TÌNH CA BẢO LỘC

tranthoainguyen

Anh đi tìm em hết tuổi xanh
Sững sờ Bảo Lộc mắt tròn xinh!
Lên đèo se lạnh sương thương nhớ
Gió hát vườn ai trái trĩu cành.

Anh qua B’Lao vào Đambri
Đại ngàn cổ tích thác Tình Si.
Hớp ánh trăng rừng thơm gỗ quí
Hồn anh chếnh choáng rượu hoa quì.

Tháp núi Đại Bình đỉnh tỏa trăng
Chuông mây Phước Huệ lụa ngân vàng.
Đất vương triều xưa hồ soi bóng
Nam Phương ơi! Tóc gió mơ màng.

Hương ngát chè dâu tay con gái
Trời em rưng rức ngực đồi xanh.
Nắng lên bản thượng cườm sương biếc
Gò má lan hương suối nhạc tình!

Mưa nũng nịu chiều nghiêng lũng sâu
Chuông nhà thờ đổ gọi hồn nhau.
Gùi em mang nặng tình nhân thế
Gió thổi về bốn biển năm châu!

Bảo Lộc ơi! Em hát rừng say
Đất tình duyên đỏ níu hồn người!
Ngàn năm cây lá còn xanh mãi
Ngàn năm còn gió hát bên đồi !

TRẦN THOẠI NGUYÊN

ĐỒ GHẺ NGỨA

buithanhxuan
 
Ngứa dã man! Ngứa tàn bạo ! Ngứa! Ngứa..Trời ơi! Ngứa
Nó tràn lan, tàn phá khắp thân thể ục ịch của gã đàn ông đang nằm trên chiếc giường đơn lót ván trong nhà tù. Khuôn mặt gã chảy xệ nhưng hốc hác. Miệng gã lẩm bẩm chửi tiên sư cái đồ ghẻ ngứa.
Mới ba tháng giam hãm, bọn chúng đã đánh hơi được thân thể màu mỡ của gã. Nó cào, nó cấu, nó cắn, hút máu. Nó đào khoét khắp hang cùng, ngõ hẹp.
Nó ! Nó đấy. Cái ghẻ ngứa

Tôi, tục danh là cái ghẻ ngứa. Tôi đàng hoàng sinh ra trong khu nhà ẩm mốc này  nên sống đời thoải mái. Cứ việc cào, cấu, cắn, hút. Tôi đàng hoàng xây dựng cơ đồ riêng của mình. Mặc kệ cái gọi là “người “ đang bị giam cầm nơi đây với tội danh tham nhũng. Chúng tôi sống bầy đàn và được quyền tung hoành, tàn phá thoải mái. Mặc kệ cái lão mập ú đang rên rỉ.
Tôi  cũng có đồng nghiệp . Nhiệm vụ của chúng tôi là chiếm lĩnh, phát triển và thống trị. Nhưng chúng tôi không hút máu lẫn nhau. Không như cái gã “ Người “ đang rên rĩ, chửi rủa kia
Tên tôi  Scarcoptes scabiei hominis. Không phải ai cũng biết và đọc được cái tên của tôi nên cái gọi là “ người “ thường phỉ báng ”đồ ghẻ ngứa”
Chúng tôi như vết dầu loang. Sống ký sinh trên thân thể này, gây các mụn rồi lớn dần. Chúng tôi lao động vất vả, chui rúc vào hang cùng ngõ hẽm, bụi rậm. Những nơi mà cái gọi “ người “cho là vùng nhạy cảm . Háng, nách, cửa hậu. Thậm chí những chỗ sang trọng như là mặt, mông, bụng,  cổ, tay, chân. Chúng tôi không chừa chỗ nào.
Từ từ nhưng mãnh liệt. Có khi lại như bão quét, sức tàn phá của chúng tôi thật kinh hoàng, lướt trên da như gió lốc tràn qua khu rừng rồi khoét sâu xuống gốc nang lông.
 
Trời ơi !
Ngứa kinh khủng. Ngứa cực kì ! Tàn bạo ngứa ! Dã man ngứa !
Nó âm ĩ.! Nó bùng nổ!
Gã đàn ông lại nhăn nhó..
 
