Hôm kia em gởi
gió về
Cho anh nhúm tóc
hẹn thề ngày xưa
Vạt nắng chiều
có chút mưa
Lẫn trong nước mắt
có mùa ngâu xa
Phải chăng
giờ đã nhạt nhòa
Bởi em không phải
không là
của anh
Thì thôi
cũng chịu cũng đành
Cắn răng
vá lại mảnh tình
tả tơi.
Nắng xế mùa thu khiến bóng của hàng dâm bụt cao quá đầu người làm tối đi gương mặt nhăn nheo của ông Nghè Trì đang rảo bước vào cổng. Ông xô nhẹ cánh cửa cũ kĩ, xiêu vẹo đóng không kín của nhà ngõ. Tiếng kêu của cánh cửa làm con Mực đang thiêm thiếp ở hàng ba, vụt dậy, phóng chạy ra, cất tiếng sủa nhưng nhận ra người quen, nó gừ gừ mấy tiếng rồi quẫy đuôi dẫn khách vào nhà. Bà Huân cũng vừa gánh đôi thúng gạo bước ra khỏi cửa dưới, vội vã để gánh xuống vái trả cái vái chào của ông Nghè nói:
– Chào chú Nghè, ông nhà đang đợi chú, mời chú vào. Tôi phải đi giao gao cho họ bây giờ kẻo không kịp về tối chú ạ.
– Dạ, em xin phép chị.
Nghè Trì bước qua hàng ba, chợt dừng lại để lắng nghe tiếng ngâm thơ của ông Huân đang khe khẽ vang lên: Đội gạo những buồn cơn nắng xế Mài gươm thêm thẹn bóng trăng tà.
Chờ cho giọng buồn buồn ấy rơi hút vào cái tĩnh mịch của căn nhà lá mái đã mục nát, Nghè Trì mới xô nhẹ cửa bước vào. Ông Huân đang ngồi xếp gối, rung đùi nhè nhẹ trên bộ ván gõ đen láng bóng. Trước mặt ông là chiếc khay trà. Ông ngửa chén, vừa rót trà vừa bảo:
– Chú ngồi xuống uống trà. Bà ấy bán buôn khổ cực cũng không nuôi nổi nhà. Anh em mình đem thân phò nước cũng chẳng ra làm sao cả. Thẹn quá đi chú!
Ông Nghè tháo đôi giày hạ, ngồi đối diện anh, im lặng nâng chung trà thấm giọng. Ông nhìn kỹ ông anh mình. Chỉ lớn hơn ông một tuổi và với tướng mạo khôi ngô, trán cao miệng rộng, nên từ nhỏ đến lớn, ngay trong thời gian tám chín năm trốn tránh trong rừng sau khi khởi nghĩa thất bại, ông Huân lúc nào cũng trông trẻ hơn ông. Nhưng từ hồi chú em Nguyễn Thúc Mân mất rồi kế đến thân phụ của hai ông qua đời, ông Huân bỗng già mau lên một cách dễ sợ.
Cụ Tú Nguyễn Khuê có bốn người con theo thứ tự là Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì, Nguyễn Thúc Mân và Nguyễn Quý Luân. Cả năm người đều tài cao học rộng, giới sĩ phu hâm mộ thường sánh họ với họ Tô thời Tống. Nghè Trì rất kính phục ông anh, cả thơ văn lẫn cách sống. Năm mười lăm tuổi Bá Huân làu thông Ngũ Kinh Tứ Truyện, thành thạo các thể thi, phú, văn sách, kinh nghĩa… Vốn không màng danh lơị, nhưng vì nể gia đình, ông đã vác lều chõng đi thi ba kỳ và đều hỏng cả ba khoa, chán, định bỏ hẳn. Nhưng lại bị mọi người ép ông phải đi thi lần nữa. Nhưng ông không mang lều chiếu, chỉ xách theo một bầu rượu, đi thẳng vào Thập đạo, lãnh giấy bút, làm bài một hơi thì xong, rồi rót rượu vừa uống vừa đọc lại. Càng đọc càng cao hứng, vỗ đùi đôm đốp, bảo rằng “Văn hay như thế này mà để quan trường khuyên thì uổng quá” Nói xong liền hạ bút khuyên. Đọc một câu, thưởng một chén, khuyên một khuyên. Quyển bị khuyên đầy thì người cũng say mèm và… hỏng thi. Nghè Trì thường bảo với mọi người “Cái cuồng ngông của anh ta không dễ ai có thể cuồng được. Cái cuồng ấy sánh với Sở cuồng Tiếp Dư.” Tự thấy cách sống của mình thua hẳn Bá Huân về sự thẳng thắn, khẳng khái nên Trọng Trì luôn luôn kính cẩn trước lời anh “Không nói thì thôi, đã nói thì nói cho có biển có nguồn”. Vợ Trọng Trì không có con, gia đình khuyến dụ cưới vợ bé. Bà không chịu, Trì cũng muốn nghe theo, gia đình cố ép, bà đứng ra cưới cho ông một người con gái xinh đẹp và có học. Thế là Trọng Trì đâm ra mê mệt với bà hai. Bà cả nổi ghen bắt phải bỏ, Trọng Trì bấm bụng nghe theo. Nhưng việc này chưa làm Nghè Trì áy náy xấu hổ với Bá Huân bằng việc lặng thinh trước cái chết của Quản trấn Trần Tân.
Năm Ất Dậu, quân Pháp chiếm kinh thành Huế, vua Hàm Nghi bỏ chạy ra Quảng Trị, xuống hịch Cần Vương. Hường Lô Đào Doãn Địch phụng chiếu về Bình Định khởi nghĩa. Bá Huân, Trọng Trì và Quý Luân tham gia ngay. Chỉ ít lâu sau Đào Doãn Địch bị bệnh nặng, giao binh quyền lại cho Mai Xuân Thưởng rồi mất. Mai xuân Thưởng cử Nguyễn Trọng Trì chức Hiệp Trấn cùng trấn thủ thứ Hương Sơn với hai người là Tham Trấn Vũ Phong Mậu và Quản Trấn Trần Tân. Thứ Hương Sơn là một nút chặn đường tiến quân của Pháp ở hướng Bắc của căn cứ, tương đối yên ổn hơn mặt Nam. Việc canh phòng lại thuộc phần Quản Trấn Trần Tân, Trọng Trì và Phong Mậu rảnh rỗi nhiều nên cứ rủ nhau uống rượu đánh cờ. Năm Bính Tuất quân Pháp kéo quân tấn công căn cứ theo mạn Nam, giết chết tướng phòng thủ nơi đó. Quản Trấn Tân đang đi tuần hay tin vội vã về dinh. Đến nơi thấy Trọng Trì và Phong Mậu đang uống rượu đánh cờ. Giận quá ông lớn tiếng và xách cờ, rượu của hai ông ném quách. Tham Mậu hô quân vây bắt, Quản Tân đánh với bọn lính đông đảo nên không chống lại. Tham trấn Mậu buộc tội Quản Trấn Tân là phản loạn truyền đem chôn sống. Hiệp trấn Nguyễn trọng Trì im lặng để cho Tham Mậu tùy ý hành động không nói một lời. Đến Khi Mai Xuân Thưởng hay tin, cho người phi ngựa tới đào lên, Quản Trấn Tân đã ra người thiên cổ. Khi Bá Huân biết chuyện nầy giận lắm không thèm nhìn mặt Trọng Trì liền mấy tháng.
