người thi sĩ già ven sông

 

 

ý nghĩ phiêu du trên không gian ba chiều
chạy phăng vào ngôi nhà ven sông
nước rầm rì với những cọc cắm sâu
đợi con chim về đứng im lìm như nhà hiền triết
mùa đông xám xịt ngửi mái rạ sẫm mầu
từng chiếc lá khô quéo quắt
con chim vút bay
đậu vào ý nghĩ người thi sĩ già đang làm thơ trong ngôi nhà đang sập
người thi sĩ già vỡ óc
cây viết bỗng chảy mực như dòng cuồng lưu
những giọt mưa biến thành ngàn triệu viên đá cuội.
đắp mộ
không gian đìu hiu
ngọn nến trắng càng xót xa thân phận
cây viết mất tích
tình yêu không còn
người thi sĩ già quay đầu về non
con chim vẫn đứng im lìm như nhà hiền triết
chiếc thuyền nhỏ chao mình trên nước
cây đỗ quyên già xơ xác. một vài bông.

Đặng Phú Phong

NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐAN GIẤC MƠ

 

1.

Người đàn bà ngồi bên hiên đời
Đan bóng chiều vào tối
Những bí mật  trượt qua triền tóc
Mấy mươi mùa xuân, thảng thốt. Phận người.
Từng ngả đường chảy qua miền tim
Từng dòng sông tình yêu trôi qua miền suy tưởng
Người đàn bà ngồi trên thác gió
Đan niềm tin lên tấm áo nỗi đau.
Trong tiềm thức giữa biên giới hoàng hôn
Người đàn bà âm thầm nhìn những cánh chim hồng
Bị thiêu thân trên đỉnh núi
Đêm đêm, đêm đêm
Người đàn bà ngồi trên giấc chiêm bao
Cần mẫn se ngàn sợi len bình minh
Đan triệu vết thương những con đường
Những con đường khuôn mặt hằn cỏ dại
Tiếng thở dài u uẩn
Lẫn trong từng thớ bụi
Xa xa
Xa xa
Vụn vỡ
Những khúc kinh cầu nguyện…

2.

Những lời hứa đang mọc ra từ những đám gai
Những khát vọng rủ nhau trốn về cuối dòng sông tị nạn
Lạnh lùng lạnh lùng
Gió khuya khứa mòn chiếc đò quá khứ
Vầng trăng thổ máu
Từng giọt từng giọt
Như cơn mưa mùa hạn
Nhỉ xuống mảnh vườn tương lai.
Bầy giun dế giấu giấc mơ khờ dại
Sau trùng trùng hỗn khúc tụng ca.

 

Lũ còng gió cắn nát hồn nhiên
Rải xương mình lên những hạt cát
Khắc khoải ươm mầm những cánh hoa
Mang hình viên ngọc thần kỳ.

 

Người đàn bà vẫn kiên nhẫn ngồi đan
Sự thật chết dần sau làn vải giả dối.

Trương Đình Phượng

CHIỀU MƯA UỐNG RƯỢU SÔNG TRÀ

 

 

Tôi về Quảng Ngãi chiều mưa bay
Sông Trà mênh mông nước dâng đầy
Gió thổi mênh mông trời thơ rượu
Còn thú chi bằng cạn chén say!

Sông Trà chết giấc nay bừng tỉnh
Bạn quê ơi! Nâng chén,đừng than!
Giá phải đêm trăng dòng lấp lánh
Có bờ xe nước múc ánh vàng…

Cây lá xanh đôi bờ vẫn mộng
Vẫn ngân vang chén rượu chiều nay
Thưa em mây gió vô cùng sóng
Bạn hữu quê hương bát nước đầy!

Anh bạn dang tay như múa hát
Đọc thơ sang sảng quán chiều mưa
Đọc thơ sang sảng Cao Bá Quát
Nhớ “Trăng Sông Trà” một đêm xưa!

Sóng nước miên man nguồn ơi biển
Nâng chén khà khà thân củi trôi!
Cầm tay Trà Khúc lòng quyến luyến
Nửa thế kỷ buồn thân phận tôi!

Tôi biết có người lo nước lên
Đứng trên cầu ngó củi lềnh bềnh
Tôi vẫn mộng Long Đầu Hý Thủy
Nâng chén mừng “tương ngộ ngẫu nhiên”!

Bạn ơi có mấy khi tương ngộ
trong cuộc đời uống rượu Sông Trà
Say tuý luý càn khôn một độ
Cho hồn thơ nhập mộng thiên thu!

Trần Thoại Nguyên

  PHẠM CHU SA MÊNH MÔNG CÕI TÌNH

 

 

“Quá nửa đời anh đi tìm một nửa
Một nửa nào thất lạc của anh xưa
(Phạm Chu Sa)

Phạm Chu Sa có thơ đăng trên các báo văn nghệ Sài Gòn từ 1970, khi ông đang theo học Đại Học VạnHạnh, cùng lúc làm biên tập và là thư ký tòa soạn tuần báo Tuổi Ngọc của Duyên Anh, từ 1971 đến cuốinăm 1973 thì bị bắt quân dịch, bị đẩy lên Tây Nguyên, đến đầu năm 1975, ông đào ngũ trốn về SàiGòn.

Cả ba tập thơ của ông xuất hiện trước công chúng có một khoảng cách khá dài, Những Nụ Tình Xanh do cơ sở Đồng Dao xuất bản năm 1972. Đến tháng 2 năm 1975, ông tự xuất bản tập Trên Đồi Sương Phủ, lúc mà cuộc chiến bùng nổ ác liệt và đến hồi gần kết thúc, nên tập thơ bị bỏ ngỏ, không thể tới tay độc giả.

Tuy khoảng cách xuất hiện khá xa nhau về thời gian, nhưng thơ của Phạm Chu Sa trước sau vẫn là cõi mộng mênh mông tình. Đó là những cuộc tình lỡ, tình say, tình ảo… Cho tới khi ngã rẽ cuộc đời ông là lính thú – quân dịch – trên vùng đất Tây Nguyên heo hút. Heo hút, nhưng không thiếu tiếng đạn bom. Vì vậy, thơ ông vẫn vang vọng âm sắc của những mối tình uất nghẹn, chia lìa vượt thời gian như đang hít thở khói trời lồng lộng. Và ông làm thơ không phải mang tâm thức của kẻ lưu đày mà, vượt lên trên khói lửa vẫn là những vần điệu ngọt ngào đến cay đắng của chàng thư sinh đang bước nốt đoạn đường của mộng, của say cùng tỉnh thức theo trăm ngả phân ly để hoàn tất nốt cuộc lữ trong nỗi cô đơn cùng tận.

