ĐÊM THÁNH XƯA

nguyenvi

Đêm Noel mưa nhẹ
Tóc lay mềm tứ thơ
Ta suốt đời lặng lẽ
Tự ru quên ngày giờ.

Người mỏng manh chiếc bánh
Tan ngay trên môi hờ
Dễ vỡ như chén thánh
Ta suốt đời chỉ mơ.

Người nguyện bên hang đá
Đang cầu mong điều gì
Ta suốt đời vấp ngã
Vơi dần lòng từ bi.

Người về khua guốc nhỏ
Tung tăng chim sẻ nâu
Ta suốt đời vỡ nợ
Sá gì thêm tí đau.

Đêm thánh xưa thật lạnh
Co ro từ thẳm sâu
Ta suốt đời canh cánh
Riết vết thương mận đào.

NGUYÊN VI (Mùa Noel, 2014)

Trái Bồ Quân

nguyenthiminhngoc

“Thôi anh Hai, cái gì chớ cái thứ đó đệ xin hàng. Không có mồi thì nhậu suông chớ có chết chóc ai đâu. Bậy nà, đâu phải đệ không ăn bồ quân vì ngán trụy thai bại huyết như bọn phụ nữ, đệ có lý do riêng.

Sao? Anh cười đệ tái mặt khi chị bày ra cái thứ chát chát chua chua này à? Đừng có khích, thêm một xị nữa đi rồi đệ kể cho nghe. Chẳng là nó giống quá, màu nâu bóng của thứ trái này với màu da lì lợm của con bé. Con cái nhà ai chẳng biết. Bọn đệ xí được trong một trận càn quét. Pháo binh dập trước mở đường, Xe bánh sắt tiến theo. Tan hoang mọi thứ. Bọn đệ kéo vào khi những cây trính còn ngã xiên, cháy dở. Chỉ có những con heo giương từng cặp mắt ngu si đứng ngó trân. Gà vịt vài con chạy kêu tang hoác. Và những xác chết còn nóng hổi gục xuống trong những tư thế riêng như đang vót tre hay làm nhà, ngó bộ bình thản trước vẻ tức lộn tức lồng của thằng cố vấn Mỹ.

Trên một nền nhà còn ngún tro than của vách lá, bộ chỉ huy họp khẩn. Thằng Mỹ hầm hè:

– Có nội phản trong chúng ta. Lịnh hành quân chỉ có tôi và các ông biết. Thế mà bây giờ AK đâu, nón cối đâu để ghi vào chiến lợi phẩm? Hay là báo cáo sai? May là tôi đã cho bọn phóng viên thông tấn nằm nhà… Không thì lộ tẩy hết những tin tức chiến trường láo toét thổi phồng.

Cử chỉ đầu tiên của đệ sau buổi họp là ghé thăm lão hỏa đầu quân. Chi cũng “dĩ thực vi tiên”. Không bắt sống được người nhưng bắt sống được gà vịt là đệ khoái rồi. Trong những dịp “về quê” bọn đệ chẳng bao giờ sợ thiếu món này trong khi thằng Mỹ cứ thỉnh thoảng lại bị ăn mất ngon vì lắm hôm không bắt được người sống.

Lão bếp láo liên cặp mắt khi đệ bước vào. Lão lại xàng qua càng lại trước mớ củi đun khiến đệ sanh nghi ông này chộp được một con cầy mà xấu bụng “chơi riêng”.

Tay thộp cổ lão già, tay đệ vổ colt:

– Cây súng của tôi đánh hơi được mùi thịt rồi, nó cứ nhúc nhích muốn ra khỏi bao. Thế nào, ông Bảy có muốn tôi giúp cho món tiết canh không?

Lão Bảy ấp úng ngó xuống đất:

– Đại úy biết rồi thì em xin thưa thiệt. Em đi kiếm nước nấu cơm thì gặp nó ngồi thu lu cạnh giếng. Hỏi gì nó cũng không nói nhưng ngó bộ nó xăng xái giúp đỡ được mọi thứ nên em định xin với Đại úy…

Đệ cụt hứng, phủi tay:

– Ẩu, ảu, tía này ẩu! Lôi nó ra đây coi. Biết đâu Việt Công giả dạng.

Lão già giất nẩy mình:

– Không có đâu Đại úy. Nó nhỏ xíu hà. Con nít lẩm đẩm như ri mà mần chi nổi ai.

Miệng vừa nói, tay lão vừa kéo con nhỏ ra khỏi đống củi, ấn đầu con bé xuống đề chứng tỏ nó quá non nớt. Đệ hất ngược mớ tóc bù xù trước mũi nó, ngắm nghía, gật gù:

– Con nít thành phố cỡ này thì mới sáu, bảy tuổi, nhưng trẻ con nhà quê e cũng chín, mười tuổi rồi đây.

Rồi đệ quay đi kiếm thằng cận vệ giữ rượu, bụng nói lầm thầm: “Bậy, hết sức bậy, thay vì một con bé là một con cầy có phải hay hơn không? Đệ chỉ còn nhớ lờ mờ đôi mắt to như hai khu tô của nó lóe sáng trên một khuôn mặt cũng tròn xoay đen thui như một cái bánh bèo đổ đường đen.

Đệ làm ăn tắc trách, lơ đễnh như vậy nhưng mọi việc không qua nổi đôi mắt sắc lẽm của Tấn, tên phụ tá của đệ. Cơm nước xong xuôi nó mang con nhỏ ra “tráng miệng” ngay. – “Má em đâu?”. – “Ba em làm chi?”. – “Lúc pháo trúng làng em có thấy họ rút đi đâu?’. – “Em có thích súng không?”. – “Súng của anh với súng của họ, em thấy cái nào đẹp hơn?”… Xen kẻ những câu hỏi êm ái này là những “ngón nghề” được gả đem ra phổ biến trông chẳng êm ái chút nào. Lão Bảy thì nhảy quăn cả người như nước nóng đổ lưng, níu đệ cầu cứu:

– Đại úy cứu con nhỏ, Đại úy. Nó biết chi mà trả lời. Biết đâu bom đạn làm nó điếc tai không nghe được.

