về Bồng Sơn, đoàn xe ngừng để đám lính vào chợ mua sắm và những sĩ quan ghé quán cà phê bên đường. Chúng tôi cùng nhau đấu láo, đủ điều, đủ chuyện. Riêng tôi không ngừng liếc trộm bờ tay lông măng cùng đôi mày rậm đen của cô hàng nước. Bỗng nhiên một cái bóng nhỏ vụt chạy đến. Tôi nhận rõ thằng bé cỡ 11, 12 tuổi. Nó quăng vào quán trái lựu đạn. May mắn cho chúng tôi, lựu đạn đã không nổ. Tôi chụp súng chạy đuổi theo thằng bé. Nó chạy vào trong xóm. Rồi nó băng ra đồng. Nó chui vô vườn mía. Nhưng làm sao nó có thể chạy bằng tôi và làm sao nó qua mặt được con mắt của tôi. Tôi chạy tới vườn mía. Tôi làm bộ la lên: Tao biết mày ở đâu rồi. Ra tao tha, thằng nhỏ. Sau đó tôi lên đạn cách cách, nói lớn, tao đếm một đến năm, nếu mày không ra, thì đừng trách tao. Tôi la một, hai, chậm và chờ đợi. Đến tiếng thứ ba thì thằng bé xuất hiện. Nó bò ra khỏi vườn. Tôi nhìn nó. Hay tôi nhìn lại tôi. Hay tôi nhìn cái tuổi thơ tôi. Hay tôi nhìn cái tuổi thơ Việt Nam. Tôi bỏ súng xuống, mắt cay nồng. Tôi bảo thằng bé chạy đi. Lần sau tao bắt được, đừng trách tao.” Sau khi đọc xong truyện ngắn trên, tôi gọi phone cho Trần Hoài Thư.
– A lô, cho tôi gặp anh Trần Hoài Thư
– Tôi là Trần Hoài Thư đây
– Anh biết tôi là ai không ?
– Tôi biết rồi. Có gì nói đi người anh em
– Ông thật có tội với nhân dân và lịch sử
– Cái gì mà khiếp thế
– Tôi đọc xong Vườn Mía của ông rồi
– Mà sao ?
– Cái thằng nhỏ ném lựu đạn mà ông tha cho nó chạy, sau này chính là thằng Lê Đức Thọ, quậy nát trời ông địa trong Bộ Chính Trị Hà Nội và là thằng có nhiều tội lỗi nhất lịch sử.

Điều sau cùng tôi muốn nói là, việc giết thằng bé thì dễ quá, nhưng lựa chọn việc cho thằng bé chạy là một lựa chọn đầy tính nhân đạo. Chúng ta chiến đấu vì con người, thì trước nhất, chúng ta phải sống, phải hành xử, xứng đáng là một con người…]

NHÂN BẢN thay, và cũng tội tình thay những chàng LÍNH TRẺ miền Nam VNCH, những chàng”NGỤY QUÂN”! Chính vì nhân bản nên mới là “Bên Thua Cuộc”. Nhớ lời một ông tướng CS đã nói với tướng VNCH Lê Minh Đảo rằng:  ” Các anh có biết tại sao các anh thua không? Không phải vì Mỹ bỏ rơi hay gì, mà vì các anh không dám cầm súng bắn vô đồng bào, còn chúng tôi sẽ làm khi có lệnh”  (Tướng LÊ MINH ĐẢO)”  (***)

III. KẾT

CHỮ quan trọng lắm, có thể làm chết hoặc tiêu tan sự nghiệp và tài sản con người. Không nhớ vụ án MINH SỬ triều Thanh đã làm tiêu mạng biết bao Nho sĩ MINH mà Kim Dung đã viết trong phần nhập của bộ truyện Lộc Đỉnh Ký sao? Và hàng chữ “Kim loại màu vàng” mà các Ngài CS ghi khí kiểm kê vàng của người dân miền Nam để cướp lấy!

Chữ viết chắt lọc từ tiếng nói, văn và nhất là thơ là tình túy của CHỮ. Nên cẩn trọng với CHỮ. Hãy dùng nó cho CÁI ĐẸP, phục vụ nhân sinh. Đừng dùng nó làm công cụ hạ thấp người khác, phổ biến điều xấu xa, giả dối. Đừng “hòa quá nhiều nước lã vào mực.” (Modern poets mix too much water with their ink – Goethe) Nghĩa là phải lương thiện.

Qua những bài văn, bài thơ tôi đọc trong các tác phẩm và kể cả trong giao thiệp hàng ngày, tôi có thể kết luận là: Thi Văn Sĩ Lê Mai Lĩnh là MỘT NGƯỜI LƯƠNG THIỆN

Đây là câu văn “trên cả tuyệt vời”(theo NL), tôi xin đưa hai tay bái phục Ngài!

Con người có thbthua cuc mt giai đon nào đó vì nhng di trá, bo tàn, phi nhân, nhưng cui cùng, con người luôn luôn là kchiến thng”   (Lê Mai Lĩnh)

Cám ơn THI VĂN SĨ LÊ MAI LĨNH đã tặng cho đời những bông hoa đẹp !

 

Nguyên Lạc                         

Garland, TX 2017

——————————————————————————————————————

NÓI VỚI EM MỘT GÓC SÀI GÒN NGÀY CHƯA THẤT THỦ

 
 
Đặt khẽ lên môi anh nụ hôn Em có nghe hơi thở Sài Gòn Vương chút bụi khi ngồi Thanh Thế (*) Và nắng Bến Thành thơm rất thơm
 
Nếu chán . Chúng ta vô rạp Rex Chờ xem phim lãng mạn ái tình Chiến tranh – súng đạn ! Thôi bỏ hết Cơm – áo-gạo- tiền . Gác một bên
 
Hãy tạt qua ngang thương xá Tax Loanh quanh đi cho trọn buổi chiều Anh sẽ đưa em về Bà Chiểu Ăn gỏi khô bò trước Lăng Ông
 
Đêm xuống. Ra công viên đứng ngắm Phà Thủ Thiêm và Bến Bạch Đằng Đợi khuya ghé phòng trà ca nhạc Ngồi Queen-Bee hay Đêm Màu Hồng
 
Ta sẽ đi cùng khắp ngả đường Vỉa hè – góc phố – của quê hương Tìm trong ký ức thời thơ dại Áo lụa em bay trắng giảng đường
 
Dẫu cách xa vời vợi muôn trùng Bên trời Âu Mỹ– em buồn không ? Sài Gòn vẫy gọi người xưa cũ Sống nửa đời làm kiếp lưu vong
 
Anh ở Việt Nam ngày thương nhớ Tóc bạc lâu rồi trong trại giam Ngửa mặt khóc cười theo vận nước Trời ơi ! Đã mấy chục năm ròng
 
LINH PHƯƠNG
(*) Nhà hàng Thanh Thế đường Lê Lợi trước 1975.
 

HƯƠNG

 

 

1.

Lúc đó đã hơn hai giờ khuya, trên chuyến xe điện ngầm ấy người ta xuống dần cho đến trạm cuối thì ngừng hẳn. Lẽ ra tôi xuống từ lâu nhưng một người phụ nữ – tạm gọi là Nữ – đi một mình vào giờ đó khiến tôi áy náy. Nếu là một người Mỹ thì tôi không thấy lo, đằng này Nữ là người Châu Á, và rất có khả năng là người Việt. Nữ lại đẹp và ăn mặc khá mong manh như là không biết New York đang chuyển từ thu sang đông. Trong xe ngoài tôi và Nữ chỉ còn thêm một người đàn ông da đen khi xe dừng ở trạm cuối. Tôi vẫn ngỡ subway ở New York chạy 24 trên 24 nhưng đêm đó tôi mới biết không phải vậy. Cửa xe mở toang và có tiếng thông báo đến 5 giờ sáng sẽ tiếp tục vận hành. Nữ bước ra ngồi trên chiếc ghế đặt bên ngoài và lấy thuốc ra hút. Tôi đến bên cạnh Nữ, xin mồi lửa và xin cả thuốc vì tôi không có thói quen này. Người da đen thì lảng vảng quanh đó một chút rồi kiếm một cái ghế khác nằm ngủ..

 

Chúng tôi có được một khoảng thời gian im lặng bên nhau bằng thời gian tàn một điếu thuốc. Khi giúp Nữ vất chiếc bao thuốc rỗng chứa tàn thuốc vào chiếc thùng rác gần đó, tôi chợt nhớ ra vở kịch của Mishima hiện-đại-hóa một tích Noh mà tôi đã được xem khi đến trường Sân Khấu để kiếm người anh họ. Mở đầu vở kịch, một mụ hành khất đi nhặt “dế”- tiếng lóng chỉ tàn thuốc lá- trong công viên để vấn 3 “dế” thành một điếu. Mụ gặp một thi sĩ, anh yêu cầu mụ biến đi, kẻo làm xấu nơi những cặp yêu nhau đang tình tự. Mụ tự hào, xưa ta trẻ đẹp lắm, bao nhiêu người đắm say, có viên tướng được ta báo sẽ nhận lời cầu hôn nếu đến viếng ta trăm đêm, tiếc là chàng đã bị tuyết vùi vào đêm thứ một trăm. Tôi chợt thốt lên: Komachi!. Đó là tên nhân vật nữ chính cũng là tựa vở kịch. Sau lưng tôi, một mùi hương lạ loang tới….

