SỐNG Ở MỸ DỄ HAY KHÓ

 

Phần 6: VỀ CÔNG ĂN VIỆC LÀM

Chúng ta đã biết, có 3 cấp độ kiếm tiền cơ bản, cho dù ở đâu: 1. Dùng sức để kiếm tiền; 2. Dùng tri thức, kỹ năng để kiếm tiền; 3. Dùng tiền để kiếm tiền. Với một người mới nhập cư, như mình đã nói ở phần đầu, hầu hết mọi loại bằng cấp ở VN đều không “tương thích” trên đất Mỹ. Nên “cấp độ” kiếm tiền thứ 2, chỉ có một số ít người thỏa mãn được. Cấp độ kiếm tiền thứ 3, nhiều người tuy có vốn, nhưng để đầu tư, dùng đồng tiền sinh lợi ngay cũng không hẳn là việc có thể triển khai trong ngày một ngày hai. Nên “cấp độ” kiếm tiền phổ thông nhất vẫn là “dùng sức để kiếm tiền”. Thời đoạn này kéo dài bao lâu, hẳn nhiên tùy thuộc vào sự hòa nhập nhanh hay chậm của “chủ thể”.

Với việc “dùng sức để kiếm tiền” cũng có mấy yếu tố, tỉ lệ thuận với thành công: Khả năng tiếng Anh, sức khỏe và nỗ lực. Trong đó yếu tố thứ ba dường như lại quan trọng nhất, tất nhiên chúng ta tạm coi yếu tố sức khỏe mọi người đều ở mức chấp nhận được. Có một điều khiến người nhập cư cảm thấy tự tin hơn, đó là ở Mỹ anh làm việc gì, vị thế cao hay thấp, đều không bị cái rào cản “sĩ diện” gây khó dễ. Mình biết có người Mỹ gốc, rất thành đạt, nhưng lúc đã nghỉ hưu, thấy buồn tay buồn chân bèn vô siêu thị xin làm cái việc… bỏ hàng vô bịch ni lông cho khách. Vẫn thưa gửi lịch lãm, gọi khách hàng là “ông bà”, cảm ơn, chúc một ngày tốt đẹp… Ngay cả làm cùng một công ty, người ta cũng chẳng biết lương ai cao, ai thấp, “lính” hay “sếp”, chủ hay tớ cũng cày hùng hục như nhau… Mới hôm rồi, gia đình mình kiểm tra trong nhà, thấy trên mái thiếu một con ốc, bèn gọi điện cho chủ đầu tư. Rất bất ngờ khi người xuất hiện là ông kiến trúc sư trưởng, phụ trách toàn bộ việc thi công của cả khu hàng trăm nhà. Ông này bắc thang hì hục trèo lên mái, kiểm tra, rồi đi lùng tìm đúng con ốc còn thiếu, sau đó lại hì hục trèo lên lắp con ốc, hoàn toàn không kêu bất cứ một “lính lác” nào làm thay cái việc nhỏ nhặt ấy.

Để bắt tay ngay vào một công việc phổ thông trên đất Mỹ là không hề khó. Các tiệm nail như ở bang mình luôn dán thông báo tuyển người dày đặc khắp nơi. Một người chưa biết gì về nail, bắt đầu đi học rồi túc tắc đi làm, trong vài tháng đã có thể có thu nhập 700- 800 đô/tuần. Một thợ nail giỏi ở bang mình có thể kiếm 6-7 ngàn đô/tháng. Một công việc khác, đối tượng du học sinh hay chọn, đó là bồi bàn, phụ bếp, lương tính theo giờ, cộng thêm tip (ở VN hay gọi theo kiểu Pháp là tiền “boa”), một ngày có thể kiếm trên dưới 100 đô. Một công việc khác, thích hợp với nam giới, đó là vào làm trong các hãng, xưởng, đứng dây chuyền sản xuất, phụ việc trong các siêu thị… Mấy công việc này thường xuyên có ở các trung tâm giới thiệu việc làm miễn phí của chính phủ. Bạn tới đó, để lại hồ sơ, số điện thoại của mình, khi có việc trung tâm sẽ kêu ngay, bằng những nhân viên nói ngôn ngữ của bạn. Mấy việc này, lương trung bình, khởi điểm ở mức thấp, khoảng 8- 10 đô/giờ. Tuần làm 40 giờ. Nếu làm quá số giờ có thể được tính lương lũy tiến. Nhiều người chọn làm đúng 40 giờ/tuần, nhưng dồn vô, ngày làm 10- 12 tiếng. Coi như giải quyết trong nửa tuần, nửa còn lại đi kiếm việc khác. Vì vậy nhiều người siêng, có thể “cày” từ 2- 3 việc. Với mức thu nhập trên 2 ngàn đô một tháng, cả hai vợ chồng cùng đi làm là hoàn toàn đủ trả góp một căn nhà khang trang, hai chiếc xe, nuôi hai đứa con cùng toàn bộ chi phí. Làm trên hai ngàn đô là bắt đầu có dư, tích lũy, hoặc du lịch đó đây khi rảnh. Đó là tình hình ở Texas, bang mình. Mức thu nhập và chi phí này có thể khác biệt ở những bang khác.

Nói ra có thể đơn giản, nhưng sự cực nhọc là có thật, tùy từng công việc, từng môi trường. Sự cạnh tranh giữa những người cùng hoàn cảnh có thể rất gay gắt. Môi trường làm việc ngột ngạt. Giờ giấc thay đổi lộn xộn, việc phải làm các ca từ tối đến sáng hôm sau xảy ra thường xuyên, vợ chồng con cái có thể ít gặp mặt nhau, nhất là với những người… quá siêng kiếm tiền. Tuy nhiên, với tình hình chung như vậy, chúng ta có thể hiểu vì sao sau vài năm “cày ải”, hầu hết những người nhập cư bắt đầu ổn định dần với số tiền tích góp được. Thêm nữa nhiều người tranh thủ vừa làm vừa học, nên sau vài năm họ vừa có vốn tài chính, vừa có vốn tiếng Anh, nhiều người lận lưng thêm được tấm bằng Mỹ. Vậy là cất cánh. Nếu đã giữ được chữ “siêng”, cũng như “trời cho” sức khỏe ổn định, chẳng mấy người lâm vào cảnh thất bại.

Sau khi bước qua giai đoạn dùng sức để kiếm tiền, người ta bắt đầu kiếm tiền bằng kỹ năng, bằng cấp. Thu nhập từ tính giờ, chuyển sang tính lương theo năm. Ngoại trừ những giai đoạn khủng hoảng trầm trọng- khá hiếm hoi, hầu hết người dân Mỹ sống “hồn nhiên”, làm bao nhiêu xài bấy nhiêu, không cần lo nghĩ quá nhiều tới “ngày mai”, vì tiền thuế họ đóng hằng năm đã đảm bảo cuộc sống về già. Các hàng quán còn rút ra một đặc điểm rất… lạ, đó là ngày người ta xài tiền nhiều nhất là những ngày… sắp phát lương mới. Đúng, khi sắp có lương, dân Mỹ bắt đầu kiểm tra tài khoản và… xài cho bằng hết số còn tồn đọng của tháng trước! Qua cách sống này, mình có một sự liên tưởng đến hoàn cảnh sống của người dân bắc bộ và nam bộ trước đây. Miền bắc, vì thời tiết thay đổi thất thường, đất đai khá khô cằn bởi hệ thống đê điều đắp kín, không bồi mới phù sa, con người sống phụ thuộc, bấp bênh vào “mệnh trời”, nên người dân dần hình thành thói quen tích góp, phòng cho những năm mất mùa, đói kém. Còn người dân đồng bằng nam bộ, thời tiết khá ôn hòa, sản vật luôn có sẵn, vì vậy họ ít có thói quen tích góp, phòng hờ, làm bao nhiêu xài bấy nhiêu. Nước Mỹ giờ đây cũng vậy, nếu có ai đó sống tiết kiệm không phải là họ thiếu thốn mà đó là tác phong sống giản đơn. Anh tiết kiệm 100 năm, số tiền giữ được chưa chắc đã bằng anh học lấy một tấm bằng, từ đó có thu nhập vượt trội.

Cấp độ thứ ba là dùng tiền để kiếm tiền. Ngay khi đặt chân đến đất Mỹ mình đã thấy hai biểu hiện rất rõ của một nền kinh tế phát triển, đó là lãi suất ngân hàng thấp, tiền thuê mặt bằng rất rẻ. Hai yếu tố này khiến người ta rất dễ làm ăn và nó khuyến khích, tạo điều kiện cho người ta làm ăn. Ngược lại, nó loại trừ những đối tượng “ăn sẵn”, như bỏ tiền vô ngân hàng rút lãi suất, hoặc có mặt bằng cho thuê rồi sống phè phè, mặc người kinh doanh è cổ gánh trên vai cái gánh nặng rất phi lý. Khi đã ở Mỹ một thời gian, có một số vốn trong tay, dù mình chưa có kinh nghiệm, nhưng quen một số bạn bè doanh nhân họ đều nói: Khi đã có vốn thì nhìn quanh ở đâu cũng có cơ hội kiếm tiền. Thủ tục thành lập doanh nghiệp tối giản, mọi mắt xích vận hành đã đâu ra đó hàng trăm năm, từ nhân sự, thuế má, hệ thống luật… Bạn cứ đặt đồng vốn vào hệ thống ấy và nó chạy, rất minh bạch. Ai càng có nhiều ý tưởng, nhiều sáng kiến, càng có nhiều khả năng thành công. Ngược lại, bạn đặt vào hệ thống ấy… sự gian trá, lập tức nó sẽ hất ra ngoài, hoặc phải trả những cái giá rất đắt.

Mọi thứ có vẻ “thông thoáng” như trên, vậy tại sao ở Mỹ vẫn có dân thất nghiệp, thậm chí là vô gia cư? Thực sự có hai đối tượng rất khó để có thể hòa nhập vào xã hội Mỹ, khó hơn rất nhiều so với cùng đối tượng ấy nếu sống ở VN: Đó là nghiện ma túy và… từng ngồi tù. Bất cứ hãng xưởng, công ty nào, sau khi phỏng vấn xin việc, ứng viên đều phải đi xét nghiệm máu. Nếu bạn dương tính với ma túy, coi như mọi cánh cửa đóng sập. Tương tự như thế, nếu bạn từng ngồi tù. Án tích đeo bạn cả đời, không xóa được trong hệ thống. Ngay cả việc bạn từng vi phạm luật lệ giao thông ở mức nặng, ví dụ say rượu lái xe, “cái vết” ấy cũng bị lưu luôn. Hầu hết các nhà tuyển dụng, các công ty, cho đến các ông chủ nhỏ đều e ngại khi tuyển những đối tượng này. Và sự “khắc nghiệt” ấy dần đẩy người “có vết” trôi từ nhà ra ngõ, rồi trôi dần tới gầm cầu. Tất nhiên, khi rơi xuống đáy cùng, trở thành những đối tượng như vậy, chính phủ lại có những kế sách an sinh khác dành cho họ. Tuy nhiên điều đó là rất nhục nhằn, giữa một xã hội coi trọng tự ái như đất Mỹ.
Hẹn các bạn tiếp tục ở kỳ sau, mình sẽ nói về hệ thống nhà cửa và việc mua nhà trên đất Mỹ.

NGUYỄN DANH LAM

VẪN LUÔN CUỐN HÚT HỒN NGƯỜI.

 

1. Từ thứ 5 tuần trước (22/6), người yêu nhạc Bolero không còn cái nao nức chờ đến 20h30 để coi chương trình “Thần tượng Bolero” (mùa 3) phát trên VTV3 nữa. Chương trình đã chọn được quán quân. Tôi không có ý kiến về việc người đoạt giải xứng đáng hay không như sự không đồng tình trên báo chí sau khi chương trình khép lại. Với tôi, cả bốn người vào chung kết đều là quán quân, đều là “thần tượng”. Các bạn ấy và nhiều bạn trước mà tôi được nghe hát (chưa đến 10 đêm các thứ 5 hàng tuần) đều là những người tôi quý mến. Trước hết, vì họ thích nhạc Bolero, hát được và truyền tải được phần nào cái hồn cốt của thể loại nhạc này mà ngày xưa tôi cho là “sến”, “cải lương”, “nhảm” . . . nhưng họ đã giữ được cái giòng chảy của âm nhạc miền Nam trước 1975, đến nay.

Năm năm trước. tôi đọc được “Nhạc tình miền Nam và những nhạc sĩ tôi yêu” trên Rose Pham’s blog. Cô không nói nhiều đến nhạc lính, nhạc bolero nhưng với tôi, rất đáng trân trọng. Một người chỉ mười tuổi khi sự kiện 30/4 xãy ra mà cảm nhận, diễn đạt tình cảm của mình với nhạc vàng đến thế thì khi đọc, không thể không vui, niềm vui y hệt như bây giờ. Tôi đã viết ý kiến riêng của mình và gửi email cho cô ấy. Bài viết này cô ấy đăng lên blog của mình sau đó.

2. Ngày nay, có rất nhiều cách để nghe lại tất cả nhạc xưa nếu mình muốn. Tôi cũng có thể chọn những bản mình thích, tải về điện thoại hoặc laptop và nghe lại bất cứ lúc nào nhưng theo dõi “Thần tượng Bolero” như tôi đã viết trước đây (1) có thú vị là được nghe các HLV (giám khảo) là những ca sĩ, nhạc sĩ nổi danh nhận xét và giành giật thí sinh về với đội mình bằng những cách dụ dỗ rất dễ thương và tài tình.

Qua những bài hát trong chương trình này, những kỷ niệm thời thơ ấu và sinh viên lần lượt hiện về. Ngày ấy, những năm 1955 – 62, gia đình tôi sống thanh bình ở làng quê với bà con, họ tộc, láng giềng sau thời kỳ Việt minh đầy khó khăn ngột ngạt và nghi kỵ lẫn nhau do chính sách cô lập địa chủ trước đó. Anh chị tôi đều chơi mandoline giỏi và nhà tôi cũng có radio sớm nhất xã. Từ các anh chị, tôi được nghe những bản Chuyến đò vĩ tuyến, Bức tâm thư (Lam Phương), Hướng về miền Nam (Trọng Khương). Sau đó được nghe Chiều mưa biên giới, Sắc hoa màu nhớ (Nguyễn Văn Đông), Mấy độ thu về, Biệt kinh kỳ, Nếu một mai anh biệt kinh kỳ (Minh Kỳ & Hoài Linh), Nhớ một người (Mạnh Phát & Hoài Linh), Cánh buồm chuyển bến (Hoài Linh), Các anh về (Hoàng Thi Thơ). . . và hàng trăm bản nhạc khác mà cả ca từ lẫn nhạc điệu đều cuốn hút người nghe bởi sự dặt dìu của âm điệu và dễ thương, nhân ái trong lời ca.

3. Khi tuổi đã về chiều, mỗi lần nghe hoặc hát lại, tôi thường ngẫm nghĩ về ý nghĩa lời ca và chợt giật mình tự hỏi những nhạc sĩ sáng tác những bản nhạc nói trên có viết theo “đơn đặt hàng” của bộ Thông Tin, Tổng cục Chiến Tranh Chính trị hay bộ Dân Vận Chiêu hồi sau này? Lý do dễ hiểu là nội dung (có bài) đề cao tinh thần phục vụ tổ quốc của người lính, biết xếp tình riêng để lo việc nước non và tuyên truyền cho cuộc sống no ấm của miền Nam.

Đến bây giờ, câu trả lời của tôi vẫn là: KHÔNG. Họ sáng tác theo cảm hứng và sự rung động tự nhiên của con tim mình. Có hai lý do giải thích điều này: Ở miền Nam, trong những năm 1955 – 75, người nghệ sĩ hoàn toàn tự do trong sáng tác VHNT, không bị ràng buộc bởi bất cứ tổ chức, chỉ thị, nghị định nào vì nghệ thuật miền Nam tự do hoàn toàn. . . vị nghệ thuật!.