Không cần đệ can thiệp, thằng Tấn cũng ngưng. Chẳng phải nó chịu thua trước sự lì lợm của con nhỏ đâu. Tất cả chỉ vì tên Mỹ chưa hết cơn bực, nhìn một cách hờ hửng trò tâng công gỡ gạc của gã nọ. Lão Bảy được nước xin xỏ thêm:

– Nó được việc lắm, đại úy. Cho nó theo em phụ vặt. Em bảo đảm mà. Không răng mô. Kệ, Đại úy, giẻ rách đở nóng tay. Có bàn tay con gái, dầu là con nít, cũng đở nhiều.

Ừ, thì đệ cũng kệ. Giẻ rách đở nóng tay lão Bảy thì cũng sạch ngon hơn một chút mớ đồ nhậu của bọn đệ chớ sao?

Những ngày sau bọn đệ vẫn còn phải kéo dài cuộc hành quân về hướng chân núi hoang vắng đầy những bụi cây sơ rơ. Con nhỏ vẫn lặng lẽ đi theo, ngậm miệng như hai vỏ sò úp khít, như một cục than đen muồi lăn lóc theo đít nồi cơm. Nắng vẫn không làm nâu hơn được màu da của nó… Cho đến một hôm, lão Bảy tìm đệ, ấp úng ấp a:

– Đại úy tha lỗi thì em mới dám thưa. Cái con bé này… nó cứ như là ma, Đại úy! Ba đêm nay rồi, nửa đâm dậy làm em thấy mất nó. Đến sáng lại thấy nó nằm đó, ngủ vùi. Hai đêm nay, em có nhờ thằng Lang, thằng Đỏ theo rình xem nó đi đâu chơi thì cả hai thằng đều trở về lắc đầu kêu con nhỏ lách tài quá. Quẹo lối này, chui lùm nọ một lát đến hai thằng chóng mặt rồi thì… thụi nó không thấy con nhỏ nữa. Còn một chuyện này nữa. Em kiểm lại mỗi sáng thì thấy hao hớt gạo và lương khô. Không nhiều. Nhưng kỳ cụa quá. Ngoài nó ra không ai thèm ăn cắp ba thứ đó làm chi. Có điều chi nữa cũng đừng đánh đập nó nha, đại úy. Đại úy để từ từ, em hứa, em sẽ dò la.

Đệ thấy câu chuyện ngộ ngộ vui vui nhưng phải nạt lão Bảy kẻo mất oai:

– Giả thử con nhỏ tiếp tế lương thực cho địch. Giả thử con nhỏ bỏ thuốc độc cho anh em. Mang nó lên đây cho tôi.

Lúc thấy cái mặt tròn vo mà hiền khô của nó, đệ đổi ý ngay. Đệ truyền lệnh cho thằng Phụng, cái thằng nổi danh ca vọng cổ ngọt nhất đám ra tài chiêu dụ con nhỏ. Nhưng cũng như bao giờ, nó im lìm. Con bé trở thành trò chơi xem ai cạy miệng nó nổi. Nhưng ai rồi cũng thất bại. Nói ngọt thì nó chành miệng ra một chút, cười. Nói xẳng thì môi nó mím, còn mắt thì lóe lên, sáng quắc…

Đệ nháy nhó cho anh em rút lui. Thượng sách là trở lại chiến thuật đầu của lão Bảy: theo rình. Như thế mới hy vọng tóm trọn ổ. Chẳng ngờ đến cái trò chơi dễ èo này đám lính của đệ cũng thua con nhỏ. Huynh xem có dễ chém không chớ. Đường đường một đấng nam nhi như vậy mà đầu hàng một con nhỏ hỉ mũi chưa sạch.

Có hôm đệ ra lệnh nhổ trại đi trong đêm. Lúc đó con nhỏ đã biến mất và dĩ nhiên, hao thêm một mớ lương khô. Hai thằng theo rình cũng đã trở lui, chắc lưỡi tiếc rẻ không còn gặp lại con nhỏ nữa để bẹo má nó xem có phải là ma không mà biến tài dữ vậy. Ấy thế mà tờ mờ sáng, lão bếp lại kêu oái lên khi thấy nó về nằm ngủ ngon lành ở cạnh chỗ trú mới của bọn đệ.

Đệ thấy vấn đề trở nên trầm trọng rồi. Không thể để con bé này giỡn mặt hoài được. Hổm rày binh sĩ xôn xao. Phải “tính” con nhỏ này mới được. Cuộc hành quân chẳng biết sẽ kéo dài bao lâu. Cho nó là con kiến tha mồi mãi thế nào cũng hai cái tổ của bọn đệ để dày thêm cái tổ mờ ám nào đó của nó. Ngoài chuyện con nhỏ ra, chuyến đi chẳng có gì để nói. Nhạt phèo phèo. Bọn đệ chỉ gặp đá lổn nhổn cạnh bụi um tùm không một dấu vết chứng tỏ có chân người bước tới. Thằng Mỹ lâu lâu có ghé đến bằng trực thăng. Cái bản mặt của nó càng ngày càng hinh hỉnh. Tuồng như nó cho bọn đệ bất tài không săn ra người cho nó ăn cơm ngon miệng hơn.

Mãi đến cái đêm hôm đó. Cái đêm mà nếu đệ không có sự hổ trợ của ma men thì chắc kho6ng đến nỗi nào đâu. Mà nếu muốn đổ thừa thì có rất nhiều cái để đổ lắm. Tại lão trời nữa. Đêm đó lão trút nước xuống. Mưa nguồn mà. Huynh phải biết, lạnh tái lạnh tệ, có mười cái field-jacket thì cũng che bên ngoài chớ làm sao sưởi ruột sưởi gan. Lính cậu hành quân thì thiếu chi đế. Đệ thúc hai thằng khỉ đột của đệ dậy nhậu chung cho vui. Thằng Nam với thằng Phong. Rồi đệ nhớ ra còn mấy con mực nên kéo đầu lảo Bảy dậy để lão dọn lên.

