BÀI HÁT MÙA THU

tonnuthudung

Đôi mắt đong đầy nước mắt
Xin em đừng khóc vì tôi
Có những mùa thu đã mất
Bóng mây vừa khuất bên đồi

Những ngón tay gầy che mặt
Ngọn gió xanh xao thở dài
Cánh buồm hẹn hò đã khuất
Chỉ còn tiếng sóng xa xôi

Bầy chim về ngang cửa sổ
Âm u buông khúc rã rời
Hạt sương long lanh vườn cỏ
Nghẹn ngào nghiêng giọt buồn rơi …

Tôn Nữ Thu Dung

BẢNG LẢNG TRỜI XƯA

tranvannghia

Rơi trên vai lấm tấm chiều
Có bông khế rụng hẩm hiu sân buồn
Nhớ tìm dớn dác trong sương
Bóng ai mờ bụi mặt gương đang thì
Dối lòng chẳng níu được chi
Để mai mốt cứ ôm ghì nỗi đau
Chua cay mà gọi tên nhau
Tiếng con dế lạc bên rào bâng quơ

Giá em đừng có bỏ bùa
Thì đời đâu phải dật dờ thế kia
Rơi trên vai gió chợt về
Có hương thời cũ hôn mê võng tình


TRẦN VĂN NGHĨA

Người Xa Người Một Bước Cũng Xa

tranvanle

Người xa người một bước cũng xa,
quay lưng ngó lại cũng xa mà
Lòng khi đã quyết thôi đừng nói
một tiếng gì dẫu rất thiết tha!

Người xa người con sông chia hai,
bờ bên kia thương chi bên này
Con đa đa bay vừa khuất bóng,
cảm ơn Trời chiều sớm còn mây!

Người xa người con trăng chắc buồn?
Hàng thùy dương ôi hàng thùy dương!
Sông nào xuôi mà không ra biển?
Buổi người về thường buổi hoàng hôn…

Người xa người ai ghi nhật ký?
Chừng mô thì chí lớn tung hoành?
Hỡi ơi tay nhỏ che ngày nắng
chắc gì mà nắng sẽ mong manh?

Mẹ, chị, em, người thân trở gót
lẽ nào là bụi vướng trên mi?
Một người đi một người đi biệt,
chữ nghĩa buồn muôn thuở biệt ly!

*

Xưa, Thâm Tâm làm thơ nước mắt,
sóng trong lòng là lệ rưng rưng…
Tôi, hôm nay làm thơ không khóc…
mà ngậm ngùi trước bóng tà huân!

Con trăng đầu tháng như cây lược…
gửi nhé cho em để chải đeầu
Có sợi tóc nào rơi nhỏ nhẹ
Thổi anh về với giấc chiêm bao…