Những phần sau, mời các bạn tham khảo những trích đoạn nhạc của các tác giả dẫn thượng để rõ vấn đề:

Tâm tình người lính của Nguyễn Văn Đông trong “Chiều mưa biên giới” là:

“Người đi khu chiến thương người hậu phương
Thương màu áo gởi ra sa trường
Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn
Còn nhiều anh ơi”

Cũng thế, trong “Sắc hoa màu nhớ”, người lính ấy nói về mình:

“Đời tôi quân nhân, chút tình duyên gởi núi sông
Yêu màu gợi niềm thủy chung
Nhung rồi vẫn nhớ một trời vẫn nhớ đời đời
Phượng rơi, rơi trong lòng tôi “.

Trong “Chuyến đò vĩ tuyến”, nhạc sĩ Lam Phương hóa thân vào một cô lái đò đưa người qua sông Bến Hải để vào miền Nam, nơi ấy “sống thanh bình”, nơi ấy “tình ngát hương nồng thắm”:

“Vượt rừng vượt núi đến đầu làng
Đò em trong đêm thâu sẽ đưa chàng sang vĩ tuyến
Phương Nam ta sống trong thanh bình
Tình ngát hương nồng thắm bên lúa vàng ngào ngạt dâng”

Miền Nam ấy, với nhạc sĩ Trọng Khương là giàu có, bao dung và đầy ắp tình người:

“Đi về miền Nam
Miền thân yêu hương lúa tràn ngập đầy đồng
Đi về miền Nam
Miền thân yêu đất rộng cùng chung đời sống”.

Với hàng trăm bài hát viết về người lính tôi được nghe, hầu như chưa có bài nào kích động giết chóc, hận thù mà chỉ là:

“Rồi ngày mai ra đi
Chốn biên thùy anh sá chi gian nguy
Có bao giờ anh nhớ chăng
Đêm nào nằm gần nhau
Hồn xây mộng ước mai sau” (Tình anh lính chiến – Lam Phương) (2)

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ trong nhạc phẩm “Các anh về” khi kể niềm vui của xóm làng đón mừng những người lính chiến thắng trở về cũng không hề có lời nào mô tả lòng tự mãn của người “bên thắng cuộc” mà là:

“Anh ơi anh ơi! Biết rằng đời là tranh đấu
Xóm làng hận thù khắc sâu bao câu
Nhưng đôi mắt ai, mỗi lần nhìn nắng Thu buồn
Nỗi sầu về chiếm tâm hồn bơ vơ”

Trừ nhạc sĩ Hoài Linh sinh năm 1920, (người được đánh giá là có lời ca đơn sơ bay bướm, văn hoa, có vần có điệu. “Mỗi lần soạn nhạc, ông viết ra giấy cả một lô danh từ hay tính từ cùng vần với câu trên để ông để lựa chọn. Hoài Linh thích sử dụng từ Hán Việt. Nhiều nhạc sĩ đã nhờ ông viết lời nhạc của mình như Minh Kỳ, Tuấn Khanh, Tấn An, Song Ngọc, Mạnh Phát, Văn Phụng, Nguyễn Hiền…”) (3), các nhạc sĩ nói trên đều sinh trong những năm từ 1926 – 1937 độ tuổi phải đi quân dịch, việc họ trở thành sĩ quan, giữ cấp bậc và chức vụ cao là thường tình, nhất là khi họ có tài. Lam Phương nhập ngũ từ 1958, về lại dân sự một thời gian rồi trở lại quân ngũ. “Ông gia nhập đoàn văn nghệ Bảo An. Sau khi đoàn này giải tán, ông tham gia ban văn nghệ Hoa Tình Thương và sau cùng là Biệt đoàn Văn nghệ Trung ương cho đến ngày 30/4/75” (4). Nguyễn Văn Đông đi lính từ thời Pháp, qua QLVNCH năm 1955 và “sau ngày Đảo chính 1/11/1963, ông được thăng cấp Thiếu tá và được chuyển về Bộ Tổng Tham mưu phục vụ ở Khối Lãnh thổ. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Trung tá phụ trách một Phòng trong Khối Lãnh thổ. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1972, ông được thăng cấp Đại tá chuyển sang làm Chánh Văn phòng cho Tổng Tham mưu Phó. Ông đã ở chức vụ này cho đến cuối tháng 4 năm 1975” (5). Hoàng Thi Thơ “là người duy nhất được Bộ Thông tin và Tổng cục Chiến tranh Chính trị Việt Nam Cộng hòa nhiều lần cử thành lập và dẫn các đoàn văn nghệ Việt Nam sang Châu Âu trình diễn. Sau năm 1975, tại Việt Nam, ông cùng với nhạc sĩ Phạm Duy là hai người bị cấm về nhân thân (cấm toàn bộ tác phẩm)[2], đến đầu năm 2009, một số bài hát của ông mới được Cục Nghệ thuật Biểu diễn thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép phổ biến trở lại” (6).

Việc một nhạc sĩ viết nhạc và ký thác tâm tình về những gì liên quan đến công việc như họ đã viết về đời lính cũng là chuyện thường. Trong thực tế ngày ấy, lương sĩ quan, tác quyền âm nhạc, mở các hãng đĩa nhạc đã làm cho họ quá giàu có để không cần phải sáng tác theo đơn đặt hàng.

4. Sau đó vài năm, khi chiến tranh Việt Nam sôi động dần, tôi nghe “Tâm sự của em” – Anh Bằng & Huy Cường, phần điệp khúc có tâm sự của người vợ khi chồng ra trận – khi người chồng trách là “xa anh nhiều rồi em quên nụ cười”, là “phai lạt màu phấn hoa đào”, là “nét môi thắm đượm sầu đau” – cũng rất nũng nịu, dịu hiền và dễ thương rất mực để không làm “nãn lòng chiến sĩ”:

“Không không trăm lần không ngàn lân không
Không không trăm lần không vạn lần không
Anh cứ vui tranh đấu cho quê hương hoà bình
xây đắp cho tương lai đời mình
đó là ước nguyện của em và của anh”

Bản nhạc “Giấc ngủ cô đơn” của Anh Bằng & Hoài Linh có hai câu có hơi hướng chiêu hồi nhưng cũng không hẵn:

“Anh, người bên vĩ tuyến, xin nhớ quay về..
khung trời miền Nam sống trong tình thương”

Trong “Cánh buồm chuyển bến” nhạc sĩ Hoài Linh nói về những người lầm đường lạc lối theo cộng sản, quay về với Quốc Gia như những “cánh buồm”. Ở lời 2 ông viết:

Có những cánh buồm chuyển bến quay về, về với quê hương
Phương Nam mong chờ giờ đã neo bờ mừng hoen đôi mi”.

Còn có thể dẫn ra nhiều chỗ trong nhiều sáng tác của các nhạc sĩ giai đoạn 1956-62 mà tôi yêu mến để làm chứng rằng yêu cầu tư tưởng (nếu có) trong tác phẩm là do tự thân tác giả hơn là theo đơn đặt hàng. Ngược lại thì quả là họ quá tài tình để không trơ trẽn, lộ liễu mà lời ca thật sự đi vào lòng người một cách nhẹ nhàng thanh thoát. Bởi đó, nó tồn tại với thời gian và vẫn mãi cuốn hút hồn người, đến nay, sau hơn sáu mươi năm.

NGUYỄN HOÀNG QUÝ

(1) https://www.facebook.com/quy.nguyenhoang/posts/1481730591846796

(2) https://tuongtri.com/2016/02/22/tinh-anh-linh-chien/

(3), (4), (5), (6) theo Wikipedia

NHÀ TÙ: CHƯƠNG 19

Tôi không muốn gặp mặt vợ con một tí nào cả. Bởi vì, sau một lần gặp gỡ, tôi mềm yếu và đau khổ vô cùng. Tôi đã ao ước vợ con tôi vượt biên. Cứ vượt biên, sống chết ra sao không cần biết, miễn là đừng bị bắt vào tù. Tôi đã ao ước thô bạo hơn, vợ con tôi cùng chết một lúc và chết ngon lành. Và rồi, tôi ao ước tôi chết cho vợ con tôi khỏi bận bịu, tìm đường ra đi. Tôi cũng sợ hãi đọc thư nhà. Những bức thư ngô nghê của thằng con trai út thường làm tôi khóc. Mỗi khi thư loan tin bác này về vùng kinh tế mới, bác kia hồi hương,* tôi muốn điên lên. Bằng hữu tôi lần lượt ra đi, bỏ rơi vợ con tôi. “Bố ơi, chẳng ai thèm lại nhà mình, thấy mình họ ngoảnh mặt”. Tai họa còn là cái sàng đãi lọc tình nghĩa. “Bố ráng học tập cải tạo tốt để được Nhà Nước khoan hồng sớm về sum họp gia đình dạy dỗ chúng con”. Câu cuối của từng bức thư tù đó. Khuôn mẫu của chế độ giải phóng con người. Tôi ghét bị kiểm duyệt tình cảm, nên thư về của tôi chỉ là cái danh sách xin gửi những món cần thiết. Vợ tôi không hiểu, đã trách móc tôi. Và tôi im lặng. Tôi đã viết nhiều về nỗi cô đơn. Rất hời hợt. Một đêm ở 1C-1, hồi tôi bị ghẻ mủ nặng, nằm nghiêng trên hai gang chiếu. Tôi ngủ lúc nào không rõ. Và tôi có giấc chiêm bao. Vợ chồng tôi cãi nhau quyết liệt. Hai chúng tôi giận nhau, mỗi đứa nằm một mép giường, xoay lưng đâu nhau. Tôi thấy mình vô lý quá. Tại sao không nhường nhịn vợ? Tại sao không xin lỗi vợ? Bèn lăn một vòng ôm chặt vợ. Bị cái thúc cùi chõ vào bụng. Tỉnh giấc mới hay mình ôm bạn tù ghẻ. Phòng giam sáng trưng đèn nê-ông, Tất cả đều ngủ. 1C-l nhỏ bé, bốn bức tường kín mít. Mà tôi mơ hồ tưởng bờ bãi mênh mông. Và nỗi cô đơn dàn trải vô tận. Tôi đã thiếu khả năng viết bài thơ diễn tả nỗi cô đơn của tôi.

Và thế đấy, tôi không muốn gặp mặt vợ con một tí nào cả. Nhưng mà tôi lại gặp mặt vợ con lần thứ hai. Quản giáo Bàng dẫn tôi ra phòng tiếp khách gần cổng trại. Hắn bỏ ra ngoài để chúng tôi trò chuyện tự do. Con trai lớn của tôi, Vũ Nguyễn Thiên Chương, tức Chương còm, tức cu Tý, mất trường Taberd sang trường Marie Curie học. Bị Cờ Đỏ của trường nhốt một đêm, đánh đập tàn nhẫn. Bị ra phiên tòa của giáo viên thành phố, bị kết tội con của nhà văn phản động, bị đuổi học. Không thầy giáo… ngụy nào bênh vực nửa lời, dù phiên tòa có nhiều thầy giáo bạn của tôi. Con gái tôi, Vũ Nguyễn Thiên Hương, tức con Ki, vẫn học Régina Mundi (đổi tên Lê Thị Hồng Gấm), giỏi môn văn, được đề nghị ra Hà Nội thi văn, đậu cao sẽ sang Moscou, thương bố bị tù, thương anh bị đuổi học đã xin nghỉ học luôn. Con trai út tôi, Vũ Nguyễn Thiên Sơn, tức thằng Đốm, bị cấm đến trường. Vợ tôi bệnh hoạn dài dài, bị lừa gạt vượt biên, bị hăm dọa thủ tiêu nếu không rời căn nhà đường Công Lý. Thư hăm dọa trình công an. Công an lờ tít. Vợ con tôi bỏ nhà. ..lưu vong. Con chim đại bàng đã không đến ăn khế vườn nhà tôi. Và cổ tích của thằng Đốm là thất học.

Tôi vác bị quà về phòng giam, lòng rã rời, tan nát. Xưa, viết truyện, tôi đã chỉ xin làm cây leo lên hạnh phúc của con tôi. Giờ, nằm tù, tôi không được leo lên cả bất hạnh của con tôi. Và cả niềm bất hạnh của tôi, của gia đình tôi, cho đến hôm nay, vẫn còn bị đâm thêm những ngọn dáo phi nhân, vẫn còn bị phì thêm nọc rắn ác độc. Nhưng mặt trời chiếu cho mọi người. Và Chúa Jesus đã dạy: “Phúc cho kẻ chịu bắt bớ bởi sự công nghĩa. Vì nước Trời là của kẻ ấy. Phúc cho kẻ bị lăng nhục và vu cho mọi điều ác. Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng trên Trời là lớn”. Cho nên, tôi vẫn đi, tôi mãi đi không mỏi, nhân danh niềm bất hạnh của tôi. Phần thưởng trên Trời tôi chưa thấy. Phần thưởng dưới thế tôi đã thấy: Tôi đã viết thêm 20 cuốn sách từ khi ra khỏi nhà tù. Tôi còn trẻ măng, còn dồi dào phong độ, còn tràn trề sinh lực và năng lực. Nếu nước Trời là Sáng Tạo, nước ấy của tôi. Cứ phì nọc độc vào tôi đi rồi lùi lại, nhỏ bé. Cứ chấp nọc độc, tôi phóng xa về phía trước, cao lớn, sừng sững. Đó là tín hiệu của bất cứ ai sáng tạo.

Tháng 7-1977, Doãn Quốc Sĩ từ 6C-l qua 3C-l.Tác giả Dòng sông định mệnh tỏ vẻ mừng rỡ gặp tôi. Anh Sĩ vẫn khoẻ mạnh. Doãn Quốc Sĩ chuẩn bị áo len, bí-tất găng tay. Anh tiên đoán một chuyến đi xa về phương Bắc. Thường xuyên lạc quan, đó là thái độ ở tù của anh.

Chúng tôi hàn huyên… chấp pháp.

– Thằng rỗ huê mặc áo sơ-mi trứng sáo chửi tôi khiếp lắm. Nó đòi chặt tôi làm ba khúc xem thân thể tôi có là kim cương. Doãn Quốc Sĩ nói.

– Anh trả lời sao? Tôi hỏi.

– Im lặng.

– Anh thiền à?

Doãn Quốc Sĩ cười.

– Thằng Vũ Hạnh báo cáo hết về anh em mình. Nó viết tôi thường xuyên lăng nhục Bác của chúng nó.

– Tôi biết.

– Duyên Anh cũng làm việc với thằng rỗ huê?

– Và bị nó chửi tưng bừng hoa lá. Nó chơi xỏ, tống tôi vào cachot buổi sáng, buổi tối đuổi về. Mình đang ghẻ thèm ở riêng, nó chỉ cho “bán trú”.

Chúng tôi cùng cười.

– Khi cụ Tú Mỡ chết, anh đang nằm cachot.

– Nhà báo tin.

– Cáo phó đăng báo Nhân Dân.

– Nhà đã gửi vào.

Doãn Quốc Sĩ là con rể Tú Mỡ, tác giả Dòng nước ngược, thủ qũy Hội Nhà Văn Việt Nam. Nghịch cảnh của tác giả Khu rừng lau là anh có người em ruột, Doãn Nho, nhạc sĩ, con cưng của Đảng, được sang Moscou học sáng tác nhạc hòa tấu cổ điển. Doãn Nho cũng là con cưng của Công An vì anh sáng tác vài ca khúc ngợi ca công an. Thế mà mấy lần Doãn Nho xin gặp Doãn Quốc Sĩ đều bị từ chối, bắt tội thân mẫu Doãn Quốc Sĩ từ Hà Nội vào đợi thăm con hoài. Hoàng Mạnh Hùng đã hỏi lý do nào Doãn Quốc Sĩ chống Cộng mãnh liệt thế. Họ Doãn đáp gọn:

– Tuổi trẻ tôi bị lừa gạt.

