LẠ THƯỜNG

hoangvancham

Hoàng hôn em
Tóc chiều xưa
Bên sông lòng vắng
Nghe thưa nẽo về
Nâng chiều ta nghiêng cơn mê
Bỏ quên dấu mộng bộn bề mùa thương
Hoàng hôn em
Tóc mù sương
Muộn màng một nẽo
Cuối đường tìm nhau…
Mùa hoa rơi hết giọt đau
Lỡ em chút nhớ thêm màu chia phôi.

HOÀNG VĂN CHẨM

Chả biết Thư đi đâu

nguyentri

Cái món cóc ổi xoài chấm mắm ruốc Huế và muối ớt Tây ninh của Năm Mập quyến rũ lắm. Dân ba xi đế mê đã đành, bầy học trò cũng tít thò lò luôn. Đừng nói đến dân ăn mặn, cả chay trường như chị em Thảo Hiếu và bé Thư cũng hít hà sau những buổi tan trường là rất chi thường tình.
Xin đừng trách Thảo Hiếu Thư. Cả ba cùng một hoàn cảnh cha mẹ chia tay. Cha có vợ khác, mẹ cũng vậy nên chị em Thảo Hiếu ở với bà nội. Cô ba ở chùa từ nhỏ nên đưa hai chị em vào chùa tu cái tâm. Ở chùa đương nhiên là chay trường và tóc phải xuống. Nói vậy chứ ngày nào cũng rau củ quả tàu hủ nước tương, lớn còn thèm thịt cá nói chi nhỏ. Không phải là kiểng chùa nơi Thảo Hiếu Thư nương nhờ cũng dọn bữa có cá thịt đùi gà cánh gà bằng tàu hủ ky đó sao? Ở đó mà không vọng.
Thiệt tình, mắm ruốc và muối ớt đã quá trời ạ. Năm Mập lôi kéo bầy học trò về quán của bà khiến ngữ bán hàng rong trước cổng trường không ai dám tranh, ế liền nếu dám ti toe. Người ta cũng chế chiếc mọi cách cho ra cái cay mặn ngọt trứ danh nầy, nhưng cuối cùng phải chào thua. Lại đánh Năm Mập bằng đòn ê muối và mắm ruốc của bả có bỏ xì ke khi chế biến, bây ăn riết ghiền xì ke luôn cho coi. Lão Năm nghe qua cười khì khì:
– Có thì tao đi buôn xì ke luôn cho mau giàu, ngu sao pha vô muối mắm.
Tan trường là bầy trẻ ùa vô. Ba nhóc nhỏ tu vì hoàn cảnh về muộn nhất vì ngại bạn bè nói nâu sồng mà cũng mắm ruốc. Với lại vợ chồng Năm Mập thương nhứt ba đứa nầy, nghĩ đi, có cha có mẹ mà phải nương nhờ cửa Phật thì tủi nào hơn. Được cái bầy trẻ tiền nhiều, muốn chi có nấy. Riêng Thảo Hiếu nhận trợ cấp từ hai phía. Cha lâu lâu ghé chùa dúi một ít, mẹ cũng vậy. Nói chung cha mẹ nào chẳng thương con, ai chẳng xót lòng khi đẻ ra mà tống cho nội ngoại, rồi từ nội ngoại mà thẩy lên chùa thì trời ơi xót lắm. Nhưng biết làm sao? Thảo Hiếu nghe nói ở với cha hay mẹ ghẻ là lắc đầu. Tại sao lại ghẻ chóc khi ta có nội? Thôi thì bù cái vật chất để chúng yên tâm học hành, ba bữa lớn rồi ba má tính cho.
Thảo Hiếu thì dù sao cũng còn cô ở chùa ngó mắt nhìn qua. Còn Thư? Thư có khác hơn một tí. Một tí thôi nhưng lại rất đau lòng. Mười ba tuổi dáng dấp ra chiều lắm. Ốm nhưng không mòn, dáng nầy mà lớn tí là người mẫu chắc như bắp. Thư bảnh nhứt sóc, xài máy tính bảng, miệng nhai cóc ổi chắm mắm ruốc tai nghe nhạc sành điệu như dân phố. Ba dượng của Thư là thầu xây dựng nên tiền vô thiên lũng. Còn ba ruột? Thảo kể với bà Năm Mập:
– Nó nói tưởng ba là ruột ai ngờ không phải Năm ơi.
– Là sao?
– Năm nói nó kể cho nghe, con không biết kể làm sao nữa.
Là chúa tò mò chuyện thiên hạ nên bà Năm kể với chồng rằng. Nó nói đâu ngờ ba má là rổ rá cạp lại, nó tưởng con ruột của ba, cho tới một hôm:
– Lúc đó con mười tuổi rồi Năm, con đón em đi học về nghe cha chửi má là lăng loan, là đĩ thoả… Cha la lên. Mày còn tơ tưởng đến cha con Thư thì theo nó mà sống… Rồi sau đó là li dị ba dẫn em con đi mất. Con ở với má.
– Rồi sao mày vô chùa? Rồi ba ruột của mày đâu?