Bắc Phương Hành, ông viết vào tháng 2.1973 sau ngày ký hiệp định Paris, tràn đầy cảm xúc như mâu thuẫn nhau: Vừa khấp khởi mừng vui vì hòa bình sắp lập lại trên quê hương đã quá đỗi điêu tàn, vừa ngậm ngùi thương nhớ bao nhiêu người đã nằm xuống.!…  Đó là những người bạn, người tình, là nhân thế nổi trôi bềnh bồng quanh ông, trên quê hương ông, để những giờ khắc khơi vơi, một mình đâu đó, nơi đèo cao dốc thẳm, chốn núi rừng thâm u kéo dài những u hoài chồng chéo nhau:

Hai mươi năm nối thành bi khúc

Bài ca buồn bã nối điêu tàn

Những ngựa ngủ vùi lòng đất chết

Những đời nằm xuống vẫn hoang mang

Màu quê cũ rưng hồn lữ khách

Chút lòng lận đận với quê hương…

(Một Nửa, trg 12)

Thời khắc ông viết bài hành này là lúc ông tưởng tượng ra một cuộc hành trình từ Nam ra Bắc khi quê hương ngưng tiếng súng (vì hiệp định đã ký), hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, không còn giòng sông chia cắt, non sông nối liền một dải:

Ta đi biển thét lời giông bão

Sá gì chút gió mặn chiều hô

Mà không dựng thẳng cờ minh đạo

Soi một giòng sông nối một giòng…

Mới dợm bước chân khởi cuộc lữ hành (mới chỉ là tưởng tượng) thi sĩ đã nâng chén rượu nhạt chia tay người tình – chia tay một cuộc tình:

…Ví thử đời ta men rượu nhạt

Mời em nhân buổi tiễn đưa này

Chắc cũng buốt môi người cúi mặt

Còn chút tình xưa như khói bay

(Một Nửa, trg 7)

Tôi nghĩ, khi sử dụng thể hành, thì nhà thơ có thể giãi bày trọn vẹn tâm cảm gần xa, nên trước kia, những Trần Huyền Trân, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Bính đã đẩy câu thơ chuồi dài tới tận sau này với những Độc hành ca, Hồ trường, Hành Phương Nam… nên Phạm Chu Sa đã chọn thể hành như để gửi gắm tấc lòng, để giãi bày những ưu uất sâu kín, ông đã mang theo cùng năm tháng?  Ông thản nhiên đón nhận số phận đẩy đưa. Thản nhiên đến mức lạnh lùng trong bài hành thứ hai: Trường Sơn hành như một định mệnh khắc nghiệt đời ông được báo trước.

Núi chẻ đèo cao rừng thăm thẳm

Núi tiếp rừng xanh nắng trải thảm

Chân bước dò trên xác lá khô

Hồn mở vào cửa mộng hư vô

(…)Mang trên vai nửa đời tuổi trẻ

Nhìn quanh ta chập chùng bóng xế

Bước vội, nhưng nhịp nhàng nhịp nhàng

Đầy ắp hồn thơ điệu cuồng vang

(Một Nửa, trg 32)

Giữa đại ngàn Trường Sơn thâm u, tâm hồn và bản thân ông vừa chìm ngập vào thiên nhiên hùng vĩ mà gờn gợn để tiếp tục, vừa thản nhiên quan sát và liên tưởng đến số phận “tàn xiêu, mây trôi” của mình trong thời gian biếm trích nơi vùng đất chết:

Trường Sơn núi dài hằn vết chém

Nát bấy hồn ta làm muôn mảnh

Máu đỏ ngầu sông núi thân yêu

Ta nhìn ta bóng đổ tàn xiêu

Trường Sơn núi biếc trời đứng bóng

Rền vang tiếng bước thời gian vọng

Lắng chìm hơi thở thời gian xuôi

Đời ta như một bóng mây trôi

(Một Nửa, trg 37)

Trong buổi nhiễu nhương, tâm cảm nơi ông chừng như là những mộng mị trôi nổi có không từ “thời gian vọng” đến “thời gian xuôi” như cách gắn liền quá khứ xa tới hiện tại gần, là nỗi cô đơn của kẻ lưu đày trên chính ngay mảnh đất ông đang bước tới, gắn chặt, thở khói trời u uẩn. Ông chìm khuất và mất tăm giữa cái ồn ào trống rỗng, là tiếng kêu bi thiết của con chim gục ngã trên tổ rơm thông thống lỗ méo nụ hoang hoác:

Bằng hữu lang thang người mỗi ngả

Mình ta đứng gọi thấu trăm năm

Ông gọi ai đến nỗi phải mang theo nỗi trống trải dặm dài, ông thở với lớp lớp mây trắng đùn quanh chóp núi trống trơn, nghêu ngao với những cuộc tình nhân thế dẫy đầy ảo mộng?

Thật ra, không phải tới tận bây giờ Phạm Chu Sa, (khi Một Nửa đến với độc giả như một cuộc tương phùng sau chừng ấy năm dài im lặng) mới hé lộ những rơi rớt tang thương những cuộc tình lỡ, mà trước đó, ông đã khơi gợi như một phiên thư âm bản ở hai tập: Những nụ tình xanh (1972)  Qua đồi sương phủ (1975). Đó là những âm tiết khởi đầu bật lên nỗi hoài nhớ mênh mông một kiếp người, một cuộc tình như khói như sương và rồi đọng lại trong tâm trí ông như một bức ảnh hoen nhòe màu thời gian.

Tình em cuộn tròn như con mèo ốm

Vo viên đời anh như điếu thuốc

(…)

Anh cũng muốn hỏi em biết điều gì không

Đêm và bóng tối

Đã quanh quẩn trong anh nửa đời mộng thực

(Những Nụ Tình Xanh, trg 54-55)

Đó là những lời tự thú ngọt chát và cay sè nơi cõi lòng ông, liêu xiêu nơi hai bờ mộng thực. Nhớ lại những năm trọ học cùng ông trên căn gác gỗ đường Nguyễn Huỳnh Đức (nay là Huỳnh Văn Bánh), Phú Nhuận, nhìn bờm tóc ông nhuốm ráng chiều màu nắng quái ngoài hành lang, nhìn cái dáng xiêu xiêu thẫn thờ dưới cột đèn ngã chúi về đêm trong con hẻm nhỏ và hai tay trong túi quần và ánh mắt như màu tối đậm trên bờ tường thấp loang lổ, tôi đã tự hỏi: ông tự tìm kiếm chính mình trong nỗi cô đơn hay hoài nhớ về những gì ông đã đánh rơi đâu đó, là những hình bóng nhập nhòa, hiển hiện trên bờ tường đá ong, những mất mát luôn vây bủa, bi lụy không ít đến cuộc đời ông?

