HỒN VIỆT- NGƯƠI Ở ĐÂU?

– Bây giờ còn cái gì là Việt nữa ông ơi! Trung Quốc cả rồi!
– Tuổi trẻ bây giờ xài hàng Tây , hàng Tàu không! Việt Nam mình có mấy …


     Hồn Việt! Ngươi ở đâu?
   Tôi không tin hắn, tay đàn ông thấp lùn, nói giọng Bắc, chủ cái cửa hàng thực phẩm tươi sống ấy. Càng không tin lời nói vừa thoát ra từ miệng con mẹ mập ú ngồi sau cái bàn lớn, vây quanh là những tủ kính, treo đầy những bộ quần áo của những hãng thời trang lớn trên thế giới: Gucci, Burberry, Armani, Versace ….Tôi chỉ tin vào trực giác của tôi, của một người đàn ông đã sống ở đất nước này năm mươi năm. Nhất là khi tôi bước ra đường, lẫn vào dòng người đông đúc đi mua sắm, hòa nhập vào một cộng đồng đang láo nháo một ngôn ngữ chung. Thứ ngôn ngữ mà tôi quá quen thuộc.Tiếng mẹ đẻ…..Nhất định nó phải có! Nó phải hiện diện quanh đây… Nhưng ở đâu?
    Con phố chạy dài, sầm uất và hào nhoáng. Những siêu thị, cửa hàng_ Nơi hơi lạnh tỏa ra mát dịu. Những dãy đèn xanh đỏ đầy ma lực và của cả dòng người trẻ tuổi đang cuồn cuộn chen lấn. Sự náo nhiệt, tiếng bass của dàn nhạc đập thình thình.Tiếng còi ô tô ré lên; càng lúc, càng đẩy sự cô độc của tôi ra phía góc đường, chổ mấy gã xe ôm đang ngồi co ro. Một tràng cười sặc sụa từ một đám thanh niên xa lạ, đuổi theo phía sau, bết vào lưng những dấu ấn nóng bừng….

  – Quanh đây có cái gì đặc biệt không ông?
  Gã xe ôm trong trạng thái mềm oặt của cái bánh xe xịt lốp , chợt bung dậy, như vừa được tống một luồng sinh khí mạnh quá mức cần thiết. Vươn cái cổ dài ngoẵng về phía tôi, gã chờn vờn như con cú đánh hơi con mồi. Đôi mắt sáng xanh trong đêm.
   – Ông hỏi gì? Ăn nhậu hay gái gú? …. Cà phê ôm nghe anh Hai?
   – Không, cái gì truyền thống một tí.
   – Quảng trường, đường biển, chợ hoa…. hay chùa chiền… Tâm linh. Gã ướm thêm.- Dịp Tết thiện nam ,tín nữ đông lắm! Vẻ bề ngoài của tôi được chuyên gia tâm lý nắm bắt.
  Không suy nghĩ lâu la gì lắm, tôi trả lời ngay: – Tâm linh đi! 
   Gã xe ôm ngoác miệng cười, cảm thấy thích thú với cái từ “độc” mà gã đưa ra đã câu được con mồi. – Lên xe…Lên xe đi, anh Hai! Rẻ mà….
   Tôi không tiếc số tiền bị chặt đẹp bởi “ con cú” đã đưa tôi tới đây, nhưng tôi cảm thấy thất vọng về nơi mà gã đưa tôi đến. Đó không phải là nơi tôi cần tìm hay nói đúng hơn cái tôi cần tìm không có nơi đó. Đó là nơi hoặc quá tôn nghiêm hoặc quá đặc thù cho tính phổ quát. Khác đi mà nói, trong diện mạo mới mẻ, những kiến trúc tinh vi của kỹ thuật tân tiến, càng khiến nó không phải là nơi ẩn thân cho cái “linh vật” mà tôi đang tìm. Sự khôn ngoan của “ Con cú”_ Kiến thức và sự nhạy cảm cần có, để hắn có thể sống được với cái nghề của hắn, trong trường hợp này là hoàn toàn sai lầm. Nhưng đó là chuyện của hắn.

Với tôi, tôi vẫn không từ bỏ!

*****

Tôi là con người của những cái mới. Rất có thể có nhiều bạn sẽ cười mỉm khi nghe đến câu nói này. Nhất là khi biết gã vừa nói là một gã đầu đã hai thứ tóc. Với những người ở lứa tuổi tôi, khi nghe đám bằng tuổi em út của mình đang bàn tán một chuyện gì đó, về các đề tài mà thế hệ chúng đang gặp phải từ chuyện chính trị, kinh tế, xã hội, thế giới….hoặc sẽ nảy sinh những cuộc tranh luận không có chỗ cho giao thoa, giữa nền tảng của hai luồng suy nghĩ, xuất phát từ hai thế hệ khác nhau…; hoặc lẳng lặng bỏ đi nơi khác, vì cho rằng mình không có chỗ đứng trong thời đại của chúng. Nhưng với tôi lại khác, tôi thấu hiểu bọn chúng hơn ai hết. Thế!…. Bởi vì hàng ngày tôi vẫn làm việc chung với bọn nó mà! Đồng đẳng, ngang hàng, không đặc quyền, đặc lợi… và được hưởng đồng lương như nhau. Trong những cuộc tranh cãi nảy lửa đơn thuần thuộc phạm trù công việc, đầy phần không kiêng nể, phần nhiều tôi vẫn bị những cú knock-out đến tái người…và khi hồi tỉnh, tôi mới đau đớn nhận ra rằng – Chúng quá thông minh và sự sáng tạo của thế giới tự nhiên này là vô hạn! Nếu không kiêng dè vì tuổi tác hoặc tối thiểu trong đạo đức cư xử giữa con người ở xã hội văn minh, chắc tôi cũng không có cơ hội kiếm được một công việc để nuôi sống gia đình.

Một vấn đề logic tiếp tục được đặt ra “ Tại sao?”….Và cũng sẽ được chính tôi trả lời- Do tôi học khá muộn! Tôi còn nhớ khi làm luận án tốt nghiệp ở lứa tuổi bốn mươi hai, ông thầy của tôi – Một vị Tiến sĩ có nói – Bằng tuổi mấy anh bây giờ, người ta đã làm trưởng phòng, giám đốc rồi! Giờ mấy anh mới tốt nghiệp đại học.”  Nghe thực chua xót! Nhưng quay nhìn ngang những gã đồng môn đứng xếp hàng bên cạnh. Những khuôn mặt già nua, chưa thoát khỏi cái trạng thái đờ đẫn như còn lạc đâu đâu trong một mớ rối nùi của kiến thức chưa tiêu hóa nổi, tôi cũng tự cảm thấy an ủi. Bọn tôi là một thành phần rơi rớt còn sót lại, do muôn ngàn lí do, trong hành trình cố gắng bắt kịp. Chúng tôi là một thứ phức hợp: Lính tráng, thanh niên xung phong, lý lịch xấu, hoàn cảnh gia đình….Một mớ tạp nham, giẻ vụn dôi ra trong buổi giao thời. Một thành phần bất trị được đẻ ra bởi thời đại cũ, mà chỉ có con đường đi học, nếu không, nó sẽ là một thứ tệ nạn khá tệ hại cho cộng đồng, khi hoà nhập với một thời đại mới. Không riêng gì bọn tôi bên này, bên kia đại dương cộng đồng nói tiếng mẹ đẻ, dù với những mục đích khác nhau, nhưng tôi biết cũng có một lực lượng tái trang bị đang cố gắng vượt qua sự khập khiễng, để hòa nhập với cuộc sống xa lạ. Trong tia hy vọng còn sót lại, Mẹ Việt đang cố khoác cho đám con râu ria, rách rưới những chiếc áo mới, để đón kỷ nguyên mới, dù chúng ở đâu, mang ý thức hệ là gì, một cách khá trễ tràng…. Biết rằng chúng phải đau đớn chấp nhận sự kỳ thị không tránh khỏi của quy luật tự nhiên. Những thế hệ đàn em đã thành đạt luôn nhận diện những chân dung già cỗi đi sau, với ánh mắt không ưu ái cho lắm!

 Đôi lúc chúng tôi cũng ưu tư, tự hỏi chính mình,  với gần nửa đời người phế hoại, liệu có ai lột xác nổi chúng tôi một cách hoàn toàn không? Mẹ Việt luôn lãng tránh những câu hỏi như thế…. Điều này lý giải cho những khoảng khắc mông lung, sự níu kéo quay về với những gì mà chúng tôi đã từng gắn bó trong một khoảng thời gian khá dài và sự xuất hiện của một nhân vật nữ, mà tôi gọi là em- Đang đại diện cho một thế hệ!

****

– “ Chợ họp ở địa phận làng Ó, xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Tương truyền ngày xưa đó là bãi chiến trận và đã có rất nhiều người chết trong các cuộc giao tranh. Là chợ đặc biệt nên chợ Âm Dương chỉ họp duy nhất mỗi năm một lần vào đêm mùng 4 rạng mùng 5 Tết Nguyên Đán (tức mùng 4, mùng 5 tháng Giêng âm Lịch).
Theo quan niệm của mọi người dân trong vùng, thì chợ họp là cơ hội hiếm có cho người chết và người sống được gặp nhau. Chợ bắt đầu họp vào lúc “lên đèn” trên một bãi đất trống, cạnh một ngôi miếu có tiếng linh thiêng trong vùng. Đây là chợ mà không có lều quán, không sử dụng đèn nến để thắp sáng. Nhiều người đi chợ thường mang theo một con gà đen được chăm sóc cẩn thận trước đó để làm vật tế thần. Tuy không có lều quán nhưng trong chợ cũng có nhiều hàng mã, hương, nến, cau, trầu…
Hàng hóa: Chợ không phải là nơi mua may bán rủi như nhiều chợ nơi khác. Trong chợ người mua không ai mặc cả, người bán không đếm lại tiền người mua trả. Trong bóng đêm chỉ thấy bóng người đi lại và tiếng thì thào to nhỏ. Người ta hầu như không quan tâm nhiều đến việc “mua may bán rủi” như ở một số chợ khác. Chợ họp là dịp để người cõi trần gặp người cõi âm. Ở đầu chợ, người ta đặt một chậu nước để thử tiền âm hay tiền dương. Sáng hôm sau, có người xem trong túi đựng tiền của mình chỉ toàn là vỏ hến, lá dong… thậm chí có cả mẩu yếm sồi.
Ý nghĩa: Những ai đi chợ đều vui vẻ, thoải mái, họ quan niệm rằng đó là dịp làm phúc, làm điều thiện với người đã chết. Cuộc sống tâm linh của họ sẽ thanh thản hơn.
  Chợ tan khi còn đêm. Sau khi tan chợ, những người đi chợ lại mời nhau uống nước ăn trầu và hát quan họ Bắc Ninh.
Đây là một hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian rất đặc trưng của vùng Kinh Bắc. Người ta quan niệm rằng, có như vậy thì việc làm ăn hay mùa vụ năm đó mới được thuận lợi.” – Nguồn Wikipedia.
….
Má tôi- Một người đàn bà mà cả cuộc đời gắn bó với cái chợ, kể “- Tao ngồi ở chợ cả đời nên tao biết, chỉ có cái chợ họp vào sáng hai mươi chín Tết là linh nhứt. Tao nhớ năm 78,79 gì đó .Bữa đó tao dọn hàng sớm. Trời tối om. Mấy sạp gần bên chưa ai dọn. Có ông thương phế binh chống nạng tới hỏi mua cái mũ. Tao tưởng ăn xin, vì ổng mặc đồ rằn ri mà lúc đó giải phóng lâu rồi. Thấy tội nghiệp nên tao nên tao cho luôn cái mũ. Ổng cứ nằng nặc đòi trả tiền. Cực quá tao mới nhận. Lúc sáng rỡ, tao dỡ ra mới thấy giấy nhựt trình không ! Còn cái mũ nằm chõng chơ dưới đất. Người ở dưới ,họ cũng đi sắm Tết như mình!” Bọn tôi lúc đó còn là những đứa nhóc, tin răm rắp lời bà và cũng từ đó, hiếm đứa nào đòi theo má đi dọn hàng vào những ngày giáp Tết nữa. 
  Chừng như với cái không khí âm lạnh, sắc nhập nhoạng của âm dương hòa trộn, sự mong mỏi thống thiết và tiếng thở dài đến quặn lòng của những người đàn bà suốt đời ngồi chợ, trong một sự di truyền từ đời này qua kiếp khác, trên một đất nước luôn đau quặn vì khói lửa, đã kéo không gian quá vãng và thực tại vào một ranh giới khó phân định, nơi họ hy vọng sẽ tìm lại những gì đã đánh mất ở quá khứ, mơ tưởng được toàn vẹn nó trong thực tại ,với cái khung không gian nhỏ bé là cái chợ…….Và niềm tin ấy quá lớn lao đến thiêng liêng.
   Theo tôi nhé em!

