ĐI VỀ PHÍA MÙA THU

tranthienthi

chao ơi nắng quái gieo ngoài nội
vàng cả chiều tôi
vàng cả em
mà thương cánh bướm chao triền gió
giữ gìn không rụng xuống lòng đêm

áo khăn đã sẵn từ hôm trước
cứ giục đi về phía mùa thu
trông nhau chừng đã mòn con mắt
hỏi người nghe nói chỉ hình như

thì chỉ cười thôi
chẳng nói gì
mùa thu còn những ngàn dặm mây
tay trắng chỉ còn vin lấy gió
gọi hờ khản giọng những heo may

chao ơi
cánh bướm chao ngoài nội
có chở giùm theo những buồn vui
ta vẫn ngồi đây buồn hí hoáy
làm sao cũng chẳng thể quên người.

trần thiên thị

HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG NHÀ VĂN VÕ PHIẾN

dutule

Võ Phiến là một trong những nhà văn hàng đầu của 20 năm VHNT miền Nam, giai đoạn 1954-1975. Giai đoạn sự nghiệp văn chương của ông đạt tới đỉnh cao nhất là thập niên 1960s, khi ông di chuyển từ miền Trung vào Saigon. Ðó là thời gian ông xuất bản những tác phẩm được nhiều người biết tới, như: “Ðêm Xuân Trăng Sáng,” “Giã Từ,” “Thương Hoài Ngàn Năm,” hay “Thư Nhà,” “Ðàn ông,” “Ảo ảnh,” “Phù Thế” v.v.v

Trong một tiểu luận của nhà phê bình văn học Nguyễn Vy Khanh, ở hải ngoại, trước khi đề cập tới văn nghiệp của nhà văn Võ Phiến, thuộc thập niên 1960s, họ Nguyễn viết:
“…Miền Nam vĩ tuyến thứ 17 sau 1954 vốn quen với hai luồng văn học từ hai thủ đô văn nghệ, một mới, Sài Gòn và một cũ, Hà Nội, đã ngạc nhiên đón nhận một nhà văn từ miền Trung là miền đến lúc ấy vẫn nổi tiếng về thơ hơn là văn: nhà văn Võ Phiến gây chú ý ngay từ những tập truyện ngắn đầu tay xuất bản ở Qui Nhơn vào đầu nửa cuối thập niên 1950: Chữ Tình xuất bản năm 1956 và Người Tù một năm sau đó. Lúc đó ông cộng tác thường xuyên với tạp chí văn chương Mùa Lúa Mới ở Huế và gửi bài đăng trên Bách Khoa và Sáng Tạo ở Sài Gòn. Hai tập truyện ngắn Chữ Tình và Người Tù ra đời hợp không khí chính trị những năm đầu của nền đệ nhất cộng hòa, về văn chương không có mới lạ, có thể nói bình thường, hơi quê, văn theo tiêu chuẩn chung, chưa đặc sắc…”
Vẫn theo nhận định của Nguyễn Vy Khanh thì phải:
“…Ðến Ðêm Xuân Trăng Sáng, xuất bản năm 1961, tập truyện ngắn đồ sộ về số trang (370 trang, sau tách thành hai cuốn ÐXTS và Về Một Xóm Quê khi tái bản), Võ Phiến được người đọc nhìn như một tác giả điêu luyện, có tính chất “thời đại” với những phân tích tâm hồn và quan sát con người rất tinh tế. Nhân vật của ông thêm sức mạnh và “bản lĩnh”! Ðêm Xuân Trăng Sáng gồm 8 truyện ngắn Lẽ Sống, Tâm Hồn, Anh Em, Ðêm Xuân Trăng Sáng, Thị Thành, Thác Ðổ Sau Nhà, Về Một Xóm Quê, Tuổi Thơ Ðã Mất đến với người đọc như một bảo đảm văn tài của tác giả Võ Phiến. Nhìn chung, qua các truyện ngắn này, Võ Phiến chứng tỏ tài quan sát và phân tích tâm lý con người, tận cùng sâu thẳm của con người, tài xây dựng nhân vật vừa điển hình vừa đặc thù. Các nhân vật sống động với bề mặt diện mạo cử chỉ và bề sâu tâm tình súc tích. Họ là những người dân quê, là những ông phó lý, chủ tịch Liên Việt, những quân nhân hay ông tướng Hùng Sơn hoang đường…”
Ðó cũng là thời gian giới văn nghệ sĩ miền Bắc di cư vào Nam, hiện diện một cách lấn lướt, ồn ào ở hầu hết mọi sinh hoạt VHNT: Từ báo chí tới thơ, văn, âm nhạc, phát thanh, hội họa, kịch nghệ…
Do đấy, tôi không biết vì lý do tế nhị, hay bắt nguồn từ một nguyên nhân nào khác, một số nhà văn có ảnh hưởng lớn thời đó, như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Trần Phong Giao… đã đồng tình chọn nhà văn Võ Phiến, như một tài năng văn xuôi, đại diện cho những cây bút miền Trung. Và, nhà văn Bình Nguyên Lộc là ngọn cờ đầu của văn xuôi miền Nam…
Sinh thời, cố thi sĩ Nguyên Sa cũng biểu đồng tình với chọn lựa vừa kể, khi ông nhấn mạnh, đó là chọn lựa mang tính “quân bình ba miền đất nước.” Hoặc dí dỏm hơn khi ông dùng cụm từ “nhu cầu cân bằng sinh thái.”
Theo tôi thì, nhà văn Võ Phiến không phải là người tạo được văn phong (style) riêng, mới như Mai Thảo. Khi Mai Thảo là người khởi đầu cách biến những động tự, tính tự, trạng tự, giới tự, thậm chí liên tự… thành danh từ, làm chủ từ cho một mệnh đề.
Thí dụ, ngay từ truyện ngắn đầu tay, tựa đề “Ðêm Giã Từ Hà Nội,” viết năm 1954, phổ biến năm 1955, nhà văn Mai Thảo đã ra khỏi truyện ông bằng câu:
“…Bóng Phượng, bóng Thu nhạt nhòa dần. Rồi mất hẳn.”
Về phương diện ngữ pháp, “rồi” là trạng tự. Trước ông, chưa một nhà văn nào dùng trạng tự làm chủ từ cho một câu văn.
Cũng ở truyện ngắn vừa kể, Mai Thảo đã vào truyện bằng hai mệnh đề độc lập mang tính ẩn dụ khá dữ dội là:
“Phượng nhìn xuống vực thẳm.
“Hà Nội dưới ấy.”
Lại nữa, với trích đoạn sau đây từ truyện ngắn “Những Tấm Hình Của Chị Thời,” Mai Thảo còn đi xa hơn trong nỗ lực tạo một văn phong riêng cho mình, khi câu văn của ông, đôi khi chỉ có vài ba chữ… Văn phong này trước ông, người ta chỉ thấy trong thi ca chứ ít thấy xuất hiện trong văn xuôi:
“Và bây giờ là một đường phố xa lạ, chẳng có bướm vàng chẳng có bạn cũ. Những chùm hoa phượng đỏ chói của tuổi nhỏ bông hoa đã nở. Ðã rụng. Một năm học mới bắt đầu. Một năm học phường phố đầy vẻ xa lạ thù nghịch. Thù nghịch ngay từ căn phố Nhị vừa đặt chân tới. Thù nghịch ngay từ ngôi nhà ở đó những ngày trọ học của Nhị đã bắt đầu với Nhị bằng cái cảm giác rùng rợn của một kiếp lưu đày.”
Cách viết của Mai Thảo, sau đấy được nhiều người áp dụng. Hiện nay, nó đã trở thành bình thường, quen thuộc đến độ không còn ai bận tâm, thắc mắc về người khởi xướng!
Theo tôi, nhà văn Võ Phiến cũng không tiêu biểu như Bình Nguyên Lộc, người thủy chung chủ tâm chọn ăn ở ngôn ngữ Nam bộ.
Võ Phiến không cho thấy chủ tâm văn chương hóa những ngôn ngữ đặc thù của miền Trung. Chưa kể, khi di chuyển vào Saigon, ngôn ngữ địa phương ít ỏi, trong văn chương Võ Phiến đã rơi, rụng, dần
Vẫn theo tôi, tác giả “Thác Ðổ Sau Hè” cũng không bận tâm nhiều về những vấn đề mang tính triết lý, như sự phi lý của kiếp người hoặc, những vấn nạn thuộc về siêu hình, như vấn đề phải chăng thượng đế đã chết? Ông cũng không dễ dãi buông mình trôi theo những trào lưu văn chương, có tính cách thời thượng như hiện sinh, hay phong trào văn chương mới…
Võ Phiến là nhà văn chọn đi tiếp con đường của văn chương tiền chiến, với căn bản là sự ghi nhận những dữ kiện xã hội nổi bật, và nhất là khai thác tâm lý nhân vật…
Tuy nhiên, với biệt tài quan sát, phân tích tới chi ly, tỉ mỉ mọi sự kiện, kể cả những sự kiện nhỏ bé nhất, một khi lọt đã vào tầm nhắm của Võ Phiến, thì chúng được ông cho chúng một chiếc áo khác. Một linh hồn khác… Phải chăng vì thế, ông đã được phong tặng danh hiệu: Người có khả năng “chẻ sợi tóc làm tư.”
Về điểm này, nhà văn Nguyễn Vy Khanh, khi viết về giai đoạn mà, sự nghiệp văn chương của Võ Phiến nở rộ nhất, ở thập niên 1960s, cũng ghi nhận nhau sau:
“…Võ Phiến, một cây viết mới và ‘khác’, ông chẻ sợi tóc làm tư, viết những chuyện như ‘cái chạy loanh quanh của một con kiến vàng trên cái tay đầy những sợi lông măng của nàng’, hay truyện một anh cán bộ bị ‘phục viên’ vì sốt rét ngã nước. Nằm một chỗ tình cờ anh nhìn thấy một hạt thóc vương vãi đã nẩy mầm và cái lá non nhỏ đã nhú đang bay phe phẩy. Trong truyện Băn Khoăn, con người kháng chiến cũ ngồi ôn lại ‘quãng đời đầy buồn thảm, gớm ghiếc’ vừa qua đó của mình. Nơi kháng chiến, những cán bộ ở rừng như Lung (MÐCN) đạo đức khả nghi, đời sống sinh lý quá phóng túng, bất thường. Thác Ðổ Sau Nhà là một kết cuộc tự nhiên của Hạnh bỏ chồng vì anh đã bị vong thân chỉ nghĩ đến lợi dụng! Ðêm Xuân Trăng Sáng là một tập truyện ngắn đúng nghĩa, súc tích về bề dày, về nghệ thuật viết của tác giả. Cái tinh tế từ ba tập truyện đã xuất bản nay thành cay chua tàn nhẫn hơn…”