*
Hai anh em bước ra khỏi cổng với y phục tuy đã sờn cũ nhưng thật chỉnh tề. Người nào cũng giày hạ, quần trắng, áo the đen, đội khăn xếp, vác dù và quấn quanh cổ chiếc khăn lông dài. Bá Huân nhìn mặt trời rồi nói:
– Trời hôm nay tốt quá, ta cứ thong dong vẫn đến kịp giờ hẹn với Đào công chú ạ.
– Anh ạ, cho đến giờ phút nầy em vẫn còn hồ nghi trong dạ. Liệu Đào công có thực bụng hoan hỉ mà viết thiếp mời anh em mình đến xem hoa mẫu đơn nở hay là… Đào Công muốn chơi khăm một vố gì đây để trả thù những lời mắng của em lúc hay tin ông ta từ chối tham gia vào phong trào Văn Thân. Nếu không thì giữa anh em mình và ông ta chưa một lần gặp gỡ sao lại mời mọc như bậc thượng khách trong khi từ vai vế đến tuổi tác anh em mình chỉ là kẻ nhỏ mọn và hậu sanh?
– Chú nghĩ vậy coi bộ không phải. Ta với chú đã từng bình những bài thơ của Mai tăng và vô cùng khâm phục tài hoa của ông phổ lên từng câu từng chữ. Bài thơ nào cũng toát lên cái đẹp của một đóa hoa thanh khiết, cái dũng của một đấng anh hùng. Một người đã làm cặp đối chữ như thế nầy thì không thể có cái tiểu tâm được. Ông Huân dừng chân, quay người nhìn Nghè Trì rồi cất giọng ngâm nga: Tùy xứ khôi hài, Mạ Thiên Tiên bản sắc Phùng trường tác hý, Hoan Hỷ Phật tiền thân.
Ngâm xong ông tiếp tục bước, hắng giọng rồi nói tiếp:
– Hơn nữa, cái tuồng Hộ Sanh Đàn đã làm ta và chú khóc, cười, ái, nộ theo từng hồi. Nó là một bổn tuồng kiệt tác từ văn chương đến tư tưởng.
Nghè Trì sửa cái khăn lông cho khỏi chật cổ rồi tiếp lời:
– Anh nhắc đến Hộ Sanh Đàn làm em nhớ hôm nọ em giảng giải với mấy đứa học trò, em xin thuật lại cho anh nghe. Hộ Sanh Đàn không phải là “đàn đỡ đẻ”. Chính là cái đàn vô hình mà Hộ Sanh Sứ Giả bước lên để nhận lệnh đi giúp đỡ Lan Anh đang chuyển bụng. Vì sao phải nhọc sức thần linh như vậy? Chính vì đứa bé trong bụng kia là quí tử do cha trung dũng, mẹ tiết nghĩa sanh ra. Đào công xây dựng nhân vật Tiết Cương và Lan Anh có đủ đức trung nghĩa tiết dũng để gián tiếp bảo rằng: “Đứa bé sanh ra sẽ là một anh tài của đất nước, một hy vọng của tương lai”. Dụng ý của Đào công rất sâu: Không phải Tiết Cương cứu nguy được nhà Đường, mà chính Tiết Quì. Cha mẹ gieo nhân, đời con hái quả. Ông muốn nói với chúng ta: “Thế hệ này chưa lấy lại được nước non Hồng Lạc, hy vọng ở đám hậu sinh”. Do vậy Đào công nhấn mạnh ở việc sanh đẻ và lấy ba chữ Hộ Sanh Đàn đặt tên cho tuồng. Tuồng này nếu hát ở vùng Nghệ thì Tiết Nghĩa là hình ảnh của Cao Ngọc Lễ, tên phản sư phản quốc. Nếu đem hát ở vùng Quảng Nam, Bình Định thì Tiết Nghĩa sẽ là hiện thân của tên Nguyễn Thân khốn kiếp.
Nghè Trì bật cười khi chợt nhớ hôm đi coi tuồng Hộ Sanh Đàn, ông đã đánh cái trống chầu suýt bể khi và cười ha hả khi nghe câu hát: “Bảo cho, nễ khả, thằng thân hạ mã, thúc thủ lai hàng” và: “Như ngươi chừ: Hết cậy thế xông đồ phá trận. Biểu cho: Phải cam lòng hạ mã thằng thân cho rồi”. Ông lẩm bẩm:
“Hay quá, đã quá.Thằng thân hạ mã, chữ nho là trói mình xuống ngựa và nói nôm là thằng Thân xuống ngựa đầu hàng đi”. Bá Huân không hiểu cái cười của em nên đưa mắt hỏi. Nghè Trì chợt thấy mình còn vẻ trẻ con trước mặt anh nên vội nín cười và nói thác đi:
– Mình rảo bước một chút đi anh kẻo trễ.
Đến Hương Thảo Thất trời đã chạng vạng tối, hai anh em sửa soạn y phục cho tề chỉnh rồi mới gọi cổng. Cửa nhà ngõ xịch mở, người nô bộc khom mình bái chào. Chưa kịp đáp lễ, hai anh em đã thoáng thấy Đào Tấn xuất hiện. Dáng khoan thai, chững chạc, vừa vuốt chòm râu trắng xóa vừa cười khà khà nói:
– Nhị vị huynh đệ thật đúng hẹn, xin rước nhị vị vào tệ thất.
Đào Tấn lách người một bên, đưa tay ra dấu mời.
– Ấy chết, Đào công xin đừng làm thế, huynh đệ chúng tôi chỉ xin được nối gót ngài.
