ĐỪNG

tonnuthudung

Đừng đổi em bằng một nỗi đau
Từng đêm nghe lạnh buốt chiêm bao
Tiếng chim thảng thốt dòng sông trắng
Đừng hỏi vì sao lạc mất nhau…

Đừng đổi em bằng một trái tim
Đôi khi lỗi nhịp phải đi tìm
Thoáng hiện trong màu tan vỡ ấy
Một vầng trăng cũ vẫn y nguyên…

Đừng đổi em bằng một giấc mơ
Ngàn thu tím ngắt đến đôi bờ
Những hoàng hôn đã phai tàn nắng
Và nắng cũng buồn hơn thuở xưa …

Tôn Nữ Thu Dung

Mùa Vu Lan, Nghĩ Về Mẹ!

nguyenmonggiac

Ở cuối bài thơ Chùa Hương (Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa) nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ghi thêm mấy dòng dí dỏm “Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau vì không Iấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện.”
Nguyễn Nhược Pháp mất năm 24 tuổi, mặn nhạt chua cay của cuộc đời chưa nếm đủ, nên nhìn đời đơn giản và thơ mộng y như cô bé mười lăm theo mẹ đi chùa Hương. Ông tin rằng cô bé dễ thương rồi ra cũng lấy được anh chồng văn nhân ngẫu nhiên gặp trên đường hành hương. Lý do ông nêu ra, nghe mộc mạc tự nhiên như hai với hai là bốn: “’Lấy nhau rồi là hết chuyện!” Hết sao được! Cặp giai nhân tài tử ấy khi chưa lấy nhau được thì hồn thơ dào dạt. Nàng lén thầy mẹ thức khuya nắn nót viết cả một thiên ký sự dài. Chàng không nề hà thuyền chật, chỉ lo ngắm trời mênh mông, ngắm nước đục lờ rồi cất giọng đọc thơ. Giọng thơ chắc chắn không thua gì Quách Đàm – Hồ Điệp nên mới được ông bố vợ tương lai khen nức nở:

Thày khen hay, hay quá!
Em nghe rồi ngẩn ngơ!

Không biết văn nhân trong thiên ký sự ngâm thơ ai để biểu diễn tâm hồn với người đẹp. “Thầy” khen hay, còn “em” thì ngồi ngẩn ngơ, như vậy bài thơ chàng ngâm phải có nội dung hợp ý hai đối tượng quá khác biệt về tuổi tác, phái tính và cách suy nghĩ cảm thụ. Bài thơ hợp ý “thầy” thì bị “em” chê là khô khan khó nuốt. Bài hợp ý “em” thì có thể bị “thầy” quắc mắt, mắng là “suồng sã ong bướm”. Thế mới biết cái tài ứng biến tinh tế và trí nhớ phi thường của “chàng” đắc dụng tới mức nào. Hiểu thơ, “dùng” thơ nhuyễn như vậy, chàng là một độc giả lý tưởng. Chưa hết! Chàng còn là một người sáng tạo thơ:

Khi qua chùa Giải Oan,
Trông thấy bức tường ngang,
Chàng đưa tay, lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.

“Thầy” lại tấm tắc khen hay. “Em” lại ngẩn ngơ lần nữa. Biểu diễn tài hoa như thế, kết quả phải bảo đảm: một cuộc hôn nhân. Chấm dứt một bài thơ dài. Và . . . và bắt đầu một thiên trường giang tiểu thuyết về nỗi khổ âm thầm của đời làm vợ, làm mẹ. Thiên tiểu thuyết này không hề được ghi trên giấy. Thử phác họa lại cuộc đời cô bé chùa Hương từ ngày đẹp trời đó về sau. “Em tuy mới mười lăm, Mà đã lắm người thăm” thì chắc chắn chàng không thể bỏ lỡ cơ hội tốt. Không thể đợi lâu, một tình địch nào đó giọng thơ hay hơn, làm bài thơ liên hoàn hợp ý thầy hơn, “tướng mạo trông phi thường” hơn có thể cướp mất của chàng một người vợ xinh. Chậm nhất là nàng lên xe hoa năm sau, mười sáu trăng tròn.
Hai vợ chồng trẻ bắt đầu gấp lại trang thơ để bước vào đời thật. Chồng “thanh lạ thường”, cô bé bị mê hoặc kêu lên là “tướng mạo trông phi thường”, nhưng không phải vẻ phi thường của người vạm vỡ khỏe mạnh. Phi thường ở cái thanh nhã lịch sự. Một người tướng mạo như thế không thích hợp với tay cày tay cuốc. Mà cũng không thích hợp với nghề buôn. Đó là người sống cho sách vở, của lý thuyết, của nghệ thuật. Cũng may là xã hội ta thời xưa tuyển chọn nhân tài cho guồng máy hành chính bằng tài làm thơ và lý thuyết nho học, nên giá trị của người chồng đặt hết vào hy vọng tương lai. Một ngày nào đó, chàng đậu đạt, làm quan, nhỏ thì như Hành tẩu Bộ Lễ như thời mới bước chân vào hoạn lộ của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, cao hơn có thể leo tới những chức như Hiệp trấn, Đốc đồng, Tham tri (như Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích).
Cho dù chàng có may mắn thành công như các bậc danh sĩ nói trên, thì cuộc đời thực tế của nàng và con cái cũng không giàu sang bao nhiêu. Nguyễn Khuyến hồi hưu về sống với bà con xóm làng vẫn chia sẻ cái nghèo với người chung quanh. Nguyễn Du con nhà đại tộc có thời đói hoa cả mắt, nhìn hoa cúc không thấy hoa đẹp, chỉ thắc mắc là liệu có ăn được cúc hay không. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích làm quan đại thần mà vợ con chạy ăn từng bữa. Hóa ra ngày xưa khác với ngày nay, quyền lực chính trị không nhất thiết phải đưa tới giàu có. Một nhà thơ hỏng thi thất chí như Trần Tế Xương, không biết làm gì để giúp đỡ vợ con, nên bà Tú phải:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò nơi quãng vắng.
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Bà Nguyễn Du, bà Phan Huy Ích, bà Ngô Thì Nhậm được xóm làng nể vì hơn bà Tú, nhưng chắc cũng phải tảo tần xuôi ngược để nuôi con y như bà Tú.
Họ là cột trụ kinh tế của gia đình, âm thầm chịu đựng gánh nặng đó mà không hề than van. Sự phân công giữa vợ chồng không bình đẳng theo cái nghĩa chúng ta hiểu ngày nay, nghĩa là người chồng có toàn quyền dốc hết khả năng, tiêu hết thì giờ cho cái “chí” của mình, việc sinh sống và nuôi dạy con cái người vợ phải đảm đương. Thời bà Tú Xương đã thế (bà Tú còn may là được ông chồng thi sĩ nhắc tới trong thơ). Bà Phan Bội Châu cũng thế. Thậm chí thời trước 1945, lúc phong trào Âu hoá đã mạnh mẽ, ý thức cá nhân và bình đẳng nam nữ đã là thời trang, bà Nhất Linh cũng thế. Một mình các bà lo chuyện cơm áo nhà cửa, sinh con đẻ cái, nuôi dưỡng giáo dục cho chúng nên người. Họ lam lũ cày như những nhà nông, nhưng phải sống cho đúng “nếp nhà thư hương”. Buôn bán mom sông nhưng phải giữ gia giáo. Như người múa kiếm mà chỉ được múa một tay. Đa số sống thanh bạch, và phải giấu sự thanh bạch của mình. Đời sống đầy mâu thuẫn, nghịch lý, chịu đựng, nhẫn nhục ấy, không phải là chất liệu của loại thi ca “chàng” lẹ bút thảo ra ở bức tường ngang chùa Giải Oan. Nỗi khổ của người vợ, người mẹ, không thể ngâm vịnh biểu diễn trước đám đông. Nó âm thầm lưu cữu từ đời này sang đời nọ, thấm vào những lời hát ru con.
Mãi về sau, những người viết văn xuôi mới chứng minh rằng “Lấy nhau rồi chưa phải là hết chuyện!” Lấy nhau rồi, chuyện mới bắt đầu. Lấy nhau rồi, mới có Nhà Mẹ Lê của Thạch Lam, mới có Chân Trời Cũ của Hồ Dzếnh, mới có Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, mới có Giông Tố của Vũ Trọng Phụng. Người tình vẫn cứ là mẫu ăn khách của văn chương, nhưng từ đây những mẫu
người nữ khác đòi được quyền hiện diện: người vợ, người mẹ, người chị. Đất nước càng lâm vào cảnh chiến tranh điêu linh, hình ảnh người mẹ càng hiện diện, như hiện thân của Bao Dung, như ánh sáng ở cuối đường hầm, như liều thuốc màu nhiệm hàn gắn được mọi tranh chấp. Trong đớn đau người Việt Nam thống thiết gọi Mẹ.