Cứ rên siết đi ! Chẳng làm gì được chúng tôi.
Cứ than vãn đi ! Tôi mặc kệ
Loài “người” bảo tôi là “đồ ghẻ ngứa”. Có sao đâu. Kệ thây các “người”. Chung quanh tôi, trên dưới tôi biết bao cái ghẻ đang âm thầm thoải mái ngày đêm gặm nhấm, khoét háng đào hang
Người ta than vãn rồi lại chửi rủa. Cứ thoải mái. Ghẻ ngứa chúng tôi có tai đâu để nghe.
Rồi người ta lại cầu nguyện van xin. A ha ! Tôi đâu có trái tim để mềm lòng. Nếu có trái tim, thân phận chúng tôi đã làm  “ người “ chứ đâu là ghẻ để cho người phỉ nhổ. Tôi cần phải sống đàng hoàng như tên gọi là “cái ghẻ”. Trong cuộc đấu tranh sinh tồn này muốn sống đàng hoàng, tôi cần phải vứt đi bộ não, lạnh lùng làm công việc của tôi. Mặc kệ cái thân xác rã rời, rên xiết kia. Càng cắn hút vào nó, càng nghe được được những bản hòa âm tuyệt diệu. Cái ghẻ tôi càng được sống thoải mái, no tròn, trắng trẻo.
Đâu riêng gì tôi. Trên thân thể này còn có hàng ngàn cái ghẻ như tôi ngày đêm âm thầm cắn hút. Sinh con đẻ cái đầy rẫy ra đấy rồi lại di tản qua một thân thể khác. Mạnh khỏe và mập ú hơn. Tinh vi và xảo quyệt hơn
Nhưng không phải lúc nào chúng tôi cũng bình yên. Một vài cái ghẻ đã bị tiêu diêt. Có già, có trẻ, có lớn, có bé. Những cái ghẻ nghĩ mình không dễ bị đánh bật. Đó là lúc chúng nó dương dương tự đắc với những thứ mình đã cướp được. Chính là lúc sơ hở nhất
Gã “ Người “ có thuốc để ngăn chặn, trừng trị cái ghẻ mặc dù không hữu hiệu lắm nhưng có khối đứa cái ghẻ phải thân bại danh liệt . Như gã thân liệt danh bại nên phải nằm ở đây cho chúng tôi tàn phá.
“ Người “ gán cho chúng tôi là bọn ghẻ lỡ chỉ biết hút máu. Thật là quá đáng.  Cái gã được cho là “người “ này quá thiếu hiểu biết. Cái ghẻ bọn tôi có hút cũng là đang góp phần thanh lọc lại cơ thể rệu rã của cái gọi là “người” này. Chúng tôi khoét vách, đào hang đến sứt cả móng tay, móng chưn, xây dựng cơ đồ cho riêng mình là để tiêu diệt những loại ký sinh khác đang bám đầy từng lỗ chưn lông của người. Quét sạch trên cơ thể ấy những thứ dơ bẩn đang bu đầy bao lâu nay. Tẩy rửa bộ não đen tối, xấu xa của gã. Chúng tôi có hút là hút máu độc để tái sinh một loại máu khác cho cái “người” được khỏe mạnh. Tại sao cứ gọi chúng tôi là đồ ghẻ hút máu?
Đừng hòng hăm dọa chúng tôi bằng những thứ vũ khí dụ ruồi. Nào là “Thập vị bại độc thang” “Bạch hổ gia Quế chi thang” .“Ma hạnh ý cam thang” .“Tam vật Hoàng cầm thang”..Còn nhiều thứ vũ khí nữa mà “người” gọi là “thuốc trị ghẻ” mang ra chống đỡ, tiêu diệt tập đoàn ghẻ chúng tôi. Để đối phó lại, chúng tôi biết đoàn kết, che chở và chui sâu dưới gốc nang lông. Đố có thứ vũ khí nào tiêu diệt được
 
Gã đàn ông thiêm thiếp nhưng hai tay vẫn thoăn thoắt lên xuống khắp thân mình. Gã thọc tay vào háng gãi sồn sột, mặt nhăn lại
Gã không thèm quan tâm đến bọn ghẻ ngứa nữa. “ Kệ mẹ chúng mày. Ta đây đã một thời oanh liệt, tung hoành, kẻ tung người hô. Cũng đã từng dưới bùn rác leo lên vinh quang sự nghiệp. Ta thân bại danh liệt cũng vì cái con đàn bà khốn kiếp kia phản bội..”
“ Cứ cắn, cứ hút, đào hang khoét vách đi. Bọn ghẻ ngứa kia ơi! Bây giờ ta chẳng còn gì để mât “
 
Tại sao  lão gọi là “người” này lên án chúng tôi. Gã đàn ông đang nằm đây với tôi có khác gì nhau đâu chứ. Cũng chỉ là loài ghẻ ngứa như nhau thôi. Khác chăng, trước đây gã là “Người “ nhưng đã biến thái thành ghẻ. Thậm chí còn tồi tệ hơn bọn ghẻ chúng tôi. Gã là một loại ung nhọt của loài “ người”. Không như chúng tôi biết vì bầy đàn mà sống. Gã tham lam, lạnh lùng và xấu xa. Gã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cắn hút trên cơ thể đồng bào mình
Chúng nó là loại vi khuẩn luôn chực chờ cơ hội. Khi thời cơ đến, mụt nhọt xây dựng cơ đồ  to sừng sững. Nó làm cho bọn ghẻ chúng tôi phải ganh tị, nhức nhối, tránh xa. Nó sơn phết xanh đỏ lên cơ ngơi của mình. Chúng nó xây thành trì, làm hàng rào bảo vệ chặt chẽ không cho chúng tôi mon men lại gần. Chúng nó lớn nhanh để rồi tàn lụi nhưng gốc rễ nòi giống ấy khó mà tiêu diệt. Đã vậy còn được người ta mơn trớn, vuốt ve thoa dịu. Cũng là một loại ký sinh nhưng chúng tôi luôn bị phân biệt, khinh rẻ. Hàng ngày luôn phải chống đỡ biết bao cái cào, cái cấu cho đỡ ngứa của bọn người.
 