Anh Sĩ hơn tôi một con giáp, cùng tuổi Hợi. Năm nay anh 65. Thế hệ anh, người ta khao khát độc lập, khao khát cách mạng. Nguyễn Ái Quốc đã là kỳ vọng của trí thức trẻ hồi ấy. Anh Sĩ không ngại ngần nói rằng anh đã chỉ sợ Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc. Rốt cuộc, Hồ Chí Minh vẫn là Nguyễn Ái Quốc nhưng không phải Nguyễn Ái Quốc lý tưởng của Doãn Quốc Sĩ. Anh đã, nói theo Nguyễn Mạnh Côn, lạc đường vào lịch sử. Những vụ thủ tiêu Lan Khai, Khái Hưng và, lần lượt, các đảng phái quốc gia cùng với những cuộc đấu tố mở màn ở trung du khiến anh thức tỉnh. Anh coi như mình bị lừa gạt. Khi niềm tin của tuổi trẻ bị lừa gạt thì phản ứng của nó dữ dội lắm. Phản ứng ấy dàn trải cùng khắp tác phẩm của anh. ‘‘Mỗi dòng chữ của Doãn Quốc Sĩ là một viên đạn bắn cộng sản”. Nguyễn Đình Toàn đã viết thế. Anh Sĩ chống Cộng cả bằng cổ tích, bằng thiền. Doãn Quốc Sĩ chống Cộng tự nguyện, khác hẳn loại bồi bút chống Cộng, loại đánh đĩ văn chương giá rẻ cho Juspao, Usis. Ngọn đuốc Doãn Quốc Sĩ lúc nào cũng sáng, lúc nào cũng soi tỏ cho tuổi trẻ bị lừa gạt niềm tin. Chỉ tiếc tuổi trẻ hôm nay thiếu chất phẫn nộ của tuổi trẻ Doãn Quốc Sĩ. Và người ta lặng thinh sau những lần bị bịp, bị làm guốc cho lãnh tụ giẻ rách. Người ta hờ hững để mặc bạo lực của quyền uy ảo tưởng diễn hành. Ngọn đuốc Doãn Quốc Sĩ vẫn rực rỡ ở quốc nội. Buồn thay, ở quốc ngoại, có kẻ gục mặt nhận mình là ngọn hải đăng mù. Mà nó mù thật sự. Nó mù vì sự phản phúc, vì sự ích kỷ, vì sự tự mãn với cái chẳng ra gì của nó. Hơn cả mù, nó đã chết.

Tôi có một kỷ niệm nhỏ với anh Sĩ ở 3C-l. Một hôm, Đặng Hải Sơn “vô thất”, anh Sĩ hỏi.

– Cậu bắt chước Bá Di, Thúc Tề à?

Sơn đáp:

– Không, em muốn bao tử nghỉ mệt.

Anh Sĩ nói:

– Bá Di, Thúc Tề ở Đông Chu.

Tôi nói:

– Ở Phong Thần, thề không ăn thóc nhà Chu.

Có thế thôi mà thằng Đoan báo cáo. Anh Sĩ và tôi bị cúp thăm nuôi. Hai Phận gọi tôi ra “giáo dục”

– Cấm vợ anh tiếp tế cho anh xem anh có chê cơm cách mạng không?

Doãn Quốc Sĩ cũng bị gọi ra nghe Hai Phận vĩ đại sỉ vả. Chúng tôi “phèo” chất tươi nửa tháng. Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Mạnh Hùng và tôi bị Hai Phận “đánh dấu”. Giờ học báo Đảng, anh Sĩ ngồi thiền. Anh dễ ăn và dễ ngủ. Tôi phong anh biệt danh Dị Miên Sư Tổ. Khi 3C-l thêm Lý Thành Cầu, anh Sĩ có tri kỷ chữ Nho. Lý Thành Cầu người Trung Hoa, nói tiếng Việt rất giỏi. Ông ta thuộc Kiều và thơ Đường vanh vách, vốn là đại tá tình báo của Lư Hán, ông theo Tiêu Văn sang Việt Nam tước khí giới Nhật. Ông ta kể chính ông ta dẫn Hồ Chí Minh vào yết kiến Tiêu Văn. Ông Cầu ở lại Việt Nam, lấy vợ Việt Nam bỏ vợ Tầu. Năm 1954, ông di cư và làm quản lý cho hãng tầu vị yểu Hai Con Bướm ở Gò vấp. Chỉ vì ngứa miệng khoe mình quen Hồ Chí Minh mà ông bị vào tù, may là cộng sản chưa thủ tiêu ông. Lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh không thể quen biết anh Tầu già bán xì dầu. Ông Cầu nằm cachot mà Doãn Quốc Sĩ đã nằm. Ra cachot, ông vào 3C-1. Thấy cái bị viết tên Doãn Quốc Sĩ, ông ngạc nhiên hỏi tôi:

– Doãn Quốc Sĩ còn sống à?

– Còn.

Tôi giới thiệu ông ta với anh Sĩ. Ông ta ôm chặt anh Sĩ, nước mắt ròng ròng:

– Tôi đọc tên ông khắc ở tường cachot, tưởng ông chết, xì xụp lạy ông phù hộ tôi. Ai ngờ gặp ông.

Doãn Quốc Sĩ cảm động lắm. Ông Lý Thành Cầu đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Hải Thần, khen thơ Nguyễn Hải Thần hay hơn thơ Hồ Chí Minh, ông ta nói oang oang. Bị chấp pháp gọi ra bắt câm miệng, ông ta phê bình Nguyễn Hải Thần mê thơ quên việc nước.

– Tưởng Giới Thạch rất bận, tiếp khách có mười phút. Mỗi lần xin yết kiến Tưởng khó vô cùng. Vậy mà gặp Tưởng, cụ Nguyễn đem thơ ra khoe và bình mất hết thì giờ, chẳng nói chuyện nước non chi cả.

Ông Lý Thành Cầu trên 70, tóc bạc phơ. Ông ta bình Đường thi, Doãn Quốc Sĩ mê mẩn. Ở với chúng tôi hai tuần, ông bị chuyển trại. Chúng tôi đón Nguyễn Ngọc Tân, người biết hơn cả người biết quá nhiều. Doãn Quốc Sĩ có tri kỷ mới. Nguyễn Ngọc Tân cận nặng, một chân nhỏ tót, đi khập khiễng. Anh ta bắt chước Tôn Tẩn, ăn mặc như thằng điên. Mỗi ngày anh bị gọi ra một lần… tra tự điển Đại Việt.. Kiến thức của Nguyễn Ngọc Tân mênh mông. Chuyện gì anh biết cũng đến nơi đến chốn. Anh kể cho chúng tôi nghe chiến khu Nam Ngãi, những ngày lưu vong bên Nam Vang. Chuyện của anh hấp dẫn vô tả. Thời huy hoàng của anh là thời Đại Việt nắm quyền bính. Ngày Nguyễn Hữu Trí làm thủ hiến Bắc Việt, anh ra Hà Nội với tư cách Xứ ủy miền Nam. Tính tình cởi mở, anh giúp đỡ mọi người bằng khoa chữa bệnh điểm huyệt. Ngày thăm nuôi, anh đem quà cho hết đám “con bà phước”. Ít ai hào sảng trong tù như Bẩy Bốp, Phạm Thái, Nguyễn Ngọc Tân. Ngoài đời, tôi tưởng anh cũng thường như Nguyễn Ngọc Huy thôi. Gặp anh mới thấy anh là nguời đáng kính trọng. Cụ Đỗ Văn Lựu ra làm việc luôn luôn ăn mặc bảnh bao. Và cụ chê anh Tân “mất mặt quốc gia” vì anh dùng giây thắt lưng. Cụ đâu hiểu anh Tân giả khùng.

Doãn Quốc Sĩ ở với chúng tôi hai tháng. Đầu tháng 9-1977, anh bị tập trung với các tù nhân khắp nơi tại hai phòng C-1 và C-2. Anh ngủ một đêm rồi đi lao động cải tạo ở Pleiku. Chuyến đi này có Trịnh Viết Thành, Tô Ngọc, Trần Dạ Từ, Nguyễn Hải Chí, Hồ Văn Đồng, Thái Thủy, Mặc Thu, Thanh Thương Hoàng, Mộc Linh, Thế Viên, Nguyễn Sĩ Tế, Nguyễn Viết Khánh. Doãn Quốc Sĩ bị canh chừng một thời gian, mỗi tuần phải “mạn đàm” với chức sắc Sở Công An một lần, phải kể đã gặp gỡ những ai, nói chuyện gì… Ra tù, tôi đi chơi với Doãn Quốc Sĩ nhiều lần, rủ anh vượt biên, anh không dám. Có lẽ, anh tin cộng sản sẽ cho anh đi chính thức. Nếu vậy, anh đã sai lầm. Sự sai lầm của anh đã bị trả giá thêm ở nhà tù. Cộng sản không bao giờ cho “biệt kích văn nghệ” đi chính thức cả.

Nguyễn Đức Đạt, Bùi Xuân Bật khu A sang “làm mới” 3C-1.

Trưởng phòng Nguyễn Đức Đạt, dân làng Nghi Tàm, từ Hà Nội vào Saigon giữ chức Đồn trưởng công an Cầu Kho. Thành ủy Hà Nội cử người vô Saigon mua xe hơi, tủ lạnh, tivi… Đồ đạc nhiều món gửi tạm ở Đồn công an Cầu Kho vì người mua đồ là đồng chí, là bạn của Nguyễn Đức Đạt. Thành ủy Saigon “chơi” thành ủy Hà Nội. Sở công an khám xét hàng hóa và đòi chứng minh biên lai. Không có. Bị kết tội mua đồ ăn cắp và tiếp quản trái phép. Những kẻ chứa đồ bị truy tố. Nguyễn Đức Đạt bị lột quân hàm trung úy công an, bị tịch thu hết đồng phục, bị mất luôn chiếc Honda tiền túi, tiền của bao nhiêu năm dành dụm. Và vào tù, bị khai trừ khỏi Đảng.

Thư ký Bùi Xuân Bật, con trai út của cụ Bùi Xuân Học, chủ nhiệm nhật báo Loa Hà Nội trước 1940. Gia đình Bùi Xuân Bật có vai vế tiền chiến và hậu chiến. Anh trai Bật học ở Pháp, theo Hồ Chí Minh về nước làm thông dịch. Người anh này lấy cô vợ Quảng Ngãi. Cụ Học, nhân dịp xuân về cảm tác bài thơ trách móc chế độ. Bị cô con dâu tố cáo. Cụ Học nằm tù ở Lào Kay chết ở đó. Bùi Xuân Bật lên rừng bốc xương cha về Hà Nội. Từ đó, Bật lách mà sống, mà học. Tốt nghiệp kỹ sư luyện kim, Bật cộng tác tại Thái Nguyên. Bật có người chị di cư năm 1954, lấy chồng Tầu, rất giầu. Năm 1976, Bật công tác ở Saigon, được chị cho căn nhà và chiếc xe Mustang. Đẹp trai, trắng trẻo, mũi cao và tóc bồng bênh như Tây lai lại vốn con nhà giòng dõi, Bật thích ứng ngay nếp sống Saigon, ăn diện như công tử. Thế là bị chụp mũ liên hệ với phản động, Bùi Xuân Bật vào đề lao Gia Định.

“Triều đại” Nguyễn Đức Đạt, 3 C-l trầm lặng. Cụ già đông hơn thanh niên, cụ già ho, cụ già hen, cụ già khạc nhổ đầy nắp cống. Cực hình đề lao, đối với tôi, là những ngày trực bị mở nắp cống xối nước chà sạch những bãi đờm như những con thạch thùng chết. Với Nguyễn Đức Đạt, mục học báo Đảng dẹp bỏ và ngủ tự do. Chính anh ta cần ngủ quên đời. Hễ nhắm mắt, bất kể ngày đêm, anh ta mớ. Chuyện dặn con khoá kỹ xe đạp, dặn vợ đừng chặt bụi tre. Và trách móc Đảng tước đoạt công lao của anh ta. Đạt bị phong thấp, có thể tê bại. Đang là con Đảng biến ra “con bà phước”. Anh ta xin chúng tôi vitamine A. Chúng tôi cho. Tù phản động giúp tù cộng sản bị khu trừ. Tôi nghĩ anh ta đã hiểu quốc gia và tình nghĩa của người quốc gia. Bùi Xuân Bật chửi Đảng ra mặt. Anh ta chưa được kết nạp vào Đảng, vì là con tư sản. Câu nói bất hủ của Bùi Xuân Bật: “Lãnh tụ vĩ đại của tôi là củ cà rốt của tôi. Bởi chỉ củ cà rốt của tôi mới làm tôi sướng và làm vợ tôi sướng”.

Thời gian này, cachot C-1 “đói” khách sộp. Còn mỗi Đinh Xuân Cầu tóc bạc phơ, râu bạc phơ, ria bạc phơ, lông mày bạc phơ, chân đeo xích, tay mang còng bước từng bước ngắn đi làm việc. Tôi nhìn ông ta liên tưởng tới nền tù ngục quê hương tôi ngót nửa thế kỷ. Người chiến sĩ Đại Việt này chế độ nào cũng nằm tù. Những tài năng của đất nước tôi cứ bị lưu đầy, cứ bị giam nhốt, cứ bị hủy diệt. Và tổ quốc tôi gầy mòn với bộ lòng lổn nhổn sán sơ mít. Như thế vẫn chưa đủ, sự thù hận trải dài vô tận. Thù hận trong hạnh phúc và thù hận cả trong thống khổ. Người ta hay nói đến cảm thông đến khoan dưng, đến đại lượng. Nhưng ba món hàng xa xỉ này không bầy bán. Định nghĩa và cách xử dụng phải tra tự điển. Rốt cuộc, con người Việt Nam đành phải ước mơ cổ tích. “Bà tiên hoá phép, đứa nào hay nói những danh từ cảm thông, khoan dung, đại lượng thì hễ dứt lời là phọt ra cóc, nhái, rắn, rết”… Hình như, người quốc gia của chúng ta đã lạm dụng hai khẩu hiệu ngắn: Đại nghĩa thắng tà đạo, thương yêu xoá căm thù. Đôi khi, tôi thấy, một số người quốc gia tà đạo hơn cả cái tà đạo họ muốn thắng, căm thù hơn cả cái căm thù họ muốn xoá. Một điều lúc nào cũng có thể thấy là người quốc gia căm thù bạn đối lập hơn cả căm thù kẻ thù đối nghịch. Như vậy có hò hét nghìn năm, chẳng bao giờ chúng ta có dân chủ, tự do và hạnh phúc thực sự. Vương đạo của Vệ Ương mãi mãi ế ẩm, dẫu đã rao bán mấy ngàn năm. Trong mọi lãnh vực, bá đạo cứ thích ứng, thích ứng luôn cho trò chơi văn nghệ. Điều sai lầm căn bản của người quốc gia lưu vong hôm nay là chúng ta không chịu nhìn nhận cái đã có của chúng ta chưa ra ngô ra khoai gì cả. Do đó, khi mất nó, chúng ta mê mải đấu tranh tìm lại nó. Cuộc đấu tranh cho hư ảo là cuộc đấu tranh phục hồi quá khứ. Chúng ta không dám bắt đầu cho tươnglai. Chúng ta sợ hãi tương lai. Vì hiện tại chúng ta rách bươm. Và, vì bắt đầu, chúng ta không có vốn, không thể tạo nổi vốn ngoạn mục. Vốn liếng cũ, những lãnh tụ đảng phái gỗ mục, những tướng tá tham nhũng chạy dài, những ngọn giả sơn văn học cạn trương mục rồi. Giá trị của nó không đủ mua gói khô mực. Bất hạnh thay cho dân tộc, gỗ mục và giả sơn ngổn ngang chất đống dọc đường phóng lên phía trước của tuổi trẻ. Và tuổi trẻ vẫn ngại ngần, vẫn chần chừ. Người ta trông đợi tuổi trẻ hào sảng đầu tư nhiệt tình và lòng tự phụ cho tương lai trong cuộc chiến đấu mới, thái độ mới, tư tưởng mới. Chỉ tuổi trẻ mới đủ khả năng thiêu hủy phép tích của bà tiên và sau mỗi cảm thông, mỗi khoan dung, mỗi đại lượng là hoa nhân ái nở, trái hạnh phúc kết. Và, khi ấy, không còn tù ngục xích chân còng tay con người. Khi ấy, không còn thù hận trên quê hương khốn khó Việt Nam, không còn thù hận giữa người Việt Nam với người Việt Nam, không còn những thằng điên cưỡng bức đồng bào mình tung hô mình muôn năm vĩ đại, không còn những thằng ễnh ương ham làm bò lãnh tụ, không còn những thằng thảo khấu chính trị lạc quyên xổ số, không còn những thằng hề cách mạng rẻ tiền, không còn những thằng ngu đòi thống lĩnh đỉnh núi văn học. Khi ấy, cả dân tộc lương thiện được lãnh đạo bởi những tài năng lương thiện. Khi ấy, mọi việc công khai ngoài ánh sáng, chấm dứt phục kích đánh lén. Khi ấy là nghệ thuật, cáo chung thủ thuật. Khi ấy là chung thủy, loại trừ phản phúc. Khi ấy, “mọi người là anh em”. Và khi ấy, là thời lên tiếng sau thời im lặng. Khi ấy mới quyết định cái gì còn để lại.