Tâm bút Võ Phiến, qua ‘Bắt trẻ đồng xanh’
Với tôi, ngoài nỗ lực đẩy dòng văn chương tiền chiến đi tới cùng đường của nó ở hai khía cạnh: Rọi lớn và đi thấu tới phía khuất lấp của những sự kiện đặc thù, tiêu biểu cho sinh hoạt xã hội thuộc đời đại của mình, và đào sâu khía cạnh tâm lý nhân vật… thì, Võ Phiến là một trong vài nhà văn lớn của miền Nam, giai đoạn 1954-1975, khi ông quyết liệt nêu cao lý tưởng dùng văn chương, tranh đấu cho những quyền làm người căn bản, như quyền: Tự do tư tưởng. Tự do tín ngưỡng. Tự do yêu thương. Duy trì nền móng gia đình…Vốn là những quyền tự do căn bản mà chủ nghĩa Cộng Sản chẳng những phủ nhận mà, còn thẳng tay xóa bỏ.

Ðể có một cái nhìn mang tính phác họa toàn cảnh, sinh hoạt 20 năm văn chương miền Nam, trong giai đoạn vừa kể, tôi trộm nghĩ, ở thời điểm đó, sinh hoạt văn học miền Nam có thể tạm chia thành 3 khuynh hướng chính, sau đây:

– Khuynh hướng thứ nhất, là khuynh hướng nỗ lực đi tìm cái mới cho văn chương, đứng ngoài mọi biến động xã hội, lịch sử. Khuynh hướng này được nhiều nhà văn miền Nam thời đó, hưởng ứng, xiển dương. Như thể đó là nhiệm vụ hoặc vai trò cao cả mà nhà văn, sau giai đoạn văn chương tiền chiến, được “vinh hạnh” nhận lãnh.

-Khuynh hướng thứ hai, là khuynh hướng “nhập cuộc.” Khuynh hướng này chẻ thành hai nhánh.

– Nhánh “nhập cuộc” thứ nhất, chủ trương lên án chế độ miền Nam. Ðược gọi vắn tắt là “phản chiến”hay, “thiên tả.” Ðặc điểm của khuynh hướng này là tuy lên án chiến tranh, nhưng chỉ “kết tội” chế độ miền Nam mà, không nhắc nhở gì tới “tội trạng” quyết tâm “giải phóng” miền Nam do chính quyền Cộng Sản Hà Nội chủ trương.

Sự thực, theo tôi, khuynh hướng này giống như một phong trào, tạo thành bởi những văn nghệ sĩ tự cho mình là thành phần trí thức, hay bị mặc cảm thuộc thành phần…kém trí thức… Nên đã hăng say tự khoác cho mình chiếc áo “thiên tả,” hầu có được nhãn hiệu “trí thức cấp tiến”! Ðó là một món hàng tinh thần, mang tính “thời thượng” rất “ăn khách” thuở đó, ở nhiều nơi trên thế giới.