Những thứ rơi vãi dọc đời ông, không hình hài rõ nét. Chúng chợt bật lên trong ông, có khi là một cơn mưa dầm, một ngày nắng cháy. Cũng có khi đang có chút se lạnh trong lớp khí trời từ phương bắc tràn về, xám đục đến ảm đạm:

Ở Sài Gòn thèm một ngày mưa bụi

Thèm nhạc sầu của gió bấc heo may

(…) Mưa ở đây mưa quá đỗi bất thường

Và nắng gắt cháy cả tình mới chớm

(Một Nửa, trg 15)

Khoảng không gian trơ khấc và nhão nhoét kia bất chợt trườn vào tâm trí ông, để cuối cùng chỉ còn là nỗi trống không, mà khởi đầu là những nhớ-nhung-trong-mất-mát-không-cùng:

Ở Sài Gòn chiều không em mây nổi

Nhớ em nghe giá buốt dậy trong hồn

(Một Nửa, trg 16)

Bài thơ này (Ở Sài Gòn), ông viết xong vào tháng 6 năm 1973, nửa năm sau hiệp định Paris. Nỗi hoang mang và nhớ nhung hỗn độn nơi ông, trong chính nội dung bài thơ không để người đọc khám phá điều gì về thời cuộc. Nhưng ẩn giấu phía sau những ngày Sài Gòn anh bỏ quên mộng tưởng/ Đêm đèn màu rực sáng nỗi ưu tư/ Cơn mộng nhỏ môi dậy thì thiếu nữ/ Sao niềm đau chợt buốt nhức không ngờlại dẫn ta đến những liên tưởng về những hoang mang của ông trong khoảnh khắc “còn một chút Sài Gòn” trước khi ông trở thành gã đào binh. Ông giấu cái thực trong mộng tưởng. Ông cất nỗi ngậm ngùi trên vai áo, để mấy chục năm sau, cũng Sài Gòn ấy lại khơi gợi hình ảnh Sài Gòn trước, vẫn là những tâm trạng Ở Sài Gòn bây giờ có những sớm mai buồn muốn khóc/ Mặt trời mù cơn ngái ngủ bình minh/ Những giọt cà phê buồn rơi lặng lẽ/  Sóng sánh màu mắt em (Ở Sài Gòn bây giờ, trg 52). Những hình ảnh của Sài Gòn trước và bây giờ vẫn cứ nguyên vẹn trong ông, vẫn là sớm mai buồn, giọt cà phê buồn, vẫn rơi lặng lẽ và dồn nén thành màu mắt em, chiếm trọn tâm hồn ông, không thay thế, không ai khác ngoài em.

Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó Dostoevsky viết, đại ý rằng: “Cả đời tôi chỉ muốn đẩy tới tận cùng những gì người khác chỉ làm được có một nửa”. Phạm Chu Sa thì không đủ lực để làm cái công việc vĩ đại của đại văn hào Dostoevsky. Ông không tuyên bố hoàn thiện cuộc đời bị xáo tung, mà đơn giản là tìm trong chính mình, đi tìm một nửa của cuộc đời mình bị rơi lạc nơi đồi hoang núi sâu hay giữa lòng thành phố tràn ngập ánh đèn? Chuỗi dài quẩn quanh tìm kiếm cái đã mất trong con người chính mình đến mệt nhoài những hơi thở dốc. Và khi tìm thấy thì hệ quả là:

Quá nửa đời anh đi tìm một nửa

Một nửa nào thất lạc của anh xưa

Khi tìm được thì nửa anh vụn vỡ

Nên làm sao ta ráp lại cho vừa.

Hàn gắn lại em ơi đời tạm bợ

Một chiều say một sớm tỉnh một khuya buồn

Một giọng hát một điệu cười khúc khích

Cũng tràn đầy cả hạnh phúc đau thương

(Một Nửa, trg 104).

Nhà thơ Du Tử Lê có một nhận xét về Phạm Chu Sa, theo tôi là chính xác: “… và người đọc đã bắt gặp một cái gì đó, một cái gì đó có thể nhìn như một Phạm Chu Sa. Một cái gì không thể mang một tên gọi khác… Tôi muốn ví thơ ông như một giòng sông xanh, nhưng dưới đáy lại ẩn sẵn khá nhiều sóng ngầm”.

Cuộc đời ông chưa bao giờ yên ả. Và thơ ông cũng vậy, ẩn bên dưới sự phẳng lặng là những giòng chảy ngầm cuồng phẫn, chờ chực bùng lên những đợt sóng gầm gào. Thoạt lướt qua, tưởng chừng như những câu thơ kia dung dị, đôi khi mang hơi thở chung của những chàng thi sĩ trước năm 1975, là những buồn chán, cột đèn vàng, giọt cà phê đen… tâm trạng của một thời tan tác. Nhưng ẩn bên dưới ngữ nghĩa tầng sâu lại là những cuồng khích, bung vỡ sôi sục, đôi khi nhuốm màu sắc phản kháng của tuổi trẻ:

Bằng màu đen của bóng tối cạm bẫy

Trốn chạy nỗi căm hận khô đắng

Trốn chạy niềm cô đơn

Cuồng loạn những điệu kèn da đen buổi dạ hội hóa trang

Sự bất lực của âm thanh

Và bóng tối đồng lõa

(Một Nửa, trg 63).

Thời nhiễu nhương, tuổi trẻ phản kháng, tuổi trẻ gào rống, tuổi trẻ xuống đường, buồn nôn, phẫn nộ, chán chường… không phải là điều mới lạ. Thời nào và ở đâu tuổi trẻ cũng nhạy cảm trước các vấn đề xã hội, thời cuộc… Xã hội và thời cuộc nhớp nhếch như là mệnh đề tiên thiên xô ngã con người vào “vũng trống”, và họ bất lực gào lên:

Đêm thành phố thật buồn

Mười giờ tối còi giới nghiêm reo vội vã

Đêm chợt im vắng trong niềm sôi sục

Sẽ vỡ tung một sớm mai nào

(Những Nụ Tình Xanh, trg 72).

Có lẽ, sẽ rất thừa thãi khi các nhà đạo đức, trong bối cảnh xã hội suy đồi, phong hóa, lên tiếng chỉ trích sự mất cân bằng trong suy nghĩ và hành động của giới trẻ. Thời kỳ đó, Phạm Chu Sa thuộc lớp tuổi hai mươi, nhưng không tĩnh yên để lắng nghe, để nhìn, đọc những lời rao giảng như Thiền sư Nhất Hạnh đã từng viết: “Tôi rưng rưng nước mắt, vì tôi được nghe chính tiếng nói của lòng tôi, tiếng tự thú của lòng tôi… Nếu các em biết thương yêu và tha thứ thì hồn nước cũng sẽ giật mình, đời chúng ta sẽ lên sức sống, tủi hờn sẽ lắng xuống và niềm kiêu hãnh sẽ vươn lên. Nếu các em biết thương yêu và tha thứ thì súng đạn cũng sẽ phải thở dài, tàu bay cũng sẽ phải khóc, lựu đạn sẽ phải im tiếng, và quê hương ta sẽ không còn là một bãi chiến trường” (Nói Với Tuổi Hai Mươi). Nhưng khốn nỗi, đó chỉ là cách nhìn của thầy Nhất Hạnh. Tuổi trẻ không còn đủ tỉnh táo để bước đi trên những con đường gập ghềnh, hỗn độn. Đó cũng là nét chung với đa phần. Phạm Chu Sa không tự tách mình ra khỏi đống bùng nhùng kia, ông viết:

Khép kín trái tim.

