DƯỚI HIÊN MƯA

nguyendangtrinh

Nhỏ trú mưa ta cũng trú đời
Tình cờ hiên phố đứng song đôi
Cơn mưa cắc cớ lay phay mãi
Sợi vắn sợi dài vương tóc ai.

Mắt rợp mi cong khép ánh nhìn
Cánh môi mòng mọng hững hờ duyên
Xinh xinh chiếc cặp che tầm ngực
Trắng muốt bàn tay đôi ngó sen.

Ta muốn làm quen mãi đắn đo
Bao nhiêu ngôn ngữ của nhà thơ
Chợt quên chợt nhớ tan thành khói
Mưa tạnh bao giờ đứng ngẩn ngơ.

Làm như nhỏ cũng hiểu hơi hơi
Khe khẽ chào nhau thoáng nét cười
Tiếng guốc xa dần sau góc phố
Quanh đây còn đọng chút hương rơi.

Chiều nay xớ rớ ngóng chiều xưa
Mái phố lưa thưa phượng chớm mùa
Nhừa nhựa tiếng ve chùng nỗi nhớ
Mình ta côi cút dưới hiên mưa…
(1972-1974)

NGUYỄN ĐĂNG TRÌNH

MAI PHỤC

hochibuu

bụi giang hồ trêu áo
rượu tứ hải một bầu
ừ, thì ta khờ khạo
yêu chỉ mùi hoa ngâu !

chở nỗi buồn khép kín
ta đóng băng đời mình
cần gì mà luồn lách
ta cười mình phiêu linh

em mai phục chờ ta
bắn mũi tên tình ái
đời lồng lộng bao la
ta thọ tiển em rồi ?

đừng nhân danh gì cả
ngộ nhận hay ngậm ngùi
khi chưa là gỗ đá
vết thương còn chưa nguôi…

hồchíbửu

Ô Cửa

tranhoaithu

Ngôi trường cũ có bao nhiêu ô cửa
Để tôi về đếm những đám mây
Tôi sẽ gọi một bầy chim sẻ nhỏ
Những con chim từ xa vắng lạc bầy

Tôi sẽ đứng như một người thiên cổ
Lớp học buồn, như từ cõi cô đơn
Thầy ngồi đó, đôi vai gầy tóc bạc
Chút ngậm ngùi, cơn nắng đọng hòang hôn

Tôi sẽ về để biết mình bé dại
Hôm nào đây, chạy đuổi cuộc hành trình
Sông núi ấy, hai bên bờ cách trở
Đứa nào còn, nào mất giữa đao binh

Tôi sẽ nhớ một người tôi yêu dấu
Người nào đâu, về lại buổi hôm qua
Dấu chân nhỏ như vết hài vạn cổ
Đôi mắt nào theo dõi cuộc đời ta

Tôi sẽ nghe những hồi chuông lễ sớm
Đứng bên cầu tôi sẽ đợi chờ ai
Trong sương muối, người còn mang áo trắng
Trắng cả vùng trời, trắng cả đời trai

Tôi cũng hiểu rồi cuối cùng thua lỗ
Khi bỏ trường tôi ra đứng bờ sông
Người bên ấy đang đợi thuyền ghé bến
Tôi bên này, mưa bấc lạnh căm căm

Dù dối lòng như cuộc đời chàng Dũng
Vì đám mây bên ô cửa gọi mời
Tôi bỏ xứ lao đầu vào binh lửa
Coi cuộc đời như một chuyện rong chơi

Và người ấy qua dòng sông sương muối
Tôi lên rừng theo dòng thác binh đao
Và người ấy theo sông về biển lớn
Tôi tội tù trả nợ kiếp bò trâu

Giờ thiếu phụ đã nằm trong lòng biển
Tôi về Đông, về Bắc, biết về đâu
Trăng thiếu phụ tôi mang vào song cửa
Cho một lần, cho vô tận thiên thu

Trần Hoài Thư

Vầng Trăng Cũ

tonnuthudung

Tắt đi vầng trăng cũ
Tháng tám về không hay
Ôi nụ cười muôn thuở
Hiu hắt trời mưa bay

Tắt đi vầng trăng cũ
Trong mắt người năm xưa
Tôi nằm nghe lá cỏ
Trở mình trong cơn mơ