Trần Vấn Lệ

THỜI KHỐN KHÓ MÀ VUI

buithanhxuan

Có ai lỡ cắc cớ hỏi tôi rằng thời gian nào trong đời cảm thấy hạnh phúc và thú vị nhất, tôi không ngần ngại mà trả lời rằng đó là khi mình và mọi người cùng đều khốn khổ như nhau.
Bạn sẽ bật cười khi nghe nói điều này nhưng hãy nghiệm lại thời gian sống của mình đã qua. Có thể bạn bất ngờ nhận ra điều này có ý nghĩa như thế nào với bạn. Biết đâu bạn cũng đang có cái thú vị như tôi vậy.
Đau thương cũng có cái thú của nó. Thú đau thương mà.
Ta thường ước mơ và thèm khát thứ mà mình không thể có hoặc có nhưng không đủ gọi là
Đó là những năm tháng sau 30/4 hay còn gọi là thời bao cấp
Tôi đã đi qua những tháng năm đó, đã trãi nghiệm bằng chính cuộc sống cuả mình và cảm nhận cái thú vị mà thế hệ con em chúng ta không có được.
Những năm đầu sau cuộc chiến ấy rất nhiều học sinh nam nữ không còn đến trường nữa vì mọi thứ thay đổi. Vì lí do này nọ, các bạn, những tiểu thư đài các, những yểu điệu thục nữ và những chàng trai mới lớn trước đây quen sống trong vật chất đầy đủ, được một nền giáo dục tốt đang dần thích nghi với cuộc sống mới. Những nàng thiên nga xinh đẹp lại biến thành vịt trời xấu xí. Những chàng trai thanh lịch một thời trở thành anh nông dân. Họ làm quen với cuốc xẽng, cày bừa hay lao động vất vã để sống.
Tôi là một trong số đó.
Gia đình tôi lúc ấy thật sự thiếu cái ăn. Ba mất sau ngày dứt chiến tranh hai tháng. Mẹ lăn lộn ra chợ đời còn anh chị em tôi tứ tán mỗi người mỗi phương.
Ngày trở lại thành phố người ta nhìn mình xa lạ nhưng rồi cũng quen dần với cuộc sống khó khăn. Với cái lí lịch tối thui của mình thì chuyện vào làm trong một cơ quan nhà nước là chuyện viễn tưởng nhưng không vì thế mà tôi nãn lòng. Vài lần làm lí lịch ra phường xác nhận đều được bảo về chờ chính quyền thẩm tra có khai đúng hay không. Vài ba tháng trở lại hỏi thăm, ông cán bộ có nước da vừa đen vừa tái bảo rằng bản khai lí lịch của tôi đã bị thất lạc. Vậy là làm lại cái khác.
Cuối cùng cũng nhận ra thân phận mình, tôi trở về chọn ngay góc ngã tư, che tấm ni lông mở nhà máy vá xe đạp. Lốp xe làm bảng hiệu treo tòong teng nơi trụ điện.
Những thân phận như tôi lúc ấy khá nhiều. Đều là những người có ăn học đàng hoàng nhưng chữ nghĩa không đổi thành cơm gạo được. Vậy thì liệu mà tìm ngã ba, ngã tư nào đó kiếm gạo đong cho chắc. Những con người đồng cảnh ngộ chia sẽ nhau từng điếu thuốc, li cà phê mới thấy tình cảm chân thật.
Vậy mà vui.
Thời bao cấp cái gì cũng thiếu. Khi chúng ta thiếu thốn thấy cái gì cũng quý, cũng có giá trị.
Được ăn no lúc đói khát mới thấy cái ngon ngọt của củ khoai lùi.
Sách cũng chẳng có nhiều để đọc. Văn học nước ngoài hầu như là sách của các nước xã hội chủ nghĩa. Thỉnh thoảng tìm được một cuốn truyện củ của ai đó còn dấu kỉ như báu vật là mặt mày rạng rỡ, hân hoan, hớn hở ngay . Thú vị vô cùng khi được ngấu nghiến từng trang sách truyện ấy.
Người thành phố thưa dần. Dân nông thôn ào ra như thác đổ. Họ là con, em, cháu chắt chít của mấy người “có công cách mạng”nên được vào làm công nhân ở các nhà máy, xí nghiệp. Họ nghiễm nhiên trở thành tầng lớp trên dù cho họ có là người ít học, xuất thân từ vùng trung du heo hút. Loại thằng tôi lúc đó không đáng để cho họ liếc con mắt chứ đừng nói được đứng ngang hàng với giai cấp của họ. Tôi vác đơn xin việc khắp nơi. Từ công ty vệ sinh, vét cống cho đến các công trường xây dựng trong thành phố đều lắc đầu khi tôi chìa cái lí lịch có lời phê “ Cha là sỹ quan địch. Bản thân đương sự cũng theo địch..” Bó tay!.
Rồi ông Trời cũng thương. Tôi được nhận vào làm công nhân nấu kẹo trong một nhà máy thực phẩm nhờ cái việc rãnh quá không biết làm gì nên đi dạy…bổ túc. Ông giám đốc ở cạnh nhà thấy thằng thanh niên hiền lành, đẹp trai như tôi mà không dung cũng phí. Vậy là tôi lọt vô giữa rừng hoa. Nhà máy hết tám mươi phần trăm là nữ. Nữ thành phố, nữ ngoại ô, nữ nông thôn đầy một rừng đương nhiên tôi trở thành thiên thần. Tuy vậy, dù tôi có là thần tiên đi chăng nữa cũng chẳng dám dây vào mấy em có bàn tay to bè, chai cứng. Cặp giò thì còn hôi mùi bùn nhưng lại chãnh chọe hơn con nhà quan, nói năng trịch thượng. Tốt hơn hết là cứ mon men đến gần mấy em thành phố có thân phận như mình mà làm bạn
Sau hai tháng quậy mấy chậu kẹo to bà cố, tôi được thăng chức lên chạy vật tư nhờ có cái bằng Ai Bi Em. Lúc đó tôi được xếp vào loại có học thức cao nhất trong đám công nhân nam. Còn nữ thì khá nhiều em được học hành nhưng gia đình thuộc loại ..chờ xếp loại.
Tôi vi vu khắp nơi từ Nam ra Bắc. Mỗi nơi tôi đến đều có những kỉ niệm đáng nhớ.
Trong một chuyến đi Hà Nội, một tối tôi vào quán cà phê ở Khâm Thiên cùng cô em gái tên Hà. Ngồi hơn hai tiếng cảm thấy bụng dưới hơi nặng nên tôi đến hỏi cô gái ngồi quầy “ Ở đây có toa lét không cô? “ Cô gái nhướng đôi mắt long lanh nhìn tôi “Anh hỏi gì ạ?” Tôi ngập ngừng “ Có toa lét không?” Cô gái hơi ngạc nhiên khi nghe tôi nói giọng miền nam “ Dạ, không có. Loại đó ngoài này không ai bán..” Tôi chưa kịp hiểu ra sự nhầm lẫn, cô gái nói thêm “ Quán em chỉ có nước chè, cà phê và các loại kẹo thôi. Loại Ta lét anh nói, không có” Trời đất! Khi hiểu được chuyện, bụng dưới tôi tức lắm rồi. Không còn xấu hổ, tôi nói “ Ý tôi là có chổ để đi tiểu không ạ?” Dưới ánh đèn vàng nhạt khuôn mặt cô gái đỏ bừng, tay phải bụm miệng cười không ra tiếng, tay trái chỉ vào đường luồng ra sau nhà.