 

Tôi không phải là thi sĩ, nhưng tôi không dễ dàng rời xa Nữ khi tôi còn là một người đàn ông. Chúng tôi đã qua đêm với nhau như vậy. Dưới ánh đèn sáng choang của hầm xe điện ngầm và một vài đường phố lang thang hiu hắt sáng. Nữ bước ra khỏi hầm, tôi lẽo đẽo đi theo. Ði chán và có lẽ cũng vì trời trở lạnh, Nữ lại kiếm một cái hầm khác chui vào. Rồi hút thuốc và chia sẻ thuốc cho tôi tập hút. Không phải cái hầm nào cũng có những người da đen nằm ngủ. Có khi là vài cậu choai choai ngồi với nhau cười đùa vang động cả vòm hầm, và Nữ lại bỏ ra. Người đàn bà này muốn gì? Nếu không có mình, Nữ sẽ ra sao? Nữ chưa bao giờ nghe nói những chuyện cướp của, giết người vẫn xảy ra à? Tại sao cậu không về nhà? Nữ hỏi bằng tiếng Việt. Tôi ú ớ. Lẽ ra người hỏi là tôi chớ. Tôi có muốn không về nhà đâu, nhưng tôi không đành lòng khi thấy Nữ đi lang thang như vầy ở một thành phố xứ người.

 

Chúng tôi không trao đổi nhau nhiều. Giữa những hơi thuốc, là thơ của Komachi do Nữ đọc:

 

Như cỏ đứt rể,

Nước cuốn xuôi dòng.

Thân tôi trôi nổi

Ai có rũ rê,

Sẽ sống phiêu bồng…  (*)

 

Đó là câu trả lời của Komachi khi được một thi sĩ khác rủ đến một vùng đất mới. Đã có người cho là Komachi gần với Hồ Xuân Hương của người Việt: đẹp, tài, đào ba, hư ảo dù hai người cách nhau hơn chục thế kỷ. Người phụ nữ ngồi rất gần tôi kia không thể là Komachi dù Nữ rất đẹp, một nét đẹp bí ẩn bất chấp thời gian như lời thoại trong vở kịch mang tên nàng: “Một mỹ nhân, dù có tăng thêm bao nhiêu năm tháng, vĩnh viễn vẫn là mỹ nhân.” Chính nét đẹp bí ẩn như một cơn mộng ấy khiến tôi không dám gợi chuyện với Nữ vì cứ ngại cơn mộng kia bị tan ra như sương mù khi nắng lên.

 

Cứ vậy, tôi câm lặng theo Nữ, cho đến lúc bốn giờ rưỡi sáng, Nữ ngồi thiếp ngủ một chút. Trong giấc ngủ của khuôn mặt được hóa trang rất khéo ấy, nhiều lúc, tôi thấy thời gian như lướt qua mặt Nữ, khi thì những nếp nhăn, thoáng chớm tóc muối tiêu.. khi thì  cả mái đầu tuyền màu xám sắt… hiện ra rồi lại trôi đi. Lời trong vở kịch trở lại, khi chàng thi sĩ toan lên tiếng yêu nàng, mụ già nhặt “dế” nhắc nhở:

 

–         Ta, mụ hành khất tàn héo, da nhăn nheo, gần đất xa trời, khoác mớ giẻ thối hoắc, rách nát như tổ đĩa. Nhưng hãy nhớ, tuyệt đối không được nói yêu ta vì cái chết sẽ đến với ngươi.

Cuối vở kịch, chàng thi sĩ quyết thốt ra lời yêu. Anh ta nằm thẳng cẳng ngay sau đó. Cảnh sát tới, khiêng xác anh ta đi. Bà già vẫn tiếp tục lượm dế.

 

Tôi ngồi cạnh Nữ, rất gần, để có thể ngữi được mùi hương, rất trầm, toát ra từ thân thể Nữ, mùi hương không làm người ta muốn níu lấy hôn, mà chỉ cảm được rằng, mình nên giữ một khoảng cách, dù bằng một sợi tóc, nếu còn muốn sống.

 

Mãi đến khi trước chuyến năm giờ đầu ngày, có một thoáng hoan hỉ lướt qua mặt Nữ như một cơn mộng đẹp vừa thoáng hiện đâu đó. Ý thức được giây phút chia tay phải đến, tôi không kìm được, định ôm choàng lấy Nữ, ngỏ lời yêu, dù phải đổi bằng sinh mạng mình, thì cũng là lúc Nữ mở mắt ra. Tôi cứng người vì sợ hãi, Nữ đọc nhanh vài câu thơ trong tiếng subway đầu ngày ầm ầm chuyển động:

 

Hoài mãi nhớ nhung,

Đắm chìm giấc ngủ,

Đã tìm thấy nhau,

Nếu biết là Mộng,

Thức chi Người ơi!…  (**)

 

Lại là thơ của Komachi…Rồi Nữ bước vào chuyến xe ấy. Khung cửa khép lại. Tôi chỉ còn thấy một nụ cười. Điều lạ nhứt là toàn thân tôi cứng đờ, chẳng thể nhấc mình lao theo Nữ. Cho mãi đến chuyến subway kế tiếp…

 

 

2.

Năm tháng trôi qua. Khi kể chuyện nầy cho vài người bạn nghe, ai cũng cười tôi sống ảo hơn cả chữ ảo, nhất là sao lần gặp gỡ đó, các cuộc tình của tôi đều không có duyên đưa đến hôn nhân. Nghe kể lần kỳ ngộ đó đang mùa Halloween, có người còn tin lần đó tôi gặp một cô gái giả ma, và cũng rất có thể đã bị một ma nữ ám.

Một lần họp gia đình trên đất Mỹ, gặp lại người anh họ, nhắc lại vở kịch Komachi mà anh đóng vai thi sĩ, anh cho tôi địa chỉ liên lạc với gia đình của Nhụ Hương, người bạn cùng lớp đóng vai Komachi. Sau đó, tôi gọi điện thoại, để lại lời nhắn và gởi thư, đều không được hồi đáp.

Tình cờ, tôi được mời đến Toronto để …hát và nói chuyện. Người mời cho biết gần đầy, những người trẻ nơi anh ở bị trầm cảm nhiều quá, hy vọng những bài hát của một người độc thân chỉ lao vào những việc xã hội như tôi sẽ giúp họ tin và yêu cuộc đời nầy trở lại.

 

Làm xong việc của mình, tôi mua vé bus khuya lên Montreal. Ở chơi một ngày với bạn bè, tôi nảy ý kiếm xe đi Québec, nơi gia đình của Nhụ Hương đang sống với hy vọng người đàn bà tôi đã gặp ở subway của New York lúc 2 đến 5 giờ sáng có liên quan đến chị.

 

Tiếp tôi ở đó là Quê, một người con trai có khuôn mặt khá giống Nữ. Quê khẳng định:

 

–         Đó là chị Hương của tôi. Sau khi gặp anh, chị có gọi về, kể từ lúc lên tầu chị đã định lao vào một đầu máy chạy nghiến tới nhưng khi quan sát từng người khách quanh mình, ngại sẽ làm lỡ việc của họ nên chị hoãn ý đó. Lúc quyết tâm cao độ thì cũng là lúc tàu phải nghỉ khuya. Suốt thời gian bị anh lẳng nhẳng đi theo, trong đầu chị chỉ độc một ý: làm thế nào để mình chết mà không lụy tới người thanh niên kia. Rồi khi chị thiếp đi một chút, đúng là một cơn mộng đẹp lướt qua đã làm sạch tâm hồn chị, không còn đọng chút nào, cơn thèm chết. Nhụ Hương cho là anh đã cứu chị.

 

–         Nhụ Hương bị trầm cảm à?

 

–         Không giống những người trẻ vừa nghe anh hát. Chị vượt biển sang đây. Gặp cướp. Mang thai. Muốn chết. Nhưng thấy có lỗi với đứa bé vô tội nên giẳng co giữa quyết định sống và … đi.

 

–         Giờ có cách nào gặp được?

 

–         Sau cú phôn đó, chị không liên lạc nữa. Gia đình, bạn bè đều không ai biết chị về đâu, còn sống hay không?!. Tôi lấy ngày chị gọi về lần cuối là ngày tưởng nhớ. Đúng là hôm nay.

 

Tôi xin được xem hình. Vì khi đóng vai Komachi, Nhụ Hương hóa trang thành một mụ già ăn xin, lưng còng gần sát đất. Quê đưa tôi tấm hình. Trong ảnh là một cô gái khá giống Nữ dù mái tóc dài bay trong gió che phủ mặt chỉ còn thấy một đôi, mắt trái khóc, mắt phải cười. Sau lưng tấm ảnh là một bài thơ khác, vẫn của Komachi.