– Má nói ba ruột con chết rồi.
– Chết? Mà sao chết? Rồi má mày sao mà gặp ổng? … Mày nói Năm không hiểu chi hết trơn.
– Dạ… má kể ba ruột bị ung thư gan, tại ổng uống rượu dữ lắm. Bữa đó ổng gặp má giữa đường xin tiền bị ba con gặp. Ba hiểu lầm nên bỏ má con. Sau đó ba ruột con chết… là má kể vậy nên con biết vậy.
Bà Năm chép miệng xoa cái đầu trọc và vuốt cái chỏm tóc con bé ra chiều thương cảm
Riêng chuyện vì sao vô chùa thì Thư không nói. Nhưng bà Năm vẫn biết vì Thảo kể:
– Nó nói bị ông dượng thầu khoán mò Năm ơi.
– Trời đất ơi… có chuyện đó sao con?
Mấy tay khoán khuyết nầy cũng ma bùn lắm. Chiều nào cũng lai rai với anh em thợ đến mút cà tha. Thầu mà, ăn nhậu và huê tình ghê lắm. Cũng phải cảm thông cho họ. Làm ăn lơn lớn, tiếp xúc với dân cầm bay chặt gạch thầu không đẹp là vong liền. Dăm ba khung bia vào chiều thứ bảy nào có chi lớn. Lớn là mấy anh bên trên. Tỷ như xây dãy trọ cho một trung gia nào đó, tuy giấy phép đủ nhưng ân tình đâu thể ta lơ, đúng không? Xây dựng phải biết sống biết chơi mới bền. Mấy cái nhà mọc lên từ một lô nông nghiệp nào đó còn lâu mới phép tắc. Thầu mà không quen biết lớn dễ chi thông. Mà mấy anh ni đâu phải như bọn thợ nhậu xong rồi vui vẻ về với vợ. Dũng Thầu – cha ghẻ của Thư – phải đưa quý anh đi mát xa chân, mát xa đá. Dũng cũng mát.
Chuyện làm ăn phải vậy. Thầu cầm bạc vạn trong tay đâu sướng ích chi. Nhất là các chị em phụ hồ bưng gạch. Nhiều em đẹp như tiên, duyên tình sao đó mà dang dỡ nên Dũng Thầu cám cảnh lắm. Anh cám em thì em cám lại. Thấy cảnh anh bị vợ bỏ em thương liền. Mà thiệt là Dũng và vợ chia tay. Không chia sao được khi chồng cứ ngoài đường mà lượn. Tháng mò qua nhà một lần thì đường ai nấy đi cho rồi. Mấy em ni thì thiệt mà nói đâu có tình chi với anh. Em thương và đi nhà nghỉ với anh chả qua anh cho tiền. Tàn cuộc là xong. Vậy nên mới ra chuyện Dũng Thầu ráp vô một nhà với má Thư.
Sau li dị má được hưởng căn nhà. Dũng Thầu đưa lính đến gia công cái bếp nhà Thư. Cùng cảnh cô đơn nên cả hai ráp lạị mà nên chồng vợ. Má đẻ cho dượng một thằng cu. Trời ơi. Dượng mừng thiếu điều sập nhà. Thư yên lành ngày cắp sách đến trường, tan học về ru em phụ má. Đời nếu vậy mà tới luôn cho tới chết thì hay quá. Nào ngờ một tối kia, mẹ cha ơi. Má mà không mắc đi ngoài thì chết chắc. Đi ngang phòng Thư má thấy thằng dượng ghẻ khốn kiếp đang ở trong mùng con nhỏ mười ba tuổi, tay nó đang sờ soạng trên ngực… Má lạnh gáy, lạnh toàn thân… trời ơi con nhỏ vú vê như vú chó mà ham hố chi hả trời? Má liền lôi thằng khốn về phòng:
– Trời ơi – dượng phân trần – tui say. Tui đi lộn phòng, tui tưởng bà…
Má hỏi Thư:
– Ổng có làm chi con không? Mấy lần rồi?
Má nghe nói những ba lần tuy chỉ sờ mó chút đỉnh thôi nhưng má hoảng lên. Thánh cũng hoảng chứ nói chi ai. Vội vàng đưa Thư gửi cho chùa.
Nghe qua Già Năm điên gan:
– Đù má… thằng ghẻ chóc khốn nạn. Mà sao con nhỏ không cho má nó hay?
– Ông không thấy nó lớn bộn rồi sao? Thời buổi giờ khó nói lắm ông ơi…
Ừ – già Năm ngẫm nghĩ – Khó nói thiệt. Thời mà ngay cả các gia đình cha mẹ đình huỳnh ăn nên làm ra còn dụng tiền để mua hạnh phúc ảo. Không phải cứ tiền và đưa rước đến tận cổng trường là bậc cha mẹ đã có quyền tự hào rằng ta đã tròn trách nhiệm đó sao?. Chả ai có thời gian để biết rằng khi cổng trường đóng lại, thầy cô giáo đã xong trách nhiệm truyền đạt kiến thức là bầy trẻ con nhào vô quán cóc ổi mắt dán vô máy tính bảng chơi game, nghe nhạc, xem phim… Chúng dậy thì sớm là tất nhiên. Những đứa có cả một mái ấm hạnh phúc cha mẹ anh chị đủ đầy còn không quản nổi lọ chi cha đông mẹ tây như Thảo Hiếu Thư. Ai ngó ngàng đến chúng. Chùa ư?