– Nhánh “nhập cuộc” thứ hai, minh thị quan điểm ca ngợi những hy sinh xương máu của người lính VNCH, trong nhiệm vụ bảo vệ tự do cho miền Nam.

Là nhà văn nặng lòng với tương lai đất nước, dân tộc, nhà văn Võ Phiến không rơi vào một trong ba xu hướng văn chương mang tính thời thượng đó. Ông tách khỏi những dòng cuốn bất cập kể trên.

Ông trở thành nhà văn gần như một mình, đi trên con đường lý tưởng của mình. Giá trị những tác phẩm Võ Phiến viết ra trong giai đoạn này, hoàn toàn đứng trên phương diện ý thức hệ, chứ không phải là những phản ứng thụ động hay, những tranh đấu có tính cách…ngoài da, xức thuốc đỏ!

Do đấy, tôi không chút ngạc nhiên, khi người Cộng Sản miền Bắc đã đánh giá Võ Phiến như một “biệt kích văn nghệ” nguy hiểm hàng đầu!

Mặc dù không phải là nhà văn duy nhất chủ trương tranh đấu (bằng ngòi bút) chống lại lý thuyết, đường lối của chế độ Cộng Sản, vì cùng thời với ông, cũng có một vài nhà văn tố cáo, lên án chủ trương giới hạn mọi quyền sống căn bản của con người. Nhưng hầu hết họ biểu thị quan điểm của mình bằng những ẩn dụ, đôi khi rất khó nhận ra với những người đọc ít chú ý.

Phần Võ Phiến, ngược lại. Với tôi, ông là một trong rất ít nhà văn, công khai quyết liệt chống trả chủ trương triệt tiêu quyền làm người của chủ nghĩa Cộng Sản. Ông cũng là người gần như duy nhất, minh danh tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước những âm mưu “trồng người” tinh vi của chế độ Cộng Sản Hà Nội, qua tác phẩm “Bắt trẻ đồng xanh.”

“Bắt trẻ đồng xanh” của Võ Phiến, không phải là một truyện ngắn hay tùy bút. Nó là một tiểu luận. Phần riêng, tôi muốn gọi đó là Tâm Bút Võ Phiến. Bởi vì đó là một tiểu luận đầm đìa xót xa của một nhà văn, thấy trước bi kịch, phân tích từng chi tiết để dẫn tới cảnh báo nghiêm trọng về tương lai của cả một dân tộc.
Tôi nghĩ, đó là tâm-thái của một nhà văn trước những thảm trạng dân tộc, tổ quốc của ông ta.

Tâm Bút “Bắt trẻ đồng xanh” được Võ Phiến viết vào tháng 10 năm 1968. Ðó là thời gian thế giới bắt đầu bàn luận sôi nổi về một cuộc ngưng chiến tại Việt Nam. Ông dùng sự kiện thời sự này để làm một cuộc “rọi đèn” chói gắt nhất vào những mảng khuất lấp của những âm mưu, thủ đoạn của người Cộng Sản, trong quyết tâm thôn tính miền Nam. Mà, người đóng cùng một hai vai: Ðạo diễn và diễn viên, chính là ông Hồ Chí Minh, ngay tự những năm 1954, khi Hiệp Ðịnh Geneva, chia đôi Việt Nam, được khi kết:

Mở vào Tâm Bút của mình, Võ Phiến viết: “Trong bao nhiêu năm trời, chúng ta đã quen với nếp sống chiến tranh đến nỗi hòa bình làm chúng ta bối rối. Nhưng thiết tưởng ngưng chiến không đáng làm chúng ta bận tâm đến thế. Chiến tranh này sắp kết thúc, bằng cách này hay cách khác, hoặc sớm hơn một ít hoặc chậm hơn một ít. Chuyện phải đến rồi sẽ đến, nó xảy đến ra sao dường như cũng đã được trù liệu.”

Với bản lĩnh điềm tĩnh tới lạnh lùng (đôi khi mỉa mai, cay nghiệt) tác giả chỉ ra cho độc giả thấy những ngây thơ, thiển cận của giới lãnh đạo, hoặc những người làm chính trị ở miền Nam, nói riêng, phe tự do nói chung, tác giả viết tiếp: “Cái đáng bận tâm là những điều tiếp theo cuộc ngưng chiến ấy.

– Thì các vị lãnh đạo của chúng ta đã tiên liệu rồi: đấu tranh chính trị chứ gì? kinh tế hậu chiến chứ gì?

Ðấu tranh chính trị, nó hiển nhiên quá, nó sờ sờ ra đấy, tưởng như rờ mó được. Nói rằng trong giai đoạn tới ta với Cộng Sản phải đấu tranh chính trị với nhau, nói thế gần như không phải là tiên liệu gì ráo. Ðó là đối phó. Chuyện ấy đến ngay trước mắt rồi, ta buộc lòng phải đối phó tức khắc, thế thôi.

Nhưng nói thế còn là khá. Hầu hết mọi người chỉ chăm vào những cái gần hơn nữa: hàng mấy trăm ký giả mỗi tuần bu đến phòng họp báo của các phái đoàn Hoa Kỳ và Bắc Việt để ghi lấy dăm ba câu tuyên bố loanh quanh, các bình luận gia khét tiếng của báo này báo kia, đài này đài nọ bóp trán suy đoán xem lúc nào thì ngưng oanh tạc dưới vĩ tuyến 19 v.v… Thiên hạ theo dõi ý kiến của họ…”

Trong khi đó, đâu là đường lối hay chiến lược của người Cộng Sản? Trả lời câu hỏi quan trọng này, tác giả “Bắt trẻ đồng xanh” cảnh giác:

Trong lúc ấy nhóm lãnh đạo ở Hà Nội lặng lẽ lo liệu công việc mai sau: tức một cuộc chiến tranh khác. Một cuộc chiến tranh quân sự hẳn hòi. Và họ tiến hành thực hiện chuẩn bị, ngoài sự chú ý của dư luận: các bình luận gia có tiếng, khét hay không khét, gần như không mảy may quan tâm đến chuyện ấy.

Thế mà đó mới là chuyện đáng quan tâm. Thiết tưởng là chuyện đáng quan tâm hơn cả vào lúc này. Bởi vì nếu ta mù tịt về ý định của đối phương trong tương lai thì trong cuộc đối thoại thương thuyết với họ hiện thời ta làm sao biết đặt ra những điều kiện cần thiết?

Cuộc bắn giết sắp tới giữa miền Nam và miền Bắc đã được Cộng Sản xếp đặt từ lúc này, cũng như cuộc bắn giết thê thảm mười năm qua được họ xếp đặt từ trước tháng 7, 1954, trước ngày đình chiến theo Hiệp Ðịnh Genève…”


Ý thức hệ và tính nhân bản trong đời văn Võ Phiến

Khởi đi từ một sự kiện thời sự nóng bỏng, với một số ghi nhận vắn tắt, tác giả “Bắt trẻ đồng xanh” đã phác họa được toàn cảnh sự khác biệt mang tính quyết định sự tồn vong của hai miền Nam/Bắc.