****

 Chợ đã nhóm họp từ nửa đêm, trong cái tiết mưa xuân. Mưa đâu từ hôm qua và cũng vào đêm. Những hạt mưa nhỏ, chừng như không trọng lượng, vần vũ như bụi, bám vào bất cứ nơi đâu có thể bám- Những chiếc lá, thân cây, cánh hoa, những bàn tay đen đúa, gân guốc…. Chúng đi tìm nơi trú ngụ, kết thúc đời phiêu lưu ngắn ngủi của mình, vỡ ra như không còn vỡ được nữa, hòa nhập thành những dòng chảy nhỏ, len lỏi vào những kẽ nứt, bào mòn những vết thương sâu hoắm trên những khuôn diện lồi lõm, bị ăn thủng bởi bóng tối, trong cố gắng dung hòa, tụ lại thành những giọt lớn hơn, rỏ tong tong xuống nền đất. Đất lầy nhầy, khoét rãnh răng cưa theo dấu chân người. Con đường chao nghiêng về một phía. Ngọn đèn đường phả màu vàng của nẫu chín, của thâm kim xuống thân hình gầy gò của những người đàn bà đang bày biện quang ghánh, thúng mủng…. dát lên một dáng vẻ trì trệ_ sự níu kéo của giấc ngủ chưa đẫy, trạng thái mù lòa của ý thức, của cái gì đó còn đang được dắt díu bởi mông muội. Âm thanh lép nhép tiếng chân người, vết bánh xe, bùn … Những lời thoại thầm thì…lúc có, lúc không…lúc văng vẳng rất xa…của thực, của ảo thanh. Mùi thoáng đãng của gió xuân đâu đó tràn về, ngai ngái của lá dập, tanh tao của bùn ….mùi chiếu gối chưa loãng trên thân thể của những người đàn bà. Đậu bên kia đường là dăm gã xích lô với khuôn mặt đã hóa đá.
 Những phiến hoa tươi, những đống trái cây màu mã não trên sắc tối, những con gà trống thiến với cái cổ dài như đóng đinh, những búi rơm vàng ruộm của đồng lúa co mình, đống vỏ khoai tươm nhựa, chiếc bóng của mẹ đổ xuống vỉa hè…….và màu trắng lòa của chiếc nón lá, ai đó vô tình bỏ quên bên góc đường.
 Một cộng đồng với những hoạt động thầm lặng như bị thôi miên trong sắc tối nhòe nhòe_ Ma mị!

***

  Bỏ dép ra đi em! Tôi nhắc khẽ với người con gái. Đi chân trần và cảm nhận được bùn. Tự dưng thấy thương tà áo dài trắng lấm tấm màu bùn. Thương em, vụng về…. Thương cái màu son của gót chân trên màu thẫm của bùn. Thương cái ướm chân run rẫy, khe khẽ. Thấu cái cảm giác gây lạnh và nhơm nhớp ban đầu; cái đường đột của gan bàn chân như tê cóng lại. Bùn tràn vào khe hở những đầu ngón chân, lan đến làn da đeo quai dép. Khứa những đường rãnh tế vi trên nền da trắng….Để em biết thương bàn chân sứt sẹo của Mẹ, những dặm đường dài thời gian, mòn mỏi trên bùn; để em còn biết thương đôi bàn chân nứt nẻ của chị, nơi bùn ăn lậm như một phần cơ thể, theo suốt cuộc đời _ lặn lội chợ búa, ruộng đồng…..

  Để em biết thương người! 

……
  Lại đây em! Lại thăm người đàn bà bán trầu cau trước cổng chợ.

   Mẹ! Mẹ cười móm mém. Tay thỉnh thoảng vén ống quần đưa lên quẹt nước bã trầu đỏ tươi, trào ra trên miệng. Trên tấm nilon tạm bợ là dăm chục lá trầu, mấy buồng cau, mớ sắc vún, ống vôi tươi…Mái tóc bạc trắng, xe chỉ. Tấm lưng còng, gẫy gập của một đời tần tảo chồng con. Mẹ ngồi thu người trên cái đồ ngồi, lọt thỏm. Những ngón chân có móng chân dài, thò ra ngoài đôi dép nhựa trắng, đầy cáu ghét và….. bùn. Thời gian bám rễ, đánh những nếp gấp sâu hoắm trên phận người, trên khung diện. Một đôi mắt đục lờ- Đôi mắt của người khiếm thị. Một bức màn trắng nhờ kéo ngang đôi mắt, khuất lấp những tia nhìn yếu ớt, nhưng cũng không khó cho người đối diện nhận thấy sự từ tâm, một quá khứ mỏi mòn, đầy nước mắt …Có biết bao người mẹ Việt như thế trên đất nước này, hở em?
– Má bán thu nhập có khá không má?
Mẹ cười, nghễnh ngãng. Đôi bàn tay với những khớp xương khô cứng, khum lại, đặt lên lỗ tai để nghe rõ hơn. Khung người nghiêng về phía trước.
– Tụi bây mua trầu cau làm đám cưới hả?
– Dạ không….câu nói ngắt quãng.
Em cười, ngượng nghịu….
Đột dưng, thâm tâm khẽ bảo:

– Mẹ ta đó em… Lạy mẹ đi em!

****

    Những nải chuối sứ căng mình trong lớp vỏ màu lục bảo. Những trái đu đủ ươm vàng , còn dính những vệt đất, chắc vừa hái vội vàng từ vườn đem xuống. Đống vú sữa tròn, tím mọng…..Những cánh hồng đỏ nhưng nhức. Nụ lay ơn lơi lả, bên trong những đường gân xanh là cả một cố gắng kìm chế sự khoả bung. Góc kia những bông hoa vạn thọ hâm nhiệt cho cả không gian bằng màu vàng của nắng đọng giọt còn sót lại cuối mùa, cháy lên trong màn đêm. Những trái dưa ung nẫu thẫm màu trên nền rơm vàng…..thẫm hơn nữa trong góc tối….. 
  Những con gà trói chân, nằm sắp lớp, cái đầu lúc lắc nhìn chân người qua lại. Người đàn bà đội chiếc nón lá sùm sụp, gật gù trong mơ màng. Một con heo, eng éc bên cạnh, quẫy lộn trong cái sọt…Mùi phân lậm trong không khí, làm em thoáng cau mày….
  Chị đon đả cười. Cả mùa xuân chừng như tiềm ẩn trong nụ cười, khuôn mặt của người đàn bà bán hoa. Chính sự rạng rỡ ấy đã tạo nên một dấu ấn tin cậy ,dù rằng một phần khuôn mặt vẫn còn nằm trong cái bóng mà chiếc nón tạo ra. Thô mộc phô diễn vẻ đẹp riêng của nó!
   – Mua mai đi em! Qua lấy rẻ cho!
 Chị dắt qua những chậu mai, giới thiệu từng loài. Hoàng mai- Quân tử , Bạch mai- Chinh phụ…Chiếu thủy- Thiền sư…Những chậu cây được tạo hình mang bóng dáng của những câu chuyên cổ tích xa xôi, gợi nhớ những khoảng khắc êm đềm thuở niên thiếu. Những ngày Tết quây quần bên nồi bánh tét, nghe bà ngoại kể chuyện… Trầu cau_ câu chuyện tình bi thảm nhưng trong sáng tình vợ chồng, nghĩa anh em… Hai bà trưng _ Những liệt nữ Việt đã trầm mình dưới dòng sông Hát, trong cái vận không may của kẻ khôi phục cơ đồ, để lại cho ngàn đời sau tấm gương quật khởi của một giống nòi,…của Thạch Phụ, người phụ nữ hóa đá bồng con, mòn mỏi đứng trông chồng, làm đau đáu nỗi lòng bao thế hệ hậu sinh về thủy chung……của Kiều_ cho cái nhìn thương cảm về những cung bậc thăng trầm của người kỹ nữ…. của Bích câu, Trinh thử, của Từ Thứ_ Gã vứt áo từ quan để tìm thú vui với đời lãng tử…. Của nguồn cội? 
 Nhớ không em!

 Này em -Người con gái Giao chỉ!

****

  Với những gì nguyên sơ nhất, thô thiển nhất, đại diện cho những công cụ gắn liền với sự sinh hoạt của một cộng đồng, trên thực tế có thể đã biến mất từ lâu, ta cũng có thể tìm kiếm được nơi đây. Từ chiếc sọt tre, cái nồi đất, những dãy dài chum chõe bằng đất nung của những người Chăm bày biện dọc đường. Những sắc áo truyền thống lạ mắt của một cộng đồng anh em cùng chia sẻ mảnh đất hình chữ S -Gia tài của Mẹ để lại…đến đôi guốc gỗ mòn vẹt, dưới chân con bé bán vé số sớm, tạo nên những tiếng khua lộp cộp khi gõ xuống mặt đường, đánh động không gian của cả con hẻm. Chiếc áo bà ba nâu bó thân người đàn bà, đâu đó còn sót lại, thấp thoáng trong bóng tối. Một hàm răng nhuộm đen xứ Bắc kỳ, trong cái cười chào hàng, lẫn vào muôn khuôn mặt lòe nhòe, liêu trai. Tiếng kẽo kẹt của đôi quang gánh bằng tre mật trĩu nặng, lướt qua, phả lên da mặt sự nhọc nhoài, chát mặn vị mồ hôi. Tiếng gõ khô khốc từ hai mảnh gỗ, ba nhịp một lượt, của thằng bé bán hủ tiếu gõ- người Tiều, khuấy lên cơn đói….
    Tiếng chuông leng keng xin đường.  Một chiếc xích lô trườn qua trước mặt, câm lặng và chậm rãi….
    Anh ta đó em! Ngất ngưỡng và những cử động vụng về. Những động tác như chưa bao giờ thuần thục được suốt cả cuộc đời. Những guồng quay ruộng rã đánh dấu cho một sự vận động ngõ cụt, nơi không còn tiến hóa. Sự rơi rớt còn sót lại của những sản phẩm thô thiển trong thời đại tiền cơ khí, khi sự tiến bộ của nhân loại đã vượt qua, quá xa .Khuôn mặt trơ đá dưới quầng sáng lập lòe của điếu thuốc. Nhịp môi bất động. Cái áo lính bạc màu, vá vai cho một thời trai trẻ cống hiến. Chiếc quần túm ống trong sợi dây chun, quét những vòng tròn – Gợi quỹ tích của một đời người thua thiệt. ….Tiếng súng, những trận đánh sống mái trong quá khứ bám riết lấy cuộc sống, cho đôi mắt cái nhìn cháy rực, lac loài. Thoát ra bên ngoài, nhưng bên trong chất liệu ấy cũng vô tình đốt cháy đến nham nhở một tâm hồn. Bóng người hằn trong bóng tối, ngạo nghễ….Tâm thức mê tỉnh trong hành trình vô định để tìm lại quá khứ, trên khung chiếc xích lô xiêu vẹo. Sự bẵng quên hai bên đường, những đổi thay đã mang những khuôn diện mới mẻ, những thế hệ trẻ hơn theo quy luật tự nhiên đang giành lấy cuộc sống của chính mình.