 

 

3.

Khi tôi kể cho anh họ tôi nghe, anh nói Nhụ Hương không có em trai. Tôi cho anh biết ngữi được mùi hương trầm thoáng bao quanh Quê và chiếc áo khoác lộn trái mà Quê mặc, anh tủm tỉm cười:

 

–         Em quên sao? Dân Nhật tin mặc áo trái ngủ sẽ có nhiều mộng đẹp. Biết đâu Nhụ Hương giả nam để bỡn em. Đừng quên nàng là diễn viên.

 

Sau nầy, nghĩ tới Nữ, tôi liên tưởng đến Liễu Hạnh, một trong tứ bất tử của người Việt, cô công chúa thứ hai của Ngọc Hoàng đã nhiều lượt xuống trần, vào nhà họ Phạm lấy tên Tiên Nga, vào nhà họ Lê là Giáng Tiên, với mong cầu Nữ – hay Nhụ Hương sẽ tái sanh kiếp khác. Nhiều lúc hụt hơi với đam mê nghiệt ngã của mình, tôi chỉ mong nó như Komachi, biết chạm vào là ngưng thở, vẫn phải tỏ tình với nguồn sống đó.

 

Và bây giờ, trong chuyến bay từ Phoenix tới Austin, hành khách bên trái của tôi đang xem một đoạn video có một cư sĩ nói về Nhụ Mộ Cố Hương, bên phải là một cô gái chỉ khoảng đôi mươi, đang ngủ say trên chiếc ghế sát cửa, một nửa mặt trái giống hệt Nữ. Suốt hai giờ bay, tôi loay hoay mãi, không lẽ đánh thức cô ta dậy chỉ để hỏi cô có bà con với Nhụ Hương không?.

 

Trong lúc mong cô choàng thức để xin tôi bước ra ngoài, tôi đành xem phim. Loáng thoáng cạnh tôi, lời giải thích Mộ là hết lòng mong cầu đạt đến, còn Nhụ Mộ Cố Hương ví như đứa nhỏ lạc loài, nhớ đến mẹ cha. Lời giảng còn dài, nói về tu tập. Người khách bên trái đột ngột chuyển sang xem những tài liệu về khoảng bốn trăm ngàn người Việt giạt trôi đâu đó mất tăm tích giữa lòng biển, xó rừng…

 

Tiếng loa kêu hành khách thắt chặt seatbelt vì sắp vào vùng thời tiết xấu. Cô gái bên tay phải  của tôi vẫn ngủ say. Thoáng hương trầm quen thuộc từ nơi ấy tiết ra. Khi tay tôi chạm vào tay cô, đúng ngay đoạn phim cho biết người chạm vào ma, có thể là một khoảng không, nhưng nếu đó là quỷ, mình cố nắm tay, da sẽ chạm được xương thịt, như với người. May mà cô ta không thức giấc, không thì chắc tôi chỉ nói được một lời xin lỗi. Chớ chẳng lẽ hỏi cô là ai? Là quỷ hay người? Là cô diễn viên đã đóng xuất thần vai bà già còng lưng, ngực gần chạm đất, là cô trinh nữ đã bị hãm hiếp trên biển Đông, là thiếu phụ đã gợi tôi nổi khát khao được tỏ lòng yêu dù biết nói ra mình có thể ngưng thở. Bỗng hiện rõ trong tôi, bài thơ của Komachi viết tay sau tấm ảnh của Nhụ Hương – hay Nữ, của tôi?!

 

Đường đến cõi Mơ

Chân bước tới Người

Đi không ngơi nghỉ,

Nhưng trong đời Thực

Chẳng sao gặp được,

Trong chớp mắt thôi…. (***)

 

Tôi đã gặp. Hơn một cái chớp mắt. Chẳng phải hạnh phúc hơn bao người?

 

Tôi đang ngồi cạnh. Hãy tận hưởng mùi hương đang tỏa ra trong cõi thực, sát bên mình.

 

——–

(*) thơ Komachi, Cổ Kim Tập- Tạp Ca

(**) thơ Komachi, Cổ Kim Tập- Luyến Ca

(***) thơ Komachi, Cổ Kim Tập- Luyến Ca

 

Nguyễn Thị Minh Ngọc

TỪ MÙA HÈ DẠO ĐÓ

 

Sớm nay nghe dự báo thời tiết
Trời sắp chuyển mưa giông
Chợt nhớ ra
Hình như đã lâu lắm
Từ mùa hè dạo đó
Bạn chưa một lần về thăm

Ai xác tín dùm tôi ngày đó
Bài hát của Nguyễn Đình Toàn chưa đặt tên
Dù đã nghe rất nhiều lần khúc phượng
Tôi vẫn thương hoài câu nhỏ nhẻ
“Mái trường xưa mỗi mùa phượng đến
Ve còn kêu vang ve còn kêu vang”

Bậc thềm rêu mòn đôi dấu lá
Chỗ gió ngồi và hương nắm níu
Có một câu chuyện ve còn bỏ lửng trên cây
Hàng me già thay áo
Hoa như mưa lướt trên tóc mây

Hình như cũng lâu rồi con quên bốn phép tính nhân chia trừ cộng
Chữ thầy cho đem trả cho thầy
Chữ thầy cho vòng tay thưa gởi
Ngẩng lên
Thầy đã hóa mây bay
Ngẩng lên phượng lại cháy đầy tay

Ngẩng lên
Đời chưa từng vá víu
Con chữ chưa vong thân trên trang viết từng ngày
Ngẩng lên
Để biết mình còn mắc nợ
Dù bóng một lùm cây bữa nắng lửa lỡ đường

Dù bạn sẽ không về thăm lần nữa
Tôi vẫn giữ
Chỗ chúng mình và mùa phượng cũ
Khuyết một chỗ ngồi
Và dư dả khúc ve.

BÙI DIỆP

Biệt Khúc

Say đi
chén rượu quan hà
mưa xa bóng núi
phai phai cuối trời
còn đây
một buổi này thôi
mai ta luân lạc
ngàn khơi mịt mùng

Nàng ơi
nâng chén rưng rưng
mắt em bể sóng
như chừng bão giông
môi hôn
chưa ấm xuân nồng
đã nghe đông giá
khơi giòng tử sinh.

Phạm Quang Trung

NGƯỜI CHO THUÊ TRUYỆN

Trước khi sinh ra, tôi đã đi lại trên con đường này.

Hòa bình vãn hồi, dân tản cư trở về từ vùng chiến khu, dựng nhà, cày ruộng, xây trường, tấp nập buôn bán, khởi đầu cuộc sống mới lam lũ nhưng vui. Nhà đông con, mẹ tôi gánh hàng rong bán dọc quốc lộ Một cho đến ngày sinh nở. Lớn lên, tôi theo bà vào ra đoạn đường từ thị xã đến Diên Sanh thăm dì tôi lấy chồng ở Hải Lăng. Ngày hè, gió Lào miên man thổi, mẹ tôi dắt tay tôi một tay giữ chặt nón, hai mẹ con vừa đi vừa bị gió thổi bay trên đường. Thỉnh thoảng tiếng súng từng chặp dội về từ rừng, phía đường xe lửa bỏ không nhiều năm, khuất trong cỏ lau trắng xóa. Tiếng tiểu liên carbine giòn giã, CKC gióng một bắn tỉa, Garand chát chúa. Nhưng nhiều năm súng đạn đã trở thành quen thuộc, trong cái bóng đổ dài của chiến tranh, cỏ vẫn mọc, người ta vẫn phải sống, và nhiều khi sống hạnh phúc.

Trước giờ đi học, tôi được mẹ giúi cho hai mươi đồng để ăn bánh mì xá xíu trưa ở lại trường, mười đồng đi đò ngang, từ làng qua thị xã. Tôi nhịn ăn dành tiền thuê kiếm hiệp. Mê đuổi theo số phận nhân vật, đôi khi tôi xài tạm tiền đò, vậy là tan trường, mùa hè cởi áo quần bơi qua sông về nhà. May nước không sâu lắm, nhưng có khi cũng uống đầy bụng. Trời nắng gió, bước lên bờ tóc đã khô. Đó là những bài tập bơi của tôi.

Thực ra, có một nỗi lo âu vần vũ xóm làng khi xảy ra chạm súng giữa dân vệ hay nghĩa quân của xã, địa phương quân của tỉnh và các toán du kích từ rừng về đánh lô cốt, phục kích viên chức chính quyền, hay chuyển hàng tiếp tế. Có lần, trên đường đi học tôi nhìn thấy một cái xác quần đùi ở trần với những bao thuốc lá Ruby đỏ, Cotab trắng, Melia vàng rơi vương vãi, máu nhuộm chúng đã khô, không ai dám nhặt.