Tắt đi vầng trăng cũ
Trên môi người thiên thu
Mưa xanh từ cõi nhớ
Đến nghìn trùng tương tư

Tắt đi vầng trăng cũ
Trong tim người âm u
Mưa giăng mờ thiên cổ
Che lối về xa xưa

Tắt đi vầng trăng cũ
Đêm mịt mùng chiêm bao
Tôi nằm nghe đất thở
Những giọt đời hư hao

Tắt đi vầng trăng cũ
Tháng tám về không hay
Ôi nụ cười muôn thuở
Hiu hắt trời mưa bay…

Tôn Nữ Thu Dung

Alibaba và câu thần chú

phamhoainhan

Alibaba đã quên mất câu thần chú!
À, phải nhắc một chút để các bạn nhớ. Alibaba đã rình nghe được 40 tên cướp đọc câu thần chú để mở cửa hang. Sau đó, đợi bọn chúng đi khỏi, chàng đọc lại câu thần chú ấy và chui vào hang, lấy được vô số vàng bạc quý giá. Sau đó nữa, Alibaba đã dùng mưu kế giết sạch 40 tên cướp. Từ ấy, chàng sống một cuộc đời giàu sang phú quý!
Các bạn nhớ chưa nè?

Alibaba vốn ham vui, tiền bạc sẵn có nên chẳng lo làm ăn gì cả, suốt ngày chàng chỉ lo chơi game online và cá độ bóng đá. Ăn chơi mãi thì núi cũng lở chứ nói chi của cải. Đến một ngày nọ, Alibaba hết sạch tiền.
Chuyện đó là chuyện nhỏ, vì trong hang vẫn còn vô số ngọc ngà châu báu. Chỉ cần mở cửa hang, vô rinh về là lại giàu ngay. Thế nhưng rắc rối là ở chỗ này: Sau bao ngày ham vui, Alibaba quên mất tiêu câu thần chú! Như các bạn đã biết, trên đời này chỉ có 41 người biết câu thần chú, đó là Alibaba và 40 tên cướp; bây giờ 40 tên cướp đã về chầu tiên tổ, chỉ còn lại mình Alibaba, thế mà chàng lại quên tuốt!

Chơi game nhiều quá mụ mẫm cả đầu, Alibaba chỉ còn nhớ password để chơi game chứ chẳng lần đâu ra được câu thần chú. Mà không có thần chú thì làm sao vô hang lấy tiền ra được chứ! Lo lắng, bần thần, Alibaba cầu thánh Ala giúp mình nhớ lại được câu thần chú thuở nào để được trở lại thành người sang giàu quý phái.
Đêm ấy, Alibaba nằm mơ thấy thánh Ala nhắc mình mấy chữ: Web 2.0.

Choàng tỉnh, Alibaba vội hỏi nàng Morgiane xem Web 2.0 nghĩa là cái quái gì. Nàng Morgiane thông thái trả lời ngay: Web 2.0 là mạng xã hội, là hệ thống web mà người ta có thể giao tiếp với nhau, người ta không chỉ đọc dữ liệu từ web mà còn có thể đưa dữ liệu của mình lên đó. Chẳng hạn như là Wikipedia, là blog…
Vội vội vàng vàng, Alibaba vào Wikipedia tìm mục từ Alibaba. Tại đó, chàng thấy ngoài định nghĩa Alibaba là tên một website thương mại điện tử bự chảng của Trung quốc, còn có một mục kể lại toàn bộ câu chuyện của chàng và 40 tên cướp. Trong câu chuyện ấy, câu thần chú được ghi rõ là: Vừng ơi, mở ra!
Alibaba lắc đầu chán nản. Chàng là người duy nhất trên đời biết rằng câu thần chú đó là xạo! Bởi vì hồi đó chính Alibaba đã bịa ra câu ấy để trả lời mấy tay viết truyện (ai ngu mà đem câu thần chú thiệt nói cho người khác nghe chứ?). Vì Wikipedia cho phép edit mục từ, nên Alibaba viết thêm vào đó câu: Tôi, Alibaba, xin khẳng định rằng câu thần chú thực sự không phải là Vừng ơi, mở ra. Ai biết được câu thần chú gin là gì, xin hãy thông báo cho tôi biết tại địa chỉ mail: alibaba@alibaba.com.
Alibaba chuyển qua blog. Chàng post lên một entry nhằm hỏi thăm xem câu thần chú của Alibaba là gì.
Chưa đầy 24 giờ sau, Alibaba đã nhận được vô số còm-men vào blog của mình. Chao ôi, đủ mọi loại còm-men. Chọc quê có, mỉa mai có, dạy đời có, hâm mộ làm quen cũng có, nhưng đa số vẫn là những còm-men nói cho Alibaba biết câu thần chú là gì.
Chưa hết, vì Alibaba có để lại địa chỉ mail trên blog nên tại hộp thư của chàng spam mail bay về như bươm bướm. Nội dung mail thì đủ thứ hầm bà lằng, nào là quảng cáo thuốc Viagra, nào là từ Nigeria đề nghị chàng tham gia vào một vụ chuyển tiền hàng triệu đô, nào là mời chàng lấy bằng MBA với giá rẻ mạt, có cái lại mời chàng cung cấp thông tin để đưa tên chàng vào quyển Who is Who?… dĩ nhiên cũng có vô số mail đề xuất câu thần chú.