Đúng rồi. Chùa phải lo chứ sao. Đừng có tưởng từ bi hay không không sắc sắc rồi chùa cũng sắc không cái vụ tiền nghe. Có tu cũng phải ăn, ông Phật còn phải khoác áo rách đi khất thực nói chi sư sãi. Có gửi con em đến chùa xin chút từ tâm cũng phải gửi cái cho chúng ăn và cắp sách đến trường. Mọi cái được quy ra tiền. Một tháng là… Còn thí chủ muốn cúng thêm bao nhiêu cho chùa thì tuỳ tâm… Vậy thì khi quý ngài đã nhận tiền thì phải có trách nhiệm về nhân thân của người đó đúng không? Chuyện đó tất nhiên là không ai cãi hết. Nhưng qúy sư thầy, quý chư ni cả một đời chay lạt tụng kinh gõ mỏ, họ biết cái chi ngoài ta bà không nhỉ? Biết chứ. Biết nhiều, rất nhiều. Nhưng thông không? Các vị ấy có con mắt giữa trán như Dương Tiển cũng không nhìn ra cái chi ẩn dấu trong những tâm hồn rất trẻ đang bị lạc. Thảo Hiếu và Thư có đường nào để bước đâu mà mà không lạc.
Già Năm nghĩ mà ngậm ngùi cho bầy trẻ quá. Nhất là con Thư. Mà vợ chồng Năm Mập nầy cũng đa ngôn đa thế sự dữ, chuyện thiên hạ nhúng mũi vô làm chi cho nhọc. Cóc ổi mắm ruốc không lo ở đó mà lo đời. Thiệt mà nói, vợ chồng Năm Mập tội nghiệp lắm, nghèo của thì chớ, nghèo luôn cả con. Tròm trèm sáu chục mà chỉ hai vợ chồng ra vô ngó mặt nhau. Nghe đâu hồi trẻ cả hai cũng một thời ngang dọc, dân đội trời đạp đất. Cỡ bà Năm rành mắm ruốc Huế thì chớ còn sành điệu cả muối ớt Tây ninh. Cha Năm mới ghê, ngồi nghe chả kể chuyện bốn phương rồi có ba giọt vô chả ôm đàn hát bài trên bốn vùng chiến thuật là dân chơi lé xẹ nguyên cả cặp mắt liền. Nhớ cái bữa bầy học trò méc mấy người bán rong nói muối mắm ông Năm có trộn xì ke ông Năm ơi. Già Năm liền thân chinh đến từng thằng cha, từng con mẹ điểm mặt:
– Muốn bán ở đây để kiếm sống không? Tao quậy là bây vong à.
Đơn độc nên bà Năm thương lắm bé Thư. Có máu du côn nên Năm già dằn cha thầu khoán – thằng dượng ghẻ chóc – nhân một hôm hắn ghé trường rước nhỏ Thư.
Xưa nay mấy tay thầu xây dựng có cái ngoài bảnh lắm. Tay ga đời mới áo bỏ vô thùng kính mát Rayban. Nhìn qua là thiên hạ kính lắm chứ không chơi. Năm già cũng kính, kéo ghế mời ngồi, rót trà đưa tận tay:
– Ông là cha con Thư hả? Chà… bảnh dữ ha… Ông thầu khoán hả? Làm tách trà chơi. Nhỏ Thư sao mà phải gửi lên chùa vậy ông? Hề hề hề… nó ghé đây nhai cóc ổi mắm ruốc hoài hề hề hề…
Nghe cái giọng cười là biết ngay tay già bố láo nầy có ý xách mé rồi. Thằng ngu còn biết nói chi già đời như Dũng Thầu. Và Dũng chứ đâu phải con gà rù mà trêu? Mẹ nó… thầu nào dưới trướng không có vài thằng em đâm cha chém thiên hạ, và dưới mấy thằng nầy là một lũ cô hồn sống. Không có bè lũ nầy dễ gì có công trình mà xây tô dán gạch? Dũng cũng xách mé:
– Ông anh sít tốp lại cho em nhờ tí được không? Cóc ổi lo cóc ổi đi há, đừng đâm lao vô chuyện người khác được không ông anh?
– Hề hề hề… cái tính tui nó chó vậy bạn ơi… tui xía vô là vì tui coi con Thư như con cái trong nhà. Nó có kể cho bà nhà tui cái sự vụ vì sao má nó gửi vô chùa… thì ra là do ông anh đây mà ra cả.