Nước mắt cũng mau khô. Nỗi sợ hãi chóng qua, không khí yên bình tái lập. Lực lượng dân vệ, nghĩa quân hoạt động mạnh, gây cảm giác khá an toàn trong vùng bao quanh thành phố và khu trù mật. Làng tôi bên sông đối diện với thị xã, chiều chiều ánh điện chiếu xuống mặt nước soi lên tuổi mới lớn. Những đứa trẻ mới lớn hay mơ mộng, thích đọc truyện tình và trinh thám kiếm hiệp, cả hai đều lãng mạn, kiểu khác nhau. Hồi ấy ở miền Nam có phong trào thuê truyện, nhất là giới học trò. Các hiệu cho thuê phát triển, truyện kiếm hiệp Kim Dung, Ngọa Long Sinh, trinh thám Z.28, 007, truyện xã hội Dương Hà, Sĩ Trung, Bà Tùng Long. Tôi có nhiều địa điểm thuê truyện, nhưng trong một con hẻm nhỏ ở gần chùa Tỉnh hội, chạy sát bên thành cổ Đinh Công Tráng, dọc theo đầm nước có nhiều hoa sen nở trắng vươn lên dưới vòng rào kẽm gai, một hôm tôi tìm ra địa chỉ thú vị. Ở đầu ngõ hẻm có cái bảng nhỏ đề “Cho Thuê Truyện”, ba chữ sơn xanh nền đỏ, đập ngay vào mắt, mà dù không có cái bảng sơn xanh đỏ ấy, dù chỉ là hàng chữ li ti thì những đứa mê truyện như tôi cũng không bỏ sót. Một ngày, đi học tan trường về, tôi nhìn thấy nó từ sau chiếc cột điện, tôi đứng ngẩn người. Con hẻm sâu, đi loanh quanh một chặp, ở dưới hiên lợp mái tôn của những ngôi nhà lụp xụp, mới cất, của những người từ vùng phía Nam sông Bến Hải, Dốc Miếu chạy giặc giã sau cuộc bình định Ấp chiến lược, dựng tạm. Bên những đứa trẻ da xanh mét mặc áo hở rốn, quần đùi, là những thiếu nữ phấn son lòe loẹt. Tôi không chú ý lắm, vì thời ấy đầu óc còn nghĩ đến thú chơi như câu cá, bắt chim, coi phim cọp và những cuốn sách. Quán là căn nhà nhỏ, phía trước rộng có cái tủ cao mắt lưới, bên trong bày những gáy sách hấp dẫn. Giữa hai chiếc cột lớn là cái võng dù xanh, một người đàn bà còn trẻ thường nằm ở võng cho con bú, khi có khách vào thì mới đứng lên tới phía sau tủ sách, lụi cụi ghi chép. Nhiều lần quen thuộc, tôi biết chị có chồng là đi lính hay xa nhà. Chị có hai hoặc ba đứa con nhỏ, quê Gio Linh, gần cầu Hiền Lương, chạy vào thị xã mới vài năm trước. Chị ít nói, mặt không bao giờ trang điểm nhưng có nét đẹp kín đáo, dịu dàng, tần tảo. Nghề cho thuê truyện không phải là nghề khá giả, nhưng thích hợp vì chị có con nhỏ. Trong tủ có nhiều loại sách, truyện chưởng và tiểu thuyết văn học, từ Phi lạc sang Tàu của Hồ Hữu Tường đến Mối tình màu hoa đào của Nguyễn Mạnh Côn, từ Mèo đêm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đến Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca, tôi nhớ một đoạn: Hãy mang tất cả về đêm nay cho tôi thấy. Cho ba tôi thấy. Cho em Kim tôi thấy. Cho chị Hạnh thấy. Tiếng đại bác. Tiếng đại bác. Gửi gì không.

Tủ sách của chị ngày một lớn, đầy ắp, khách ngày càng đông, bọn nhóc. Có lúc tôi vào nhà không có ai, ở cửa con chó nhỏ không sủa. Tôi đi lui đi tới nhiều lần, mỏi chân, nằm lên chiếc võng dù êm ái cho đến khi chủ nhà về. Lâu riết thành quen. Tuần nào thứ bảy tôi cũng ghé để tìm đọc một hai cuốn. Tôi đi tìm những thú vui trong chữ, trên giấy, ở ngoài cái thế giới mà tôi đang có, khốn khổ, chết chóc, thế giới có thực ấy cũng đẹp lạ thường nhưng nguy hiểm lạ thường. Tôi đi tìm những con đường khác của đời sống.

Đối với tôi, cuộc đời vừa mới đến.

Nhưng vội tàn. Ngày lễ Phục sinh, thứ Sáu 30 tháng 3 năm 1972, hàng chục ngàn quả đạn pháo từ Vĩnh Linh, bờ Bắc sông Bến Hải, bắn qua giới tuyến, phủ chụp các căn cứ Ba Hồ và Đầu Mầu phía Tây, Cửa Việt và Quán Ngang phía Đông, Cồn Tiên và Dốc Miếu phía Bắc, khởi đầu chiến dịch Xuân Hè. Sau cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968 bất thành, lực lượng du kích rút sâu vào rừng núi, tình hình nông thôn tại Quảng trị, Thừa thiên khá yên tĩnh nhiều năm. Nhưng lần này là cuộc tấn công trực diện của quân chủ lực miền Bắc: các đoàn xe tăng tràn qua sông Bến Hải tiến về Đông Hà. Các loạt pháo kích dồn dập dọn đường cho bộ binh theo sau, được bảo vệ bởi các hỏa tiễn đất đối không từ vùng phi quân sự. Hòa đàm Paris dự trù mở trở lại vào tháng 7 năm 1972, cả hai bên đều tăng cường hoạt động để giành thế mạnh. Ba ngày sau, thứ Hai 3 tháng 4, quân miền Bắc đẩy lùi các phòng tuyến bảo vệ của quân miền Nam, tràn qua Cam lộ, nơi có con đường 9 huyết mạch chạy từ Đông hà qua Lào. Sự viện trợ của không lực Mỹ rất giới hạn, phần do thời tiết mây mù, phần do các mệnh lệnh nào đó, gần như bất động trong thời gian này. Quân miền Nam tổn thất nặng, rơi vào hỗn loạn. Căn cứ Cồn Tiên, Mai Lộc thất thủ. Cầu Đông Hà bị giật sập làm chậm bước tiến đối phương nhưng cũng chỉ được vài ngày. Dân chúng và chính quyền địa phương rút chạy về phía Nam.
Gia đình tôi vào Huế, ở tạm nhà dì tôi bên Đập Đá và nhà chị tôi trong thành Nội, gần trường trung học Hàm Nghi, ngôi trường đẹp thơ mộng có nhiều phượng nở. Ngày 3 tháng 4, khi chúng tôi đang ở Huế, trên vô tuyến truyền hình, tôi thấy tướng Hoàng Xuân Lãm tư lệnh vùng 1 kêu gọi phản công trên các mặt trận. Ngày 6 tháng 4, hỏa tiễn và moọc chê bắn vào Đông Hà. Không chỉ vùng giới tuyến, trong tháng Tư này, trên nhiều mặt trận khác ở miền Nam lửa cũng cháy bừng bừng. An lộc bị vây hãm. Giữa tháng 4, trung tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11 nhảy dù Nguyễn Đình Bảo tử trận, căn cứ Charlie ở Kon Tum tan vỡ. Sau đó tình tình địa phương trở nên lắng dịu. Hai tuần lễ yên tĩnh, một số dân chúng từ Huế, Đà nẵng lần lượt trở về nhà. Cha tôi mang tôi về quê, nhưng để các anh chị tôi ở lại Huế, vì ông cần trình diện công sở. Đến ngày 27 tháng 4, tình hình lại thay đổi, với các cuộc tấn công từ rừng núi phía Tây vào căn cứ Ái Tử của sư đoàn 3 bộ binh. Ngày 28 tháng 4, Đông Hà thất thủ. Bộ tư lệnh sư đoàn 3 rút qua sông Thạch Hãn về thị xã Quảng Trị. Do phối hợp kém, cầu Ga bắc qua sông Thạch hãn bị giật sập trong khi các toán quân cuối cùng của sư đoàn này và nhiều chiến xa, đại bác chưa kịp qua cầu. Các vũ khí nặng bị phá hủy bên bờ Bắc, trong làng tôi, gây những tiếng nổ làm dân chúng đã sợ hãi còn khiếp đảm hơn. Trên bến đò Nhan Biều tôi qua lại mỗi ngày, những chiếc xe quân sự chúc đầu xuống nước nghi ngút bốc khói, mặt sông dầu loang loáng xanh lè. Ba tháng nữa sẽ loang màu đỏ. Một ngày sau, trưa 29 tháng 4, xe tăng và bộ binh Bắc quân bắt đầu tiến qua sông. Lữ đoàn 147 Thủy quân lục chiến, đơn vị thiện chiến nhất của sư đoàn 3, buộc phải rút khỏi thị xã Quảng Trị. Tướng Vũ Văn Giai tư lệnh sư đoàn rời khỏi cổ thành phút cuối nhưng không thể đi xuyên qua đám dân chúng dày đặc trên đường; lực lượng yểm trợ của Mỹ phải gởi trực thăng tới chở ông ta và đoàn tùy tùng rời khỏi cổ thành Đinh Công Tráng. Lữ đoàn 147 rút theo đường số Một đến bờ Nam sông Mỹ Chánh, bị pháo kích nặng nề trên đường đi.