Cái bộ lão hớt hải:

– Con nhỏ quỷ sứ thiệt. Mưa gió thế này mà nó cũng đi. Có cần phải ai đi theo không, Đại úy?

Đệ quẹt miệng, đứng dậy, hơi loạng choạng chút đỉnh:

– Để tôi, phen này tôi thân chinh đi.

Thằng Nam với thằng Phong cản:

– Đại úy để tụi em. Ngó bộ Đại úy hơi ngà ngà. Gió máy nguy hiểm.

Rồi không đợi tôi đồng ý, tụi nó phóc đi theo lối cũ con bé vẫn hướng về. Đệ cứ khề khà lai rai nhắm mực đợi hai thằng nhỏ. Càng trong càng bặt càng mờ. Mưa thì vẫn âm ỉ trắng xóa cho đến sáng luôn.

Trời sáng bừng thì con bé về mà hai thằng nhỏ không về. Khi trời ngớt mưa, lại cái thằng Mỹ càu nhàu như con khỉ ghé tới. Nhưng mà nói thiệt với huynh, có ông thần ve chai dòm lổ miệng, đệ không có cái tính chó chết như thằng Tấn ưa bày trò để kiếm điểm đâu, đệ xót hai thằng cận vệ của đệ thiệt tình. Mắt đệ cay cay, không nước mắt chảy nhưng mà nhức nhối. Đệ nghĩ hai đứa nó thế mạng mình. Tội nghiệp thằng Nam mới đi hỏi vợ, còn thằng Phong tính nó còn trẻ con lắm, hôm nào trong một lúc dừng quân đệ mới bày nó nhảy valse theo một điệu nhạc trong radio đây.

Trong lúc thằng Tấn gân cổ hoa tay cắt nghĩa cho thằng Mỹ thì đệ dùng dây quấn con nhỏ lại như bó bánh tét. Đệ vừa thắt nút vừa lẩm bẩm:

– Nói đi con ơi, không thì bố hứa sẽ cho con chết không toàn thây. mày không làm sao một mình giết nổi hai thằng kia. Chắc chắn phải có đồng đội giúp sức. Khai ra một tiếng thì được sống.

Hai con mắt nó vẫn giương thẳng, trừng trừng. Xé toạt manh áo bẩn đen lòi cuốn ún lồi và vẫn màu da nâu bóng, thằng Tấn tấm tắc khen:

– Rún lồi lì số một. Nhưng ông ra tay thì đừng hòng con ngậm răng.

Cái biện pháp tra tấn mới này là một sáng kiến của thằng Tấn. Nó đẩy chùi một mớ chất nổ dưới sợi dây căng ngang bụng con nhỏ, nối vào đấy một sợi dây dài xong hò hét anh em dang ra, tay cầm đầu mối, tay bật cái Zippo, miệng đe con nhỏ rằng sẽ đếm từ một đến ba, con nhỏ không nói nó châm mồi ngay.

Con nhỏ vẫn một mực ngậm câm. Thằng Tấn nói là làm. Hơn nữa, nó không thể bỏ dở khi thằng Mỹ đã ghé mắt, gật gù, tỏ những cử chỉ vừa ý đầu tiên kể từ khi mở cuộc hành quân. Khi sợi dây cháy được phân nửa, những cặp mắt đổ dồn, những trái tim tưởng như nghe rõ tiếng đập, lão Bảy cũng đứng im, nước mắt chảy ròng ròng không thèm gạt.

Con bé vẫn nằm đó, không cục cựa nhếch môi như một thứ gì vô giác vô tri nếu không có đôi mắt sáng hơn, phát ra những tia không phải căm hờn mà là một điều gì khó tả. Tuồng như nó muốn nói. Chơi cái gì kỳ quá. Thả trói tôi ra đi.

Đệ bước tới, dẩm tắt lửa, bẹo má nó lần chót. Đệ vẫn nhớ, huynh ơi, như in, cái cảm giác đó. Đôi má nó săn chắc, tay đệ bấm không lõm vào và mồ hôi của nó nhờn nhờn dưới tay đệ. Đó, đó! In như một trái bồ quân. Và cái môi mím mỏng. Ánh mắt thì cũng vẫn vậy. Ngạc nhiên, đôi mày nhíu, khó chịu… Đồng thời, đệ thấy rõ hơn hai khuôn mặt thân cận của Nam và Phong. Đệ thấy cả con vợ của thằng Nam và cái bộ vụng về của thằng Phong trong nhịp Soul đầu tiên. Đệ lại châm lửa cho sợi dây cháy tiếp và hô mọi người tuông chạy ra xa.

Huynh ơi, thịt rơi từng cục, từng cục. Tròn trịa, bóng nâu, đỏ lòm, trắng phếu. Có hai tiếng rú lên của lão Bảy và thằng Phụng.

Bạc ác thì thôi, huynh có biết, chỉ năm phút sau thằng Phong lù lù về. Nó ung dung duổi tay duổi chân than mõi. Thằng nhỏ khoe khoang đã khám phá ra được chốn đến của con nhỏ. Chốn về thì đúng hơn. Đó là cái làng vừa bị tàn phá. Và một miệng hầm ngay chỗ lão bếp nhặt được con nhỏ đang được thằng Nam nấp gần đó canh chừng để Phong về kéo thêm vài tay súng. Đêm qua mưa to quá, hai thằng chờ ngớt mưa mới phân đứa ở đứa về. Ấy thế mà con bé đã băng băng vượt hết mà về, như một người lớn đúng giờ hò hẹn.