Thầu ta văng tục liền. Thầu mà không dữ dằn dễ gì trị được thợ:
– Ông im cái miệng thúi lại… muốn cái quán nầy banh chành không?
– Ông nhắm lại tui không? – Bà Năm xía vô.
Dũng phắt dậy móc di động alô … tao đây… rảnh hông nhờ tí coi. Tao đang ở… bà má nó tự dưng có một thằng già đòi xử tao… ờ… xuống lẹ đi. Tao chờ…
Mười phút sau cuộc gọi hai chiếc cũng phân khối lớn nẹt ga bốc đầu thắng cái réc. Bốn thằng xâm mình rằn ri, tháo nón bảo hiểm là lòi ra bốn trái dừa khô, mặt mũi trông sát khí đằng đằng. Vừa vào quán lập tức một thằng la lên:
– Trời đất… tưởng ai. Ông ở đây hả ông Năm?
Nó nắm tay già lựu đạn lắc lia lịa ra cái rất thân tình. Năm già lại hề hề:
– Tao chớ ai mậy? Mầy làm cái khỉ mẹ gì đây?
Thằng xâm mình lôi Dũng Thầu ngồi lại ghế. Thầu ta ngơ ngác nghe giới thiệu chương trình:
– Ê… Dũng Thầu, giới thiệu với ông đây là Năm Lì, ông thầy của tui. Bộ ông ghẹo ổng hả?
– Đâu có mày ơi – Già Năm trả lời hộ – Có mấy thằng đi ngang đây xin thằng Dũng vài đồng, nhưng tao quyết xong rồi. Ai dám ghẹo tao mậy?
Vậy là cả bọn nhào vô làm vài xị với cóc ổi mắm ruốc cùng muối ớt. Dũng Thầu ngồi tì tì không dám uống nhiều, rượu vào lời ra hố hàng là chết. Tàn cuộc rượu Năm Lì nói với thầu biến thái khi bọn đầu trọc đã rồ ga lên đường:
– Đời tao cũng khá súc vật, nhưng kiểu như mày thì không? Cỡ mày tao búng một cái là vô tăm tích… Về nói với vợ mày đem con Thư về. Không nên gửi nó vô chùa. Nó đâu có tâm tu mà buộc nó chay lạt. Tao nói mày hiểu không?
Cuối năm học Thư rời chùa về nhà. Má nó tậu cho chiếc xe điện. Chiều chiều Thư nhấn ga vi vu lên chùa thăm Thảo Hiếu, nó lại ghé ngang vợ chồng Năm Mập ăn cóc ổi xoài. Mười bốn tuổi nó lớn phổng và xinh ơi là xinh.
***
Nhưng một tuần trước năm học mới, không thấy Thư có mặt như mọi hôm. Năm già chưa kịp hỏi thì má nhỏ Thư tốp xe, vẻ tất bật:
– Có con Thư đây không chú Năm?
– Không. Sáng giờ nó không có mặt đây… Sao cô không gọi điện cho nó?
– Không hiểu sao nó không bắt máy chú Năm ơi… cha ơi… không biết nó đi đâu vậy kìa?
– Không chừng nó lên chùa chơi với con Thảo với thằng Hiếu…
– Con lên rồi… không có nó ở trển chú ơi.
Nói rồi bà mẹ tội nghiệp phóng xe đi. Năm Già nhìn theo gật gật đầu ra chiều nghĩ ngợi. Giả nghĩ gì vậy kìa? Được một lát Năm ta cũng lấy xe:
– Ông đi đâu vậy? – Bà Năm hỏi.
– Tui tìm thằng thầu khoán coi sao.
Lúc về chồng kể với vợ rằng thằng thầu cũng không biết con nhỏ đi đâu. Thầu thề với Năm lựu đạn rằng nó có chi bậy bạ thì Năm cứ thiến nó… Chà… vậy thì con nhỏ đi đâu? Một đêm trôi qua, thêm một ngày nữa cũng bặt tin tức. Không điện thoại, không bóng dáng chị chàng. Bà má tội nghiệp phần con trai còn nhỏ, phần đang bầu bì, cứ thút tha thút thít suốt… nóng ruột quá mà chả biết làm sao. Làm sao đây trời hỡi?
Năm lại chạy lên chùa. Lúc về, bà xã hỏi;
– Sao rồi ông?
Rất lâu. Lâu thiệt lâu. Năm nhấm nhẳn:
– Tui lên chùa xin gặp trụ trì nhưng mấy sư cô nói…
– Nói sao?
– Thầy cũng đi đâu hai ngày nay rồi, chắc đi họp bên giáo hội tỉnh…
Năm, mười, mười lăm ngày rồi một tháng trôi qua. Thư bặt vô âm tín. Thầy trụ trì cũng âm tín bặt luôn. Nhưng sau nghe nói thầy được chuyển đi đâu đó. Giáo hội đưa một thầy khác về quản chùa. Còn Thư? Có ai biết Thư đi đâu không?
Năm lựu đạn còn không biết nói chi ai.
Nguyễn Trí

