VỀ CHIA VẦNG TRĂNG CŨ

 

mây hoan hỉ níu mùa lên gió lộng
khép trên tay ngày tháng úa tuổi buồn
những con đường thơ dại khuất sau lưng
tay cuống quýt lần tìm hơi hướm cũ

nửa mùa thu gối đầu lên hơi thở
bàng bạc trăng lóng lánh ủ tơ vàng
tuổi thơ nào không dan díu cưu mang
nhánh kỷ niệm xanh hoài trong tâm thức

nửa mùa thu của bây chừ…thuở trước
vẫn bồn chồn thương nhớ khác chi nhau
trăng trung thu…trăng tròn vạnh trên đầu
ta chia nửa tình yêu và nỗi nhớ

muốn quay lại dựa lưng ngày tháng đó
bên tuổi thơ mười bốn với mười lăm
bên giấc mơ tròn trịa ánh trăng rằm
với rạo rực sáng bừng đôi mắt biếc

muốn quay về ngồi bên nhau tha thiết
bên tiếng cười với mâm cổ rộn vui
trăng lên cao…trăng dưới đất sóng đôi
ta khúc khích khúc đồng dao rồng rắn

nửa mùa thu tưởng đi vào xa vắng
chợt quay về đánh thức giấc mơ xưa
những buồn vui nói răng hết cho vừa
dù đã giấu vào trong thơ chạm ngõ

muốn quay về chia lại vầng trăng cũ
tuổi mười lăm mười bảy ngát hương hoa
ơi ! nửa mùa thu cũ cứ xót xa
cứ ray rứt bâng khuâng …dài nỗi nhớ

TA MUỐN QUAY VỀ…
CHIA NHAU VẦNG TRĂNG CŨ
TA MUỐN QUAY VỀ…
TÌM LẠI KHÚC CA SAO

DaoLam

CHIỀU SERENADE

 

 

anh lên phố.phố vừa tràn đông bắc
lạnh đủ vừa gây nhớ một bàn tay
nắng hoe vàng lúng liếng mắt ai?say!
anh cúi xuống tìm dấu giày đã cũ

anh lên phố.phố lặn vào khăn gió
thả tóc bơi theo lá.khởi qua chiều
thành phố đồi.thành phố dốc.lượn lờ theo
quán vắng.nhạc ru tình.serenade

mắt ngược xuôi.bần thần.khao khát
một mùa vàng ủ chật áo vàng sương
tóc nào bay trong gió lã ngợp hương
anh cuống quít dựa bóng chiều khắc khổ

anh lên phố.phố dặn dò đừng nhớ
đừng chờ trông.(và cũng nhớ:đừng quên)
dù mất.còn.vẫn mãi một linh duyên
một gặp gỡ đủ mang theo suốt cuối

anh lên phố.phố buồn vui không nói
lặng thầm theo(gánh bớt nỗi cưu mang )
thành phố đồi.thành phố dốc.lang thang
anh nhặt góp để suốt đời mắc nợ

anh lên phố.phố trong veo mắt nhỏ
con đường đêm thơm lựng tóc đuôi gà
bay trong chiều serenade tẩm hoa
anh rón rén lượm nốt trầm cất giấu

anh lên phố.buồn kịp về ở đậu
cứ giật mình thảng thốt biết bao năm
thành phố đồi.thành phố dốc.dẫu xa xăm
vẫn nóng hổi nốt trầm seranade!

Lê Hát Sơn

Dạ Khúc: Năm Câu Chuyện Về Âm Nhạc Và Đêm Buông ( chương 2)

FILE PHOTO: Author Kazuo Ishiguro photographed during an interview with Reuters in New York, U.S. April 20, 2005. REUTERS/Mike Segar/File Photo

 

Khi tôi tới gặp ông Gardner thì đường phố đã khá tối và vắng vẻ. Hồi ấy tôi vẫn còn lạc đường mỗi lần đi xa quảng trường San Marco, thế nên dù đã khởi hành sớm, dù đã biết vị trí cây cầu nơi ông Gardner hẹn, tôi vẫn đến muộn vài phút.

Ông đứng ngay dưới ngọn đèn đường, mặc bộ com lê nhăm nhúm, áo sơ mi mở ba hay bốn nút, có thể nhìn thấy cả lông trên ngực. Khi tôi tạ lỗi đến muộn, ông bảo:

“Vài phút thì có hề gì? Lindy và tôi lấy nhau đã hai mươi bảy năm. Vài phút thì có hề gì?”

Ông không bực tức, nhưng có vẻ nghiêm trọng và âu sầu – không có gì là lãng mạn. Đằng sau ông là chiếc gondola dập dềnh nhẹ nhàng trên sóng, và tôi thấy người đứng thuyền là Vittorio, một người tôi không mấy ưa. Trước mặt tôi, Vittorio lúc nào cũng xởi lởi, nhưng tôi biết – ngay từ hồi ấy – anh ta đi khắp nơi nói đủ thứ chuyện tồi tệ, toàn chuyện đặt điều, về những kẻ như tôi, những kẻ anh ta gọi là “bọn ngoại quốc từ các nước mới nứt mắt”. Thế nên hôm ấy khi anh ta chào tôi hồ hởi như anh em ruột, tôi chỉ đáp lại bằng cái gật đầu, và im lặng đợi anh ta đỡ ông Gardner vào thuyền. Rồi tôi đưa anh ta cầm cây đàn – tôi mang theo cây Tây Ban Cầm, để cây có lỗ ô van ở nhà – và cũng trèo vào theo.

Ông Gardner liên tục xoay trở ở đằng mũi, có một lần còn ngồi phịch xuống đến nỗi suýt làm lật thuyền. Nhưng có vẻ ông không để ý thấy, và khi thuyền rời bờ, ông cứ nhìn đăm đăm xuống nước.

Mất vài phút chúng tôi lướt đi lặng lẽ giữa hai dãy nhà tối đen, chốc chốc lọt qua bên dưới những cây cầu thấp. Rồi ông bứt khỏi những ý nghĩ đăm chiêu mà nói:

“Nghe này, anh bạn. Tôi biết là chúng ta đã thỏa thuận xong các tiết mục tối nay. Nhưng tôi vừa nghĩ nãy giờ. Lindy rất thích bài ‘By the time I get to Phoenix’. Tôi có ghi âm bài đó một lần lâu lắm rồi.”

“Vâng, thưa ông Gardner. Mẹ tôi lúc nào cũng nói bài đó ông hát hay hơn cả Sinatra. Hơn cả cái bản nổi tiếng do Glenn Campbell hát nữa.”

Ông Gardner gật đầu, rồi một lúc lâu tôi không nhìn rõ mặt ông. Vittorio cất tiếng hô báo hiệu vang dội các bức tường trước khi cho thuyền ngoặt qua chỗ rẽ.

“Tôi đã hát cho bà ấy nghe bài này rất nhiều lần,” ông Gardner nói. “Anh hiểu không, tôi nghĩ bà ấy sẽ thích được nghe bài ấy tối nay. Anh có thuộc nhạc chứ?”

Lúc này cây đàn đã ra khỏi bao, nên tôi chơi vài khúc.

“Lên chút nữa,” ông nói. “Lên đến mi giáng. Hồi thu đĩa tôi hát thế mà.”

Thế nên tôi chơi lại đoạn nhạc theo tông mới, và khi đã hết có lẽ cả một đời, ông Gardner cất tiếng hát, rất khẽ khàng, ghìm nhịp thở, như là không nhớ rõ lời. Nhưng giọng ông vọng lại rất rõ trong lòng kênh yên tĩnh. Quả thật là nghe rất tuyệt. Và trong một lúc hình như tôi trở lại làm đứa bé con, ở trong căn hộ, nằm ườn trên thảm trong lúc mẹ ngồi trên xô pha, mệt lử, hoặc có khi sầu não, còn đĩa Tony Gardner thì quay trong góc phòng.

Ông Gardner đột ngột ngưng hát và nói: “Được rồi. Chúng ta sẽ chơi ‘Phoenix’ cung mi giáng. Rồi có thể là ‘I fall in love too easily’, như chúng ta đã bàn. Và kết thúc bằng ‘One for my baby’. Thế là đủ. Bà ấy sẽ không nghe nhiều hơn đâu.”

Sau đó ông lại chìm vào suy tưởng, và chúng tôi cứ thế trôi qua bóng tối trong tiếng khỏa nước nhè nhẹ của Vittorio.

“Ông Gardner ạ”, rốt cuộc tôi nói, “mong ông thứ lỗi câu hỏi của tôi. Nhưng bà Gardner có biết trước cuộc trình diễn này không? Hay đây là một bất ngờ thú vị?”

Ông thở dài nặng nhọc, rồi nói: “Tôi nghĩ chắc là phải xếp vào mục bất ngờ thú vị.” Rồi nói thêm: “Có Chúa biết bà ấy sẽ phản ứng thế nào. Có thể chúng ta sẽ không tới được tận ‘One for my baby’.”