Bá Huân vội vã lên tiếng rồi bước ra sau Đào công chờ đợi. Ông không ngờ đích thân Đào công ra tận cổng đón hai anh em ông. Dù đã về hưu nhưng Đào Tấn đã là quan Thượng Thư và hai anh em ông, dưới mắt triều đình chỉ là những kẻ phản loạn.– Cùng là kẻ sĩ với nhau chấp gì chút lễ nghi chật chội. Xin mời huynh đệ đánh một vòng nhìn nước ao sen mùa thu, xem mấy gốc mai cằn, rồi ta sẽ vào nhà hàn huyên cho phỉ tình mong đợi.
Nói xong Đào Tấn ung dung từng bước hướng dẫn anh em họ Nguyễn. Hai bên tả hữu của cổng chính đều là ao sen. Tuy đã vào thu nhưng hoa sen vẫn chưa tàn hết, thấp thoáng trong đám lá sen già những bông sen vụt cao lên, trắng xóa trong cái tối nhờ nhờ, để sáng ngày mai khai hoa nở nhụy. Mùi hương sen thật nhẹ, thật thoang thoảng, nhưng mọi người đều ngửi được, nên lồng ngực cứ muốn căng ra hít cái mùi hương huyền dịu quý giá ấy.
Trong ao, người nô bộc đang nhẹ nhàng, cẩn trọng vạch từng lá sen để chèo một chiếc thúng, chốc chốc lại dừng bên những búp sen vừa chớm hé. Ông ta dùng một ngón tay khe khẽ thò vào chỗ hé của búp sen từ từ xoay vòng tròn cho miệng sen há to đủ cho ông bỏ nhúm trà mộc vào rồi cũng thật khẽ khàng lấy sợi dây bằng bẹ chuối khô thắt gút lại. Tinh mơ sáng hôm sau ông ta lại cũng thật nhẹ nhàng, cẩn trọng chèo thúng đến từng cái hoa, cũng rất khẽ khàng mở dây buộc, lấy từng nhúm trà ấy cho Đào công pha với nước sương đọng trên lá sen, tinh hoa của trời đất đêm qua. Tất cả việc buổi tối bỏ trà, buổi sáng lấy trà trong hoa sen, ông đều làm hết sức cẩn thận, vì Đào công luôn luôn nhắc nhở: “Hưởng được hương vị hoa sen là hưởng được ân sủng của trời đất, nên không thể làm hư cái sự nở của hoa là làm hư sự thăng hoa của tạo hóa. Ông phải luôn luôn dè chừng không làm hư thứ tự sắp xếp của cánh hoa, để ngày mai hoa sẽ còn góp mặt với đời.”
Đào Tấn nhìn Nghè Trì, giọng vui vui:
– Tiếc là trời hôm nay thiếu gió, nếu không mình sẽ cùng thấy mặt Nhan Uyên.
Trong lòng Nghè Trì nhoi lên một niềm vui. Thì ra Đào công chú ý tìm hiểu về ông khá nhiều. Lúc ra Huế chờ nhận chức, ông có dịp quen với Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp. Một hôm Đạm đọc cho ông nghe vế đối của vua Tự Đức mà quần thần chưa ai đối được: “Thủy trích bích tường sanh Khổng Tử.” (Nước nhỏ xuống chân tường sinh ra những giọt nước cử động. Khổng Tử vừa là tên ông Khổng Tử vừa có nghĩa là giọt nước không đứng yên một chỗ).
Đang tìm câu đối, bỗng nhìn thấy gió thổi lá sen để lộ mặt hồ nước trước nhà trọ, ông liền đối: “Phong xuy hà diệp kiến Nhan Uyên” (Gió thổi lá sen nhìn thấy mặt hồ. Nhan Uyên vừa là tên ông Nhan Uyên, học trò của Khổng Tử vừa có nghĩa là mặt hồ.)
Cả ba bắt đầu dạo quanh vườn mai. Mai trồng thành từng ô vuông khắn khít với nhau bằng những cành khẳng khiu như củi mục nhưng tiềm chứa sức mạnh chống chọi với thời gian bằng vô số chiếc lá xanh lục khiến anh em họ Nguyễn như lạc vào chốn rêu xanh cổ tích. Trọng Trì kêu lên, giọng sôi nổi:
– Anh ạ, cái cành kia đẹp quá cái thế của nó tựa như một con rồng đang vùng vẫy, em nghĩ xuân về, những bông hoa mai nở viền quanh sẽ điểm cho nó cái thần khí để bay vút lên mây.
– Ông Nghè giàu tưởng tượng hỉ. Thôi đã tối trời, chúng ta vào nhà dùng chén rượu tẩy trần.
Cửa chính mở rộng, chiếc đèn tọa đăng tỏa sáng khắp nhà, soi rõ bức hoành phi treo trên gian giữa ba chữ Hương Thảo Thất bay lượn nhẹ nhàng như hương thơm của cỏ dịu dàng len giữa không gian. Bên trái của bức hoành là hàng chữ đứng: Thành Thái Ất Vị Xuân, góc mặt là hai chữ Mai Tăng nhỏ bé, khiêm nhường.
Chủ khách vừa ngồi xuống ghế, lập tức người nô bộc bưng khay rượu ra, trên là một bình Mai Quế Lộ. Tự tay Đào Tấn rót rượu ra chén ân cần mời khách:
– Vân Sơn nổi tiếng một nhà năm người tài hoa sánh với gia đình họ Tô thời Tống. Hôm nay được gặp gỡ hàn huyên cùng nhị huynh đệ lão rất vui mừng. Chúng ta cạn vài chung rượu rồi dùng cơm đạm bạc, sau đó sẽ đến tiết mục chính của bữa tao ngộ hôm nay.
Bá Huân một tay nâng chén rượu, tay kia vin tay áo the đen, tỏ vẻ cung kính nói:
– Dạ, Đào công quá khen chứ bốn anh em chúng tôi mắt không nhìn tới nổi ngọn Linh Phong, tài chưa bén cổng làng Vinh Thạnh. Vừøa mới mãn tang gia phụ năm ngoái, mà lòng vẫn không hết thẹn với cha già là chưa làm tròn những điều gia huấn. Còn nỗi niềm đất nước cứ canh cánh bên lòng khiến huynh đệ chúng tôi sống như ở trên dầu sôi lửa bỏng. Riêng Huân này, sở học ít oi, thô thiển nên không tiếc việc hỏng thi. Lòng chỉ muốn hòa nhập vào mây trời lãng đãng mà nhàn du với cỏ nội hạc ngàn. Tiếc thay nước nhà gặp cơn bỉ, đành đem thân mà trải, những mong trả nghĩa lộc trời, nhưng rồi chẳng cưỡng nổi mệnh thiên, nên vô cùng tâm đắc với hai câu Nam ở cuối tuồng Diễn Võ Đình qua nhân vật Triệu Khánh Sanh mà Đào công đã phóng bút: Tấm thân liều gửi cung dâu Đố con tuấn mã biết đâu là nhà. Huân này mạo muội nghĩ rằng Đào công cũng đã từng trở trăn thống thiết như Huân vậy. Bao lâu nay đã nghe nức tiếng Tiểu Linh Phong Mai Tăng, cũng như thưởng thức hàng hàng cẩm tú của Mộng Mai Tiên sinh, hôm nay lại được đối ẩm với ngài quả là muôn vàn hân hạnh.