25 năm ra chợ

tranthienthi

25 bỏ lại viên phấn trên mặt bàn và đi 34 tuổi đời và 8 tuổi nghề dạy gì cho các em ? ngoài một nỗi phân vân một đời không dứt

dắt díu vợ con dựng lều xóm chợ đặt hai tay lên bàn cân thử đời nặng nhẹ câu thơ buồn như một tiếng rao khan

25 năm đói no đã từng những buổi chiều thất thơ chờ bạn may mà còn đây chén rượu cơ hàn cô hàng xén nghèo đãi một gã từ quan

vẫn còn những đứa học trò thưa thầy giữa chợ vẫn còn biết đợi chờ một bàn tay vẫy sắp sẳn chiếc gùi và đi rừng vẫn xanh cô hàng xóm vẫn xuân thì

buổi sáng xung quanh thơm lừng hương thị buổi chiều quần lững với môi thơm chợ hai mươi lăm năm dài trêu chọc nỗi cô đơn câu thơ ngắn dài không bán được

ta còn sẳn đây một buổi chiều nay dọn sẵn lòng thanh lương em uống với ta kể cho ta nghe về câu chuyện của ngôi trường 25 ta trót chôn khúc ruột mình ở đó

trần thiên thị (sáng 20.11.2014)

MỘT THUỞ NGƯỜI VỀ

nguyenanbinh

Người về trong mơ hay chiêm bao
Môi thơm còn ngát nụ hôn đầu
Thịt da chưa nở rời thương nhớ
Đã vội chia lìa, nhói tim đau.

Người về theo mưa hay sương giăng
Chút nắng thu xa cuốn bụi lầm
Mắt ai mang cả trời giông tố
Lạc bến bờ xưa xóa dấu chân.

Người về chờ sao hay trăng lên
Đèn khuya hắt bóng dáng ai quen
Sao ta lại đứng chờ vô vọng
Chỉ thấy gió lùa qua phố đêm.

Người về cùng mây hay hoa ngâu
Lang thang trôi mất mộng ban đầu
Rụng rơi từng cánh phai hương thắm
Hiu quạnh một đời như cỏ lau.

Một thuở người về bên hiên cũ
Đâu còn son trẻ để chờ nhau
Tóc thề phiêu dạt đời dâu bể
Ứa mắt nhìn theo đến bạc đầu.

NGUYỄN AN BÌNH

NƠI PHÍA NAM DÃY NÚI MỜ…

khuatdau

Nơi ấy là quê ngoại của các con tôi. Hay chính xác hơn là gần dãy núi mờ, nơi sừng sững hai khối đá một to một nhỏ đứng bên nhau mà ông cha chúng ta, khi vào đến đất Khánh Hòa đã đặt tên là hòn Vọng Phu. Nếu Quang Dũng sinh ra ở đất này, trong bài thơ Tây Tiến xé ruột xé gan làm khổ cả một đời ông, có hai câu thơ đã phải viết:

Tôi nhớ Khánh Hòa mây trắng lắm
Chiều xanh không thấy bóng Vọng Phu!

Nghe không được xuôi tai mấy, nhưng chỉ giả dụ thôi, tôi nào phải công an mà dám cắt hộ khẩu của ông!

Ở chính nơi này, chiều không xanh cũng không thấy được bóng Vọng Phu. Phải là chiều rất xanh, khi những đám mây hãy còn lang thang trên biển chưa chịu bay về núi, mới có cơ may thấy được bóng ai bế con mãi đứng chờ.

Cơ may đó cũng ít nhất một lần có được trong đời nhạc sĩ Lê Thương, và cũng từ chiều rất xanh ấy in mãi trong hồn ông hình bóng người chinh phụ chờ chồng. Sau bà Đoàn Thị Điểm, không ai khác ngoài ông chuyển được hồn Chinh phụ của Đặng Trần Côn vào âm nhạc tài tình đến như vậy.

Đấy mới thực là nỗi buồn sâu thẳm của chiến tranh.

Chưa có nước nào mà chiến tranh nhiều như ở nước Việt Nam, một kỷ lục kinh hoàng!

Chiến tranh chống ngoại xâm, đã đành một nhẽ.

Chiến tranh để mở rộng biên cương, thì thôi cũng lại đành một nhẽ nữa.