*

Những người cha trên đời có quyền khiếu nại giới sáng tạo ra văn học nghệ thuật rằng họ bị phân biệt đối xử, bị kỳ thị. Họ ít được nhắc tới trong văn chương kịch nghệ, hội họa. Thỉnh thoảng nếu có được nhắc tới, thì qua hình ảnh cứng cỏi, nghiêm khắc, lạnh lùng, rất ít chất người. Cha là hiện thân của Lý Trí, Nguyên Tắc, Sức Mạnh, Quyền Lực. Không biết từ lúc nào, sách vở đã “tuyên truyền” cho mọi thế hệ thiếu nhi tin rằng hình ảnh một gia đình lý tưởng là cảnh ban đêm, dưới ánh đèn ấm cúng, cha ngồi đọc báo, mẹ Io vá may, con cái học bài. Những ông cha “hiền” ấy tìm đọc thứ gì trên báo vậy? Tin xe cán chó? Không. Cách nấu nướng? Không. Tử vi? Không. Thì thầm bên gối? Không. Truyện diễm tình hấp dẫn đăng nhiều kỳ? Không. Ông ấy mải mê theo dõi tin chiến sự, tin thể thao, và nếu đã đọc hết mọi tin tức mà chưa buồn ngủ, thì đọc truyện trinh thám phiêu lưu. Tóm lại những gì thu hút tâm trí người cha trong khi vợ may vá con học bài đều có dính tí máu. Đều có liên hệ đến sức mạnh. Người cha có vẻ hiền lành ấy thật ra không hiền chút nào. Ông ta là một hỏa diệm sơn sắp bùng vỡ, là một con hổ nhớ rừng,
là con gấu sắp choàng thức dậy khi tuyết tan mùa đông. Ông ngồi bên vợ con dưới mái ấm gia đình mà mơ mình đang làm Tarzan ở rừng Phi châu, điệp viên 007, James Bond, Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô, Tổng thống Hoa Kỳ, chúa trùm Mafia, Magic Johnson, Maradona, Platini . . . May cho đời là những giấc mơ ấy không thành. Những người cha ấy vừa bỏ tờ nhật báo xuống, mắt lim dim mơ mộng, là những người mẹ đã kịp thời ngừng kim nhắc nhở cho chồng nhớ rằng hồi sáng ông mua chịu bà Ba Bủng bốn điếu thuốc lá lẻ, hai ngày nay ông lười không chịu tắm rửa, đêm ông ngủ đã ngáy lớn còn nghiến răng trèo trẹo, chiếc áo lót dưới chiếc áo sơ mi trắng và cà vạt nghiêm chỉnh đã có màu cháo lòng và rách lưng. Các bà vợ vì tế nhị và yêu chồng không tiện nói ra lời, nhưng các bà hiểu hết. Các bà biết đâu là cải vỏ đâu là thực chất, đâu là đời sống và đâu là những giấc mơ.
Cảnh gia đình hạnh phúc trong sách giáo khoa chỉ khả tín nếu người cha không bị những trang báo trang sách che mắt tầm nhìn để trở thành mù lòa, mất hết những ý niệm đúng về cuộc đời, về khả năng hạn hẹp của mình. Lịch sử tiếp nối hỗn loạn đẫm máu chỉ vì những trang giấy mỏng ấy đủ rộng đủ dày lấp hết thực tế. Chữ nghĩa nhảy múa hấp dẫn như những vũ nữ lắc rốn Ai Cập, từ đó người cha dựng lên những lý thuyết cứu đời, những tòa kiến trúc vĩ đại, những phác họa cho làng nhân loại thế kỷ hai mươi mốt. Từ đó vẽ ra bức tranh thế giới đại đồng, ra đường không ai thèm nhặt của rơi, không ai là chủ không ai là tớ, làm tà tà tùy thích mà hưởng thì thả giàn. Lúa thóc đầy đồng, cá tôm đầy sông, trái chín rơi vào túi người hứng, chim chóc đậu trên vai người mà hót khúc ca chào mùa Xuân! Muốn được cảnh thái bình thịnh trị như thế ư? Chữ nghĩa lại nỉ non vào tai người cha rằng muốn xây nhà thì trước hết phải phát quang cỏ dại, cây cằn, dọn nền, xây móng. Thế là có máu. Máu thấm vào vũng đất hẹp dưới xác tử thi. Rồi suối máu, sông máu, biển máu. Những người cha không còn đêm đêm đọc báo bên cạnh vợ vá may và con học bài, đã trở thành “cha già dân tộc”, “lãnh tụ anh minh”, “người cầm lái vĩ đại”, “Vị cứu tinh muôn đời”. Hình ảnh của cha ở cùng khắp, trên nóc tòa thị sảnh, khoảng tường trên bàn thờ ông bà, ngoài công viên, trang bìa sách giáo khoa, đề thi tốt nghiệp. Ai dám bảo văn học nghệ thuật kỳ thị người cha?
Hãy gượm! Đó là loại văn học giả hiệu! Văn học nghệ thuật đích thực không hề ba hoa ca tụng kẻ quyền thế. Kẻ đáng ca tụng là người mẹ hằng đêm lặng lẽ vá may. Đã có hàng triệu bà mẹ kiên nhẫn tế nhị nhắc chồng rằng bà yêu ông không phải vì ông sẽ là Tarzan, James Bond, Platini, Gorbachev, Bush . . . mà vì ông là người từng trốn học lẽo đẽo đạp xe theo bà, giọng vịt đực mà cũng rán hát bài “Ngày xưa Hoàng thị”. Bà yêu ông vì một hôm bà đánh bạo dừng xe lại, nhìn vào mắt ông hỏi: “Tại sao anh theo tôi hoài vậy?”, ông ú ớ lúng túng đưa hai tay lên gãi dầu, chiếc xe đạp ngã chỏng gọng trên hè phố. Bà yêu ông vì ông là chồng bà, cha của đàn con thân yêu của bà, yêu lúc ông nồng nhiệt hùng biện cũng như lúc ông ngáy và nghiến răng trèo trẹo, lúc ông bảnh chọe hào hoa cũng như lúc ông ngồi rờ râu nhổ lông mũi, lúc ông thơm tho mạnh khỏe cũng như lúc ông hôi hám yếu đau. Những niềm vui, nỗi buồn của bà tùy thuộc vào chồng, vào con, những bộ trường giang tiểu thuyết dài nhất cũng không thuật hết buồn vui của những bà mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà sách giáo khoa cho mẫu mẹ hiền Việt Nam ngồi chăm chỉ vá may giữa cảnh gia đình sum họp.
Mẹ Việt Nam ngồi đó, nhưng mắt luôn luôn theo dõi những trang sách giáo khoa con đang học, nhìn suốt qua trang báo để xem nét mặt chồng. Nói như cách nói ví von của Chế Lan Viên, mẹ là “hoa ngày thường”, nhưng là “chim báo bão”. Mẹ nhắc nhở cho những người đàn ông trong nhà nhớ đâu là giả đâu là thực, đâu là đời sống vốn vậy đâu là những giấc mộng hão huyền.
Và khi những người đàn ông trong gia đình không nghe lời mẹ, chạy theo chữ nghĩa lắc rốn, vung gươm lên múa may làm cho mọi sự đổ vỡ rách nát, thì mẹ thở dài, lặng lẽ kiên nhẫn ngồi vá lại những chỗ rách, gắn lại những mảnh vỡ.
Công việc ấy thật nhọc nhằn, và không “thơ” chút nào! Nguyễn Nhược Pháp là nhà thơ, không nhắc đến đoạn đời gian truân của cô bé chùa Hương sau khi về nhà chồng, cũng phải thôi!