Chính vì được giúp đỡ quá nhiều như vậy mà Alibaba bế tắc, trong cả ngàn câu thần chú ấy cái nào là nói dóc, cái nào là nói xạo, cái nào là nói giỡn, cái nào là nói đùa… chàng bí!
Cho đến giờ này, chàng Alibaba tội nghiệp vẫn đang loay hoay với cái đống hỗn độn ấy, chưa biết làm sao tìm ra câu thần chú quý hóa của mình!
Riêng tôi, tôi nghĩ câu thần chú chẳng ở đâu xa, chính là Web 2.0 mà thánh Ala đã báo mộng cho Alibaba. Tận dụng và khai thác Web 2.0, bạn có thể làm giàu cho mình về vật chất. Nếu không giàu của cải được, qua đó bạn cũng có thể làm giàu về trí tuệ và cảm xúc. Bằng không nữa, bạn cũng có thể làm cho mình giàu thêm bạn bè, giàu thêm những mối quan hệ từ khắp mọi nơi trong thế giới phẳng này, phải không các bạn?

PHẠM HOÀI NHÂN

CAU CAY

kimvovong

Có phải tóc dài mà môi nhớ
Hay tại me chua nên quýt buồn
Hay bởi cau cay mà anh mộng
Bé mặc áo vàng qua sông sáng nay

Có phải vì đôi mắt đá chanh
Mà Tương Kiều mây trắng bay nhanh
Với tay anh hái cành thiên cổ
Tặng bé như ngày xưa ái khanh

Có phải vì môi bé ô mai
Bé chưa cười mà anh đã say
Có phải sầu rơi từ vạn cổ
Rơi rớt về những dấu chân phai

Có phải vì cổng trường khép kín
Mấy chuyến xe qua ngơ ngẩn anh nhìn
Bé viết những gì trên trang vở mới
Những ngày đầu thu mưa nắng bất minh

Kim Vô Vọng

Kí ức Nha Trang

tranthitrucha

Tôi rời Đà nẵng trong buổi sáng mưa dầm ướt át để chạy phía trời nắng ấm. Đó là Nha Trang! Vùng đất xa lạ có gì quyến rũ mà cứ đọng mãi trong tôi những kí ức khó quên?!….