Ngay lúc thằng Phong mới về đệ đã nghe lạnh rợn xương sống. Oan thì chưa chắc con nhỏ oan nhưng thằng Phong con sống mà lại đi đối xử con bé như thế quả là có quá tay. Thằng Mỹ hất hàm về phía Phong ra dấu đệ nên kiếm cho nó một cái huy chương nào đó.

Đệ cũng thấy được những nét buồn bả cùa anh em khi xốc lên vai khẩu súng nặng nề đi ngược lại hướng cũ. càng đi càng thấy phục thêm đôi chân nhỏ dẻo dai của con bé. Đi một chập mới thấy lão Bảy và thằng Phụng lót tót chạy theo. Thằng tấn nói nhỏ với đệ: Phải đề phòng hai tên nàyKhi nãy chúng nán lại hốt thịt con nhỏ chôn vun thành mộ.

Cho đệ thêm một xị nữa, anh Hai. Ái chà, làm phiền chị quá, chưa đủ để say đâu chị. Tay bỗng run đến nỗi làm hỏng ly quý của chị chắc vì ngọn gió ác nghiệt này. Mụ vợ đệ nhằn đệ vụ rượu chè này hoài. Nhiều mụ đàn bà, chẳng phải ai cũng như chị đây, thấu hiểu nỗi khổ tâm của người chồng. Không có rượu làm sao quên và không có rượu làm sao đệ chịu nỗi cái giò cụt này hành mỗi khi trời trở gió. Bây giờ chắc huynh đã rõ lý do chính khiến đệ hủy hoại thân thể rồi. Đệ được giải ngủ là một phần. Nhưng nếu không có cái vụ con nhỏ chắc đệ chẳng bao giờ chơi cái trò này. Đệ đã từng tống giam biết bao nhiêu gã đàn em chơi dại bắn tay, đập chân bằng mìn cóc hay xà-beng, chặt ngón trỏ để thành thương phế binh.

Có chi mà hối hận hả? Đệ chưa kể xong à? Thì con nhỏ chết như vậy đó. Còn ở dưới hầm thì chẳng có con mẹ gì gọi là chiến công oanh liệt cả. Một phụ nữ mù và một bộ xương bọc giấy quyến. Huynh hiểu không? Một mụ già gần đất xa trời lạy như tế sao khi bò lên khỏi mặt đất: “Tui đã noái nó đừng tham đồ ăn, đồ uống chi của ai. Cả tháng ni nhịn được thì hà huống chi vài ngày không kham nổi mà lấy chi của người ta”. Chị phụ nữ kia thì mới nhú cái đầu lên đã giương cao đôi mắt trắng dã, nghe ngóng:

– Út Câm mô nà, tới đở mạ lên coi…

Một tên lính nhảy xuống cái hầm cạn vớt lên được mẩu lương khô của bọn đệ còn dấu răng gặm.

Như thế đó huynh, bọn đệ đã nhục nhả. hạ mũi súng sè sẹ rút lui trước hai “kẻ địch” ốm yếu tật nguyền run rẩy như hai con mèo ướt nhẹp chưa mở mắt bị bốc khỏi cái ổ đẻ của mẹ nó.

Trên hướng về, cả bọn tựa một đám âm công thất thểu. Những bước của đệ nghe nặng như đá đeo. Tiếng kêu chậm rãi, lạnh lẽo của người mẹ cứ vẳng theo, đeo dính lấy chân đệ suốt cả đường về.

Còn cái bóng đen nâu của con nhỏ thì cứ mãi đến bây giờ vẫn không khỏi đè lên ngực đệ. Rượu từ đó uống nghe nhàn nhạt, tanh tanh nhưng không có nó càng không chịu nổi… Và cái thứ trái này nữa. Một lần hàng xóm tưởng đệ nổi điên chỉ vì đệ tần thằng con đầu một trận, thừa chết thiếu sống khi nó bóp chẹt nhẹt giữa ngón trái và ngón trỏ một trái bồ quân…”.

Trăng đã quá những hàng đèn bên công viên. Chân búp sen xi-măng cặm giữa như một người chôn sống còn thòi đôi chân nếu trông ngược và chắp đôi tay cầu cứu nếu trông xuôi… Thành phố im lìm. Cây si rũ rể, sựng đứng. Những chiếc lá thu thôi lao chao. Hương thị phảng phất, ngát nồng. Chiếc cốc lăn nghiêng trên nền xi-măng. Rượu thuốc nâu bạc sóng sánh dưới trăng. Tiếng người đàn bà nhỏ nhẻ, rõ ràng trong đêm thanh vắng:

– Xin lỗi anh, có phải làng ấy mang tên Thi Ức ở Tây Nguyên…

Nguyễn Thị Minh Ngọc

DOANH DOANH…

vudinhhuy

DOANH DOANH 1

Ta lạc nhau rồi Doanh Doanh muội
Khúc Tiêu Cầm em thả về đâu
Cánh nhạn trôi se chiều quan tái
Kiếm Độc cô buông dưới thành sầu

Em về chưa lao xao rừng trúc
Ta tìm em dẫm nát Ta bà
Chủ quán đâu rót thêm rót nữa
Ta chờ người tình dẫu đã xa.

DOANH DOANH 2


ta nghịch đạo
phản đồ
sao em đến
hở Thánh cô
trong ngần
Ta bà không chốn dung thân
ơn em vô lượng
mùa Xuân hải hà
cõi tình là chốn yêu ma
xác thân lãng tử
mù lòa trái tim
một ngày
em vỗ cánh chim

ta buồn
nhưng chẵng thèm tìm
Cafe nhấm nháp
lim dim phận người.

VŨ ĐÌNH HUY

GIÁNG SINH ẤY

nguyenngocnghia

Trái tim cũ rích
cứ se sắt buồn
đêm xưa hương mật
thuở tình xanh non

em ủ đêm đông
đầy bờ ngực ấm
chân ơi. chầm chậm
nghe cỏ thầm thì

vai ơi. có lạnh
đọng giọt thánh ca
mềm ơn phước thánh
hương tóc thật thà

Chúa nào quở trách
nụ hôn rũ mềm
đồi sương thao thức
vọng lời kinh đêm

rung đi nhã nhạc
đêm thánh vô cùng
chiếc áo che chung
gói hoài thương nhớ

………..
Trái tim. vốn nhỏ
thất lạc bên trời
Giáng sinh. mùa ấy
lại về. em ơi….