Vittorio cho thuyền ngoặt qua một khúc kênh nữa, và đột ngột nghe vang lên tiếng cười và tiếng nhạc, chúng tôi trôi qua một nhà hàng lớn, đèn đuốc sang trưng. Bàn nào hình như cũng kín khách, các anh bồi lăng xăng hối hả, thực khách đều có vẻ sung sướng, dù ở bên kênh đào vào mùa này trong năm chắc cũng không ấm mấy. Sau cảnh tĩnh mịch và bóng tối chúng tôi vừa đi qua, nhà hàng này gây cho tôi cảm giác bất an. Có vẻ như chúng tôi mới là người đứng yên, đứng trên bến tàu mà ngắm, trong lúc con tàu dạ tiệc lấp lánh ấy trôi qua. Tôi nhìn thấy vài khuôn mặt ngoảnh ra phía mình, nhưng không ai để ý nhiều đến chúng tôi. Rồi nhà hàng đã nằm lại đằng sau, và tôi nói:

“Kể cũng buồn cười. Ông có tưởng tượng được đám khách du lịch ấy sẽ làm gì nếu họ vỡ lẽ là có chiếc thuyền chở Tony Gardner huyền thoại vừa đi qua không?”

Vittorio, dù không khá tiếng Anh lắm, cũng hiểu được đại ý và cười một tiếng nho nhỏ. Nhưng một hồi lâu ông Gardner không đáp lại. Chúng tôi vừa trở lại trong bóng tối, trên một khúc kênh hẹp giữa những cửa ra vào sáng nhờ nhờ, thì ông bảo:

“Anh bạn, anh đã sống tại một nước cộng sản. Chính vì thế anh không nhận ra ở đây thế giới vận hành thế nào.”

“Ông Gardner,” tôi nói, “giờ nước tôi không còn là cộng sản nữa. Giờ chúng tôi là một dân tộc tự do.”

“Tôi xin lỗi. Tôi không có ý khinh thường tổ quốc anh. Các anh là một dân tộc anh dũng. Tôi mong cho các anh chóng được hòa bình và thịnh vượng. Nhưng tôi định nói với anh là, anh bạn, tôi có ý là vì anh sinh trưởng ở quê hương anh cho nên điều tự nhiên là có nhiều chuyện anh chưa hiểu hết. Cũng như sẽ có nhiều điều tôi không hiểu về đất nước anh.”

“Tôi nghĩ là ông nói đúng, thưa ông Gardner.”

“Những người chúng ta vừa đi qua. Nếu anh đến chỗ họ mà bảo, ‘Này, các anh có ai còn nhớ Tony Gardner không?’ thì có thể một vài người trong đó, phần lớn cũng nên, sẽ bảo có. Ai biết được? Nhưng đi thuyền qua như chúng ta vừa rồi, ngay cả nếu họ có nhận ra tôi, liệu họ có phấn khích không? Tôi nghĩ là không. Họ sẽ không buông nĩa, sẽ không ngắt quãng câu chuyện tâm tình bên ánh nến đâu. Việc gì phải thế? Chẳng qua là một gã hát tình ca của một thời xưa cũ mà thôi.”

“Cái này thì tôi không tin được, thưa ông Gardner. Ông là một giọng hát kinh điển. Ông cũng ngang với Sinatra hay Dean Martin. Những nhân vật kinh điển, họ không bao giờ lỗi mốt. Không phải như đám nhạc pop bây giờ.”

“Anh nói thế là tử tế lắm, anh bạn. Tôi biết anh có thiện ý. Nhưng một đêm như đêm nay, đây không phải là lúc để phỉnh nịnh tôi.”

Tôi đã muốn phản đối, nhưng có gì đó trong dáng vẻ ông khiến tôi không muốn tiếp tục đề tàu này. Thế nên chúng tôi đi tiếp, không nói câu nào. Thành thực mà nói, lúc này tôi bắt đầu nghĩ xem mình đã rơi vào chuyện gì, cái trò hát bên cửa sổ này là sao. Và những người này là người Mỹ nữa chứ. Làm sao tôi dám chắc rằng khi ông Gardner bắt đầu hát bà Gardner sẽ không đến bên cửa chĩa súng nã đạn vào chúng tôi.

Có lẽ Vittorio cũng đang nghĩ tương tự trong đầu, bởi khi chúng tôi lướt qua gần một cây đèn gắn trên tường, anh ta ném cho tôi một cái nhìn như muốn nói: “Chúng ta vớ được một gã gàn dở, phải không, amico?” Nhưng tôi không đáp lại. Tôi không định về phe với loại người như anh ta chống lại ông Gardner. Theo lời Vittorio, những kẻ nhập cư như tôi chỉ có đi lột tiền của khách du lịch, xả rác xuống kênh, và nói chung là hủy hoại cả thành phố. Có những ngày, nếu đang gặp cơn khó chịu, anh ta sẵn sàng kết tội chúng tôi là bọn xin đểu – dâm tặc nữa không chừng. Tôi đã có lần hỏi thẳng mặt có đúng là anh ta nói vậy về chúng tôi không, và anh ta thề thốt đấy chỉ toàn là bịa đặt. Làm sao anh ta mà lại hận thù chủng tộc được, trong khi có một bà dì người Do Thái mà anh ta tôn thờ như mẹ? Nhưng một buổi chiều nọ tôi đang tiêu khiển giữa hai suất diễn, tựa mình trên cây cầu ở Dorsoduro thì thấy một chiếc gondola trôi quabên dưới. Trên đó có ba du khách đang ngồi, và Vittorio đứng dựa cây chèo, làm một bài diễn văn cho cả thế giới cùng nghe, miệng tuôn ra đúng những lời lẽ ấy. Cho nên anh ta cứ việc tìm mắt tôi tùy thích, nhưng đừng có hòng tranh thủ tình đồng đội của tôi.

“Tôi sẽ cho anh biết một bí mật nhỏ,” ông Gardner thình lình nói. “Một bí mật nhỏ về nghề diễn. Trao đổi kinh nghiệm nhà nghề. Cũng đơn giản thôi. Anh phải biết một điều gì đó, điều gì cũng được, anh phải biết một điều gì đó về khán giả của anh. Một điều gì đó đủ cho anh có thể ngầm phân biệt được khán giả này với những người anh vừa hát cho nghe đêm hôm trước. Ta lấy ví dụ anh đang ở Milwaukee. Anh phải tự hỏi mình, có gì khác, có gì đặc biệt ở khán giả Milwaukee? Có gì khiến họ khác với khán giả Madison? Nếu không nghĩ ra được gì, anh cứ phải nghĩ tiếp đến lúc tìm được. Milwaukee, Milwaukee. Ở Milwaukee có món sườn lợn rất ngon. Chỉ thế là đủ, đấy là cái sẽ giúp anh khi bước ra sân khấu. Anh không cần phải nói ra với họ, chỉ cần giữ trong đầu khi anh hát cho họ nghe. Những người ở trước mặt anh đây, họ là những người vẫn hay ăn sườn hảo hạng. Họ có đòi hỏi rất cao đối với món sườn. Anh hiểu tôi nói gì không? Như thế khán giả trở thành một người mà anh hiểu, một người anh có thể biểu diễn cho nghe. Đấy, bí mật của tôi là thế. Trao đổi kinh nghiệm nhà nghề.”

“Vâng, cám ơn, thưa ông Gardner. Tôi chưa bao giờ nghĩ theo cách đó. Chỉ bảo của một người như ông, tôi sẽ không bao giờ quên.”

“Thế nên,” ông nói tiếp, “tối nay chúng ta đang biểu diễn cho Lindy. Lindy là khán giả. Thế nên tôi sẽ nói với anh gì đó về Lindy. Anh có muốn nghe về Lindy không?”

“Có chứ, thưa ông Gardner,” tôi nói. “Tôi hết sức muốn nghe về bà ấy.”

QUÊ HƯƠNG

 

Ôi lịch sử những dòng đời cay nghiệt,
Những tự hào hoá giải với oan khiên.(Trần Kiêm Đoàn)

 

Quê hương có gì để nhớ
Mà sao nước mắt lưng tròng?

1.

Quê hương. chiếc đò nho nhỏ
Qua sông. kham khổ từng ngày
Thân me vai gầy. gánh khổ
Thương con. chịu nổi đắng cay

 

Quê hương còn đầy thương nhớ
Ngoại nhai tóm tém trầu cay
Mẹ mày. thằng cháu mất dạy
Rong chơi lêu lổng suốt ngày

 

Quê hương làm sao không nhớ?
Cầu tre lắt lẻo sáng mai
Đường vui. trống trường réo gọi
Cây cao. chim hót từng bầy

 

Chia nhau từng viên đạn nhỏ
Bịt mắt. kiếm  tìm. Ai đây?
Chia nhau nỗi lo thầy gọi
Nhói đau. thước khẽ bàn tay
Chia nhau trái me keo  ngọt (+)
Chia nhau từng tiếng cười đầy

 

Quê hương làm sao không nhớ?
Dòng sông tuổi trẻ mênh mang
Bần de. phóng đùng. nước mát
Lặn tìm. chân bắt. la vang
Bờ sông. chị khàn tiếng gọi
Vết roi cha đánh. tím bầm!

 

2.

Quê hương đỏ màu phượng vĩ
Hè sang.   ve sầu khóc vang!
Tạ từ. lời ca ly biệt
Buồn trao lưu bút. lệ tràn!
Biết rồi mùa sau gặp lại?
Hay rồi đôi ngã ly tan!

 

Quê hương. buồn vui gác trọ
Thả hồn. giọng Khánh Ly khàn
Chia nhau. chút đầu thuốc vụn
Khói bay. theo khúc tình tan

 

3.