Nguyễn Mộng Giác

Thí cô hồn nó đi!

phamhoainhan

Thí cô hồn hay thí thực cô hồn là một nghi lễ đậm tính nhân văn của nhà Phật. Ý nghĩa của nghi lễ này là bố thí thức ăn cho cô hồn, tức là những thành phần đã chết nhưng chưa siêu thoát, không nơi nương tựa, không được thờ phụng. Cúng thí thực cô hồn được thực hiện thường xuyên, nhưng được tổ chức nhiều nhất, trọng thể nhất là vào dịp tháng 7 âm lịch hàng năm. Nếu quy mô lớn thì cúng cô hồn được gọi là trai đàn chẩn tế.
Ý nghĩa của thí cô hồn là vậy, nhưng trong đầu óc của tui thời trẻ con thì nó hơi khác một chút (có lẽ trẻ con bây giờ cũng suy nghĩ gần giống vậy thôi). Thí dụ mình bị đứa nào nó ăn hiếp, lấy mất đồ chơi hay thứ gì quý giá mà mình uýnh hổng lại, đòi lại hổng được thì mình bèn nói: Tao thí cô hồn cho mầy đó!

Câu này hóa ra là một câu chửi độc lắm à nghen. Từ chỗ bị người ta giựt mất đồ mà hổng dám đòi lại, mình chuyển đổi nó thành thí. Thí là hành động cho của một người ở đẳng cấp cao sang hơn đến một người ở đẳng cấp hèn mọn hơn. Trong trường hợp này là con người bố thí cho cô hồn. Như vậy là mình chửi cái đứa giựt đồ của mình là đám cô hồn! Đồ mất thì vẫn mất, hổng đòi lại được nhưng mà nói xong thì… đỡ tức, hả dạ theo kiểu AQ.

World Cup vừa rồi, khi Brazil thua Đức tới 7 trái thì cả nước ủ rũ, đó là tại họ không biết liệu pháp tâm lý thí cô hồn này. Chỉ cần họ lên ti ví nói: Đó là tụi tao thí cô hồn cho bọn Đức, chớ tụi nó có hay ho gì! Thế là dân tình sẽ vui vẻ lại ngay.
Nói qua chuyện nước mình cũng vậy. Hồi nào nền kinh tế mình ăn đứt Thái Lan, Singapore, ngang cơ Hàn Quốc còn bây giờ lẹt đẹt theo đuôi, thậm chí hình như sắp bị… Campuchia qua mặt. Sĩ phu trong nước lo âu, tủi hổ. Chuyện nhỏ! Chỉ cần lãnh đạo nước mình tuyên bố: Chẳng qua là ta thí cô hồn cho bọn họ, chứ ta muốn qua mặt thì mấy hồi! Thế là dân tình hân hoan ngay.

Hả? Các bạn hỏi tui sao giờ này những người đồng trang lứa với tui làm ông này bà nọ, giàu sang phú quý còn tui chỉ biết lui cui viết nhảm như thế này hả? Ái chà, đó là tại tui thí cô hồn cho mấy đứa đó. Chấp nhứt mà làm gì?

PHẠM HOÀI NHÂN

BIỂN GIỮA LÒNG NHAU

dangkimcon

 

ĐÂU PHẢI CHỈ HÌNH NHƯ…

Nếu em biết sao em còn khóc được
Thì ngày xưa đâu phải chỉ hình như
Còn nhận ra giữa giòng người xuôi ngược
Trong ngậm ngùi như lá vàng thu.

Hai lăm năm dẫu chỉ một tình cờ
Ai nói một đời không mong đợi
Những giọt lệ trong veo như tình mới
Vẫn nồng nàn lóng lánh một trời xưa.

Đành tiếng giã từ không kịp nói
Một quay lưng, mấy nữa hai lăm
Tượng đá ngàn cao mây xám bủa
Còn em riêng những mảnh đau thầm.

Anh bước nhanh như người chạy trốn
Nước mắt ơi , anh xin mắc nợ người !
Anh biết mình không còn trẻ dại
Đôi tay nào đành để lệ buồn rơi !

Những giọt lệ cũng không còn trẻ dại
Một lần kia có đủ để quên không ?
Xưa đã từng , hay chưa , ai biết
Mà nhớ thương âm ỉ ở trong lòng !

 

BIỂN GIỮA LÒNG NHAU

Thì thôi để có được gì
Một người ở một người đi đôi bờ
Con đường đi ngẩn về ngơ
Còn chăng đêm trở trăn chờ chiêm bao
Trời nghiêng khói sóng xanh xao,
Còn chăng… biển giữa lòng nhau ngậm ngùi ?

ĐẶNG KIM CÔN

HỌA MI ĐANG HÓT TRỜI XA

trandzalu

Họa Mi đang hót trời xa
Sao anh nghe tiếng Quê Nhà trong em ?
Nỗi niềm len lén bay lên
Khép đôi mắt ướt, nhớ đêm xa người…
Họa Mi hót giữa lưng trời
Sao anh vội vội mở lời yêu thương !
Khi đi ,ta không chung đường
Bây giờ chung nhịp nỗi buồn thế gian…
Xin em cơn mộng trễ tràng
Để quên hiện tại, anh lang bang sầu…
Mai rồi, không biết về đâu
Thôi về em , giữ cho nhau mặn nồng.