Nghè Trì cũng đứng dậy nghiêng mình thi lễ tiếp lời anh:
– Thưa Đào Công, tiểu đệ từ ngày bỏ được rừng xanh, về nhà có thì giờ, sính đọc những áng văn chương trác tuyệt của ngài, nhất là hôm đi coi tuồng Hộ Sanh Đàn. Văn chương cũng như bố cục đều thật là cao siêu, từng câu từng chữ của vở tuồng thấm tận đáy lòng của tiểu sinh. Khiến lòng này không khỏi thẹn khi nhớ lại chuyện ngày xưa vì quá nông nổi, chưa biết phân chia hư thực. Lòng dặn lòng có dịp thì xin được tạ tội thất lễ với Đào công. Sau lần đọc xong bổn tuồng Thái Thạch Cơ, tiểu sinh vô cùng xúc động nên có làm hai bài tứ tuyệt, tiện đây xin dâng tặng Đào công nhàn lãm:
Quốc loạn anh hùng bất tác thi Tùng quân ngự địch lập công thì Thiên an khởi thị thư sinh nguyện Hoàn ngã hà sơn khả định kỳ.
Thái Thạch Cơ biên nô lãng hào Thôn Ngưu hùng khí vạn tầng cao Viên môn dạ lập quan Kim trận Vũ tuyết phân phân mã chiến bào.
Đào Tấn nghe hai bài tứ tuyệt xong, tấm tắc khen:
– Văn quả là người. Tài hoa, khí tiết, có cả uất khí xông tận trời cao. Trả lại núi sông cho ta có thể hẹn kỳ là trung nghĩa. Và, đêm đứng nhìn trận giặc Kim, tuyết rơi bời bời trên áo giáp, thực quả là thanh lệ vô cùng. Chao ôi, thơ của ông Nghè thực là Thốn tâm thiên cổ.
Đến giờ thưởng hoa, chiếc bàn ăn được dọn đi, thế vào là một cái đôn thấp bằng sứ Bát Tràng và cái án thư để bày bộ trà. Hai người tráng đinh khiêng một chậu hoa to, khá nặng đặt trên cái cáng đan bằng tre, khệ nệ bước qua hè nhà rộng, rồi rất cẩn thận đặt lên chiếc đôn bóng láng.
Chiếc chậu sứ da rạn chạy chữ triện quanh miệng trông rất mỹ thuật. Cây Mẫu Đơn khá lâu năm, cao gần thước tây, cành lá sum suê. Điều làm anh em họ Nguyễn vô cùng thích thú là hoa. Hoa thật nhiều, thật tràn trề, trên cùng khắp các nhánh. Đa số đều nở. Màu trắng thật tinh khiết, thật đôn hậu. Những cánh hoa dày, chắc chắn, giống như những cánh Trà Mi, xếp tròn thành nhiều tầng chung quanh chùm nhụy vàng phơn phớt sang cả. Mùi thơm của hoa Mẫu Đơn thật nhẹ nhàng quyến rũ, thoang thoảng của mùi hoa lài lẫn chút đậm đà của nàng hoa bưởi. Không gian im hơi, cả ba thinh lặng, tất cả như bị đắm chìm trong cái không khí nửa huyền hoặc nửa thăng hoa toát ra từ cây Mẫu Đơn tuyệt mỹ. Cả Bá Huân và Trọng Trì đồng thanh buột miệng: “Vương giả chi hoa” rồi sau một thoáng nhìn nhau, cả hai lại cùng rơi vào im lặng. Hương đã gây mùi nhớ, trà giục khan giọng tình. Giọng Bá Huân trầm trầm cất lên như vang từ chốn mê cung xa vắng:
– Nhớ xưa nàng Dương Quí Phi là một trong Tứ Đại Giai Nhân của Trung Hoa được Đường Minh Hoàng vô cùng yêu quý, tận tay hái một bông hoa Mẫu Đơn cài vào tóc nàng. Người đương thời cho rằng hoa Mẫu Đơn xứng đáng được kề cận với Quí Phi. Giờ tận mặt thấy hoa bèn trộm nghĩ rằng, nên nói ngược lại là Dương Quí Phi xứng đáng được mang hoa Mẫu Đơn trên tóc.
Để tạ chút lòng Đào công đoái tưởng xin được múa rìu trước cửa Lỗ Ban, xin cho một mảnh hoa tiên để được trổ chút tài hèn mọn.
Bá Huân tiếp giấy bút từ người nô bộc, cúi gập người xuống án thư, lấy ngọn bút lông chấm xuống nghiên mực do người lão bộc vừa mài. Tay ông thoăn thoắt, đá, phảy, đưa lên, ngoặc xuống, trong thoáng chốc đã thành một bài tứ tuyệt:
Hý khúc ngô châu trứ giả đa Tranh hồng đấu tử tổng nhàn hoa Mẫu đơn nhất đóa quần phương chủ Khả tỷ Đào công đại bái gia.
Đào Tấn kê mảnh hoa tiên sát bên ánh tạ đăng, nheo mắt đọc. Vừa xong, ông vuốt râu, thảng thốt kêu mấy lượt “Hay a, Hay a”. Ông lấy giấy ra phóng bút họa ngay một bài:
Văn tinh tụ chiếu ngã châu đa Từ uyển hân chiêm mỹ lệ hoa Hồng hạnh bích đào giai tuyệt sắc Quần phương các hữu tại chư gia.
Viết xong ông đưa cho Bá Huân và nói:
– Xin đa tạ nhã ý của ông, văn hay chữ tốt, nhưng lão thật tình không dám được ví như hoa Mẫu đơn là chúa các loài hoa, mà thiết nghĩ rằng hoa hạnh, hoa đào đều là tuyệt diệu và mọi loài đều có trong mỗi nhà soạn tuồng. Hơn nữa, cái tiết tháo của Mẫu đơn đã bao trùm thiên hạ, dám quay lưng ngoảnh mặt trước lời phán bảo của Võ Tắc Thiên. Điều đó lão luôn để trên đầu, sánh lão với hoa Mẫu đơn chỉ làm lão muôn phần hổ thẹn thôi ông Huân ạ.