Bao năm đời này vẫn nhớ
Xuân nao. thay đổi phận người!
Bể dâu. biệt ly. mong đợi!
Khổ đau thay thế nụ cười!

 

Bao năm chém tre đẵn gỗ
Bạn bè. chết không nắm mồ!
Mẹ già vượt đồi núi khổ
Thăm con. lệ cạn mắt khô!

 

Con ơi. vợ con Kiều đó
Bán thân. lo giúp cho chồng!
Chữ Trinh. thôi đành phụ bạc!
Đoạn trường. con biết hay không?!

 

4.

Bao năm đời này vẫn nhớ
Đêm thâu. xuôi mái theo dòng
Người đi. không lời từ biệt
Buồn ơi. tím biếc dòng sông!

 

Quê hương ta ơi. thôi nhé!
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!
Rặng cây quê hương mờ bóng
Có còn gặp lại được không?

 

5.

Quê hương hoài mong thương nhớ
Cô thân. lưu lạc phuơng người
Chiều nay. nhớ dòng sông ấy
Lục bình hoa tím hoài trôi!

 

Quê hương ta ơi …đừng nhớ!
Muộn phiền. cay đắng mà thôi!
Cố quên. sao lòng vẫn nhớ!
Quê hương nhớ lắm… ơi người!

 

Quê hương còn gì để nhớ?
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!

Quê hương sẽ còn để nhớ?
Quê hương đáng nhớ không người?!

 

Nguyên Lạc                 

——————————————————————————————————–

Chú thích:

(+) Me nước hay còn gọi me keo, găng tây, keo tây (danh pháp khoa học: Pithecellobium dulce) là một loài thực vật có hoa trong họ Đậu (Fabaceae).

 

NGÀY THÁNG ẤY HỒN NHIÊN

 

1.

Đầu những năm 60, không rõ được cất từ thời nào mà một dãy phố trệt ở gần cuối đường Trần Quang Khải, khu Tân Định, trông rất cũ kỹ. Chiều chiều, quanh quẩn bên những gốc cây dầu, cây sao trên vỉa hè, bọn trẻ khu phố kéo nhau ra chơi đủ thứ trò. Có nhiều trò con gái con trai chơi chung như: trốn tìm, nhảy dây, lò cò, đánh đáo…, vài trò khác thì tụi con gái thường chỉ đứng xem mà rất hiếm khi tham gia, như: đá banh, bắn bi, bắn ná, u bắt mọi…

Cứ thế, hai đứa bạn hàng xóm lâu năm, chơi với nhau rất thân là hai tên nhóc ngang tuổi nhau, Hòa và Quan. Cũng hay đi chung, chơi chung với cặp bài trùng này còn có Kim, chị kề của Quan và chỉ lớn hơn 1 tuổi. Hòa cũng xem chị Kim như bạn học, do cả ba đứa đều học chung trường, chỉ khác lớp.

Hết lớp 5, cả ba đứa cùng đậu tiểu học, chị Kim đậu luôn vô lớp đệ thất trường công là trường nữ trung học Lê Văn Duyệt, gần lăng Ông Bà Chiểu. Còn bọn con trai, do đậu tiểu học xong là ham chơi suốt mấy tháng, không chịu ôn bài đàng hoàng nên đều rớt khi thi vào lớp đệ thất trường công Trần Lục, gần chợ Tân Định. Bố mẹ Hòa dễ dãi, cho con học trường tư, là trường Les Lauriers cũng gần nhà. Chỉ còn Quan, do bố mẹ cương quyết, bắt học lớp tiếp liên, dùi mài ôn tập để thi vào trường công lần nữa. Kết quả là, đành chịu chậm mất một năm, cậu mình lọt vào vào trường Trần Lục.

Thế là khi lên trung học, ba đứa bạn thân học ở ba trường khác nhau nhưng Hòa vẫn tiếp tục chơi thân với Quan và chị Kim. Sắp dậy thì, con gái trổ mã, cô chị của Quan cao hơn hai thằng con trai gần cả tấc. Lúc này ba đứa bắt đầu “ngao du” những chỗ mới, xa nhà hơn, như piscine Chi Lăng, piscine Đại Đồng, lăng Ông Bà Chiểu… Thú vị nhất là những địa điểm bên Dakao, tức vẫn gần nhà, lội bộ một lát cũng tới, như: tiệm thạch chè Hiển Khánh cạnh rạp ciné Casino Dakao, mấy chỗ bên đường Hiền Vương là đền thờ Hưng Đạo vương, đất thánh Tây cùng đất thánh Chà, rồi chùa Ngọc Hoàng… Vui nhất là vô chùa Ngọc Hoàng, bứt lá cây thả xuống cái hồ nước xanh lè cho mấy chú rùa ăn. Gần cổng chùa lại có một lớp dạy Anh ngữ buổi tối, ban ngày thường ơ thờ quên khóa cửa phòng học, cả bọn lẻn vào, ban đầu chỉ ngồi chơi, sau lén lấy về cả hộp phấn viết bảng. Cái trò “trộm vặt” chẳng đáng gì nhưng lại vui vui, dù cái giá phải trả là trên đường về Quan cứ hồi họp úm, che cái hộp dấu trong áo. Cả bọn đều lo lắng, ngó dáo dác, sợ người của lớp học biết đâu lại đột nhiên xuất hiện và bắt tại trận…

Lúc này, tính khí của mỗi đứa đã định hình khá rõ rệt. Quan lúc nào cũng suy nghĩ thực tế, nhanh nhẹn, tháo vát, nhiều sáng kiến. Chị Kim thì thông minh, tế nhị, cứng cỏi, hướng ngoại, nhiều lúc không hề ngại tỏ vẻ “đàn chị” đối với hai cậu em. Hòa thì ôn hòa nhất trong bọn, hay hướng nội, mơ mộng và hiếu cảm. Được nhất là cả ba đều học giỏi đều các môn nên thường xuyên đứng hạng thứ cao trong lớp. Đáng khen hơn nữa, cả ba đứa học giỏi đều do trí thông minh hay năng khiếu riêng – Quan giỏi trội nhất là môn toán, Hòa, chị Kim trội nhất môn Anh ngữ và Hòa trội nhất về môn văn –  cộng thêm trí nhớ tốt chứ chẳng đứa nào chịu cần cù, học gạo. Sở trường của mỗi đứa là như thế nhưng trong bụng lúc nào Hòa cũng thầm nể cái tánh cứ-như-con-trai của chị Kim. Cậu mình phục lăn chị bạn, đã lúc nào cũng nói nhanh và bước đi nhanh, mà nắm bắt, phán đoán chuyện gì cũng vừa nhanh nhạy vừa xác đáng.

 

2.

Năm Hòa và chị Kim thi tú tải hai, Quan thi tú tài nhất thì ba mẹ Hòa dọn nhà qua Bà Chiểu. Từ đó, cứ cách hai, ba ngày là Hòa lại qua Tân Định ghé chơi cả buổi, có khi ở lại ăn cơm với gia đình Quan, chị Kim. Lúc này, về ngoại hình, con gái con trai gì cũng thay đổi, nở nang hơn, đường nét mạnh mẽ hơn hoặc thướt tha hơn. Con trai nhổ giò nên đã lấy lại danh dự nam nhi, không chịu thấp hơn con gái nữa, ngược lại còn cao hơn vài phân. Còn về nội tâm, cô thiếu nữ 18 tuổi, thon thả, duyên dáng, đã có cả một vũ trụ tâm tưởng riêng tư của con gái nên đã ít đi chơi, ít sinh hoạt chung với hai cậu em.

Vẫn tánh quyết đoán và sớm chín chắn so với lứa tuổi, trong trường chị Kim đã được bầu làm trưởng lớp liên tục hai niên khóa. Cũng từ cái tính hướng ngoại, thích tham gia hoạt động xã hội, chị Kim đã dẫn dắt hai cậu em cùng vào sinh hoạt trong một nhóm tín đồ đạo Mormon, cùng có thêm vài người bạn mới, đó là những người Mỹ làm việc cả bên dân sự lẫn bên quân đội. Hầu hết trong nhóm này thuộc giới trẻ, hiếu động và rất ham vui, ngày nghỉ cuối tuần thường tổ chức party. Hòa, Quan, chị Kim theo ngay một lớp học khiêu vũ do họ tổ chức, tất nhiên miễn phí và không buộc phải về xin phép phụ huynh. Tại lớp, rất dễ nhận ra năng khiếu đối với môn khiêu vũ cứ như sẵn có ngay từ lúc mới chào đời của chị Kim và Hòa. Học đến điệu nhảy cổ điền hay tân thời nào cả hai cũng thành thạo rất nhanh, bước đi uyển chuyển, quay người gọn, đẹp… Còn Quan – “nhà” toán học, giỏi luôn về khoa cơ khí, máy móc – lại có phần vụng về, tập bước căn bản tương đối chậm, cũng nắm bắt khá chậm các kiểu fantasy.

Trong đêm party đầu Kim, dù nhảy khá thạo, đủ tự tin nhưng ban đầu Hòa vẫn hơi bị trục trặc bởi tính nhút nhát và nhạy cảm không đúng lúc, đúng chỗ. Khi sắp ôm eo những cô gái cùng nhảy, cậu mình rất hồi hộp, tim đập dồn dập, thậm chí lòng bàn tay xuất mổ hôi ướt rượt. Kỳ cục là những xáo trộn tâm lý lẫn sinh lý ấy xảy ra luôn cả khi Hòa tiếp cận với “phe ta”, “đào nhà” là chị Kim.