Đinh Xuân Cầu là tù nhân duy nhất của đề lao Gia Định bị xích chân, còng tay dẫn đi làm việc. Phong sương của tù ngục không làm trán ông thấp xuống và mắt ông mờ đi.

Có ba vị tiên phong đạo cốt của đề lao Gia Định.

Một: Thượng tọa Thích Quảng Độ. Quản giáo Sáu lé đặc trách dẫn thượng tọa đi làm. Gã cai ngục này tuân hành Nội quy triệt để. Nó gọi thượng toạ bằng anh, đọc tên khai sinh của ngài.

– Sao lâu dữ, khẩn trương lên! Nó dục sau khi mở khóa.

– Anh mở cửa ra. Thượng tọa nói.

– Mở rồi, anh ra đi!

– Mở rộng ra.

Sáu lé mở tung cánh cửa thượng tọa mới chịu bước ra. Ngài mặc quần áo nhà chùa chỉnh tề. Ngài ngẩng mặt, bước thong dong. Ở nhà tù cộng sản, các thượng tọa, đại đức Ấn Quang phản động là tù nhân de luxe. Các ngài đòi ăn chay và gọt đầu nhẵn. Và được chấp thuận. Những vị sư khác bị để tóc và ngả mặn. Làm việc xong, Sáu lé dẫn thượng tọa Quảng Độ về cachot.

– Vô đi chứ?

– Anh mở cửa rộng ra.

Cửa mở rộng tù nhân Thích Quảng Độ mới chịu ra vào.

Hai: Nhà phản động già Phan Vô Kỵ quắc thước, bình thản, coi nhà tù như công viên.

Ba: Đinh Xuân Cầu.

Những người này nằm cachot không lên tiếng, không thèm yêu sách một ân huệ nào. Doãn Quốc Sĩ cũng vậy. Đời sống ở cachot C-l thú vị ra phết. Tù nhân già biến thành con nít. Người ta có thể trao đổi quà cáp và tin tức cho nhau từ cachot đầu dẫy đến cachot cuối dẫy.

– Số 2 nghe rõ không?

– Rõ.

– Nhắn số 11. Mặt trời đã lặn. Số 1 thông tin.

– Rõ.

– Số 3 nghe rõ không?

– Rõ.

– Số 1 nhắn số 11. Mặt trời đã lặn.

– Rõ.

– Số 4 nghe rõ không?

Đó là thông tin. Còn gửi quà cho nhau thì tù nhân cachot rút giây ni-lông ở túi phân bón (gia đình dùng túi này đựng quà gửi vào), se thành sợi giây dài buộc chặt món quà muốn gửi. Rồi luồn tay qua cửa gió tung sang cachot bên cạnh. Cachot bên cạnh cũng luồn tay qua cửa gió đợi chụp sau khi được thông báo. Thường phải chụp mấy lần mới trúng. Cứ vậy, quà chuyền đi… Màn phòng tập thể tặng thuốc lá cachot vất vả nhất. Nếu điếu thuốc mồi lửa rồi thẩy sát cửa cachot, tù nhân thò tay qua chân cửa là được ngay. Nếu điếu thuốc xa bàn tay thò qua chân cửa, tù nhân cachot bèn cởi quần áo, nối lại, luồn qua ô cửa gió tung xuống khều điếu thuốc. Nhìn tù nhân cachot hút thuốc, nhả khói, bạn sẽ thấy rõ chân dung của hạnh phúc, hạnh phúc chỉ khám phá ra trong niềm bất hạnh. Tôi có thú vui đứng sát cửa phòng, giả vờ hít thở quan sát sinh hoạt cachot. Nhờ Dương Đức Dũng, Đoàn Kế Tường, Hoàng Mạnh Hùng, Nguyễn Ngọc Tân, Doãn Quốc Sĩ, Hoàng SơnTrường tả đầy đủ chi tiết các cachots các khu của đề lao mà họ đã nằm, tôi biết hết cachots đề lao Gia Định. Hoàng Mạnh Hùng còn kể cho tôi nghe các phòng giam ở quận 3, quận 1 sau 1975. Ở đó mới là địa ngục. Và chế độ vua phòng vẫn tồn tại.

Thú tiêu khiển giết thì giờ của tôi ở 3C-1 là tham dự cuộc chơi đô-mi-nô uống nước lạnh từ sáng đến tối. Chúng tôi say sưa chơi. Chơi quên nhớ nhà, quên gãi ghẻ. Chúng tôi uống nước căng rốn. Ai rồi cũng thua và thua mỗi bàn uống hai ca nước. Bốc bài xong, vội bỏ vào túi, đi tiểu ào ào cái đã. Đô-mi-nô uống nước là môn thuốc xổ và lọc nước tiểu diệu kỳ.

Bất ngờ, 3C-l đón tiếp Trần Anh Linh. Cả phòng sôi nổi. Trần Anh Linh, giáo viên tiểu học Phương Lâm. Hè 1977, anh ta đưa vợ và đứa con nhỏ xuống Rạch Giá thăm bà dì. Anh ta mua vé máy bay Saigon-Rạch Giá. Chuvến máy bay này bị không tặc trấn áp sau hai mươi phút bay. Không tặc có bốn người.

– Họ dưới 30 tuổi, đẹp trai và hào hoa lắm.

Trần Anh Linh kể lớn.

– Trên máy bay có hai công an an ninh. To con và gồ ghề. Một tên định động thủ, một không tặc phóng lưỡi dao trúng tim tên công an. Hắn gục ngay. Không tặc mỉm cười. Người thứ hai rút khẩu rouleau, quay nhanh và đẹp như cao bồi. Tên công an còn sống ngồi bất động. Hắn bị tước khí giới. Hai không tặc khác lên phòng của phi hành đoàn. Hấp dẫn hơn phim gián điệp.

– Rồi sao? Tù nhân nóng ruột hỏi.

– Phi cơ chao lộn vài giây. Người không tặc hạ tên công an trấn an hành khách “Đồng bào bình tĩnh, nếu chết, chúng tôi cũng chết, nhưng không chết đâu. Chúng tôi không phải là không tặc, chúng tôi ra đi có sứ mạng”. Trong khi ấy, người không tặc thứ hai vẫn quay súng và cười rất tươi.

Linh kể tiếp: Phi cơ đáp xuống căn cứ Utapao. An ninh Thái Lan xua đuổi, phi cơ dọa lao vào phá hủy căn cứ. Thái Lan bằng lòng đổ đầy xăng, sạc no bình điện và tiếp tế mỗi hành khách một hộp bánh xăng-uých, nước uống. “Họ nói tiếng Anh quá hay”, Linh bình luận. Rồi máy bay đáp xuống phi trường Tân Gia Ba. Không tặc chào tạm biệt đồng bào, bảo ai muốn chọn tự do tùy ý.

– Một nửa chọn tự do. Một nửa xin về. Tân Gia Ba sửa sang máy bay, tặng xác chết một quan tài. Thời gian đi hay về chỉ có 3 ngày.

– Cậu xin về à?

– Báo chí, phát thanh, truyền hình phỏng vấn tôi. Tôi ở khách sạn sang lắm. Tôi chần chừ chọn nước định cư. Chưa kịp chọn, vì mình không chủ ý tìm tự do, thì quá hạn. Tân Gia Ba bắt ném lên máy bay đuổi về.

– Vào tù?

– Phải, tất cả hành khách và phi hành đoàn bị bắt ở Tân Sơn Nhất.

Một tù nhân tuổi trẻ phán:

– Bạn xứng đáng ăn một thùng cứt. Cơ hội ngàn năm một thuở lại bồng bế vợ con vào tù. Thiên đường chê, ham địa ngục!

Trần Anh linh tặc lưỡi.

– Tôi xứng đáng ăn một trăm thùng cứt.*

Trần Anh Linh ca ngợi bốn không tặc hết ngôn ngữ. Anh ta bị tống vào cachot để khỏi “tuyên truyền xuyên tạc”. Nhưng mà vụ cướp máy bay này đã trở thành huyền thoại ở đề lao. Hoàng Mạnh Hùng cũng có một “đệ tử” tên Nhân. Cậu sinh viên làm giấy tờ công dân Phi Luật Tân giả, leo máy bay tới Vọng Các lại nhớ mẹ đòi về… vào tù. Thế là 3C-1 có hai tù nhân tình nguyện vào tù, hai tù nhân chê bai ân sủng của Thượng Đế. Trần Anh Linh rời 3C-1 để lại một đề tài cho tù nhân trẻ già bàn luận, suy diễn, vai trò và sứ mạng của bốn không tặc. Trong không khí bàn luận sôi nổi vụ không tặc, tôi bị gọi ra làm việc.

Chấp pháp số 12 ăn mặc bảnh bao. Hắn dân Hà Nội chính cống nói giọng y hệt giọng Bùi Xuân Bật.

– Anh khoẻ chứ, anh Duyên Anh?

– Cám ơn anh, tôi vẫn bình thường.

– Hết ghẻ chưa?

– Còn lai rai.

Hắn mời tôi uống trà, hút thuốc.

– Anh đã suy nghĩ kỹ?

– Thưa anh, suy nghĩ gì?

– Cái gốc vô sản của anh.

– Tôi chỉ biết tôi là con nhà nghèo.

– Cái gốc vô sản của anh sẽ cứu anh đấy.

Tại sao tôi phải vô sản? Ồng nội tôi là thầy đồ nho. Ông nội tôi chết, gia sản của bà tôi có một mẫu ruộng (một mẫu 3600 mét vuông). Bố tôi lưu lạc buôn bán khắp nơi. Năm 1956, bà nội tôi bị quy vào thành phần trung nộng, thoát cảnh đấu tố nhưng bị truy thuế nhiều năm. Bà tôi không có thóc, không có tiền nộp thuế. Bố tôi nằm tù hai năm thay thế mẹ già. Bố tôi phải chăn bò bên bờ sông Trà Lý, ở đợ cho Đảng và Nhà Nước thế tiền thuế. Tại sao tôi phải vô sản? Những kẻ khoe khoang mình vô hay tư sản, bần cố nông hay địa chủ đều là những kẻ đần độn. Là người tôi khước từ mọi giai cấp chụp lên đầu tôi.

– Tôi không vô sản đâu anh ạ.

– Đó là sự bất lợi cho anh. Anh muốn làm kẻ phiêu lưu vô định trong đời sống mãi ư? Phải có nơi chốn trở về chứ? Nghiên cứu anh, chúng tôi chung một nhận định: Anh chỉ là người bất mãn nhằng, chống đối tiêu khiển, chính trị giải phiền. Anh không có gì nguy hiểm cả. Đừng tưởng anh nguy hiểm. Giam giữ anh chẳng phải vì anh nguy hiểm mà nhằm mục đích soi sáng lối về cho anh. Anh ngây thơ lắm. Anh biết chúng tôi thả Trương Phiên rồi chứ? Bọn miền Nam đã bịp anh từ cuối năm 1954.

Tôi im lặng nghe chấp pháp số 12 “mắng mỏ”

– Với chúng tôi, Nguyễn Văn Sao quan trọng hơn anh nhiều. Trí thức, văn nghệ sĩ các anh sợ khó, sợ khổ, ham vui, chóng chán. Cỡ anh, nếu các anh có mật khu, anh sống hai tuần là bỏ cuộc.

Thằng này khinh thường tôi quá. Nhưng đã “đi khách” cả chục bận, “vành ngoài, vành trong” tôi hiểu hết. Tôi kệ hắn nói cho sướng miệng. Mình nằm trong tay nó, tranh luận vô ích.

– Anh biết tình hình bên ngoài không?

– Không.

– Lung tung lắm. Bạn bè anh công kích chế độ gửi lén bài ra ngoại quốc.

Hắn cười nhạt.

– Không có Nhân Văn giai phẩm ở Saigon đâu. Anh Hoàng Hải Thủy chẳng biết điều tí nào. Đã tha không bắt, lại viết phóng sự Đen như mõm chó riễu cợt chế độ.

Hắn rút ngăn kéo lôi ra tập bản thảo của Hoàng Hải Thủy đặt giữa bàn. Tôi nhận liền thủ bút của Gã Thâm, tác giả những phóng sự sôi nổi trước 1963. Hoàng Hải Thủy là nhà văn ăn diện nhất trong số các nhà văn Việt Nam. Có nhiều nhà văn, nhà thơ mà diện kiến họ, bạn sẽ thất vọng. Hoàng Hải Thủy thì không. Đẹp trai, bảnh bao, lịch sự. Một vài kẻ không thích công nhận Hoàng Hải Thủy như một nhà văn. Chẳng hạn kẻ Trần Phong Giao, kẻ Nguyễn Quốc Trụ. Điều này không quan trọng. Quan trọng là Trần Phong Giao, Nguyễn Quốc Trụ cũng chưa được công nhận như những nhà văn. Vậy mà đã mất công Nguyễn Mạnh Côn viết tựa tiểu thuyết của Thủy bênh vực Thủy. Nhà văn là cái gì nhỉ? Hễ ai viết chữ, người đó là nhà văn. Há những người viết đơn thuê trước cửa Toà Án, viết thư mướn trước cửa Bưu Điện chẳng được gọi là nhà văn công cộng đó sao? Những tên viết văn chuyên nghiệp, những tên đổi chữ nghĩa lấy cơm áo sống trọn đời mình như chúng tôi, không lấy làm thích thú cái tước vị nhà văn. Hoàng Anh Tuấn đã chế… chữ nôm đặt tên nghề nghiệp vô cùng hữu lý. Viết văn mưu sinh là thợ viết. Vẽ mưu sinh là thợ vẽ. Hát mưu sinh là thợ hát. Đánh đàn mưu sinh là thợ đàn. Lái phi cơ là tài xế tầu bay. Vân vân… Chúng ta nên dành các tước vị nhà văn, nhà thơ cho qúy vị viết văn tài tử, sống bằng nghề khác, không sống bằng ngòi bút. Nhưng còn một hạng qúy vị lạy lục xin xỏ qũỵ trợ cấp ngoại quốc, viết sách xuất bản bán vung vít, chúng ta gọi qúy vị ấy là nhà gì? Nhà thầu, nhà buôn, nhà mồ, nhà đòn hay… nhà thổ? Tôi thấy có những thi sĩ hì hục làm thơ suốt đời, ấn loát cả chục pho mà gom lại vẫn không hay bằng một bài thơ hạng bét của thợ thơ Hoàng Anh Tuấn. Cá nhân tôi, tôi , nói thật, học dốt và yếu sức, không thể làm ông thông, ông phán, ông phu xích lô, tôi viết văn nuôi vợ con. Tôi là thợ viết. Tôi không ham đi vào văn học sử hôm nay, vì hôm nav không anh nào đáng viết văn học sử. Tôi không đợi đi vào văn học mai sau, vì mai sau tôi chết rồi. Vậy thì xin cho phép chúng tôi làm thợ viết như thợ đóng giầy, thợ hồ, thợ mộc, thợ dệt, thợ may… Hãy là người thợ chăm chỉ làm việc, nỗ lực sáng tạo, có lương tâm nghề nghiệp, có chính kiến rõ rệt hơn là nhà văn lười biếng, gặm sứ mạng như chuột nhắt gặm sắt, rúc đầu xuống cát như đà điểu hèn mọn. Người ta không muốn bạn tôi là nhà văn thì bạn tôi là thợ viết.