Sau đó, ông mới đi ngược dòng lịch sử, một cách chi tiết hơn, vạch trần những âm mưu thâm hiểm của nhà nước Cộng Sản Hà Nội, ngay khi Hiệp Ðịnh Genève còn chưa ráo mực.

Trong những phân tích sâu sắc và rất tâm lý của nhà văn Võ Phiến thuở đó, có một chi tiết dường như chính quyền quốc gia không mấy quan tâm, hay chưa từng lên tiếng đề cao cảnh giác(?) Ðó là sự kiện những đứa trẻ được sinh ra bởi những “đám cưới cấp tốc” giữa những cán bộ tập kết ra Bắc và, những cô dâu ở lại miền Nam. Lớp trẻ này mai kia, khi trưởng thành, sẽ là một “đạo quân” lớn, làm nòng cốt cho những trận chiến khác. Những trận chiến sau Hiệp Ðịnh Genève …
Ở chiến dịch “Bắt trẻ đồng xanh” lần thứ nhất này, Võ Phiến viết:
“…Cuộc chiến này xuất hiện ngay từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát có múa, có bánh trái tiệc tùng… Nó xuất hiện ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến, những đám cưới lắm khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ tọa. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những kẻ ngã gục vào 1958, 1959, mà là những cô gái tức khắc biến thành góa bụa từ 1954.

“Dân chúng miền Nam ai nấy đều biết những bận rộn tới tấp, những công việc bề bộn ngổn ngang mà nhà cầm quyền Cộng Sản hồi ấy phải làm cho kịp trước khi rút ra Bắc. Trong hoàn cảnh rộn ràng bấy giờ, nếu không vì lý do quan trọng, chắc chắc đảng và nhà nước Cộng Sản hồi ấy không đến nỗi quá sốt sắng lo cưới vợ cho cán binh như thế. Chắc chắn. Dù tìm trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào của bất cứ dân tộc nào, cũng hiếm thấy một trường hợp chính phủ lo vợ cho quan binh túi bụi đến chừng ấy…”

Tới đây, hẳn bạn đọc đã liên tưởng ngay tới những đứa con được sinh ra bởi hằng ngàn phụ nữ thôn quê miền Nam, khi họ vô tình trở thành “con tin” hay “quân cờ” trong tay chế độ Cộng Sản miền Bắc; vì những ràng buộc tình cảm mặc nhiên giữa họ và những người chồng, cha của những đứa con, bao năm tháng không gặp mặt.

Ở đoạn văn trước đó, tác giả đã phân tích sâu sắc tình cảnh éo le đó, như sau:

“…Ngay từ đầu, tình cảm của những người này đã hướng về Bắc, theo bóng kẻ thân yêu. Thái độ và hoàn cảnh éo le của họ khiến nhà chức trách địa phương lo ngại, đề phòng. Do đó, họ thành một khối người dần dần sống cách biệt, nếu không là đối lập với chính quyền miền Nam. Một vài trường hợp đối xử vụng về bị khai thác, một vài sự hiểu lầm bị xuyên tạc: thế là mâu thuẫn giữa hai bên trở thành trầm trọng. Rồi một ngày kia, chuyện được tính trước sẽ xảy ra. Xin thử tưởng tượng: gia đình có đứa con hay người chồng ra Bắc năm 1954, hai năm sau, một đêm nào đó, có kẻ lạ mặt lẻn vào nhà, lén lút trao cho xem một lá thư và một tấm hình mới nhất của con hay của chồng từ Bắc mang vào, gia đình nọ làm sao nỡ tố giác kẻ lạ mặt, dù biết họ đang gây loạn.

Ðã không tố giác được, tất phải che giấu, nuôi dưỡng mối liên lạc. Từ việc này đến việc khác, gia đình nọ dần dần đi sâu vào sự cộng tác với tổ chức bí mật của đối phương, chịu mệnh lệnh của họ, rốt cuộc gia nhập hẳn vào hàng ngũ của họ…”

Giai đoạn hai, chiến dịch “Bắt trẻ đồng xanh” được Võ Phiến ghi nhận một cách chua chát rằng:

“…Cũng như hiện nay, trong giai đoạn ác liệt sau cùng của chiến cuộc tại miền Nam này, nếu không vì lý do quan trọng, đảng và nhà nước Cộng Sản nhất định không bao giờ khổ công gom góp thiếu nhi ở đây đưa ra Bắc, trải qua bao nhiêu gian nan khó nhọc, trong những điều kiện di chuyển nguy hiểm đến nỗi cả các binh sĩ khỏe mạnh của họ cũng phải hao mòn suy kiệt dọc đường.

“Ðưa thiếu nhi miền Nam ra Bắc, không phải Cộng Sản họ nhằm làm nhẹ một gánh nặng nuôi dưỡng, giúp các ông tổng trưởng kinh tế hoặc xã hội của chúng ta. Mọi người đều rõ, tại Bắc Việt và Trung Cộng, người ta tiết giảm sinh sản rất gắt gao: họ hạn chế hôn nhân, hạn chế luyến ái.

“Ðưa thiếu nhi miền Nam ra Bắc, cũng không phải Cộng Sản họ nhằm giúp ông tổng trưởng Giáo dục của chúng ta một tay để giải quyết nạn thiếu trường ở trong này/

Trong giới quan sát nhiều kẻ bảo rằng Bắc Việt kiệt quệ rồi, không đủ sức kéo dài chiến tranh nữa, họ bối rối lắm, luống cuống lắm. Dù không tin vào nhận định ấy, ít ra cũng phải chịu rằng lúc này họ bận trăm công nghìn việc, nếu chuyện bắt trẻ miền Nam không có một tầm quan trọng đặc biệt thì họ không hơi đâu nghĩ đến. Ðàng này họ đang ra sức thực hiện một kế hoạch bắt trẻ qui mô trên một phạm vi hết sức rộng lớn: đồng loạt, người ta phát giác ra trẻ em bị bắt ở khắp nơi trên toàn quốc Việt Nam Cộng Hòa, từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Pleiku, Kontum, đến Mỹ Tho, Cà Mau, người ta gặp những toán trẻ em chuyển ra Bắc Việt bằng phi cơ từ Cam-bốt, hoặc bị dẫn đi lũ lượt trên đường mòn Hồ Chí Minh, nghĩa là bằng mọi phương tiện, một cách gấp gáp. “Họ bổ sung quân số đó chăng? – Không đâu. Trẻ bị bắt có hạng mới tám chín tuổi. Trong những trường hợp khẩn cấp, họ có thể tạm sử dụng một số trẻ con bắt được ngay tại địa phương; chứ thành lập những đơn vị con nít như thế để dùng ngay vào chiến cuộc này là chuyện điên rồ. Không phải bổ sung quân số đưa vào chiến cuộc đang kết thúc đâu, mà là họ đang tổ chức chiến cuộc mai sau đấy…”