   Bóng người khuất sau con đường, lầm lũi, cô độc. Mặt hướng về phía trước, một khối nham thạch, biến dạng. Đôi mắt cháy….đốt về một nơi, có lẽ chúng ta không hề biết đến hoặc đã vô tình lãng quên.

****

   Người đàn bà thất thiểu , đội trên đầu vòng hoa, miệng gặp ai cũng hỏi “ Sao năm nay chim én không về hả bác?”,-” Sao năm nay chim én không về vậy em?” ….Sự náo nhiệt của cái chợ trong khoảng khắc, tự dưng chùng hẳn xuống . Một dòng điện vô thức lan truyền rất nhanh, đánh quỵ cả một cộng đồng, xuất phát từ một câu hỏi trống rỗng của một người đàn bà tâm thần. Đồng loạt như nhận được một tín hiệu bí ẩn, đầy ma thuật – Tất cả những người đàn bà bỗng đóng băng trong những hoạt động của mình. Đôi tay đang gọt trái khóm của người chị dừng lại- Nửa trái khóm theo quán tính vẫn còn lăn. Sự bất động của cái vòi sen đang tưới hoa tạo một góc độ không cân xứng với thân người, như chực ngã nhào. Một sức nhấn bị tiêu tán nội lực, khiến vòng quay hụt hẫng, dẫn đến một quỹ tích rối loạn với gã xích lô…..Bất giác, mọi đôi mắt đều hướng lên trời. 
 Mà thật! Khung trời trên đầu trống vắng đến lạ lùng. Ánh đèn bên dưới hắt lên mang theo khuôn mặt vàng vọt trong cái nhìn vô vọng, để kiếm tìm những chấm nhỏ chấp chới, chao liệng báo hiệu mùa xuân.

“-Năm nay chim én không về thật rồi!”  Người đàn bà điên lẩm bẩm, bỏ đi. Những người đàn bà quay lại với công việc, nhưng thỉnh thoảng đôi mắt vẫn hướng lên trời, kiếm tìm…
 Tôi vẫn nhớ những năm chiến tranh, khu chợ thỉnh thoảng lại xuất hiện một vài người thiếu nữ, cũng tóc tai rũ rượi, những nhành hoa trắng cài trên đầu chưa úa, đôi mắt dài dại như chiếc lá chết non. Người thiếu nữ đi qua cái chợ, thật chậm, chậm như một bóng ma, cũng mang thứ sức mạnh bùa chú làm chết lặng cả một khu chợ đang nhộn nhịp…. Và khi người thiếu nữ đi qua, một khoảng thời gian lắng im khá lâu, đủ để những khuôn mặt đờ đẫn dần trở nên tỉnh táo, những người đàn bà mới quay ra thì thầm “- Tội nghiệp con nhỏ, thằng chồng mới cưới của nó chết trận đâu tuần trước!”
  Đã một thời gian khá dài, đất nước không còn tiếng súng. Nhưng những lời ca của Trịnh công Sơn “ Tôi có người yêu chết trận Ba Gia. Tôi có người yêu vừa chết đêm qua .Chết thật tình cờ, chết chẳng hẹn hò, không hận thù, nằm chết như mơ….” Hoặc của Trần Tiến “ Một ngày tiếng súng ngưng….một người lính trở về….tìm người con gái trong mùa chim én bay…” vẫn còn làm não lòng người những lúc vô tình nghe lạị.
   Xin với tôi, có lời chúc nguyện thật tâm cho những cánh én quay về, trong sự mong mỏi nhỏ nhoi của những người đàn bà, sự mãn nguyện cho một đòi hỏi từ con người đã thuộc về thế giới vô thức, số phận thiệt thòi của những người thiếu nữ Việt, trên một đất nước đã chịu quá nhiều khói lửa …. Nhớ em!

***

 …..  

   Trời sáng tỏ mặt người. Cái chợ trở nên huyên náo, rộn rịp hơn bao giờ hết. Sự hoạt động đã lên đến đỉnh điểm của nó. Dòng người đủ mọi sắc áo từ khắp nơi cuồn cuộn đổ về, lũ lượt đi mua sắm. Âm thanh thực tại át dần những suy tưởng mơ hồ. Người thiếu nữ bên cạnh đã lạc mất đâu đó trong dòng người. Tôi không đi tìm nàng. Tôi biết em cũng đủ sự trưởng thành để tìm đường về….
  Tôi bắt gặp “ Con cú” trên lề đường, trước cổng chợ. Cũng cái cười ngoác rộng, gã đon đả trước “ -Tui biết thế nào cũng gặp anh trong này. Lên xe đi anh Hai. Tui chở về nhà, không lấy tiền đâu!”
  Tôi giỡn “ – Sao ông biết! ….Tâm linh hả?”
   Hắn cười, gật gù : “ – Tâm linh…ừ tâm linh”
  Tôi nghĩ “ Gã biết! …..Ai sống trên đất nước này lại không biết!”
……..


   Trên dặm đường mưu sinh, tôi đã gặp nhiều cái chợ. Cái chợ nhỏ ven rừng cao su ở Bầu Bàng, Bình Dương; Cái chợ ở khu công nghệ cao Q.9 Thủ Đức; Náu mình giữa chốn náo nhiệt, phồn hoa Sài Gòn; Quốc lộ 22- Củ Chi; Chợ Biên giới- Tây Ninh; Trà Ôn -Cần thơ; Sóc Trăng; Long xuyên….Dù không mua gì, nhưng tôi vẫn ghé lại, chỉ để ngó. Để nhận diện khuôn mặt của những người đàn bà cả cuộc đời, với đức tính cần mẫn di truyền trong một sự gắn kết và để tìm kiếm một linh vật mà trãi qua thời gian, khói lửa, những cuộc chính biến trên đất nước này…..vẫn không phế truất được nó; bởi phần nào trong đó, là sự ẩn chứa của một bề dày lịch sử, văn hóa…. sự tử tế, lòng bao dung, tính nhân văn của một giống nòi.

Tặng những thế hệ phía sau

      Vũ Khuê                                                              

                                                                                                                                                         

Trước tượng đài Việt-Mỹ ở Houston-Texas

 

 

Ảnh: Tượng đài chiến sĩ Việt-Mỹ tại Houston-Texas-

 

cứ ngỡ mình như mới hôm qua
còn rõ nét vai đời áo trận
cứ ngỡ mình ở chiến trường xa
người lính ấy cợt đùa số phận

có gì không một sáng hôm nay ?
tim rất sốt mùa lên nắng cháy
có gì không trên đôi bàn tay ?
khi ngón trỏ phẳng lì trơ móng

một chút buồn thấm lạnh da trơn
không thể nói những gì chưa nói
không thể buồn và chẳng buồn hơn
người lính ấy của thời tăm tối

và vẫn đứng muôn đời vẫn đứng
Nam Cali hay Úc Nam Cầu
và vẫn có những người dựng tượng
mai sau còn lưu dấu thương đau….

Lâm Hảo Dũng
(PTT)

 

 

DẠO KHÚC

 

chỉ có thiên thần hiểu tôi yêu thương ra sao
chỉ có quỷ ma hiểu tôi hận thù thế nào
nhưng một vài con đom đóm
sẽ không bao giờ hiểu được ánh sáng trăng sao
và một giọt nước cũng không bao giờ hiểu được
trùng dương
sóng
gió
dạt dào …

chỉ có dòng sông biết số phận rong bèo
chỉ có không gian biết tình mất về đâu
nhưng em chẳng bao giờ em biết
linh hồn tôi đốt lửa đêm thâu.

phải đứng trên đỉnh cao ta mới nhìn thấy vực sâu
phải lặng yên mới nghe được tiếng gió gào
nhưng trong cõi nhân gian nào mấy kẻ
nghe những lời ta nói với nhau.

chỉ có anh hôn bức tường in bóng dáng em
chỉ có em tràn đầy trong trí nhớ anh
xin đừng hỏi ai là người duy nhất
gọi em – mây trắng vô danh.

Nguyễn Quang Tấn

Tiếng Nói Trong Đêm

 

Nguyên tác: La voix dans la nuit –tác giả William Hope Hodgson

Đêm tối như bưng. Bầu trời không một ánh sao. Tàu buồm của tôi buông neo trong một vịnh nhỏ ở vùng tây bắc Thái Bình Dương. Thuỷ thủ đoàn chỉ có hai người và một cậu bé tập sự đang ngủ say. Ông bạn tôi là đại uý thuyền trưởng Will đang nằm dài trong buồng lái phía sau, còn tôi thơ thẩn trên boong, cảm thấy hơi lạnh từ lớp sương mù dày đặc, lãng đãng chung quanh, từ trên ngọn cột buồm sà thấp xuống, lan toả trên mặt biển lạnh lẽo đen ngòm.

– Oh! hê! Tàu buồm!

Một tiếng gọi bất ngờ vang lên trong đêm tối, phía bên trái mạn tàu – giọng khàn khàn khác người. Tôi kinh ngạc đến sững sờ, cứng cả miệng, không thốt được nên lời.

– Oh hê! Tàu buồm!

Tim đập mạnh, tôi cố trấn tĩnh, run giọng hỏi:

– Ai đó?

Như nhận được sự bối rối của tôi, tiếng nói lạ lùng chậm rãi:

– Đừng sợ, ông bạn. Tôi chỉ là… Một ông già.

– Ông muốn gì? Tại sao ông có vẻ lén lút vậy? Cập thuyền lại đây xem nào.

Cái giọng khàn khàn chợt lúng túng:

– Tôi… tôi… không thể, nguy hiểm lắm. Tôi… tôi…

– Ông nói gì kỳ vậy? Tại sao nguy hiểm? Ông đang ở đâu thế?

Chung quanh chợt im lặng như tờ. Tôi bước nhanh vào trong lấy cây đèn bấm hướng chùm tia sáng vào khoảng mênh mông ngoài mạn tàu. Trong khoảnh khắc, tôi nghe một tiếng kêu tắt nghẹn, tiếp theo là một tiếng khua nước như có ai vừa phóng mạnh mái chèo, chỉ trong một tiếng mà thôi. Qua làn ánh sáng nhoà nhạt của ngọn đèn, tôi thoáng thấy một vật gì mờ nhạt mất hút rất nhanh, hình như là một chiếc thuyền. Will đã thức giấc, anh đến bên tôi:

– Có chuyện gì vậy?