Một chuyến đi khác. Chuyến cuối cùng vào ngày mười tám tháng chạp âm lịch năm bảy chín. Ra đến Hà Nội lạnh kinh hoàng. Tám độ C. Tôi vội vã đón xe ôm về khu tập thể nhà máy điện Yên Phụ thăm Hà. Chỉ kịp nói với em vài câu rồi vội vã quay lại xe lên Sơn Tây nhận hàng. Hà lấy tấm chăn của mình cho tôi quấn quanh người đỡ rét. Đó là lần cuối cùng tôi gặp Hà.
Tôi nợ em một chuyện ân tình, một tấm chăn và một lời xin lỗi.
Tôi còn nợ một cô gái khác nữa. Nợ đôi mắt cô gái Sơn Tây trên chiếc cầu treo băng qua con suối trong chuyến đi này
Trên đường trở về khi đến Quãng Bình trời gần tối, xe lại bị nổ lốp. Tài xế và phụ xe hì hục thay lốp còn tôi có nhiệm vụ đem nồi ra đốt lửa nấu cơm. Nước không có nên phải vào làng xin. Đang chạy lúp xúp trên đường đê, loay hoay với cái mũ lính Trung Quốc rộng rinh, rớt lên rớt xuống bỗng giật mình. Bảy tám người nông dân tay cầm gậy ùa ra vây chung quanh rồi hè nhau đè tôi xuống giữa ruộng, miệng hô “ Trói nó lại. Bọn tình báo Trung Quốc đấy!” Tôi bị đần cho một trận trước khi mấy con người điên cuồng này nhận ra tôi cùng “băng” với họ
TÔI ĐI LÀM GIẤY KẾT HÔN
Tôi là thằng ‘ba trời” nhưng nhờ phước đức ông bà để lại nên cuối cùng cũng có một em chịu lấy làm chồng. Chuyện như thế này
Chẳng là cũng nhờ cơ duyên lúc đó bọn Tàu với Việt Nam mình đánh nhau, đoàn thanh niên thành phố tổ chức một ngày chủ nhật lên núi Sơn Trà phá rừng, mở đường kéo pháo, chuẩn bị đối phó nếu bọn tàu cho máy bay vào không kích Đà Nẵng. Hôm đó tôi làm biếng, không muốn đi nên xì lốp xe đạp của mình, định xù. Mấy em gái trong xí nghiệp phản đối kịch liệt. ( có lẽ thiếu tôi mấy em buồn ). Vậy là một em làm ở phòng tài vụ được cử ra, giao xe cho tôi chở, hết thoát. Đoạn đường mười cây số đạp muốn xì khói nhưng tôi cũng ráng pha trò cho em vui. Tôi hỏi em “ Có biết bác học Ê đi xơn lấy vợ răng không? “ Em trả lời cộc lốc “ Biết, mà răng?” Tôi đùa “ Rứa thì tui cho em ba phút suy nghĩ rồi trả lời. Em có muốn mần vợ tui không”. Bụp! Bụp! Em đấm vô lưng tôi hai nhát rồi nhảy xuống đường, đẩy chiếc xe về phía trước. Tôi té chổng gọng, lọt gọn vô chiếc xích lô đang chạy bên cạnh còn em ngồi bệt xuống đường, xoa mông, miệng lẩm bẩm “ Qủy sứ! “
Thiệt tình ngày đó tôi chẳng có tình ý chi với em. Chỉ là một câu nói đùa cho vui, ai ngờ em ưng cái thằng “quỷ sứ ” tôi thiệt. Duyên nợ mô từ kiếp trước gỡ không ra.
Vậy là..
Hôm ra phường làm giấy kết hôn tôi run muốn xỉu. Cứ mỗi lần bước đến công đường phường, gặp mấy quan là hai đầu gối tôi đánh vào nhau lớp cớp, muốn sụm. Hai vợ chồng tôi được mời ngồi trên chiếc ghế cong cong như vành móng ngựa. Ông quan phó phường hỏi vài điều rồi đề nghị chúng tôi đứng lên, bắt đầu nghe tuyên ngôn vợ chồng.
Quan này khá lớn tuổi, mang kính lão dày cộm, cầm tờ giấy chứng nhận kết hôn xoay tới, xoay lui một hồi rồi nói giọng Quãng quê đặc sệt “ Thay mẹt chính quyền..” Tôi cố gắng để khỏi bật ra tiếng cười đang nén trong cổ họng. Ông quan phó ngước mắt nhìn tôi, đọc tiếp “ Tôi thay mẹt ủy boan phường đồng ý, công nhận anh..” Tiếng chít chít trong cổ họng tôi xì ra. Quan phó liếc xéo tôi cảnh cáo “ Nghiêm túc! “ Vừa nói, lão vừa nhìn vợ tôi đứng bên cạnh “ Tôi cảnh cáo anh..” Vợ tôi nhanh nhảu “ Dạ!” Quan nhìn qua tôi “ Tôi không núa với chị “ . Tôi gật đầu “ Dạ!”. Quan hét lên : “ Hai người đùa với tôi phải không? Có muốn tiếp tục không?“
Lúc này tôi chỉ muốn chạy ào ra đường mà cười một trận thiệt to cho đã. Trời đất ơi! Ông quan này bị lé. Nếu tiếp tục chắc chắn tôi sẽ không nín được nữa nhưng cũng cố kìm chế lại không để thoát ra mấy thứ đang ục ặc trong cổ họng. Quan đọc tiếp : “Anh Bùi Thanh Xuân, hai mươi sáu tuổi. Làm việc tại xí nghiệp bánh kẹo”. Hai con mắt quan chạy vòng vòng, lộn ngược..” Chị Lê Nguyệt Quế, làm việc tại xí nghiệp ..máy kéo “ Tôi đã cố gắng nín không bật ra tiếng rít giữa hai hàm răng trước đó nhưng khi nghe quan đọc hai chữ “ máy kéo “ tôi gập người, ôm bụng trước khi kịp bụm miệng không cho nước bọt bắn vào người quan. Cả chục người làm việc trong phường đều dừng lại nhìn tôi đang cúi đầu trên bàn, cười ha ha ha một cách sảng khoái, sung sướng. Quan phó phường đập bàn : “ Đồ mất dạy! Cút! Cút!..” Tôi nghĩ “ OK về thì về. Không làm được ở đây thì qua phường khác. Tui đâu ngán, quan lé ơi!”
Đời thuở nhà ai cả hai vợ chồng tôi cùng làm xí nghiệp bánh kẹo mà quan lại đọc vợ tôi công tác tại xí nghiệp..máy kéo.
Âm thầm ra công an chuyển hộ khẩu gấp. Hôm ra phường nơi gia đình vợ tôi đang sống để làm giấy kết hôn, tôi phải nhờ ông bạn của mình đi thế. Cái tính tôi hay cười. Vui buồn chi cũng cười. Nhỡ đứng trước quan phường nghe đọc bản án chung thân lại nhớ đến ông quan lé có lẽ tôi bị đuổi về lần nữa.
May mà thằng bạn tôi không phản phúc. Chỉ đóng vai chú rễ giả một cách có lương tri chứ không thôi tôi mất vợ như chơi
Chuyện ngày ấy có nhiều điều để nhớ. Thời khốn khó mà vui quý vị nợ.