Chiến tranh giữa mười hai sứ quân, giữa họ Lê họ Mạc, giữa Lý Trần, giữa chúa Trịnh chúa Nguyễn, giữa anh em nhà Tây Sơn và Gia Long, giữa cộng sản và không cộng sản, có nghĩa rằng những đứa con cùng một cha Lạc Long Quân và một mẹ Âu Cơ, tức là nội chiến. Đây mới là kỷ lục đắng cay đáng xấu hổ.

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng chưa thật là buồn vì trong cuộc chiến đáng xấu hổ vừa qua, khi có triệu người buồn thì cũng có triệu người vui.

Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh!
Mẹ vỗ tay hoan hô hòa bình! (TCS)

Mẹ của những đứa con thắng cuộc vỗ tay reo mừng vì xong cuộc chém giết chúng sẽ được gần như tất cả.

Còn mẹ của những đứa con thua cuộc cũng vỗ tay hoan hô vì xong cuộc rồi, tuy gần như mất tất cả nhưng ít ra cũng còn được cái mạng sống.

Có triệu bà mẹ vui ra mặt nhưng cũng có triệu bà mẹ buồn giấu mặt.

Ngay cả những đứa chết rồi, những bà mẹ của bên thắng cuộc cũng vui vì được nhà nước phong tặng danh hiệu bà mẹ việt nam* anh hùng.

Ngày xưa, nhất tướng công thành vạn cốt khô. Ngày nay các bà chỉ cần vài mảnh xương trâu bò đưa vào các ngôi mộ liệt sĩ là đã được tiếng anh hùng. Nhiều đến mười cái mộ thì mẹ được dựng tượng!

Một triệu đứa con bên thắng cuộc chết trận, thì cũng có gần một triệu bà mẹ việt nam* anh hùng. Cho nên không cần ra ngõ, chỉ bước xuống bếp là đã thấy anh hùng đang bó gối ngồi đó.

Có thực các bà vui ra mặt?!

Bảo rằng vui là gieo tiếng dữ cho các bà.

Có bà mẹ nào từ ngàn xưa đến ngàn sau lại vui vì con mình bị giết! Có chăng là những kẻ suốt ngày tự tung hô mình là người thắng cuộc. Chính họ đã giật đứa con trong tay của các bà ném ra chiến trận, nơi người ta ném binh như vãi đậu**. Thế rồi họ bảo cười lên đi, vỗ tay reo mừng vì đã hoàn thành sứ mạng lịch sử.

Để mần chi? Thưa để át tiếng khóc.

Cũng như hát để át tiếng bom.

Ác và đểu cáng đến thế là cùng!

Giờ các bà như con mèo ướt ngồi trong xó bếp, không phải cần hơi ấm dù trời đang lạnh, mà là để giấu cái mặt xấu hổ của mình đi, vì không bằng một con gà mái dám xù lông ra trước con diều hâu để bảo vệ đàn con của mình.

Còn các bà mẹ của những đứa con thua cuộc, buồn giấu mặt là lẽ đương nhiên. Buồn vì áo rách tả tơi, bo bo bát vơi bát đầy. Buồn vì nhà bị tịch thu, ruộng đồng bị lấy mất. Buồn vì đứa chết không tìm ra xác, đứa đi cải tạo không biết bao giờ về, đứa trốn đi vượt biên giữa trùng khơi bão tố, biết có đến được bến bờ nào hay nằm trong bụng cá!

Cuộc chiến tranh đáng nguyền rủa vừa qua khủng khiếp quá. Cả hai miền đều có đến hàng triệu những bà mẹ mất con và sắp mất con. Nỗi đau của các bà to và cao hơn cả núi Vọng Phu.

Lại giả dụ, nếu có một ngày đẹp trời nào đó, không còn bên thắng cuộc và bên thua cuộc, cả nước cùng đồng lòng canh giữ biển đông nơi đã có những đứa con của cả hai bên cùng hy sinh anh dũng ở Trường Sa và Hoàng Sa, thì xin được đặt lại tên hai khối đá khổng lồ ấy là Mẹ và Con bất khuất, gọi tắt là hòn Bất Khuất. Chừng đó sẽ chung một bóng cờ, không cờ vàng sọc đỏ, cũng không cờ đỏ sao vàng. Mà là cờ với màu xanh của rừng biển, màu vàng của vựa lúa hai miền, màu nâu của mồ hôi và máu đã khô.

Tin giùm tôi đi, không còn giả dụ nữa, ngày ấy đang tới, cờ ba màu vàng-nâu-xanh sẽ tung bay nơi phía Nam dãy núi mờ… Hòn Vọng Phu cũng sẽ còn mãi, nhưng là trong trường ca bất tử của Lê Thương.

Khuất Đẩu
_____________________

*phong tặng ẩu nên không viết hoa.
**Thơ của Phạm Ngọc Lư trong Biên cương hành

Nắng Thủy Tinh

tranvanle

Nắng thủy tinh! Đúng là nắng-thủy-tinh!
Lạnh như gương vỡ vẫn còn hình:
những đường kính nứt hay dao để
sát mặt em và sát mặt anh?