NGUYỄN NGỌC NGHĨA
(12.2014)

VÀ MỖI LẦN NOEL ĐẾN

Cứ cuối tháng 11, đầu tháng 12, cái lạnh bắt đầu thấm trên từng cây lá, thấm vào những bàn tay, vào những nụ cười, tôi nghe được cái lạnh qua lời nói của mọi người: “Gần đến Noel rồi!”. Và tôi nghĩ về mùa Giáng Sinh với những cây thông gắn những món quà xinh xắn, nghĩ về truyện “Cô bé bán diêm” của Andersen. Tôi cảm thấy mình còn may mắn được sống trong sự đủ dùng như theo lời nguyện của người Kitô trước những bữa ăn. Dẫu tôi không theo đạo nào, nhưng tôi vẫn tin có cái Đại Ngã Vô thường tồn tại cùng cái Tiểu Ngã của tôi.

Nhớ năm học 1973 – 1974, tôi học lớp 12B3 trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Tôi được học triết do thầy Hiền dạy. Dù tôi học ban B, thế nhưng cũng nhờ những khái niệm cơ bản về triết học, tôi nhìn nhận sự vật không chỉ duy tâm hoặc duy vật, duy lý hoặc duy tình. Môn triết là môn có thể là sở trường của tôi. Có lần, trong một giờ học, tôi đã giơ tay trình bày quan điểm non nớt, ngây ngô của mình: “Thưa thầy, theo lý thuyết thì bất cứ vật chất nào cũng bị nóng chảy ở nhiệt độ cao. Thế nhưng, mặt trời cũng là dạng vật chất, nóng đến hàng ngàn độ, nhưng sao nó chỉ có nóng mà không chảy?”. Tôi nhớ thầy không trả lời cụ thể, mà chỉ gợi cho tôi thấy rằng lý luận chỉ là lý luận. Cả thế giới vật chất này không chỉ có vật chất thuần tuý mà còn có sức mạnh vạn năng nào đó đang điều hành cả vũ trụ này. Lời thầy chỉ thoáng khơi gợi một điều gì đó trong tôi…

Và mỗi lần Noel đến, tôi đều tự hỏi: Sao nhạc thánh có sức mạnh lôi cuốn, nhẹ nhàng, thánh khiết như vậy? Sao tiếng chuông nhà thờ làm rung chuyển sự tỉnh thức của mỗi tâm hồn đến vậy? Sao lời của Chúa hơn hai ngàn năm vẫn là sự thật? Tôi có dịp may là đọc những lời trong Kinh thánh, nhất là phần Tân ước. Sao Chúa yêu thương con người đến vậy, trong khi con người nhân danh con người lại mạt sát, bắt bớ, cầm tù, đâm chém, hành hạ lẫn nhau? Sao Chúa bao dung đến vậy, trong khi con người vẫn nuôi thù hận triền miên? Sao Chúa lại chữa lành những vết thương của người bệnh, trong khi con người gieo rắt những mầm diệt chủng, diệt sự sống ở trần gian này? Chúa vì ai mà yêu thương, bao dung, chữa lành con người? Vì ai? Vì ai?…

Nghĩ đến Chúa, tôi lại nghĩ đến Darwin. Theo Darwin thì có thể thuỷ tổ của loài người là loài vượn – người. Nhưng mấy có ai, kể cả ông Darwin thờ vượn – người và gọi nó là ông tổ? Đã là thuyết thì mãi là thuyết! Có ai cho mình là giòng giống thấp hèn? Có ai cho mình là người dại? Có ai vẽ hình tượng vượn – người để thờ phụng đâu? Kiến thức của tôi có hạn, như cái sống có hạn của tôi ở cõi trần này, tôi không biết có tôn giáo nào, tín ngưỡng nào thờ vượn – người và tôn vinh nó không?

Và mỗi lần Noel đến, tôi như thuộc lòng câu “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (có nơi cho là người thiện lương). Ngẫm đi ngẫm lại lời ca ấy sao thực tình, thực tế, gần gũi với con người đến vậy. Chỉ cần câu “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” là thấy sướng cả bụng rồi! Cầu mong cuộc đời này, người thiện tâm được an bình là quý rồi. Nhưng cuộc đời này, chính con người đã gây ra bao tai hoạ, đã tự trút những cơn thịnh nộ của tham sân si thì làm gì có sự an bình cho chính mình và cho người khác. Thật là buồn! Buồn cho kiếp người không có bình an vì trót gây tội.

Nói đến tội, tôi cũng là kẻ có tội ở trần gian này. Thấy cha mẹ già yếu mà không được chăm nom, phụng dưỡng hằng ngày là có tội. Thấy anh em nghèo khó mà không giúp được, vì mình chưa giúp được mình xong, cũng là tội. Thấy mình vì tiền mà chèn ép học trò đi học thêm để mình tồn tại cũng là có tội. Thấy học trò không chăm học, không học giỏi, cũng thấy mình có tội. Thấy con cái khổ cực mà chẳng giúp được, thấy con cái lớn rồi mà chẳng có công ăn việc làm ổn định, cũng là tội. Thấy việc phải mà không dám làm vì hèn, vì sợ cũng là tội. Cái tội nó đeo đuổi mình suốt kiếp!

