Này em

thanhbinhnguyen

Anh không phải Kalidasa
Chắp đôi cánh bay
lên khung trời ước vọng
Anh không thể là Tagore
Mãi là con chiên vĩnh hằng của Chúa đời bất diệt
Anh chỉ là một trái tim non
Rung lên khi vắng một ánh nhìn
Lặng xuống khi thiếu hai nhịp đập
Anh cũng chẳng thể rong ruổi theo Pushkin,
mãi xót xa cho nước Nga mênh mông xa cách
Anh lại chưa cầm lòng như Hugo
đốt cháy những bức thư tình
gởi cho cuộc đời cùng khổ
Anh cũng muốn mơ
Anh cũng đã ước
Này em
Đêm đêm
Cùng anh cầu nguyện
Với thực tại cuộc đời, đừng mơ tưởng chuyện thần tiên
Ừ với anh em nhé
Hứa lòng mình
vì yêu đâu phải là không thể
Ngừng hơi thở này
sống chết vì nhau…

THANH BÌNH NGUYÊN

ĐỂ TANG CHO SÁCH

khuatdau

Bà tôi thường than thở, hết một nửa cơ nghiệp của nhà này đã tan tành theo sách. Một nửa cơ nghiệp nói cho to, cho xứng với nỗi đau tiếc của của bà, chứ thực ra chỉ vài trăm cuốn sách của ông tôi thôi. Có điều, đó không phải là những quyển sách bèo nhèo giấy rơm thô kệch, đang tràn ngập trong các hiệu sách, trong trường học và trong thư viện. Chưa nói tới nội dung, chỉ mới lật qua vài trang mờ nhoẹt vàng đục với những con chữ ốm o đói khát như những người bị sốt rét rừng là đã thấy chán lắm rồi.

Sách của ông tôi, bạn chỉ ngắm không thôi cũng đã thấy thích. Những cuốn tự điển của Pháp, của Việt, thư pháp của Trung Hoa, những sách thuốc, sách khoa học, những bộ tiểu thuyết của các nhà văn danh tiếng, những sách học làm người, những sách triết…đứng sát bên nhau phơi cái gáy mạ vàng như cả một đội ngự lâm quân thông thái và oai vệ. Trang nghiêm nhưng không lạnh lẽo, bọn họ là thầy là bạn của ông tôi. Và vì vậy, bạn cũng như tôi chỉ được phép đứng nhìn mà thôi.

Ông tôi là một người mê sách (cũng lại là cách nói vừa tấm tức vừa giận hờn của bà) mê hơn cả vợ con. Nếu bảo rằng “thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, thì ông tôi tuy đã già nhưng lại có đến những mấy trăm người đẹp như các vua chúa ngày xưa, nên bà tôi “ghen” cũng phải.

Ông mê sách như người mê đồ cổ. Nghe ở đâu có sách quý là ông tìm tới dù có phải tốn kém tàu xe và phải bỏ ra cả một mòn tiền lớn để “rước” người có nhan như ngọc đó về, ông cũng dám chơi một phen cho thỏa chí. Như cuốn Tự vị của Paulus Của, nghe đâu như là ấn bản đầu tiên của một ông cụ nào đó bắc bực làm cao đến tận giời, ông tôi đã phải lặn lội vào tận xứ Thủ Dầu Một xa lắc xa lơ để mua cho bằng được. Công cuộc mua quyển sách đó, chẳng những khiến ông mất đến mấy chỉ vàng, mà còn ốm một trận thừa sống thiếu chết.

Cuốn sách cũ đến nỗi như đã ngàn năm tuổi. Còn hơn một người chơi đồ cổ, ông tôi lại phải tốn thêm một món tiền và nhất là tốn rất nhiều thì giờ để nài nỉ và kiên nhẫn ngồi chờ anh thợ đóng sách đóng lại giùm. Lúc này quyển sách đối với ông như một con bệnh thập tử nhất sinh và anh thợ đóng sách cứ như một bác sĩ. Khi anh thợ tháo bung sách ra, ông đau nhói như thể gan ruột của mình cũng bị lôi ra như thế. Ông hồi hộp theo dõi từng mũi chỉ khâu, nín thở xem anh ta cắt xén, làm bìa. Cho đến khi sách được làm mới một cách khỏe mạnh, xinh đẹp, ông ôm quyển sách trước ngực như một người mẹ ôm đứa con bé bỏng vừa được bác sĩ cứu sống. Ông hết lời cảm ơn anh ta, đưa cho anh một tờ tiền lớn và hào phóng không nhận tiền thối lại. Đem quyển sách về nhà, ông lại mất cả buổi ngồi ngắm đến nỗi quên cả bữa cơm khiến bà tôi phải giục.

Đó là với những sách cũ quý hiếm. Còn sách mới, ông lại “phá của” một cách không giống ai. Sách nào ông cũng phải mua đến những hai quyển, một để đọc và cho mượn, một để nguyên không đụng tới. Những quyển sách để nguyên ấy nằm im trong tủ kính, mỗi lần mở ra là thơm nồng mùi giấy mới và mực in. Đối với ông, đó là một mùi thơm huyền hoặc đầy quyến rủ và mê đắm như những người nghiện nghe thấy mùi thuốc phiện. Chẳng những chỉ mùi thơm trinh nguyên không thôi, quyển sách vẫn còn trinh trắng khi hãy còn những lề chưa rọc.

Học cách người xưa, không để của cải cho con cháu mà để sách, nên giá như có phải vì thế mà tiêu hết cả cơ nghiệp, ông tôi cũng không tiếc. Chỉ có một điều khiến ông băn khoăn, ấy là trong đám con cháu thực sự chưa có một người nào đủ để ông tin tưởng. Gạt hết những đứa chỉ biết có nhà to xe đẹp, những đứa chỉ biết vung tiền trong các cuộc ăn chơi, suốt một đời chưa đụng tới một quyển sách nào, những đứa mà ông bảo là trong đầu toàn chứa những thứ vớ vẩn nếu không muốn nói là hôi thối ấy, còn lại chỉ vài đứa có để mắt tới sách, nhưng với một thái độ hờ hững, một đôi khi thô bỉ xúc phạm đến sách.

Ông ghét nhứt ai đó đọc sách mà miệng cứ nhai nhồm nhoàm, vừa đọc vừa tán chuyện, bạ chỗ nào cũng đọc ngay cả trong nhà cầu, đang đọc mà có ai ới lên một tiếng là ném ngay cái xạch sau khi đã tàn nhẫn xếp lại một góc để làm dấu, rồi bỏ đi mà không cần biết tới quyển sách có thể bị ướt, bị bẩn hay bị cháy. Ông cũng không chịu được cái cách lật sách thô bạo bằng cả bàn tay úp lên trang giấy hay thấm nước bọt trên đầu ngón tay. Đó là cách cư xử của kẻ phàm phu tục tử, của phường giá áo túi cơm. Lật sách mà như thế có khác gì sàm sỡ nếu không muốn nói là cưỡng bức. Phải lật như những nhà sư nâng nhẹ một trang kinh hay là như khẽ lay một người đẹp đang ngủ.