Hai tay vo tròn quá khứ

Hồn chết lịm từng phiến băng tan

Ta cúi đầu bỏ trốn

Ngôi mộ đời cỏ úa xương người

(Những Nụ Tình Xanh, trg 30).

Lúc này, trong tay tôi chỉ còn hai tập: Những Nụ Tình Xanh và Một Nửa (Trên Đồi Sương Phủ, ngay chính tác giả cũng không giữ nổi), nhưng khi soi rọi lại, có vẻ như Một Nửa là sự nối dài từ tập thơ đầu tay. Vẫn giọng điệu ấy, vẫn tâm tình ấy. Hơi thở từ thơ ông tưởng chừng như mong manh khói sương, nhưng đằng sau lại là những ẩn ức, những bất lực, trắc trở… cả đời ông cất công tìm kiếm, ráp nối cho trọn vẹn. Khốn thay, thảy đều không theo đúng ý ông:

Lang thang trong rừng vắng

Hái một cụm hoa sầu

Ồ khắp trời mây trắng

Biết lối về nơi đâu?

(NNTX, trg 59)

Trời cao trăng nở rộ

Lữ khách trên đường khuya

Bóng nhòa trong sương lạnh

Nhớ nhà, đâu lối về?

(NNTX, trg 74)

40 năm trước ông không tìm ra “lối về” cho riêng mình, thì đến 40 năm sau ông vẫn loay hoay tự tra vấn:

Như đời ta vốn đã quá ngu ngơ

Đi tìm mãi những điều không có thật!

Cám ơn đời từ niềm tin thứ nhất

Thứ hai, ba, tư… cho đến cuối cùng

(Một Nửa, trg 103)

Cuối cùng thì đâu là “lối về” của ông?

Có lẽ, xin tạm mượn mấy dòng sau của nhà thơ Du Tử Lê nhận xét về tác phẩm Phạm Chu Sa để kết thúc bài viết này:

“Phạm Chu Sa, với những bài thơ mới, nơi nửa sau của thi phẩm “Một nửa” đã cho thấy ông vượt qua được ngưỡng cửa ngáng trở tàn khốc của thời gian. Thơ của họ Phạm ở những năm tháng sau 1975, tuy căn để, đa số vẫn là những thao thiết về tình yêu. Nhưng đó là một thứ tình yêu đã ra khỏi hố, hầm ẩn náu của những xung động tình cảm đôi lứa thuần túy. Mà, tình yêu, trong cõi giới thi ca Phạm Chu Sa hôm nay, là những vấn nạn được cất lên từ những tâm bão nhân sinh. Những cật vấn tử / sinh. Kiếp / đời. Theo tôi, đó là những câu thơ được chắt ra từ những chiêm nghiệm đời sống đã sắc xuống. Để tự thân, thơ có được chiều sâu và, độ rộng… Trong ‘Một nửa’ của họ Phạm, cá nhân tôi rất thích những câu thơ như, ‘Tự đào huyệt chôn mình / như một tên tử tội / a ha ta hóa trang / làm anh hề múa rối.’ Hoặc, ‘Hạnh phúc trơ vơ trên dây thong lọng / em kịp mua về đốt hết nhân gian.’ Hoặc ‘Dã quỳ thắp nắng / chìm dần trong sương / nhặt bóng tà dương / ném vào vô tận.’ Hoặc nữa, ‘Một chân thò lỗ huyệt / một chân nhảy lò cò / đi tìm phương bất diệt,’ vân vân…”    (dutule.com)

 

NGUYỄN LỆ UYÊN

__________

Tên thật: Phạm Đình Thống.

Sanh năm 1949 tại Bình Định, Trung phần VN.

Cựu sinh viên ĐH Vạn Hạnh.

Trước 1975, cộng tác với Tuổi Ngọc, Vấn Đề, Văn, Khởi Hành…

Sau 1975, làm nhiều nghề kiếm sống, rồi làm Phóng viên, Biên tập viên các báo: Thanh Niên, Gia Đình & Xã Hội; Phụ trách phía Nam tạp chí Ngày Nay ( Hiệp Hội UNESCO-VN). Cộng tác với các báo, tạp chí: Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Phụ Nữ TP.HCM, Kiến Thức Ngày Nay, Xưa & Nay …

Thơ đã xuất bản:

– Những nụ tình xanh, NXB Đồng Dao (1972)

– Qua đồi sương phủ, Tác giả XB (tháng 2-1975)

– Một nửa, NXB Thanh Niên (2011)

XA RỒI TRĂNG LAY TÓC RỐI 

 

“Trong tim còn nhốt tình không ?
Trong bâu áo lật còn hồng nhủ hoa ?”  (Hạ Quốc Huy).

1
Tay nghiêng vạt áo qua cầu
Bước em động vỡ tiếng sầu mênh mang

Cõi ta trú ở lang thang
Chân quơ, tay múa, nghênh ngang yên hà

2
Xa rồi cái tuổi mười ba
Theo hương bồ kết, thiết tha si tình

Xa rồi
bạch diện thư sinh
Chia tay nghiên bút chấp kinh phong trần

Xa rồi
lửa dội quan san
Khép trang hồ thỉ, uổng ngàn tử sinh

Cùng đường. Mạt lộ chiến binh
Anh hùng tận tuyệt. Ngục hình xích khua…

3
Xa rồi
truông bãi, ghềnh trưa
Thù chan nắng khổ, oán xưa đọa đày

Xa rồi tóc rối trăng lay
Đọng trong mắt phượng khoảng mây phiêu bồng
Trong tim còn nhốt tình không ?
Trong bâu áo lật còn hồng nhủ hoa ?

Mai trôi lãng mạn ngọc ngà
Tóc phai cổ tích, tình ra lạc loài

4
Vạt buồn gói trọn bi ai
Tà đau tấu khúc
bi hài
ngàn trang

Ngày em áo cưới đò ngang
Tôi bơi theo khóc. Chẳng màng ngó tôi

5
Trời ơi ! Đứt ruột. Trời ơi !
Thuyền sao không đắm. Tôi bơi em về .

HẠ QUỐC HUY

Như Con Ngựa Tía Bay Vèo Qua Truông

Hôm nay ngày ủ ê buồn.  Mưa?  Mưa, không thấy.  Mù sương thì nhiều.  Buổi mai giống giống buổi chiều.  Trưa nay chắc cũng đìu hiu…và buồn!