Biết bao cái tội của kiếp làm người. Nhiều lần, tôi làm điều gì sai trái, tôi cảm thấy mình cớ sao dại những một giờ như vậy? Cớ sao có lúc giận hờn? Cố chấp? Biết bao điều để tôi trở thành kẻ có tội ở thế gian này. Tôi lấy làm xấu hổ, ân hận vì những gì tôi gây nên tội. Bất chợt, trong tôi hiện lên bao gương mặt của những cô gái bán dâm nuôi miệng, đang lấy hai tay che mặt khi có người chụp ảnh, quay phim. Chắc các cô còn xấu hổ. Tôi cũng bất chợt thấy bao gương mặt của những kẻ có quyền, có thế khi gây nên tội vẫn nhơn nhơn cười đểu, lẻo mép chối tội như thách đố với người thiện tâm. Những việc ấy, những con người ấy, báo chí đăng trên những bản tin hằng ngày bên cạnh những tin tốt lành. Tin ác, tin dữ còn, tội đó do ai?

Và Noel đến, bên tai tôi vẳng lên khúc nhạc mừng Thiên Chúa xuống trần, làm người để chịu kiếp người ở thế gian. Tôi như thấy cái chết của Thiên Chúa trong thân phận người mới làm cho con người đến với ánh sáng, đến với sự bình an. Và khúc nhạc “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” cứ vang lên trong lòng tôi, như vỗ về tôi, an ủi tôi những lúc tưởng như tôi bị sa ngã bởi bao ràng buộc ở cõi trần này.

Trong tôi cũng vẳng lên lời bài hát như tránh móc, dỗi hờn của Trịnh Công Sơn: Chúa đã bỏ loài người – Phật đã bỏ loài người… Thế nhưng, mỗi lần Noel đến, tôi nhẩm hát theo những ca khúc Giáng Sinh. Tôi hát mà tin rằng Chúa Phật chẳng bỏ loài người. Chúa Phật vì loài người mà đến với thế gian này, đến để người bình an, để người được làm người thiện tâm, an bình dưới thế.

Phan Trang Hy

Thơ Nguyễn Tấn Cứ và Tôn Nữ Thu Dung

nguyentancu

Những ngày vui
anh giấu buồn trong túi
Như chim bay
khuất cánh biệt sương mù
Khi uống sạch
nụ cười trong quán lạ
Hai tay gầy
khánh kiệt
hết tương lai.

Nguyễn Tấn Cứ

Những ngày vui
anh giấu tình trong túi
Quán rượu buồn
không biết với ai say
Khuya khoắt lạnh
một mình anh lầm lũi
Lỗi tại em
biền biệt dáng xưa gầy.

Những ngày buồn
anh giấu hồn đâu nhỉ
Lòng hoang mang
và uất ức như mưa
Đêm u ám
vẫn mịt mùng hoang tưởng
Lỗi tại em
thời ấy quá đong đưa.

Những ngày vui
ngày buồn
ngày lơ lững
Những đêm chờ
đêm vô vọng
đêm xưa
Nghiêng ly cạn
( cố làm như hờ hững)
Sao còn nghe
đau trận gió giao mùa.

Tôn Nữ Thu Dung

NẮNG ĐÔNG VỀ

buithanhxuan

Hoa lau nở chắc chắn sẽ không có cơn bão nào trong năm nữa. Thật vậy không.
Cái nắng ấm mùa đông phủ đầy các góc phố. Một mùa đông kì lạ. Bốn mùa trong một mùa. Thậm chí chỉ trong một ngày. Nó chẳng báo hiệu điều tốt lành nào. Đường phố bỗng thênh thang rộng. Người ta không còn phải chen lấn và vắng đi tiếng ầm ào xe cộ
Lạ quá! Hay cảm giác của người trở về thấy mình cô độc giữa con đường, tiếc nuối một thời tuổi trẻ vội qua nhanh
Này em! Con đường Thống Nhất ngày xưa bây giờ xa lạ quá!
Không còn bóng cây xa cừ sần sùi ta tựa gốc đứng chờ em ngoài sân trường
.
Những dãy phòng học và hàng cây bạc hà người ta đã thay vào một cao ốc tráng lệ. Những lớp kính phản chiếu nắng chiều bắn vào mắt anh như những tia lazer khi ngồi trước mặt cô Bác sỹ nhãn khoa xinh đẹp
.
Này em! Ta bần thần cột đèn xanh đỏ tìm lại tà áo trắng ngày xưa. Vỉa hè lát gạch sạch sẽ. Không còn nhấp nhô như lần vụng về vấp té khi đi bên em
.
Em! Nắng đông rực rỡ quá,
Ta nhớ ngày tầm tã hai đứa choàng chung tấm áo mưa lặng lẽ đi bên nhau dưới hàng cây ven sông vào một chiều đông đã xa. Bụi mưa giăng như màn sương mờ ảo. Em nói hai đứa khùng mới đi dưới mưa. Nhưng ta biết em tiếc nuối con đường sao lại ngắn ngũn như chuyện tình của mình. Phải không em?
Một chiều ta đưa em xuống biển. Biể dịu êm và lặng lẽ.
Những con đường ta thường đi qua, bây giờ trở nên rộng rãi và tráng lệ. Người ta cũng đã lấy đi bờ rào đầy hoa Tigon bao quanh những căn nhà trong khu cư xá. Họ thô bạo thay vào bằng những cao ốc đầy ô cửa kính như tổ ong
.
Kiến trúc có một định nghĩa riêng. Nó là một từ ghép nghĩa rối rắm và phức tạp. Những ngôi nhà được xây dựng thêm phức tạp và rối rắm.
Nhưng tình yêu thì rối rắm, phức tạp hơn nhiều! Định nghĩa tình yêu như một tổ chim.đan xen của hoa và cỏ.
Ta tìm nhau một đời để đánh mất nhau một giờ
.
Ta nhớ nắng! Ừ, Trong nắng ngạt ngào gió và nồng nàn bao nhiêu là hương.
Có chiều nắng nhạt ta chở em trên chiếc xe đạp không có yên sau. Chẳng là ta muốn ngửi mùi bồ kết trên tóc em ngược gió. Hờn dỗi trách ta sao không chở em trên chiếc xe Honda sáu bảy. Chẳng là lúc ngồi sau, em làm nóng lưng ta. Trên thanh ngang xe đạp tóc em thơm nhiều hơn, ta có thể ôm trọn em vào đôi tay mình
Em lại bảo trên thanh ngang xe đạp sẽ làm em đau cái mông. Thà em đau cái mông còn hơn phía sau ta có khối kẻ cơ hội đang chờ
Em ! Nắng đông rực rỡ quá.
Ta nhớ về một chiều hai đưa ngồi trong quán Quỳnh Châu ngạt ngào hương Ngọc Lan thoảng về từ ngôi biệt thự cạnh bên. Mùi Ngọc Lan quyến rũ em như mùi bồ kết khiến ta ngây ngất!
Một ngày giáp Tết hai đứa co ro trong căn phòng. Gió lạnh lùa về cuốn phăng đi tất cả phút giây ấm áp hẹn hò, tưởng chừng hạnh phúc sẽ vĩnh hằng. Cuốn phăng đi tình yêu ta dành cho nhau như cơn bão sắp lùa về thành phố
Rồi ta chia tay nhau trong một chiều buồn nghe Khánh ly hát Phôi pha!
Em đi và bỏ lại con đường. Ta bắt đầu uống và càng uống thì càng nhận ra hạnh phúc đơn giản là sự cảm nhận. Gầy Đi, bỏ những thứ sang trọng đã giúp ta quyến rũ, trở nên trầm lặng. Lại chiêm nghiệm mọi thứ qua ánh mắt già nua.
Khi người ta già, khó làm mình trẻ lại!
****
Kết thúc tạp văn .
Trong một chiều nắng đông không báo hiệu điều tốt lành. Cơn bão đang vẫn vũ ngoài kia gàm gừ dọa cuốn phăng đi tất cả
Tôi nhớ ngày xưa!
Phải dừng lại tạp văn này không có kết thúc. Cũng tò mò muốn biết gã đàn ông này định kể tiếp diễn biến chuyện tình của gã ra sao. Tò mò là một tính từ thuộc về cảm nhận, suy diễn theo cách của tôi. Nó có thể làm cho bạn hạnh phúc trong chốc lát
Trịnh dùng từ đắt giá hơn. Ông viết “ mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”.
Nếu bạn nghĩ hạnh phúc là thứ gì đó lớn lao, bạn hãy nên vui mừng vì mình còn trẻ con quá!
Nắng Đông về !
Bạn hiểu như thế nào cũng được.
Với tôi, nó có nghĩa là những ngày nắng buồn.
Ngày mai tôi nghe theo Trịnh “ chọn một niềm vui” . Tôi sẽ viết tiếp câu chuyện trên nền tâm hồn khác.
Rất khác!
Nhìn nắng đông vàng đi! 
Bão về !
(Sửa lại từ NẮNG THU VÀNG)