Trần Dzạ Lữ

QUÝ ANH TÚ TÀI

vudinhhuy

Năm 1972, tôi theo học lớp Đệ nhị tại một trường Tư thục Thị xã Qui nhơn, lớp học đa số là học sinh người Thị xã,số còn lại là học sinh ở các Huyện. Thời đó một số Huyện chưa mở dạy các lớp Trung học Đệ nhị cấp,việc cho con em đi học ở Thị xã còn rất khó khăn,thường là những gia đình khá giả hoặc có quyết tâm.
Tôi quen với một anh ở Huyện,anh tên là Đặng,vóc người to đậm ,lúc nào cũng ăn mặc chỉn chu, sơ mi trắng bao giờ cũng thả hết tay áo và cài khuy,tóc chải mượt,ăn nói chững chạc từng câu từng chữ như ông giáo làng .Anh thi rớt Tú Tài ba năm liền,và đã có vợ ở quê,anh hai mươi mốt tuổi,còn tôi tuổi thật chỉ mới mười sáu,chả là tôi đi học sớm,bố mẹ chìu làm lại khai sinh cho tôi hơn một tuổi.Vào lớp tôi với anh ngồi cùng bàn,vô tình nhưng lại thân với nhau. Anh học rất chăm đã có kinh nghiệm thi cử ba năm,nhưng học vẫn không giỏi,bài vở anh thuộc làu làu nhưng suy luận,phân tích lại kém.Tôi thì lười và ẩu,có những bài toán khó tôi được điểm mười và có những bài không khó tôi bị điểm một,hai…
Ở cái tuổi sắp bước vào thế giới người lớn,tôi đã bắt đầu lạc vào những rung động đầu đời…Len lén nhìn theo một tà áo,có nhiều lúc trốn học chui vào quán tập tành nhấm nháp cafe nghe Trịnh công sơn,Phạm duy…v v…có những lúc ôm đàn guitar với bạn bè suốt đêm.Niên học đó tôi có phần sa sút.Đến kỳ thi làm bài không như ý.Tôi về nhà lo lắm không dám nói với bố mẹ.
Rồi cái ngày có kết quả cũng đến.Tôi đi xem với tâm trạng hồi hộp và lo lắng.Thế mà lại đậu,xem đi xem lại Tên,Họ không biết bao nhiêu lần mà cứ ngỡ như mơ.Thế hệ chúng tôi cái bằng Tú tài giá trị lắm,không rẻ rúng như bây giờ.Thi đậu cứ như mình ghê gớm lắm.Nếu có phải nhập ngũ đi lính chúng tôi sẽ là những sĩ quan.Các em gái ngưỡng mộ lác mắt,có bằng Tú tài muốn cưa cẩm em nào dể như trở bàn tay.Năm nào cũng vậy học sinh ở trường đi thi Tú tài khá đông nhưng tỷ lệ thi đậu khoảng chừng mười lăm đến hai mươi phần trăm.Danh sách học sinh thi đậu được trường niêm yết cả tháng ,chữ viết to đùng,đi qua đi lại người nào cũng thấy.Đến trường tôi cứ hỉnh mũi mà đi, thưởng thức sự ái mộ của các em lớp dưới.Tự hào và vui đáo để,mình như là nhân vật nào rồi.
Bố mẹ tôi vui lắm,hai cụ thưởng cho tôi một chuyến du lịch Dalat với bạn bè,tiền bạc tha hồ thoải mái.Chúng tôi đi mua sắm thêm quần áo chuẩn bị cho chuyến đi,với chúng tôi Dalat như một thiên đường dành cho tuổi mới lớn.Chiều hôm đó anh Đặng tìm đến nhà tôi báo tin anh thi đậu.Không tả hết niềm vui của anh,anh tha thiết mời tôi về quê anh chung vui.Với gia đình anh đây là một sự kiện rất trọng đại…phải tạ ơn Trời đất.. báo công Tổ tiên và chia vui với họ hàng,làng xóm.Tôi không muốn đi nhưng thấy anh nhiệt tình quá lại xiêu lòng,bố mẹ tôi nói thêm vào.Thế là hai đứa lên Honda vù một mạch.
Quê anh Đặng là một Huyện nông nghiệp ở cách Thị xã chừng bốn mươi cây số.Chúng tôi đi Honda khoảng một giờ là đến,chiếc xe rời quốc lộ rẽ vào con đường làng qua những đồng lúa mênh mông rồi dừng lại trước ngôi nhà của gia đình anh,một dinh cơ rộng lớn ,bề thế có sân vườn bao bọc chung quanh. Bước vào trong sân người qua kẻ lại đông như hội.Ở gian nhà giữa là bàn thờ Trời Phật và Ông bà,hai gian bên dọn dẹp để những bộ bàn ghế đón khách dự tiệc.Sau khi chào hỏi gia đình xong,anh Đặng cuốn vào những lời chia vui của họ hàng khách khứa,tôi lặng lẽ tách khỏi anh đi lăng quăng ngắm nghía.Lát sau hai bố con anh Đặng đi tìm đưa tôi lên ngồi bàn danh dự với các cụ,tôi từ chối mãi không được .Sau khi chào hỏi xong,bố anh Đặng đặt tay lên vai tôi giới thiệu..
Dạ thưa..quý bà con,tui xin hân hạnh giới thiệu đây là…Qúy anh Tú tài,bạn đồng môn và cũng là bằng hữu chi giao với thằng Đặng…Qúy anh Tú tài là người Thị xã,đã bỏ thời gian vàng ngọc xuống dưới đây với mục đích thăm viếng và chia vui với gia đình mình. Cả bàn vỗ tay rần rần,tôi ngượng chín cả mặt…Bắt đầu từ đó tôi được phong tặng chức danh …cứ mở miệng với tôi các cụ cứ…Qúy anh Tú tài mà gọi.Rượu qua rượu lại khách khứa đã vãn chỉ còn lại các cụ trong Họ và tôi cùng anh Đặng.Cụ áo dài khăn đóng ngồi cạnh nâng ly mời tôi rồi hỏi….
Chẵng hay,Qúy anh Tú tài năm nay bao nhiêu….
Nói thật tuổi cũng hơi kỳ….tôi trả lời..
Dạ,năm nay cháu mười chín ạ.
Cụ thong thả vuốt râu rồi phán…
Mười chín tuổi…cái tuổi đã trưởng thành…Đại phàm trong cuộc đời kẻ sĩ có hai việc lớn ,việc thứ nhất là công danh,sự nghiệp,ngõ hầu giúp đời và báo ơn tiên tổ…việc thứ hai là…phải tìm người nâng khăn sửa túi để có hậu duệ nối dõi tông đường…..Xem qua phần tư cách và dung mạo ắt hẵn Qúy anh Tú tài đây sẽ còn tiến xa hơn trên con đường hoạn lộ….việc cấp thiết bây giờ,có phải chăng Qúy anh Tú tài nên xây dựng gia thất đặt nền móng kế sách lâu dài…..
Tôi tá hỏa chưa biết trả lời như thế nào…Cụ tiếp lời…
Than ôi…như cha thằng Đặng tức là anh Hai của tui đây,cuộc đời muôn phần lao đao lận đận.Ảnh không may Hiền thê sớm khuất núi,để lại cho ảnh ba người con, thằng Đặng là con trai nối dõi duy nhứt,dưới nó có hai đứa em gái,con Tấn năm nay mười chín đã yên bề gia thất,đứa út là con Tới,năm nay mười sáu.Thiệt lòng mà nói,nó là đứa có sắc và giỏi giang,anh Hai tui đã mười phần nhờ cậy.
Ái chà chà..tình thế căng như dây đờn,tôi nín khe cúi mặt không dám trả lời.Anh Đặng vỗ vai tôi cười ha hả…Cụ áo dài khăn đóng nâng ly,khà một tiếng rồi tiếp tục….
Qúy anh Tú tài với thằng Đặng là đồng môn,là bằng hữu chi giao,lại còn cùng sóng đôi trên con đường sự nghiệp..tình thân nào khác chi Lưu bình,Dương lễ ngày xưa….Thằng Đặng có kể chuyện về anh nhiều,hôm nay lại mục kích sở thị.Nói thật tui đã mười phần coi Qúy anh Tú tài như người trong nhà.Tui xin nói thêm cho Qúy anh Tú tài rõ,gia đình anh Hai Đặng tui đây,giòng dõi Nho gia…ruộng cò bay thẵng cánh bề thế nhất vùng…nếu có phải vào nhà này Qúy anh Tú tài cũng không đến nổi cúi mặt…
Tôi lí nhí…Cháu không dám đâu ạ…Một cụ kế bên chạm ly cả bàn rồi nói…
Đây là việc đại sự,Qúy anh Tú tài phải có thời gian suy nghĩ.Hôm nay là ngày vui của Họ tộc,chúng tôi cũng uống khá nhiều,nếu có điều chi không phải mong Qúy anh Tú tài đừng chấp.
Đêm đó trăng sáng lắm.Tôi có nhấp môi mấy ly rượu nên hơi say và buồn ngủ.Anh Đặng nhất định kéo tôi ra giữa sân.Một cô bé đang lúi húi trải chiếc chiếu cùng ấm trà,rượu và bánh kẹo.Nghe gọi tên,cô bé quay lại chào..tôi giật mình…Thì ra là cô em út của anh Đặng,ánh mắt hai đứa vừa chạm nhau cô đã bẽn lẽn cúi mặt rồi xin phép đi vào nhà.Một cảm giác thật lạ len lỏi trong người tôi,đây là lần đầu tiên tôi có ý với một người con gái,cho dù rất bất ngờ và mơ hồ.Anh Đặng lại rót thêm rượu,thêm trà…đêm nay anh quá vui nên nói nhiều,tôi đã ngấm rượu nên câu nghe câu không,tôi chỉ loáng thoáng anh có nhắc đến chuyện của tôi và cô em út của anh.Lát sau tôi gục xuống chiếu,anh xốc tôi đi vào trong nhà .
Tôi tỉnh dậy, nhìn bên ngoài, trời đã sáng mờ mờ , ánh đèn từ gian nhà thờ còn hắt sang.Đầu tôi nhức như búa bổ và khát nước,muốn tìm nước để uống mà không biết đi đâu.Tôi lững thững đi ra ngoài ngồi dưới hiên nhà.
….Ủa, anh chưa đi ngủ ha…
Tôi quay lại,cô em út của anh Đặng đứng đó tự lúc nào, chưa kịp trả lời cô đưa cho tôi một ly nước và chiếc khăn lau mặt.Tôi bối rối không nói nổi một câu cám ơn.Hai đứa cứ im lặng nhìn nhau.. Lát sau cô nói…Anh giữ gìn sức khỏe nghen rồi lâu lâu về thăm gia đình em..thôi ,em vô nhà,lỡ có ai thấy..kỳ lắm.Tôi nhìn theo ,cái dáng nhỏ nhắn khuất dần.
Qua năm sau,thi xong Tú tài phần hai.Một biến cố trong gia đình ,tôi không tiện kể.Tôi đã nộp đơn tình nguyện đi học Trường Bộ binh Sĩ quan Thủ đức.Quyết định này cho đến lúc chia tay tôi không chia sẽ với một ai.Chuyến xe đò sáng sớm lặng lẽ đưa tôi rời khỏi Thị xã,bỏ lại sau lưng những vương vấn tột cùng.Hai năm sau,lại biến cố 1975,như một cơn đại hồng thủy dội vào Thị xã,tất cả đều thay ngôi đổi chủ.Những năm tháng ấy đã giúp cho tôi trưởng thành,có cái nhìn chịu đựng hơn về cuộc sống,tôi đã vất vả mưu sinh,đã lướt qua và dừng lại trước những cuộc tình…Thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ về anh Đặng và em.Ngày ấy có thể tôi chưa biết yêu,chưa đủ lớn để đón nhận cuộc tình,nhưng những tình cảm ấy theo thời gian tôi càng trân trọng hơn.Đó là cái ánh mắt e ấp,trao thân gửi phận,em muốn nói nhưng không thể… Bây giờ tôi đã yêu,đã biết thế nào là khổ đau và hạnh phúc,nhưng có bao giờ tôi được nhận một ánh mắt như em đâu.Tôi vẫn còn nợ anh Đặng và em và…không biết trả như thế nào.Bài viết này như một lời tạ lỗi đến em.Về một bông hoa trinh nguyên đồng nội thơm ngát tuổi mười sáu của tôi.