Suốt cuộc đời, Hòa không bao giờ quên người con gái đầu tiên cùng khiêu vũ với mình chính là chị Kim. Còn hơn thế, cô gái này và Hòa còn là một cặp bài trùng cho những bước tập đầu tiên rồi suốt cả lớp khiêu vũ. Tuy nhiên, ở giai đoạn còn học nhảy với nhau, có vũ sư theo dõi sát bên, Hòa chỉ chú ý, tập trung cả đầu óc lẫn thân thể để bước sao cho đúng cách và đúng nhịp hoặc quay sao cho khéo, không còn tâm trí đâu mà cảm nhận xem đang ôm ai trong tay… Đến đêm party  đầu tiên, để mở hàng cho “sự nghiệp” khiêu vũ của mình, Hòa mời ngay chị Kim. Cậu mình tính toán rằng nhảy với “đào nhà” thì lỡ có va vấp cũng đỡ sượng. Hơn nữa, chị Kim cho thấy nhảy đã khá vững, nếu “kép” có trật bước, trật nhịp thì chị cũng có thể nương theo, cùng chỉnh đốn lại được.

Đầu Kim, đôi bạn ra piste thì đúng lúc bản Perfedia trổi lên cho khách nhảy tua Chachacha. Điệu nhảy khỏi-ôm-đào này dễ ăn và bình an vô sự, miễn đừng bước nhầm phương hướng, “nhập vô, dạt ra” như kéo đàn accordéon hay dẫm chân người ta. Kế đó, Hòa và chị Kim đứng yên ở piste nhảy và ôm nhau khi ca khúc The First of May trổi lên với điệu Ballade.

Mọi sự có vẻ vẫn ổn. Vòng tay Hòa ôm chị Kim đang vừa phải, không lỏng cũng không xiết, đúng phép xã giao theo bài bản.

Nhưng kìa, cậu con trai chợt cảm nhận một điều gì đó là lạ, hay hay. Không còn là chuyện hai đứa bạn – một là con trai, một là con gái – hồn nhiên ôm nhau như vật lộn trong trò chơi u bắt mọi của tụi con nít ngày nào nữa. Cái trò chơi mạnh bạo thời niên thiếu ấy đã buộc Hòa, đã chọn một phe thì ở phe phải tuôn dầm mồ hôi, vất vả ôm ghịt lấy mình mẫy đối thủ bên phe kia – bất kỳ thằng nào, con nào – cho nó bất động tại chỗ thì mình cùng phe mình mới thắng…

Giờ đây, cuộc đời như đã bí ẩn thay đổi trong vòng tay Hòa. Cũng là thân hình con gái, đứa bạn gái gầy nhom mà Hòa đã kết thân qua không biết bao nhiêu trò chơi ngây thơ hồi nhỏ – nhưng giờ đây, thân chị Kim thật mềm mại, thon thả, cứ như được ai đó tính toán thật khéo cho đúng mực mảnh mai, đang không quá béo cũng không quá gầy mà chỉ thật vừa vặn với vòng tay ôm của cậu con trai, dịu dàng cận kề một cách thật êm ái, ngọt ngào.

“Don’t ask me why, but time has passed us by/ Some one else moved in from far
away”
, lời ca khúc cũng đang rất hợp với tâm trạng ngỡ ngàng của Hòa lúc này.

Trong ánh sáng mờ ảo, huyền hoặc của phòng nhảy, nhiều lúc hai bạn nhảy lặng thinh nhìn vào mắt nhau. Chị Kim mỉm cười nhè nhẹ. Hòa xao xuyến đến lặng người, bởi chưa bao giờ thấy cô bạn cười đẹp và dễ thương đến vậy. Và xao xuyến đến đâm ra sợ hãi sức quyến rũ của nụ cười con gái, cứ chốc lát Hòa lại nhìn tránh sang chỗ khác, không dám nhìn quá lâu khuôn mặt con gái quen-mà-lạ cận kề, lại còn thoảng thoảng mùi nước hoa ma mị gì đó…

Bản nhạc dứt đã lâu, cậu con trai mới lớn cứ như vẫn còn đắm hồn trong một cơn mê kỳ lạ. Hòa mơ hồ cảm thấy, sau đêm khiêu vũ nầy, tuồng như những cảm xúc tinh khôi, mượt mà với con gái trên đời này, cụ thể là với chị Kim, bởi mới mẻ, sâu lắng quá nên chắc sẽ còn vang vọng, ray rức thật lâu nữa trong cuộc sống của mình những ngày tới…

 

3.

Năm đầu đại học, Hòa vào trường Văn Khoa và chọn ban triết, chị Kim vào trường Vạn Hạnh, học ban khoa học xã hội. Qua những lần đến nhà chơi với hai chị em Quan, tình cờ Hòa thấy hai anh chàng trắng trẻo, cùng đeo kính cận gọng vàng, một anh đi xe Vespa Italy, anh kia đi chiếc Honda 90 phân khối, hết anh này đến anh kia cứ đến tìm chị Kim hoài. Tình cờ gặp lúc chị Kim tiếp bạn, Hòa ngồi trên gác với Quan, nghe loáng thoáng cô gái Bắc đáo để trong nhà chuyện trò một mực ngọt ngào, rôm rã, với bất cứ anh chàng cây si nào khi đến lượt tiếp chuyện đối tượng. Hai cậu em, dù thuộc loại vừa hiền vừa khờ về chuyện con trai con gái yêu đương, bồ bịch nhưng nào chịu im, cứ om xòm bình luận với nhau về tình hình ở phòng khách. Đoán mò, đoán suông mãi cũng chán, bèn bắt cá, Quan cho rằng chị mình sẽ chọn tên Honda 90, Hòa ngược lại, cho là chi Kim thích tên Vespa hơn.

Rốt cuộc, trong một bữa đi ăn chè Hiển Khánh, bị “thắc mắc đời tư” mãi nên chị Kim hơi bực, tiết lộ luôn một hơi nhưng thật ngắn gọn vừa đủ nghe, rằng đó là hai tên bạn sinh viên lớp trên trong trường. Theo nhận xét đã đủ chín chắn của cô gái, cả hai bạn trai này đều thuộc loại thiếu gia con nhà giàu, đều lịch sự và cư xử đàng hoàng, chỉ tiếc rằng một anh thì có tính “thùng rỗng kêu to”, hoang tưởng về chính mình, còn anh kia chưa chi đã lộ ra tính độc tài, gia trưởng. Do đó,“Là bạn, bạn tốt thôi, không bồ bịch, iu iếc gì cả!”, chị Kim bình thản kết luận.

Một ngày nọ, Hòa ngỡ ngàng nhận được tin vui. Quan báo cho biết chị Kim vừa đột ngột nhận lời cầu hôn của một người Mỹ. Hòa cũng biết sơ về anh chàng này. Đó là một thanh niên có vẻ cũng bình thường thôi trong nhóm đạo Mormon, giờ Hòa mới được biết rõ hơn: anh là đại úy hải quân, họ hàng gần với một vị đô đốc hải quân Hoa Kỳ.

Ngày đám cưới, buổi sáng Hòa bận đi học nên không dự các nghi thức hôn lễ, chỉ dự tiệc cưới ở khách sạn/nhà hàng Majestic buổi tối. Đường Trần Quang Khải náo động như muốn kẹt xe khi cả một đoàn xe Ford quân đội, sơn màu xanh đen của quân cảnh Mỹ rộn rịp tới lui, đậu la liệt trước căn nhà trệt xoàng xỉnh của đàn gái. Chợt mưa thật lớn, mấy anh MP Mỹ cao lớn phải bung dù, che đưa từng vị khách  ra xe… Xe chạy, Hòa cảm thấy êm như ngồi trên máy bay. Nhìn qua lớp kính xe màu thật tối, cảnh tượng đường phố trong mưa cứ loang loáng lướt qua như ảo ảnh…

Đại sảnh của khách sạn choáng ngợp ánh sáng. Cô dâu, chú rể mặc áo dài cổ truyền VN thật rực rỡ, tươi cười đứng chào khách. Trang điểm tuyệt mỹ nhưng chị Kim vẫn không dấu được vẻ mệt mỏi trên gương mặt. Hòa tréo hai cánh tay mình để bắt tay một lượt cả chú rể lẫn cô dâu. Nằm gọn trong bàn tay Hòa, bàn tay đã tháo găng của chị Kim nhỏ nhắn, lạnh lẽo đến tội nghiệp. Hòa hướng về chú rể, nói chưa hết câu chúc tân hôn tiếng Anh thì chợt cảm thấy chị Kim khẽ xiết mạnh bàn tay mình, Hòa xoay qua nhìn thì nghe giọng thầm thì “Hòa mi Kim cái đi! Hòa nhé…”. Cô dâu vừa nói vừa dùng ngón tay gõ nhẹ vào gò má mình, ánh mắt long lanh…

Hòa sửng sốt, buông bàn tay chú rể, chỉ giữ bàn tay cô dâu nhưng vẫn đứng im như một chàng ngố, chỉ biết nhìn chăm chăm vào mắt anh chồng người Mỹ, như thể xem anh phản ứng ra sao trước đề nghị của vợ mình. Kìa, anh ta cười vô tư, thoải mái, nói “OK! OK!”, còn gật gật đầu.