Mùa hè năm đó tôi 18 tuổi, sau khi thi xong đại học, nằm lên nằm xuống, đi ra đi vào trong chờ đợi âu lo, thắc thỏm, bạn bè đứa thì vượt biên, đứa thì trốn nắng ở đâu đâu…Mẹ tôi nói :
Con sắp xếp hành lí đi Đà lạt với me!
Thật hở me? Đi chơi hở me?
Đi tìm cậu con.
Tôi mở to đôi mắt nhìn me, me tôi nói nhỏ nhưng mắt me cúi xuống thật buồn:
Là con rơi của ông ngoại me, đã thất lạc từ nhỏ, ông bà ngoại chỉ có một mình mẹ của me là con gái nên me muốn đi tìm cậu về để cậu thờ tự …
Sao me biết cậu đang ở Đà lạt?
Cậu đã viết rất nhiều thư cho me và nhờ xe khách đi ngang qua đây đôi xuống, nhiều người nhặt được đem đến cho me.
Câu chuyện của me tôi thật kì lạ nhưng chuyến đi xa đầu tiên làm tôi háo hức mà chẳng để ý gì những giọt nước mắt của mẹ lặng lẽ suốt cả chuyến đi.
Ngày đó không có những chuyến xe chạy suốt Đà nẳng – Đà lạt như bây giờ, muốn đến Đà lạt phải dừng lại ở Nha Trang một đêm, rồi sáng hôm sau sắp hàng chen lấn mua vé lên Đà lạt…
Hành trình khoảng hơn 500 cây số dài như bất tận và mệt mõi vì những kiểm soát, bắt bớ, xin xỏ…và hàng hoá thì tả phỉ lù…hình như không có gì là ngưới ta không mua bán, giấu diếm…
Tôi ngồi lặng bên cửa xe nhìn bóng chiều đang xuống dần trên biển Nha Trang, có một đôi mắt từ dãy ghế bên kia đã nhìn tôi chăm chú trong suốt chuyến đi. Xe dừng lại bến, người có đôi mắt đó đã nói chuyện với mẹ tôi thật thân tình, mẹ tôi vốn kĩ tính hay đa nghi vậy mà đã đi theo chàng đến một khách sạn nhỏ để me con trú ngụ qua đêm ” Cháu là người Nha Trang, khu nhà trọ dành cho khách ở bến xe phức tạp lắm, cô và em ở đây yên tâm hơn…Bây giờ cháu về nhà gần đây, chào cô và em!….”
Sáng hôm sau, sự việc không dễ dàng như me con tôi nghĩ, chen lấn, sắp hàng đến phiên mình thì hết vé….Bó tay!…Cả hai me con đều chán nản, thất vọng, lo lắng…Đúng là tiến thoái lưỡng nan!..Chàng đã xuất hiện như một vị cứu tinh, me tôi kể lể với chàng như kể lể với người thân, chàng cười với me tôi nhưng mắt thì không rời tôi.
Cô đừng lo, ngày mai bằng mọi giá cháu sẽ mua được vé cho cô, còn bây giờ cô và em cứ nghỉ ngơi, tham quan…Nha Trang đẹp lắm !…
Buổi chiều chàng lại đến khách sạn trò chuyện với me tôi thật lâu… không biết nói những gì mà me tôi lại dễ dàng giao tôi cho chàng chở tôi đi chơi trên chiếc xe honda 50, có lẽ sự cảm nhận của người mẹ rất nhạy từ sự chân tình, thật thà của đối phương…
Con đường dọc theo biển dài hun hút, tóc tôi tung bay trong gió, chàng dừng xe ở một ngọn đồi thoai thoải nhìn lên biệt thự Cầu Đá, biệt thự của vị vua cuối cùng nhà Nguyễn. Tôi im lặng theo chàng trèo lên các bậc đá, cả một rừng phượng vĩ đỏ rực rợp kín biệt thự, bổng dưng tôi thấy rưng rưng…Màu đỏ của phượng đã gợi nhớ đến sân trường trong ngày hạ cuối… Thời làm học trò sách vở cầm tay với những giấc mơ trinh nguyên không còn nữa, những chiếc áo dài lụa trắng sẽ cất vào ngăn kéo…Con đường phía trước sẽ ra sao?!….Chàng rút khăn tay trong túi áo trao cho tôi thật nhẹ nhàng:
Hình như em sợ tôi phải không?
Dạ…
Em có biết vì sao tôi giúp mẹ con em không?
Dạ…không…
Vì mắt em trong và ướt quá!…nhìn thấy cứ ngơ ngác và tội nghiệp lắm….tôi không đành lòng…Thôi tôi đưa em về…
Vậy mà tôi cứ hoang mang, cứ sợ sệt cho đến sáng sớm hôm sau, khi chàng đưa me con tôi lên chiếc xe du lịch màu trắng, nhìn chăm chú vào mắt tôi qua cửa kính:
Em nói số nhà em ở Đà nẵng đi, tôi sẽ ra thăm em
Sao tôi lại cố tình nói sai địa chỉ vào lúc đó để tôi không bao giờ gặp lại chàng ?!…Để rồi từ đó nỗi ân hận cứ dày vò tôi suốt những năm tháng sau này. Tôi đã phụ bạc một tấm chân tình. Tôi mắc nợ Nha Trang cho tận đến bây giờ, chỉ cần nghe đâu đó giọng nói Nha Trang cất lên thì kí ức ùa về với bâng khuâng tiếc nhớ…