Sau khi nghe tôi kể lại, Will im lặng một giây, rồi khum tay làm loa gọi lớn:

– Ohê! Thuyền!

Từ rất xa, chúng tôi nghe có tiếng trả lời yếu ớt vọng lại. Vài phút sau, lại có tiếng mái chèo khua nước. Tiếng nói khàn khàn rõ hơn:

– Cất đèn đi.

– Ông đến gần đây đi, không có gì phải sợ cả.

– Tôi van các ông hãy cất đèn đi!

Giấu ánh đèn sau lưng, tôi bực tức la lên:

– Quỷ tha ma bắt, tại sao ông lại sợ ánh sáng chớ?

– Bởi vì… bởi vì…

Will vừa dứt lời, tôi nghe tiếng mái chèo và tiếng nói xa dần, tràn đầy vẻ thất vọng và thống thiết:

– Xin các ông bỏ lỗi… tôi không muốn quấy rầy các ông chút nào. Ngặt vì… tôi đói quá, và… cô ấy cũng thế…

Tôi chưa biết phải xử xự ra sao thì Will đã gọi lớn:

– Ông hãy trở lại đi, chúng tôi sẽ tắt ánh sáng.

Quay sang tôi, Will nói:

– Kỳ dị thật, nhưng không sao đâu. Anh tắt đèn đi.

Bóng tối tràn lên biển. Tiếng mái chèo lại tiến đến gần. Will hỏi:

– Nào, ông muốn gì?

– Tôi… tôi đói quá… tôi cần một ít lương thực…

– Hãy đến gần đây.

– Tôi… tôi không thể, tôi không dám đến gần quá… kể cả việc trả tiền cho các ông.

– Khỏi cần, nơi đây còn rất nhiều bánh và đồ dùng, ông muốn lấy bao nhiêu cũng được.

– Các ông tốt quá. Cầu Chúa phù hộ cho các ông.

Đột nhiên Will hỏi:

– Thế còn… cô ấy là ai?

– Đó là vợ tôi, cô ấy đang ở lại đảo.

Tôi ngắt lời:

– Gần đây có đảo à? Chúng tôi có thể đến đó được không?

Giọng nói gàn lên, hoảng hốt:

– Không, trời ơi, không… – ngừng một lát – Xin lỗi các ông vì đã lớn tiếng, bởi cơn đói và nỗi bất hạnh đang hành hạ làm tôi mất cả lý trí.

– Không sao, hãy chờ tôi một phút.

Trong khoảnh khắc, Will trở lại, tay ôm đầy những gói, hộp:

– Ông có thể cặp thuyền lại gần đây để lấy đồ không?

Giọng nói yếu ớt pha lẫn sự thèm thuồng, thổn thức:

– Tôi… tôi không dám.

Lòng tôi đầy trắc ẩn khi nhận ra rằng con người tội nghiệp đang đối thoại với chúng tôi trong khoảng tối đen ngòm kia không điên, mà hình như ông ta đang là nạn nhân của một sự kinh tởm nào đấy, nên phải giấu mặt như vậy.

Chiếc thùng gỗ chứa đầy đồ tiếp tế được vứt xuống biển. Lát sau, có tiếng reo nhỏ vọng lên trong đêm tối. Rồi mái chèo khua nước bơi đi. Thật là kỳ dị. Trong cuộc đời làm ngư phủ, chưa bao giờ tôi gặp trường hợp thế này. Thời gian lặng lẽ trôi, Will vẫn đứng cạnh tôi, chuyện bất ngờ lạ lùng ấy đã làm anh hết muốn đi ngủ.

Dễ đến gần ba tiếng đồng hồ, chúng tôi lại nghe tiếng mái chèo vang lên giữa đại dương tĩnh mịch, Will thì thào:

– Anh ta trở lại kìa.

Tiếng mái chèo tiến lại gần, mạnh mẽ và dứt khoát. Chắc là họ đang rất cần thực phẩm. Chiếc thuyền nhỏ ấy hẳn phải ngừng cách tàu chúng tôi một quãng ngắn thôi và tiếng nói lại vang lên trong đêm:

– O hê, tàu buồm!

– Lại ông đấy à! Thế nào?

Tiếng nói ngập ngừng:

– Tôi đã bỏ đi rất đột ngột… tôi… và cô ấy đã quên cám ơn các ông. Các ông thật hào hiệp, cầu Chúa ban phúc lành cho các ông.

Tiếng nói lại tiếp tục:

– Tôi và cô ấy nguyện cùng nhau chia xẻ sự thử thách nghiệt ngã này và thề đến chết cũng không thổ lộ cho ai biết. Nhưng những gì xảy ra trong đêm nay đã đánh thức thiên lương của chúng tôi. Chúng tôi phải nói cho các ông biết những điều chúng tôi phải chịu đựng từ khi… từ khi…

Will hỏi nhẹ nhàng:

– Từ khi nào?

– Từ khi tàu L Albatros bị đắm…

Tôi vô tình kêu lên:

– A, con tàu đã mất tích ngoài đại dương… lâu lắm rồi.

– Vâng, từ Newcastle, con tàu không đến được San Francisco vì đã gặp một trận bão khủng khiếp ở phía Bắc xích đạo, đánh gãy cột buồm. Đến sáng, bão lặn, nhưng tàu bị vào nước. Lúc ấy, chúng tôi đang ở trong căn phòng bên dưới nên không biết gì cả. Các thuỷ thủ đã dùng những thuyền nhỏ bơi đi, bỏ tôi và vị hôn thê của tôi lại trên chiếc tàu sắp đắm. Sự hoảng sợ đã làm họ mất hết nhân tính. Tuy nhiên, chúng tôi không tuyệt vọng. Chúng tôi bắt tay làm một cái bè, gom một ít nước và bánh quy, rời khỏi chiếc tàu lớn đang chìm. Bè của chúng tôi trôi theo một dòng hải lưu nên tiến rất nhanh. Chỉ trong vài giờ, cột buồm gãy của con tàu L Albatros bất hạnh đã mất hút trong sương mù. Sương vẫn rơi mãi suốt đêm hôm ấy và cả đến những ngày hôm sau. Vào một buổi chiều, chúng tôi nghe vọng từ xa, có tiếng sóng vỗ vào bờ càng lúc càng rõ. Đến nửa đêm, chiếc bè bị sóng nhồi lên cao, đẩy chúng tôi vào đến một vịnh yên tĩnh, những cơn sóng bạc đầu đã ở phía sau.

Bình minh lên, ánh mặt trời rực lửa sưởi ấm tâm hồn. Chúng tôi quỳ gối cảm tạ Thượng đế khi nhận thấy trước mắt mình hiện ra một chiếc tàu buồm lớn đang kẹt trong vịnh. Sự im lìm vắng vẻ của chiếc tàu không làm chúng tôi lo sợ, chúng tôi chống bè về phía đó và gọi lớn nhưng không có ai trả lời.

Khi bè sát cận tàu, thấy sẵn có sợi dây, tôi níu lấy trèo lên. Tôi leo rất khó khăn vì một loại rêu màu xám nhạt phủ đầy sợi dây, loại rêu này cũng dày đặc boong tàu, cột buồm, gút dây… khi tôi lên đến nơi. Lúc bấy giờ, tôi chả để ý đến điều đó, chỉ mong gặp một ai trên tàu nhờ giúp đỡ. Tôi réo gọi nhưng bốn bề lặng yên. Tôi đi về phía mũi tàu, mở cửa xuống tầng dưới. Cửa vừa mở, tôi đã lùi lại và đóng sập lại ngay: mùi ẩm mốc nồng nặc xông lên muốn lộn mửa và tôi hiểu ngay là chẳng còn ai sống sót trên con tàu này.

Tôi cảm thấy cô đơn lạ lùng nên vội quay về bè. Người yêu của tôi vẫn ngồi đấy, nhìn tôi bằng đôi mắt trong xanh:

– Có ai trên tàu không anh?

– Hình như chiếc tàu này bị bỏ hoang từ lâu. Em có muốn lên xem thử không?

Nàng gật đầu và chúng tôi cùng lên tàu, lục lạo khắp các phòng phía đuôi tàu, không khí lạnh lẽo đến rợn người, chẳng có một dấu hiệu nào của sự sống. Chung quanh tràn đầy mảnh rêu, hình thù u uẩn kỳ dị. Tôi nói:

– Chúng ta có thể tạm ở đây.

Chúng tôi chọn hai phòng tốt nhất, cọ rửa sạch lớp rêu làm nơi trú ngụ. Ngoài ra, chúng tôi còn tìm thấy một số thực phẩm và chỗ đặt bơm nước. Và ngay giây phút đó, chúng tôi cảm thấy hàm ơn biết bao lòng nhân ái vô biên của Đức Chúa Trời.

Nhưng một sự việc xảy ra làm nguội bớt sự lạc quan của chúng tôi, đó là sự sinh sôi nẩy nở của loài rêu kỳ quái ấy, chỉ trong vòng một ngày đêm, chúng trở lại ngay tình trạng cũ, nghĩa là lại phủ đầy sàn, vách, bàn ghế… mặc dù trước đó, chúng tôi đã cọ rửa kỹ càng. Sau đó, chúng tôi tẩy chúng bằng nước Phenol tìm thấy trên tàu, nhưng vô ích, đám rêu tệ hại kia vẫn tự nhiên xuất hiện, thậm chí càng tăng nhiều hơn, như thể những hạt mầm được nhân giống khi chúng tôi chạm tay vào.

Vào một sáng sớm, khi vừa thức giấc, tôi run lên khi thấy vết xám ghê tởm quen thuộc đã xuất hiện trên mặt gối, và cả trên khăn quàng của người yêu, tôi hoảng hồn quăng tất cả xuống biển. Tôi không dám hé môi cho nàng biết, vội vã gom một số vật dụng đưa nàng lên đất liền. Tôi mang theo cả một tấm vải buồm đủ để dựng hai cái lều nhỏ, chúng tôi sống hạnh phúc bên nhau… cho đến một hôm, trên ngón tay của nàng hiện lên một vệt xám, tròn và nhỏ như một nốt ruồi. Trời ạ, tim tôi đập hoảng loạn khi nhận thấy trên ngực mình, cũng có một vệt như thế, loại thực bì tàn độc ấy đã bắt đầu tấn công chúng tôi.

Một tháng, hai tháng rồi ba tháng trôi qua, những mảnh rêu khác xuất hiện tiếp tục. Dù tuyệt vọng, chúng tôi vẫn cố chống chọi với sự đe doạ tiến đến từ từ. Thỉnh thoảng chúng tôi mạo hiểm lên lại tàu tìm xem còn gì đáng giá không. Ở đó, vẫn loại rêu mọc dai dẳng, có cây cao đến ngang đầu. Lúc này, chúng tôi đã bỏ mọi ý định, mọi hy vọng rời khỏi đảo. Biết rằng, mình không còn được quyền sống giữa loài người với nỗi bất hạnh mang trên thân thể, nên chúng tôi phải tính đến việc tiết kiệm lương thực vì không biết cuộc sống sẽ còn kéo dài đến bao lâu nữa.