Tim đập thình thịch, Hòa vụng về hôn thật nhẹ lên má chị Kim. Cô dâu còn bắt cậu bạn hôn cả bên má còn lại của mình xong mới chịu buông tay, thả tự do cho chàng ngố.

Hòa đã từng biết, từng thấy người phương Tây, chỉ là bạn bè nhưng nam nữ vẫn thường ôm nhau, hôn nhau trên má khi gặp gỡ, tạm biệt, chúc mừng, chia sẻ nỗi niềm… Nhưng vừa rồi, Hòa vẫn hồi hộp, lúng túng khi hôn chị Kim – coi như công dân Hoa Kỳ đến nơi, do đây là lần đầu tiên của đời trai trẻ, Hòa được một cô gái cho phép ôm hôn. Còn chàng rể, đã sinh ra và lớn lên trong xã hội Âu Mỹ, tất nhiên chẳng có vấn đề gì khi chứng kiến một người đàn ông – cũng là bạn thân của vợ mình – vừa ôm hôn nàng. Anh chàng còn vỗ tay cười như thích chí tán thưởng nữa kìa.

Tiệc cưới linh đình của chị Kim diễn ra trong cảnh trí hoành tráng, sang trọng ngoài sức tưởng tượng của Hòa, bởi do là con cái một gia đình chỉ thuộc hàng trung lưu bậc dưới, từ nhỏ đến giờ cậu mình rất hiếm khi được lui tới nơi cao sang của giới thượng lưu như khách sạn cỡ này. Bên cạnh đó, đại tiệc kiểu Âu Mỹ hết sức sang trọng, bàn ăn kiểu dài thườn thượt, thực khách của một bàn đến mấy chục người cứ ngồi đối diện nhau, tức không phải kiểu ngồi thành vòng tròn với kiểu bàn chỉ 12 ghế ở nhà hàng Tàu. Được bố tập cho từ ở nhà, Hòa sử dụng dao, nĩa cũng coi như thành thạo, nhưng cậu mình không thể hiểu hết những cái tên tiếng Anh xa lạ trên menu vì tiệc đãi rất nhiều món Tây và có vài món rất cầu kỳ.

Rốt cuộc, cậu con trai rời khỏi buổi tiệc cưới chị bạn với ngổn ngang nhiều nỗi ngỡ ngàng, bâng khuâng. Cùng một lượt, nhiều thứ hoàn toàn mới mẻ rủ nhau đâm sầm vào tâm tưởng của Hòa.

Cậu con trai mơ hồ nhận ra rằng, thật hạnh phúc, sung sướng khi lần đầu tiên trong đời được có mặt trong một khung cảnh thượng lưu, quyền quý tột cùng và được thưởng thức món ngon vật lạ thừa mứa, nhưng vượt lên trên mọi thứ vật chất cao sang ấy, cái quý giá, sâu lắng hơn hết trong đêm nay không gì khác hơn niềm cảm xúc ngọt lịm, lâng lâng đến muốn bay bổng khi lần đầu tiên trong đời mình được hôn con gái.

 

4.

Đám cưới đã xong xuôi, chiều hôm sau Hòa rảnh rỗi bèn lấy xe qua Tân Định tìm Quân chơi thì Quân vắng nhà và tình cờ có chị Kim về nhà ăn cơm tối với gia đình. Hòa chào bác trai để ra về thì chợt bác gái ở nhà dưới bước lên, bảo nhỏ:

“Cái Kim đang ốm, nằm trên gác nghe tiếng con, nó bảo con lên gác, nó nói gì đấy”.

Trong ánh sáng nhợt nhạt buổi chiều, căn gác – nơi chốn rất quen thuộc với Hòa vì từ lâu cậu đã có mặt tại đây trong rất nhiều sinh hoạt, từ học nhóm, chơi đùa, nghịch ngợm cho đến ăn vặt, uống cà phê với chủ nhà – bỗng dưng im ắng lạ thường. Hơn thế, Hòa như khựng lại khi thấy chị Kim nằm sóng soãi trên chiếc giường nhỏ, quần sọt, áo thun mong manh, trễ tràng. Khi Hòa lấy chiếc ghế nhỏ, ý tứ ngồi tuốt ở phía chân giường như thủ thế thì cô gái lại vất luôn sang bên cái gối nhỏ đang phủ trên ngực. Như bị điện giật, Hòa vội vàng nhìn tránh vào vách.

Cậu trai hiền, chưa hề biết mùi tình dục, vô cùng xốn xang khi thoáng thấy mờ mờ ảo ảo khuôn ngực lồ lộ không áo lót và cặp giò thuôn dài của cô gái – đúng hơn là của một người đàn bà trẻ, mới động phòng hôm qua.

Lúng túng quá nhưng Hòa cũng ráng lên tiếng:

“Chị ốm hả? Có uống thuốc gì chưa?”

Cô gái vẫn nằm nghiêng, chỉ chống tay đỡ một bên má và đáp khẽ:

“Kim chỉ hơi nặng đầu, dã dượi thôi”, rồi bảo Hòa ngồi sát lại hơn. “Mà… Hòa đừng gọi Kim là chị nữa, gọi Kim thôi là được rồi”

Hóa ngơ ngác:

“Là sao chị Kim? Chị là chị Quan mà. Lại lớn hơn Hòa…”

Chị Kim phật ý, ngắt lời:

“Đã bảo đừng gọi Kim là chị cơ mà! Tụi mình chơi thân với nhau bao năm rồi, nay Kim lấy chồng, sắp đi thật xa nữa, nên Kim muốn mang theo một tình cảm thật dễ thương duy nhất của thời con gái, là Hòa đấy!”

Từ lúc này, xen giữa những quãng lặng kéo dài khá lâu, chốc lát cô gái lại phải gợi chuyện, lên tiếng nói, hỏi gì đó vì cậu trai chỉ biết im lặng và thỉnh thoảng còn phải lo tránh ánh mắt rất lạ của cô gái cứ đăm đăm nhìn mình.

Chị Kim giải thích bâng quơ gì đó, bảo rằng ai mà muốn lấy chồng, chỉ là bố mẹ ở nhà – nhất làm mẹ – đã theo dài hơi thuyết phục con gái mình không cần phải suy nghĩ, đắn đo gì cả, bởi không thể dại dột bỏ qua một đám có tương lai huy hoàng đến như thế…

Trời tối nhờ nhợ, Hòa đứng dậy định mở đèn nhưng chị Kim không cho. Cô gái lại nói tiếp… Có lúc Hòa đành chịu, không hiểu ý của Kim muốn nói gì nhưng Hòa vẫn bàng hoàng lắng nghe. Cậu con trai càng bàng hoàng, rối tung trong lòng khi cảm thấy bàn tay ẩm lạnh của cô gái xiết nhè nhẹ bàn tay mình rồi nắm mãi không buông…

Sau buổi chiều ngồi với chị Kim trên căn gác, cứ mỗi lúc Hòa chợt nghĩ về cô gái là một nỗi xao xuyến lạ thường lại choáng ngợp tâm tưởng, khiến cậu con trai mới lớn cảm thấy vừa phiền muộn không đâu vừa mệt mỏi mơ hồ, đến nỗi gần như rũ liệt. Hòa nằm lì trong phòng, không thể nào ra phi trường tiễn chị Kim theo chồng về nước Mỹ xa vời vợi kia…

 

PHẠM NGA

Tháng 10/2017

Một Thoáng Gió Thôi

 

Một thoáng gió thôi, làn gió thoảng
Bay qua em, thổi
Tóc em bay…
Em bay theo gió
Anh theo tóc
Để nhớ thương em
trọn một ngày…

Một thoáng gió thôi mà cũng động
Tim người. Em biết tại sao không?
Nếu mình đừng gặp nhau chiều ấy
Đừng tóc em bay, gió bập bồng…

Một thoáng gió thôi mà mắc cỡ
Ai hôn em vậy? Gió hôn em!
Tại sao anh vẫn người xa lạ
Để gió hôn em, để đứng nhìn?

Nếu tóc em đừng bay mênh mông
Em mười bảy tuổi đừng qua sông…
Chao ôi thương quá người con gái
Ba Mạ ham chi: Bắt lấy chồng?

Nam Phổ từ khi vắng một người
Tôi về quạnh quẽ ngó mây trôi
Sông Hương núi Ngự vua ngồi đó
Chắc thấy thần dân…
Đứng ngậm ngùi?

Trần Vấn Lệ

KHẮC KHOẢI ÂU THỊ PHỤC AN

 

 

 

“Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị  nhưng thật ra để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách”.

(Phục An)

Truyện ngắn đầu tay của Âu Thị Phục An có tựa “Những Ngày Không Định Trước”, do Mai Thảo chọn đăng trên giai phẩm Văn số ra ngày 19.10.1974. (Sau truyện ngắn này, tạp chí Văn liên tục đăng 3 truyện khác của chị: “Thăm Viếng”, “Màu Áo Hẹn” và “Bên Kia Mùa Hè”).