Ngày 1 tháng 5, quân miền Bắc chiếm thị xã Quảng Trị. Dân chúng tiếp tục ra đi trong hoảng loạn. Họ chia làm hai ngả, trên đường quốc lộ mới hoặc rẽ xuống đường quốc lộ cũ, phía biển, từ ngã ba Long Hưng đến chợ Diên Sanh. Quảng Trị nhiều cát, nhiều sông, nhiều rừng, vì vậy chỉ cần đến bìa rừng là đã đặt đường quốc lộ chính vào tầm mắt, lọt vào tầm đạn. Khi các đơn bị địa phương quân bảo vệ các trục lộ giao thông rút đi, quân miền Bắc dễ dàng đưa súng lớn vào trong một đêm. Một vài khẩu đại bác từ trên các đồi cao, gần các thôn Trường phước, Trường thọ, Diên Sanh, từ sau nhà thờ La Vang, từ các điểm cao của vùng Như Lệ, Tích Tường có hồ nước mơ màng, thừa sức uy hiếp đoạn đường từ thị xã vào Huế. Hình như họ đã kiên nhẫn chờ và tìm cách dùng bộ binh để đẩy lui đoàn người tị nạn. Đến một lúc không thể ngăn cản được, họ đã nổ súng, đạn đại bác rót ngay vào giữa mặt đường lộ, trên đầu những người di tản. Ba tháng sau, các lực lượng Nhảy dù và Thủy quân lục chiến phản công từ phía Nam cũng đã đi qua đoạn đường này, đếm được nhiều bộ xương khô còn sót lại.
Dọc đường số Một có những bãi cát trắng và rú thấp, khô cằn, nhưng khi đi sâu vào làng mạc phía Đông, phía biển, sau những đồi cát đầu tiên, cảnh tượng khác hẳn, bạn lại thấy quê hương gió mát trăng trong, nhiều tôm cá. Dưới tác động của gió Lào, cát thay đổi mỗi ngày, từ sáng đến chiều một rú cát bỗng dưng biến mất, từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau một rừng cây lúp xúp bỗng bị che phủ, vì vậy trong vài ngày những xác chết vô thừa nhận chưa kịp bốc mùi đã vùi sâu trong cát. Gió Lào thổi rào rào qua trảng cỏ, cát bay đầy mặt, đầy người, ngứa ngáy, đau buốt. Trên những cánh đồng sau đồi, lúa đã vào mùa sắp chín, trái cây nở rộn ràng trong các khu vườn rộng líu lo chim hót của Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Quảng Điền, Phong Điền.

Tiếng đại bác rít trên đầu chúng tôi, tiếng nổ gầm vang, lửa, khói dày đặc, tiếng la hét, í ới, tiếng than khóc, tiếng rên rỉ, hoảng hốt. Đạn bắn rất gần, tiếng súng chống tăng M72 của quân miền Nam, B40 của quân miền Bắc, súng cối, tiểu liên AK 47 đinh tai, M16 sát thương khủng khiếp. Đoàn người chạy ngược lại từ cầu Trường Phước, khi tới cầu Bến Đá, cầu cũng vừa bị giật sập. Chúng tôi cùng với một số người bơi qua sông. Tôi và cha tôi chạy qua những rú, những truông, cỏ lau mọc phất phơ cao ngất, những bụi dứa trái chín vàng ươm, những đồi sim tím, muồng muồng đen, tre cào xước mặt, mây quấn lùng nhùng, chạy qua những căn nhà dân chúng hấp tấp ra đi bỏ lại. Khi ngó xuống, đôi dép sứt quai, hai bắp chân tôi đầy máu vì gai nhọn. Chạy qua một căn nhà trống, gió thổi tơi bời phên liếp, trước cái cột nhà đen bóng, cha tôi dừng lại. Tôi nhìn qua vai ông, trên cột treo tấm lịch hiệu Quán thế âm bồ tát của Khuôn hội Phật giáo, có những tờ xé ra từng ngày. Tờ lịch đứng lại ngày 30 tháng 4. Đó là ngày hôm qua. Một ngày đang còn in dấu tay của người chủ nhà. Chúng tôi dừng nghỉ một lát, nghe tiếng súng nổ xa xa. Tôi đứng đó, nhìn vào con mắt thăm thẳm của thời gian. Thời gian nhìn trả lại. Sau cửa sổ, qua vai cha tôi, đọt lá ổi non chấp chới nắng lay động ngoài vườn.

Có một nỗi sợ hãi khủng khiếp khi bạn chạy lạc, lọt vào tầm đại bác, úp mặt trên cỏ, thân xác phơi ra, không có gì bảo vệ, tiếng depart, tiếng đạn réo trên đầu. Bạn biết bạn sẽ chết. Nhưng chết là khái niệm trừu tượng, siêu hình, sự kết thúc đời sống, cái quan tài, hàng nến lung linh, nước mắt người thân, hư vô, kiếp sau. Cái chết của chiến tranh không phải thế, không kết thúc, đó là sự bắt đầu. Bạn bắt đầu bước xuống tầng hầm tối đen địa ngục, bạn khởi sự đoạn đời khủng khiếp, sợ hãi kêu thét một mình, không ai nghe, không ai biết, bạn kêu gào xin kết thúc, không có tiếng lắc chuông của Địa tạng vương bồ tát, chỉ những bông hoa sim tím bên đường giữa cát trắng dội lại tiếng than khóc của bạn, dội đi dội lại âm thanh ngày cuối cùng. Bạn lớn lên bao giờ cũng tin rằng cá nhân mình là ngoại lệ, mọi người có thể phạm tội ác nhưng bạn không thể phạm tội ác, mọi người có thể rơi vào thảm họa nhưng chính bạn không thể rơi vào thảm họa, người khác có thể phản bội nhưng bạn không phản bội, người khác có thể đạp phải mìn mất một bàn chân nhưng bạn không thể dẫm phải mìn mất một bàn chân trong một ngày sương còn đọng trên cỏ ướt.
Giữa xác thường dân, thỉnh thoảng chúng tôi gặp xác những người lính, những người bộ đội, bên súng cối, súng AR15, súng phóng lựu dài ngoằng. Không chỉ pháo kích, các trận đánh phục kích bên đường cũng diễn ra ác liệt, súng bắn vòng trên đầu, súng bắn ngang. Cha tôi cầm tay tôi chạy hốt hoảng giữa đoàn người, một số chạy về phía Nam tìm vợ chồng con cái thất lạc, một số chạy về phía Bắc khi gặp pháo kích. Tôi lạc mất cha tôi, giữa những cái xác. Đêm tôi thức dậy một mình, nằm trong một cái hố cát nhỏ trong vườn cách xa quốc lộ vài chục mét. Có một tấm vải bạt đắp ngang người tôi, như thể tôi đã kéo xuống từ một cái chòi nào đó, hay là một người nào bí mật đã đi ngang qua và đắp cho tôi. Đêm mùa hè, sao trời sáng rực, nhiều như hoa đăng, sáng đến nỗi bạn có thể nhìn thấy rõ đường chỉ tay. Gió Lào bắt đầu ngừng, xen lẫn với gió nồm từ biển vào đem theo hơi mát, mùi muối mặn, mùi máu mặn. Xa xa con đường số Một nằm trơ trụi, về phía đường xe lửa là rừng rú, về phía Đông là đồng bằng, càng đi xuống làng mạc càng đông đúc. Tôi ngồi dậy, mỏi rã rời, lắng nghe tiếng ve sầu bàng bạc lưng chừng cây như khóc than, báo cho tôi biết rằng đây không phải là nơi trú ẩn an toàn. Bạn phải chạy đi, quê hương không còn là nơi trú ẩn an toàn. Tôi nhắm mắt lại.

Ba.
Papa.
Tôi gọi khẽ.
Không tiếng trả lời.