Sáng.  Tôi đặt một nụ hôn, trên bàn tay mở cửa hồn buổi mai.  Lời chào vui gửi tới ai…có đuôi con mắt kéo dài thời gian…

Một ngày…rồi suốt trăm năm, mưa hay là nắng cũng thầm thì thôi.  Ai xa cuối biển đầu trời, tôi xa cũng vậy từ hồi tôi xa…

Quê Hương…nhớ chớ khói nhà, nhớ Ba tôi với tách trà khói bay.  Nhớ Má tôi với vườn cây, mang đôi guốc mộc đưa tay vén trời…

Thế mà huyền thoại hỡi ơi, bốn ba năm tưởng một thời xa xưa…Ngoại lui cui ở vườn dừa, ngó buồng cau trái chín hờ hững treo…

Thuyền ai ai lỏng tay chèo…con sông uốn khúc đám bèo nổi xanh…Cà Ty tên đọc Cà Tình…cà tang dám lắm, cà tàn Tầm Xuân!

Nhớ ai mười bảy theo chồng.  Nhớ ai mặc áo lụa hồng Mã Châu.  Hỏi sao không lụa Blao để cho nhớ nhớ hoa đào Di Linh?

Sáng nay tôi chỉ còn hình, trời không có nắng bóng mình không theo…Nghĩ ai khuất nẻo đường chiều…như con ngựa tía bay vèo qua truông…

 

Trần Vấn Lệ   


Quê Hương, Tình Yêu, Kỷ Niệm,

 

Có một thời tôi để lại họ tên
Trên những bức tường vôi vàng Pháo Đội
Trên thành giường, đồ nghề… ghế xếp
Và trang sổ nợ cá nhân…

Tôi đã để lại những dấu chân
Trên những địa hình Nha Trang, Ninh Hòa, Dục Mỹ
Như áo trắng em một thời hoa mộng
Khiến nao lòng bao kẻ si tình

Tuổi đôi mươi theo thời buổi chiến chinh
Theo quỹ đạo bút nghiên rồi cung kiếm
Em còn nhận ra ai trong kỉ niệm
Trên những hành trình xuôi ngược thanh xuân

Tôi sẽ về gặp lại những hàng dương
Dưới đám bụi thời gian tan theo từng cơn nắng
Với ngọn gió Lào phả từng hơi nóng gắt
Vào ký ức xanh một thời lãng du

Con đường nhỏ những ụ 105, 155…
Ghé kho quang cụ về sân tenis
Giải địa hình… mượn giùm tôi Lo-Ga-Rích
Đến giảng đường còn nóng những mái tôn

Phòng bản đồ vẫn vắng im
Chỉ có tiếng lao xao của bầy chim sẻ
Hàng cây Vũ Đình Trường như lặng lẽ
Mặt trời còn gay gắt phía cổng sau

Có còn không những hàm số nhức đầu
Những phép tính quay cuồng đang ngủ gật
Đang mơ màng giữa Ô1, Ô2, đồi Trọc
Hòn Vọng Phu mây bạc đã thấy gần

Đường xạ trường căn cứ Cọp Đen
Khói buôn Thượng nhớ hăng mùi gia súc
Hơi núi rừng thở đầy trong lòng ngực
Bóng sa trường vằng vặc mấy mùa trăng

Có những chuyến đi về qua núi Đeo
Aó lụa bay gữa hương rừng ngan ngát
Ngọn gió trưa hè quen chợt mát
Dáng núi đồi dìu dịu trinh nguyên

Giữa ngàn xanh cõi thiên nhiên
Đang lâng lâng hùng vĩ
Với say sưa bao chuyện kể
14 cây bỗng hóa gần lại thêm

Nhớ những buổi ngoài ,nhớ cà phê đêm
Nhớ mùi hoa cau.. nhớ hương Ngọc nhẹ
Ai sẽ hát thầm lời rất khẽ
Ngọc Lan dòng suối có tơ vương…

Mắt thu hồ dịu có đoạn trường
Có cô nàng café
Một cô nàng be bé
Cô không cười… dù bằng mắt thơ ngây

Tôi có những mối tình ngắn gang tay
Đủ những đêm trường mộng mị
Trường Pháo Binh Dục Mỹ
Có tro tàng hoa miên…
Và hoài vọng muôn niên…

Hòa Nguyễn

MƠ HỒ CÂU THƠ CŨ

 

Chiều lững thững câu thơ tuổi trẻ
Cọng cỏ xanh nhằn giữa môi khô
Phố lơi hơi theo ngày đã nhẹ
Dốc co ro mù sương ấu thơ

Bất chợt trắng một bông cúc dại
Thềm rêu em lạ lẫm ân tình
Màu mây cũ ngẫu nhiên ghé lại
Nghe như ai vừa gọi tên mình

Xa lăng lắc âm ba nguồn cội
Dội chật lòng ẻo lả ly hương
Hồn khằn tiếng núi đồi già cỗi
Rót vàng phai chưng hững âm buồn

Tìm lại chút thân quen chẳng thấy
Lựng chựng chân lạc lõng quê nhà
Sót lụn vụn câu thơ mười bảy
Mịt chân dung mờ tít ngày xa

Mơ hồ ta câu thơ tuổi trẻ
Rớt rơi trong quá vãng vàng son
Quành tìm nhặt vần rưng lạnh lẻ
Chai đầy tay những vết sống mòn

NGUYỄN LIÊN CHÂU

BẰNG CẢ TẤM LÒNG. CÔ XIN LỖI CÁC EM

 

Kính tặng quý thầy cô,
và  tặng một người luôn thấy mình có lỗi khi đứng trên bục giảng.

 

Cô giáo khối Năm đến tuổi nghỉ hưu
Còn nợ hoa văn cổng trường vòng hoa ngọn lửa
Còn nợ cuối học kỳ
Thêm một em sau li hôn bỏ học
Bỏ cả ngôi nhà có cánh diều bay

 

Giáo án thức khuya, phấn trắng bồn chồn
Dường như trống một chỗ ngồi cuối lớp
Là trống nơi lòng một khoảng trống mênh mông

 

30 năm cầm phấn đưa đò
Là bấy nhiêu lần cầm khăn lau nước mắt
Cô khóc cho các em,
Và khóc cho cái tôi nông nổi, dại khờ
Đứng ở ngọn đồi này, tưởng ngọn đồi bên kia xanh hơn

 

Lầm lạc một lần để cả đời hối tiếc
Chỉ nghĩ cho riêng mình
Không nghĩ tới đứa con
(Yêu thương trở thành trò chơi/trời cho
sinh con đem con bỏ chợ)

Đừng trách một danh ca đã thốt ra mhững lời oán hận
Phía sau gương mặt cuộc đời
Có nỗi đau không ai hiểu được

 

Xẻ dọc trăm năm đi tới đích con người
Kỳ vọng ngôi nhà trẻ thơ không thiếu bố
Từng trầm tích mà chưa từng hóa thạch
Bằng cả tấm lòng, cô xin lỗi các em

 

Nguyễn Tam Phù Sa

Sài Gòn, năm 2000-2017.