Với tâm lượng của một nhà văn đau đáu xót xa trước thảm họa của tuổi thơ miền Nam, trước khi ra khỏi những trang tâm bút của mình, Võ Phiến viết:

“…Hỡi các em bé của đồng bằng Nam Việt xanh ngát bị bắt đưa đi, từng hàng từng lớp nối nhau dìu nhau ra núi rừng Việt Bắc! Riêng về phần mình, các em đã chịu côi cút ngay từ lúc này; còn đất nước thì sẽ vì những chuyến ra đi của các em mà lâm vào cảnh đau thương bất tận. Tai họa hiện xảy đến cho các em cũng là tai họa về sau cho xứ sở. Ðã sáu tháng qua rồi. Dù người ta có thôi dài cổ ngóng về Ba-lê, để nghĩ cách cứu các em, thì cũng đã muộn.

“Nhưng đâu có ai chịu thôi ngóng chờ? Và trong không khí thấp thỏm chờ đợi hòa bình, ngày ngày báo chí chỉ những rập rình từng thoáng tin ngưng oanh tạc, tôi hướng về các em những ý nghĩ vô cùng buồn thảm, đen tối.”

Tôi nghĩ, chỉ với một tâm bút này thôi, chưa kể bao nhiều tác phẩm giá trị khác, nhà văn Võ Phiến là ngọn cờ đầu của văn học miền Nam, về phương diện ý thức hệ và tính nhân bản.

Một cách công bình, ngay thẳng, dù chính kiến có khác, tôi nghĩ, khó ai có thể phủ nhận tấm lòng, tâm hồn nồng nàn tình yêu dân tộc, đất nước của ông. Ðó chính là điểm lớn của cõi văn xuôi Võ Phiến vậy.

DU TỬ LÊ
(Garden Grove, tháng 9, 2014

Bởi không thể yêu nhau

dangkimcon

Bởi không thể yêu nhau
Nên chút tình còn thật
Để từng giòng nước mắt
Còn hẹn về mai sau

Bởi không thể yêu nhau
Nên đi hoài trong mộng
Bên đời nhau là bóng
Không ngại về nơi đâu.

Một kiếp nào viễn mộng
Một cuối đường thiên thu
Những hẹn hò, hờn trách
Như khói chiều tan mau

Đầu non kia tượng đá
Mắt vẫn còn xa xăm
Mặc rong rêu đông giá
Trái tim hoài bâng khuâng

Anh thấy em lặng lẽ
Thả mây trần gian bay
Em thấy anh gỗ mục
Xuôi theo giòng đời quay

Bởi không thể yêu nhau
Nên biết tình là thật
Mãi không còn không mất
Giữa sóng đời lao xao

ĐẶNG KIM CÔN

HÓT CHO MIỀN QUÊN LÃNG

authiphucan

những dòng xanh
chảy trên da phiền muộn
vòng khói trắng
quanh quẩn một nỗi sầu
ngập trong nhau đêm tối
hôn mắt nhau ngàn sau