Đối với ông, đọc sách là để được tiếp cận với những tâm hồn ngoại hạng, cho nên trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, phải “dọn mình”như con chiên quỳ trước Chúa, như nhà sư đảnh lễ trước bàn thờ Phật. Chẳng những sạch ở phần xác mà còn sạch cả phần hồn. Nghĩa là không để những giận hờn phiền muộn hay những ý nghĩ ô trọc dính bám cho dù chỉ một tí trong đầu. Chỉ đọc trong lúc thanh tịnh giữa khuya hay khi gần sáng tinh mơ. Đọc với hương trầm cộng với mùi hương ngai ngái của giấy mực, hương của sương đêm loáng thoáng hay hương của nước mưa mát dịu. Đọc là mở hồn ra để hơi thở của sách ùa vào căng buồm lên cho con thuyền bé nhỏ của mình được dọc ngang trên biển học mông mênh.

Đương nhiên là ông tôi khó tính nhất nhà. Cái viện sách bé nhỏ của ông là một nơi khả kính, thâm nghiêm như một ngôi đền không một ai ngay cả bà tôi dám động tới. Bảy mươi năm sống trên đời của ông thì hết một nửa là ở trong cái gian phòng đựng đầy sách với mùi hương và sắc màu của những tâm hồn kỳ vĩ. Dạo ấy, mặc dù được cưng chiều và rất có triển vọng được ông tin tưởng, tôi cũng chưa được một lần đọc một quyển sách nào trong tủ sách ấy. Ông bảo tôi chưa đủ tuổi và chưa học được cách nâng niu gìn giữ theo cách gần như tôn thờ, thì đọc chẳng ích lợi gì mà còn “giết” sách. Theo ông, đọc vì tò mò, đọc như “lua cơm”, đọc như ngốn ngấu thì cả đầu óc mình chỉ là một bãi hoang chứa đầy những xác chết của sách bị vất ngổn ngang mà thôi. Đọc là phải ngấm từng chữ từng câu, phải để nó bén rễ trong đầu mới có thể thành cây cho trái ngọt.

Năm tháng qua đi, ông tôi âm thầm làm một cuộc chuyển giao lặng lẽ. Tiền bạc trong nhà cứ cạn dần nhưng sách của ông lại đầy lên, phải đóng thêm tủ kê thêm kệ. Cô chú tôi biết ý ông, nên mừng tuổi không bằng trà ngon rượu bổ, mà bằng những phong bì ít nhất cũng đủ cho ông mua được một hai quyển sách. Những lúc ấy ông vui như một đứa trẻ lên 5 được nhận tiền lì xì. Rồi ông đi ra tiệm sách, khệ nệ ôm về những chồng sách mà ông ao ước nhưng chưa đủ tiền mua. Ông ve vuốt từng cái bìa, ngắm nghía từng con chữ, đê mê những sách của Lá Bối, An Tiêm, mơ màng với những tác giả Saint Exsupéry, Bùi Giáng…Giá như ông sống đến một trăm tuổi và giá như ông còn có đủ tiền thì cái viện sách của ông sẽ kín đặc những sách. Ông sẽ ngồi giữa những bức tường dày cộm thơm tho đó như một anh lính già đang tử thủ trong một cái lô cốt văn hóa.

Sau tháng tư năm ấy, cái tháng tư mà dù nằm dưới mộ sâu ông vẫn còn đau đớn, những cuốn sách của ông tưởng sẽ sống đến ngàn năm đã bị bức tử một cách oan nghiệt.

Khi người ta đội lên đầu những quyển sách của ông, có những quyển già như một ông tiên đầu bạc, có những quyển xinh tươi như những thiếu nữ trẻ trung, những chiếc mũ có tên là “nọc độc”, là “đồi trụy”, là “phản động” thì hơn ai hết ông hiểu đó là một lời tuyên án tử hình.

Ông suy nghĩ lung lắm, không phải để tìm cách chôn dấu hay tẩu tán. Mà suy nghĩ làm sao để chọn cho sách một cái chết xứng đáng với lòng tin yêu và kính trọng của ông.

Một đêm thức trắng.

Rồi hai đêm thức trắng.

Ngày thường ông bình tĩnh là thế nhưng lúc này, ông bối rối run rẩy. Có lúc mặt ông đỏ bừng và mắt ông lóe lên những tia lửa căm hờn. Cả nhà chẳng ai dám hỏi nói gì với ông. Giống như một con sư tử già bị săn đuổi cùng đường, lâu lâu ông lại gầm lên một cách tuyệt vọng.

Cuối cùng ông đã chọn cho mấy trăm cuốn sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự mình đốt sách.
Một quyết định cháy lòng.

Tôi cũng được dự phần trong cuộc hỏa thiêu đau đớn ấy, bằng cách giúp ông bê hết sách ra sân. Dù đem đi đốt nhưng ông không cho phép tôi làm rơi rớt xuống đất, không được nặng tay, mà phải sẽ lén nhẹ êm như đang bồng một em bé say ngủ. Phải rồi, những cuốn sách của ông đang say ngủ. Đánh thức chúng dậy, ông sẽ không chịu nổi những tiếng khóc mà chỉ riêng ông mới nghe được mà thôi.

Sách được xây thành một cái tháp quanh những thanh củi chẻ nhỏ. Ông không muốn đốt chúng bằng xăng hay dầu. Ông lại càng không muốn xé sách ra từng mảnh nhỏ để đốt. Xé ra là làm chúng đau. Và làm cho chúng đau trước khi chết là tội ác. Một người coi sách là sinh vật sống, để cả đời nâng niu bồng ẳm, vậy mà phải giết do chính bàn tay của mình, bạn phải biết là ông tôi đã đau khổ đến nhường nào.

Đó là một đêm tháng năm lặng gió. Cây cối im ngủ. Những ngôi sao như tan đi trong khói trời mờ đục. Ông tôi cử hành lễ đốt sách cũng bi tráng và lẫm liệt như Huấn Cao cho chữ trong ngục. Ông mặc toàn đồ trắng, cắm một cây đuốc giữa trời, khấn khứa rì rầm rồi lạy bốn hướng mỗi nơi một lạy. Xong ông lấy cây đuốc đang cháy đặt vào giữa tháp. Dứt khoát và quyết liệt như cái cách các võ sĩ đạo đâm kiếm vào bụng.

Lửa bắt rất nhanh, chỉ trong phút chốc đã bắn vọt lên đầu ngọn tháp.

Đã nghe mùi mực và mùi giấy.

Đã nghe tiếng vặn mình của các bìa sách.

Đã nghe những âm thanh líu ríu như run như rẩy của những trang sách méo mó cong vênh.

Lửa trào ra như từ miệng hỏa diệm sơn.

Lửa ôm choàng lấy sách, hôn dữ dội bằng đôi môi bỏng cháy.

Sau cùng, cái tháp bằng sách đỏ rực như một trái tim để lộn ngược.

Ông tôi ngồi xếp bằng, cố giữ nét mặt trầm tĩnh một cách cao cả. Không một giọt nước mắt cho dù là vì khói cay xè. Ông như thượng tọa Thích Quảng Đức đang ngồi kiết già với ngọn lửa bao quanh. Có thể nói, chính ông cũng đang tự thiêu. Bất giác tôi cảm thấy muốn khóc vì lo sợ. Đến một lúc nào đó, biết đâu ông đứng bật dậy bước thẳng vào ngọn lửa.

Ông chết theo sách.