ĐỂ TƯỞNG NHỚ VIỆT

 

Tôi ngừng hẳn xe lại ngay giữa đường, con đường trong khu xóm gần nhà rất nhỏ nên mặc dù chạy rất chậm tôi cũng không thể nào tránh khỏi mấy cô cậu gà sao đang hiên ngang băng qua đường trong ánh nắng nhạt nhoà của buổi chiều cuối tháng mười một. Một đàn gà sao, con trắng, con màu ngà, con màu nâu, mỗi con đều lấm tấm những chấm như chấm đồi mồi trên mình với cái mỏ nho nhỏ, nhọn trắng và cái mào đỏ rất ngộ nghĩnh. Chiều nào cũng vậy, mỗi lần đi làm về ngang qua con đường này là tôi cũng phải ngừng xe và thích thú nhường con đường cho những chú gà đang thong thả rong chơi trong khu xóm đó.  Hôm nay cũng như mọi ngày, đám gà đã lần lượt băng qua phía bên kia đường, chỉ còn một chú nhỏ con hơn cả bọn là còn đứng ngơ ngẩn một mình còn lại. Tôi kiên nhẫn chờ đợi, cũng may là phía sau không có chiếc xe nào đang chờ. Một vài phút thấy chú gà tội nghiệp đó ngơ ngáo không biết phải làm sao, tôi đành phải tấp xe vào bờ lề, bước xuống kiếm một nhánh cây khô trên cỏ rồi từ từ hướng dẫn chú ta qua đường trong khi đám gà sao kia đã lao nhao bay lên những nhánh cây gần đó.  Bây giờ thì đến phiên tôi ngẩn ngơ vì tôi chưa từng nghĩ là loài gà có thể bay cao như thế.  Đang nhìn mê say đám gà thì bỗng dưng tôi giật mình với một giọng nói dường như thì thầm sau lưng tôi:

“Cute, Ain’t it? (dễ thương quá phải không?)”

Tôi xoay nguời lại rồi ngỡ ngàng khi nhìn thấy trước mặt tôi là một người đàn bà ốm nhom như một người bù nhìn. Bà ta chắc cao chừng 4’8 và nặng chừng 80 pounds. Hai cánh tay và hai ống chân khẳng khiu như những khúc củi khô đét lòng thòng qua cái áo T-shirt vàng vàng không biết vì dơ hay vì đó là màu vàng lợt, cái quần Capri dài lưng lửng màu đen sẫm với những bệt đất dơ trên ống quần. Có lẽ cái “mập mạp” nhất trên người bà ta phải nói là cái đầu đầy một vùi tóc rậm màu muối tiêu rối bời quấn quanh khuôn mặt choi choắt. Nét mặt của người đàn bà nhăn nheo, già nua đến độ tôi không tài nào có thể diễn tả được sự già nua nào hơn nữa. Trên khuôn mặt già nua, cằn cỗi đó tôi bắt gặp đôi mắt còn nâu biếc và một sự lạnh lùng xa vắng. Tôi mỉm cười:

“Dễ thương thật bà ạ! Cháu không ngờ là chúng nó biết bay.”

 

Bà ta cũng cười, nụ cười hóm hém vì không còn một cái răng nào cả:

“Chúng nó bay lên cây hai lần,sáng và chiều. Tôi thấy chúng nó mỗi ngày.”

Nói xong bà ta chỉ thẳng đến một cái ghế bằng nhựa màu xanh đậm đã gãy đi cái lưng dựa phía sau, cái ghế nằm khuất một bên hiên nhà bên cạnh những lùm cây. À, thì ra đây là người hay ngồi bên hiên nhà mà mỗi lần tôi lái xe đi ngang vẫn thấy nhưng không bao giờ chú ý tới. Tôi nhìn kỹ, căn nhà hai tầng lầu sơn màu xanh lá cây như màu cái ghế và cũng cũ kỹ, hư nát như cái ghế. Một bên hàng rào nhà đã xiêu vẹo và bên cạnh là những chậu hoa cúc vàng nằm ngang ngửa bừa bãi.  Tôi tò mò hỏi:

“Bà ở một mình à?”

Giọng bà lão tự dưng cáu kỉnh:

“Không đâu, thôi tôi về đây.”

Nói xong bà ta lửng thửng đi về nhà ngồi lại trên chiếc ghế đổ nát đó. Dường như có một cái gì rất đặc biệt về người đàn bà này nên ngày hôm sau, nhằm ngày cuối tuần, thay vì chạy bộ trong xóm, tôi cố tình chạy qua xóm bên cạnh mong gặp lại người đàn bà lạ lùng hôm qua.

Quả nhiên như tôi ước muốn, người đàn bà còm cõi đó đang ngồi co ro trên chiếc ghế xiêu vẹo. Bà ta đang mặc một cái áo len rộng thùng thình như cái mền, trên đầu đội một cái nón len màu đất sét. Có lẽ cái thân thể ốm yếu đó không chịu nổi cái lạnh dù chưa se sắt lắm của tháng mười một.

Khi chạy ngang qua chỗ bà ta ngồi tôi cố ý chạy chậm lại và vẫy chào. Bà lão đưa tay ra dấu cho tôi ngừng lại và dịu dàng hỏi:

“Cháu chạy như vậy chắc mệt lắm?”

Nói xong bà chỉ cái ghế bên cạnh cũng xiêu vẹo, méo mó như cái ghế bà đang ngồi rồi mời tôi ngồi. Tôi từ chối và hỏi chuyện:

“Sáng nay mấy con gà sao ra chơi chưa hả bà?”

Bà lão nhìn qua bên kia đường và trả lời:

“Hôm nay lạnh chúng nó ra muộn. Ừ, mà cháu từ đâu đến?”

Tôi nói với bà ta tôi là người Việt Nam và bỗng dưng đôi mất nâu kia có một chút reo vui:

“Thuở trước chồng tôi cũng đi “Nam” và đưa Việt về.”

Tôi nghe bà lão nói thì nghĩ là bà ta hơi lẫn nên nói lung tung, nhưng bà ta nói tiếp:

“Tới Thanksgiving này là ngày giỗ thứ hai mươi của Việt.”

Tôi càng nghe càng tò mò nên cẩn thận ngồi xuống chiếc ghế ọp ẹp bên cạnh và hỏi liều:

“Việt là ai hả bà?”

Đôi mắt màu nâu sụ xuống buồn bã:

“Việt là con trai của chúng tôi đem từ “Nam” về.”

Tôi ngẫm nghĩ ra và la lên:

“Cháu hiểu rồi, bà đem Việt về từ Việt Nam?”

Bà lão mỉm cười và dường như đây là cơ hội cho bà thố lộ nỗi tâm tư đã ấp ủ tự bao năm qua nên bỗng dưng bà nói huyên thuyên, và đôi mắt trở nên linh động theo từng lời nói.

“Chồng tôi đem thằng bé Việt về vào dịp lễ Tạ Ơn và đó là món qùa quá qúi báu cho sinh nhật của Cyn.”

Tôi thắc mắc:

“Cyn?”