cơn đau tìm cách quên ngày tháng cũ
em tìm anh nhức đầu

khi hừng đông trở mình ngoài cửa
giọt sương cuối cùng bỗng long lanh
em khép mắt

tìm tay anh gối đầu
tìm gối anh xõa tóc
tìm môi thở hơi sâu

những vòng quanh dự phần trò chơi ký ức
đậy điệm một nỗi chết
tiếng hót nằm đau…

âu thị phục an

NGÀY CHỦ NHẬT CỦA NGƯỜI SÀI GÒN

Tôi thuộc thế hệ mà trong giấy khai sanh, trong mục nơi sinh còn ghi tên đường bằng tên Tây – rue Paul Blanchy. Nói theo nam ca sĩ George Micheal trong album “Song of the last century”, tôi thuộc nửa sau thế kỷ trước.
Chẳng phải là hoài cổ gì, song, như người Pháp có câu nói:”Paris đã không được dựng nên chỉ trong một đêm”. Sài Gòn 300 năm hơn này cũng thế. Sài Gòn như một đô thị thực sự, mới chỉ bắt đầu chưa được 150 năm, kể từ sau khi người Pháp đổ bộ vào đây. Muốn hay không muốn, nếp sống đô thị của Sài Gòn này cũng xuất phát từ một khuôn mẫu mà các ông già xưa gọi là “cô-lô-nhền” (colonial), nay gọi là thuộc địa. Muốn hay không muốn, cái khuôn mẫu đó cũng đã tồn tại gần trăm năm, trước khi nhường chỗ cho một hình thái đô thị khác như đáng thấy ngày nay.
Sài Gòn khi đó vẫn còn chưa lớn rộng như bây giờ. Đường Nguyễn Văn Thoại (ngang khu chợ Tân Bình bây giờ) vẫn rậm lá rừng cao su. Thậm chí đọan từ Lăng Cha Cả đến ngã tư Bẩy Hiền, trên đường Hoàng Văn Thụ bây giờ, vẫn còn là khuôn viên của một trung tâm khảo cứu nông nghiệp.
Sài Gòn thời đó vẫn còn giữ nguyên khuôn mẫu của một thị trấn, bourg, và lối sống thị thành, bourgeois, trong ý nghĩa của những “đô thị” nguyên thủy và thị dân trước khi trở thành “tư sản”. Một bourg ở Châu Âu quây quần quanh tâm điểm là mái nhà thờ. Bên cạnh đó là tòa thị chánh. Ở đó sẽ có một quảng trường, place, park. Chung quanh đó là cái quán rượu, hàng bánh mì, như là điểm hẹn của cả thị trấn. Người Pháp đã mang cái mô hình đó vào Sài Gòn này. Với nhà thở Đức Bà trên ngọn đồi cao nhất thành phố. Nhà Bưu Điện ở bên cạnh. Đổ dốc xuống là rue Catinat. Quẹo trái là tòa thị chánh, Hotel de Ville, hết dốc là Nhà Hát Lớn, Theatre municipal, quanh đó là quán xá,. Những Givral nổi tiếng với “Người Mỹ Thầm Lặng”, La Pagode, Brodard là những điểm hẹn của các “ông Tây bà Đầm”. Trong tiếng Pháp có một động từ rất dễ thương, động từ “s’endimancher” đến từ danh từ “dimanche” (ngày Chúa nhật), nghĩa là diện đẹp để đi nhà thờ vào ngày Chúa nhật.
Người Pháp ra đi, lớp thị dân giàu có thế chỗ. Sáng Chúa nhật, những chiếc Peugeot 203, rồi thì 403 cứ thế mà đậu chung quanh nhà thờ Đức Bà. Từng gia đình nắm tay nhau vô nhà thờ, rồi trở ra. Trước khi lên xe ra về, cả nhà quây quần trước hai kiosque bánh mì. Hai bên tòa nhà Bưu Điện xuất hiện hai kiosque chuyên ban bánh mì và bánh ngọt, bên trái là quán “Nguyễn Văn Ngãi”, bên phải là “quán Bưu Điện”. Người sành điệu mê bánh mì Nguyễn Văn Ngãi hơn, nhất là bánh mì tôm (với sauce mayonaise), và bánh baba au rhum nồng nàn mùi rượu. Một ổ bánh mì tôm cho đứa con học hành khá nhất trong tuần, những đứa con còn lại, học kém hơn, thì chỉ được ổ bánh mì “paté” thôi. Một điểm tâm sáng thật “công bằng”, trước khi cả nhà cùng quây quần bên mâm cơm thịnh soạn của ngày Chúa nhật. Hạnh phúc gia đình là như thế. Và ngay cả cái chất thị dân đích thực cũng là như thế, ngăn nắp trong cả sự trù phú.
Người thị dân Sài Gòn đích thực không hề có lối nhậu vác cả két “la de” (bia), cả thùng “Budweiser”, cả chai rượu “Cognac” ra dằn trên bàn! (Cái kiểu uống trăm phần trăm, pha cả lít rượu và cả nón sắt đựng nước dừa “ô kê thau!” đó chỉ dành cho cánh lính trơn, thuộc “chỉ số bóp cò”, sống nay chết mai). Họ không chỉ thưởng thức từng ngụm Cognac. Martell cổ lùn vào Sài Gòn vào năm 1965 thay cho Martell cổ cao, từng ngụm lade, mà còn thưởng thức cả việc được người phục vụ rót từng ly cho họ. Động từ “Nhậu”, xin lỗi, không được dùng trong giới này. Người thị dân thực sự không tham “nhậu” bỏ bê gia đình, cho dù họ có là thương gia! Chính vì lẽ đó, những bữa cơm gia đình vẫn là tối thượng.
Sống như thế không có nghĩa là “Trưởng giả học làm sang”. Trái lại! Tỉ như tui ưa “gu” thuốc lá đen, tui hút “Bastos”, anh ưa “gu” thuốc thơm, anh hút Pall Mall, Lucky Strike, tùy anh. Anh ta ưa “gu” thuốc lá the, anh ta hút “Salem”, mặc anh ta. Không ai phải mặc cảm khi hút đúng “gu” của mình cả. Ông giáo sư, ông bác sĩ mà “ghiền” quá cũng hút “Bastos” như mọi người.
Người thị dân có “gia phả” biết thưởng thức tất cả trong sự thành thật với người, trung thực với chính “cái tôi” của mình, chứ không vong thân vì gói thuốc. Cũng như, nếu tui là công chức, nặng gánh gia đình, sáng sáng tui ra quán hủ tíu đầu đường, uống cà phê, ăn điểm tâm (bánh bao, xíu mại, há cảo…), đâu cần đợi đến ngày nay mới biết ăn cũng chừng ấy món mà phải tréo quai hàm đọc thành”dim sum”! Ngày xưa Tân Gia Ba (Singapore), Hồng Kông làm sao sánh nổi với Hòn Ngọc Viễn Đông này về sự thanh lịch.
Điều gì làm nên tính cách của thị dân? “Sự chịu chơi”? E rằng không phải. Mà là sự thanh lịch! Thật ra, sự thanh lịch đó mất dần từ đầu những năm 70, khi mà chiến cuộc khốc liệt đem lối sống “nhà binh” tràn đầy thành phố.

Tất cả rồi cũng qua đi. Hào hoa, món hàng xa xỉ trong thời chiến thì nay lại trở nên lỗi thời giữa nhịp sống công nghiệp gấp gáp thời bình. Thời nay, hiếm thấy còn một mẩy đấng mày râu mở cửa cho phụ nữ vào, biết kèo ghế cho phụ nữ ngồi. Bỗng dưng nhớ lại ca khúc từng đoạt giải Grammy “Where Have All The Cowboys Gone” của nữ ca sĩ Paula Cole. Ôi, đâu rồi những đấng trượng phu!

DANH ĐỨC

LẦN VỀ LẠI QUY NHƠN

vancongmy

Chiều đi rất nhẹ
Nắng cũng bồi hồi
Em về ngang phố
Nhặt thưa tiếng cười
Ấu thơ ngày nọ
Còn hằn mắt môi.

Không ngần cũng ngại
Em bước ngập ngừng
gót son tê tái
Khiến người rưng rưng

Chiều qua góc phố
Cây cao cúi đầu
Hỏi thầm bóng đổ
Má hồng nay đâu?

Chiều nghiêng xuống phố
Có cánh chim trời
Mang theo nỗi nhớ
Thả hoàng hôn rơi

Em về ngang phố
Biến thành mây trôi…

VĂN CÔNG MỸ

HOA TÍM BAO GIỜ NỞ

buithanhxuan

Không mang đến tặng người
Cành hoa tím lả lơi
Nên suốt đời vẫn nợ
Em tôi một nụ cười

Em bay vào cõi xa
Bỏ lại trước hiên nhà
Chiếc độc bình sương bụi
Tôi nhặt về cắm hoa

Hoa không nở bao giờ
Tôi thành người ngẩn ngơ
Chiếc độc bình nghiêng ngã
Chờ em trong cơn mơ

Trăm năm đợi có nhiều
Ngàn năm được bao nhiêu
Hoa tím bao giờ nở
Cho tôi nhặt nắng chiều

BÙI THANH XUÂN

CỔ TÍCH DÀNH CHO TUỔI MỚI LỚN

linhphuong

Tôi đang tơ lơ mơ quyển truyện cổ tích Việt Nam, thì “ bộp “. Tá hỏa tam tinh, tưởng ông Thiên Lôi “ bụp “ mình, tôi hoảng hốt lăn đùng dưới gốc cây mận nằm im thinh thít. Một hồi lâu, tôi hoàn hồn đứng dậy, phủi đất bám đầy quần áo rồi ngó tới, ngó lui, ngó xuôi, ngó ngược truy tìm thủ phạm.

Ờ ! Trời đâu chuyển mưa mà có ông Thiên Lôi chứ ? A ! Tôi phát giác một chiếc guốc nhỏ nhắn màu tím thật xinh nằm chỏng gọng ngay chỗ tôi ngồi. Chà… chà, chiếc guốc này trăm phần trăm là của con gái. Ai nhỉ ?