Hai năm sau, anh tôi đã chọn Nha Trang để dừng chân như một sự đền bù với nhiều cung bậc: hạnh phúc, chông chênh, bình yên…Tôi không biết anh đã ngồi bên bờ sông này bao nhiêu lần trong chiều dài bất tận của thời gian hơn hai phần ba đời người cùng với những người bạn của anh ?! Và tôi tha thiết được một lần nhìn thấy họ, ngồi với họ, hoà nhập cùng họ trong nỗi buồn vui. Tôi đã nổ lực để có cuộc gặp gỡ đó bởi vì đã thầm thì mãi câu thần chú nhiệm màu ” Đi sẽ đến, gõ sẽ mở, tìm sẽ thấy”.

Tôi đã tìm thấy những gì?!….
Anh tôi đã ngồi bên những người bạn ở bến sông để chờ đợi tôi trong hoàng hôn đã chuyển dần sang bóng tối, tôi nhìn thấy họ thật thân quen, không có gì lạ lẫm, không có gì e ngại…Họ là bạn của anh, đã chia sẻ với anh trong những ngày tháng cô độc khi rời xa quê hương…Bỗng chốc những mệt nhọc của hơn 500 cây số mà tôi đi qua bay mất, tôi thật sự thấy ấm lòng!…
Chị đã ngồi ở đó cùng với anh tôi và những người bạn, đôi gọng kính trên khuôn mặt hài hoà, nhìn chị cũng bình thường, hiền lành như bao nhiêu người phụ nữ khác mà khi đi qua ta rất dễ quên…vậy mà ngôn ngữ của chị thì thật khó quên…Thật là khó khi diễn đạt!…vừa hồn nhiên vừa ương bướng, vừa chân tình vừa gai góc, vừa thiện chí vừa bất cần…Chị muốn nói gì thì nói không cần dàn dựng, không cần giữ kẻ…giữa những người đàn ông tóc trắng kiêu bạc, phiêu diêu…Họ cười với chị và nhìn chị bằng đôi mắt của những người anh bao dung nhìn đứa em ngỗ nghịch mà họ đã yêu thương, chìu chuộng…Chị uống và hút thuốc như họ và có phần hơn họ.
Hình như quán bắt đầu thưa khách, thành phố này cũng đi ngủ sớm, chị đứng dậy và nói :
” TH, chị về đây!… chị say rồi !…”
Rồi đi thật nhanh…Tôi chỉ kịp nhìn thấy đôi mắt chị sóng sánh ướt sau làn kính trắng và giọng nói nghèn nghẹn…Có cảm giác như chị đang đi về phía tận cùng của nỗi cô độc!…Tôi tiếc là sao lúc đó đã không cầm lấy tay chị và nói một điều gì đó cho chị cười…

Chao ôi Nha Trang! thành phố này thật hào phóng và mã thượng!…
Thành phố đã đón tôi trong khoảnh khắc đẹp nhất của thời con gái….và thành phố này cũng quyến rũ anh tôi bằng tiếng hát ma mị của loài chim suốt đời cứ bay vờn trên sóng biển… để anh phải chông chênh, đau buồn nhưng rồi cũng chính vùng đất hiền hoà này đã trả lại cho anh sự bình yên, một mái ấm, người vợ hiền với những đứa con ngoan…. Và những người bạn Thơ!….

Trần thị Trúc Hạ

( Viết cho anh tôi và những người bạn Nha Trang…)

HỒN NHIÊN THÁNG CHÍN

nguyentancu

Áo bay trắng quá sân trường cũ
Tháng chín đơm bông những nụ cười
Sông kia ai chảy mà như ngọc
Biếc mắt, hồng môi, xanh tóc ơi!

Tháng chín nỗi buồn chạy loanh quanh
Mùa thu lá rụng xuống đường xanh
Mùa thu gió nhẹ như hơi thở
Mây trắng bay qua giấc mộng mình

Tháng chín chị đẹp với em thơ
Tóc thơm ai chải xuống đôi bờ
Cổng trường ai đứng sao buồn quá
Nghĩ gì tháng chín lại suy tư?

Tháng chín đây rồi em đã xa
Mùa thu thương nhớ hạ đi qua
Mùa thu rúc rích trong trang vở
Tháng chín cười vui cúc nở hoa.