Đó là một cái chết đẹp, xứng đáng với một người yêu sách như ông.

Nhưng ông chưa muốn chết vì ông còn phải để tang cho sách như một đứa con chí hiếu. Ngay lúc lửa tàn, ông quỳ xuống lạy ba lạy. Rồi ông kiên nhẫn ngồi đợi cho tất cả biến thành tro nguội. Ông bảo tôi hốt tro vào bao, cất vào tủ rồi mới chịu đi vào nhà. Gần như suốt đêm ông không ngủ. Bà tôi than thở là nghe tiếng dép của ông kéo lê lệt sệt mãi tới tận sáng.

Hôm sau, ông bảo tôi thuê thợ đóng nhiều chiếc hộp để đựng tro. Mỗi chiếc để một ngăn tủ. Ông khóa lại và dặn không được dùng vào việc gì khác ngoài việc gìn giữ những chiếc quách ấy. Hơn 30 năm sau, cái tủ đựng đầy những hộp tro vẫn đứng im đó như một nhà mồ. Ngày giỗ ông, chúng tôi cũng đem một bát nhang đến thắp trên đầu tủ. Có cảm giác như hồn ông và hồn sách cùng lãng đãng bay về.

Vẫn chưa hết chuyện về ông tôi đâu. Một tháng trước ngày mất ông muốn tôi làm cho ông những tấm mộ bia bằng giấy. Ông đưa tôi một danh sách dài những quyển sách bị đốt, cứ mỗi tấm bia đề tên một quyển sách. Hơn mấy trăm cái bia như thế, phải mất cả tuần mới làm xong. Những mộ bia không có ngày sinh nhưng có chung một ngày tử. Chúng được xếp lên kệ thay cho hàng trăm cuốn sách đã chết tập thể.

Cả viện sách của ông giờ đây biến thành một nghĩa trang.

Ông trịnh trọng chít khăn trắng, lên nhang đèn rồi cung kính khấn vái như trước bàn thờ tổ tiên. Trong những lời rì rầm, nhiều lúc bỗng vang lên như tiếng khóc, ta là người có tội, có tội. Theo như tôi hiểu đó là cái tội không bảo vệ được sách, tội với các tác giả, tội với những thợ sắp chữ ở nhà in và xa hơn nữa là có tội với giấy và mực.

Ông biết ơn họ bao nhiêu thì bây giờ ông ray rứt vì mình có tội bấy nhiêu.

Từ đó ông ăn ít ngủ ít. Ông đem từng tấm bia đặt lên bàn, lặng lẽ ngồi ngắm hằng giờ như đang đọc sách. Mỗi tấm bia gợi nhớ đến màu bìa, co chữ, tranh vẽ và cả nội dung mà chỉ có ông mới thấy được, hiểu được. Ông như sống lại những năm dài trước đó với những niềm vui kín đáo khi tìm được sách quý, hay mua được những sách hay. Những lần như thế, ông tự thưởng cho mình khi thì một bình trà, lúc một chung rượu hay tách cà phê và những điếu thuốc thơm thay cho hương trầm.

Rồi đến một lúc ông không ăn mà cũng chẳng ngủ. Người ông khô kiệt tái xám. Ba tôi và các chú đi cải tạo chưa về đương nhiên là khoét sâu vào hồn ông những nỗi buồn lo khôn nguôi. Nhưng dù vậy, tận cùng của đêm thì cũng phải sáng. Ông có thể đợi đến mười năm hay hai mươi năm. Chỉ có những quyển sách bị đốt là không đợi được. Ông nói với bà, biết trước như vầy tôi đã để hết tiền cho bà chứ mua sách làm chi. Bà tôi cay đắng, ai mà có con mắt sau lưng.

Buổi chiều cuối cùng ngồi bóp chân cho ông, tôi nghe ông hỏi, cháu thấy ông thế nào? Tôi nói, dạ, ông nên ăn chút cháo, trông ông gầy lắm. Không phải, ông nói, da ông thế nào, đã ngã thành màu đất chưa? Không biết da màu đất là màu gì, tôi nói đại, chưa ông à. Ngã màu đất là sắp chết đấy cháu, ông nói. Ông đã có ý để lại sách cho cháu, nhưng ta tính làm sao được bằng trời tính. Cháu nhớ giữ giùm ông cái tủ và mấy cái kệ.

Nghe ông nói, tôi thấy da ông quả thật rất giống với màu đất bạc phếch, lạnh lẽo ở nghĩa địa. Da ông là da của một người đã chết từ lâu nhưng chưa chôn. Hay là ông đã chết từ cái đêm hôm ấy. Hồn ông đã cùng với hồn sách nương theo khói bay lên tận trời cao. Cái miền đất ồn ào đầy ô trọc và thù hận này biết đến bao giờ mới lại có được những con người, những quyển sách biết yêu quý tương kính lẫn nhau như thế. Chính lúc này tôi mới thấy thấm thía nỗi đau mất sách của ông.

Tôi vừa buông tay ra thì ông ngừng thở. Ông chết nhẹ nhàng như gấp lại một cuốn sách. Tính ra, ông đã để tang cho sách đúng một trăm ngày.

Khuất Đẩu

NHỚ NỤ HÔN GÓC PHỐ

nguyenngoctho

Nơi tôi về-giờ không có em!
quán xưa
hò hẹn lạnh tê hồn
rêu phong ngày tháng sên lên tóc
thấp thoáng cuộc tình điên đảo nửa đời si
đây, Góc Phố*
một thời yêu xa lắc
thuở em về thu áo mỏng se tơ
say đắm đuối những nụ hôn nóng bỏng
đốt tình nhau chất ngất cháy nguồn xuân…

tình yêu ấy sớm va vào ngõ cụt
bởi ghen hờn, em giận dỗi ra đi
ngày giã biệt xe hoa chường xứ lạ!
tháng bảy Sài Gòn, mưa…
tôi nát vỡ như tương!
về Kansas, em có bao giờ chạnh nhớ
xót xa người ở lại góc Đakao?
hạnh phúc mới có đong đầy đêm dĩ vãng
có bao giờ em thổn thức lặng… nghe mưa?

đã bao năm mình tôi thui thủi
hai buổi đi-về đo dấu đơn côi
neo quán vắng nhạc xói lòng hương vị đắng
tôi đếm giọt buồn rụng ký ức ngu ngơ
Góc Phố, giờ đây-tôi với tôi!
cà phê-phê lắm
cà không trôi
có đắng cũng ngây tình em đã
gió tạc hiên ngoài tan tác gió trong tôi…

tặng em Góc Phố biệt ly
bao nhiêu kỷ niệm chây lỳ lối đi
chiều mưa gói nắng thầm thì
em ơi,còn nhớ nụ hôn ban đầu?

*Góc Phố cà phê xưa, ngã tư TCV-PKK, Đakao…

NGUYỄN NGỌC THƠ

CHIỀU SAY

tranbaodinh

Chiều say, ta chếch choáng chiều
Ta say, chiều rớt nắng chiều hôn mê
Tâm quên tuốt luốt nẻo về
Thân xiêu vẹo ngả bốn bề chiều không

Mây che nắng khuất nỗi buồn
Đò sương lạc bến lòng cuồng si thương
Tiễn người chén rượu biên cương
Biệt mù san giả về phương trời nào?