VŨ ĐÌNH HUY

TRĂNG MỜ MỜ ĐỈNH NON

tranvanle

Nhiều khi tôi lẩn thẩn: Sao vạc bay một mình? Và tôi cứ đinh ninh: Có loài chim cô độc.

Nhiều khi tôi muốn khóc: Cờ cũng bay một mình. Trên đỉnh núi cao xanh…bây giờ còn đâu nữa!

Nhiều khi tôi lầm lỡ: Thư viết gửi đi đâu? Mây kìa bay qua cầu, tôi yêu người chi vậy?

Nhiều khi nhìn nước chảy, nhớ bóng đò ngang trôi. Chuyện gì cũng xa xôi…nên đời mới có nghĩa?

Nhiều khi tôi nhớ Huế bởi không thể trở về. Đâu ai để tóc thề trên bờ vai mãi mãi…

Tôi muốn cầm tay Ngoại che hai con mắt mình. Con vạc bay lặng thinh, bóng trăng chừng đẵm lệ?

Không có gì để kể, tôi làm bài thơ này. thả đi cho gió bay. Và lặng thinh nhìn gió…

Con dế mèn trong cỏ ,rung rinh những tiếng buồn, rung rinh những giọt sương. Giọt sương hay nước mắt?

Tôi nhìn theo con vạc, chớp cánh trong trời sương ,trăng mờ mờ đỉnh non… trăng mờ mờ đỉnh non…

TRẦN VẤN LỆ

THIÊN SỨ

linhphuong

Nóc giáo đường mây bỗng giăng ngang
Khi Chúa biết em vừa phản bội
Tên vô đạo khù khờ mê muội
Cho đáng đời -đáng kiếp cuồng si

Thiên sứ ơi ! Em cứ cười đi
Cười để máu ngực trào tuôn mãi
Đừng ân hận cũng đừng thương hại
Cứ tập tành ba xạo đi em

Cứ tập tành khó nhớ- dễ quên
Câu mật ngọt thành lời cay nghiệt
Anh sẽ làm người đầy thua thiệt
Bởi yêu em hết dạ- hết lòng

Thiên sứ ơi ! Anh đã bao lần
Tin ở em như lời Chúa nói
( Mẹ nó.Thánh thần không gian dối )
Sao em đành xí gạt tình anh

Bao oan khiên thượng đế sẵn dành
Anh chấp nhận bao dung tha thứ
Tất cả những gì em lầm lỗi
Xin đất trời trừng phạt riêng anh

Tên vô đạo tự nguyện đóng đinh
Thay thiên sứ ngàn năm chịu tội
Trên thánh giá thịt xương mục rửa
Bầy kên kên giành giật xí phần

Anh chết rồi . Từ đó dòng sông
Sài Gòn nước hai dòng ngưng chảy
Nếu sau này ăn năn .
Em hãy Đốt dùm anh ngọn nến trước mồ

Thắp dùm anh một nén nhang thô
Cho khói ủ ấm hồn xa khuất …

 

LINH PHƯƠNG

BẢO NHAU NGÀY ẤY VU LAN

nguyenthikhanhminh

M is for the million things she gave me
O means only that she’s growing old
T is for the tears she shed to save me
H is for her heart of purest gold
E is for her eyes, with love-light shinning,
R mean right, and right she’ll always be,
Put them all together, they spell “Mother,”a word that means
the world to me.