Bà lão hảnh diện chỉ vào ngực mình:

“Cyn là tên của tôi gọi tắt từ Cynthiana. Cháu có thể gọi tôi là Cyn.”

Theo lời Cyn kể thì chồng của bà lúc đó là đại uý và ở Việt Nam cho tới lúc gần thất thủ. Trước khi ông về lại Mỹ, ông có đánh điện cho bà hay là ông sẽ mang một đứa bé năm tuổi từ viện cô nhi về nuôi. Năm đó ngày sinh nhật của Cyn lại nhằm ngày lễ Tạ Ơn cho nên Cyn cho đó là món qùa sinh nhật có ý nghĩa nhất đối với bà.  Đôi mắt của Cyn như đang mỉm cười khi bà nói về đứa bé:

“Vừa thấy thằng bé là tôi đã thấy yêu thương nó ngay (I fell in love with him instantly). Tuy rằng nó không được lành lặn như những đứa bé khác nhưng đối với tôi, nó là đứa bé thật toàn vẹn.”

 

Cyn cho biết vì đứa bé mang từ Việt Nam về nên hai vợ chồng đặt tên nó là Việt để kỷ niệm và để nhắc nhở cho nó biết về nguồn gốc của nó sau này. Bé Việt bị bệnh bại não (cerebral palsy) từ lúc sanh ra nên nó bị hất hủi trong viện mồ côi, chồng của Cyn trong một chuyến viếng thăm thấy quá tội nên quyết định xin thằng bé về nuôi. Cyn tiếp tục kể:

“Tôi nghiệp thằng bé lắm cháu à, mặc dù cơ thể của nó không di động bình thường nhưng Việt rất thông minh, nó hiểu rõ đời hơn những đứa bé cùng trang lứa.”

 

Tôi biết Cyn muốn nói gì vì tôi đã từng làm việc với những em bé cũng như người lớn bị bệnh bại não này. Bệnh này ảnh hưởng đến những giây thần kinh trong đầu nên cơ thể của họ di động rất khó khăn vì họ không tự chủ được khi những bắp thịt co giãn không ăn khớp nhau. Phần nhiều những người bị bệnh này đều di chuyển bằng những chiếc xe lăn bằng điện, khả năng nói chuyện là cả một khó khăn, họ có thể dùng tấm bảng viết chỉ lên những chữ vần hoặc những hình vẽ sẵn để cho biết những thiết cần giản dị trong đời sống. Những người có phương tiện thì dùng tới những dụng cụ tối tân hơn để có thể “nói” như xử dụng electronic speech synthesizers. Tuy nhiên, tùy theo não bộ bị ảnh hưởng nhiều hay ít, speech therapist có thể luyện tập cho họ nói được những câu ngắn thông thường. Tôi hỏi Cyn:

“Việt lúc đó có nói chuyện được không bà?”

 

Cyn gật đầu:

“Thằng bé nói được chút xíu thôi nhưng lúc đầu tôi không hiểu vì Việt nói tiếng Việt Nam, lúc mới đến nó chỉ khóc thôi vì cái gì đối với nó cũng xa lạ hết, ngay cả chúng tôi là những khuôn mặt không thân quen với nó. Việt đến với gia đình tôi vào dịp lễ Tạ Ơn nên lúc nào tôi cũng nghĩ cuộc hành trình viễn lưu của Việt từ “Nam” qua đây chẳng khác chi cuộc hành trình của những người pilgrims tới từ một nơi chốn xa xôi và phải đương đầu với những thử thách, khó khăn trước mặt.”

 

Câu nói văn hoa của Cyn khiến tôi nghĩ tới đoàn người Pilgrims bỏ xứ Anh Quốc năm 1608, lưu lạc qua tới Hoà Lan vì niềm tin tôn giáo của họ. Chỉ một thời gian sau đó họ lại bị trở ngại ở Hoà Lan, đành trở về lại Anh Quốc với ý định tìm cách qua tới Mỹ Quốc.  Một đoàn gồm 102 người hành hương rời bỏ South Hampton trên hai chiếc thuyền Speedwell và Mayflower, rồi sau đó cơ thời sóng gió, chiếc Speedwell bị vỡ và tất cả gom trên chiếc tàu Mayflower rời Plymouth với hy vọng đến Virginia để lập địa. Nhưng sau 66 ngày lênh đênh trên biển cả với những thách thức khủng khiếp của tạo hoá, cuối cùng họ đến được Cape Cod, Massachusetts để khai thiên, lập địa.

 

Đúng như Cyn nói, thằng bé Việt đã rời một nơi chốn không thể nào đáp ứng được một chu toàn cho đời sống vì sự tàn tật của nó.  Ngoài hình hài khác thường và trí óc phát triển chậm chạp của nó, nó đã phải bỡ ngỡ với cuộc sống trong một xã hội hoàn toàn khác biệt. Nhưng với tôi, sự thử thách lớn lao và sự hy sinh vô bờ bến của Cyn để lo lắng cho một đứa bé tật nguyền mới đáng so sánh với cuộc hành trình đầy gian khổ của những người tha hương đó.

 

Tiếng cười của Cyn cắt đứt dòng tư tưởng của tôi:

“Cháu biết không thằng bé Việt ngộ lắm, mặc dù không nói được nhiều nhưng nó hay chỉ những hình vẽ trên tấm bảng để nói nó yêu tôi và chồng tôi. Chúng tôi thật là may mắn được đón nhận nó vào cuộc đời của chúng tôi.”

 

Càng nghe Cyn nói chuyện tôi càng cảm thấy mến chuộng bà và tự trách mình là đã “trông mặt mà bắt hình dong”, nhìn bề ngoài của Cyn và cứ nghĩ Cyn là một người đàn bà tầm thường và hơi bị mất trí nhưng thật sự thì hoàn toàn trái ngược.  Việc Cyn và gia đình đón nuôi Việt, một đứa bé tàn tật từ một dân tộc khác đã chứng tỏ tấm lòng bác ái bao la của Cyn.  Cyn còn cho biết là bà đã không đi làm, ở nhà chăm sóc cho Việt, đưa thằng bé đi học những chương trình đặc biệt dành cho trẻ em tàn tật, và thì giờ rảnh thì hai mẹ con thường ra trước đường ngắm những con gà sao qua lại mỗi chiều. Theo lời Cyn kể thì đoàn gà sao này ở đây khá lâu, chủ nhà là người ở đối diện phiá bên kia đường của nhà Cyn, căn nhà không có hàng rào nên mấy chú gà tha h ồđi rong chơi. Tôi nhìn theo tay chỉ của Cyn thì thấy trước cửa nhà có đề chữ “ Guineas Crossing” như nhắc nhở cho xe cộ phải đi chậm lại. Với một giọng rất vui Cyn tiếp tục kể:

“Từ lúc Việt lớn khôn, chúng tôi không dám ăn thịt gà tây vào dịp lễ Tạ Ơn vì Việt hay khóc, nói rằng ăn thịt gà tây chẳng khắc nào ăn thịt mấy con gà sao là bạn của Việt. Mỗi năm tôi đều dựng một cái bảng trước cổng nhà và mỗi lần nhìn tấm bảng này là thằng bé cười ngặt nghẽo.”