Đã gần đến nửa khuya, anh em họ Nguyễn đứng dậy xin kiếu từ. Đào Tấn hết sức cầm ngủ lại, hai ông hết sức chối từ. Nguyễn huynh đệ dắt nhau về dưới sương khuya. Ra khỏi khu vườn thuộc Hương Thảo Thất chợt Bá Huân dừng lại bảo với em:
– Chú Trì ạ, tôi rất đồng ý với chú hồi chiều, khi chú nói cái dụng ý sâu xa của Đào Công qua bổn tuồng Hộ Sanh Đàn. Thế hệ mình chưa thể lấy lại non nước, chỉ hy vọng vào đám hậu sinh, chú ạ.
KHÙNG –Tập truyện của Nguyễn Trí gồm 11 truyện ngắn: Báo thù, Bi kịch giữa đời thường, Chuyện cô gái nhảy cầu, Rừng nổi giận, Trăng rừng, Cái chết của Tâm Huế, Khùng, Gì cũng có số, Bẽ, Nỗi buồn của Tư Tấn, Những hành trình đơn độc.
Nguyễn Trí sẽ còn viết nhiều, nhưng với những gì đã công bố, truyện ngắn rõ ràng là một thế mạnh của ông. Mạnh ở đời sống, ở cốt truyện, và nhất là ở ngôn ngữ thể hiện. Ngôn ngữ trong các truyện ngắn của Nguyễn Trí là một thứ ngôn ngữ bụi, được sử dụng một cách tự nhiên, vừa đủ, rất hợp với các nội dung cần chuyển tải. Chúng ta thử hình dung cũng những cốt truyện ấy, nếu tác giả thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ “xa lông”, liệu chúng có dậy mùi được không? Chắc chắn không. Lúc ấy thay vì đọc ông, người ta sẽ đọc các trang báo, nhất là báo về pháp luật và an ninh. Nhưng theo Lê Minh Khuê, người đọc đọc Nguyễn Trí vì truyện của ông “…có vô số thông tin và ông đã biến những thông tin đó thành thế giới tưởng tượng của riêng mình để truyện nào cũng có nhân vật rõ tới sờ thấy được. Và tình huống truyện rất kỳ lạ, cái quan trọng là cảm xúc nhân văn tràn đầy ở người viết biến những cái thông thường thành cảm xúc chung lớn lao!”. Ở người làm nghề văn, đây là một năng lực trời cho. Nếu để mất nó, bất cứ người viết nào cũng sẽ lẫn trong muôn vàn khuôn mặt văn chương khác (Ngô Xuân Hội).
Sách dày 176 trang khổ 13,5 x 20,5 cm, được in ấn mỹ thuật trên giấy Ford trắng định lượng 100 g/m2, với tranh bìa là ký họa chân dung Nguyễn Trí do họa sĩ Trần Đạt vẽ. Giá bìa 100.000 đ.
Sách do NXB Hội Nhà Văn (Chi nhánh Tây Nam bộ – Vũ Hồng) tổ chức bản thảo và cấp phép, được thực hiện và phát hành tại Văn Tuyển Sài Gòn.
Bạn văn có thể liên lạc với tác giả qua điện thoại số 01225649529 hoặc Fb Nguyễn Trí.
chỉ là một thoáng đến đi
chút vui sao vội khép mi dại chờ
từ đầu hôm sớm thờ ơ
đến tàn cuộc đợi vật vờ cạn đêm
chỉ là lướt nhẹ qua thềm
mong chi mà tước lạt mềm buộc chân
cõi mênh mông khói bâng khuâng
sương che nẻo bước gót trần gai đâm
chỉ là bất chợt trổ mầm
ngoài kia đông vẫn âm thầm cắt da
như ban sơ tiếng khóc ta
bước vào đời đón thật thà dối gian
chỉ là hợp để rồi tan
bến tình đậu tạm tóc mang ngọn buồn
mỗi lần tay cột sợi suôn
là thêm lần ngón đau tuôn giọt sầu
chỉ là đất đã chìm sâu
trời lên cao tít bể dâu lưng chừng
nên yêu lạc mãi giữa rừng
ngăn niềm hạnh ngộ rưng rưng trùng phùng
cớ can chi mộng trùng phùng
hạc vàng khuất lối mịt mùng mùa ngâu
em ở đâu anh ở đâu
trơ tà huy rũ hoàng lâu mây ngàn…
.
ngồi trong bóng râm
nhìn lui bóng nắng
như lão thổ dân da đỏ
thừ người nhìn thời gian
đẩy lịch sử lùi dần vào cổ tích
da diết nhớ bóng nắng nhiệt đới
tiếng chim hót gánh hàng rong
dăm con ruồi vo ve mùi bò nướng lá lốp
ở vỉa hè con lộ vô cảm
em và tôi nhâm nhi một hạnh phúc muộn mằn
mà cả hai chúng ta cùng thỏa thuận
giữa mức giá chừng mực
của thị trường đô thị mới
tôi an phận với 10 chai bia saigon đang rợp mồ hôi
em vui vẻ với ly chè đậu vô tội
khuya hôm đó chúng ta tán gẫu
rất nhiều
sự khác biệt giữa cộng hòa và cộng sản
mình cùng gặp nhau ở chỗ
điên và ngu đột xuất, và
đó là điều tôi muốn nói, mà mãi
đến sau này em mới thấm thía được, tại sao
ở trong bóng nắng này, nơi chúng ta
tạm cư, như một định mệnh
và tôi đặt tên cho nó là
lối mòn của thổ dân
mà em đôi lần đã giẫm chân lên, và thốt
chông chênh thật, vâng
tôi lại thích nó
và nó đã khiến tôi
luôn khập khễnh.
“Ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưaem sang sông” là vấn đề được bàn thảo khá rộng rãi trong vài năm qua. Người viết có đọc trên Internet những tranh luận nhưng thú thiệt chưa bao giờ dám hỏi thẳng anh Nhật Ngân vì, một phần, hỏi là nghi ngờ mà nghi ngờ là xúc phạm và phần khác là vì anh đã nói rõ ra rồi. Nhạc sĩ Nhật Ngân khẳng định anh đã viết nhạc phẩm đầu tay đầy kỷ niệm vào năm 1960 khi chỉ vào 18 tuổi ở Đà Nẵng và giải thích lý do có thêm tên nhạc sĩ Y Vũ.
Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Nhật Ngân
Nhạc sĩ Trường Kỳ, một cây bút chuyên viết đời sống và tác phẩm của các văn nghệ sĩ, trong một bài viết vào năm 2000, đã thuật lại nguồn gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông theo lời kể của nhạc sĩ Nhật Ngân, và dưới đây là vài đoạn chính: “Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không mua nổi cây đàn cho ông. Do đó, ông đành quyết định thôi học. Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên Tôi đưa em sang sông.
Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng Tôi đưa em sang sông đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích, chép tay truyền cho nhau hát.
Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông tin lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” được nhạc sĩ Y Vân đổi thành “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ” cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.
Câu kết của bản chính là “Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa” cũng đã được Y Vân đổi thành “Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.” Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho tác giả cảm thấy “hẫng” đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó, chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.
Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên để Tôi đưa em sang sông đến với quần chúng dễ dàng hơn. Khi được phát hành, Tôi đưa em sang sông được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ“.
Nhạc sĩ Nhật Ngân qua đời ngày 21 tháng 1, 2012 tại California, Hoa Kỳ.
Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Y Vũ:
Trong một bài viết được phổ biến rộng rãi trên Internet, nhạc sĩ Y Vũ nhắc lại chuyện tình để lại một đứa con tinh thần có tên Tôi đưa em sang sông: “Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên tại đất Sài Gòn náo nhiệt. Những ngày tháng thơ ngây tại trường trung học có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của tôi, bởi ở đó tôi đã để trái tim mình rung động trước cô bạn chung lớp tên Thanh. Tình yêu học trò trong sáng lắm, chỉ cảm nhận qua ánh mắt, nụ cười chứ đâu có dám ngồi gần, dám nắm tay. Những khi tan trường sóng bước bên nhau cũng không biết nói câu gì, chỉ biết… đá cái lon sữa bò khua vang đường phố.
Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học. Mỗi chiều khi thay ba ra trông cây xăng, Thanh lại nhắc tôi ra đổ xăng… chùa. Những ngày tháng đó với tôi thật hạnh phúc, lãng mạn. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, Thanh biến mất khỏi cuộc đời tôi vì một đám cưới ép gả với chàng bác sĩ. Hụt hẫng, chơi vơi, tôi uống chén đắng đầu đời và nếm trải mùi vị của “thất tình”. Tỉnh cơn say vào 2 giờ sáng, tôi ôm guitare và thế là Tôi đưa em sang sông ra đời. Bài hát với giai điệu buồn da diết được coi là tài sản chung cho nhiều chàng trai lâm vào cảnh như tôi thời đó.
Mối tình đầu làm tôi trắng tay, nhưng nỗi bất hạnh ấy đem lại cho tôi xúc cảm để có được hai bài hát tâm đắc. Sau Tôi đưa em sang sông gắn liền với tiếng hát Lệ Thu, ca khúc Ngày Cưới Em lại thành công vang dội: “Hôm nay ngày cưới em, nào men nồng nào hoa thơm, nào môi hồng nào da phấn, khăn áo muôn sắc đua chen…”
Tương tự, nhạc sĩ Y Vũ cũng “ngậm ngùi tâm sự” chuyện tình của ông cho nhạc sĩ Trịnh Hưng nghe: ”Đó là nhạc ghi lại mối tình đầu của em. Dạo đó, em còn là học sinh trung học tư thục Hàn Thuyên ở phố Cao Thắng, gần nhà và lớp nhạc của anh, yêu một nữ sinh cùng lớp tên Thanh. Đó là mối tình học trò, trong trắng. Tình yêu chúng em chỉ cảm nhận qua ánh mắt trao đổi, chứ chưa một lần nắm tay nhau. Nhà nàng giàu sang, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ, còn em thì nghèo, chỉ có chiếc xe gắn máy hiệu Bromic do anh Y Vân mua cho. Nàng dặn em, mỗi ngày cứ vào buổi chiều, canh đúng giờ nàng ra thay thế cho cha mẹ nàng về nhà nghỉ ngơi, thì tới để nàng đổ đầy bình xăng cho, không phải trả tiền. Và cứ thế, rồi bẵng đi một tuần không thấy Thanh đi học và ra cây xăng. Em nhớ Thanh quá, mới lấy hết can đảm tới nhà nàng, hỏi thăm cô em gái nàng, thì được biết mấy hôm nay nhà bận rộn vì phải tiếp nhận lễ hỏi cưới chị Thanh, do cha mẹ gả cho một ông bác sĩ lớn tuổi.”
Nhạc sĩ Y Vũ trưng bằng chứng “bản thảo”
Giữa tháng 11, 2017, trong một chương trình truyền hình Hát trên chuyện tình trong nước, nhạc sĩ Y Vũ phát biểu về nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông:
“Tôi xin khẳng định một điều bài này của tôi viết có một mình tôi thôi. Anh Y Vân có dạy hai người học trò là Nhật Ngân và Anh Thy. Khi tôi thất tình tôi viết bài Tôi đưa em sang sông được mấy ngày sau, trình anh Y Vân duyệt, bài này được tốt rồi. Anh đề nghị ngay, bây giờ mày có thể để thêm tên Nhật Ngân vào bài này không để cho hai đứa cùng nổi tiếng với nhau, có chút tiếng, bài này hay, sẽ nổi đó. Kính thưa quý vị, tôi rất vô tư. Tôi không nghĩ cái chuyện mấy chục năm sau lại như thế. Tôi bảo anh muốn để thì em để vào. Bài đó ký tác quyền cho nhà xuất bản Diên Hồng và có thêm tên Nhật Ngân, và tôi có hứa trên báo chí là sẽ có một ngày tôi lục được cái bài gốc, gọi là bản thảo, tôi viết tay.”
Sau đó nhạc sĩ Y Vũ đưa bản viết tay cho người dẫn chương trình và cô đọc “Bản thảo ký ngày 5 tháng 6 năm 1962.”
Các báo trong nước phần lớn đồng ý với lời “khẳng định” của nhạc sĩ Y Vũ và báo Thanh Niên kết luận: “Lần đầu tiên, nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ca khúc Tôi đưa em sang sông do chính ông tay ông viết mà không có bất kì một nhạc sĩ nào tham gia vào. Hơn nữa, nhạc sĩ còn đem theo bản gốc viết tay hơn 40 năm trước để làm bằng chứng chân thật nhất cho những lời kể của ông. “
Khoan, xin đừng quá vội.
– Bản gốc:
“Bản thảo” chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ dùng làm bằng chứng không thể chứng minh đó bản gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông. Ngoài nhạc sĩ Y Vũ, không có người nào hay cơ quan có thẩm quyền độc lập nào xác định đó là bản thảo. Cách đây hơn nửa thế kỷ, mọi sáng tác văn nghệ đều phải chép tay, dù do chính tác giả sáng tác hay chép lại nhạc của người khác.