Trước đó, chị có thơ, văn đăng rải rác trên Tuổi Ngọc, nhật báo Dân Chủ và các báo văn nghệ ở Sài Gòn, nhưng phải đợi đến lần xuất hiện này, độc giả mới biết thêm một cây bút nữ còn trẻ là Âu Thị Phục An. Nói biết thêm, bởi cách viết của cô sinh viên ban Triết, Đại học Văn khoa Sài Gòn không có kiểu cách làm dáng, khô cứng thường thấy ở các cây bút mang khuynh hướng dùng ngôn ngữ “triết học tra tấn văn chương”. Văn chị cứ “tỉnh queo” đến lạnh lùng trong những tình huống mà lẽ ra là đón đợi những vồn vập, rực cháy, những háo hức nồng nàn… Đọc những truyện ngắn của chị, nhiều khi tôi nghĩ, chị như một kẻ lữ hành trên con đường vắng, không có người đồng hành để trò chuyện, đành phải dồn nén lại. Sự dồn nén đó cứ lướt thướt trôi theo dòng suy nghĩ chảy xọc vào ngòi bút, giống như một thỏi băng tan chảy.

Truyện ngắn đầu tay “Những Ngày Không Định Trước” có cấu trúc dạng nhật ký nhằm giãi bày tâm trạng của một cô gái trẻ, chính xác là một nữ sinh bậc cuối trung học đang bước vào những ngày cuối cùng của kỳ thi Tú Tài và đang đón đợi người sẽ là chồng tương lai. Lẫn lộn giữa chuyện thi cử, đậu rớt “chẳng mừng lắm” và “chẳng hề buồn hoặc toan tính…” là tâm trạng chờ đợi và chẳng chờ đợi gì về chuyến gặp mặt người yêu, ở một nơi đóng quân nào đó, sẽ đến nhà thăm gia đình nàng. Tình yêu của cô nữ sinh trung học với anh chàng quân nhân tên Thăng lơ lửng một cách lạnh lẽo. Họ gần bên nhau mà như xa cách nhau, không hề biểu lộ một tình cảm đặc biệt của những kẻ khao khát yêu, khắc khoải đợi chờ những nụ hôn cháy bỏng. Cứ giả định rằng, nếu Thăng không đến, hẳn cô gái kia cũng chẳng băn khoăn đặt những câu hỏi tại sao. Bởi có gặp hay không thì cũng như chuyện đậu và rớt Tú Tài vậy thôi trong suy nghĩ của cô trước đó.

Trong khoảng thời gian chờ đợi, quanh quẩn trong đầu óc nàng là những hoài nghi. Nàng cố gắng lý giải về mối tình đầu. Mối tình này có “tồn tại” hay không “tồn tại” trong cô. Thăng có thật là chồng tương lai? Và cô, cuối cùng chỉ còn lại mối hoài nghi cứ ngày càng trương phình lên: “Tôi chịu không biết ra sao cả cũng như nhiều lần tự hỏi tôi yêu Thăng, chúng tôi có thật yêu nhau hay mỗi đứa chỉ yêu những điều lý thú do cuộc tình này mang lại”.

Cách lý luận, suy nghĩ của cô gái hơi lạ và ngược đời khi tách tình yêu thành hai mảnh thật và không thật. Hai mảnh đó nảy sinh ra “những điều lý thú do cuộc tình này mang lại” như là mệnh đề tiên quyết để biết “có thật yêu nhau”. Như vậy, cô gái trẻ đã phân thân với những thắc mắc, những cật vấn về mối tình, mà ngay cả chính bản thân cô ta cũng không chắc chắn lắm!

Trong truyện không hề thấy có một dòng chữ nào, theo dạng “lỡ mai anh chết em có buồn không”, hay: “Mai anh về trên đôi nạng gỗ / Bại tướng về làm gã cụt chân – Linh Phương”. Các chi tiết trong truyện không đẩy lên theo kết cấu kịch. Nó cứ lặng lẽ chảy như một dòng nước nhỏ, vừa vặn cho kích thước tra hỏi. Bóng dáng vật vờ giữa yêu hay chưa yêu luôn xuất hiện trong đầu cô gái trẻ, đôi lúc như một trò chơi, có cũng được, nếu không cũng chẳng mất gì. Mà cũng đúng thôi, bởi truyện được viết xong vào tháng 7 năm 1974 tại Bạc Liêu, khi mà bối cảnh cuộc chiến miền Nam đang lúc cao trào cho những đợt tấn công, phản kích sau khi hiệp định Paris bị vất sang bên để cả hai phía bắt tay nói với nhau bằng súng đạn. Tâm trạng hoài nghi, nỗi thất vọng, mệt mỏi có dịp bùng lên ở cách sống, cách ăn nói, suy nghĩ của thanh niên thời bấy giờ. Ngay chính những tình cảm liên quan đến cuộc sống và bản thân, họ cũng không hề tin là có thật: “Thăng vẫn không thay đổi thế ngồi, thế ngồi làm chúng tôi gần như đưa lưng về nhau”.

Thế hệ trẻ thời đó đã đánh mất niềm tin chăng? Họ mệt mỏi chán ngán chăng? Họ lúng túng một cách khá vất vả khi tìm kiếm và đối mặt với những sự thật chăng? Có thể là vậy, bởi đời sống bên ngoài đã lấy đi của họ tất cả, chỉ chừa lại nỗi hoài nghi sưng tấy lên, ngày mỗi đầy trong đầu óc: “Có phải yêu nhau là tổ chức những đuổi bắt miệt mài là tìm kiếm một điều đã gặp nhưng không cho là điều tìm kiếm. Tôi chợt rùng mình sợ hãi khi chợt nhận thấy mình như một con kiến bò quanh quẩn mãi trong một vòng tròn rất rộng”.

Truyện không có gì mới, vẫn theo motif chàng là quân nhân, nàng là nữ sinh, yêu nhau. Nhưng có cái lạ là sự lạnh lùng ở cả hai nhân vật cân bằng nhau, đến độ gần như dửng dưng, tàn nhẫn. Họ có vẻ như già trước tuổi. Già ở tính cách và già cả tâm hồn! Đọc lại lần nữa, mới hay chị luôn đặt bên cạnh ngòi bút của mình những dấu hỏi to tướng, chẳng có câu trả lời: “Đậu, rớt, những tên gọi, những dấu hỏi vẽ lên không hề đem theo được một hình ảnh vui buồn nào. Lạ không?

 

Nhưng phải đợi đến 4 tháng sau, khi truyện ngắn “Thăm Viếng” đăng trên giai phẩm Văn, số đặc biệt Văn Chương Nữ Giới ra ngày 1.2.1975, cùng với các đàn chị Nguyễn Thị Vinh, Trần Thị Tuệ Mai, Hoàng Hương Trang, Trùng Dương, Nguyễn Thị Ngọc Minh, Trần Thị NgH. thì độc giả mới thực sự chú ý đến cái tên Âu Thị Phục An. Nói chú ý bởi cấu trúc và nội dung câu truyện càng lạnh hơn; lạnh như một thỏi thép bỏ vãi đâu đó sau chái nhà.

“Thăm Viếng” thuộc thể văn kể chuyện. Nhân vật chính xưng tôi (cùng em gái người yêu) đi thăm vị hôn phu đang thụ huấn tại quân trường Thủ Đức. Ngay những dòng đầu tiên của truyện, dường như chị đã báo trước cho người đọc sẽ có điều gì đó khác hẳn những cuộc thăm viếng thông thường của những cặp tình nhân với bao nỗi chờ mong, khao khát, nhớ nhung… bằng những dòng chữ tỉnh táo đến sắc lạnh: “Lần đầu tiên, cùng với Viên lên thăm Vị ở quân trường ngày chủ nhật, lúc ấy tôi đã là vợ chưa cưới của chàng rồi”. Tính cách của “tôi”, hoặc vì quá thông minh, hoặc được thụ hưởng tính cách giáo dục của một gia đình nền nếp, nên “tôi” chỉ quan sát, đứng ngoài mà quan sát, rồi để cho cảm xúc trườn qua sự quan sát ấy với một ý thức xẻ ngang giữa tỉnh táo và đông cứng, đôi khi như tách biệt, đứng hẳn ra ngoài rìa sự thăng hoa của loại tình cảm bị dồn ứ của các nhân vật phụ “tôi chỉ thấy tội nghiệp cho mọi người”, khi tận mắt nhìn thấy: “…những bóng mát tạm bợ và một vài chiếc lều được dựng vội vã nên trống trải và xiêu vẹo che giấu một cách hời hợt những cặp tình nhân nằm với nhau bên trong. Những cặp tình nhân hôn nhau, vuốt ve một cách tự nhiên như chung quanh họ là một nơi riêng biệt vậy”. Ngoại cảnh đã tạt gáo nước lạnh buốt vào tâm giới “tôi”, để nảy bật ra thứ tình cảm không mấy thân thiện. “Tôi” bị nhìn thấy về mọi sự diễn ra bên ngoài cho đến lúc “tôi” tự nhìn lại “tôi” trong một khung cảnh đầy bất ngờ không kém. Đó là lúc Vị tách “tôi” ra khỏi em gái anh ta, đưa vào một gian buồng và “tôi” đã dùng sức mạnh lý trí đến mức tối đa để làm co quắp tình cảm đang cháy bùng trong người. Bởi “tôi đủ thông minh hiểu để không hỏi han gì”. Có thể và không hẳn là mặc cảm phạm tội, nhưng trước đó “tôi” đã nhìn thấy cảnh phô diễn thứ tình cảm “nhếch nhác” rất tự nhiên ngoài khu tiếp tân khóa sinh, khiến sự liên tưởng càng trở nên mạnh mẽ hơn với chỗ hai người đang đứng: “Một căn phòng tắm lộ thiên, có thùng đựng nước, có quần áo lót của đàn bà vắt bừa bãi trên dây”. Cú chạm mặt hơi bất ngờ vào vị trí hai người sắp yêu nhau khiến “tôi” càng lúc càng rơi vào trạng thái căng cứng đến khó chịu. Ngay cả khi hai người đang hôn nhau nơi không mấy sạch sẽ và thơ mộng kia, thì sự tỉnh táo trong con người “tôi” vẫn luôn chiếm ưu thế. Những rung động thân xác khi trao đổi nhau những nụ hôn khắc khoải đợi chờ của Vị đã bị “tôi” đẩy xuống, nằm bẹp dí ở chỗ cái khóa soutien. Cảm giác đau nổi lên thật mạnh mẽ, thế chỗ cho những ngọt ngào, nồng cháy… Nó lấn át cả sự háo hức, đón đợi nơi người bạn trai để cuối cùng tạo thành mối tương quan cộng hưởng giả tạo ở động tác “dướn người”: “Vị quay lại. Chàng hôn tôi. Bỗng tôi cảm thấy đau nhói lên ở phía sau lưng vì chiếc soutien bị cấn vào vách ván. Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị nhưng thật ra để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách”.