(Howard Johnson)

Vào ngày Mẹ, cách đây mấy năm, cậu con út 17 tuổi đã mua về cho tôi một tấm gốm trang trí, có hàng chữ God could not be everywhere and therefore He made Mothers, thằng bé ít biểu lộ cử chỉ trìu mến với mẹ, cũng có cách để lấy trái tim, nước mắt mẹ ra đến thế, làm tôi nhớ mẹ tôi ở quê nhà, nhớ con trai lớn đang xa bên trời Tây. Cảm ơn con trai nhỏ, cho mẹ những hạt nước mắt ấm vui trong Ngày Của Mẹ.

Tận cùng hạt lệ mẹ
là nước mắt con rơi
tận cùng tiếng cười mẹ
là nụ cười con vừa mở
và con ơi
tận cùng hư vô mẹ
sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại

“…Vào năm 1858, tại quê nhà của mình ở West Virginia, Anna Reeves là người phụ nữ đầu tiên tổ chức một buổi lễ Mother’s Work Day (kiểu như là Ngày Nhớ Công của Mẹ), mục đích là để tăng nhận thức của mọi người về vấn đề an toàn vệ sinh. Vào thời kỳ nội chiến, bà đã mở rộng phạm vi Mother’s Work Day ra nhiều vùng miền hơn, để tăng cường vấn đề an toàn vệ sinh cho cả hai bên tham chiến… Năm 1905, Anna Reeves Jarvis qua đời và con gái của bà, Anna Jarvis,… đã thề trước mộ mẹ rằng cô sẽ tiếp tục cố gắng hoàn thành ước mơ của đời bà là tạo ra một ngày quốc lễ để vinh danh Người Mẹ. Năm 1907, Anna đã tổ chức một chiến dịch gửi tặng những bông hoa cẩm chướng trắng cho những người tham gia hội họp ở Nhà thờ của mẹ mình ở West Virginia. Năm 1908, nhà thờ đã đồng ý yêu cầu của Anna về việc tổ chức một ngày chủ nhật đặc biệt để vinh danh những người mẹ. Truyền thống này đã được lan rộng ra nhiều nhà thờ của cả 46 bang vào những năm sau đó… Năm 1912…, quê nhà West Virginia của cô đã công nhận một ngày lễ chính thức dành cho mẹ. Hai năm sau, Quốc hội Mỹ đã thông qua một Nghị quyết chung, được ký bởi tổng thống Wilson, dành một ngày Quốc lễ dành cho mẹ. Từ đó trở đi, ngày lễ này đã ngày càng trở thành một ngày lễ lớn được nước Mỹ tổ chức hàng năm vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5.” (hoasaigon.com.vn)

Việt Nam mình không có một ngày riêng cho Mẹ. Nhưng có một mùa, gọi là Vu Lan, rằm tháng 7, còn gọi là Mùa Báo Hiếu, vào dịp này, mọi người đến chùa, gắn một bông hồng đỏ cho những ai còn mẹ, và bông hồng trắng để tưởng nhớ mẹ đã khuất. Tôi nhớ, ở tiền đình chùa An Lạc năm ấy, mẹ mặc áo dài lam, đứng gắn cho tôi một bông hồng đỏ, tôi cười rạng vui. Tôi gắn lên áo mẹ một đoá hồng trắng, mắt mẹ rớm lệ.

…mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (Đỗ Trung Quân)

Và lúc này, đang mùa hiếu hạnh, tôi nhớ một bài viết của tôi ngày trước, dùng làm lời dẫn trong một CD thơ về Mẹ của nhà thơ Trụ Vũ. Giờ xin ghi lại để tặng mẹ, để được thấy hạt lệ hay khóc của mẹ, mẹ với nước mắt không biết ai rủ ai khóc trước? Con mong con làm được một điều vui trong triệu điều nhọc nhằn mẹ đã làm, một hạt lệ hạnh phúc trong tỷ giọt nước mắt lo lắng Mẹ đã rơi, vì đàn con. Mẹ ơi. Vậy hãy đọc cùng con nhe Mẹ.

Bảo nhau Ngày Ấy, Vu Lan… (Tựa CD Thơ Trụ Vũ)
Từ thuở mà hiếu tâm Mục Kiền Liên nhấn lên dây thời gian một nốt nhạc rúng động, có một ngày tên gọi Vu Lan. Ngày rằm tháng bảy, kỷ niệm Người xuống ngục A Tỳ cứu mẹ, từ ấy người con Phật lấy ngày này làm cái mốc nhắc nhở hiếu tâm, một ngày có sắc có hương, hương của tấm lòng báo hiếu, sắc xanh ấm của ánh nhìn xuống yêu thương. Âm thanh của muôn triệu trái tim người con mở ra rộn rã để bày tỏ cũng như đón nhận món quà thiêng liêng: Tình Mẹ.
Thử trông lên mầu xanh của bầu trời, ta thấy có đâu là biên giới? Tình Mẹ đấy
Thử nhìn ra biển khơi, ta có biết bao giờ vơi ? Lòng Mẹ đấy, ai đã một
lần nghe, Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình…(Y Vân) để thấy lòng ấm theo tiếng dạt dào vô lượng ấy?
Xin lắng lòng lại mà nghe muôn ngày trong chuỗi thời gian là muôn Vu Lan. Để tâm niệm,

Trong mỗi trái tim
Của mỗi con người
Có mẹ trong đó
Hóa sinh đất trời (Trụ Vũ)

Một tấm tình thương không tính được bằng tháng bằng năm, một tấm tình thương bao la rộng khắp, mỗi mỗi bước ta đi đều chắp lên từ chắt chiu tình mẹ, mỗi bệ phóng cho tầm cao của ta đều bật lên từ đôi cánh của lòng mẹ, cái hạnh phúc ấy được thể hiện từng giây từng phút sống động và do đó mà mọi vật hiện hữu, thì làm sao có thể nói rằng vũ trụ là hư vô, mọi sự gặp gỡ, chia xa chỉ là tình cờ? Và thời gian vĩnh viễn, Ngày Của Mẹ.

ta mê mải trên bàn chân rong ruổi
mắt mẹ già thầm lặng dõi sau lưng (Đỗ Trung Quân)

Mẹ ơi. Chỉ một lời gọi mà trùng trùng giây tơ cảm xúc bật reo trong ta, như trên đường dài nắng bỏng ta được cho một ngụm nước mát, như trong cô quạnh bóng đêm có một giấc mơ đẹp cầm tay dắt ta đi, như vòng tay mở rộng đỡ ta khi hụt hẫng khổ đau, như trong bung nở niềm vui có nụ cười dõi theo âu yếm, vì thế mà biết bao người trong phút giây ngã xuống đã bật lên tiếng gọi “mẹ ơi”, như một linh ngữ để nương tựa. Mẹ ơi, sao hai tiếng toàn năng đến thế, phổ độ đến thế!