Tiếng nói người giấu mặt trở nên mệt nhọc:

– Thức ăn ngày càng cạn, chúng tôi tìm cách câu cá trong những hồ nước mặn, nhưng than ôi, một vài con cá bé ti chẳng giúp bao nhiêu cho chúng tôi chống lại cái đói đe doạ. Tôi cảm thấy dường như chính nạn đói sẽ giết chúng tôi nhanh hơn cả loài rêu độc hại kia.

Một buổi xế trưa, tôi trở về lều, thấy vợ đang ăn ngấu nghiến một cái gì.

– Em ăn gì thế?

Nàng ngượng ngùng quay đi và lén lút quăng ngay vật trên tay qua khe lều. Tôi nghi ngờ chạy lại nhặt lên, trời ạ, một mảnh rêu xám. Tôi tiến lại, mặt nàng tái nhợt như xác chết rồi lại đỏ rần, nàng sụm xuống, oà khóc nức nở.

Sau đó, suốt ngày, tôi cảm thấy một sự khích động lạ lùng bao quanh, lôi kéo tôi rời khỏi người yêu, đi dọc theo một con đường khúc khuỷu đầy cát trắng. Tôi đi mãi… đi mãi…

– Ối… Ôi…

Một giọng khàn khàn cất lên, về phía trái, ngay sau lưng. Tôi quay phắt lại và bủn rủn cả tay chân khi nhận thấy một đám rêu xám hình dáng kỳ lạ, đụng vào khuỷu tay tôi bắng một động tác nhịp nhàng. Tôi chưa kịp phân định được dạng thể của đống bùi nhùi ghê tởm ấy thì tim tôi chợt thắt lại, tiếng kêu được lặp lại bằng một âm thanh xé lòng.

– Ối… Ôi…

Một cánh tay khẳng khiu như que củi, xuyên qua đống rêu xám run rẩy hướng về tôi. Và, cái đầu của vật đó, một cục tròn màu xám không có hình dáng rõ rệt, nghiêng về phía tôi. Tôi đứng như trời trồng khi cái tay gớm guốc ấy lướt qua mặt tôi. Tôi bật lên một tiếng kêu kinh hãi và nhận ra một mùi vị nhạt nhẽo trên môi, ngay ở chỗ vật đó vừa chạm vào. Tôi liếm môi và cảm thấy lòng tràn đầy một ước ao điên dại. Tôi quay lại và chọn một mảnh rêu ôm vào lòng. Tôi ghé răng cắn vào, tôi nhai, tôi nuốt, tôi xâu xé một cách tham lam. Cuối cùng, cơn kích động chấm dứt, tôi liệng mảnh rêu ra xa, đau đớn nhận rõ nỗi bất hạnh của mình. Cái đống rêu xám trước mặt tôi chính là một con người. Con người ấy đã cùng nhiều người đến đây, trên chiếc tàu buông neo trong hồ nước mặn ven biển. Loài rêu quái dị ấy đã tấn công họ, tiêu diệt họ và bây giờ là đến lượt chúng tôi.

Sau đó, bằng một ý chí mãnh liệt, chúng tôi quyết định không nếm cái thức ăn ghê tởm ấy nữa, cho dù chúng vẫn tiếp tục sinh sản trên cơ thể chúng tôi không cách gì ngăn được… cứ như thế, như thế… cuối cùng, chúng tôi không thèm để ý đến chúng nữa.

Ngày qua ngày, sự ham muốn ăn loài rêu ghê rợn ấy đè nặng lên ý chí chúng tôi. Khi miếng bánh cuối cùng vừa hết, tôi cố gắng ra khơi để câu cá và may mắn gặp được các ông. Tôi đã nói, tôi chỉ là một ông già, nếu tính theo tuổi thì tôi đã nói dối. Nhưng… nhưng đối với chúng tôi, tuổi trẻ đã rời khỏi chúng tôi kể từ ngày nỗi bất hạnh ấy chụp xuống đời.

Tiếng mái chèo lại khua nước, một lần, hai lần, rồi ba lần… Tiếng nói trong đêm như vang lên từ một cõi mơ hồ nào xa:

– Thượng đế ban phước lành cho các ông! Tạm biệt!

– Tạm biệt!

Có một bàn tay ai đang bóp nghẹt trái tim tôi. Có phải đó là bàn tay của những kẻ đã nhẫn tâm bỏ lại con người trên chiếc tàu sắp đắm để cứu lấy mạng sống riêng mình, phó mặc hai sinh linh cho cơn đói khát hành hạ họ giữa biển? Hay bàn tay của những người khốn khổ ấy, trong cơn đói điên cuồng đã xé thịt một đồng loại mà họ ngỡ là một đám rêu? Bây giờ sự hối hận như một đám rêu kinh dị đang mãi bao bọc con người ho…? Dù sao thì một bàn tay nào đó cũng đang bóp nghẹt tim tôi sau khi tôi được nghe câu chuyện này…

Rạng đông vừa lên. Mặt trời chiếu những tia nắng trên biển, xua tan sương mù và soi một vệt sáng trên chiếc thuyền nhỏ vừa dần xa.

Ngay lúc đó, tôi nhận thấy một vật kỳ lạ nghiêng nghiêng giữa những mái chèo: Một đám bọt bể khổng lồ, lom khom và có màu xám, tất cả đều màu xám, cái thuyền, mái chèo, và cả cuộc đời con người bất hạnh ấy. Tôi không thể nào phân biệt được sự liên hệ giữa bàn tay và mái chèo. Cả cái đầu cũng vậy, chỉ là một vật tròn ngọ nguậy hướng về phía trước, trong khi mái chèo đưa ra sau vạch những đường dài trên mặt nước.

Rồi, chiếc thuyền mất hút trong vệt ánh sáng đong đưa… đong đưa về phía sương mù.

Nguyễn Thùy An dịch

 

Kiếp sau

 

 

Stephen King là nhà văn chuyên viết truyện kinh dị người Mỹ. Truyện ngắn “Afterlife” được xuất bản lần đầu trên tạp chí Tin House số Summer Reading (#56) tháng 6 năm 2013, và được sửa và in trong tập The Bazaar of Bad Dreams (New York: Scribner, 2015) 193–206.

William Andrews, một nhân viên ngân hàng đầu tư ở Goldman Sachs, qua đời chiều ngày 23 tháng 9 năm 2012. Đó là cái chết đã được dự tính; vợ và các con đã trưởng thành của ông ở bên giường. Tối hôm đó, khi cuối cùng bà cũng cho mình một khoảng thời gian được ở một mình, tránh dòng họ hàng và khách viếng không ngớt, Lynn Andrews gọi cho người bạn lâu năm nhất, vẫn sống ở Milwaukee, của bà. Sally Freeman là người đã giới thiệu bà với Bill, và nếu có ai xứng đáng được biết sáu mươi giây cuối cùng của cuộc hôn nhân ba mươi năm của bà, thì đó là Sally.

“Anh hôn mê gần như cả tuần rồi – do thuốc – nhưng sau cùng thì tỉnh. Mắt anh mở, và anh nhìn mình. Anh cười. Mình cầm tay anh và anh hơi nắm chặt lại. Mình cúi xuống hôn má anh. Khi mình đứng lên, anh đã đi rồi.” Bà đã đợi hàng giờ để nói ra điều này, và nói được nó ra, bà bật khóc.

***

Bà cho rằng nụ cười của ông là dành cho bà cũng là điều tự nhiên, nhưng sai lầm. Trong lúc ông nhìn lên vợ và ba đứa con đã lớn của mình – trông họ cao không tưởng, những sinh linh khỏe mạnh sống trong một thế giới mà ông đang rời bỏ – Bill cảm thấy cơn đau ông chung sống trong mười tám tháng qua rời cơ thể ông. Nó đổ ra như nước tràn khỏi xô. Vậy nên ông mỉm cười.

Với cơn đau đã đi, không còn nhiều ở lại. Cơ thể ông có cảm giác nhẹ như một sợi bông. Vợ ông cầm tay ông, vươn xuống từ thế giới cao và khỏe mạnh của bà. Ông còn dành lại một chút sức lực, và giờ thì ông sẽ dùng hết nó bằng cách siết chặt những ngón tay bà. Bà cúi xuống. Bà sắp hôn ông.

Trước khi đôi môi bà có thể chạm vào làn da ông, một cái lỗ xuất hiện ở chính giữa tầm mắt ông. Nó không phải lỗ đen mà là lỗ trắng. Nó lan ra, xóa nhòa thế giới duy nhất mà ông biết kể từ năm 1956, khi ông ra đời tại bệnh viện nhỏ của quận ở Hemingford ở Nebraska. Trong năm ngoái, Bill đã đọc rất nhiều về hành trình từ sự sống đến cái chết (trên máy tính của ông, luôn cẩn thận xóa lịch sử để không làm Lynn khó chịu, bà vốn liên tục lạc quan đến phi thực tế), và trong khi với ông nó đa phần là nhảm nhí, cái gọi là hiện tượng “ánh sáng trắng” lại có vẻ khá hợp lý. Thứ nhất, nó được ghi nhận trong mọi nền văn hóa. Thứ hai, nó có một chút uy tín khoa học. Một lý thuyết ông từng đọc cho rằng ánh sáng trắng là kết quả của việc máu đột ngột dừng lưu thông đến não. Một lý thuyết khác, thú vị hơn, thừa nhận bộ não đang tiến hành một hoạt động rà quét toàn bộ cuối cùng trong nỗ lực tìm ra một trải nghiệm có thể so sánh được với cái chết.

Cũng có thể nó chỉ là phản ứng cuối cùng.

Dù nguyên nhân là gì thì Bill Andrews cũng đang trải qua nó. Ánh sáng trắng xóa nhòa gia đình ông và căn phòng thoáng khí mà từ đó nhân viên nhà xác sẽ sớm đem thi thể bất động được trùm kín của ông đi. Trong những nghiên cứu của mình, ông đã trở nên quen thuộc với cụm từ viết tắt TNCT, nghĩa là trải nghiệm cận tử. Trong nhiều trải nghiệm như vậy, ánh sáng trắng trở thành một đường hầm, đứng ở cuối là những thành viên đã mất trong gia đình, hay bạn bè, hay thiên thần, hay Jesus, hay một vị thần nhân từ nào khác.

Bill không mong đợi một ủy ban chào đón. Điều ông mong đợi là phản ứng cuối cùng sẽ mờ dần vào bóng tối của sự quên lãng, nhưng điều đó không xảy ra. Khi ánh sáng mờ đi, ông không ở thiên đường hay địa ngục. Ông ở trong một hành lang. Ông nghĩ có thể nó là luyện ngục, một hành lang được sơn xanh công nghiệp và gạch sàn vừa xước vừa bẩn cũng có thể là luyện ngục, nhưng chỉ khi nó kéo dài mãi mãi. Hành lang này dài sáu mét dẫn tới một cánh cửa có tấm biển đề GIÁM ĐỐC ISAAC HARRIS.

Bill đứng ở nơi ông vẫn đứng một lúc, kiểm kê lại mình. Ông đang mặc bộ đồ ngủ ông mặc khi chết (ít ra ông cũng cho rằng mình đã chết), và đi chân trần, nhưng không có dấu hiệu gì của căn bệnh ung thư, thứ ban đầu chỉ nếm cơ thể ông, rồi ngấu nghiến đến mức không còn gì ngoài da bọc xương. Trông ông như trở lại hồi gần chín mươi ký, hạng cân của ông (phải công nhận là hơi mềm) trước khi ung thư tấn công. Ông cảm nhận được mông và lưng dưới của mình. Các vết loét giường đã biến mất. Tốt. Ông hít một hơi thật sâu và thở ra mà không ho. Quá tốt.