Hồi nhỏ, tôi gọi cha tôi là Papa, vì ông là thầy giáo Pháp văn, dạy tôi tiếng Pháp thời vỡ lòng. Bạn mười mấy tuổi, những năm đẹp nhất đời, vầng trăng tròn vừa ngự trời cao lồng lộng. Bạn từng sống ngày hạnh phúc, quê hương của bạn kịp thấy trời rạng đông, phảng phất thứ tai ương mới đầu bạn tưởng mình không hề nhúng tay vào, thật ra bạn có nhúng tay vào. Khi không người nào chịu trách nhiệm thì tất cả mọi người đều chịu, sự hủy hoại của chiến tranh trong khi cày xé mặt đất cũng bẻ vụn tâm hồn, biến chúng ta thành người khác, tàn nhẫn hơn, khôn ngoan hơn, điên cuồng hơn. Giữa chiến tranh, không có một niềm hy vọng nào cả, tôi nằm đó, nhìn sao, qua những cành lá, cỏ may, cỏ hổ ngươi, một nỗi buồn rầu xen lẫn giận dữ từ từ dâng lên như khi bạn đi vào giấc mộng, cánh cửa sập lại đằng sau và bạn sống với những quy luật khác. Trong căn phòng của quy luật khác ấy tôi đi lại một mình, dùng một ngôn ngữ không ai hiểu. Tôi còn trẻ quá, nhưng chỉ vài năm nữa thôi nếu chiến tranh tiếp diễn, tôi sẽ phải cầm súng. Đây là đất nước tôi, đây là ngày mai, nhưng tôi chẳng có tiếng nói, không ai có quyền quyết định trước số phận, một nửa dân tộc biết rõ như thế, một nửa chưa biết điều ấy, nhưng không một người nào có quyền quyết định số phận mình. Tại sao nằm giữa chiến tranh, kề cận cái chết, tôi lại nghĩ những điều mông lung, tôi muốn nghĩ một điều gì để quên đi hiện tại, tôi muốn ghi nhớ vì ngày mai xóa sạch ngày hôm nay. Máu sẽ ngừng chảy, nước mắt sẽ khô, người sống sẽ chết, đứa trẻ đi lạc sẽ trở về nhà, thời gian trở thành kẻ dối trá. Để có thể sống bình thường, mỗi người đều phản bội chính mình, như một người mẹ vừa khóc đứa con trên tay, vài ngày sau đã phải áo quần tươm tất ra đường. Chỉ có đất nhận lại lỗi lầm của chúng ta, uống lại máu chúng ta, như chiếc nôi xưa nhận lại hài nhi.
Nếu đời sống trước mùa hè ấy không đáng yêu đến thế, nếu con người tự do không hạnh phúc đến thế, nếu ngày vui chim đã không hót vang trong bụi trúc, thì đêm ấy tôi đã không muốn khóc. Vì nỗi thương tiếc chẳng làm nên tích sự gì, bọn bạo chúa chẳng bao giờ tin vào quyền lực của tiếc thương. Nhưng tôi đã bơi qua dòng sông cùng với cha tôi, rồi thất lạc, rồi bơi một mình qua dòng sông khác, đã nhìn thấy những xác chết đen nhẻm trên đường, đã cầm mảnh đạn pháo nóng hổi màu xám trên tay, mùi kim khí khét rẹt, mùi thịt người cháy xém trong không gian, tôi đã thấy một cánh tay vắt vẻo trên cành tre cao ngất, chim chào mào hay về đậu, đã thấy hàng ngàn người chạy trên đoạn đường chín cây số, đã nhìn thấy một cây cầu đổ ụp phía chân trời.

Bạn có bao giờ nhìn thấy một cây cầu đổ?

Khi chúng tôi vừa vượt qua cầu Bến Đá về phía Bắc được vài trăm mét thì có tiếng nổ lớn, mọi người dừng lại, ngoái đầu, một cột nước cao ngất, tồi đám khói bốc lên, bụi mù, cây cầu bằng sắt đen từ từ nẩy lên rồi chúi đầu xuống ở giữa dòng. Chậm đến nỗi bạn biết điều ấy không có thật. Sau nhiều giấc ngủ chậm chờn, những giấc mơ ngắn, mồ hôi ra đầm đìa, tôi ngồi dậy, từ trong cái hố cát nhỏ trong vườn bên đường số Một nghe ngóng, nhìn lên mặt đường. Tôi ngạc nhiên về im lặng, về tỉnh thức xen lẫn sợ hãi, đôi khi sợ hãi lớn đến mức che mờ ý thức, người tôi run lên từng chập, tôi chỉ muốn chết để kết thúc sự đau khổ ấy, nhưng nhiều khi ý thức trở lại xua sạch nỗi sợ hãi. Vào lúc ấy, bầu trời sáng bừng, khổ đau trở nên hiểu được, nỗi bơ vơ mất cha lạc mẹ trở nên chịu đựng nổi, dù tạm thời. Chân tôi dầm trong cát mát lạnh vì sương đêm, cơn đói tới dồn dập. Tôi bò quanh tìm trái mít rụng, tìm dễ dàng nhờ mùi thơm. Đó là một trái mít ướt vừa rơi, múi còn nguyên, tôi úp mặt xuống, ăn ngấu nghiến, nuốt hết nước mũi nước mật hòa nhau.

Khi đã no, tôi bắt đầu nghe tiếng dế kêu trong cỏ, con dế nào vừa ra khỏi hang đi tìm bạn. Hai tay tôi cầm chặt cái vỏ mít đầy gai nhọn. Có một lúc tôi nhận ra nỗi đau khổ của tôi lớn đến nỗi không một lý thuyết nào có thể giải thích được, có thể tự chứng minh sự đúng đắn của nó. Chiến tranh không chỉ là vết thương súng đạn, mà còn là con đường dẫn tới mọi ảo tưởng, ảo giác, dẫn một dân tộc vào mê lộ ở đó đúng và sai lẫn lộn, thắng và bại lẫn lộn, trước và sau lẫn lộn, một dân tộc, không trừ một người nào, như những người bị kiếm sắc đâm vào mắt, mù lòa, dẫn nhau đi sờ sẫm trong hang động, như trong tiểu thuyết của Kim Dung. Chúng ta sẽ không còn yêu ai nữa nếu chiến tranh tiếp tục. Vì tình yêu cần một cấu trúc vật thể như linh hồn cần thân xác, như tín ngưỡng cần nơi thờ phượng. Trong một thời kỳ đầy rẫy những lý tưởng, mỹ ngữ, xảo ngữ, cuộc chiến tranh đã bắt đầu từ lâu trước khi tôi ra đời, sự đau khổ này tuy diễn ra đột ngột, với nhiều người là kết cục tất nhiên của nhiều năm tháng lầm lỗi của dân tộc, không trừ một ai, ở đó sự hỗn loạn lấn át trật tự, sự độc ác chiến thắng tình người. Nỗi hối hận gõ cửa, đến tìm thăm nơi cội nguồn của bạn, nhưng bạn lúc ấy đi xa, không bao giờ biết. Những nạn nhân của bạo lực bao giờ cũng chết trước khi bạn trở về, không bao giờ kịp kể lại câu chuyện của họ, trước đây vẫn thế, sau này sẽ thế. Bất cứ một gia đình nào cũng vừa có người thuộc phía miền Nam vừa có người thuộc phía miền Bắc, bất cứ một gia đình nào cũng có người thân dù gần hay xa bị Pháp tra tấn hay bị Việt Minh chôn sống. Tội ác và dối trá của người Việt đối với nhau không bao giờ chịu kém hơn tội ác và dối trá của người ngoại quốc, trong chiến tranh, sau chiến tranh.
Khi tôi cầm tay cha tôi chạy trên đoạn đường khỏi cầu Bến Đá, tôi không ngờ rằng tôi sẽ mất người. Những buổi chiều ngồi trên võng tôi la đà đọc, nhẩn nha, theo dõi tâm sự của Kiều Phong, sự lầm lỡ của Nhạc Linh San, cuộc phiêu lưu của Tiêu Lĩnh Vu. Đang học ban toán, tôi bỏ bê, bài tập về nhà không chịu làm. Vì có thói quen học trước lớp vài chương nên bài vở của tôi chưa thay đổi, giáo sư không biết, nhưng tôi biết. Tôi biết nguồn kiến thức của mình cạn dần vì nhiều tháng đem xài hết. Năng lượng của một đứa trẻ mới lớn đã dành theo kịp những đoạn đường mạo hiểm ra Băng hải đảo của Trương Vô Kỵ, những thế võ của Mộ Dung Phục. Ngược lại tôi nhận được một thứ năng lượng kỳ lạ không tên của trí tưởng tượng, của những ước mơ run rẩy, tuy chẳng có ích gì cho môn toán của tôi trước mắt, nhưng về lâu dài cũng có thể đã gieo vào lòng thói quen suy nghĩ mông lung chẳng đâu vào đâu, đối với nhiều người là vô tích sự, đối với một số ít khác là có thể dùng được.

Chẳng bao lâu bạn sẽ mất tất cả.

Nhưng bây giờ bạn có hết. Ngõ hẻm, chị chủ nhà đứng chờ sau tủ sách, nở nụ cười buồn rầu, cây bút chì trên tay chậm chạp ghi tên bạn lên cuốn tập học trò. Người đàn bà ấy ghi thật chậm vừa chép vừa đánh vần, đôi khi đọc thành tiếng. Như vậy tôi có cả buổi chiều, cơn mưa đám mây, bến đò ngồi đợi, chuyến đò cuối cùng ngày thứ Bảy, chiếc võng trước hiên nhà, dưới dàn thiên lý hoa thơm mà mẹ tôi hay nấu canh khá ngon, và nếu may mắn, trong tủ bếp có một thứ gì đó để nhâm nhi mà các chị tôi thường để lại cho em trai út, kẹo bánh, đậu phụng, bắp nướng. Tôi nằm trên võng, trong im lặng của vùng quê yên tĩnh, như có chiến tranh mà như không có chiến tranh. Một ngày tròn trịa như chú gà non mới nở từ quả trứng, vừa nhảy ra kêu chim chíp trên sân. Rồi nó bỗng vươn cánh, xòe rộng, bay đi mất.