Viết một cách trần trụi như thế này, nhất là một nhà văn nữ, hẳn nhiên sẽ gợi sự tò mò đối với người đọc. Nhưng để cho sự trần trụi không làm “tổn thương” đến các nhân vật trong truyện, chị đã khéo léo che giấu đi những nhục cảm khi “tôi dướn người về phía trước”. Động tác ấy không phải là sự cộng hưởng, đáp trả mà tác động bởi khóa móc soutien. Vị thì không nhận biết ở chỗ một đằng cái khoái cảm bị đè xuống, đằng kia thì cứ bốc cao lên. Một sự lừa dối ngọt ngào!

Trong quyển Văn học miền Nam, tập Tổng quan, Võ Phiến có nhắc nhiều lần cái cynique trong văn học và ông cho trâng tráo là cách viết, cách nói cực đoan của tinh thần hoài nghi, thể hiện rất rõ thông qua các nhân vật của Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH., Lệ Hằng… Và, đấy là hậu quả của “chiến tranh và hỗn loạn, hoàn cảnh xã hội của giai đoạn 64-75 tạo cho người ta một lối sống khác hẳn trước” (sđd, trg 292). Nhận xét này cũng có phần có cái lý của nó, khi mà tầng lớp thanh niên có học luôn tự dằn vặt về những tha nhân, thượng đế, tồn tại hay không tồn tại, những khách thể và chủ thể, sống và chết… trong bối cảnh đất nước loạn lạc, đều ít nhiều ảnh hưởng bởi trào lưu triết học hiện sinh của Pháp từ giữa thế kỷ XX.

Hiện tượng này cũng dần lấp ló nơi một Âu Thị Phục An bắt đầu bước chân vào làng văn với cái cynique đầu tiên trong truyện ngắn đầu tiên của chị, tuy có nhẹ nhàng hơn, kín đáo hơn các nhà văn nữ đi trước. Mà cũng có thể là chị biết điểm dừng, biết kềm chế, không để cho sự “nổi loạn”, cái trâng tráo của bản thân đi quá xa, khiến người đọc (thuở đó) bỗng có chút giật mình như cái kết ở truyện thứ hai này? “Thăm viếng lần nữa? Ồ, không ai đủ can đảm đưa tay đập vào vết thương của mình lần thứ hai. Không bao giờ. Căn phòng tắm lộ thiên. Cái móc soutien bị cấn và trăm ngàn nỗi cùng quẫn trong đầu… Không bao giờ. Tôi im lặng nghe Viên an ủi. Im lặng vì không biết phải phân bày như thế nào. Mà dù có phân bày chắc Viên cũng không thể nào tin được việc ấy đã xảy ra”.

Cả giới văn nghệ lẫn độc giả chờ đợi ở sự bứt phá của Phục An, như họ đã từng trông đợi sự thành công của những Túy Hồng, Trùng Dương, Nhã Ca… và gần hơn là Trần Thị NgH., Lệ Hằng. Nhưng tất cả đều đặt dấu chấm hết, kể cả người viết mới lẫn những nhà văn đã thành danh, sau ngày 30.4. Một quãng lặng khá dài, không ai cầm nổi bút, ngoại trừ một số rất ít…

Phục An cũng nằm trong số đó và chị chỉ viết trở lại chừng 5, 3 năm nay với hơn 10 truyện ngắn, nhưng phong cách thì không còn giữ được như trước 75! Tất cả các truyện ở giai đoạn này, hầu như nói về bạn bè một thời. Vị trí của họ bị thay đổi. Họ lao vào các công việc chân tay để mưu sinh; họ thất chí, rượu chè bệnh tật và cái chết (“Dù Chỉ Một Lần Cũng Không Thể”, “Trạm Cuối”), hoặc về mối tình lỡ kể chuyện người thì chồng chết vì tai nạn, kẻ thì tự ái về cách đối xử của vợ, bỏ nhà ra đi. Họ tình cờ gặp nhau, tìm đến với nhau, chia sẻ nỗi bất hạnh, cô đơn và rồi hạnh phúc bên nhau (“Mùa Thu Ẩm Ướt”)…

 

Nhưng thay vào chỗ khuyết trên, Phục An chuyển sang làm thơ, với một bút lực khá mạnh mẽ. Thơ chị xuất hiện khá đều đặn trên các trang mạng văn học. Yếu tính trong thơ chị vẫn là phận người, nỗi cô đơn chồng chất, những bất hạnh, sự bất lực và chút hạnh phúc mong manh. Đọc những dòng thơ của Âu Thị Phục An, tôi có cảm giác như đang ngồi thiu thiu nghe những khúc nhạc đồng quê theo dòng Bluegrass, bởi chị luôn lồng vào đó là những câu chuyện, đôi khi như một truyện ngắn rút gọn:

Nàng đang tắm.

Nàng đang khỏa thân trong phòng tắm.

Nàng đang ngồn ngộn sức sống trong kia.

Chàng đẩy cửa bước vô.

Nàng đang kỳ cọ liền khựng lại. Anh muốn tắm? Không, anh muốn nhìn em thôi, em cứ tắm đi. Nàng nói. Coi chừng ướt anh. Không sao mà. Nàng cười rồi vô tư tắm táp.

Bỗng dưng nàng quay lại nhìn chàng. Anh muốn… không? Chàng ngập ngừng. Nếu có thể.

Nàng chống hai tay vào tường, đưa lưng về phía chàng. Nếu anh muốn, thì có thể mà.

Chàng lả đi trên giường. Cơn mệt lại đến.

Bất lực trước cái chết, hai dòng nước mắt trào ra, ngoằn ngoèo chảy loang trên khuôn mặt hốc hác của chàng.

Nàng đã cố gắng giúp đỡ chàng thật nhiều. (Lần Cuối Cùng Trong Phòng Tắm).

Có dịp ngồi bàn về thơ Âu Thị Phục An, nhiều bạn trẻ và nhiều trung niên cho rằng chị khai thác sex đến mức tối đa. Sex như là hơi thở trong thơ chị. Tôi không nghĩ vậy. Bởi sau khi đọc những bài thơ chị đăng trên các trang mạng, sex chỉ là cái cớ để chị bày tỏ thái độ, cảm xúc của cá nhân trước những vòng xoáy thời cuộc. Vì ngay chính chị cũng phải hứng chịu cảnh ngộ cay đắng đó. Chị không sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh sex như một thứ tình dục luôn đắt hàng (chữ dùng của Nguyễn Thị Hải Hà trên văn chương việt, rằng: “Sex Sells. Người Mỹ thường hay nói thế. Cái gì có dính líu đến chuyện chăn gối thường dễ hấp dẫn người nghe người xem người mua bán, như tôm tươi thường đắt hàng. Các nhà văn Hoa Kỳ khá dạn tay khi viết về tình dục. John Updike, Philip Roth, Paul Auster, Joyce Carol Oates đều mang tình dục vào tác phẩm”

Thơ Phục An cũng không dung tục như Vệ Tuệ trong tác phẩm “Điên Cuồng Như Vệ Tuệ” (Trung Quốc), hay sàm sỡ thô bỉ như “Sợi Xích” của Lê Kiều Như. Đó là những thứ cặn bã, rác rưởi của loại văn chương hạ cấp!

Tính dục trong thơ Phục An trong veo như giọt sương mai, chỉ để diễn đạt nội tâm, giãi bày những ẩn ức về mặt tâm lý, không hề có sự ức chế sinh lý.  Những hình ảnh chúng ta bắt gặp trong thơ, thông qua từ ngữ mang tính ẩn dụ nhiều hơn. Chị không dùng ngôn ngữ nhằm phô diễn sức nặng vốn có của hình ảnh thông thường, mà hơn hết là để chuyển tải tứ thơ. Vì, theo ông Đặng Tiến: “Nói đến lời trong thơ là nói đến từ ngữ, hình ảnh và nhịp điệu, nói đến cả khoảng im lặng bên trong câu thơ, hoặc chung quanh bài thơ…” (Đặng Tiến, Thơ, thi pháp và chân dung, trg 58, nxb Phụ Nữ, HN, 2009). Và: “Ý trong thơ, khác với ý trong văn xuôi, ở chỗ nó không có giới hạn, không có kích thước. Tạm nói là nó mông lung, bất định” (sách đd, trg 60).