Ông bước một đoạn xuống hành lang. Bên trái ông là một bình chữa cháy với một dòng graffito kỳ lạ ở phía trên: Muộn còn hơn không! Bên phải ông là một bảng tin. Trên đó ghim một số bức ảnh kiểu cũ có mép răng cưa. Phía trên chúng là biểu ngữ viết tay đề DÃ NGOẠI CÔNG TY 1956! ĐÃ THẬT LÀ ĐÃ!

Bill xem xét các bức ảnh, có hình các giám đốc điều hành, các thư ký, nhân viên văn phòng, và một bầy trẻ con dính đầy kem đang nô đùa. Có một nhóm đàn ông đang chăm sóc món thịt nướng (một người phải đội mũ hề đầu bếp bắt buộc), đàn ông và phụ nữ chơi quăng móng ngựa, đàn ông và phụ nữ chơi bóng chuyền, đàn ông và phụ nữ bơi trong hồ. Đám đàn ông mặc quần bơi nhìn ngắn và bó gần như khêu gợi với con mắt thế kỷ hai mươi mốt của ông, nhưng rất ít người có bụng bia. Họ có vóc dáng của những năm năm mươi, Bill nghĩ. Đám phụ nữ mặc áo tắm một mảnh Esther Williams kiểu cũ, loại áo khiến họ trông như thể không có mông mà chỉ có một đường cong mịn phình ra phía trên đùi sau. Bánh mỳ xúc xích đang được tiêu thụ. Bia đang được uống. Mọi người có vẻ đều có một khoảng thời gian hết sức vui vẻ.

Trong một bức ảnh ông thấy cha của Richie Blankmore đang đưa cho Annmarie Winkler một viên marshmallow nướng. Điều này là vô lý, bởi vì cha của Richie là tài xế xe tải và ông chưa từng đến một buổi dã ngoại của công ty trong cuộc đời mình. Annmarie là cô gái ông hẹn hò ở trường đại học. Trong một bức ảnh khác ông thấy Bobby Tisdale, một người bạn cùng lớp đại học hồi đầu những năm bảy mươi. Bobby, tự gọi mình là Tiz the Whiz, qua đời vì đau tim khi vẫn đang ở tuổi ngoài ba mươi. Có lẽ năm 1956 cậu đã ở trên trái đất, nhưng nhẽ ra mới mẫu giáo hay lớp một, thay vì uống bia bên bờ hồ Gì-cũng-được. Trong bức ảnh này trông Whiz tầm hai mươi, bằng tuổi cậu khi Bill quen cậu. Trong bức ảnh thứ ba, mẹ Eddie Scarponi đang đập một quả bóng chuyền. Eddie là bạn thân nhất của Bill khi gia đình ông chuyển từ Nebraska đến Paramus, New Jersey, và Gina Scarponi – một lần bị thoáng thấy đang tắm nắng ở sân trước trong chiếc quần nhỏ trắng mỏng tang và chỉ mặc mỗi vậy – là một trong những tưởng tượng yêu thích của Bill khi ông còn tập lấy bằng thủ dâm.

Người đội mũ hề đầu bếp là Ronald Reagan.

Bill nhìn gần hơn, mũi ông gần như dí lên bức ảnh đen trắng, và không thể nghi ngờ gì. Tổng thống thứ bốn mươi của Hoa Kỳ đang lật burger trong một buổi dã ngoại của công ty.

Nhưng công ty nào?

Và chính xác thì Bill đang ở đâu?

Cơn khoái cảm của ông vì được trở lại lành lặn và không còn đau đớn đang dần biến mất. Thay vào đó là một cảm giác xáo trộn và bất an ngày càng hiện rõ. Nhìn thấy người quen trong những bức ảnh này thật là khó hiểu, và việc ông không biết phần lớn trong số họ cùng lắm chỉ đem lại chút an ủi nhỏ nhoi. Ông nhìn đằng sau mình, và thấy cầu thang dẫn lên một cánh cửa khác. In trên cánh cửa này bằng chữ cỡ lớn màu đỏ là ĐÃ KHÓA. Vậy là chỉ còn văn phòng của ông Isaac Harris. Bill bước xuống đó, ngần ngại, rồi gõ cửa.

“Cửa mở.”

Bill bước vào. Đứng cạnh chiếc bàn bừa bộn là một người mặc quần cạp cao rộng thùng thình níu bằng dây đeo quần. Mái tóc nâu của ông bết vào hộp sọ và rẽ ngôi giữa. Ông đeo kính không vành. Bốn bức tường được phủ bằng hóa đơn và ảnh gợi cảm khoe chân lỗi mốt khiến Bill nghĩ về công ty vận tải mà cha của Richie Blankmore làm việc. Ông từng đến đó mấy lần với Riche, và phòng văn thư trông giống như thế này.

Theo tấm lịch trên tường, hôm nay là tháng 3 năm 1911, chẳng hợp lý gì hơn năm 1956. Bên phải Bill khi ông bước vào có một cánh cửa. Bên trái là một cánh cửa khác. Không có cửa sổ, mà chỉ có một đường ống bằng kính đi xuống từ trần nhà và đung đưa trên một giỏ giặt là Dandux. Chiếc giỏ chất đầy một đống giấy tờ màu vàng trông giống hóa đơn. Cũng có thể chúng là giấy nhớ. Tài liệu xếp cao hơn nửa mét trên chiếc ghế đặt trước bàn.

“Bill Anderson, đúng không?” Người đàn ông đi ra sau bàn và ngồi xuống. Không có đề nghị bắt tay.

“Andrews.”

“Phải. Tôi là Harris. Vậy là một lần nữa anh ở đây, Andrews.”

Với mọi nghiên cứu của Bill về cái chết, nhận xét này thật ra có ý nghĩa. Và nó khiến ông nhẹ nhõm. Miễn là ông không phải quay lại như một con bọ hung hay gì đó. “Vậy đây là luân hồi? Chuyện là thế à?”

Isaac Harris thở dài. “Anh luôn hỏi cùng một điều, và tôi luôn trả lời cùng một câu: không hẳn.”

“Tôi chết rồi, đúng không?”

“Anh thấy mình đã chết?”

“Không, nhưng tôi thấy ánh sáng trắng.”

“Ồ phải rồi, ánh sáng trắng nổi tiếng. Anh ở đó và giờ anh ở đây. Đợi một phút, chút thôi.”

Harris sục sạo giấy tờ trên bàn, không tìm thấy thứ ông muốn, và bắt đầu mở ngăn kéo. Từ một ngăn ông lấy ra thêm vài tập hồ sơ và chọn một. Ông mở nó, lật một hai trang, và gật đầu. “Tự nhắc mình chút thôi. Nhân viên ngân hàng đầu tư, phải không?”

“Phải.”

“Vợ và ba con. Hai trai, một gái?”

“Chính xác.”

“Xin thứ lỗi. Tôi có vài trăm khách hành hương, khó mà nhớ ai với ai được. Tôi vẫn định xếp mấy tập hồ sơ này theo thứ tự gì đó, nhưng đấy quả thật là công việc cần thư ký, mà vì họ chưa bao giờ cho tôi một…”

Họ là ai?”

“Không biết. Mọi liên lạc đến qua cái ống.” Ông gõ nó. Cái ống lắc lư, rồi dừng lại. “Chạy bằng khí nén. Đồ hiện đại.”

Bill nhấc đống hồ sơ trên ghế dành cho khách lên và nhìn người đàn ông đằng sau chiếc bàn, nhướng mày.

“Cứ để xuống sàn,” Harris nói. “Giờ thì thế là được rồi. Thật ra mấy ngày tới tôi sẽ sắp xếp. Nếu đây  ngày. Cũng có thể là đêm – nhưng ai dám chắc? Ở đây đâu có cửa sổ, anh cũng thấy đấy. Còn không có cả đồng hồ.”

Bill ngồi xuống. “Sao lại gọi tôi là khách hành hương, nếu đây không phải luân hồi?”

Harris nghiêng người ra sau và chắp tay sau gáy. Ông nhìn lên chiếc ống khí nén, thứ có thể từng là món đồ hiện đại ở một thời điểm nào đó. Khoảng năm 1911 chẳng hạn, dù Bill nghĩ đến năm 1956 những thứ như vậy có thể vẫn còn tồn tại.

Harris lắc đầu và cười khúc khích, dẫu không phải một cách thích thú. “Giá mà anh biết các anh đã trở nên tẻ nhạt đến thế nào. Theo hồ sơ, đây là cuộc gặp thứ mười lăm của chúng ta.”

“Tôi chưa bao giờ đến đây trong đời,” Bill nói. Ông ngẫm nghĩ. “Trừ khi đây không phải cuộc đời tôi. Đúng không? Đây là kiếp sau của tôi.”

“Thật ra, nó là của tôi. Anh là khách hành hương, còn tôi thì không. Anh và những gã khác diễu đến và diễu đi khỏi đây. Anh sẽ dùng một trong những cánh cửa kia và đi. Tôi ở lại. Ở đây không có phòng tắm, bởi vì tôi không còn phải thực hiện các chức năng vệ sinh. Không có phòng ngủ, bởi vì tôi không còn phải ngủ. Tất cả những gì tôi làm là ngồi đây và gặp khách du lịch các anh. Các anh đến, các anh hỏi cùng những câu hỏi này, và tôi đáp cùng những câu trả lời này. Đấy là kiếp sau của tôi. Nghe thú vị không?”

Bill, đã gặp mọi chi tiết thần học trong dự án nghiên cứu cuối cùng của ông, quyết định rằng ông đã nghĩ đúng trong lúc còn ở hành lang. “Anh đang nói về luyện ngục?”

“Ồ, chẳng ngờ gì. Câu hỏi duy nhất mà tôi có là tôi sẽ ở đây trong bao lâu. Tôi muốn nói với anh là cuối cùng tôi sẽ phát điên nếu tôi không thể đi tiếp, nhưng tôi không nghĩ mình có thể làm vậy, chẳng hơn gì chuyện tôi không thể đi ngoài hay chợp mắt. Tôi biết tên tôi chẳng có ý nghĩa gì với anh, nhưng trước đây ta đã thảo luận vấn đề này – không phải mọi lần anh xuất hiện, nhưng nhiều lần.” Ông phẩy tay với đủ lực làm mấy tờ hóa đơn dính trên tường xao động. “Đây là – hoặc từng là, tôi không chắc thật ra thì thế nào mới đúng – văn phòng trên trần thế của tôi.”

“Năm 1911?”