Tựa lưng bên góc chiến hào
Hồn sông núi đã thấm vào thịt da
Ta say, chiều nhớ quê nhà
Chiều say, ta nhớ những bà con xưa

Ta say, chiều sụt sùi mưa
Chiều say, ta khóc khi vừa chạm môi
Mà đời thì chỉ thế thôi
Có chi vĩnh cửu em đòi ngừng say?

TRẦN BẢO ĐỊNH

Thử Nhìn Lại Lời Ca Và Nguồn Gốc Bài Ca: Oui, devant Dieu

buibinh

Oui, devant Dieu, chắc bạn đọc đoán tôi sắp nói về hôn lễ, vì bài hát khá phổ thông trong các đám cưới Việt Nam. Đúng vậy, bài hát có vẻ thánh thiện, chân thành, thích hợp với một hôn lễ. Nhưng tôi muốn nói đây là về nguồn gốc bài này, có vẻ như trái ngược về ý nghĩa.

Tôi xin trình bày tuần tự.

Vào khoảng năm 1970 khi học nhạc tới mục đệm đàn (piano) cho một bài hát. Thầy tôi (một Linh Mục) cho học viên tự lựa bài hát rồi làm bản đệm đàn trình Thầy chấm. Nhìn quanh, thấy bài Oui, devant Dieu, lời ca bằng tiếng Pháp, tôi xướng âm nghe thử, thấy hay hay, bèn lựa bài này. Tuần sau làm xong, đưa thầy chấm, rồi quên đi vì những bài tập khác đến tới tấp…. Tôi chợt nhớ lại rằng bài này khi ấy chưa phổ thông, không thấy cử hành trong các tiệc cưới của người Việt. Lời ca ca tụng tình yêu chân thành, nồng nàn, bền vững trước Thiên Chúa và bà con hai họ.

Thời gian qua mau, khi sang Mỹ, tôi được nghe mấy lần, và cả khi về thăm Việt Nam cũng thấy ban nhạc cử hành bài này mà không thấy hát. Cố nhớ lại lời ca tiếng Pháp, mà tôi cho là rất hay, để hát theo mà tôi nhớ không nổi. Tôi đành nhờ đứa cháu ở bên Pháp tìm kiếm dùm. Tờ nhạc 3 trang có cả nhạc, đệm đàn dương cầm, có lời ca tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha. Thích quá, tôi ngâm nga lời tiếng Pháp cho đến thuộc lòng mà quên đi lời ca Tây Ban Nha.

Sau này, nhân làm việc chung với nhiều đồng nghiệp Mễ, tôi nảy ý định học tiếng Tây Ban Nha để đối đáp với các bạn Mễ cho vui. Việc học đó ít khó khăn bởi vì tôi có chút vốn tiếng Pháp, tiếng Pháp rất giống tiếng Tây Ban Nha. Một hôm một bạn Mễ ngâm nga nho nhỏ một điệu nhạc nghe quen quen. Nghe kỹ ra thì là “Oui, devant Dieu”. Tôi ghé tai nghe, thì được biết họ ca tiếng Tây Ban Nha. Tối hôm đó, về nhà, mở tờ nhạc mà cháu tôi gửi từ Pháp ra coi thì tôi… té ngửa. Lạ quá, ý nghĩa lời ca tiếng Tây Ban Nha khác hẳn và trái ngược với lời ca Pháp.

Trước khi nói rõ thêm, xin phỏng dịch 2 lời ca hầu bạn đọc.

Oui, devant Dieu (tiếng Pháp)

Paroles:Maurice Tézé. Musique:J.Prieto 1961
Titre original: “La novia”

Oui! devant Dieu, devant les hommes!
Oui! pour l’amour que tu me donnes!
Et pour qu’un jour je te pardonne
Si malgré toi tu m’abandonnes!

Oui! pour les joies et pour les peines!
Et pour les lois qui nous enchaînent!
Oui! je promets quoi qu’il advienne
De rester près de toi!
Dans tes yeux, je vois des larmes de joie
Et j’entends en moi monter une voix:
Mon Dieu qui veillez sur ma vie
Protégez mon amour je vous en prie!
Oui! devant Dieu devant les hommes!
Oui! prends mes jours je te les donne!
Et plus que tout, mieux que personne
Je t’aimerai toujours!
Jusqu’à mon dernier jour!

“Thưa có!” trước Thiên Chúa

Lời của Maurice Tézé. Nhạc của J.Prieto 1961
Tựa Đề nguyên thủy: “La Novia”

“Thưa có!” trước Thiên Chúa, trước mặt mọi người!
“Thưa có!” với tình yêu của anh cho em!
Và em sẵn lòng tha thứ
Nếu một mai anh buộc lòng phải xa em!

Vâng!, đối với niềm vui và nỗi khổ!
Và đối với luật lệ ràng buộc chúng ta!
Vâng! em hứa là dù sao chăng nữa
Sẽ mãi mãi bên anh!

Em thấy mắt anh ứa lệ sung sướng
Và em nghe dâng lên trong lòng em:
“Chúa ơi, Người đang quan phòng đời con
Con nài xin Chúa che chở mối tình của con”.

Xin vâng! trước Thiên Chúa, trước mặt mọi người
Vâng! em cho anh hết cả cuộc đời em!
Và trên hết, hơn mọi cả mọi người
Em yêu anh mãi mãi!
Cho tới hơi thở cuối cùng!

Ðây là lời của một Cô Dâu trong hôn lễ trước ban thờ Thiên Chúa, trước mặt Linh Mục Chủ Tế. Yêu thương rất mực, hy sinh và tha thứ, hiến dâng tất cả, hứa và cầu xin trọn đời bên nhau. Mặc dù, theo bản văn tiếng Pháp, đây có thể là lời của Chú Rể, nhưng tôi nghĩ là lời Cô Dâu thì đúng hơn.

**
La Novia (tiếng Tây Ban Nha)
Musica de Joaquin Prieto

Blanca y radiante va la novia
le sigue atras un novio amante
Y que al unir sus corazones
harán morir mis ilusiones.

Ante el altar está llorando
todos dirán que es de alegria
Dentro su alma está gritando:
Ave Maria

Mentirá tambien al decir que si
y al besar la cruz pedirá perdón
Yo sé que olvidar nunca podria
que era yo, no aquel a quien queria.

Ante el altar esta llorando
todos dirán que es de alegria
dentro su alma está gritando
Ave Maria, Ave Maria, Ave Maria

Cô Dâu
Nhạc của Joaquin Prieto

Huy hoàng trong xiêm y trắng, Cô Dâu tiến bước,
theo sau là chàng rể si tình.
Và khi trái tim hai người được kết hợp
Thì bao nhiêu ảo tưởng của tôi lịm tắt.

Trước ban thờ, em nức nở
Ai cũng tưởng đó là những giọt lệ hân hoan
Mà trong thâm tâm thì em đang than thở,
“Ôi, Mẹ Maria”…

Em cũng sẽ nói dối khi em trả lời “Thưa Có”
và khi hôn lên thánh giá, em lại thầm xin Chúa tha tội
Anh biết rõ, chẳng sao quên được
rằng chỉ có anh, chứ không một ai khác, mà em yêu.