Tôi nhìn dáo dác, tuyệt nhiên không một bóng người, chung quanh chỉ có đám Cúc Tần cao lêu nghêu hơn đầu gối của tôi, đong đưa trước gió. Chợt nhớ chuyện cổ tích cô Tấm mà má thường kể mỗi đêm trăng lấp lánh soi sáng hiên nhà. Chẳng lẽ… con quạ tinh quái nào đã “ chôm “ chiếc guốc của cô Tấm thời hiện đại làm rớt xuống vườn nhà tôi ư ?

Tôi mân mê chiếc guốc, thầm mơ ước điều kỳ diệu trong cổ tích sẽ trở thành hiện thực. Chủ nhân của chiếc guốc sẽ xuất hiện. Chừng ấy thì…hì…hì…, tôi sẽ làm sao nhỉ ? “ Sột soạt “, một cái đầu đen thủi đen thui nhô ra từ vòm lá xanh um giáp ranh hàng rào nhà tôi. Giật nẩy người, tôi há hốc mồm mà không nói nên lời trước cặp mắt tròn vo chăm chăm nhìn chiếc guốc trong tay tôi.

Con nhỏ kẹp tóc run giọng :

-Bạn cho tui xin lỗi…

Nhỏ phân trần… vì thích chùm mận oằn nhánh chìa qua khoảng sân nhà nhỏ, nhưng cao quá hái không tới, nhỏ bèn lấy chiếc guốc của mình ném lên, chẳng may… Tôi nhoẻn miệng cười. Thế là tôi và nhỏ quen nhau.

Hà. Ừ ! Cái tên con nhỏ thật đẹp. Ba nhỏ là một sĩ quan cao cấp trong quân đội, mẹ nhỏ là Trường phòng tài chánh công ty. Còn ba tôi, một ông thợ quèn, kiếm sống đắp đổi qua ngày, má tôi phải vất vả buôn bán mới nuôi tôi ăn học như bạn bè trang lứa. Vậy mà tôi và nhỏ rất thân nhau. Ở nhà một mình, nhỏ hay thơ thẩn ngoài vườn, không bao giờ ra khỏi cổng, nên bọn trong xóm gọi nhỏ là “ tiểu thư “. Sau này, nhỏ cho biết, hồi chưa quen tôi, nhỏ buồn lắm. Vì thế, trừ lúc cắp sách đến trường, lúc học bài, nhỏ thường rủ tôi bày đồ hàng ra bán. Chời ơi chời ! Tui là con trai mà chơi bán đồ hàng . Thiệt tình !

Nhưng chiều lòng nhỏ tôi cũng cắn răng mím lợi mà chơi. Nhỏ bê nguyên thùng nào : soong, chảo, dĩa, chén lẫn búp bê bằng nhựa, bảo tôi xé giấy làm tiền. Còn nhỏ thì hái lá mận, lá Cúc Tần nấu nấu, nướng nướng bán cho tôi. Kỳ cục thiệt nhen. Con trai mua bán đồ hàng với con gái chẳng giống ai cả. Nhưng biết sao hơn, khi nhỏ luôn luôn chưa hề trái ý tôi, ngược lại tôi cũng phải chiều ý nhỏ chút híu chứ ? Dần dần, tôi cũng thực sự say mê với trò chơi ấy. Hi hi nhất là trò chơi cất nhà chòi làm đám cưới, nhỏ thì làm cô dâu , còn tôi dĩ nhiên là chú rể rồi.

Cho đến một hôm…nhỏ tặng tôi cây viết ba ngòi hiệu Burberrys màu nâu, viền vàng tuyệt đẹp mà nhỏ bảo ba nhỏ mua lúc đi công tác bên Nhật về tặng nhỏ trong ngày sinh nhật. Nhỏ buồn buồn nói :

-Ba tui thuyên chuyển về đơn vị mới ở Sài Gòn, cây viết này tui rất thích nên dành tặng bạn làm kỷ niệm.

Tôi hỏi nhỏ :

-Hà thích, đem cho Nghị chi vậy ?

Nhỏ mỉm cười.

-Cái gì của em cũng là của anh mà…

Chời ! Tôi có nghe lầm hong đây ? Nói xong, nhỏ chạy vụt vào nhà, bỏ mình tôi đứng tần ngần trông theo…

… Hôm nhà nhỏ dọn, ngồi trên xe Jeep lùn , nhỏ vẩy tay chào tôi, đôi mắt đỏ hoe. Tôi thảng thốt gọi:

-Hà ơi đừng đi.

Nhỏ lắc đầu, đó là lần đầu tiên nhỏ đã không chiều ý tôi. Đứng bên hàng cúc tần, nhìn chiếc xe mang bóng dáng nhỏ mất hút sau dãy phố. Tôi chảy nước mắt.

Bao năm trời trôi qua. Cuộc chiến tranh chấm dứt . Cả gia đình Hà sau năm 1975 đã định cư ở nước ngoài . Bây giờ, tôi vẫn nhớ Hà và mơ ước có một ngày Hà sẽ trở lại nơi này , nơi có khoảng trời êm ả bình yên của tuổi mới lớn giữa tôi và em . Nhưng dòng đời cứ trôi đi,,, trôi đi… trôi đi mãi . Còn tôi, tôi vẫn tin một ngày em sẽ trở về, dù điều kỳ diệu của chuyện cổ tích suốt đời vẫn còn nằm im trong trang sách.

LINH PHƯƠNG

BÓNG ĐỜI QUẠNH QUẼ

tranvannghia

Những chiếc lá bay chiều trở rét
Phố xưa mưa cũng nhớ theo về
Có bóng tình em loang loáng ướt
Xoè bàn tay lạnh hắt hiu che

Tôi mang dĩ vãng chìm trong gió
Lay nhẹ đường xao đám dã quì
Chao đắng mùa qua buồn đứng ngó
Còn vàng như áo thuở em đi ?

Lóc cóc đời nghiêng xe thổ mộ
Dốc sương côi cút tiếng thở dài
Dẫu có điêu ngoa lời hẹn cũ
Cố giữ riêng lòng sợi tóc ai

Nghẹn đắng tình xa hờ hững khép
Chạm đau tiếng khóc thuở dậy thì
Dáo dác tìm nhau mà không gặp
Để đời hiu quạnh nhớ mỗi khi…

TRẦN VĂN NGHĨA

chuyện bút

dunga

1.Chắc không có nhiều thứ vật dụng gắn bó với con người từ bé đến lớn ngoài áo quần giày dép nón mũ che thân, chén tô bát đĩa đũa muỗng để ăn nhậu và tiền để chi xài…

Có một vật, đã gắn bó với con người từ ngày hồng hoang, còn ăn lông ở lỗ (tức là chưa có đồ che thân, chưa có vật đựng thức ăn và cũng chưa có… tiền) đến tận thời kỹ thuật số này: vật để vẽ viết – cái que, hòn than, cây bút…

Dẫu bây giờ, gõ phím và rê chuột nhiều hơn, cây bút vẫn chưa rời nắp túi áo con người.