Nắng thủy tinh là nắng rất trong
tại sao lại lạnh đến tê lòng?
Gió bay qua, nắng, rung rinh nắng,
nắng lấp lánh, kìa, em thấy không?

Sáng hôm nay ngồi hong nắng mai.
Lạnh chao ôi lạnh tóc em dài.
Mưa không có nước…mà mưa nắng
và lạnh vô cùng rung cả vai!

Em nói hồn nhiên: nắng vỡ rồi,
anh à mình trốn nắng đi thôi,
vào nhà đốt lửa ngồi hơ nóng,
đừng ở ngoài vườn kẻo…nắng rơi!

Quả thật mùa Đông nắng cũng run!
Hai tay siết, vẫn, lạnh vô cùng…
Chim không thấy lượn trong trời nắng.
Anh lượn lờ em đôi mắt nhung!

Nắng thủy tinh…là nắng pha lê.
Đường xa không biết có ai về?
Quê nhà không biết mưa hay nắng?
Nhớ quá hồi em chải tóc thề…

Cây đào trên dốc Bà Trưng sáng
đợi nắng mùa Xuân, anh đợi em
nhoẻn nụ cười duyên và bẽn lẽn:
anh ơi đem nắng để em mừng…

Ôi nắng ngày xưa, nắng ngọt ngào,
ở đây nhìn nắng cứ nao nao…
Nắng như gương vỡ ra từng mảnh!
Nắng vệt nào nghiêng cũng giống dao…


Trần Vấn Lệ

NGÀY XƯA NGƯỜI ĐẸP…

thuyvi

thấy hình ảnh thiên hạ giành nhau mua ” hàng hiệu ” tại VN vừa rồi trên báo. Tự nhiên muốn post lại bài NGÀY XƯA NGƯỜI ĐẸP cùng với lời muốn nhắn đến các nàng : ĐẸP, LÀ PHONG THÁI, DÁNG VẺ DUYÊN DÁNG, QUÝ PHÁI CHỨ KHÔNG PHẢI DO HÀNG HIỆU HAY TRÉT ĐẦY SON PHẤN !

Nếu ai hỏi tôi đám cưới của Hoàng tử William và Công nương Kate vừa qua, hình ảnh nào đẹp nhất? Một đám cưới của Hoàng gia Anh quốc ước tính tốn 34 triệu Mỹ kim thì chắc chắn mọi cái đều tuyệt hảo đến từng chi tiết nhỏ.

Bài này người viết không bàn đến sự xuất hiện của các công tước, mệnh phụ hoặc những người nổi tiếng – Không bàn đến đến những chiếc song mã cầu kỳ hay những chiếc xe đắt tiền – Không bàn đến chiếc vương miện truyền thống lấp lánh kim cương được nhà Cartier chế tác từ năm 1936, là chiếc vương miện Nữ hoàng Elizabeth dành tặng cho công nương mới nhất của Hoàng gia – Không bàn đến tòa kiến trúc lộng lẫy của ngôi nhà thờ ngàn năm tuổi. Theo tôi, đẹp nhất, thu hút mọi mắt nhìn nhất là chiếc áo cưới của cô dâu. Vâng, chiếc áo cưới do nhà thiết kế Sarah Burton mà cô Kate chọn cho đám cưới mình đánh giá cô có gout thẩm mỹ khá cao. Tôi không quan tâm nó được may bằng loại hàng gì, chắc chắn đó là một loại tơ lụa thật giá trị, phải được may tỉ mỉ với những bàn tay khéo léo…. Nó không phải đẹp ở điểm đuôi váy dài khiêm tốn hơn đuôi váy dài 7,5m của Công nương Diana. Nó không phải đẹp vì thân váy được trang trí bằng những hoa văn hết sức tinh tế làm bằng ren và đính lên váy bằng tay phương pháp thủ công được gọi là làm ren Carrickmacross có nguồn gốc tại Ireland từ những năm 1820. Nó không phải đẹp vì những bông hoa như hoa Hồng, hoa cây Kế, hoa Thủy tiên và loại cỏ 3 lá trên thân váy là bốn loài hoa cỏ đặc trưng của Vương quốc Anh. Đối với tôi, chiếc áo cưới bằng vải satin trắng ngà đẹp ở chổ kiểu áo như cố tình làm trang nhã đi để phô bày một thân hình thon thả mềm mại và tôn cao cặp ngực vun lên thật thanh tú của cô dâu. Hèn nào chú rể và cô dâu quen nhau gần nhau bấy năm trời, khi cô dâu được ông bố đưa lên nơi hành lễ đã khiến chú rể sững sờ buột miệng “Em đẹp tuyệt!”