Nhạc sĩ Nhật Ngân cũng có thể có một bản thảo chép tay như bản của nhạc sĩ Y Vũ nhưng còn đang thất lạc. Cuộc đời nhạc sĩ Nhật Ngân giống như âm nhạc của anh gắn liền với những chặng đường gian nan của đất nước. Rời Đà Nẵng, đi lính, gia nhập ban Tâm Lý Chiến của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, chịu đựng cực khổ sau 1975, vượt biên sang Thái Lan 1982. Mạng sống lo chưa xong nói gì là bản thảo.
– Thời điểm nhạc phẩm ra đời:
Khi còn sống, trong các buổi trả lời phỏng vấn trên báo chí, qua truyền hình, truyền thanh, nhạc sĩ Nhật Ngân đều khẳng định một cách chính xác nhạc phẩm đó anh viết lúc 18 tuổi từ năm 1960. Khẳng định này đã được phổ biến cùng khắp.
Nhạc sĩ Y Vũ, qua các lời kể, dù thừa nhận đã có biết, có nghe những tranh luận nhưng không phản đối về thời điểm 1960 do nhạc sĩ Nhật Ngân đưa ra.
Tạm cho là lúc đó nhạc sĩ Y Vũ chưa tìm ra “bản thảo” để chứng minh nhưng ít nhất ông phải nhớ năm nhạc phẩm ra đời và phản bác thời điểm 1960 của nhạc sĩ Nhật Ngân chứ. Chẳng lẽ ông nhớ những chi tiết nhỏ như “Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học” mà lại không nhớ mình sáng tác bản nhạc năm nào?
Không phản biện về thời điểm có nghĩa ông đồng ý bản nhạc ra đời vào năm 1960 chứ không phải 1962 và như vậy bản của nhạc sĩ Nhật Ngân dù còn đang bị thất lạc mới thật sự là bản gốc.
Thời điểm tìm ra “bản thảo”
Trên báo Thanh Niên ngày 17 tháng 11, 2017, Nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ thời gian tìm ra “bản thảo”: “Bản gốc của ca khúc này do bà cụ cất giữ. Bà rất quý sáng tác của hai anh em tôi và giữ mỗi người một bản gốc mà bà yêu thích nhất. Bà kẹp bản gốc ca khúc Lòng mẹ của Y Vân và bản gốc Tôi đưa em sang sông trong ngăn tủ của mình cùng với giấy khai sinh của tôi và một vài giấy tờ quan trọng khác. Mãi đến khi bà mất, tôi mới kiếm được những tư liệu này.”
Người viết xin lỗi phải nhắc đến bà cụ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ nhắc trước.
Mẹ của hai nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ không phải qua đời năm ngoái, năm kia hay thậm chí không phải mười năm trước mà qua đời cách đây 24 năm. Báo chí trong nước viết về ngày cụ qua đời: “ngày 28/11/1992, nhạc sĩ Y Vân giã từ cõi người khi vừa bước vào tuổi 60 và mười tháng sau, mẹ của ông, (cũng là mẹ của nhạc sĩ Y Vũ) qua đời.”
Theo lời kể của chính nhạc sĩ Y Vũ, bà cụ cũng chẳng chôn giấu “bản thảo” ở một góc nhà nào kín đáo hay gởi cho ai mà để ngay trong phòng của cụ cùng với các giấy tờ quan trọng khác. Do đó, “bản thảo” trong xấp giấy tờ quan trọng phải được tìm ra ngay sau khi bà cụ qua đời.
Nhưng cứ tạm cho rằng ông không tìm ra “bản thảo” ngay mà 10 năm sau mới tìm ra thì tại sao 14 năm rồi ông không công bố “bản thảo” dù ông có rất nhiều cơ hội và tại sao ông không công bố khi nhạc sĩ Nhật Ngân còn sống để hai mặt một lời cho dứt khoát? Điều gì khiến ông dè dặt?
– Vai trò của nhạc sĩ Y Vân:
Người có thẩm quyền nhất và có tính xác định cao nhất ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông chính là nhạc sĩ Y Vân vì cả nhạc sĩ Y Vũ và Nhật Ngân đều đồng ý là nhạc sĩ Y Vân đã ghép chung hai nhạc sĩ vào nhạc phẩm.
Nhạc phẩm này không phải bây giờ mới nổi tiếng mà nổi tiếng ngay sau khi được Lệ Thu hát cho tới nay. Nhạc sĩ Y Vân qua đời năm 1992. Tuy lâu nhưng không phải quá lâu. Nhạc sĩ Nhật Ngân không có ở trong nước nhưng nhạc sĩ Y Vũ ở bên cạnh anh mình cho đến ngày cuối nhưng tại sao ông không yêu cầu nhạc sĩ Y Vân xác định giùm ông những bí mật, những khuất tất chung quanh nhạc phẩm này nếu ông là “tác giả duy nhất”?
Người viết không dám phê bình nhạc sĩ Y Vân nhưng khách quan mà nhận xét lý luận cho rằng nhạc sĩ Y Vân thêm tên em mình vào một nhạc phẩm mà ông biết sẽ nổi tiếng có lẽ dễ thuyết phục hơn là thêm một tên còn đang học nhạc 18 tuổi vô danh ở ngoài Đà Nẵng vào nhạc phẩm của em mình.
– Lời nhạc
Nhạc sĩ Nhật Ngân có hơn 200 nhạc phẩm, không tính nhạc ngoại quốc lời Việt, và nhiều trong số đó đã gắn liền với tâm sự với những người xa quê hương như Xuân này con không về, Một mai giã từ vũ khí nhưng khi được yêu cầu anh thường hát Tôi đưa em sang sông.
Người viết nghe chính nhạc sĩ Nhật Ngân hát Tôi đưa em sang sông lần đầu 14 năm trước tại Dallas, rồi sau đó những lần khác trong các đại hội Quảng Đà, họp mặt Liên Trường ở Nam California. Anh hát với tất cả xúc động chân thành toát ra từ ánh mắt, từ lời ca, từ niềm hoài vọng về một thành phố cảng thân yêu nơi có bến đò ngang và dòng sông đẹp.
Ai đã từng sống ở Đà Nẵng hay sống cả hai thành phố Đà Nẵng và Sài Gòn, và lắng lòng ngồi nghe anh Nhật Ngân hát, chắc hẳn sẽ đồng ý chính anh là tác giả của Tôi đưa em sang sông bởi vì “sông” trong Tôi đưa em sang sông là dòng sông thật chứ không phải “đưa người ta không đưa qua sông” theo cách ví trừu tượng của Thâm Tâm.