“Đúng thế. Tôi vẫn hỏi anh có biết sơ mi thắt eo là gì không, Bill, nhưng vì biết anh không biết, tôi sẽ nói anh nghe: áo blouse nữ.” Hồi đầu thế kỷ, tôi với cộng sự, Max Blanck, sở hữu một doanh nghiệp gọi là Triangle Shirtwaist Factory. Kinh doanh có lãi, nhưng đám nữ công nhân lại là cái gai nhọn trong mắt. Lúc nào cũng lẻn ra ngoài hút thuốc, và – cái này tệ hơn – ăn cắp, rồi chúng nó sẽ giấu trong ví hoặc gài dưới váy. Thế nên chúng tôi khóa cửa để giữ chúng nó trong ca làm việc, và khám xét lúc ra về. Chuyện dài nói ngắn là một hôm cái nơi chết tiệt đấy bốc cháy. Tôi với Max thoát ra bằng cách trèo lên mái và xuống cầu thang thoát hiểm. Nhiều đứa không may mắn đến thế. Nhưng hãy thành thực mà thừa nhận rằng lỗi là ở chúng nó. Việc hút thuốc trong nhà máy đã bị cấm nghiêm ngặt, nhưng nhiều đứa vẫn cứ hút, và chính một điếu thuốc đã làm ngọn lửa bùng lên. Sở cứu hỏa nói vậy. Tôi với Max phải ra tòa vì tội ngộ sát và được tha bổng.”

Bill nhớ lại chiếc bình chữa cháy trong hành lang, với dòng chữ Muộn còn hơn không in phía trên nó. Ông nghĩ: Ông bị tuyên có tội trong tòa phúc thẩm, ông Harris, không thì ông đã chẳng ở đây. “Bao nhiêu phụ nữ đã chết?”

“Một trăm bốn mươi sáu,” Harris nói, “và tôi thương tiếc từng người một, anh Anderson.”

Bill chẳng buồn sửa tên mình. Hai mươi phút trước ông còn đang hấp hối trên giường; giờ thì ông bị cuốn hút trước câu chuyện cũ ông chưa từng nghe trước đây. Điều đó thì ông lại nhớ.

“Không lâu sau khi tôi với Max xuống cầu thang thoát hiểm, bọn họ ùa lên nó. Cái thứ chết tiệt đó không chịu được sức nặng. Nó sập và đổ hai chục người từ ba chục mét xuống mặt đường lót đá. Bọn họ chết hết. Bốn mươi người khác nhảy từ cửa sổ tầng chín và mười. Một số bắt lửa. Bọn họ cũng chết hết. Đội cứu hỏa có lưới cứu sinh, nhưng bọn họ rơi toạc qua và nổ tung trên vỉa hè như những túi máu. Cảnh tượng khủng khiếp, anh Anderson, khủng khiếp. Một số nhảy xuống trục thang máy, nhưng hầu hết… chỉ… bị thiêu cháy.”

“Giống 11 tháng 9 với ít thương vong hơn.”

“Các anh luôn nói vậy.”

“Và ông đang ở đây.”

“Đúng thế. Đôi lúc tôi băn khoăn không biết có bao nhiêu đàn ông cũng đang ngồi trong những văn phòng như thế này. Cả phụ nữ. Tôi dám chắc có cả phụ nữ, tôi vẫn luôn nhìn về phía trước và thấy không có lý do gì mà phụ nữ không thể ngồi vào những vị trí điều hành cấp thấp, và làm thế một cách đáng ngưỡng mộ. Tất cả chúng tôi trả lời cùng những câu hỏi và gửi đến cùng những vị khách hành hương. Các anh nghĩ gánh nặng sẽ nhẹ bớt đi mỗi lần một người trong số các anh quyết định đi vào cánh cửa bên phải thay vì cái đó” – ông chỉ sang trái – “nhưng không. Không. Một cái hộp mới đến từ cái ống – vút – và tôi lại có một gã mới để thay thế gã cũ. Có khi hai.” Ông nghiêng người về phía trước và gằn giọng. “Đây là công việc khốn nạn, anh Anderson!”

“Là Andrews,” Bill nói. “Và nghe này, tôi rất tiếc ông cảm thấy như vậy, nhưng chúa ơi, có trách nhiệm một chút với hành động của mình đi! Một trăm bốn mươi sáu phụ nữ! Và ông đã khóa cửa.”

Harris đập bàn. “Chúng nó ăn cắp của bọn tôi!” Ông nhấc tập hồ sơ lên và lắc lắc về phía Bill. “Xem lại anh đi! Ha! Chó chê mèo lắm lông! Goldman Sachs! Gian lận chứng khoán! Lợi nhuận hàng tỷ, thuế hàng triệu! Hàng triệu tiền bẩnBong bóng nhà đất nghe có quen không? Bao nhiêu lòng tin của khách hàng anh đã lợi dụng? Bao nhiêu người đã mất tiền dành dụm cả đời của họ nhờ lòng lam và sự thiển cận của anh?”

Bill biết Harris đang nói về điều gì, nhưng tất cả (chà… hầu hết) những lời xảo ngôn đó đều vượt quá trách nhiệm của ông. Ông cũng ngạc nhiên như bất cứ ai khi thế thời đảo lộn. Ông thôi thúc muốn nói có sự khác biệt lớn giữa chịu cảnh đói nghèo và bị thiêu sống, nhưng sao phải xát muối vào vết thương? Bên cạnh đó, có lẽ nó còn nghe có vẻ tự cho mình là đúng.

“Đừng nói nữa,” ông nói. “Nếu ông có thông tin tôi cần thì sao không đưa nó cho tôi. Cho tôi chi tiết về chuyện này, rồi tôi sẽ khuất mắt ông.”

Tôi không phải cái đứa đã hút thuốc,” Harris trầm giọng ủ ê. “Tôi không phải cái đứa đã đánh rơi que diêm.”

“Ông Harris?” Bill có thể cảm thấy bốn bức tường như đang siết lại. Nếu phải ở đây mãi mãi mình thà tự bắn mình còn hơn, ông nghĩ. Chỉ khi nào điều ông Harris nói là đúng, ông mới không muốn, chẳng hơn gì chuyện ông không muốn đi vệ sinh.

“Được, được thôi.” Harris thở phì qua miệng thành tiếng, nhưng không hẳn là bật môi. “Chuyệnlà thế này. Đi qua cánh cửa bên trái và anh sẽ được sống đời mình lần nữa. A tới Z. Từ đầu tới kết thúc. Chọn cánh cửa bên phải và anh biến mất. Phụt. Như ngọn nến trong gió.”

Thoạt đầu Bill không nói gì. Ông không có đủ khả năng để nói và không chắc ông có thể tin tưởng đôi tai mình. Nó quá tốt để có thể trở thành sự thật. Đầu tiên tâm trí ông xoay sang em trai Mike, và vụ tai nạn xảy ra khi Mike tám tuổi. Tiếp theo, sang vụ chôm chỉa ngu ngốc khi Bill mười bảy. Chỉ là đùa giỡn, nhưng nó có thể đã làm hỏng kế hoạch đại học của ông nếu bố ông không can thiệp và nói chuyện với đúng người. Chuyện với Annmarie trong nam sinh cư xá… thứ vẫn ám ảnh ông trong những khoảnh khắc lạ lùng, ngay cả sau ngần ấy năm. Và dĩ nhiên, vấn đề quan trọng—

Harris đang mỉm cười, và nụ cười không một chút dễ chịu. “Tôi biết anh đang nghĩ gì, bởi vì tôi đã nghe tất cả từ anh trước đây. Về chuyện hồi nhỏ anh và em trai anh đã chơi trốn tìm như thế nào, anh đóng sầm cửa để nhốt thằng bé ở ngoài và vô tình làm đứt đầu ngón tay út của nó ra sao. Cái thôi thúc chôm chỉa, cái đồng hồ, rồi chuyện cha anh đã tác động như thế nào để đưa anh ra—”

“Đúng vậy, không tiền sự. Ngoại trừ với bố tôi. Ông không bao giờ cho phép tôi quên điều đó.”

“Còn cô gái trong nam sinh cư xá.” Harris nhấc tập hồ sơ. “Tên cô ta ở đâu đấy trong đây, tôi đoán vậy, tôi đã làm hết sức để giữ đống tài liệu dễ thấy – khi tôi cần tìm – nhưng sao anh không nhắc tôi nhỉ.”

“Annmarie Winkler.” Bill có thể cảm thấy má ông nóng lên. “Đấy không phải cưỡng hiếp, nên đừng nghĩ như thế. Cô ấy quàng chân qua người tôi khi tôi nằm lên cô ấy, và nếu như thế không phải là đồng thuận thì tôi chẳng biết thế nào mới phải.”

“Cô ta có quàng chân qua người hai gã đến sau không?”

Không, Bill thôi thúc muốn nói, nhưng ít nhất chúng tôi cũng không thiêu sống cô ấy.

Và im lặng.

Ông đang chuẩn bị đánh một cú putt trên sân thứ bảy hoặc đang làm việc trong xưởng gỗ hoặc đang nói chuyện với con gái (giờ là sinh viên đại học) về luận án tốt nghiệp của con bé, và ông sẽ tự hỏi giờ này Annmarie ở đâu. Cô đang làm gì. Cô còn nhớ gì về cái đêm ấy.

Nụ cười của Harris dãn ra thành điệu nhếch mép ghẹo gái. Nó có thể là một công việc khốn nạn, nhưng rõ ràng vẫn có một vài phần ông thích thú. “Tôi có thể thấy đấy là câu hỏi anh không muốn trả lời, vậy sao chúng ta không bỏ qua nhỉ. Anh đang nghĩ về tất cả những điều anh sẽ thay đổi trong hành trình tiếp theo của anh trên chiếc đu quay vũ trụ. Lần này anh sẽ không đóng sầm cửa vào ngón tay của em trai anh, hay cố đánh cắp đồng hồ ở chợ Paramus—”

“Là chợ New Jersey. Tôi đoan chắc nó có ở đâu đấy trong hồ sơ của ông.”

Harris lật phần phật tập hồ sơ của Bill và tiếp tục. “Lần tới anh sẽ từ chối làm tình với cô bạn gái nửa hôn mê của anh trong khi cô ta nằm trên sofa trong tầng hầm nam sinh cư xá, và – cái này quan trọng! – anh sẽ đến thay vì trì hoãn buổi hẹn nội soi, vì giờ anh đã quyết định – cứ sửa nếu tôi nói sai – rằng bị sỉ nhục vì một cái camera thông lên lỗ hậu dù sao cũng tốt hơn một chút so với chết vì ung thư ruột kết.

Bill nói, “Nhiều lần tôi đã gần nói cho Lynn biết chuyện ở cư xá. Tôi chưa bao giờ có đủ can đảm.”

“Nhưng có cơ hội, anh sẽ sửa chữa.”

“Dĩ nhiên – có cơ hội, ông sẽ mở khóa cửa nhà máy chứ?”

“Chắc chắn tôi sẽ, nhưng không có cơ hội thứ hai nào cả. Rất tiếc phải làm anh thất vọng.”

Trông ông không có vẻ lấy làm tiếc. Harris trông mệt mỏi. Harris trông buồn chán. Harris trông cũng đắc thắng một cách hẹp hòi. Ông chỉ vào cánh cửa bên trái Bill.