Trước ban thờ em nức nở
Ai cũng tưởng đó là những giọt lệ sung sướng
Mà trong thâm tâm thì em đang than trời
”Ôi Mẹ Maria, Mẹ Maria, Mẹ Maria”.

Ý nghĩa trong bản tiếng Tây Ban Nha thì khác hẳn, so với bản tiếng Pháp. Ðây là lời một chàng trai nọ chứng kiến người yêu mình kết duyên với một người khác. Chàng cho rằng tất cả cử chỉ và tâm tình của nàng bộc lộ ra chỉ là giả tạo và gượng ép bởi vì, chàng nghĩ, nàng chỉ yêu mình mà thôi, chứ không một ai khác.

Người bạn Mễ của tôi không hề biết có một lời ca khác ngoài tiếng Tây Ban Nha. Và đứa cháu bên Pháp (qua đây từ trước 1975) và có lẽ đa số người Pháp cũng chỉ biết có một lời ca tiếng Pháp.

Sau này, có lần về Việt Nam, tôi được đứa cháu cho coi một video đám cưới, trong đó có người hát bài này bằng tiếng Anh (dân VN trong hay ngoài nước đều sính tiếng Anh), và tiếng Việt.

THE WEDDING
English Lyric by Fred Jay
Music by Joaquin Prieto

You by my side, that’s how I see us,
I close my eyes, and I can see us,
We’re on our way to say “I do-oo”,
My secret dreams have all come true-oo,

I see the church, I see the people,
Your folks and mine, happy and smiling,
And I can hear sweet voices singing,
“Ave Maria”,

Oh my love, my love, this can really be,
That someday you’ll walk down the aisle with me,
Let it be, make it be, that I’m the one for you,
I’d be yours, all yours, now and forever,

I see us now, your hand in my hand,
This is the hour, this is the moment,
And I can hear sweet voices singing,
“Ave Maria, Ave Maria, Ave Maria, Ave Maria.”

HÔN LỄ
Lời tiếng Anh của Fred Jay
Nhạc của Joaquin Prieto

Đó, em thấy chúng ta, thấy anh đứng bên em,
Em nhắm mắt lại, và vẫn thấy đôi ta,
Chúng mình sắp sửa nói “Thưa Có”,
Và giấc mơ thầm kín của em đã thành hiện thực.

Em thấy nhà thờ, em thấy thiên hạ,
Bà con bên anh, và bên em, vui cười,
Và em nghe vang lên lời ca êm dịu,
”Ave Maria”,

Ôi tình yêu, tình yêu của em, đang thành hiện thực
Rồi anh sẽ sóng đôi cùng em đi xuống lối này,
Cứ thế, phải như thế, em là của anh,
Em là của anh, hoàn toàn, bây giờ và mãi mãi,

Em đang thấy đôi ta, tay trong tay,
Giờ này, lúc này,
Em đang nghe vang lên tiếng ca êm dịu,
“Ave Maria, Ave Maria, Ave Maria, Ave Maria.”

Ngày Tân Hôn
Lời Việt: Phạm Duy

Em bên mình anh, lặng im dưới ban thờ,
Và quanh chúng ta, là vui sướng chan hòa.
Tình duyên nhỏ bé, thành đôi ước mơ già.
Bao nhiêu tóc tơ, giờ đây đã kết xe !!!
Ta bên mình nhau, rồi đi suốt con đường,
Ðưa ta suốt đời về nơi xứ Thiên Đường.
Về nơi tổ ấm, nhờ ơn đức cao vời.
Ơn Mẹ Maria

Người yêu hỡi, ơi Người, Người yêu dấu ơi
Cùng bên nhau suốt đời,
Cùng chia xớt nỗi vui,
Hay nỗi sầu, cùng cho nhau,
Biết bao là yêu.
Ví dầu, đời qua mau,
Với mái đầu, rồi đây sẽ trắng phau

Ôi vai kề vai, và tay nắm tay rồi.
Ðời thôi vắng tanh, lẻ loi, kết đôi rồi.
Từ đây nồng ấm đời thôi hết u hoài.
Ave Maria !
Ôi tình chăn gối bao la,
Sẽ mang về mãi tận cõi già !!!
Sẽ mang về mãi tận cõi già !!!

Bản tiếng Anh, về ý tưởng, thì cũng tương tự như bản tiếng Pháp, tuy lời lẽ có khác đi. Bản tiếng Việt thì đương nhiên phần nhiều là “theo” tiếng Anh mặc dù kém phần trong sáng so với cả 3 bản Tây Ban Nha, Pháp và Anh Văn.

Tôi bắt đầu đi tìm hiểu, trong sách và trên mạng. Và tôi được biết bài nguyên thủy là La Novia do một người Chi-Lê (Nam Mỹ) Joaquin Prieto sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ là tiếng Tây Ban Nha năm 1961. Bài này được em ruột của tác giả là Antonio Prieto ca và đã thành công rực rỡ tại Tây Ban Nha. Và bản lời ca bằng tiếng Ý do Tony Dallara dịch gần như nguyên văn lại còn thành công gấp bội tại Ý.

Vậy thì tại sao Maurice Tézé lại viết lời ca tiếng Pháp với một ý tưởng khác với nguyên thủy. Theo tôi nghĩ có thể ông này nghe phần nhạc có vẻ thánh thiện, chân thành, tha thiết nên đã viết lại để tô điểm cho các hôn lễ, như ta thấy ngày nay.

Để kết luận, tôi xin gửi quý độc giả một sản phẩm của tưởng tượng, sinh động trong đầu tôi. Một đám cưới Việt Nam với Tân Lang và Tân Giai Nhân đang cắt bánh, trong khi ban nhạc cử hành Oui, devant Dieu. Trong đám người tham dự (có nhiều quốc tịch) thì

– Người Việt Nam, “Ui cha! nhạc sao mà hay quá!!”

– Người Mỹ, “It’s a wonderful song!”

– Và có thể có người Pháp, “Oh la la! mọi người vui vẻ, khoan khoái nghe bản nhạc vang lên đúng lúc, hợp tình, hợp cảnh…

– Và một số người Trung và Nam Mỹ, biết đâu có cả người Tây Ban Nha, thì ngơ ngác nhìn nhau, “Ủa sao lạ vậy cà?”

Bùi Bỉnh  ( Nguồn Internet)

NGHI !

vancongmy

(Đoạn lỡ trong một bài hành)

Đất nước hỗn mang thời dịch bệnh
Người với người trăn trở nghi nhau
Nụ cười nở giấu bao giòng lệ
Trong tiếng pha lê vỡ tiếng sầu

Bởi lòng với dạ mãi nghi lâu
Thành thử con tim cứ úa nhàu
Nỗi nghi đã vằn trong con mắt
Đêm nằm khó ngủ hẳn nghi sâu

Vành môi đã nghi ngờ cái lưỡi
Khó vô cùng mở miệng yêu nhau
Thôi, gởi niềm tin loài cầm thú
Chó cắn mèo nghe tiếng kêu đau !