BÙI THANH XUÂN

6/12/214

Bốn Mươi Năm

trantrungta

Bốn thập niên rồi, tôi vẫn sống,
bạn bè cùng tuổi chẳng còn ai…
Tôi đi lính thuở đời trai trẻ,
bạn cũng như mình…chết thuở trai!

Những thằng chết trận ôi là sướng,
có được cờ tang phủ lễ tang,
tôi, cải tạo đi, mưa lắc rắc,
cuối đời hàng dọc hết hàng ngang!

Rồi…Ra cải tạo, đời thêm tuổi,
đồn ải ngày xưa tạ núi rừng:
nước mắt cầm chan lon gạo mục,
chiêu hồn bè bạn chút rưng rưng…

Rồi…Tôi ra biển, đi, mong khuất
cái bóng của mình khi nắng lên.
Gọi bạn gọi bè: linh hiển nhé,
ba chìm bảy nổi giúp anh em…

Rồi…Tôi sống sót. Tôi còn sống.
Sữa cặn, bơ thừa, có phải không?
Đưa miếng bánh thơm lên miệng cắn,
nhớ khoai lang luộc, nhớ vô cùng…

Bốn thập niên rồi, tôi sống sót.
Sống thừa…Chưa thấy một ngày vui.
Cờ bay…vẫn có cờ bay đó,
thiên hạ còn thương nhớ một thời!

Tôi đứng dưới cờ, tôi muốn quỵ.
Mình đã quá già như ngựa già,
chân bon chưa hết đường thiên lý,
lỏng vó chồn chân bóng nguyệt tà!

Bốn cái thập niên, bốn cái mười,
chỉ thèm một cái: nụ cười tươi!
Bao giờ, biết đợi bao giờ nữa:
bến cũ, đò xưa, cuộc đổi đời!

Trần Trung Tá

MÙA ĐÔNG

nguyenthikhanhminh

Mùa Đông tôi ra đời
Mẹ mừng mẹ nói Ngọc Hà có một đóa hoa huệ nở trước mặt trời
Vừa sinh ra tôi đã hắt hơi. Mẹ đùa, chưa đi xa mà Hà Nội đã nhắc về
Mùa Đông tôi ra đời
Nhà vắng bóng cha. Mẹ và Bà lặng lẽ

Mùa Đông thôi nôi
Mùa Đông mẹ bồng đi xa
Hà Nội trong tôi chưa kịp thành giọng nói
Hà Nội trong tôi chưa tượng thành ký ức
Theo tôi cái lạnh vơi dần theo phía nắng

Lớn lên da ngào muối biển
Lớn lên cát trắng chân quen
Lớn lên môi cười nắng ấm
Lớn lên mắt xanh trời rộng
Lớn lên sóng vỗ trong lời
Lớn lên tóc rằm dương liễu
Lớn lên biển ở trong tim

Mùa đông mùa đông. Ơi mùa đông ấp ủ
Bao nhiêu năm, giấc ngủ
Hà Nội vẫn thường về
Mơ mớ giấc chiêm bao…

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Tam Tạng bán sách

phamhoainhan

Tam Tạng là một trong những nhà phát hành sách lâu năm nhất trên thế giới. Cơ duyên bắt đầu từ lúc ông bỏ mười mấy năm trời đi thỉnh kinh Phật từ Tây Trúc về để biên dịch và phát hành tại Trung Hoa. Từ kinh nghiệm thỉnh kinh, Tam Tạng cùng các đệ tử mở ra công ty phát hành sách, trước là phổ biến văn hóa đến đại chúng, sau là có thu nhập để thầy trò cùng sống.