BÙI THANH XUÂN

PHÁC THẢO MỘT NGÀY BUỒN

daolam

Một ngày!…Không còn là tri âm
Một đời!…Không còn là tri kỷ
Sẽ thiếu vắng chuỗi ngày hoan hỉ
Chim Sẻ…buồn! Hót khúc bi ai

Một ngày! Từng vạt nắng tàn phai
Trên ngọn sầu đông buồn hiu hắt
Vệt quầng thâm hằn sâu mi mắt
Uẩn khúc ca réo gọi sang mùa

Một ngày không còn khúc tụng ca
Trên môi khô tím lời dịu ngọt
Bản thảo buồn! Lấp đầy mối mọt
Chân dung chưa ráo mực …đành xa!

Một ngày niềm vui không mặn mà
Với nỗi buồn tự dưng vô cớ
Không Ta! Biển vẫn tràn bọt nhớ
Núi bạt ngàn màu xanh rất xưa

Một ngày… gần…cũng thật lạ…xa…
Xa…tít tắp mù khơi khói sóng
Gần…như thể nỗi buồn mong ngóng
Tri âm…tri kỷ…lạc dòng trôi…

TA NGỒI ĐÂY NĂM CÙNG THÁNG TẬN
PHÁC THẢO CHÂN DUNG KÝ ỨC BUỒN!

DaoLam

KHÚC THÁNG BẢY

hoangvancham

Bây chừ
Tháng bảy mưa ngâu
Hạt rơi phố cũ
Nghe nhàu áo xưa
Câu thơ vơi đầy tiếng mưa
Ngỡ như ô thước đong đưa nhịp cầu.
Phương em
Ở cuối giang đầu
Một mùa thu chín chia màu phôi phai.
Ừ thôi!
Tháng bảy nối dài
Giọt ngâu ở lại một mai tìm về
Gần xa mấy dặm sơn khê
Như lòng sau trước
Một bề thương mong.
Buông tay thả hết mênh mông
Giọt ngâu ở lại một…… bồng bềnh nhau.