Vũ trụ tàn hơi
Trong nỗi đau đời
Mỗi một tiếng lời
Con gọi: Mẹ ơi! (Trụ Vũ)

Cung bậc rưng rưng mở tới được vô cùng nơi tiếng gọi ấy là âm thanh đập theo từng nhịp tim hiếu tử. Nó bỗng thành nhạc, thành thơ, chỉ cần nhịp tim ấy reo lên thì trời đất hoà âm, chỉ một hạt lệ trong trẻo ấy nhỏ xuống thì nghìn xanh của đại dương rung động.

Con nhìn mãi giọt lệ khô chan chứa
Biển rền vang, núi đồng vọng mênh mang
Ôi thời gian ôi thời gian
Con ôm mẹ giữa chiều ngân giọng sáo
(Nguyễn Lương Vỵ)

Nói về mẹ là nói đến cái vô cùng, ai có thể tả cái vô cùng? Ai có thể vẽ cái vô cùng ? Mọi lời nói về mẹ như thể một tôi bé nhỏ rụt rè đang đối diện với bao la, mỗi giây phút thể hiện tình mẫu tử làm cho vạn vật thấy bình an kỳ diệu, hương cau sau hè quấn quýt bên lời ru ạ ời của mẹ, có trú ẩn nào hơn cõi lòng ấp ưu của mẹ, có từ bi nào đẫm lệ yêu thương và hạnh phúc hơn từ bi tim mẹ, để bước chân con sau bao sóng gió tìm về nương náu?

Mẹ là ngôi chùa nhỏ
Đón con về nương thân
Mẹ là đôi mắt tỏ
Tha cho con lỗi lầm (Nguyễn Đức Cường)

Cái hiện thực ta đang sống cùng, tận chia sẻ, tận thọ hưởng là chính sinh mệnh ta đây, mà cha mẹ, người tạo tác ra, chăm chút cho, rồi trao lại cho nó sinh mệnh của mình, thì thử hỏi không đâu trên cõi ta đang hít thở này lại không có lòng chở che cũng như phó thác của mẹ? Và có phải vì thế đã đánh thức được ở mỗi người sự trân trọng sinh mệnh mình, sinh mệnh người, cùng thấy được sinh mệnh muôn loài lấp lánh…?

Sinh mệnh mẹ đâu còn
Chỉ còn sinh mệnh con
Mẹ chuyển giao sinh mệnh
Từ bi hỷ xả tròn (Trụ Vũ)

Từ nơi không bắt đầu không chấm dứt này, miên man nụ cười và hạt lệ mẹ, từ bóng cò cô đơn ngoài ruộng đồng, từ ánh sao trên trời đêm, từ bóng tỳ khưu trên đường dài, từ giấc mơ trên cánh biếc ca dao, từ những nỗi oan khiên nơi cõi trầm luân này, đều thấp thoáng bước về của mẹ. Cõi mênh mông của không gian đâu ngoài ánh nhìn của mẹ, chốn vô cùng của thời gian cũng chỉ vừa một nhịp đong đưa dưới bàn tay ru nôi của mẹ.

Con nhìn mãi chiều thu xanh xanh lắm
Tiếng khóc xanh, xanh đất ấm trời êm
Như lá nõn như cành non mướt đêm
Mẹ ấp ngực ru con theo dòng sữa (Nguyễn Lương Vỵ)

Và Mẹ ơi bao nhiêu trời đất Mẹ, thì bấy nhiêu đất trời ấy tâm con hướng về. Và vì Mẹ đã Quán Thế Âm, cho nên Mẹ, đã là một biểu tượng đầy thuyết phục cho một niềm tin mãnh liệt để con yêu thương, kiêu hãnh, nương tựa, sống còn.
Muôn đêm rằm Mẹ để muôn lời thơ trên thế gian này theo đó, sáng trăng.

Mùa Vu Lan,
8. 2012

*cùng các con chương chương hạnh kimmy, nơi, trái tim mẹ biết được nhịp ấm áp của tình mẫu tử…

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

TÊN BỒI BÀN CHẾT TIỆT!

luuthy

Nói chung cũng như nói riêng, “bồi” mà đi kèm theo chữ nào đó thường đều có cái nghĩa không hay cho lắm.
Như tiếng Anh bồi, hay tiếng bồi, là ám chỉ cái thứ tiếng Anh ăn đong, vô văn phạm, không trường lớp, ngoài vòng rào hàn lâm, cái tiếng chỉ do học ở ngoài đường, bên bến xe đò hay nơi trạm xe buýt.
Bồi cũng nằm trong cái chữ “cao bồi.” Cao bồi là chữ phiên âm từ chữ cowboy của tiếng Anh, có nghĩa là những anh chăn bò miền viễn tây nước Mỹ. Bận chăn bò nên đương nhiên là không có thì giờ đâu mà đi học. Người vô học mà lại kiểm soát được cái đàn bò đông cả nghìn con, con nào con nấy lực lưỡng, khoẻ mạnh, và “ngu như bò” phải gọi là tài. Có “ngu như bò” mới chịu ngoan ngoãn nghe theo lời sai khiến của một thằng cao bồi thất học. Một thằng cao bồi kiểm soát mấy nghìn con bò. Mấy chục triệu con bò chịu nghe theo lời dạy bảo của vài trăm hay nhiều khi chỉ mười mấy tên cao bồi mất dạy.
Nói tiếng bồi hay cao bồi thì đúng là thuộc phường vô học, nhưng sao lại có cái chữ “bồi bút”. Người cầm bút đâu có phải là dân vô học i tờ ít. Người cầm bút văn hay chữ tốt này. Người cầm bút viết câu nào ra câu đó, viết đúng văn phạm, theo đúng cách hành văn, chữ nào dùng phải ra nghĩa nấy, chấm chỗ này, phết chỗ kia, nơi này xuống hàng, cuối câu kia phải để cái dấu than “!” đầy triết lý cao siêu. Cầm bút đâu có phải ai ai cũng làm được. Đâu có phải cứ có cái tay, cầm cái bút lên, đưa cái bút xuống là thành người cầm bút được đâu.
Như vậy chắc chắn cái chữ bồi trong bồi bút không có nghĩa như chữ bồi trong tiếng Anh bồi, Pháp bồi, Nga bồi hay cao bồi đá cá lăn dưa trên kia.
Thế thì cái chữ bồi này nghĩa là gì và do đâu mà có?
Phải kiếm người có thẩm quyền hỏi mới được. Cứ thắc ma thắc mắc sẽ không bao giờ có câu trả lời. Tôi mới đưa cái “bức xúc” này ra hỏi một vị có thẩm quyền về ngữ học. Bằng cấp của vị này thì khỏi phải nói, trên dưới cũng vài chục cái bằng với tước vị, tham luận hội thảo thì hết biết, cứ vài ngày là họp hành một nơi, máy bay xe con cứ đi như là đi chợ, tiệc tùng liên miên nên bia bọt nốc vô cũng phải vài trăm ngàn lít.
Vị này bận như vậy nên gặp mặt để hỏi không phải là điều dễ dàng, phải dùng email mà hỏi thôi.
Tôi email xong, đúng 9 tháng 10 ngày, tôi mới nhận được cái hồi âm. Không thấy ngài trả lời trực tiếp mà chỉ thấy ngài copy và paste cái đường link một bài viết nói về cái anh bồi bàn chết tiệt.
Đọc xong, tôi mới ngộ ra cái chữ bồi trong bồi bút.
Mời bạn đọc… đọc cái bài tôi copy lại, có sửa đổi chút ít cho bớt cái mùi “bồi bút” …. Xin mời …