Thợ viết Hoàng Hải Thủy là tấm gương lớn cho những người tự học. Tiếng Pháp tự học. Tiếng Anh tự học. Tiếng Tầu tự học. Rồi dịch và phóng tác truyện Pháp, truyện Anh, truyện Tầu. Thủy đọc nhiều, nhớ kỹ. Thông minh và sâu sắc. Chỉ mắc một tội, lụy vợ. (Các bà sẽ hài lòng lắm). Vợ mà giận bỏ đi, Thủy buông xuôi mọi việc. Vợ mà trở về, Thủy viết lách hăng say. Cô đào xi-nê-ma Dạ Yến mê Thủy đến bỏ chồng Mỹ. Ân ái gần đêm thì bò về với vợ. Thủy đã đi lính trước 1954, đeo lon trung sĩ, từng coi tù ở Phú Quốc. Anh đã viết một truyện ngắn về tháng ngày coi tù, kể một kỷ niệm viết thư giùm anh tù binh cộng sản gửi vào đất liền cho vợ anh ta. Anh tù binh, hơn hai mươi năm sau, ở cục R về giải phóng Saigon và làm chủ nhiệm nhật báo Giải Phóng. *** Anh tù binh mang ơn trung sĩ Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy, Thủy thoát chiến dịch 2-4-1976. Anh tù binh bảo Hoàng Hải Thủy chôn chết tên Hoàng Hải Thủv đi rồi viết cho cách mạng.

– Bút hiệu cửa tôi gắn liền với đời sống của tôi. Hoặc tôi viết ký Hoàng Hải Thủv hoặc tôi không bao giờ viết nữa.

Đó là câu trả lời quyết liệt của Thủy trong bữa rượu tái ngộ cố nhân. Sau 30-4-1975, Hoàng Hải Thủy đến nhà tôi một lần, chờ tôi cả tiếng đồng hồ để báo tin con trai Vũ Trọng Phụng, bậc thầy phóng sự Việt Nam, đã gặp Thủy và muốn gặp tôi. Năm 1977, Thủy bị bắt về tội gửi bài ra nước ngoài. Anh nằm đề lao Gia Định, về Tổng nha cảnh sát cũ rồi được tha, ngót hai năm tù ngục. Tôi ra tù, Thủy đến thăm ngay. Chúng tôi có nhiều ngày đi chơi với nhau. Buổi chiều, trước đêm vượt biên, tôi mời Hoàng Hải Thủy “phê” một bữa với ông Ký già tại toà soạn Văn.

– Mày nói rằng, đứa nào vượt biên dấu mày, đều bị bắt. Vậỵ tao cho mày hay, đêm nay tao phú lĩnh.

– Thoát không?

– Chưa biết.

– Làm sao tao có tin mày?

– Tao đánh điện cho cô Tuấn.

Chúng tôi chia tay nhau ở bùng binh cửa rạp Khải Hoàn. Tôi đã thoát. Thoát chưa phải là đến. Ở trại tiếp cư Achères, tôi gửi cho Thủv tấm bưu thư. Thủy viết thư nhờ một ni cô chuvển cho tôi. Thủy nói, tôi đi rồi thỉ Thủy bị khủng hoảng, muốn “noi gương” tôi. Anh cảm giác bị đe dọa thường xuyên. Cảm giác ấy đă hiện thực. Hoàng Hải Thủy bị bắt lại vào tháng 4 năm 1984.

– Các anh vẫn tiếp tục chống phá cách mạng.

Hắn bỏ tập bản thảo của Hoàng Hải Thủy vào ngăn kéo.

– Anh nghĩ thế nào?

– Tôi nằm đây biết gì chuyện bên ngoài.

– Bên ngoài ảnh hưởng bên trong. Các anh sẽ khó về đấy.

Cuộc mạn đàm ngắn ngủi. Như thể người ta không quên tôi. Tôi về phòng. Tuần lễ sau, Hoàng Mạnh Hùng và tôi chuyển phòng. Chúng tôi cùng sang 4C-2.

* Ngôn ngữ tránh kiểm duyệt, có nghĩa là vượt biên

** Vụ này, các đài ngoại quốc có thuật. Sau 1975, một số phi công của Hàng Không dân sự được xử dụng cho Hàng Không dân dụng nhưng xăng chỉ cấp đủ lộ trình đến. Từ nơi đến đổ xăng đủ về. Người phi công chuyến bay này là bố của Vinh nhí, bạn Chương còm. Theo Linh kể, máy bay chỉ chở về một quan tài Việt Cộng loan tin không tặc sát hại phi công. Tôi cho rằng Việt Cộng đã thủ liêu phi công. Phi công của Hàng Không dân sự cũ bị sa thải hết, sau vụ này, và sự bán vé được kiểm soát chặt chẽ.

*** Khác với nhật báo của thành ủy là Sàigòn Giải Phóng

Tiếng ve sầu

 

 

 

Giã từ núi thẳm người về
Còn mang theo những tiếng ve trong đầu
Tiếng ve chìm tận hang sâu
Bên trong như chứa cả bầu trời riêng
Lâu rồi tưởng đã dần quen
Tiếng ve đã tắt tiếng chim đã ngừng
Bỗng dưng nhớ núi quá chừng
Tiếng ve lại chuốt nên từng cây kim.

HẠC THÀNH HOA

Chiều

Em gieo bước lặng bước chìm,
Sợ làm kinh động đôi chim bên hồ.
Đang yêu nhau đến dại khờ,
Rủ trời xanh chảy vào thơ êm đềm
Trải bao giá lạnh buốt tim
Vọng lời đá cuội bình yên phút này.
Em đi lòng bước ngây ngây,
Thôi dành tặng chút tình đầy cho nhau
Dỗ lòng thách với biển dâu.
Mịt mờ trái đất hai đầu tình ơi!
Tình thơ chín muộn xuân đời,
Sân bay một thoáng rụng rời chia xa.
Anh ôm nắng cháy quê nhà,
Em vùi tuyết giá nhạt nhòa tha hương.
Đang tìm nhặt ánh chiều vương,
Băng tan trời sáng trong hơn bao ngày.
Mặt hồ soi trắng bóng mây,
Đôi chim rủ rỉ nhau say giọng tình.
Anh bên trời ánh bình minh,
Dán đôi mắt giữa màn hình nhìn em
Tưởng mình như thể đôi chim,
Sẻ chia ấm lạnh sống bên nhau rồi …

Trần Ngọc Hưởng

MỚ TRĂNG MÁU

Nàng ngồi và lặt lựa mớ trăng trong rổ, mấy con trăng gầy lom nhom bò lột xột lạo xạo. Chợ sớm vắng, nghe rõ cả tiếng ì oạp của nước vỗ mạn thuyền.

Nàng lặt lựa và sắp xếp lũ trăng để chúng nom ngon mắt hơn. Nàng tính toán rồi thở dài, bán hết nhiêu đây cũng không đủ tiền mua gạo. Nhưng dạo này rất khó bán, thường là ế.

Nàng lại dùng dây chun chằng từng cái cẳng của đám trăng lại , sau đó vẫy sương lên cho nó tươi tỉnh. Mỗi khi không bán được, nàng lại bắt lũ con ăn trăng. Tụi nhỏ gào lên “ con không muốn ăn trăng, con muốn ăn cơm với cá cơ” . Nhưng gào thì gào, chúng vẫn phải ăn vì đói, ngoài thứ này ra, chúng không còn gì khác để bỏ mồm. Những cái cạnh vỏ cứng xóc vào miệng chúng đau nhói, có lúc cào tước cả lưỡi, toạc máu. Máu nhuộm đỏ cả con trăng chúng đang nhai. Chúng ngồm ngoàm, chúng nhai, chúng nuốt… mớ trăng máu ấy.

Mà những con trăng thì chúng không cam lòng để bị nhai nuốt như thế. Đêm mát trời, chúng lượn ra lặng lờ dưới đáy ao, vậy là bị tóm, bị bắt. Đứa thì được người ta mua về sấy khô rồi treo lên tường để trang trí, để ngắm, đây là một thú chơi của bọn nhà giàu . Đứa không may bị tóm bỏ vào dạ dày, nên chúng quẫy đạp dữ dội. Chúng trườn theo các mao mạch, bò thẳng lên mắt, lên tai…Có khi sáng sớm, lũ con nàng  thức dậy, nàng thấy hốc tai chúng đỏ lòe, mồm lòa luệnh máu. Còn mắt thì rỉ ra hai dòng gỉ chảy dài như nước trầu. Chúng vẫn cứ gào ra rả “ Con đói, con muốn ăn cơm với cá…”

Gã ở gần nhà nàng, sát cạnh nhà nàng, và gã làm trưởng làng. Nàng sợ gã, lũ con nàng cũng sợ gã. Mỗi khi bọn chúng rền rĩ quá lâu, nàng thường bảo chúng im đi. “ Ông ấy nghe thấy bây giờ, không được để ông ấy nghe thấy, ông ấy đuổi mẹ con ta đi đấy, cái đói sẽ làm mất mặt làng này, tụi bây biết chưa?” . Nhưng thật ra gã đã nghe thấy từ lâu, gã nghe đến thuộc lòng điệp khúc ấy “ Con đói, con muốn ăn cơm với cá cơ….”. Gã bảo:

– Mày ngoan, mày nghe lời tao, tao cho mày tờ giấy ấy, có lá bùa ấy, mày sẽ có ruộng, con mày sẽ có cá ăn.

Rồi gã mải miết sục sạo tất cả các ngóc ngách trên cơ thể nàng, kiểu như nàng vẫn chăm chỉ sục sạo cái ao bé tẹo , cằn cỗi sau nhà nàng mỗi ngày để bắt lũ trăng.

Lòng ao mỗi lúc một cạn khô, đám trăng càng lúc càng còm cỏi trong lòng ao đỏ quạch như máu. Trăng cũng đỏ nọc ra như máu. Lũ con đói ăn của nàng đã ốm còn ốm nhom, mồm vêu ra, cổ dài ngoẳng, những con mắt dại đục lờ. Chúng lẩm nhẩm suốt ngày điệp khúc “ Con đói, con muốn ăn cơm với cá…” đến nỗi khản cả tiếng.Bây giờ, chỉ còn môi chúng mấp máy. Chúng đói quá nên đã ăn cả tiếng nói, chúng chỉ  nhìn nhau bằng hình môi

“ Ăn đi, để tiếng nói lại làm gì? Chúng ta nói có ai nghe đâu?”

“ Ừ, vô ích thôi mà, chúng ta đã nói quá nhiều để im lặng, nuốt đi….” .

“ Đã ăn hết tiếng rồi, đã nuốt hết lời rồi, nhưng có no đâu?”.

“ Ngày mai, lũ trăng lại bò đi trốn, mẹ lại không bắt được chúng, phải nửa tháng nữa mới có trăng lại để ăn đấy…” .

” Đêm ấy, tao nghe lén ông ấy bảo với mẹ nhà mình sắp có cá ăn , sao tao không thấy? Tao chờ hoài vẫn không thấy cá. Cá ở đâu? Cơm ở đâu? Ông ấy ở đâu? “.

“  Tao sao biết được, ông ấy hứa hoài, mỗi ngày một giọng, mỗi ngày một lời, lúc nào cũng bảo sẽ ấm no, bây giờ ra đường, đâu đâu cũng là giọng của ông ấy, đâu đâu cũng thấy ông ấy. Chỉ có cá và cơm là không thấy đâu.”

“ Sao mẹ không nấu cơm cho tụi mình ăn?”

“ gạo ở đâu mà nấu, cá ở đâu mà nấu?”

“ Thì trồng lúa, xay lúa, ra biển bắt cá”

“ Nhưng không có ruộng, không có biển. Có ruộng , có biển mới trồng được lúa, mới vớt được cá. Mẹ chỉ có cái ao nông choèn đỏ quạch ấy thôi, trong cái ao ấy, chỉ còn lũ trăng, mà dạo này, những con trăng cũng không còn vàng ruộm nữa, chúng cũng đỏ quạch như máu rồi…”.

Những hình môi tím xanh hình như cũng mỏi, chúng không nói nữa, không động đậy nữa. Lũ con nàng nằm im lìm, không ngủ cũng không ngọ nguậy. Chúng để dành hơi thở chờ cho đến mùa trăng sau.

Đứa gái lớn nhất chợt giật mình, nó trỗi dậy, thều thào:

“ Tao nhớ ra tiếng ông ấy rồi, tao nhận ra ông ấy rồi, tao đã đi hỏi ông ấy khi nào thì nhà mình có cá ăn”

“ Ờ, rồi sao?”

“ Ông ấy bảo, cá ở dưới biển, mày xuống đấy mà hỏi hà bá, tao quản lý làng này, chứ tao không quản lý lũ cá”

“ Tụi mình xuống hỏi hà bá đi bây”

“ Ừ, đi thôi, đi thôi, đi thôi, đi…..”

Bầy trẻ mắt nhắm vật vờ rồng rắn nhau đi ra biển.

Nàng vẫn ngồi và lặt lựa mớ trăng đỏ lòm trong rổ. Lũ trăng óp quá, con nào con nấy gầy vêu vao, mắt lồi ra, sùi cả bọt mép. Nắng dội từng mảng trên dáng ngồi cắm cúi xộc xệch của nàng. Mắt nàng mòn mỏi nhìn ra biển, ngoài ấy có cá. Trong lồng chợ, trên cái sạp cao cao kia cũng có cá. Đám cá chết đuối mới vớt được sang nay. Giờ đang nằm xếp lớp trên quầy. Da xanh lét, mắt nhắm chặt nhưng mồm vẫn nhóp nhép “ Con đói, con muốn ăn cơm với cá…”

Nắng vẫn dội từng mảng trên miếng ao nhỏ trơ đáy, dội lên vành khăn trắng trên đầu người đàn bà đang rền rĩ những câu hát ru lộn xộn không đầu không đuôi. “ à ơi… gió đưa cây cải về trời….à ơ….về sông ăn cá về đồng ăn tôm…à ơi…con ơi con dậy ăn cơm….” .

HOÀNG PHƯƠNG UY

Tạ Từ Hết Thẩy Anh Em

Bạn gọi nhắc: “Hôm nay Thứ Bảy tao muốn thấy mày có mặt giữa anh em. Vẫn biết anh em có đứa thêm và cũng có nhiều thằng đã bớt. Không thấy mày… là mày bớt đó nghe!”.

Tôi chưa đi thăm anh em, đã muốn đi về. Có những con đường mình đi không tới, và cuối đường chắc chi ai đợi… khi tuổi người ai cũng quá bảy mươi! Tên Trần Hưng Đạo để dưới đít tên người… đại lộ Bolsa, tôi không muốn nhìn thấy.

Hội Nghị Diên Hồng họp trên dòng nước chảy. Tại sao Trần Quốc Toản tới đây và bóp nát trái cam? Đại lộ Trần Quốc Toản từng nổi tiếng là Một Chợ Cá Ở Việt Nam… nay nó là Ba Tháng Hai chảy dài nước mắt… Đại lộ Bolsa kia, con đường có thật… mà có thật ai đã biết Bolsa? Trần Hưng Đạo một anh hùng của nước ta… nay tại sao thành cái tên lãng xẹt? Người Việt Nam mình vinh danh một người đã chết Vì Non Sông như vậy đó, ngộ ghê chưa? Nước bốn ngàn năm tính tới bây giờ, trang lịch sử nào cũng là trang giấy mục?

Bạn gọi tôi đi chơi cuối tuần, bạn cười mà tôi khóc. Tôi lẻ loi không chỉ một ngày! Tôi tắt phone, tôi ngồi ngó mây bay. Trong bàn tay tôi trái cam còn nguyên vẹn, trong ngực tôi…trái tim mất biến! Ngày cuối tuần bên ly bên chén, tôi có ngồi chung với anh em, tôi chỉ một thây ma!