HOÀNG VĂN CHÂM

TỪ SÔNG SEINE PARIS ĐẾN KINH NHIÊU LỘC SÀI GÒN

truongvandan

1
Sau chuyến “ Tập làm người hối hả…”, chạy hút hơi để bắt kịp những chuyến metro chuyển tiếp dưới lòng đất Paris, ngày về lại Sài Gòn nhà thơ Cao Quảng Văn và phu nhân gọi điện mời “nhóm 6 người” đến quán phở cạnh cầu Bông. Để thỏa cơn nghiện hương vị quê nhà sau những ngày xa quê gặm bánh mì baguette.
Sau bữa điểm tâm, anh Văn còn mời mọi người đến uống cà phê tới một quán nhỏ nằm trên đường Hoàng Sa, dưới chân cầu Thị Nghè. Cà phê thì cũng như mọi chỗ nhưng phong cảnh thì rất hữu tình. Nguyên Minh lững thững thả bộ băng qua đường, đi dọc theo kênh Nhiêu Lộc và sau mấy phút bước vào, “phán” một câu xanh rờn làm anh em nhảy nhỏm:
Đẹp! Chẳng kém gì sông Seine!
Thấy nét mặt “kinh hoảng” của mọi người, Nguyên Minh còn bồi thêm :
Sông Seine đâu có hơn gì! Nó chỉ sạch hơn thôi. Lúc phẳng lặng, dòng sông Seine soi bóng những lâu đài, còn kênh Nhiêu Lộc phản chiếu mái chùa hay bóng những hàng cây…
Mấy người chạy ra. Bán tín bán nghi… nhưng sau đó cũng phải công nhận là dưới ánh nắng mai, mặt sông phẳng lặng như gương.
2
Cách đây vài mươi năm, có lẽ chắc nằm mơ cũng không ai dám nghĩ là có ngày nhìn thấy một phong cảnh như thế trên dòng nước từng được mệnh danh là kênh nước đen, nước đặc sệt vì rác thải ngập ngụa, hôi thối và muỗi màng sinh sôi nảy nở.
Một điều không tưởng đã xảy ra.
Như từ một hàng rào kẽm gai rỉ sét, giờ biến thành dòng nước trong xanh tươi mát ôm lấy Sái Gòn. Cá tôm sẽ tung tăng bơi lội.
Nhìn dọc theo bờ kênh, chúng tôi nhìn thấy các cụ ông, cụ bà tập thể dục bên những bồn hoa vừa mới được trồng và rất nhiều người thả bộ thư giãn dọc ven bờ, nhìn kỹ chẳng khác một công viên thu nhỏ : thảm cỏ xanh trồng sát vỉa hè, những cụm hoa tầng thấp, tầng cao…khoe màu rực rỡ.
Chu Trầm Nguyên Minh trầm trồ :
Đẹp thật! Phải viết một chút gì đi về điều tốt đẹp này.
Tôi biểu đồng tình :
Anh còn nhớ những chiếc ổ khóa amorchetto gắn trên cầu đá Pont de Archevêque gần nhà thờ Notre Dame không? Hay hôm nào mình gặp nhau cà phê rồi luôn tiện gắn những chiếc khóa đầu tiên để chứng tỏ tình yêu thành phố và mừng dòng nước hồi sinh?
Phải đấy! Nguyên Minh chen vào. Và phải tổ chức một chuyến đi thuyền suốt tuyến kênh Nhiêu Lộc hay kênh Tàu Hũ. Phải viết về dòng kênh đã sống lại và vinh danh những cây bút một thời đã thương yêu thành phố mà chúng ta đang sống…
Mọi người chia tay và hẹn ngày gặp lại.

3
Sau các số Quán Văn 16, 17, 18, 19 với các chủ đề về Sông Seine đến sông Mường Mán, từ núi đồi Đà Lạt đến số 20 là số Xuân Quý Ngọ…anh em được nghỉ Tết một thời gian để chuẩn bị cho số 21 với chủ đề Sông Sài Gòn, dòng Nhiêu Lộc. Mọi người háo hức gọi nhau chuẩn bị bài viết…và hẹn nhau sáng 22/2/2014 để gặp cà phê, gắn ống khóa và ném chìa xuống lòng sông gần cầu Thị Nghè, rồi sau đó cùng đi bơi thuyền trên kênh Tàu Hũ…
Nhà thơ Đoàn văn Khánh và họa sĩ Nguyễn Sông Ba đã công phu chuẩn bị buổi tố chức cho ngày vui ấy.
Nhưng tiếc thay, trời chẳng chiều người!
Liên tiếp vắng mặt ba lần trong buổi ra mắt Quán Văn, sau Tết Quý Ngọ thì nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh phải nhập viện và chẳng mấy chốc đã giã từ anh em để về cõi vĩnh hằng. Sáng sớm ngày 22/2/2014 anh em vẫn họp nhau đông đủ, nhưng không phải để bơi thuyền mà tiễn bạn về nơi an nghỉ. Những giọt nước mắt xót thương…lặng lẽ chảy trên khuôn mặt mọi người.
Cũng mùa này năm trước, nhà văn Huỳnh Kim Bửu, tác giả tập tùy bút “ Nơi con sông Côn chảy qua” ở Qui Nhơn cũng đã từ giã Quán Văn để bay theo “tiếng hạc”!