Mới quơ quào được tay chân, còn bò lổm ngổm, nếu vớ được cây bút chì, hòn than, cục phấn, con người sẵn sàng vạch những nét sáng tạo đầu tiên.

Đến ngày tay run lẩy bẩy, mắt mờ tai điếc, tuổi già cẩn trọng vẫn còn bắt con người vạch những nét cuối cùng của cái tên mình vào tờ di chúc!

Hầu hết mọi sáng tạo của con người đều bắt nguồn từ cây bút: viết văn, làm thơ, vẽ tranh, kiến trúc, viết nhạc…

Và mọi nền văn minh được lưu lại cho hậu thế cũng bằng cách ghi chép qua ngòi bút. Ngòi bút dẫn dắt con người đi xuyên thời gian không gian, từ bóng đêm mông muội đến ánh sáng hiện đại. Ngòi bút góp phần biến đổi con người từ một-sinh-vật trở thành một-lịch-sử, quán xuyến quá khứ-hiện tại-tương lai.

2.Cây bút gắn với một người, na ná cũng giống như nó từng làm với loài người từ khởi thủy đến nay. Bắt đầu từ hòn than cục phấn, vẽ nhăng nhít cùng nhà, đến cái bút chì – đen cũng như màu – nghuệch ngoạc những nét trên tờ giấy trắng.

Thêm một bước nữa để lớn lên, là lúc nhóc nắm cây bút chì lọng ngọng trong những ngón tay vụng về, tạo ra những nét bút còn vụng về hơn, tô những chữ đầu đời trên trang vở. Hình ảnh một nhóc, bặm môi hay thè lưỡi, vẹo đầu, nghiêng cổ theo từng đường chì là hình ảnh chung của nhân loại khi vẽ những bích họa hình bò ngựa trong các hang động thời đồ đá cổ xưa.

Khi cô giáo cho rời cây bút chì, chuyển qua dùng bút mực, là nhóc đã lớn hơn với những ngón tay cầm bút đã chắc chắn và thành thạo, đi thêm một bước nữa về phía trưởng thành.

3.Tôi được may mắn trong đời mình sử dụng hầu hết các loại bút mực.

Học trò tiểu học dùng bút chấm mực: ngòi lá tre, ngòi rông. Thời này cái bình mực không đổ là phát minh thần kỳ, giúp sách vở, quần áo các ông nhóc thôi loang lổ mực xanh mực tím.

Học trò trung học trở lên, dùng bút máy, bút bi. Cây bút bi xuất hiện ở miền Nam mang hiệu Bic với logo thằng người đầu tròn to. Bút bi là gọi theo bây giờ, chứ thời đó nó có một cái tên rất dữ dội làbút-nguyên-tử. Cái tên này từ đâu ra, hay đó là thời chiến tranh lạnh bom nguyên tử lơ lửng trên đầu thế giới, ám ảnh thời đại vào cây bút; hay ngòi của nó là một viên bi tròn, gợi lên hình ảnh của một nguyên tử! Như cây bút máy, cái tên cũng ám ảnh thời thế giới công nghiệp hóa, chứ máy móc gì đâu, nó chỉ có cái thêm ống đựng mực để cung cấp liên tục cho ngòi bút, khỏi phải chấm như cây bút thường.

Trước 75, miền Nam bút máy là Paker, Pilot. Sau năm 75, tiếp xúc với bút Hồng Hà, bút Kim Tinh từ miền Bắc. Thời khốn khó hậu chiến, có thêm nghề tái chế bút bi, ruột bút dùng xong bơm mực trở lại xài tiếp, gặp phải mực dở có khi dắt bút vào áo, mực chảy ra tè le tùm lum. Đầu bút bi trở thành là món hàng buôn lậu có giá.

Dân học kỹ thuật như bọn tôi, còn được sử dụng bút tire-ligne, một loại bút vẽ chấm mực, điều chỉnh được nét. Môn kỹ nghệ họa (giờ gọi là vẽ kỹ thuật) thời đó rất khắt khe, trên bản vẽ từng loại nét mịn, vừa, lớn… bắt buộc phải có độ dày giống nhau, không sử dụng tire-ligne thành thạo, có nghề, bài tập vẽ có nguy cơ rớt hạng. Sau này được dùng bút kim (chiến nhất là hiệu Rotring), sướng hơn tire-ligne do mỗi cây bút kim có cỡ nét khác nhau, khỏi phải điều chỉnh mệt xác! Bút gì mực đó, với dân kỹ thuật, mực Pelikan là số zách, đen không gì đen hơn, chịu được nước, khó nhòe.

Mê nhạc, tôi được Hạ Ngọc Tể bày cho làm cây bút kẻ 5 dòng: một miếng vỏ hộp diêm được cắt răng cưa 5 đầu nhọn, gắn vào một quản bút, thế là khỏe re như con bò kéo xe, một đường bút là có ngay 5 dòng nhạc đều tăm tắp.

Mê vẽ, tôi cũng từng xài bút lông cho các bức màu nước, panhxô cho các bức sơn dầu.

Chắc chỉ có cây bút lông ngỗng thất truyền là chưa xài thôi!

4.Lên lớp sáu, mẹ thưởng cho tôi cây bút máy. Lâu này thèm thuồng cây bút máy Pilot màu xanh ngọc, ngòi mạ vàng, vội vàng đến nhà sách, khảo giá rồi xin tiền mẹ. Khi mang về nhà săm soi mới phát hiện không phải là cây Pilot mà mình mơ ước. Một cây bút hàng nhái, giống y chang, chỉ có cái hiệu là hổng phải! Chạy ra nhà sách coi lại, cây bút thật có giá… trên trời. Nhà nghèo đâu có dám xin một số tiền lớn vậy!

Đau khổ tràn trề, trằn trọc suốt một đêm!

Hôm sau, vạch ra một kế hoạch liều mạng, lận lưng cây bút nhái, ra hiệu sách hỏi mua cây bút thật, cầm lên đặt xuống săm soi, và thừa cơ cô bán hàng lơ đễnh, tráo cây bút nhái của mình, rồi trả lại. Ông nhóc từ nhỏ đến lớn vốn thiệt thà, giờ làm việc dối trá, ngoài mặt làm bộ tỉnh nhưng trống ngực đánh rầm rầm, ruột gan rối loạn tùng phèo. Đến khi điệp vụ hoàn thành, giả đò bước chậm rãi ra khỏi nhà sách, vừa khuất cửa, ba chân bốn cẳng vội rảo lên, rồi chạy biến vào con hẻm quanh co một lúc mới về nhà.

Sự sung sướng được thỏa lòng ước ao, làm mờ đi mặc cảm tội lỗi. Nhưng vụ dối gạt này cả đời không thể nào quên được.

Cây bút này theo tôi mãi cho đến năm 75 rồi bị đánh mất cùng cái va li trong đêm chạy loạn!

DU NGÃ