Văn Công Mỹ

NẾU TA SỐNG SÓT…

linhphuong

Con đường đất đỏ xuyên biên giới
Xe đưa ta đến Krek buổi chiều
Nắng tàn – đêm tối – cú mèo kêu
Mang tin báo tử về hai phía

Cú mèo kêu. Ờ ! Đâu vô nghĩa
Giữa cuộc chơi người lớn dự phần
Trận so găng phải ngủm một thằng
Điều tất yếu không sao tránh khỏi

Đánh đấm- dĩ nhiên là man rợ
Thượng đài võ sĩ chẳng được lui
Giống như giác đấu thời trung cổ
Giết nhau sắc mặt vẫn tỉnh bơ

Con đường đất đỏ xuyên biên giới
Ngại gì đêm tiếng cú mèo kêu
Cắc bùm – ở Krek ai cũng hiểu
Cứ nghe là phách lạc hồn xiêu

Đã đến nơi này. Thôi đành chịu
Mạng số ư ? Giao phứt ông trời
Nếu ta sống sót về thành phố
Sẽ quậy tưng bừng tới bến chơi !!!

LINH PHƯƠNG

MƯA, BÊN THỦY TẠ NHỚ NGƯỜI

nguyenngocnghia

mưa giăng sợi nhỏ
chiều anh ứ tràn
em giăng sợi nhớ
lòng anh vỡ tan

hình như sóng cuộn
dưới hồ mưa thưa
hình như chân vướng
bụi hồng thuở xưa

mắt cay bốn hướng
dõi bóng chim về
mây xa còn gợn
bóng người gió se

gói hết mặt trời
em về bên ấy
có hay mưa rơi
bên này anh đợi

mặt hồ run rẩy
bóng trôi. bóng trôi
nghiêng lòng bối rối
chỉ mình anh thôi

(03/8/2014)
NGUYỄN NGỌC NGHĨA

MÙA NHỚ

tranvannghia

Chỉ còn lại nơi đây
Mùa thu và góc phố
Chiếc lá vàng nghiêng bay
Làm chênh chao nỗi nhớ

Có chút gió heo may
Thổi qua đời trắc trở
Người vời vợi chân mây
Ôm lòng đau kẻ chợ

Vườn nhà xưa vắng ai
Hoa cuối mùa quên nở
Hương hàng xóm chưa phai
Chập chờn bên cửa sổ

Tôi về ngang ngõ mưa
Lạnh vai chiều bỡ ngỡ
Lãng đãng nhớ tình xưa
Nên suốt đời mắc nợ