Chuyện tình của nhạc sĩ Y Vũ không có tình tiết nào được phản ảnh trong lời nhạc Tôi đưa em sang sông. Theo lời kể của ông phần lớn chỉ diễn ra bên cây xăng ở Ngã Bảy Lý Thái Tổ và thậm chí “ chưa một lần nắm tay nhau” thì làm gì có “bàn tay nâng niu ân cần” như trong Tôi đưa em sang sông.
Chuyện tình của nhạc sĩ Nhật Ngân không đánh dấu bằng những “cây dài bóng mát”, “vòm lá me xanh”, “thương xá sắp đóng cửa” hay “muôn tà áo tung bay” ở Sài Gòn mà bằng “đường vắng”, “bến đất”, “bến gió”, “lối mòn” thường gặp trong các thành phố xa thủ đô. Nói chung, không một động từ, một danh từ, một tĩnh từ nào trong Tôi đưa em sang sông làm người nghe liên tưởng đến Sài Gòn.
– Tôi đưa em sang sông so sánh với Ngày cưới em
Nhạc sĩ Y Vũ, trong dịp khẳng định tác quyền Tôi đưa em sang sông có nhắc đến ca khúc Ngày cưới em.
Lẽ ra không cần phải bàn đến nhạc phẩm không liên hệ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ “tâm đắc” và nhấn mạnh nhạc phẩm này cũng đã “thành công vang dội” nên người viết mời độc giả vào Youtube nghe hai nhạc phẩm rồi đọc kỹ lời của hai nhạc phẩm để thấy sự khác nhau trong cách diễn tả và ngôn ngữ được dùng.
Những câu hát trong Tôi đưa em sang sông là những câu thơ, có trách móc, có chút đắng cay nhưng rất nhẹ nhàng và bóng gió:
Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa Chẳng lẽ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi
Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn …
Trong lúc đó, lời của Ngày cưới em:
Hôm nay ngày cưới em Nào men nồng nào hoa thơm Nào môi hồng nào giá phấn Khăn áo muôn sắc đua chen Mắt biếc ngời ánh đêm Làn tóc nụ cười ngát hương Từng bước dập dìu bước êm Chỉ mình lòng tôi hoang vắng
Hôm nay ngày cưới em Mừng vui họ hàng đôi bên Vì đâu nàng mời tôi đến Tuy có đây cũng như không Chiếc áo tình chóng phai Một sớm một chiều đã thay Thì nhớ đừng vì có tôi Mà nàng giấu vui không cười …
Lời của Ngày cưới em không bóng gió như thơ mà là những đoạn văn xuôi tả rất cụ thể, rõ ràng với “men”, “môi”, “phấn”, “mắt”, “khăn áo”, “họ hàng đôi bên”.
Ngôn ngữ bao la nhưng mỗi nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ chỉ có một cuốn tự điển để sử dụng cho riêng mình và dù có viết trăm bài thì những chữ tác giả dùng cũng giới hạn trong tự điển đó thôi.
– Tiền bản quyền
Nhạc sĩ Y Vũ than trên báo Thanh Niên: “Nghe nói tiền bản quyền ca khúc bên Mỹ cao lắm, mà hàng chục năm qua tôi không được một đồng.” Đây là điểm thuộc về pháp lý và sẽ do các luật sư chuyên về bản quyền giải thích nhưng trong quan điểm phổ quát, tiền bản quyền thuộc về ai tùy thuộc vào ai giữ bản quyền. Người viết cũng đã từng nộp bản quyền và biết cơ quan bản quyền không dựa vào bản chép tay dù cũ bao lâu của ai đó để xác định bản quyền.
Việt Nam và Mỹ đều là thành viên của Berne Convention cho nên nếu nhạc sĩ Nhật Ngân nộp bản quyền nhạc của ông sau khi định cư ở Mỹ năm 1982 và gia đình nhạc sĩ Nhật Ngân giữ quyền thừa kế bản quyền của Tôi đưa em sang sông thì họ có thể kiện những ai dùng nhạc phẩm vào mục đích thương mại ngay cả đã sử dụng tại Việt Nam trước đây, đang sử dụng hiện nay và cả sẽ sử dụng sau này.
Nhạc sĩ Y Vũ có nhiều điều kiện, nhiều thời gian, nhiều cơ hội và nhiều người để giúp chứng minh ông là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông nhưng đã không làm. Hôm nay, nhạc sĩ Nhật Ngân không còn sống để biện hộ cho anh nên dù nói gì nhạc sĩ Y Vũ cũng chỉ vẽ nên nhiều nhất là một nửa cái bánh mà thôi.
Trong lúc một số người dễ tin có thể cho những bằng chứng nhạc sĩ Y Vũ đưa ra là thật nhưng những người khác thận trọng, suy nghĩ chín chắn hơn sẽ nghĩ khác. Ngay cả những khán giả vỗ tay khi nhạc sĩ Y Vũ trưng ra bản chép tay mà ông viết là “bản thảo” trên đường về cũng có thể tự trách mình đã vội vàng vì không có gì chứng minh đó là bản đầu tiên của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông.
Bản chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ đưa ra không phải lấy từ hồ sơ lưu trữ của Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa, không phải do gia đình cố nhạc sĩ Y Vân công bố, không phải do một người thứ ba nào khám phá mà chỉ từ nhạc sĩ Y Vũ.
Mười hai năm trước khi qua đời, nhạc sĩ Nhật Ngân kể lại với nhạc sĩ Trường Kỳ: “Tôi không bao giờ than vãn cuộc đời. Tôi vẫn mang trái tim của tôi, mang sự yêu mến cuộc đời của mình để bước vào cuộc đời.”
Lúc 10 giờ sáng ngày Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012, tác giả Xuân này con không về đã bước ra khỏi cuộc đời cũng bằng trái tim đầy yêu thương như thế.
Vì nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ông là tác giả duy nhất của Tôi đưa em sang sông nên người viết muốn phân tích để chứng minh những gì dễ cho là thật và tưởng là thật nhiều khi lại không hẳn là thật.
Sự kiện Tôi đưa em sang sông là một biến cố đáng tiếc trong âm nhạc Việt Nam nhưng suy cho cùng cũng chẳng làm nhạc sĩ nào thiệt hại hoàn toàn. Cả hai nhạc sĩ cùng với nhạc sĩ Y Vân qua nhân duyên văn hóa đã góp phần tạo nên nhạc phẩm tuyệt vời này.
Nhạc sĩ Nhật Ngân đã qua đời và nhạc sĩ Y Vũ sắp bước vào tuổi tám mươi, nên mỉm cười đón nhận nhân duyên. Tôi đưa em sang sông sẽ mãi mãi là một phần của văn hóa Việt Nam và các thế hệ Việt Nam mai sau cũng sẽ mỉm cười kính mến và trân trọng khi nhắc đến tên hai vị.