Tôi nhìn kỹ trước nhà của Cyn và qủa thật, chen lẫn trong những chậu cúc vàng trước cửa nhà, một tấm bảng rất cũ kỹ có hình một chú gà tây đang cười hóm hình đưa tay chỉ qua một mũi tên có dòng chữ “Eat Ham This Year” (Năm nay ăn thịt heo nhé). Tôi bật cười và đùa với Cyn:

“May mà bà không cho Việt nhìn mấy chú heo con, không thôi thì bà sẽ không được ăn thịt gì cả trong mùa lễ Tạ Ơn.”

Một lần nữa giọng Cyn tha thiết:

“Cháu biết mà, ngày xưa những pilgrims ăn mừng để tạ ơn trời đã cho họ được thắng lợi mùa màng. Tôi và chồng tôi thì tạ ơn trên đã cho chúng tôi có được một đứa con rất đặc biệt để yêu thương đó là bé Việt.”

Qủa thật như vậy, theo lịch sử, năm 1621, lần đầu tiên những người tha hương tổ chức buổi lễ để tạ ơn trên đã cho họ đạt được sự thịnh vượng trên vùng đất mới. Thức ăn của họ có bắp, thịt, rau cải và bí. Chính những người mọi (Indians) đã tiếp đãi họ lúc mới dừng chân trên đất lạ cũng được mời tới tham dự. Có phải chăng vì thế mà mỗi năm nhằm ngày lễ này tất cả mọi người trong gia đình đều tụ họp nhau để ăn mừng và cám ơn thượng đế đã cho họ một đời sống bình yên đầy đủ chăng?

Bây giờ thì những chú gà sao đã thức dậy, gà mẹ, gà con đang lần lượt đi qua đường. Cyn nhìn đám gà và giọng trầm buồn:

“Tre già măng mọc, con gà này chết thì có đàn gà con khác thế, chỉ có tôi là còm cõi một mình.”

 

Tôi ngập ngừng lập lại câu hỏi từ hôm qua:

“Bà ở một mình à?”

Cyn thong thả lắc đầu:

“Tôi ở với hai người cháu nhưng năm nay chúng nó đi thăm con chúng nó ở tiểu bang khác rồi.”

 

Cyn không ngần ngại kể thêm là chồng bà mất cách đây hai mươi lăm năm để lại bà và Việt bơ vơ. Trong khoé mắt của Cyn dường như đang rưng rưng lệ:

“Tôi không thể nào quên đưọc hình ảnh Việt oằn oại trên chiếc xe lăn, hai cánh tay quơ quàng trước mặt, khóc nức nở và cố gắng thều thào được hai tiếng “daddy” khi Edward, ba của nó qua đời. Tuy trí óc nó khờ khạo nhưng nó cũng biết tình thương vô bờ bến mà ba nó dành cho nó. Edward là một người đàn ông tuyệt vời cháu ạ.”

 

Bây giờ thì tới phiên tôi rơm rớm nước mắt khi nghe Cyn kể chuyện. Qua cái hình hài đơn sơ mộc mạc đó, người đàn bà trước mặt tôi là người có trái tim rất bao la. Tôi biết thêm là chỉ năm năm sau thì Việt cũng bỏ Cyn ra đi vào một ngày lễ Tạ Ơn. Cyn đưa tay áo quệt  nước mắt:

“Ngày xưa sáng sớm vào ngày lễ Tạ Ơn, tôi và Việt hay mặc áo quần đẹp, trên xe lăn của Việt có cắm một ngọn cờ USA, tôi và thằng bé đi giữa hàng gà sao mà chúng tôi gọi là đi “parade” để mừng ngày lễ. Việt như một vì sao sáng, nó vô tư và hay cười nứt nẻ khi nhìn thấy những chú gà sao rượt nhau bay lên cây. Món ăn mà Việt thích nhất vào dịp lễ này vẫn là món pumpkin pie bất hủ của tôi làm. Mấy năm nay tôi yếu nên chỉ mua thôi, không làm. Tuy nhiên, mỗi năm để tưởng nhớ tới Việt tôi vẫn ra đây đi giữa đàn gà nhưng sao tôi thấy cô đơn quá. Cháu có thấy tấm bảng đặc biệt tôi làm cho Việt để trước cửa nhà không?”

 

Trên cánh cửa nhà đổ nát, một vòng hoa (wreath) được trang hoàng với những nhánh lá vàng khô mùa thu, những qủa acorns và những qủa bí nho nhỏ.  Ngay chính giữa vòng hoa đó có một mảnh vải thêu với dòng chữ đậm “In Memory of Viet”.

 

Cyn khoe:

“Tôi mới treo nó hôm qua thôi vì chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày lễ Tạ Ơn rồi. Năm nay chắc không có bánh pie và tôi cũng sẽ không đi parade một mình, buồn lắm cháu à.”

 

Khi hỏi ra thì tôi mới biết vì hai người cháu vắng nhà cả hơn hai tuần rồi nên chi sẽ không có ai mua sắm gì giùm Cyn. Bây giờ thì tôi mới hiểu tại sao Cyn ăn mặc luộm thuộm, dơ bẩn vì có lẽ bà ta đang chán đời khi ở trong căn nhà trống vắng đơn côi một mình.

 

Tôi nói với Cyn:

“Bà ơi, ngày lễ Tạ Ơn, cháu sẽ đem pumpkin pie, thịt ham đến và sẽ mặc áo quần thật đẹp cùng bà đi parade với đàn gà sao để tưởng nhớ đến Việt nhé.”

 

Cyn cầm tay tôi rồi nói rất ngây ngô:

“Thật vậy hả cháu? Cám ơn cháu nhé, nhớ mặc đồ thật đẹp và đừng chạy bộ tới đây vì như thế cháu sẽ không còn sức đi parade đâu.”

 

Tôi nhủ thầm, không đâu, tôi xin cám ơn Cyn vì gần bốn chục năm qua, ngày lễ Tạ Ơn đối với tôi chỉ là một ngày nghỉ ngơi ăn uống và vui chơi với bạn bè và gia đình. Có lẽ, năm nay là năm đầu tiên tôi mới hiểu được cái ý nghĩa tạ ơn về tình người,về những lành lặn hữu toàn trong đời sống mà tôi đang có. For I wondered and wondered long, If somehow it could be, That I have given half so much, As Cyn has given to me.

 

Tôi đưa tay chào Cyn, dậm chân bắt đầu lấy trớn chạy về nhà và nhìn thấy Cyn đang gửi đến tôi nụ “hôn gió” trong tiếng cười dòn dã.

Nguyễn Thị Huế Xưa