TRẦN VĂN NGHĨA

NHỮNG NGƯỜI TỐI SUỐT

nguyentri

Chẳng ai trên thế giới nầy thích chiến tranh. Lính ư? Ai đó than ” nghề binh là nghiệp dĩ”. Nhà thơ, nhà văn từ Eric Maria Remarque đến Bảo Ninh – đọc họ – thấy một chuỗi dài những bất hạnh và cay đắng. Dạ Ngân với truyện ngắn Vợ Lính, xem xong là chao ôi một tiếng vọng tới bốn phương, thấm đẩm nổi buồn chiến tranh liền.
Ai muốn chiến tranh? Ai muốn máu chảy, thịt rơi, người chết? Ai muốn hát bài ” Xuân nầy con không về”? Hoặc ” Ngày mai đi nhận xác chồng. Quay đi để thấy mình không là mình.Ngày mai đi nhận xác anh, Hồn linh thuở ấy hiển linh bây giờ”. Chẳng một ai. Đúng không?
Vậy mà có người – nhiều người – thích chiến tranh đấy.
À… Lái súng chớ gì?
Không, con buôn chiến tranh nói làm chi, dân thôi.
Dân mà khoái chiến tranh. Kì cục vậy?
Thật đấy. Thậm chí hòa bình rồi, lắm kẻ còn chép miệng tiếc cái thời đánh nhau :”- Hồi đó sướng qúa chừng luôn, ăn chơi không…” À, hiểu rồi, hiểu nhiều luôn. Mấy tay lính ma lính kiểng thời chế độ cũ chớ gì? Không, ma kiểnOg nói làm chi, loại lính đó tốn nhiều tiền lắm mới mua được… Ở đây là lính tráng hắn hoi, họ đã từng đi dọc chiều dài đất nước từ Bến hải đến Cà mau, lên Đà Lạt sương mù, Tây nguyên kiêu hảnh. Sau thống nhất ai cũng ôm một lốc hai mươi năm binh nghiệp. Gia đình nào ngoại trừ cha, ít cũng một con trai là lính, cá biệt có nhà đôi ba anh em ôm ép tay (m16) cứ Giao Thừa mà nả, đỏ lừ cả bầu trời
Chả có nhà nào mà ” hai con để nuôi dạy cho tốt”. Ai cũng chục ngoài. Đẻ bao nhiêu đã có ông nhà nước lo tất, từ sơ sinh đến mười tám. Sau mười tám con gái- nếu thích- thì vào nữ quân nhân, không thì lấy chồng, Con trai? Nếu không vào đại học thì lính tiếp, Thiên hạ sao ta vậy, Bình thường thôi.
Những ba Nghịnh, năm Ngò, mười Niệm và nhiều nhiều nữa tiếc lắm thời chiến tranh. Hai Dậu chẳng hạn,
Đời lính của Dậu như một cuốc du lịch dài hơi. Xa xa ấy, bác là lí trưởng, ngày chơi với Pháp, tối làm việc cho Việt-minh, sao sao đó bị cách mạng xử tử hình. Dậu lang thang ra Đồng Hới bị Pháp bắt sung vào lính Khố Xanh, đóng quân ở Mang Cá Huế. Vợ cũng bỏ Quãng Bình ắm con theo. Từ Huế, Dậu được đưa lên Đà lạt làm Ngự Lâm phò ông hoàng Bảo Đại. Cựu hoàng đi chơi và thế là quyền hành lọt tay triều đình họ Ngô. Toàn đơn vị ngự lâm vào Sư khinh chiến 14. Dậu cũng tham gia đánh sập Kim Chung Đại thế giới của Bẩy Viễn và Ba Cụt… Khinh Chiến 14 đổi thành sư 22 bộ binh. Từ Sài Gòn những đoàn công voa, theo lệnh Ngô Tổng Thống lên Tây nguyên, án ngữ Tân Cảnh Đaktô bảo vệ khu dinh điền… Cứ đơn vị đến đâu, bầu đơàn thê tử của lính tráng theo đến đó.
Sướng lắm. Doanh trại quân đội mọc lên, khu gia binh mọc kèm. Một gia đình một căn mái tôn vách ván. Cứ thế mà hạnh phúc với gạo Thái lan do mĩ viện trợ, Đường sửa nước mắm dầu ôliu, thuốc lá ở quân tiếp vụ và tới tháng lảnh lương… Còn học hành? Cũng có luôn. Trường lớp hẳn hoi. Thầy giáo là mấy tay rớt tú tài anh đi trung sĩ. Tiểu học mà lớp đệ nhị dạy thì quá tốt rồi. Quan trọng là có học không, khi mà xung quanh…
Xung quanh sao?
Mấy bà vợ lính – đang nói chuyện lính nghe – tức là hạ sĩ quan và binh sĩ. Tất nhiên là có người nầy người nọ, nhưng hầu hết. Kẻ, chồng đi hành quân đâu đó ở Phú bổn, Uông bí. Người, chồng đang ở hậu cứ tiểu đoàn. Ở nhà rảnh rổi làm gì ta? Ngồi lê đôi mách nói xấu nhau cũng chán, ta xòe tứ sắc đánh chơi vui. Mẹ bài, mấy nhóc tan học xong cũng đánh đáo, thẩy lô, đập tường, chơi đánh trận, bên việt cộng bên lính um sùm trời đất. Bật lên là Minh Hai và thằng em Ba Gà con hai Dậu, cùng với những Suông , Sông – con lính người Khmer bị băt ở Trà Vinh, Sóc Trăng – vào rừng Kon Tum bắt trộm ngựa của người dân tộc để đua
Nhà Ngô sập. Đến Nguyễn Khánh rồi mít Thiệu. Ai thây kệ ai. Cứ thuyên chuyển là đi. Từ Tân Cảnh xuống Kon Tum, Pleiku…. Đồng minh Mỹ đến và những chiếc trực thăng HU1B vần vũ trên bầu trời khu Võ Lâm lập căn cứ. Vậy là ra cái nghiệp ăn cắp đồ Mỹ. Khét tiếng là Ba gà, nó không thèm đến lớp nũa. Mà học hành gì ở cái thời đạn bay súng nổ, ăn và đi chơi không sướng sao? Minh Hai đậu không nổi Đệ thất để vào công lập phải học trường tư. Mấy trường tư thục cũng mang tiếng bởi học trò buổi học buổi ok xe Mỹ, không cho lên lớp thì sợ lính mang ép tay đến trường nói chuyện phải quấy, còn lên lớp thì… xấu hổ cho trường . Mấy thằng con ông cháu cha, làm đất làm trời, đe :”- đù má, tao đi lính về bắn thấy… mẹ tụi bây hết”
Hai Dậu nói với vợ:
–  Bà coi mấy đứa nhỏ, người ta nói với tôi thằng hai, thằng ba tụ tập với tụi con ông Cho, ông Nghịnh trộm cắp…
Vợ hai Dậu nạt chồng:
–  Ăn cắp cái gì? Trực thăng nó thả đồ hộp đầy ra đó, đứa nào không lấy, riêng chi thằng hai thằng ba
–  Thôi đi – Hai Dậu gằn – Thằng ba còn trèo lên trực thăng ăn cắp máy chụp hình, bà liệu mà dạy tụi nó.
–  Ông ở nhà mà dạy. – Bà hai cũng gằn –
Hai Dậu vốn sợ vợ. Thôi vậy. Cho yên nhà.
Vậy là Ba Gà cứ hoang dã mà theo. Từ đồ Mĩ, buồn tay Ba chơi luôn của cải bà con cô bác trong khu gia binh, thứ gì có thể qui đổi ra tiền, Ba tia sạch. Nó còn đột kích vào khu nhà ở dành cho vợ con Sĩ Quan. Tường xây táp lô, cửa hai lần khóa vẫn không thoát, chắc chắn là những đài các ấy không hề cánh giác… Người ta cầm tay Ba, cả tang vật đến mắng vốn. Bà hai Dậu trở giọng sặc mùi tứ sắc:
–   Có của phải biết giữ. Làm chi nó thì làm, đây không biết.
Rồi sa sả chửi… Ai đâu mà phân xử hả trời? Toàn vợ con lính hết. Mấy tay ban 2 An Ninh quát
–   Dẹp hết đi… Đừng có mà láo.
Cứ thế đời chạy như Công Voa chạy. Từ cao nguyên lại về duyên hải. Sư 22 rãi dọc theo lộ một. Án ngữ đỉnh Cù Mông đến đỉnh Bình Đê. Hai Dậu đưa vợ con về ngụ thị thấn Phú Thạnh… Đang buồn tẻo, Phú Thạnh hóa thị tứ. Đủ thứ ngành nghề theo thời cuộc mọc lên. Đông luôn vui, những thú vui phát triển theo cấp số nhân, snack- bar, cờ bạc… đủ. Không ngụ khu gia binh nữa. Hai Dậu tấp ván thùng đạn ra một căn nhà mái tole như ai. Trong căn nhà nầy bà xã nẩy ra sáng kiến chứa Thổ và đổ Hồ. Lính tráng cả bụi đời đến để tìm vui… Một xinh xinh nhỏ nhỏ lọt mắt Minh hai. Đang đệ tam tư thục, Minh bỏ ngang tuyên bố nhỏ xinh là vợ. Còn Ba gà? Thì đấy ” ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt” cử thế Ba tới… Kinh nhất thời điểm Ba dính vào ma túy. Cả thì trấn phải cảnh giác, ai cũng:
–  Đù má… Diệu Thủ Thư Sinh đến kìa…
Đi lính và làm vợ con lính vậy cũng sướng. Đâu có dính vô hòn tên mũi đạn. No đủ và cờ bạc…khoái quá. Đúng hông?
Vậy mà ra  cái ba mươi tháng tư bảy lăm.
Sau chiến tranh đố quốc gia nào không lâm vào khó khăn. Cái gì xây dựng lại mà không có những phát sinh ngoài ý. Dạng như Hai Dậu tiếc lắm thời đã qua. Tiếc cở nào cũng phải dựng lại người và dựng lại nhà. Nào – Lên đường – kinh tế mới đón chào. Phải làm mới cuộc đời. Kiếp ăn xổi ở thì không bao giờ quay lại. Nên nhớ cho rằng phong kiến, thực dân, quân phiệt và đế quốc không thể nào chịu nổi khí thế cách mạng. Đừng có mà mơ mộng hảo. Tất cả đang ở phía trước, chân cẳng đâu? Tiến lên…
Riêng Ba Gà thì không. Ba bỏ kinh tế mới đu đeo theo thành tàu chợ, tàu thống nhất ra nghiệp ăn bay.
Một ngày kia, không chịu nổi thiên hạ đàm tiếu. Minh Hai đích thân vào ga Long Khánh lôi thằng em về. Sao đó không biết, Ba Gà lê lết ăn xin với đôi chân bị liệt.
00000000000000000000000000000000000