NGUYỄN TẤN CỨ

CHO VỪA QUẠNH HIU

vungocgiao

em đi tóc giạt giữa đời
mắt đen khép lại một thời buồn tênh
môi thơm chìm khúc lãng quên
tay giăng sương khói lênh đênh bốn mùa

ta về phố gõ chân mưa
đốt thêm điếu thuốc cho vừa quạnh hiu !

vũ ngọc giao

HUYỀN SỬ MỘT TÊN LÀNG (hay là SỰ TÍCH HOA MA NƯƠNG)

nguyenvi

Hơn ba trăm năm trước. Làng tôi khi ấy chỉ khoảng hơn chục nóc nhà, toàn nhà mái tranh vách nứa. Đất làng rộng hẹp ra sao không ai buồn đo đếm. Mà đo đếm để làm gì khi tứ bề ngút ngàn đồi cát. Cây xương rồng mọc chen nhau, xếp hàng như người tham quan ngày hội chợ thời mở cửa. Cây ma dương thì mọc thành rừng, cây nào cây nấy gai chỉa tua tủa như kho giáo, lưới gươm. Tre trúc mọc hoang thành từng vạt dài, nhìn đâu cũng thấy màu xanh của lá luôn rì rào trong gió và đùa với cát bay.
Chẳng biết có phải đất lành chim đậu không. Cứ thỉnh thoảng lại có vài người lưng gồng vai gánh, dáng mệt lử như vừa vượt qua đâu hàng mấy trăm dặm đường, đuối chân dừng bước, rồi trụ lại, rồi dựng chòi vỡ đất tỉa bắp, trồng khoai. Cứ thỉnh thoảng lại có vài người quần áo rách tươm, dìu nhau đến từ phía biển, mệt mỏi dừng bước, rồi trụ lại, rồi dựng chòi trồng rau, đào củ, hái măng rừng sống qua ngày. Cứ thỉnh thoảng lại có vài người tướng mạo oai phong lẫm liệt, tóc râu tua tủa, kẻ đi bộ người lưng ngựa, bên hông còn giắt cả giáo gươm. Họ dừng bước, rồi trụ lại, rồi dựng chòi, chôn gươm giáo, vỡ đất làm ăn sinh sống. Cứ thỉnh thoảng lại có vài người dáng phương phi thanh tú, tay nải ngoài vài vật dụng thông thường, còn lại chỉ toàn sách với sách. Họ dừng bước rồi trụ lại, dựng chòi, nhận nơi đây làm quê hương thứ hai, sau cái nơi đã từng chôn nhau cắt rún.
Cứ thế. Người làng tôi đông dần, nhà cửa mọc lên nhiều hơn. Rẫy bắp, nương khoai lấn dần đám ma dương lẫn đám xương rồng, những đồi cát cũng lùi dần ra xa nhường chỗ cho hàng ranh, hàng rào đan ngang, xẻ dọc. Đình làng tôi cũng được dựng lên từ lúc ấy. Ngoài những dịp lễ lạt, vào những đêm trăng thanh gió mát, đám thanh niên có đủ nam thanh nữ tú rủ nhau hẹn hò, tụ tập nơi sân đình nhỏ to chuyện trò tình tự, hát đối trao duyên. Đám thanh niên trong làng càng thích tụ tập nơi sân đình còn vì lẽ, họ sẽ được nhìn ngắm và trò chuyện với nàng Nương – một thôn nữ vừa đẹp người, đẹp nết, lại hát hay, còn kể chuyện có duyên rất mực.
Ở tuổi mười sáu, mười bảy. Nàng Nương đã là cô thôn nữ nổi bật của làng. Tóc nàng đen dày óng mượt luôn xõa ngang lưng. Nàng dáng thanh tú mặt hoa, da phấn, mắt đen, mày liễu trông đẹp như tranh. Hình như trời bắt vạ nàng thì phải. Nàng đẹp vậy mà lại siêng năng chăm lo tươm tất trăm thứ việc trong nhà, nàng Nương còn sẵn lòng giúp đỡ bất cứ ai trong làng khi có việc cần nhờ. Chữ tài liền với chữ tai một vần, lời cụ Tố Như quả không sai. Đám gái làng ngày càng nạnh hẹ, tỏ ra ghen ghét, hắt hủi nàng Nương và hùa nhau dần xa lánh, cách ly nàng. Còn đám trai làng dù có chọc ghẹo, tán tỉnh nàng thế nào cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu dễ mến. Thua cuộc, bọn họ lại cũng hùa nhau đơm đặt nói xấu nàng Nương không biết bao nhiêu điều, không ngượng miệng. Đâu đó trong đám trai làng có kẻ xấu miệng còn tung tin nàng Nương là ma, chuyên ru ngủ, bắt hồn đám trai làng.