4
Làm chủ bút một tạp chí văn chương, Nguyên Minh chắc phải là người “cứng cựa” và quyết đoán. Nhưng gần anh mới biết anh là người rất giàu cảm xúc. Trong rất nhiều tình huống, khi thấy đôi mắt anh ngấn lệ hay giọng nói run run là biết anh đang vô cùng xúc động.
Tai ương đến với bạn, Nguyên Minh trân trọng thắp một nén nhang. Nén nhang thành kính của anh là một nén nhang không khói, là tâm nhang, và chính là những trang sách góp nhặt công phu những bài viết của bạn hay của những ai viết về bạn, anh cẩn thận gói ghém cảm xúc và nước mắt anh em để tưởng nhớ những người bạn đã vĩnh viễn giã từ trần thế.
Quán Văn số đặc biệt để tưởng nhớ nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vì thế đã ra đời trong thời gian kỷ lục. Làm việc suốt 3 ngày đêm nên 10 bản in đầu tiên có nhiều thiếu sót, nhưng quan trọng là kịp đặt lên linh cữu người ra đi, góp mặt trong đêm thơ tưởng niệm trước khi tiễn bạn về nơi an nghỉ cuối .
Hình bìa nén nhang đó là bức ảnh chân dung hai người bạn ngồi choàng tay nhau ở Paris: Chu Trầm Nguyên Minh và Nguyên Minh. Hai-ông-Nguyên-Minh trong nhóm Quán Văn nên nhiều người ở xa thường hay lầm lẫn. Lúc ở nhà bác sĩ Thiện Paris, phần do tên dài, phần để tránh trùng lặp nên Chu-Trầm-Nguyên-Minh bị …rụng mất 50 phần trăm, biến thành Chu Trầm.
Hai người bạn gặp nhau từ nhiều năm trước trong tình yêu văn chương, lạc nhau trong chiến tranh loạn lạc bể dâu, hơn 35 năm sau tái ngộ và cùng cầm bút trở lại trong tình yêu Quán Văn. Họ viết như chạy đua với thời gian, chống lại bệnh tật và tuổi tác đang tiến dần.
Hợp tan, tan hợp. chuyện đời như gió thoảng mây bay.
Quán Văn đặc biệt là nén nhang không khói. Không tan. Nên cảm xúc và lòng yêu thương được lưu giữ giữa lòng những trang giấy.
5
Sau “Cuộc hội ngộ của những trái tim ”,i nhóm sáu anh em đại diện “cõng” Quán Văn qua họp mặt chân tình với văn nghệ sĩ Âu Châu, khi trở về đã chọn lọc và tập hợp những văn thơ nhạc hoạ… của những người Việt đã từng đến sống và sáng tác trên đất Pháp và cho ra đời Quán Văn số 16 với chủ đề Bên dòng sông Seine.
Mới chưa đầy môt năm mà đóa hoa sáu nhánh đã rụng bớt một …

Nhưng Quán Văn có phải chỉ là sân chơi hoài niệm của những người tuổi tác, tâm hồn hoài cổ, sống ở trời Tây mà hồn vẫn đắm đuối mơ về quê cũ, lòng bùi ngùi nhớ những mùi hương? Hoàn toàn không. Vì đến với Quán Văn còn có nhiều bạn trẻ, để góp mặt bằng thơ văn hay đơn giản chia sẻ những trang viết đầy cảm xúc của những người yêu văn chương chữ nghĩa.
Bên ngoài cái dòng đời vùn vụt đây đó vẫn còn nhiều không gian văn hóa thấm đậm tình người, đây đó vẫn có những bạn trẻ, hòa nhập với công việc trong thời đại toàn cầu nhưng tâm hồn không chịu hòa tan trong môi trường tư bản hoang dã, trong lòng vẫn còn bám chắt nét đẹp quê hương.
Trong khi chuẩn bị bài vở và chọn địa điểm cho buổi ra mắt Quán Văn có chủ đề về Kênh Nhiêu Lộc, một nhóm bạn trẻ qua tiếp xúc với nhà thơ Việt Nguyên đã mời gặp chủ bút Nguyên Minh vào một sáng thứ bảy. Họ đến bằng xe máy, chở theo các vật liệu cần thiết rồi tự nhiên trải chiếu bên lối đi dành cho người đi bộ sát dòng Kênh vừa được cải tạo, đoạn ở Tân Định nằm trước cổng chùa Vạn Thọ.
Bàn tay Minh Hoàng thoăn thoắt, động tác khá thuần thục của một người còn rất trẻ nhưng thường hay tụ bạn bè vào những buổi uống trà, trao đổi kiến thức và chia sẻ tâm tình. Đề tài yêu thích của họ phần lớn là việc giữ thơm quê mẹ và tôn vinh nét đẹp quê hương. Thỉnh thoảng các bạn Như, Thùy cũng giúp Hoàng chiết trà ra chén mời mọc mọi người. Họ hồn nhiên, thoải mái, không cầu kỳ…hay bám vào những nghi thức cứng ngắt.
Ngồi tâm tình với họ, tôi chợt nhớ đến lần trò chuyện mấy năm về trước với nhà văn Nam Thi “Người Nhật cái gì cũng nâng lên thành “đạo”: trà đạo, kiếm đạo, không thủ đao,…Người Việt nam thì ngược lại: biến những cái lẽ ra là “đạo” thành đại chúng để mỗi tầng lớp đều có thể thưởng thức phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh ”. Buổi uống trà sáng ấy không giống với các nghi thức miêu tả của Elena trong “Tà áo lụa và những cánh sen”ii ở quán Trà Việt của Viên Trân hay trong “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân. Nhưng là một buổi gặp gỡ thân tình của những người yêu cái đẹp, ngày ngày vui cùng trà, kể cả lộ thiên hay quán cốc,… “Đạo khả đạo phi thường đạo”, đạo có đó mà như không có đó…
Tôi nhìn Minh Hòang, Như, Thùy…trông họ hiện đại mà chân phương, nghiêm trang mà đơn giản… khác xa những lớp trẻ hãnh tiến đâu đó bắt gặp trên đường: sống ở Việt Nam mà bán linh hồn ra tận New York, London… trên người tân trang những phụ kiện đắt tiền…nói tiếng Anh như gió mà tiếng Việt tù mù, viết mấy từ đã ngập đầy lỗi chính tả ; họ cũng chẳng giống các nhóm đầu tóc bù xù, nhuộm xanh vàng tím đỏ, đua xe, lạng lách hay nốc bia như nước,…đánh cược đời mình vào những trò vớ vẩn vì tâm hồn vất vưởng chẳng biết bám vào đâu….sống giữa quê hương mà cuống rún gắn ở nơi nào vô định…
“ Xin phép các anh, em phải đi làm bây giờ đây !” Đang ngồi bỗng Thùy đứng lên từ giã. Mấy phút sau buổi gặp mặt nhấm trà trong sương sớm cũng sắp sửa tan. Hoàng, Như… cũng lục tục thu gom dụng cụ , gói ghém cẩn thận rồi móc lên xe. Tiếng máy nổ giòn. Tôi nhìn theo bóng họ chạy dọc theo khúc kênh đẹp nhất của thành phố Sài Gòn. Mới quen, tôi chưa biết họ có viết hay không, nhưng tin chắc họ sẽ là những độc giả trung thành và giữ lửa để Quán Văn có thể phát huy cái đẹp của tình người và gìn giữ văn hóa cội nguồn.