Đọc nhiều lần, cảm quan của tôi về thơ Phục An vẫn là: sex phi sex. Xin dẫn một bài thơ của chị:

bám vào lềnh bềnh vỉa hè

những bộ xương người cúi xuống nâng ly

bám vào phù hoa

những bộ xương người cúi xuống nâng bi

da thịt em trắng ngần

ướp nhầy nhụa máu trinh

dâng anh một lần

toang hoác bình minh

con gái

run rẩy lột xác trên những mép giường

em trượt trên chất nhờn

cay đắng

của em

nụ cười em hóa đá

cứng đờ lút vào dung nham

cơn hứng lậm vào khuya

chờ giờ hóa thạch

em muốn bám vào cội nguồn

lần nữa tái sinh

vỉa hè ủ em

hằng đêm

và anh đẩy em

tuột trôi vào lỗ cống muộn phiền

em muốn ngậm vào em

con vật nào

có thật.

(Thả Trôi)

Cách dùng từ ngữ (langue) như lời nói (parole) để diễn đạt ý như kiểu bài thơ “Thả Trôi” trên đây rất dễ gây ngộ nhận, hiểu lầm, chỉ vì chị mượn những thực thể, những hình tượng ngoại giới tạo chất liệu cho cái tứ sâu xa bên trong, là những phiền muộn, đau đớn không cùng của một kiếp người là thân phận bị xô dạt một góc “lỗ cống” nào đó chỉ có mình chị mới bị trói chặt chân tay?

Rồi đến cái nhếch nhác ở một góc phố nhỏ trong thành phố chị đang sống có những cái “phình phịch, hổn hển, leng keng” giữa một bên là thánh thiện và bên kia là sự trần trụi đến nao lòng. Nỗi buồn cuộn lên từ ngoại cảnh “bị nhìn thấy” là con đường nhỏ Huyền Trân “tai tiếng”, dội ngược vào trí não tạo thành những sắc màu, những âm thanh:

cái đầu chó gặm mất rồi

não văng tứ phía

mạch đập ở cổ còn phình phịch

cái lưỡi tuột lại le ra

trái tim tím tái còn thở hổn hển

hai cái chuông đồng treo hai đầu vú nhỏ

đung đưa bài thánh ca trên những sợi lông tơ

núp sau gốc cây đường huyền trân công chúa

áo xống tuồng tích hoa lá cành

nghiễm nhiên kiếm sống

phố chảy cuồn cuộn ánh đèn đêm

những con rắn lửa nhảy múa dưới háng

nàng và trong miệng nàng

cỏ ướt đẫm tinh trùng

người ta vẫn thấy khoái

khi ngồi tuốt trên gác chuông

nhà thờ đức bà

làm dáng

với những hình nhân cục cựa dưới chân đèn

luôn nẩy ngược và rên

thành phố không buồn ngủ

thành phố nằm ngửa nàng lại lắc leng keng

hai cái chuông treo trên hai đầu vú

nhỏ

muộn phiền

(Lắc Chuông).

Đọc những câu thơ này, nghe ra thơ không phải là thơ, càng không phải văn xuôi. Nó là sự sắp đặt cố ý của người viết, như trong các thập niên 50, 70 của thế kỷ trước, Thanh Tâm Tuyền đã cách tân thơ bằng cách “phá vỡ cái vỏ ngữ âm của câu, hay bài thơ… tháo gỡ guồng máy ngôn ngữ ra từng bộ phận rồi lắp ghép lại thành những chức năng mới, trong văn bản mới” (Đặng Tiến, http://www.diendantheky.net/2012/03/ang-tien-thanh-tam-tuyen.html).

Không thể nói Phục An chịu hay không chịu ảnh hưởng của Thanh Tâm Tuyền, nhưng chắc chắn một điều là chị đã chọn lựa thơ tự do như là môi trường tốt nhất cho sự sáng tạo của mình, để hoàn thành chức năng “tra vấn và trả lời” như nhà văn Alain Robbe-Grillet đã từng khẳng định, rằng đó chính là thiên chức của nhà văn.

Không ai có thể ngăn cấm nhà văn: thôi đừng phẫn nộ, đừng chua chát, rời xa bi kịch đã rồi của dân tộc. Cái ngóc ngách đau đớn cùng tận kia, trước nhãn quan của nhà văn là thượng đế trên chính mảnh đất mình, được Phục An giải mã bởi những hình ảnh chồng chất nhau, níu kéo nhau, tạo thành những chuỗi âm thanh bi phẫn:

nàng xõa tóc
chạy dưới nắng tháng tư
hai cái mông tròn huyền hoặc
đung đưa
bình minh rọi những tia nắng đen
điên cuồng qua nách
cát nhảy dưới gót chân bất hạnh
máu ứa từ môi thâm
tháng tư đuổi từ sau lưng
xương rồng đâm lên vú
biển ôm nàng ngất ngư
nắng của tháng tư rơi từ một bình minh đen tối
nắng cũng rơi từ âm cung mê lối
chạy đi tìm bóng của ảo tưởng xưa xa
ngày về rất vội
về dù dòng sông quê hương chật chội…
chỉ muốn trần truồng gào khóc những điêu linh.

(Bình Minh Đen)

Và, dẫn thêm bài thơ khác để nhấn mạnh thiên chức nhà văn trong ngòi bút chị:

tôi rất buồn
khi đi trên những con đường không còn vỉa hè
khi
(…) ngồi rung đùi trong nhiều biệt thự
spa, resort, hotel năm sao, du lịch Thái Lan, Sing, Trung Quốc
những cái chợ tự phát bên lề đường không cần đóng thuế
những “gái chợ đông” ôm thúng co giò chạy khi thấy công an
những “trai giữa chốn ba quân” trơ mặt chạy xe ôm nám đen khuôn mặt

tôi rất buồn
khi đất nước tôi
chạy theo (…)
20 năm máu lửa chết chóc xảy ra.

(Năm Mới Vẫn Không Có Gì Mới)

Thế giới thơ của Phục An đa chiều, rộng nghĩa. Chị đã phá bỏ những luật lệ trong thơ cổ điển (như nhiều nhà thơ đi trước đã từng làm) để tìm kiếm cái đẹp, dẫu cho cái đẹp ấy hàm chứa bao nỗi nhục nhằn của một kiếp người. Tuy nhiên, khi đến với thế giới thơ Phục An, nếu chỉ lướt qua, một lần thì dễ bị những ẩn ngữ kia đánh lừa, bởi bề ngoài ngôn ngữ mang đầy chất phồn thực, lớp lớp những khoái cảm của tính dục là “những khắc khoải, thao thức về thân phận, khát vọng làm người của một con người” như chị đã từng tâm sự.

Đa chiều và rộng nghĩa chỉ khi nào người đọc chịu khó đào xới ở dưới tầng sâu để thấy được cái ý ẩn nấp trong lời, như một vì sao lạ giữa muôn ngàn tinh tú giữa tầng không mênh mông.

Chị là người đã miệt mài mang thơ đi tìm sự tự do tuyệt đối trong khoái cảm tính dục, vất vả lăn tới chân trời xa lạ, mà ở đó cái đẹp là những câu trả lời từ những tra vấn liên tục về phận người?

 

Nguyễn Lệ Uyên

 

 

NẮNG SÀI GÒN

tiếng con ve lưng chừng ngày vạn cổ
trang vở rêu xanh đỉnh tháp nhà thờ
dưới hồ con rùa ai đợi từ kiếp trước
dấu chân người luênh loáng một hồi chuông

chút buồn ta cũng từ sợi tóc hóa thân
những con đường mai sẽ hương trầm
chưa hò hẹn đã run cành hoa nắng
trong tay cầm như bóng nước long lanh

tiếng chim đánh rơi dĩ vãng góc sân
và vĩnh cữu sẽ huyên thuyên giọng hót
tự nguyên thủy trái tim xanh rừng rú
trên tay người sẽ khổ nạn những bài thơ

chân mày cong nhíu nửa bùng binh
chia núi ra từng mảnh chiều hoang dại
ta ngồi lắng nghe biên đồn thất thủ
chạy đi đâu cho khỏi nắng sài gòn

 TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Em đi bỏ lại tháng ngày

,

Em đi bỏ lại tháng ngày,
Tôi và
chiếc lá vàng bay 
cuối mùa.
Thu này phố cũ thưa mưa
Hàng me kỷ niệm hương vừa vừa phai.
.
Nhớ em tôi thở hơi dài
Tìm trong khói thuốc bóng ai mịt mùng
Ngoài kia gió gọi mông lung
Biết em còn nhớ mùa không mà về! 

 

Trần Tuấn

NGÀY THẤM MỆT.

 

Mang thị phi treo trên đầu ngọn bút
Cuồng vọng lấm lem bôi xóa tâm hồn
Khi nhìn lại thấy cuộc đời bất ổn
Và hành trình- đâu đó- rất cô đơn.

Thời chúng ta
khó mở lòng trắc ẩn
Mỗi một người tự ôm ấp vết thương
Lúc thấm mệt
ngã bên trời
khắc khoải
Tan tác buồn
thuở hạt bụi tha phương…

Tôn Nữ Thu Dung