Công việc lúc đầu rất tốt, thế nhưng rồi trăm thứ khó khăn ập đến. Giá giấy, chi phí in ấn ngày càng cao, tiền bản quyền tác giả, phí xuất bản cũng không phải là thấp. Thế mà sách in ra chẳng mấy ai mua, hàng tồn kho chất đống, chất đống. Tóm lại là chi ra thì có mà thu vô thì không. Công ty lỗ vốn trầm trọng.
May mà còn có Tôn Ngộ Không – giờ là trưởng phòng Kinh doanh – y đến hiến kế cho Tam Tạng.
Thưa sư phụ, ta bán ế là tại bây giờ người ta lướt web nhiều, chẳng mấy khi mua sách in, được vài người mua sách in thì lại mua sách lậu rồi. Ta lại phải chịu đủ thứ chi phí: giấy, công in, phí vận chuyển và cả phí lưu kho nữa.
Tam Tạng rưng rưng ngấn lệ, hỏi Tôn Ngộ Không:
-Con đã tìm ra yêu quái rồi, vậy giờ con có phép thần thông gì để cứu khổ cứu nạn cho ta không?
Tôn Ngộ Không vỗ trán, nói ngay:
Phép thần thông ở đây là sách điện tử sư phụ à. Máy tính bảng và smartphone cỡ lớn ngày càng phổ biến khiến người ta sẽ đọc sách trên mạng nhiều hơn. Với sách điện tử ta giảm toàn bộ chi phí in ấn, giấy in xuống bằng 0, giảm cả chi phí phát hành mà độ lan tỏa lại lớn hơn. Giá sách sẽ giảm nhiều, từ đó mọi người sẽ mua sách của ta.
Tam Tạng mừng quá, duyệt kế hoạch cho Tôn Ngộ Không tổ chức bán sách điện tử qua mạng.

Phương án đã được triển khai, giá bán sách điện tử chỉ bằng 30% giá sách in, không cần phải đi đâu xa, người đọc chỉ cần ngồi tại nhà đăng ký mua qua mạng và download sách điện tử về. Công ty của Tam Tạng cũng không cần có hàng tồn kho dự trữ, không tốn phí vận chuyển mà vẫn đưa sách đến tay người đọc kịp thời, đầy đủ.
Mặc dù có giải pháp ưu việt như vậy nhưng tình hình vẫn vô cùng ảm đạm. Người mua chẳng bao nhiêu. Các chi phí nhập liệu, định dạng sách vẫn phải trả, chi phí vận hành phần mềm vẫn phải tính. Đó là chưa kể chi phí quảng cáo. Lỗ vẫn hoàn lỗ!
Tam Tạng lại cho gọi Tôn Ngộ Không, lần này y cho biết:
Sư phụ không thấy là ta làm ăn khốn khó mà trưởng phòng Tài vụ Trư Bát Giới vẫn phây phây, béo núc na núc ních đó sao?
Tam Tạng thảng thốt kêu lên:
-Sao lại thế ?
Bát Giới chờ ta trả tất cả các chi phí bản quyền, phí biên tập, phí xuất bản, dàn trang xong thì lấy bản đó đưa lên trang web của nó. Nó không tốn bất kỳ chi phí nào trong tất cả các chi phí trên, cũng không tốn cả chi phí quản lý, không phải đóng thuế, Bát Giới bán ra với giá chỉ bằng nửa giá của ta là lời to rồi. Thậm chí cho không, chỉ thu tiền quảng cáo thôi cũng đủ no rồi!
Tam Tạng giận run:
-Đuổi việc Trư Bát Giới ngay!
Tôn Ngộ Không lắc đầu:
-Thưa sư phụ, không cần đâu, nó nghỉ rồi ạ! Nhưng không có nó thì còn vô số đứa khác đưa sách lên mạng ạ. Bây giờ Trư Bát Giới mở doanh nghiệp riêng và làm ăn phát đạt lắm ạ.
-Hả? Nó cũng bán sách qua mạng giống ta hả? Sao ta bán ế mà nó bán chạy?
Ngộ Không điềm tĩnh trả lời:
Thưa không, Trư Bát Giới không thèm bán sách nữa, chỉ lập ra một website có nội dung toàn là chuyện hài hước, nhảm nhí, thậm chí tục tĩu, phù hợp với tính tình của nó thôi ạ.
-Không phải những biên khảo công phu, những sáng tác văn học tâm huyết hay sao? Ai mua những mẩu nội dung đó của nó?

Những nội dung đó được xem miễn phí và người xem còn được tự do đăng bài lên đó nữa. Người đời ai cũng khoái xem chuyện hài và tục tĩu hơn là đọc sách nên vô đó coi nườm nượp. Trư Bát Giới chả cần liên hệ các nhà nghiên cứu, các tác giả văn học chi cho mệt, cũng chả cần thu tiền người đọc. Với lượng truy cập lớn như vậy, Trư Bát Giới chỉ cần thu tiền quảng cáo thôi là khỏe re!
Tam Tạng hiểu ra vấn đề, nức nở:
Ta hiểu rồi, nhưng ta là Đường tăng mà, sao có thể làm trang web hài như vậy? Ta chỉ biết bán sách thôi. Ôi, Ngộ Không, ta phải làm sao đây?
Tội nghiệp, cho tới khi tui kể lại chuyện này thì Tam Tạng vẫn đang thút tha thút thít khóc, Tôn Ngộ Không dỗ hoài mà cũng hỗng chịu nín.

PHẠM HOÀI NHÂN