Sài Gòn 3-2014
TRƯƠNG VĂN DÂN

Buổi chiều ở Đất Phương Nam

trandzalu

Buổi chiều ở đất phương Nam
Tự dưng đâm ra nhớ Huế
Khi nghe điệu hát nam bình
Từ em có tên là Huế…

Từ em tay bồng tay bế
Anh đi không ngoái lại nhìn
Quê xưa mịt mù sương khói
Bây giờ đã trắng tóc xanh…

Buổi chiều ở đất phương Nam
Đìu hiu rượu buồn độc ẩm
Bạn bè ở đâu –khuất lấp
Cơn say níu lấy bóng mình!

Bây chừ thèm ra ngòai nớ
Lang thang về lại Bao Vinh
Chắp tay mà lạy phố tình
Một thời mưa bay tóc nhớ

Bây chừ thèm ra ngòai nớ
Tím cau Nam Phổ liên phòng
Đêm trăng” Một ngàn lẻ một”
Ai về kiếm trầu chợ Dinh ?

Bây chừ thèm ra ngoài nớ
Bềnh bồng bên biển Túy Vân
Bao năm chắc còn sóng vỗ
Thương người Tư Mã áo xanh!

Buổi chiều ở đất phương Nam
Khi không tím Huế hiện hình
Nghe ra một đời nắng dội
Yêu người chưa hết phiêu linh…

Trần Dzạ Lữ

TÔI ĐI VỀ TRĂNG KHÓC TRÊN VAI

tranthoainguyen

Tặng HOÀI KHANH

Con sông nào đã xa nguồn
Thì con sông ấy sẽ buồn với tôi
HOÀI KHANH

Tôi sống hoang dại gặp Hoài Khanh
Tiếng thơ Thân Phận dội sông gành.
Bên cầu ngồi lặng trời mây trắng
Tóc xõa chiều thu bay…mong manh!

Gió thổi mơ hồ sông cuối thu
Mình tôi giữa trời đất hoang vu
Vàng xưa hội cũ sa mù tận
Phố thị sầu dâng khói bụi mù!

Khói bụi trần gian vỡ uông uông
Phận người kiếp mỏng nước biệt nguồn!
Chiếc bóng chơ vơ cầu cổ độ
Sông dài chở hận lệ đời tuôn!

Tôi đi về trăng khóc trên vai!
Em nói chi băng giá ngày mai.
Ô hô! Sông biển hồn cô quạnh
Con nước xa nguồn thương nhớ ai!