Tên Bồi Bàn Chết Tiệt
Gene Perret

Không có gì sướng cho bằng đi ăn tiệm, có phải không nào? Nấu thì có người nấu, dọn lên bàn thì có người khác dọn… và ăn xong lại còn có người dọn dẹp rửa chén cho mình nữa chứ. Sướng thì thôi! Bạn chỉ việc nhai, nuốt và trả tiền. Nhưng mà cái thời đi ăn tiệm sướng như là chuột sa đỉnh nếp đã qua rồi. Giờ cứ như là con chuột trong phòng thí nghiệm, ngửi thấy mùi phó mát, chạy tới chạy lui, đi đường nào cũng đụng phải cái vách ngăn…

“Xin chào quý khách, dạ bốn người phải không ạ?”
“Vâng, 4 người.”
“Dạ, hút thuốc hay là không hút thuốc?”
“Không hút thuốc.”
“Quý khách muốn ngồi ăn bên trong hay bên ngoài tiệm?”
“Bên trong đi.”
“Đúng đấy, thưa quý khách,” Anh ta hỏi tiếp:”Quý khách thích ngồi ở phòng ăn chính, phòng ăn sát sân hay là khu nhà có kinh che?
“Ờ…ờ… để coi thử …”
“Chúng tôi có thể đưa quý khách tới ngồi ở khu nhà kính với phong cảnh tuyệt vời.”
Tôi hưởng ứng ngay lập tức và đi theo anh ta:
“Tôi nghĩ anh nói chí phải.”
“Bây giờ quý khách thích ngồi hướng nhìn ra sân golf, nhìn cảnh mặt trời lặn trên hồ hay nhìn những ngọn núi hùng vĩ ở phía tây?”
Tôi nghĩ thầm thôi cứ để cho anh ta chọn phứt đi cho xong chuyện:
“Chỗ nào anh thấy đẹp là được rồi!”
Thế rồi anh ta đưa chúng tôi tới chỗ ngồi hướng về sân golf, hồ nước hay núi non hùng vĩ gì gì đó tôi cũng chịu vì lúc đó trời đã tối, bên ngoài tối đen như mực.
Thế rồi một người bồi bàn khác trẻ hơn, ăn bận càng bảnh hơn chúng tôi nhiều, đến bàn chào và tự giới thiệu:
“Xin chào quý khách. Tôi tên là Paul. Pờ ôn Pôn. Tôi sẽ phụ trách bàn này tối nay. Quý khách có muốn ngắm cảnh thêm vài phút rồi đặt món ăn hay không?
Tôi liền nói ngay:
“Không, không, tôi là fan của thịt bò khoai tây, cho tôi món thịt bò thăn và khoai tây nướng.”
“Quý khách dùng với súp hay rau trộn?”
“Rau trộn.”
“Quý khách muốn dùng thứ nào? Nhà hàng chúng tôi có rau xanh thập cẩm, rau trộn với củ dền đỏ, hay rau diếp trộn với tôm.”
“Rau xanh thôi.”
“Vâng, thưa quý khách. Thế còn dầu trộn rau, quý khách thích loại nào ạ?”
Tôi không muốn kéo dài cuộc khẩu cung này nữa:
“Bất cứ loại nào cũng được.”
Anh ta cứ hỏi:
“Chúng tôi có dầu giấm kem kiểu Ý, có phó mát xanh, có giấm chua, có Thousand Island, Dijon với mật ong, rồi còn Ranch… …”
Tôi cướp lời:
“Đem bất cứ thứ nào ra cũng được…”
Anh ta vẫn đứng đó:
“Dầu trộn kiểu Ý là loại rất đặc biệt chỉ có tại nhà hàng chúng tôi. Có được không ạ, thưa quý khách?”
Tôi đáp cộc lốc:
“Ừ.”
Anh lại hỏi:
“Còn khoai tây thì sao ạ?”
Tôi thừa biết cái gì sắp đến sẽ xảy ra nên không muốn anh ta đứng lải nhải thêm nữa:
“Tôi chỉ muốn khoai tây nướng mà thôi, hiểu chưa? Không kèm theo với cái giống gì hết.”
Anh ta cứ hỏi tới:
“Không bơ, không kem chua à, quý khách?”
“Không!”
“Không hành à?”
Đến nước này là tôi hết chịu đựng nổi nên phải quát lên:
“Không. Không, nhất định là không. Anh không hiểu tôi nói gì à? Tôi không muốn cái gì với khoai tây hết. Cứ mang ra cho tôi khoai tây nướng với thịt bò là được rồi.”
Anh ta lại chĩa mũi dùi sang thịt bò:
“Quý khách muốn 200 gram, 250 gram hay 350 gram thưa ông?”
“Bao nhiêu cũng được.”
“Quý khách muốn ăn tái, tái vừa vừa, vừa, vừa chín hay chín hẳn thưa quý khách?”
Tôi không thể nào chịu đựng được nữa:
“Ê! Anh… anh…”
Anh ta vẫn không tha tôi:
“Quý khách muốn broccoli, bắp hay cà rốt đi chung với thịt bò ạ?”
Như giọt nước tràn ly. Nổi khùng lên, tôi ném khăn ăn xuống đất, đứng phắt dậy, xắn tay áo, xông vào anh ta và hét lớn:
“Đồ khốn kiếp! Mày ra ngoài kia ngay… Tao… Tao đây sẽ dạy cho mầy một bài học.”
“Vâng, tuỳ quý khách. Quý khách muốn ở bãi đậu xe, ngay hành lang hay trên đường lớn trước mặt nhà hàng, thưa quý khách?”
“Tao muốn ngay tại đây…”
Nói xong tôi đưa tay đấm anh ta. Anh ta né rồi phản công bằng một cú móc tay trái vào hàm tôi…. Các bạn thân mến, đó là lần đầu tiên trong cái đêm nghiệt ngã đó anh ta đã không hỏi tôi muốn bị đấm ở đâu…Tôi choáng váng ngã xuống ghế trong khi các người khác tới kéo anh bồi bàn đó ra.
Tôi có cảm giác ai đó nới lỏng cà vạt tôi ra, mở nút áo cổ và vả nhẹ vào mặt tôi… Khi tôi tỉnh lại, tôi thấy trước mặt tôi là gương mặt lo âu của một tay bồi bàn khác … Anh ta xin lỗi ráo riết và đề nghị sẽ đưa nước cho tôi uống, gọi y tá hay bất cứ cái gì tôi muốn…
Tôi lúng túng nói:
“Không, không … đừng gọi ai đến hết….cho tôi ly nước là được rồi..”
“Vâng, thưa quý khách, có ngay ạ.”
Anh ta hớn hở đáp lại sự đòi hỏi quá dễ thực hiện của tôi…
Rồi tiếp:
“Quý khách muốn nước suối nhập cảng, nước soda, nước chanh hay nước lọc, thưa quý khách?”


Gene Perret

LƯU THY