Coi như đời người… rồi sẽ hưởng hương hoa, tôi xin anh em tặng cho tôi cành hoa mắc cỡ. Tôi xin anh em cho tôi mắc nợ. Tôi xin anh em cho tôi xấu hổ Thiên Thu!

Trần Trung Tá

NHỮNG ANH THƯ THỜI ĐẠI

Chính bạn phải là sự thay đổi mà bạn muốn thấy trên thế giới.
Mahatma Gandhi

Lịch sử của dân Do-thái thuật lại trân chiến hy hữu giữa một cậu bé và một tên khổng lồ. Chuyện xảy ra vào giữa thế kỷ 11 trước Công nguyên, khi hai đội quân của Philitinh và Do-thái dàn trận hai bên triền núi của thung lũng Elah. Tên khổng lồ tên Gô-li-át, người thành Gát, và cậu bé dáng nhỏ thó tên Đavít.
Gô-li-át to lớn thế nào. Sách Cựu ước tả hắn “…cao cỡ 3 thước đầu đội mũ chiến bằng đồng, mình mặc áo giáp đan kết bằng nhưng mảnh đồng hình vảy cá, nặng năm mươi ký. Chân nó mang tấm che cũng bằng đồng, vai đeo cây lao bằng đồng, bên hông treo thêm thanh kiếm. Cán giáo của nó như trục khung cửi thợ dệt; và mũi giáo của nó bằng sắt, nặng sáu ký…” Đó là đoản giáo của Gô-li-át dùng làm vũ khí để áp đảo địch thủ khi cận chiến. Tính ra áo giáp bao bọc từ đầu xuống chân, thêm lao, kiếm, và giáo nặng nề, Gô-li-át khoác lên người mấy chục ký mỗi đi vào trận chiến. Cây đoản giáo được nhà viết sử Moshe Garsiel diễn tả, “loại giáo với mũi sắt sắc bén nặng chình chịch, đuôi giáo được cột bằng một sợi giây sắt nằm trong tay Gô-li-át trở thành một vũ khí độc đáo. Mỗi khi Gô-li-át vung cánh tay vạm vỡ ném đoản giáo ra, cây giáo có thể xuyên thủng cả thuẫn lẫn áo giáp bằng đồng của địch thủ.” Không một ai dám đối diện với tên khổng lồ Gô-li-át. Toàn dân Do-thái khiếp sợ trước sức mạnh vô song của Gô-li-át là điều dễ hiểu.
Còn hình dáng của Đavít ra sao? Đavít chỉ là một cậu bé đang lớn. Một kẻ chăn chiên, tay cầm gậy xua chó, trên vai treo môt cái ná (sling) bắn đá, một loại đá nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay của cậu. Khi biết ý định Đavít sẵn sàng ra trận đối đầu với Gô-li-át, vua Sa-un trao cho cậu chiếc áo giáp và thanh kiếm của vua. Cậu bảo, “nặng như thế làm sao tôi vác nổi.” Rồi cậu lững thững ra trận với niềm tin sắt đá là sẽ hạ gục địch thủ. Chuyện gì xảy ra sau đó ai cũng biết, và câu chuyện được truyền tụng qua hơn ba nghìn năm, Đavít dùng ná bắn cục đá vào ngay giữa trán của Gô-li-át. Hắn ngã ngữa, chết tốt. Đavít dùng gươm của hắn cắt đứt đầu. Cậu bêu đầu lâu của Gô-li-át về phía hàng ngũ của quân Philitinh và cả đoàn quân bỏ chạy toán loạn. Quân Do-thái đại thắng.
Về sau, câu chuyện tiêu biểu này được dùng để diễn tả một cuộc đối đầu không cân sức, quá chênh lệch về mọi mặt. Trong cuộc chiến với quân thù, một sự chênh lệch chỉ mang lại thất bại. Khi con người đối đầu với nghịch cảnh cũng thế, những khó khăn khiến người ta ngã quỵ. Câu châm ngôn, “cái khó bó cái khôn” khuyến cáo con người khi phải đối phó với hoàn cảnh khắc nghiệt. Thế mà vẫn có người nhìn trừng trừng vào nghịch cảnh, kiên quyết chiến đấu đến cùng. Một cuộc đọ sức xem ra chỉ chuốc lấy thất bại, thế mà kết quả thật không ngờ. Nực cười châu chấu đá xe, Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng. Đavít đã chiến thắng một cuộc chiến không cân sức.
Sự chiến thắng bất ngờ của cậu bé chăn chiên thuở nào đã là niềm cảm hứng cho nhiều người. Mỗi khi đối diện với nghịch cảnh, hình ảnh Đavít tay cầm ná, chân đạp lên ngực của tên Gô-li-át khổng lồ nằm ngửa trên đất, giúp người ta phấn chấn, vượt khó khăn kiên quyết tiến về phía trước. Không gì ngăn cản được họ đứng dậy với quyết tâm phải hành động. Có thể họ sẽ không bao giờ nếm được mùi chiến thắng như Đavít, nhưng ít ra họ đứng dậy để làm một cái gì đó, chứ không chịu thua số phận. Không thành công cũng thành nhân (Nguyễn Thái Học). Họ sống đúng nghĩa một con người. Niềm mơ ước của họ là thay đổi tình thế hiện tại, làm cho nó tốt hơn, hoàn thiện hơn. Tôi hân hạnh biết được hai cô gái với niềm mơ ước thay đổi bộ mặt xã hội, tuổi đời cách nhau không bao nhiêu, nhưng họ đang làm chuyện đội đá vá trời như thế.
Phoenix Hồ Phụng Hoàng sinh ra ở Việtnam nhưng lớn lên ở Hoa kỳ. Cha cô là một giáo sư, hiệu trưởng một trường nổi tiếng ở Đà nẵng. Mẹ cô là nữ sinh và giáo sư Đồng Khánh, Huế. Ngoài thơ phú văn chương, mẹ cô còn là một họa sĩ, nhà điêu khắc. Nhìn chung, Phụng Hoàng hấp thụ được nguồn tri thức dồi dào từ người cha và nét nghệ thuật phong phú từ người mẹ.
Biến cố 75 đổ ập lên gia đình. Dĩ nhiên, ba mẹ đều mất việc phải lam lũ tay chân để nuôi sống gia đình. Phụng Hoàng ra đời trong hoàn cảnh khó khăn đó. Cha cô long đong tìm cách vượt biển suốt mấy năm. Mãi đến năm 1980, cha cô may mắn vượt biển đến được bờ tự do. Và mãi đến năm 1990, lúc cô được 14 tuổi, gia đình cô mới được đoàn tụ với người cha tại Hoa kỳ. Những năm đèn sách ở Hoa kỳ trang bị cho cô một kiến thức vững chãi về ngành Kinh doanh Quốc tế. Thế nhưng cô vẫn thấy chưa bằng lòng với mảnh bằng trong tay. Vài năm sau, cô lấy thêm hai mảnh bằng Cao học (bây giờ gọi là Thạc sĩ) ngành Tư Vấn Hướng Nghiệp, và Lãnh đạo & Quản lý Giáo dục. Với ba mảnh bằng trong tay, giấc mơ của nhiều người, cô vẫn thấy bâng khuâng, trăn trở với nỗi niềm nặng trĩu. Nỗi thao thức lờ mờ chưa rõ nét, mỗi ngày đè nặng trong tim cô, và bóng dáng quê nhà hiện rõ dần trong tâm trí. Phụng Hoàng bâng khuâng nhìn về quê hương thấp thoáng những cánh đồng lúa đơm bông thơm ngát cùng lũy tre làng xanh ngắt, và chợt nhận ra một xã hội đang cần những bàn tay nâng đỡ tương lai cho lớp người trẻ.
Đó là bước ngoặt lớn lao nhất trong cuộc đời của Phụng Hoàng.
Phải gọi là một khúc quanh gắt, một ngã rẽ quan trọng chỉ vì quan niệm của cha cô hoàn toàn khác hẳn. Người đàn ông một thân liều mình vượt tuyến bằng đôi chân năm 1954 vào Nam để xây dựng cuộc sống. Biến cố 75 lại đẩy ông thêm một lần vượt biển để tìm tự do. Ông tìm mọi cách để đưa con cái đến bến bờ bình yên để chúng tự do hấp thụ và phát triển theo khả năng Chúa ban. Hai lần vượt thoát sống chết thì không lý nào đứa con út lại quay trở về mảnh đất ông đã đau xót rời bỏ mấy chục năm trước đây. Ông buồn nhưng vẫn tôn trọng quyết định của đứa con gái út.

Cô ngồi xuống bên người đàn ông hết lòng yêu thương, người mà cô gọi là ba, với lời lẽ trìu mến: “Những ngày gần đây, con có cảm giác cuộc sống mỗi lúc một rõ ràng hơn trong mắt con. Thật trùng hợp là con vừa làm giải phẫu mắt cận, và tương tự vậy, sau mỗi một ngày, mắt con thấy thế giới quanh mình một cách rõ ràng, trung thực, và lung linh màu sắc hơn. Con nhận ra những giá trị sâu thẳm trong trái tim mình, lý tưởng sống của mình, khả năng của mình, niềm đam mê của mình, và con đường mình chọn. Cuộc hành trình phía trước dĩ nhiên con không thể đoan chắc kết quả, nhưng con tin khi mình sống thật với chính bản thân mình, thì cuộc sống luôn tràn đầy bình yên và hạnh phúc. Và điều này cũng mang lại niềm vui cho những người quanh con, mà người quan trọng nhất là Gấu, con trai của con.” Cô tha thiết hơn, “…con chọn dừng chân tại Việt Nam vì nhiều lý do. Hãy nghĩ về môi trường con làm việc như hai miếng bọt biển. Cali là miếng bọt biển đã được thấm đầy một nửa, Việt Nam là miếng bọt biển khô rang, còn con là nước. Ở Việt Nam, với chuyên môn, kinh nghiệm, và tâm huyết của con, con thấy mình làm được rất nhiều việc tốt mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây. Và hiệu quả của việc làm con, con có thể thấy nó ngay lập tức.”

Đúng như cô tâm sự, Việt nam là miếng bọt biển khô rang, cần nước hơn bao giờ. Làm việc tại Đại học RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology), tọa lạc tại trung tâm Sàigòn, Phụng Hoàng có cơ hội tiếp xúc với các sinh viên và nhận ra cô đã chọn đúng đường. Có lần cô thư cho tôi, “ rất nhiều sinh viên em gặp hằng ngày  là con cái của những người lãnh đạo trong guồng máy nhà nước. Sau nhiều lần tiếp xúc, em nhận ra họ chẳng hiểu gì về ý nghĩa của những danh từ trừu tượng như nhân đạo, bác ái, vị tha, lương tâm… những điều mà em được học dễ dàng từ ba mẹ. Kiến thức khoa học có đủ nhưng họ lại không được trang bị những giá trị tinh thần căn bản trong cuộc sống. Như thế khi vào đời họ sẽ bước khập khiễng. Nếu chỉ cho họ hiểu được ý nghĩa cao đẹp của những giá trị tinh thần như thế, tài và đức giúp họ bước vững vàng trên đường đời, và chắc chắn xã hội sẽ mang bộ mặt nhân bản hơn.” Suốt 3 năm, ngoài công việc tại RMIT, cô bỏ thì giờ ra tận thành phố Vinh, nơi chôn nhau cắt rốn của ba cô, tập họp sinh viên trong “Một Ngày Đồng Hành” để chuyện trò như một người chị. Phụng Hoàng đến nhiều thành phố khác khắp 3 miền để tổ chức những buổi huấn luyện cho học sinh, sinh viên, và ngay cả giáo viên nữa. Nơi chốn cô đến, Phụng Hoàng mang theo trái tim đầy ắp thương yêu và khi từ giã để lại một dấu ấn yêu thương đầy quyến luyến. Tình yêu thương đã nối kết cô với những người chung quanh. Và bây giờ mọi người đều biết đến Phụng Hoàng, một chuyên viên tư vấn hiền lành, trẻ trung, và dễ mến. Cô ân cần với sinh viên và mối thân tình nẩy nở như chị em. Họ cởi mở tấm lòng, giải bày những khó khăn và Phụng Hoàng tận tình giúp họ một hướng đi về nghề nghiệp nhưng đồng thời gieo vào lòng họ một giá trị nhân bản để sau này chính họ sẽ là những người làm thay đổi bộ mặt của xã hội Việt nam.
Khi nghe tin Phụng Hoàng về Việt nam với hoài bão đổi mới bộ mặt của xã hội, bắt đầu từ tầng lớp sinh viên, tôi suy nghĩ về nhiệt huyết của một cô gái trẻ và hoài nghi về kết quả mà cô mơ ước. Sau hơn 8 năm miệt mài với lớp người trẻ, cô đã tìm được một chỗ đứng vững vàng trong môi trường giáo dục tại Việt nam. Trên những tờ báo chuyên về lãnh vực giáo dục, người ta nhắc đến cô. Mới đây, cô xuất bản cuốn sách “Mẹ Dắt Con Đi”, trải tâm tình mẫu tử qua những lá thư mẹ gửi cho con trai, thiên hạ lại có dịp nhắc đến tên Phụng Hoàng, nhất là trên các trang mạng. Tôi còn tìm thấy trên trang Facebook cá nhân của cô những lời yêu thương ấm áp của lớp sinh viên đã được cô dìu dắt một thời gian. Lớp người trẻ ngập ngừng ở ngưỡng cửa cuộc đời nhưng tự tin bước vào xã hội, vì họ đã được trang bị với trái tim nồng ấm yêu thương, như Phụng Hoàng, và nhìn tha nhân bằng đôi mắt nhân ái. Họ đã bỏ trường lớp một thời gian nhưng vẫn nhớ đến người chuyên viên tư vấn khả ái Phoenix Phụng Hoàng.
Hóa ra tôi lầm. Với hoài bão ban đầu khiêm tốn, Phụng Hoàng đã đạt được một kết quả nào đó như cô mơ ước. Tuy nhỏ nhoi, nhưng vẫn là hoa trái đầu mùa mà gần chục năm trước tôi lắc đầu hoài nghi. Giấc mơ của Phụng Hoàng cũng là giấc mơ của nhiều người còn nặng lòng với quê hương dân tộc. Tôi lại biết một cô gái khác, ươm cùng một giấc mơ thay đổi bộ mặt xã hội Việt nam, như Phụng Hoàng, nhưng tìm một con đường khác, gay gắt hơn, mạnh mẽ hơn, và có lẽ chông gai hơn.
Đó là Jocie (Jocelyn) Nguyễn Ngọc Khánh.
Khánh sinh ra trong hoàn cảnh bần cùng khốc liệt của đất nước, và nghiệt ngã của riêng gia đình. Người cha mang cấp bậc Thiếu Tá trong quân đội VNCH, và bị đi tù cải tạo ròng rã hơn 7 năm. Tàn tạ khi trở về, ông vẫn bương chải kiếm sống để nuôi 4 đứa con gái. Và Ngọc Khánh ra đời trong thời gian này. Người ta tin Ngũ Long thường mang lại phúc lộc cho gia đình, nhưng không phải thế, cả miền Nam vẫn còn đắm chìm trong tang tóc của chia ly, của chết chóc vì người cha mất xác từ các trại cải tạo, mẹ vùi thây tại những vùng kinh tế mới rừng thiêng nước độc… thì gia đình nhỏ nhoi 7 người của Khánh cũng hứng chịu những tai ương chung như cả nước. Người miền Nam khoảng thời gian này đói meo, đói như chưa từng đói, và cũng chẳng còn gì bán cho dân miền Bắc để mua lấy miếng ăn. Nghĩ cho cùng, gia đình vẫn có phúc vì người cha còn gượng hơi tàn trở về thấy mặt vợ con sau hơn 7 năm bị hành hạ dã man trong trại cải tạo. Hom hem, ốm yếu, nhưng vẫn còn hình hài và hưởng niềm vui đoàn tụ với vợ con. Nhưng hồng phúc lớn nhất là cả gia đình được ra đi vào đầu năm 1990 theo diện H.O.
Lúc đó, Ngọc Khánh mới 6 tuổi. Không gì hạnh phúc bằng hạnh phúc gia đình, gồm đủ cha mẹ và 4 người chị. Khánh lớn lên như bao cô gái khác, theo đuổi việc học, tốt nghiệp Cử nhân ngành Kinh doanh, có việc làm nhưng cô vẫn ưu tư dằn vặt vì quá nhiều câu hỏi quay cuồng trong tâm trí. Có lẽ thắc mắc đầu tiên từ 7 năm tù của người cha. Tại sao cha cô lại đi tù? Cô là người Việt, cô biết chắc chắn vì cô vẫn nói sõi tiếng Việt, nhưng tại sao gia đình cô lại ở Mỹ trong khi họ hàng thân thuộc lại sống ở Việt nam? Lý do gì khiến cha cô quyết định ra đi? Những câu hỏi ấy cứ lẩn quẩn mãi trong đầu của cô gái vừa ngoài hai mươi. Và cô dứt khoát phải tìm cho được câu trả lời thỏa đáng.
Bắt đầu từ thư viện. Cô mầy mò lục tìm sách vở để hiểu rõ cuộc chiến Việt nam. May mắn là khi cô lớn lên, mạng lưới toàn cầu ngày càng tinh vi, nên việc tham khảo tài liệu dễ dàng hơn, cập nhật kiến thức phong phú hơn. Ngọc Khánh bỏ khá nhiều thì giờ tìm hiểu, vì còn bận rộn qua những chuyến công tác thường xuyên. Một thời gian dài, qua hỏi han người cha, qua chuyện trò với bậc cha chú, và cô hiểu được tại sao một người Việt như cô lại phải sống ở xứ người. Từ khi hiểu được thân phận, Khánh suy nghĩ nhiều về quê nhà, lòng đã bớt khắc khoải nhưng lại bắt đầu băn khoăn về hiện tình đất nước. Cô thả tầm mắt về quê hương, và quyết định bước vào con đường đấu tranh cho một xã hội Việt nam công bằng hơn.
Ngọc Khánh tham gia sinh hoạt chính trị bằng con đường khá chông gai. Cô xả thân bước vào con đường gập ghềnh, khúc khuỷu với trái tim nồng nàn, yêu Mẹ Việt nam, yêu thế hệ trẻ đang chìm trong bất công, mê muội. Những buổi điều trần, những cuộc biểu tình, hoặc bất cứ vấn đề gì làm cho xã hội Việt nam tươi sáng hơn, nhân bản hơn, cô đều có mặt, đôi khi phải đến tận nơi cách xa vài nghìn cây số. Cô tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để nối kết với các bạn trẻ trong nước. Số người theo trang facebook của cô lên đến hàng nghìn, và dĩ nhiên trong số đó cũng có những dư luận viên, những kẻ ăn lương của nhà nước để nhục mạ nhân phẩm, chống phá tư tưởng của cô. Chông gai ở chỗ đó.