(Rút trong thi phẩm THIÊN SỨ CA,1972)
TRẦN THOẠI NGUYÊN

CHUỐI NƯỚNG NẾP

nguyendinhbon

Nội ô thị xã vừa lên thành phố chỉ có mấy con đường. Buổi tối thật thanh bình. Vinh chạy xe gắn máy chầm chậm, từ phía sau, Hương ôm nhẹ vòng hông anh, cằm tựa vai. Chạy chừng mười phút thì hết phố, đến nhà lồng chợ, nếu qua cầu sẽ như một vùng quê. Vinh không chạy xe lên cầu, vì buổi chiều họ đã qua đó, đi dọc con kinh đào, có rất nhiều dừa xanh, có những căn nhà lá nhỏ, có những hàng quán xiêu vẹo, và sau lưng những dãy nhà là những cánh đồng lúa đang bắt đầu chín. Lúc đó Hương nói: “Anh, mình về đây, mua một miếng đất, trồng chuối, nuôi gà, em sẽ sinh ra ba đứa con…”. Vinh cười: “Mua miếng đất thì cũng được, nhưng sao trồng chuối mà không trồng thứ khác, với lại sao sinh ba đứa con?”. Hương ngắt tay Vinh: “Trồng chuối vì em thích ăn chuối nướng, còn sinh ba đứa con vì em ghét cái chế độ chỉ cho sinh hai đứa”. “Còn sao lại nuôi gà mà không nuôi heo, nuôi vịt?” “Tại em biết anh thích ăn thịt gà”

Hương là vậy. Thích phản kháng nhưng thường rất dịu dàng. Xe vòng qua phía công viên. Cô bỗng đập hông anh: “Qua bên kia đường đi anh!” “Chi vậy?” “Em thấy có một bà bán chuối nướng”.

Vinh bẻ tay lái. Đúng là có một chiếc xe đẩy bán chuối nướng, mắt Hương tinh thật. Một chiếc xe chuối nướng rất sạch sẽ, thùng kim loại sáng choang, lại có hộp để đựng mang đi. Mùi chuối vừa chín nướng với nếp trên than hồng, mùi nước cốt dừa thơm ngọt ngào. Hương có vẻ hài lòng, cô xuống xe lựa mua hai hộp, tíu tít hỏi chuyện bà bán chuối như đã quen từ lâu, rồi thấy anh đứng lơ ngơ, cô nói: “Anh đi mua hai bịch cà phê đi, buổi tối khách sạn họ không có bán”.

***

Mưa đã ngớt nhưng vẫn còn những đoạn trũng nước ngập. Nước mưa hắt trên mặt người đàn ông rồi chạy theo những đường khắc khổ. May là đường một chiều nên dù đông xe nhưng chưa gây kẹt. Anh quẹo vào một con đường nhỏ có cái chợ chồm hổm. Cuối chợ có một xe bán chuối nhỏ, nhem nhuốc. Một cô bé chừng mười ba tuổi, gầy gò reo lên khi thấy người đàn ông tấp xe vô:
“Ôi chú, con chờ chú nảy giờ”
“Ừ, chú xin lỗi, mưa lớn quá”
“Dạ hông sao, đến tối con cũng chờ mà”
“Cám ơn cháu nhiều”
Người đàn ông nhận bịch chuối nướng, anh không móc nó ở hông xe mà mở túi xách, cất bịch chuối vào giữa. Xong anh gật đầu chào cô bé, chạy xe đi…

Cô bé lúi húi lau chiếc xe đẩy, dọn dẹp chuẩn bị về. Người phụ nữ bán bún ngồi kế bên tò mò hỏi: “Bé Ba, thì ra mày chờ chú kia đến lấy mấy trái chuối nướng, sao phải chờ ổng vậy?”
“Chú đó tên Vinh, chiều nào chú cũng mua cho vợ mình”
“Chời, đàn ông mà có hiếu với vợ quá hen…”
“Không phải đâu cô…”

***

Người đàn ông chạy xe qua nhiều ngõ và dừng lại trước một căn nhà nhỏ. Anh tự lấy chìa khóa, mở khóa từ bên trong. Khi người đàn ông dắt xe vô sân nhà, mặt anh đã mất hết vẻ khắc khổ, anh kêu lên: “Hương ơi, anh về rồi đây!”.

Có tiếng lịch kịch từ bên trong, một thiếu phụ ngồi trên xe lăn đẩy xe ra đón chồng. Cô hỏi: “Anh có mua chuối nướng cho em không?”
“Ồ, mưa lớn quá, anh quên mất!”
“Thiệt hả?”
“Thiệt!”
“Anh xạo, anh xạo”
Vinh xoay lưng chếc xe , đưa cái túi cho vợ, nói: “Đây nè, ở nhà buồn hả em”.
“Không, không buồn, em coi tivi mà”
Hương quay lưng về phía Vinh, ôm cái túi trong lòng, Vinh không nhìn thấy mắt vợ ứa lệ.
Hương hỏi: “Chuối của cô bé đó hả anh”
“Ừ, của cô bé đó”
“Cô bé quê Tân An?”
“Ừ, cô bé quê Tân An”
Quay lưng về phía chồng, Hương không nhìn thấy Vinh ngập ngừng. Vinh đã nói dối vợ. Cô bé không phải quê Tân An, quê cô ngay chân cầu Rạch Miễu, cây cầu mà trên đường du lịch từ Bến Tre về, do cầu hẹp, một chiếc xe tải mất lái đã lao vào đôi tình nhân ba năm trước!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN
14.10.2014