Hình ảnh Kate đẹp tự nhiên không điệu bộ trong chiếc áo cưới vừa qua khiến tôi nhớ lại hình ảnh những chiếc dài Việt Nam một thời – Ngày trước các thiếu nữ mặc áo dài đẹp lắm, chiếc áo mặc ôm sát dáng dấp mỏng manh, ôm thắt vòng eo nhỏ xíu với vùng bụng phẳng lỳ khiến vô tình đã làm nổi bật lên vòng ngực e ấp dưới lớp lụa mềm của con gái VN. Chiếc áo dài VN thật gợi cảm, thật sexy mà không gợi dục. À có thể nói như người nào đó đã phân biệt tranh khỏa thân của danh họa Nguyễn Trung trên Facebook “Nếu được hỏi, tôi sẽ nói: Ở Sài Gòn người vẽ nude ấn tượng nhất là Nguyễn Trung…Anh đã tạo nên thứ chuẩn mực phụ nữ của riêng cho mình: tóc dài, ngực nhu nhú, gương mặt thanh thoát, nhẹ nhàng và có đôi tay dài ngoẵng… Sự nâng niu trau chuốt, thể hiện tài hoa ở các chi tiết và ở kỹ năng hòa sắc đầy biểu cảm với gam sáng như vàng – trắng, lam – trắng, nâu nhạt – trắng… thật tinh khôi, thanh khiết. Có lẽ vậy mà tranh khỏa thân của Nguyễn Trung không gợi cho người xem ý tưởng về tính dục chăng?”. Có lẽ vậy mà chiếc áo dài ngày đó đẹp không thể tưởng được, nó vừa dễ thương, vừa quý phái, hai tà áo phất phơ quấn quít khiến cho dáng đi càng thanh thoát mềm mại yểu điệu thục nữ.

Ngày nay chiếc áo dài đã bị các cô nghệ sĩ, người mẫu làm cho mất đẹp. Nhìn những tấm lịch thấy mấy cô mặc áo dài ểnh ngực, hẩy mông, kiểu catwalk kệch cỡm chướng mắt không chịu được. Mỗi lần thấy họ uốn éo trong các lễ hội tiệc tùng, chắc hẳn nhiều người chép miệng: Còn lâu họ mới theo kịp những phong thái thanh lịch của người Tây phương. ( ngày xưa lứa chúng tôi hoặc các bậc lớn hơn từ nhỏ hầu như được gia đình dạy ăn, dạy nói, đi đứng….. Hoặc tự tìm học trong sách như sách của BS Nguyễn Ngọc Bảy chẳng hạn…).

Đâu phải ngày xưa người đẹp. Bây giờ người càng đẹp đó chứ – quần áo, mỹ phẩm, thể dục, tiện nghi giúp rất nhiều cho người phụ nữ giữ gìn cái đẹp. Tuy nhiên nếu chúng ta biết cách tôn lên những ưu điểm, trau chuốt lại những khuyết điểm thì chúng ta càng không sợ thời gian.

Sắc đẹp rồi sẽ tàn tạ, nhưng phong thái dáng vẻ còn mãi. Cốt cách là ở chỗ đó.


thuỵvi

(Hầm Nắng Michigan đầu tháng 5-2011)

DẠ KHÚC CHIM DI.

phamkhanhvu

tôi có một trăm năm để ngồi nghe chim hót
tôi có một buổi chiều để đứng trước gương soi
trong tĩnh lặng của gương một bóng hình phù thủy
đang vẽ những hoa văn lên khuôn mặt cuộc đời

tôi có một nghìn đêm dằn vặt nỗi đau
trong máu chảy mùi mặn nồng của biển
những ngày xa như chưa bao giờ đến
những đêm gần chỉ có ở chiêm bao

những sớm mai vẫn xanh như mộng tưởng
dù những con chim gào tuyệt vọng trong lồng
tôi lại có một trăm ngày để vẽ nỗi cô đơn
như một bàn tay đưa ra về phía trước

những giòng sông vẫn lặng lẽ trôi về nơi xa
hoặc là em hoặc là chẳng bao giờ
tôi đã đến nơi này , cố nhủ lòng gắng đợi
chim sẽ lại về những khuya khoắt đêm xưa…

PHẠM KHÁNH VŨ

LAY GIÙM TÔI NHÉ !

tranvannghia

Gió về lay ngọn cỏ lau
Lay giùm tôi nhé chiêm bao một thời
Cái đêm hôm ấy xa vời
Run run khẻ chạm môi người trước hiên
Cái đêm xưa đó chưa quên
Lay tôi tìm lại bóng thiên thu buồn

Làm ơn ! Lay nhẹ , làm ơn !
Kẻo mưa xóa dấu tinh sương ngậm ngùi

Làm ơn ! Lay nhẹ , nhẹ thôi !
Sợ không giữ được mảnh đời phù du

TRẦN VĂN NGHĨA