Một dịp về thăm gia đình, tôi ngồi bên Ngọc Khánh để nghe cô tâm sự về đường đời, về lý tưởng cao cả, và về con đường đấu tranh của cô. Tuổi ngoài 30 của Ngọc Khánh, có thể xem là đàn chị của thế hệ thứ hai. Xin ghi lại đây như là một thông điệp cho thế hệ con cháu chúng ta.
Hỏi. Sự kiện nào đã thúc đẩy cô quan tâm đến hiện tình đất nước VN?
Đáp. Đó là một quãng thời gian dài hun đúc em để yêu mến quê hương. Dĩ nhiên, bắt đầu từ gia đình. Ba mẹ em luôn dạy dỗ em với mẫu mực của một truyền thống Việt, biết quý trọng người già cả, yêu quê hương, yêu dân tộc. Ngay từ lúc 8-9 tuổi, đi sinh hoạt Hướng đạo, cuốn tập của em luôn có hình cờ vàng đặt ở trang đầu. Ở tuổi thiếu niên, em mầy mò đọc lịch sử Việt, và hiểu được truyền thống chống xâm lăng của những vị anh hùng. Mãi sau này khi lớn lên ra đời, em được tiếp xúc với những bậc cha anh, những người đã xả thân vì miền Nam, vì tổ quốc và thấm thía ý nghĩa cao đẹp của thành ngữ “non sông gấm vóc”. Những người trẻ ở hải ngoại ít quan tâm đến hiện tình VN, có lẽ tại vì họ chưa đọc lịch sử Việt. Vì vậy, em khuyên các bậc cha mẹ nên giải thích (một cách nào đó) cho con cái hiểu được nét hào hùng của lịch sử dân tộc Việt nam. Một khi đã biết và hiểu, thế hệ trẻ ở hải ngoại sẽ hãnh diện và quan tâm nhiều hơn đối với tình hình xã hội ở VN.
H. Ngoài việc tham khảo sách vở về lịch sử Việt, cô còn tìm hiểu gì về các lãnh vực khác?
Đ. Em rất thích đọc những sách về chính trị, cũng như theo dõi các phim tài liệu. Gần đây em xem được bộ phim “Thảm Họa Đỏ” và hiểu thêm về lãnh địa, lãnh hải của nước VN. Em rất ủng hộ lập trường của đài phát thanh “Đáp Lời Sông Núi.” Những phương tiện truyền thông này giúp chúng ta hiểu rõ căn tính của người Việt, và nhất là giới trẻ hải ngoại sẽ hiểu được tại sao cha mẹ họ lại có mặt ở đây, tại sao cả gia đình phải lánh nạn cộng sản. Em đang đọc cuốn hồi ký Revolution 2.0 của Wael Ghonim, một giám đốc của Google tại Ai-cập, và Wael đã dùng phương tiện truyền thông để loan tải những bất công của xã hội, giúp dân chúng hiểu rõ mặt trái của chính quyền. Anh cũng là một trong những người hướng dẫn cuộc nổi dậy Ai-cập (Arab Spring) tạo ra cuộc cách mạng nhung trong các nước Hồi giáo năm 2011. Em nghĩ giới trẻ trong nước cũng thế, hãy dùng các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại để loan tải những tin tức lề trái. Hiểu rõ những bất công đang xảy ra trên đất nước mình để thấy hành động của mình tương xứng hơn, giá trị hơn.
H. Khi xả thân vào các phong trào đấu tranh dân chủ để đòi hỏi một xã hội VN công bằng, liệu việc sinh nhai của cô có ảnh hưởng gì không?
Đ. Thật ra rất khó. Làm thế nào để quân bình giữa công việc sinh nhai và thời gian phục vụ cho lý tưởng; nhất là khi lý tưởng và việc làm của em có khoảng cách địa lý hơn nửa vòng trái đất. Ngoài 40 tiếng làm việc mỗi tuần, phải có thì giờ cho gia đình, cho bạn bè, và cần phải ngủ nữa. Thế thì thời giờ đào đâu ra? Em mơ ước có một công việc nào đó để em thỏa mãn được cả hai. Khó là ở chỗ đó. Lúc mới ra trường, em chuyên về marketing nên làm trong ngành advertising. Công việc này đòi hỏi em phải đi đây đi đó nên suốt thời gian đầu em chẳng làm được gì cho lý tưởng. May mắn là gần đây, sau 10 năm tìm kiếm, em kiếm được một diễn đàn và nó vừa giải quyết được chuyện sinh nhai, đồng thời giúp em tăng thêm kiến thức về lãnh vực chính trị. Dĩ nhiên, em không dùng diễn đàn của họ để thực hiện lý tưởng của mình, nhưng nhờ nó mà em thực hiện lý tưởng một cách hiệu quả hơn. Em thật sự may mắn nhưng không hẳn ai cũng được thế. Tùy theo quan niệm sống của mỗi người để hài hòa giữa gia đình, việc làm, và lý tưởng. Sự hy sinh cần phải đặt ra để tìm được sự quân bình, hoặc bỏ bớt vật chất để có thì giờ với gia đình, và theo đuổi lý tưởng, hoặc dành hết thời gian để kiếm tiền và quên đi lý tưởng của đời mình. Như thế, một người khi xả thân vì đại cuộc, sẽ tự tìm ra một ưu tiên nào đó để thích nghi với hoàn cảnh.
H. Theo cô, giới trẻ ở VN hiện thiếu điều gì?
Đ. Họ dư thừa nhiều và cũng thiếu thốn nhiều. Em tiếp xúc được khá nhiều bạn trẻ ở trong nước qua mạng lưới FB và nhận thấy họ thiếu điều kiện để vươn lên. Điều kiện bắt nguồn từ lý lịch. Các bạn trẻ không hiểu tại sao đất nước đã thống nhất sau một thời gian dài mà lý lịch vẫn là điều kiện tiên quyết để định đoạt mọi việc. Nếu lý lịch “xấu” (xin để chữ xấu trong ngoặc kép) thì cho dù thông minh đến mấy vẫn không có cơ hội để vươn lên. Bởi vậy, nhân gian truyền miệng một câu nghe thật đau lòng, “tiền tệ, quan hệ, trí tuệ, mặc kệ.” Trí tuệ đứng khiêm tốn ở hạng 3, và sự chán nản biểu lộ qua hạng 4 là thái độ mặc kệ. Tuổi trẻ VN không thiếu sự thông minh, năng động, và nhiệt huyết, nhưng cơ hội như một cánh cửa khóa chặt, và rất nhiều tài năng bị gạt bỏ sang bên lề xã hội, và rất có nhiều kẻ bất tài nhưng lại có “tiền tệ và quan hệ” nên trở thành những kẻ lãnh đạo. Tuổi trẻ VN không được sử dụng đúng mức và đúng cách và dẫn đến một sự lãng phí về trí lực. Khi hoàn toàn đứng ngoài căn nhà cơ hội, tuổi trẻ VN lại sống bít bùng trong một căn nhà khác lớn hơn, không có cửa sổ, ngột ngạt, đầy thán khí của bất công. Bởi vậy, em thường viết cho họ rằng tương lai của bọn em và của các thế hệ sau này hoàn toàn tùy thuộc vào suy nghĩ và hành động của chính bọn em bây giờ. Tụi chị đứng ngoài này sẽ hết lòng ủng hộ bọn em, nhưng vận mệnh của đất nước phải do chính bọn em định đoạt.
H. Đó là bộ mặt của xã hội bây giờ. Ai cũng biết thế, nhưng làm thế nào để họ thay đổi được đây, theo ý cô?
Đ. Điểm lại tất cả những cuộc cách mạng từ trước đến nay, bất cứ một thay đổi nào đều bắt nguồn từ bên trong, và từ giới trẻ. Muốn thế, trước hết họ phải vượt qua sự sợ hãi. Có nhiều nỗi sợ hãi: sợ bị gắn nhãn hiệu phản động, sợ bắt bớ, sợ tù đày. Phải xác nhận rằng đây là một phản ứng tâm lý bình thường của con người. Trước đàn áp, trước bạo lực, như những người lính lần đầu ra trận, người ta đều sợ hãi. Nhưng nếu cứ tiếp tục sợ hãi mãi thì thế hệ này sẽ có tội với thế hệ cha ông, và có lỗi với thế hệ con cháu, vì khi tổ quốc lâm nguy, cả một thế hệ chẳng làm gì cả.
H. Những người đấu tranh, một khi lâm vào cảnh tù đày, sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống không những của chính người đó mà cả những người thân trong gia đình, ý tôi nói đến vấn đề kinh tế vì họ là cột trụ, là người làm ra tiền để nuôi gia đình. Cô có chia sẻ gì về chuyện này?
Đ. Gần giống như câu hỏi làm thế nào để quân bình giữa cuộc sống và lý tưởng. Mỗi người một hoàn cảnh, nên khó có một mẫu mực chung để áp dụng cho mọi trường hợp. Nhưng họ đều có một mẫu số chung, đó là sự hy sinh cho lý tưởng mình đã chọn. Lấy ví dụ, em rất mến mộ Việt Khang, vì anh đã sử dụng tài năng để phục vụ cho lý tưởng, cho dù anh bị bắt bớ và lâm cảnh tù đày. Như những nhà đấu tranh khác, anh còn trách nhiệm với vợ con, thế mà anh vẫn hy sinh ngồi tù, theo đuổi lý tưởng đến cùng. Những lúc khốn khó này, em nghĩ những người đấu tranh cần sự ủng hộ tinh thần trước hết của thân nhân ruột thịt, và cả chúng ta ở bên ngoài nữa. Chắc chắn đường đấu tranh sẽ chông gai, gập ghềnh, đôi khi phải đổi cả tính mạng, vì thế mới cần hy sinh. Còn chúng ta ở hải ngoại, bằng một cách nào đó, giúp đỡ họ, mỗi khi gia đình họ lâm cảnh túng bấn.
H. Con số những người tranh đấu cho tự do dân chủ ngày càng tăng. Rõ ràng ngày càng nhiều người muốn thay đổi bộ mặt của xã hội. Những kẻ đấu tranh rất cần sự ủng hộ tinh thần và vật chất của những người như Jocie ở hải ngoại. Như thế, phải đào luyện giới trẻ ở hải ngoại để họ tiếp nối con đường của chúng ta đang đi bây giờ. Vì tầm quan trọng của giới trẻ hải ngoại trong tương lai, cô có đôi lời nhắn nhủ với thế hệ này không?
Đ. Ồ, chuyện lớn lao quá làm sao em dám khuyên với nhủ, (cười). Em chỉ xin chia sẻ như thế này. Giới trẻ hải ngoại cần tìm hiểu gốc gác của mình. Có lẽ không đòi hỏi giới trẻ hải ngoại phải cầm cờ xuống đường biểu tình, nhưng họ phải ý thức được sự hiện diện của họ trên đất nước này. Tại sao họ hiện diện trên đất nước này? Xa hơn, tại sao cha mẹ họ phải sống ở đây? Điều gì đã xô đẩy bậc cha anh ra khỏi nước Việt nam? Như em, một điều em rất tiếc là chiếc áo dài. Em qua Mỹ từ lúc 6 tuổi, nên lớn lên và đi học không có dịp mặc chiếc áo dài như mẹ em, như chị em thuở cắp sách đến trường. Một tà áo dài bay theo gió chỉ là một mất mát nhỏ, trong muôn vàn mất mát mà em không thể có, chỉ vì em đang sống tại Mỹ. Kỷ niệm của mẹ em, của những người chị rất giống nhau vì họ sinh ra và lớn lên ở Việt nam. Riêng em lại khác, kỷ niệm tuổi thơ của em khác rất nhiều, thiếu con đường rợp bóng cây khi đi học về, thiếu nét hồn nhiên, bước chân tung tăng của một nữ sinh. Em lớn lên thiếu hẳn những hình ảnh đó. Những mất mát đó do đâu? Nếu tuổi trẻ hải ngoại biết đau đớn vì những mất mát đó, thì họ sẽ tìm cách để hiểu rõ căn tính của họ, cho dù họ đang sống ở đâu trên thế giới.
Cuốn phim Roots em rất thích, kể lại hành trình bi tráng của một gia đình gốc Phi châu. Sau gần 200 năm, trải qua bao nhiêu đời, một hậu duệ đi tìm lại nguồn gốc của anh. Người Việt mình mới tỵ nạn hơn 40 năm, vẫn còn kịp thời gian để xác định lại căn tính của mình. Bắt đầu từ gia đình, cha mẹ phải cho con cái biết chỉ vì hai chữ “tự do” mà cả gia đình sống lưu lạc ở xứ người. Cũng như gia đình gốc Phi châu trong phim Roots, chỉ vì hai chữ “nô lệ” mà họ có mặt trên đất nước Hoa kỳ.
H. Lời cuối với tuổi trẻ trong nước.
Đ. Em luôn khuyến khích họ dùng các phương tiện truyền thông chưa bị nhà nước kiểm soát để học hỏi nâng cao kiến thức, và để liên lạc nâng đỡ nhau. Nên nhớ cuộc cách mạng nhung thành công là nhờ các phương tiện truyền thông nằm ngoài luồng kiểm soát của chính phủ. Một cuộc cách mạng rất ít hao tổn xương máu. Hơn nữa, nâng cao kiến thức để không bị lừa, vì kiến thức là sức mạnh. Em không hề kêu gọi tuổi trẻ trong nước bạo động để lật đổ chế độ. Em chỉ kêu gọi họ tranh đấu để có một thay đổi, để bộ mặt xã hội công bằng, tươi sáng hơn với công lý được tôn trọng. Em ủng hộ bất cứ lá cờ nào mang lại lợi ích cho dân tộc. Thể chế nào cũng được, miễn là thể chế đó bảo đảm sự ấm no cho toàn dân.
H. (ngắt lời)… coi chừng lại gặp phải “bình mới nhưng rượu cũ”. Chỉ thay đổi bề ngoài nhưng lõi cốt vẫn như cũ…
Đ. Những người trẻ đủ thông minh để thấy chứ. Sự thay đổi phải đưa đến một kết quả tốt hơn chứ. Nếu không thì không thể nào gọi là thay đổi được.
Tôi ngồi thừ người, nghĩ đến một Phụng Hoàng đang miệt mài bên những sinh viên trẻ, và đây, ngay trước mặt tôi, một Ngọc Khánh cũng đang ưu tư về tương lai của giới trẻ. Như tâm sự của Phụng Hoàng, “…con không biết vì ba đặt tên con theo một loài chim bay cao, bay xa, mà con có những lý tưởng cao vời, hay vì cá tính con là trộn lẫn giữa ba và me, hay vì môi trường lúc nhỏ đã ảnh hưởng đến con, nhưng con biết cuộc đời này mình muốn như ngọn đuốc yêu thương chiếu sáng được lúc nào hay lúc đó. Đó là ước mơ và lẽ sống của con.” Cánh chim đó đã bay suốt một quãng đường dài, vượt biển Thái bình, và xếp đôi cánh đậu lại trên quê hương. Cô soải cánh ôm ấp lấy giới trẻ Việt nam, che chở và dìu dắt họ. Việc làm của Ngọc Khánh, như tiếng ngân nga của chiếc khánh vang lên khi bắt đầu buổi tụng niệm, là lời nguyện tha thiết cho một xã hội Việt nam tươi sáng.
Con đường của Phụng Hoàng như một tiến hóa (evolution), cần thời gian để hoàn tất. Con đường của Ngọc Khánh lại như một cuộc cách mạng (revolution), rút ngắn thời gian. Cả hai phụ nữ, khoảng cách địa lý xa hơn nửa vòng trái đất và đi hai con đường khác nhau, đều ươm chung một giấc mơ về một xã hội công bằng hơn, nhân ái hơn và nhờ những bậc anh thư của thời đại như thế, quê hương Việt nam – một ngày không xa – sẽ chói lòa ở trời Đông.