“Chọn cái đó – như anh vẫn làm vào mỗi dịp khác – anh sẽ bắt đầu lại từ đầu, như một cậu bé ba cân trượt khỏi tử cung mẹ anh vào đôi bàn tay bác sĩ. Anh sẽ được bọc trong vải thô và đưa về nhà ở một trang trại ở miền trung Nebraska. Khi bố anh bán trang trại năm 1964, anh sẽ tới New Jersey. Ở đó anh sẽ làm đứt đầu ngón út của đứa em trai trong khi chơi trốn tìm. Anh sẽ đến cùng một trường trung học, cùng những khóa học, và có cùng điểm số. Anh sẽ đến Đại học Boston, và anh sẽ thực hiện cùng hành vi nửa cưỡng hiếp đó trong cùng tầng hầm của nam sinh cư xá. Anh sẽ nhìn hai anh em cư xá làm tình với Annmarie Winkler, và dù anh nghĩ anh nên ngăn chặn điều đang diễn ra, anh sẽ không bao giờ thu đủ dũng cảm đạo đức để làm như vậy. Ba năm sau anh sẽ gặp Lynn DeSalvo, và hai năm sau nữa anh sẽ cưới. Anh sẽ đi theo cùng một con đường sự nghiệp, anh sẽ có cùng những bạn bè đó, anh sẽ có cùng những bất an sâu thẳm về hoạt động kinh doanh của công ty… và anh sẽ giữ cùng một sự im lặng. Cũng vị bác sĩ ấy sẽ giục anh nội soi đại tràng khi anh sang tuổi năm mươi, và anh sẽ hứa – như anh vẫn luôn hứa – rằng anh sẽ để ý đến vấn đề nhỏ nhặt đó. Anh sẽ không làm thế, và kết quả là anh sẽ chết vì cùng một căn bệnh ung thư.”

Nụ cười của Harris khi ông thả tập hồ sơ xuống chiếc bàn bừa bộn giờ nở rộng gần như chạm đến mang tai.

“Rồi anh sẽ lại đến đây, và chúng ta sẽ lại có cuộc trò chuyện này. Lời khuyên của tôi sẽ là chọn cánh cửa còn lại và thế là xong, nhưng dĩ nhiên quyết định là của anh.”

Bill lắng nghe trong lúc ngày càng hoảng loạn. “Tôi sẽ không nhớ gì? Không nhớ gì?

“Không hẳn là không nhớ gì,” Harris nói. “Có lẽ anh đã để ý mấy bức ảnh ở hành lang.”

“Buổi dã ngoại của công ty.”

“Phải. Mỗi vị khách đến với tôi đều nhìn thấy những bức ảnh chụp từ năm sinh của họ, và nhận ra một vài gương mặt quen thuộc giữa những người lạ. Khi sống cuộc đời mình lần nữa, anh Anderson – giả sử anh quyết định như vậy – anh sẽ có cảm giác déjà vu khi lần đầu anh thấy những người này, cảm giác như anh đã sống qua tất cả trước đây. Dĩ nhiên, anh đã sống. Anh sẽ có một cảm giác thoáng qua, gần như một sự chắc chắn, rằng còn nhiều… có thể nói là chiều sâu trong cuộc đời anh, và trong sự tồn tại nói chung, hơn là anh tin trước đây. Nhưng rồi nó sẽ qua.”

“Nếu tất cả đều như vậy, không có khả năng cải thiện, thì tại sao chúng ta lại ở đây?”

Harris nắm chặt tay và đấm vào đầu cái ống khí nén đang treo lơ lửng trên giỏ giặt là, khiến nó lắc lư. “KHÁCH MUỐN BIẾT SAO TA Ở ĐÂY! MUỐN BIẾT CỐT LÕI LÀ GÌ!

Ông đợi. Không có gì xảy ra. Ông xòe tay chống lên bàn.

“Khi Job muốn biết điều đó, anh Anders, Đức Chúa hỏi Job có ở đó không khi ngài – Đức Chúa – tạo ra vũ trụ. Tôi đoán anh không cho đó là câu trả lời. Vậy nên hãy cân nhắc cụ thể vấn đề. Anh muốn làm gì? Hãy chọn một cánh cửa.”

Bill đang nghĩ về ung thư. Cơn đau của ung thư. Trải qua toàn bộ điều đó một lần nữa… ngoại trừ việc ông sẽ không nhớ mình đã trải qua nó. Vậy đấy. Giả sử Isaac Harris nói thật.

“Không ký ức gì hết? Không thay đổi gì hết? Ông có chắc không? Làm sao ông dám chắc?”

“Vì lúc nào cũng là cuộc trò chuyện này, anh Anderson. Lần nào cũng vậy, với tất cả các anh.”

Là Andrews!” Ông rống lên, làm cả hai đều bất ngờ. Bằng một giọng thấp hơn, ông nói, “Nếu tôi cố gắng, thực sự cố gắng, tôi chắc chắn mình có thể giữ lại gì đó. Ngay cả khi chỉ là chuyện xảy ra với ngón tay Mike. Và có thể một sự thay đổi cũng đủ để… tôi không biết…”

Để đưa Annmarie tới rạp chiếu phim thay vì tới bữa tiệc thác loạn đó, thế nào?

Harris nói, “Có một câu chuyện dân gian kể rằng trước khi sinh ra, mỗi linh hồn con người đều biết mọi bí mật của sự sống và cái chết và vũ trụ. Nhưng sau đó, ngay trước khi sinh ra, một thiên thần cúi xuống, đặt ngón tay lên môi đứa bé, và thì thầm ‘Shhh.’” Harris chạm vào nhân trung của mình. “Theo câu chuyện đó, đây là dấu vết mà ngón tay của thiên thần để lại. Mỗi người đều có một.”

“Đã bao giờ ông thấy thiên thần chưa, ông Harris?”

“Chưa, nhưng tôi từng thấy một con lạc đà. Ở vườn thú Bronx. Chọn một cánh.”

Trong lúc suy nghĩ, Bill nhớ lại một câu chuyện họ phải đọc ở trường trung học: “Cô gái và con hổ.” Quyết định này chẳng hề khó khăn.

Mình phải giữ lại chỉ một điều, ông tự nhủ trong khi mở cánh cửa dẫn trở lại cuộc sống. Chỉ một điều.

Ánh sáng trắng của sự trở về bao bọc lấy ông.

***

Bác sĩ, người sẽ bỏ Đảng Cộng hòa và bầu cho Adlai Stevenson vào mùa thu (một điều mà vợ ông sẽ không bao giờ được biết), cúi gập người xuống như một anh bồi bàn bày đĩa thức ăn và ngẩng lên bế gót một đứa trẻ trần truồng. Ông vỗ mạnh lên nó và tiếng thét ré lên.

“Bà có một bé trai khỏe mạnh, bà Andrews,” ông nói. “Trông khoảng ba cân. Chúc mừng.”

Bà Andrews đỡ đứa bé. Bà hôn lên đôi má và vầng trán ướt của nó. Họ sẽ đặt tên thằng bé là William, theo tên ông nội nó. Khi thế kỷ hai mươi mốt đến, thằng bé vẫn đang ở tuổi ngoài bốn mươi. Ý tưởng này thật choáng váng. Trong tay mình bà ôm không chỉ một cuộc sống mới mà còn cả một vũ trụ của những điều khả dĩ. Không gì, bà nghĩ, có thể tuyệt vời hơn. ♦

Nhớ về Surendra Patel

Nguyễn Huy Hoàng.

Bản dịch © 2016

THÁNG MƯỜI, THU ÚP MẶT

 

tháng mười, thu úp mặt
rướm vàng những hàng phong
trời trong như tròng mắt
người con gái phương đông.

em ngồi bên cửa sổ
vọc nắng rơi đầu ngày
tiếng cười treo lưng gió
đuổi theo bầy chim bay.

mẩu bánh mì ngắt khúc
rơi xuống mỏ chim non
sợi nắng thu vàng hực
phết nhẹ cánh tay tròn.

tháng mười, thu lác đác
khóc hàng phong mồ côi
quê hương em tan nát
bởi bom nổ đạn rơi.

tôi bàng hoàng ngó ảnh
xác thành phố điêu tàn
bên thây người bất hạnh
đàn chim non lang thang.

tôi trải tình ra biển
như trải rộng lương tâm
một màu tang tận hiến
đánh động trái tim câm.

em nằm trong lòng nước
với tay tìm tự do
tôi, hàng phong lộn ngược
thương mùa thu bơ vơ…

PHẠM HỒNG ÂN

Sau Lưng

em nhớ nối sợi chỉ hồng giữa hai đầu kiêu bạt
dù muôn trùng quê hương là mây trắng trời cao
anh còn lại một thời phiêu dạt
nghiêng trong đêm gương soi thầm vọng mắt chào

hạnh phúc em bay theo mùa xuân trước
gọi bóng anh về từng độ thu phân
đầu sóng gió ngọn nguồn anh vẫn bước
có tình thiêng em trắng mộng bao lần

em đồng vọng theo lòng tiếng suối
anh từ ly qua những con sông
này gió bụi ân cần mừng tuổi
nặng linh hồn mỗi bước lưu vong

giờ vĩnh biệt máu trào lên tiếng nấc
là đường đi anh nổi lửa hôm sau
trời viễn xứ cũng tròn hương mật
giữa mắt em xưa nghe bào ảnh lên màu

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

LỆ TRONG MẮT PHƯỢNG

 

…tôi xưa lỗi hẹn duyên nàng
nay qua chưa hết đá vàng núi sông…

 

1.
Tìm về mở cửa hỗn mang
Trăm thiên võ đạo
thiếp ngàn triện hoa

Tìm về tiền kiếp thiết tha
Trên vách núi, đã chan hòa lời kinh…

Xưa trong mắt phượng thư sinh
Lưu ly ngấn lệ khóc tình ly tan

Ngày tôi lủi thủi cơ hàn
Ngây thơ mắt phượng có nàng thư sinh…

2.
Nay trong vô lượng vô ngàn
Từ bi chuỗi hạt, ngập tràn sương lung

Chìm trong tam bảo bao dung
Phù vân nhân thế
Chập chùng hư vô

Con chim có cánh giang hồ
Chiến chinh có rượu hồ đào dọc ngang
Tôi xưa
lỗi hẹn duyên nàng
Nay qua
chưa hết đá vàng núi sông…

Hoàng hôn hồn mỏi phiêu bồng
Trường giang đã lạnh tang bồng cuối sông

Am mây hài cỏ chân không
Trên y sư nữ bềnh bồng lời kinh
Trên tôi bụi bặm phù sinh
Trôi theo mây trắng
hư vinh nhạt nhòa

Sạch đi theo giọt mưa sa
Cho tôi
chôn áo quan hà từ đây

Ai lên lối gió ngàn mây
Ai về biển động sóng đầy bão rơi
Ai xuôi phố thị hoa cười
Phần tôi phát thệ. Niêm đời. Ẩn cư

3.
Lạy em
ngàn lạy ưu tư
Lạy nhau bảo trọng, buổi từ ly xưa

Ngày tôi khóc bóng trăng khuya
Đau trên tóc rũ
đẫm mưa cơ hàn

Ngày tôi lủi thủi lầm than
Ngây thơ mắt phượng
có nàng
thư sinh…

Long Beach, California
HẠ QUỐC HUY

CHIỀU TIỄN ĐƯA…

 

Cho Thảo
Chuyến xe cuối đưa em về thành phố
Bến xe buồn hiu hắt tiễn người đi
Ta ở lại lòng buồn như cỗ mộ
Biết nói gì trước những phút từ ly..?

Ta lặng lẽ- hình như ta lặng lẽ
Tiễn người về như một chuyến sang sông
Ta lặng lẽ- hình như ta lặng lẽ
Trong một chiều vừa chớm gió mùa đông..

Về phương ấy- em buồn không em hỡi ?
Có ngậm ngùi như mất một người thân ?
Ta thế đó- nên vô cùng tội lỗi;
Tiễn em về – ta mất một tình nhân…