Đói nghèo vẫn thường hóa hồn người bẩn chật và tăm tối. Thuở ăn bo bo độn mì lòng ai cũng  khoai lang củ sắn. Lục cục lòn hòn với nhau, chẵng nghĩa nhân gì sất, Khốn cùng tình mới biết nhau. Một chục chỉ dăm ba tích lũy được tí đỉnh từ thời mù xa, khuyên nhau :”- Rồi sẽ qua”. Còn lại cha đay nghiến con, vợ nhiếc chồng.. Nhỏ xinh của Minh Hai cũng rời chồng một đi không trở lại. Hai Dậu chịu không xiết với bệnh tật, thiếu thốn, một ngày kia tay bắt chuồn chuồn bái biệt trần gian.
Ảm đạm vậy. Ba Gà ra sao? Chao! Là tội. Lê lết đến chai mông trên tấm ván, Tha nhân tội nghiệp thẩy cho cặp nạng, nhưng đâu có điểm tựa mà dùng? Một thời ngang dọc, tiền bạc đầy tay và sơn hào hải vị… Giờ đây Ba thê lương  ngồi nhớ lại ngày xưa trong nhưng nhức những khát thèm. Ừ, thèm lắm những đường, sửa, cà phê, bánh mì súc… Thèm lắm một bữa no cơm trắng hột vịt luộc xì dầu… Trong giấc còng queo tôm luộc, nửa đêm về sáng Ba hận xiết bao gia đình nầy.
Đay nghiến mẹ, chửi bới anh, kể lễ với bầy em:
–   Tui chôm chỉa không mang về cho bà sao? Còn mày – Ba gọi Minh Hai bằng mày – Không có tiền tao ăn cắp mày lấy gì ôm sách đến trường… Cả tụi bây nữa, đồ vong ân bội nghĩa…
Bầy em cự lại:
–  Thôi câm đi, ông đừng có nhiều chuyện…
Về sau, về sau nữa. Và nhiều năm sau đổi mới. Kinh tế khởi sắc hơn một tí, ai đó bên thương binh xã hội tặng Ba một xe lăn. Họ còn bảo với bà Hai rằng, nếu làm đơn xin cho Ba nhập khẩu lại – Ba bỏ đi bất minh nên bị xóa tên khỏi sổ bộ đời – họ sẽ giúp Ba một sổ gì gì đó, sẽ được phụ cấp mỗi tháng vài đồng để…uống rượu. Khỏi phải chực chờ vào lòng thương hại của bất kì.
Không may cho Ba. Vòng xoay đời lên xuống, xuống lên buồn cười tợn. Nghèo giàu ẩn hiện như ma trơi. Khu kinh tế đang lây lất cơm áo gạo tiền, bổng sát nhập vào phố. Cái thung lũng đang yên ắng, thoắt cái thành điểm nóng công nghiệp. Thiên hạ năm châu bốn biển ồ ạt đầu tư, bất động sản tăng vù vù. Gia đình Hai Dậu dưới sự chủ trì của trưởng nam Minh Hai, chụp cái giá vào thời điểm sốt cao… Ôm một phát cả trăm cây SJC, đổi đời cái rụp.
Phú sinh lễ. Còn đạo tặc? Đôi khi không do bần, người ta trộm cắp vì thích hoặc quen tay. Có khi do… truyền thống. Anh em Minh Hai là một điễn hình. Mười một trai gái, cũng thanh cũng tú đấy, nhưng ai cũng có tí đạo tặc trong hồn. Sau khi bán đất, tất cả quây quần dưới bàn thờ cha để luận công ban thưởng :”- Phải đều ra..” “- Ừ, đều ra..” Bầy vịt trời lên tiếng. “- Đều cái gì?” Đệ Tam tư thục Minh Hai hắng giọng đọc:” – Cái dòng con gái ngoại tông, thờ cha kính mẹ bên chồng mà thôi Bầy đực nghe mà hởi lòng hởi dạ :”- Tất nhiên rồi, của đâu mà cho mấy thằng anh em rễ, không làm ăn chỉ lo nhậu…”. Vịt trời nháo nhác kêu :”- Đừng có mà hòng, không chia cho tao, không yên với tao đâu, tao kiện ra tận …Hà Nam Ninh”
Minh Hai lừ mắt:
–  Không yên cái gì? Cứ kiện đi. Tụi mày còn dính líu gì trong cái nhà nầy, tên tuổi đã cắt từ khi lấy chồng…
Bà Hai:
–   Im ngay. Tao còn đây, đừng có loạn lên.
Giọng điệu một thời chứa thổ đổ hồ, bén như dao cạo và đang là chủ nhân một đống vàng mới bình định được bầy con “- Xét cần là chơi tất… không cần giầy”.
Lạnh tanh, bà Hai phán:
–  Tao cho bao nhiêu đó, không lấy thì thôi.
Tuy xế chiều, nhưng bà vẫn thừa minh mẫn, gửi tất cả vào ngân hàng. Nhà cửa được xây mới khang trang, để tiếp khách và bầy con, từ dâu đến rễ, ngày nào cũng quà cáp, nườm nượp vào ra… Chao! Lễ nghĩa phục hồi.
Hết bĩ rồi thời lại thái nhé. Qua rồi thời gian khó. Tay ga vù vù chạy… và ai cũng ghẻ lạnh nhìn phế nhân Ba Gà. Cả cái hộ khẩu bà Hai cũng chẳng buồn nhập cho con. Tên tuổi làm gì với tàn phế? Phải vậy không? Hay sợ có tuổi tên rồi Ba đòi chia của nả? Ừ, dám lắm…Thôi lơ đi cho chắc.
Buồn lắm. Ba lăn xe từ quán nầy sang quán khác, ké li rượu thừa của máy thằng lành lặn. Cay đắng nên phân trần và kể lễ:
–   Đù má…. thằng Hai đừng đạo đức giả… Nó nói tao làm nhục gia đình. Trộm cắp và xì ke ma túy. Nó đẹp lắm, hay lắm sao? Đù má… không có tao…
Thiên hạ mà… họ đểu lắm, cứ chuốc cho Ba Gà dăm chén để nghe chuyện đại gia Minh Hai, một thời “đạo chích” ở Tây nguyên… Chân liệt nên miệng Ba phát triển theo hướng ” mất nầy được kia”. Lê xe về nhà Ba xỉa xói mẹ:
–  Bà đừng phủi sạch công tui. Bà dùng tiền ăn cắp của tui để ngồi sòng. Tui đâu ăn một mình… Bà không phải mẹ, đứa nào bà cũng coi là con, chỉ có tui bà coi không bằng một con chó…
Với bầy em, Ba lôi ra từng đứa một. Đứa nào cũng tày đình những tội là tội… Cứ thế rượu vào là Ba chửi. Thời nầy rượu rẽ mạt, chỉ cần hai xị là bá tánh đã nghe được  một dọc từ Bến Hải đến Cà Mau….Quan trọng là nghe được tiếng sụp đổ của câu Phú quí sinh lễ nghĩa mà Minh Hai cố dựng lên từ lúc có tiền.
Ngày nào cũng nghe chửi, họa có thánh mới nuốt được cục tức vào lòng. Anh em Minh Hai nuốt sao trôi. Chuyện nhà cứ lôi cho ba quân cười vỗ mặt. Bà Hai có lúc còn đấm ngực kêu lên:
–  Trời ơi, cho hắn một búa, hắn chết đi cho rồi.
–  Thì bà cứ giết tôi đi – Ba gà đốp chát lại –
– Mày muốn chết thì tao cho chết – Thằng em tên Thành cầm cây lao đến đập vào chiếc xe lăn. Hôm đó chắc uống nhiều nên Ba chửi ầm ỉ . Nghe ồn ào, đang bia bọt cùng bạn bè Minh Hai về. Năm thằng vai u thịt bắp mồ hôi dầu, thằng nào cũng đỏ ké vì men. cái máu xem trời bằng nửa hạt tiêu bừng dậy, lao vào đấm đã gã tàn phế Ba Gà. Thiên hạ đứng coi chơi, chả ai can, mà can cũng không được. Lỡ suông đòn ai chịu?
Và rồi cả năm anh em phải chịu trách nhiệm trước cái chết ba Gà. Chớ sao. Với luật pháp con người là vốn quý, mọi hành vi xúc phạm nhân thân người khác đều phải chịu trách nhiệm hình sự.
Còn bà hai Dậu? Sau khi năm đứa con lần lượt tra tay vào còng, bà ngơ ngơ ngẫn ngẫn. Có khi đang ngồi bà đâm đầu bỏ chạy.
Nga – Đứa con gái không chồng rượt theo:
–  Mạ..đừng chạy… mạ ơi…

NGUYỄN TRÍ