SƠN NGHỊ

TÊN DU ĐÃNG VÀ BÀ NỘI NHỎ

Tên Du Đãng là Fan của những thần tượng Trần Đại, Lê Hùng… nghĩa là những tay giang hồ anh hùng mã thượng thực hư khét tiếng trong… tiểu thuyết của Duyên Anh, là đệ tử chân truyền của sư phụ Trần Đình Cãi… từng lên võ đài tỉ thí nhiều lần khi thắng khi thua chớ nhất định không bao giờ chịu hòa . Và quan trọng hơn hết là… bạn hàng xóm của Bà Nội Nhỏ.
Tên Du Đãng nguyên không phải là du đãng mà từng là một chàng du ca tài hoa lãng tử trong nhóm Tuổi Trẻ Hôm Nay của thầy Quang. Chúa ơi! Nhìn chàng ôm đàn đến giữa đời là mấy trăm đôi mắt hai mí, một mí, lá răm, lá mít, bồ câu, bồ hòn… gì gì đi nữa cũng đều đứng hình, nhìn chàng không chớp, chỉ mong có cơ duyên mang chàng, ủa quên, ủa quên, mang tiếng hát của chàng về bỏ túi riêng không cho ai nghe ké!
Duy chỉ có đôi mắt một mí rưỡi của Bà Nội Nhỏ là vô cùng hờ hững, bởi đêm nào chàng hàng xóm này chẳng lây lất cùng 4 đứa em trai của Bà Nội Nhỏ trống kèn đàn hát um sùm cạnh mấy chậu Quỳnh trên sân thượng đến nỗi Bà Nội Nhỏ phải gào lên: “Im đi giùm chút cho tui học có được không hả!!!”(Phải chăng sau này ” Quỳnh Hoa Mấy Cội” manh nha ra đời từ những đêm trăng sáng đó để làm điêu đứng giới giang hồ ca nhạc?)
Lại chỉ có Bà Nội Nhỏ quan tâm phê phán bằng cách tạt một gáo nước lạnh ngắt:”Quỳnh Hoa Mấy Chậu thì có!” Và cũng rất tử tế băn khoăn góp ý: “Theo tui,cội là cái gốc cây bự sự á Còn Quỳnh thì mong manh từng nhánh. Đừng có mà ỷ có chút hoa tay viết này kia khác nọ để làm sai lạc ngữ nghĩa. Đời sau lại u u minh minh, tốn giấy tốn mực bút chiến om sòm, mất công cãi lộn!”
Bà Nội Nhỏ rất dư hơi nhiều chuyện, nhưng ngẫm đi nghĩ lại, cân đếm đong đo, có Bà Nội Nhỏ cuộc đời thêm tốt đẹp nên Chàng Du Ca(trước khi biến thành Tên Du Đãng) gật gù đồng cảm và mãi mãi thập phần yêu quý!

Bà Nội Nhỏ nguyên chỉ là một con nhóc, đo với 4 đứa em trai thì Nó chỉ đứng ngang vai. Khi mấy đứa em chở đi đâu đó, ngồi sau xe cứ bị bọn bạn tụi nó hỏi: “Con nhóc đó là ai?” Bà Nội Nhỏ cứ hất cái mặt nghinh nghinh lên trời chứng tỏ ta đây người lớn, không thèm quan tâm. Bà Nội Nhỏ còn có một biệt tài rất dễ ghét là không cười không nói ở chốn đông người, làm như là Ở Chốn Nhân Gian Không Thể Hiểu!!! Bởi vậy giang hồ đồn đoán Nó ngọng, Nó cà lăm hoặc câm hoặc nặng tội hơn là khinh người. Bởi ông bà ta mới nói: đừng nghe lời đồn đãi, cứ một trăm lời đồn là có tới 99 lời rưỡi là sai! Tội, Nó bị oan bị ức, Nó chỉ hơi tự kỷ chút xíu và thiếu tự tin khi cạnh Nó không có vài… chục người mà Nó tin tưởng yêu thương.

Nhưng nói cho công bằng là Nó khá xinh, nên đi học về cũng có vài cái đuôi đi theo… mà đâu phải cái đuôi nào cũng hiền lành kiên nhẫn… Gót giày lặng lẽ đường quê… đâu trời, cũng có cái đuôi du côn du kề quá đáng!
Cái Đuôi này học trường Kỹ Thuật,(nếu cần thiết Nó cũng gặp được thầy Hiệu Trưởng Lại Kim Tỵ của trường Kỹ Thuật để mét dễ dàng, nhưng Nó chép miệng: Chuyện trẻ con, để trẻ con giải quyết với nhau!), là con ông to bà lớn (nhiều năm sau gặp lại ở Bolsa, trong một văn phòng khai thuế, cả hai ngờ ngợ nhìn nhau thấy quen quen, và Cái Đuôi chuộc tội bằng cách… lấy thuế nhiều tối đa về cho Nó).
Đẹp trai, con nhà giàu, giỏi võ, học dốt và quen thói du côn, đi theo cả tháng, hỏi han lắm chuyện, làm đủ trò mèo… Nó cũng không thèm trả lời trả vốn, để một mình Cái Đuôi độc thoại. Mất mặt bầu cua với bạn bè, Cái Đuôi giận dữ nẹt pô chiếc Kawasaki tóe lửa xẹt qua mặt Nó ngay cạnh Ty Cảnh Sát, mất hồn nó té xỉu. Cái Đuôi cũng ngã dài. Vậy là còi hụ inh ỏi, cảnh sát có mặt ngay hiện trường gây án, ba nó, bố Cái Đuôi, ông cai trường, Soeur Hiệu Trưởng, Thầy Cô Giáo, và bọn học sinh các trường chung quanh xúm lại coi còn hơn hội chợ. Soeur Hiệu Trưởng chỉ mặt Cái Đuôi đang tái xanh tái mét: “Cậu này từng mang trả lại cái cặp Tiểu Di đánh rơi mà sao bây giờ lại đổ đốn thế cơ chứ?”
Bố Cái Đuôi cũng giận tái mặt:”Thằng khốn kiếp, cho ăn học uổng tiền uổng công.”
Chỉ có ba nó là điềm tĩnh: “Không sao, con bé cứ mất hồn là ngất xỉu, chẳng có gì đâu!”
Nghe tin dữ, Tên Du Đãng từ trường Bồ Đề phóng về bằng tốc độ của âm thanh và ánh sáng để chua xót nhìn cuộc chiến vừa tàn, Bà Nội Nhỏ lên xe để tài xế của ba chở về, Thằng Cái Đuôi cà nhắc dựng lại chiếc Kawasaki… chẳng có hình phạt nào giành cho Cái Đuôi! Tên Du Đãng nổi máu anh hùng giữa đường thấy chuyện bất bình là chết cha mày cái thằng gây án, nhất là dám gây án với… Bà Nội Nhỏ! Và lập tức lên phương án trả thù dù Bà Nội Nhỏ không hề tróc một chút da.
Tên Du Đãng một thân một mình đến Công Viên Bạch Đằng hẹn ân oán giang hồ với thằng Cái Đuôi. Thằng Cái Đuôi có mặc cảm tội lỗi, lại ỷ mình võ nghệ cao cường nên đơn thân độc mã ra chỗ hẹn.
Tưởng một chọi một trên Quang Minh Đỉnh thâm u cổ quái dưới chân Đức Thánh Trần chỉ tay ra biển, không ngờ đã có hàng hàng lớp lớp dân tình đua nhau đứng chờ đông hơn coi xiếc thú. Dân Bồ Đề (phe Tên Du Đãng), Dân Kỹ Thuật (đứng coi chơi vì cho rằng Cái Đuôi làm mất mặt trường), Dân Bá Ninh (gà nhà của Bà Nội Nhỏ) lẫn một mớ cô nương Thánh Tâm đến cổ vũ cho Tên Du Đãng lấy lại công bằng. Chuyện liên quan tày trời đến Bà Nội Nhỏ, nhưng không thấy Nó xuất đầu lộ diện, mấy cô nàng Thánh Tâm chép miệng: Nó là con Thỏ nhát gan ngu ngốc!
Tên Du Đãng dằn mặt bằng cách quàng cái tội sát nhân cho Cái Đuôi:
– Mày âm mưu giết người cướp của?
– Không, tao chỉ giỡn thôi.
– Giỡn kiểu mất dạy vậy hả? Một lần mày đã giật cái cặp của Dee nhưng tao chưa nói!
– Lần đó Dee vất cái cặp bỏ chạy, tao lượm đem tới trả tận tay Soeur Hiệu Trưởng.
– Mày gan ha, Dee nói Dee mất tập thơ chép tay.
-Tao mượn đọc, chưa đọc xong, mai mốt trả.
– Mai mốt cái con… Tao phải lấy lại công đạo.Mày tên Bình? Cái gì Bình?
– Nguyễn Tử Bình. Bộ Dee là bà nội mày hả?
– Tử Hình chớ Tử Bình gì!!! Còn dám xách mé vậy thì mày chết chắc. Tử nè, Hình nè…
Mỗi cái nè nè là Tên Du Đãng xuống tay lên gối không hề thương tiếc. Cái Đuôi đâu phải tay mơ, bởi biết lỗi mình nên nhịn, chỉ tránh đòn mà không trả đũa. Cũng tại nó nhớ câu đe nẹt hôm nọ của Bố nó: “Một lần nữa còn dở thói côn đồ là xách gói đi ăn mày đấy nhé”… Nhưng đau quá đành phải ra tay, thế là hai đứa lao vào nhau bất phân thắng bại, Long Tranh Hổ Đấu mịt mù trời đất. Lẽ ra cuộc chiến không mang màu sát thương ác liệt đến vậy nếu không có cái đám quần hào ồ chấy, đốc khứa và ăn hại hò reo vòng ngoài. Một bên đấu tranh cho chính nghĩa, một bên thà chết không chịu nhuc… nhưng cuối cùng thì chính nghĩa vẫn thắng gian tà, nên SÁT THÁT là tiếng cuối cùng của Tên Du Đãng ném vào Cái Đuôi đang nằm dài dưới đất, và cả đứa thắng lẫn đứa bại cùng thảm hại thở phì phò như 2 con cá voi mắc cạn.
Chưa kể sau đó cảnh sát bắt 2 con cá voi vào bót, viết kiểm điểm, điện thoại cho học đường và gia đình tới lãnh về. Cái Đuôi con ông to bà lớn, được nộp tiền phạt với tội gây rối trật tự công cộng, lên xe hơi mẹ nó trang điểm phấn son vàng ngọc chớp nháy lung linh xót xa chở về ngay. Tên Du Đãng ở cùng ông bà ngoại bất hạnh hơn, gặm một khối căm hờn trong cũi sắt, nhưng từ nay bắt đầu oai trấn giang hồ rồi…
Mãi đến hôm sau khi Bà Nội Nhỏ biết tin, năn nĩ nhờ Ba lên ký tên bảo lãnh. Tội nghiệp, lúc nào Bà Nội Nhỏ cũng là người cuối cùng biết những tin nóng hỗi khi nó đã trở thành nguội ngắt.
Bà Nội Nhỏ giận lắm, chì chiết:”Đã nói bỏ qua hết đi mà còn cứ ra vẻ anh hùng rơm, nó có ô dù, lúc nào cũng được bao bọc bằng chăn êm nệm ấm. Ta nói, chỉ có đồ du đãng mới hơn thua nhau bằng sức mạnh cơ bắp!”
Tên Du Đãng nghĩ thầm: Quả thật, Cái Đuôi nói rất đúng “Bộ nó là bà nội mày sao?” Vì ai mà nên nỗi này đã chớ?
Nhưng một câu khi dễ Cái Đuôi của Bà Nội Nhỏ làm ấm lòng Tên Du Đãng: “Nó có ô dù, lúc nào cũng được bao bọc bởi chăn êm nệm ấm”
Mà sao kỳ, Tên Du Đãng luôn ghét bỏ coi thường những đứa được bao bọc bởi chăn êm nệm ấm trừ Bà Nội Nhỏ.
Chàng Du Ca(từ nay đã trở thành Tên Du Đãng) buồn bã đành ôm đàn hát một lần cuối trước khi giang hồ gọi tên
… và cũng từ đó, Dee( tên cúng cơm là Tiểu Di) cũng được giang hồ chính thức gọi nick name là Bà Nội Nhỏ.

Tôn Nữ Thu Dung

Một ngày tháng chín

Thôi cũng tạ từ nhau tháng chín
Tạ từ. Người có nhớ gì không?
Một lần sum họp rồi hai ngả
Hai nhánh sông xa đến não nùng

Tháng chín. Trời ơi là tháng chín
Để đồi vàng lá ở bên sông
Để sông hun hút bờ vô tận
Để nhớ nhung nhung nhớ chập chùng

Mênh mông. Còn lại đây lòng lạnh
Dường như có những dấu chân êm
Dường như có cả mồ phong diệp
Trên bãi lòng ta đang ngủ yên

Tháng chín. Ừ. tháng này tháng chín
Ngày này như ngày khác. Thời gian!
Sao ta thì khác, ta thì khác
Mùa thu về ai tặng vết thương!

Tặng ta ánh nắng hoàng hôn lụa
Bờ vai gầy, đôi mắt nọ, bờ môi…
Tặng ta cái bóng thời si dại
Tràn ngập lòng xe ấm chỗ ngồi

Giờ đây, tháng chín vàng bên ấy
Bên này, có kẻ lại bâng khuâng
Cầu xưa mấy nhịp dài sông nước
Có nối dùm ta nỗi nhớ mong

TRẦN HOÀI THƯ