Buồn cho thói đời đen bạc, nàng Nương ngày càng lẫn tránh mọi người, không còn buồn tiếp xúc với ai. Vài người có việc đi ngang qua nhà nàng, liếc trộm chỉ thấy nàng Nương sớm tối chăm chút mấy khóm hoa vạn thọ, vài bụi cúc vàng và một loài dây leo lạ chưa từng thấy có trong làng. Rồi một đêm, dù trong nhà nàng ngọn đèn dầu vẫn leo lắt bóng, cửa nẻo vẫn mở, nhưng không còn ai thấy bóng dáng nàng Nương đâu nữa. Người có chút lãng mạn thì bảo nàng Nương đã bỏ làng tìm ra chốn kinh kỳ phồn hoa đô hội để hòa nhịp vào thế giới của văn chương, nghệ thuật. Người có tí máu của con nhà võ thì bảo, nàng Nương đã vượt ngàn dặm trường đi tìm minh chủ để đầu quân góp phần giết giặc, giữ yên bờ cõi. Kẻ xấu miệng thì bảo vì quá cô đơn, nàng Nương đã nghĩ quẩn tìm đến cái chết nơi bến sông nào đó. Gì thì gì, cả làng không ai dám đoan chắc nàng Nương đã đi đâu về đâu. Bởi một tuần, rồi một tháng trôi qua mà nàng Nương vẫn bặt vô âm tín, không lưu lại tí vết tích gì để biết rằng nàng còn sống hay đã chết.
Không người chăm sóc, khóm vạn thọ và mấy bụi cúc chết lụi dần. Riêng mấy dây leo lạ lại nhanh chóng mọc leo um tùm đầy trên hàng giậu quanh nhà nàng Nương. Từ các nách lá, từng nụ hoa mỏng manh, tím ngắt trộn lẫn chút màu xanh da trời, dáng tựa trái tim đang vỡ, chen nhau, lắt lay ngay cả trong làn gió nhẹ thoảng qua. Hoa lá như người, đượm buồn man mác như tiếc nhớ, bâng khuâng. Một đồn mười. Mười rồi đồn khắp làng, rằng nàng Nương chắc chết thật rồi, hồn còn vương vấn với làng hóa thành loài hoa lạ. Chắc hẳn phải là một nhà thơ, cấp làng, buột miệng đặt tên cho loài dây leo lạ cái tên, dây hoa Ma Nương. Lại mười người biết, rồi cả làng biết tên của loài hoa mới: Ma Nương.
*
Mấy trăm năm qua rồi. Quả tình không ai biết làng Từ Tâm quê tôi khi ấy có tên là gì, bởi cho đến giờ vẫn không thấy có bút tích gì ghi lại. Nhưng quả là đã có một thời, làng tôi có tên là làng Ma Nương thật. Tôi không chắc, rằng có phải người làng vì quá tiếc thương nàng Nương nên đã quyết định lấy tên loài hoa lạ nơi nhà nàng để đặt tên cho làng, hay không. Ngay một số cụ được coi là tiên chỉ của làng như cụ Hai Khướt, cụ Bảy Thoạt cho đến lúc quy tiên, cũng không dám chắc có phải ông bà xưa đã lấy tên hoa Ma Nương đặt tên cho làng hay không nữa. Cả đến thầy Tư Đài – một thầy lễ, đệ tử chân truyền của thầy Hai Khướt nổi tiếng một thời, giờ đã ngấp nghé tuổi bảy mươi, được xem như bộ bách khoa đại tự điển của làng – cũng phải chịu, không rõ! Đến như nhà thơ Lê Sa, một văn nghệ sĩ hiếm hoi của làng, khi hỏi đến chuyện này cũng phải bó tay…cam chịu trói, chứ nhất định không chịu nói rằng đúng, rằng sai. Tôi. Kẻ hậu sinh của làng, càng tịt. Đành phải vậy thôi, biết sao?

NGUYÊN VI