Tôi sống giữa những nhân vật phiêu lưu, và những nhân vật ấy, người tay đao tay kiếm, người súng lục rút nhanh như chớp. Một thiếu niên khí phách dám xông vào sơn trang mà chủ nhân là kẻ tà đạo, tất nhiên. Trong cuộc diện kiến quanh bàn tiệc trên tầng tháp cao, khi mọi người trổ tài khuất phục người khác, chàng chẳng làm được gì cả. Chàng ngồi đó, khiêm tốn và nhẫn nại, như lịch sử. Cho đến khi chẳng đặng đừng, liền cầm tách trà bằng sứ lên thuận tay liệng ra cửa sổ. Thiếu nữ đem lòng yêu chàng, có mặt ở đó, lấy làm ngao ngán về môn công phu quá ư tầm thường. Tôi cũng ngạc nhiên, thất vọng. Câu trả lời tất nhiên thuộc về tác giả, ở chương sau, trong một cuốn sách khác hình như Sài Gòn chưa kịp in, hay chị chủ nhà cho thuê chưa kịp mua về. Tôi không biết, chỉ nhớ tôi đợi dài cổ xem chương tiếp, không ngớt thắc mắc về số phận nhân vật.

Số phận của tách trà bị ném qua cửa sổ ở tầng tháp thứ mười ba.

Nhưng chương kế tiếp không bao giờ đến, trang sách bị xé rách, tan hoang. Tôi sống lẫn lộn giữa ký ức và tương lai, giữa bùn lầy nước đọng của nghèo khổ và ánh điện, đèn chớp tắt xanh đỏ, giữa ảo tưởng của hiện tại và nỗi mơ hồ của tương lai, giữa cái đẹp và tội ác. Văn học làm giàu trí tưởng tượng chừng nào càng làm chúng tôi xa rời sự thật chừng ấy, một thế hệ lớn lên mơ mơ hồ hồ, chẳng biết trong chiến tranh phía nào là đúng, phía nào là sai. Cả một dân tộc, hay ít nhất một nửa, như mê đi, như khờ dại, một tâm trí văn hóa mù mờ lẫn lộn, không thực tế, không sẵn sàng trả lời các vấn nạn trước mắt. Nhưng đó là việc bây giờ nhìn lại, thời ấy chỉ thấy thanh bình, thấy đẹp. Những nhân vật kia, kẻ trọng nghĩa khinh tài, người đại gian ác, kẻ tu luyện nhiều năm, người con nhà lành rơi vào đáy vực, những anh hùng thiếu niên, những kỳ nữ diễm lệ, ai cũng biết khóc cười như chúng ta. Có muôn ngàn lý do để giải thích cuộc chiến tranh, biện hộ cho sự bắn giết, hủy hoại. Nhưng từ mấy chục năm nay, có bao giờ dân tộc chúng ta đi chệch khỏi con đường dẫn nó xuống vực thẳm đâu?
Tờ mờ sáng hôm sau, đã yên tĩnh, tôi đi ngược về phía Bắc, giữa mùi thuốc súng, mùi bánh xe hơi và nhựa đường cháy khét, chạy lúp xúp bên đường. Sắp tới ngã ba Long Hưng gần con đường rẽ ngược lên phía nhà thờ La Vang, tôi nhìn thấy một xác chết nằm ngay trên vệ cỏ, khuất sau một chiếc xe đò bị bắn cháy. Vì chiếc xe chắn ngang mặt đường, tôi phải đi vòng ra sau một đám cỏ khá cao. Đó là một người phụ nữ trông hãy còn trẻ, một tay vòng trên bụng, một tay xoải ra, bàn tay khuất trong cỏ như một người đang ngủ. Hai ống quần rách tươm để lộ bắp đùi.

Vì sao người dân rùng rùng bỏ chạy, không ở lại với ruộng đồng phố thị của mình, người Gio linh bỏ khu phi quân sự chạy vào Đông hà, người Đông hà chạy vào Quảng trị, người Quảng trị vào Huế? Một đặc điểm của du kích là chỉ tấn công các lực lượng quân sự, hầu hết không chủ trương tàn sát dân lành hàng loạt, dễ hiểu là vì họ cần thu phục cảm tình của dân chúng; tuy nhiên, khi nào đám người ấy bị mắc kẹt giữa các mục tiêu quân sự, thì họ cũng sẵn sàng hy sinh dân lành, có khi bất chấp mọi giá để giành chiến thắng. Trong hoàn cảnh thuận lợi, người ta có tâm lý thận trọng, nhưng khi bối rối, lối hành xử bạt mạng như pháo kích bừa bãi dễ xảy ra. Có lẽ chiếc xe đò của chị đã trúng phải mìn hay B40 và nhiều người chết vì sức ép, tôi chỉ đoán thế. Trên người không một vết thương nào khác. Khi sắp bước đi, tôi bỗng giật mình, quay lại nhìn khuôn mặt một lần nữa. Tôi đau nhói như bị bắn vào ngực. Dáng người và khuôn mặt ấy, tôi không thể lầm, đó là chị chủ nhà tiệm cho thuê truyện mà tôi vẫn gặp hàng tuần. Tôi tới gần hơn, phía cánh tay của chị duỗi thẳng, nhận ra trong cỏ cao một bàn tay cháy xém, các ngón tay chỉ còn xương và gân, xoè ra như một cánh bướm đen.

Đêm trước, tôi thức dậy mấy lần vì tiếng mít rụng. Mọi việc trở nên mơ hồ lẫn lộn khiến tai tôi ù đi, mắt mờ. Nằm không xa tôi mấy, một người đàn bà từ một thành phố sắp bị xóa tên trên mặt đất. Khuôn mặt trong cát bỏng xao xác tỏa ra một thứ ánh sáng kỳ lạ như khi nguời ta chiếu đèn từ xa bằng loại đèn pha cực mạnh trong tối. Nghĩ đến chị, tôi lấy lại can đảm, lấy lại sức mạnh, vừa đi vừa chạy qua đoạn đường dài, băng qua thị xã, chạy qua trường Bồ đề, xuống bến đò, bơi qua sông Thạch hãn, một dòng sông mà sau này tôi sẽ bơi ngược trở lại.

Gió mùa Quảng trị thổi nhiều giọng. Rú từng đợt khi qua đèo Lao Bảo, nỉ non trên Tân Sở, rì rào cuốn bụi đỏ từ Dốc Miếu, dịu dàng khi qua nguồn nước Tích tường. Nếu bạn ngồi thật lâu cuối khu vườn có mít và ổi, như tôi ngày ấy, bạn có thể nghe được lời nhắn gởi của gió, lời nhắn gởi của tiếc thương. Trong lớp học tiếc thương này, số học sinh hiện diện bao giờ cũng đông hơn học sinh trong giờ toán của tôi, giờ văn của anh tôi, và bài giảng của nó sẽ được nhớ lâu dài. Vì vậy, hai mươi năm sau, khi đi tìm một tài liệu tiếng Việt cho công việc điều tra dân số của chính phủ liên bang, có liên quan đến môn học toán thống kê của tôi, trong thư viện lớn nhất ở trung tâm Calgary, mùa hè năm 1992, tôi đã tình cờ nhìn thấy cuốn sách kiếm hiệp của mình, cuốn kế tiếp, chương kế tiếp, hồi kế tiếp. Bạn nhớ không?

Tách trà uống cạn, rời tay chàng thiếu niên bay qua cửa sổ, sau một hồi nín thở chờ đợi, giữa ánh mắt châm biếm ngờ vực, cái tách ấy đã bay vòng trở lại qua một cửa sổ khác, vào phòng. Và tất nhiên từ từ đáp xuống. Vậy là chiếc tách sứ ấy đã bay một khoảng thời gian lâu đến nóng ruột bên ngoài tầng tháp cổ. Không phải một thời gian, nó bay một mạch hai mươi năm, từ vùng gió mặn đến xứ tuyết trắng.

Tôi đã bơi qua sông Thư Rơi, qua sông Thạch Hãn. Bơi một mình, lặng lẽ, không phải để dành tiền đò thuê truyện kiếm hiệp coi chơi, mà để chạy trốn cái chết.

Đêm yên tĩnh lạ lùng. Mùi mít mật dâng lên từng đợt. Tôi ngửng đầu, sao băng chi chít. Có một ngôi sao sáng hơn cả, tôi bắt chước một nhân vật tiểu thuyết, mở và gài cúc áo lại để cầu nguyện cho cha mẹ anh chị, cho đồng bào tôi, xin không ai còn phải chết vì súng đạn hay vì hận thù. Ngôi sao băng ấy có lẽ nghe được lời cầu nguyện của tôi nên vạch một đường thật dài, thật chậm, như linh hồn một người đàn bà đã bay lên cao còn nhìn ngoái lại mặt đất.

Nguyễn Đức Tùng

MAI NGƯỜI VỀ

Mai người về cho ta xin gởi
Tháng tư buồn đã mấy mươi năm
Khăn tang-tóc thề bay theo gió
Đỏ thắm máu tươi dưới nắng hồng

Bạn bè ta ở trong rừng thẳm
Không mộ bia nhang khói lâu rồi
Mấy mươi năm mắt chưa hề nhắm
Ngày 30 tan nát cơ đồ

Mai người về cho ta xin gởi
Cánh hoa thời loạn giữa Sài Gòn
Nói rằng Linh Phương này vẫn nhớ
Thủ đô mình Hòn Ngọc Viển Đông

Chiều thương xá Tax-sáng Mai Hương (*)
Đêm vũ trường hay phòng trà ca nhạc
Thanh Thúy sầu giọng liêu trai hát
Thái Thanh buồn” Kỷ Vật Cho Em”

Mai người về nghe đời lênh đênh
Tìm lại tuổi thanh niên xa lắc
Tìm lại mối tình xưa đã chết
Mùa loạn ly bạc trắng mái đầu

Phà Thủ Thiêm giờ biết tìm đâu ?
Sông xanh mãi màu xanh sông núi
Hồ Con Rùa cây cao vời vợi
Dẫu muôn thu kỷ niệm chưa mờ

Mai người về. Chợ Bến Thành ơi !
Có chút gì ta đau cắt ruột
Có chút gì mà ta đánh mất
Mấy mươi năm thất thủ Sài Gòn

Linh Phương
(*) Quán kem nổi tiếng đường Lê Lợi – Sài Gòn.

Niệm Khúc Nha Trang

CHUYỆN CỦA TÈO

Sau khi thất thủ Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3, hàng đoàn người tháo chạy tán loạn về phía đồng bằng. Tỉnh lộ 7 (QL 25 ngày nay) được chọn cho con đường di tản. Đã có nhiều tài liệu mô tả về cuộc tháo chạy này, tưởng không cần nói thêm. Ở đây chỉ nói chuyện thằng Tèo.
Đoàn di tản về tới dốc cây Me thì rẻ phải, đi ngang qua giáo xứ Tịnh Sơn để về quận lỵ Sơn Hòa với ước mong tìm một sự che chở. Rồi quận lỵ cũng tháo chạy, đoàn người tản đi về hai phía, một băng xuống Thạnh Hội theo cầu phao đi qua đường 9, một tiếp tục đi theo đường 7, tất cả đều tuyệt vọng… Theo những gì được biết bi giờ thì ngày 24/3, “quân giải phóng” đã hoàn toàn làm chủ quận lỵ nên bây giờ 24/3 là ngày kỷ niệm của địa phương này.
(Quận lỵ Củng Sơn nằm chơ vơ phía tây Phú Yên. Ở đây có giáo xứ Tịnh Sơn lâu đời nằm cách khoảng 2 km. Năm 1963, vì tình hình an ninh, nhà thờ Tịnh Sơn đóng cửa, một nhà nguyện nhỏ được xây dựng tại Củng Sơn ngay trung tâm quận lỵ, có lẽ để nương náu vì trong lịch sử, thời chín năm kháng chiến, Phú Yên đã có 2 linh mục bị sát hại: Cha Dẫn ở Trà Kê và Cha Tôn ở Tịnh Sơn)
Bi giờ ngồi hình dung lại thì thật là bi đát. Dài dòng chỉ thêm niềm uất nghẹn. Chỉ có Tèo là vô tư vì lúc đó nó có mặt nhưng với tư cách là một sinh linh bị bỏ lại bên cạnh bờ sông Con ở Ngân Điền. Mấy người nông dân địa phương đi lượm đồ rơi rớt của người di tản đã bắt gặp Tèo, chưa cắt rún, nằm quấn trong cái khăn lông trắng muốt của Mỹ. Mọi người bàn tán thằng này chắc con của nhà giàu… Tèo được đưa về quận lỵ Củng Sơn (lúc đó) giao cho linh mục Nguyễn Cao Hiên, cha sở nhà thờ. Cha Hiên đón nhận Tèo, cắt rún, ấp ủ và nuôi bằng những gì ngài có thể.
Cũng trong những ngày này, vợ chồng anh Mười Hòa mừng đón đứa con đầu lòng. Nhà thương chưa hoạt động lại nên phải nhờ bà mụ vườn. Bà mụ cắt rún bằng cái cật tre, bốn ngày sau thằng bé chết vì uốn ván, lưng cong vòng. Chôn cất con xong vợ chồng anh Mười nhớ tới cha Hiên và thằng bé sơ sịnh èo uột. Hai người chở xe đạp tới nhà thờ đón thằng nhỏ về. Cha Hiên mừng, nói đã rửa tội, có tên thánh, và dặn vợ chông anh Mười đem về nhớ làm khai sanh cho nó.
Và Tèo đã lớn lên, vượt qua cái xanh xao còm cõi nhờ vào bầu vú sữa của chị Mười, không nhớ gì về quá vãng, cội nguồn. Cái làng quê nó sống thì tôi có biết, cũng buồn bã như bao làng quê VN khác sau ngày hòa bình. Có lần tôi tới chơi thấy nó lon ton chạy quanh sân, lần khác nó đã lớn hơn, cầm roi chận bò ngoài ruộng. Ngày đó tôi còn trẻ, chẳng quan tâm để ý gì nhiều. Thêm nữa vợ chồng anh Mười Hòa sinh thêm một đàn con, lo miếng ăn khá vất vả rảnh đâu nghĩ chuyện tinh thần.
Cũng như nhiều đứa trẻ con khác chỗ nó sống, ngày đó đói khổ quá nên đi học cũng lôm côm được chăng hay chớ. Tôi cũng vất vả mưu sinh nên cũng thiếu sót nghĩ tới người khác. Chỉ biết lúc này qua đàm tiếu của thiên hạ thằng Tèo đã biết nó là con nuôi, là đứa rớt rơi trong ngày di tản. Nó gặng hỏi, anh Mười nói cứ từ từ lớn rồi đi tìm. Và từ đó trong Tèo có một nỗi niềm đau đáu…
Miết cho tới cách đây vài năm, chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của cô Thu Uyên rộ lên trên truyền hình, thằng Tèo ghi tên rất sớm. Cũng nhiêu khê lắm cuối cùng đoàn làm phim về Tịnh Sơn gặp Tèo, mô tả, kể lại, nhắn nhủ v.v… Và ngày tháng trôi đi Tèo không nhận được chút phản hồi nào. Cũng dịp này cậu bạn bên phía Đức Bình đã được đoàn tụ. Tèo chờ miết nhưng không có dù dữ kiện của Tèo khá rõ ràng và rành mạch. Bà con làng xóm nói thôi, chắc ba má mày không qua nỗi sông Con rồi. Mà có qua được sống Con cũng chưa chắc về tới được Tuy Hòa…

Mười Hòa là anh họ của tôi. Năm này 30/4 trúng ngày chủ nhật, tôi chạy xe Honda từ Tuy Hòa về Tịnh Sơn 50 cây số, ý là để hỏi thăm thằng Tèo. Vợ chống anh Mười đã đi từ sớm lên An Khê thăm thằng trai út đi bộ đội, đơn vị đang đóng ở đó. Lâu quá không gặp nên thằng trai lớn của anh Mười không biết tôi, tôi chỉ hỏi sơ qua chút đỉnh, biết sau khi đưa thằng Tèo về thì sau đó anh Mười sinh thêm 6 đứa con nữa. Thằng Tèo cũng đã lấy vợ và đưa vợ con về Gia Lai sống mấy năm nay. Tôi nghĩ chắc thằng này muốn tìm về nguồn cội, dù chỉ là cái nguồn cội mù mờ. Có khi nó chỉ cần hít thở bầu không khí mà nó nghĩ trước đây ba má nó đã hít thở, đi lòng vòng cái không gian mà trước đây ba má nó đã đi, rồi tưởng tượng ra có người đàn ông nào đó, người đàn bà nào đó là ba và má nó. Nghĩ vậy để bớt tủi buồn… Tính hỏi tên khai sanh của thằng Tèo nhưng nghĩ lại không cần. Chắc chắn là cái tên nào đó theo họ của anh Mười thôi, gọi theo tên ở nhà có khi lại hay hơn. Tèo đã chẳng có tên từ khi bị để rớt ở bờ sống Con ngày đó…
30/4, đài phát thanh truyền hình rôm rả vui mừng, loa kèn inh ỏi. Tôi đứng bên bờ sông Con nghĩ tới thằng Tèo.

Lê Phú Hải