Nhưng có làm gì đi nữa thì cái ghẻ chúng tôi vẫn tồn tại, vẫn sinh nở, vẫn sống dai dẳng trên cơ thể này. Chúng tôi sinh ra không phải dễ bị tiêu diệt
Đừng chửi rủa cái ghẻ chúng tôi làm gì vô ích. Đừng căm ghét, thù hằn, ganh tị. Chẳng là chúng tôi đang làm cái việc mà gã đã làm trước đây. Là cào cắn, hút máu. Nhưng chúng tôi hút máu trên thân thể gã. Còn gã đi hút máu đồng bào mình.
Đừng than khóc nữa. Đừng “gato” làm gì vô ích. “Ga” gì cái loại như gã chứ. Buồn cười thật ! Loại như gã, khối đứa là ghẻ ngứa đấy thôi. Tôi nghe cái bọn là Người bảo vậy. “ Tham nhũng như ung nhọt, ghẻ ngứa “. So với các người, chúng tôi vẫn còn sang trong, lịch thiệp và nhân đạo hơn nhiều
 
Này ! Gã “người ” kia ơi! Cái ghẻ ngứa và bọn người  sống trên xương máu của đồng bào mình có khác nhau gì nào. Cũng cào, cũng cắn, hút như nhau thôi. Các người đâu sống bằng lương vậy mà cũng đàng hoàng, hợp pháp công khai xây nhà lầu, đất đai vài ba miếng. “Người “cho con di tản qua Mỹ, qua Tây dưới tên gọi là du học. “ Người “ lạnh lùng, vô cảm trước cái đau của đồng bào mình. Sự tham lam của “người “ vô độ quá. Không hút máu đồng bào mình, tiền đâu để “người “ có những chuyến du lịch qua Tàu qua Tây. Lấy gì nuôi con đàn bà phản trắc ấy.?
Tàn nhẫn quá !
Vậy thì đừng bao giờ gọi chúng tôi là “ Đồ ghẻ ngứa “ nữa nhé.
Hỡi cái gọi là “ người “ đang chôn đời còn lại trong bốn vách tường kia ơi! Không làm gì được chúng tôi đâu. Trời cao có mắt. Gieo gió thì gặp bão. Tội ác của “ người “ đã phải trả giá rồi đấy. Thời hoàng kim ăn bẩn nói phét qua rồi. Vậy thì im đi. Đừng kháng cự vô ích. Chúng tôi sẽ cào, sẽ cắn hút như “ người “ đã làm với đồng bào mình
 
Bởi chúng tôi là “ Đồ ghẻ ngứa” . Chúng tôi sang trọng, lịch thiệp và nhân đạo hơn “người “ gấp ngàn lần. Ghẻ ngứa không hút máu đồng loại mình
Hãy cứ chửi rủa, rên siết đi rồi nhìn lại mình có xứng đáng là cái ghẻ như chúng tôi không nhé!
Không ! Không đời nào “người “ có thể xứng đáng đứng ngang hàng cùng ghẻ ngứa chúng tôi đâu

Gã đàn ông hai tay nắm chặt song sắt, đầu gục xuống
Hỡi đồ ghẻ ngứa ! Hãy đợi đấy ! Tao sẽ tiêu diệt chúng mày
Đồ khốn nạn ! Tao sẽ giết chết chúng mày.
Đồ ghẻ ngứa !

BÙI THANH XUÂN

ANH CÓ VỀ KHÔNG…

quynhdo

Anh có về không, một chiều hoang
Rừng thông, mưa lạnh với lang thang
Vốc từng cơn nhớ chôn thật chặt
Để bóng người đi khỏi ngỡ ngàng

Anh có về không, tiếng ngâm thơ
Thiếu phụ bên song, dưới sương mờ
Tà áo sống, chết còn thêu đó
Anh phủ cho em áo tình ngơ

Anh có về không, chuông chùa ngân
Cửa Thiền rộng mở xóa dấu trần
Đứng dưới hàng hiên, nghe kinh kệ
Một chiều giông bão quyện ngang thân

Giọt đắng, giọt thương nhỏ môi mềm
Giọng hát liêu trai còn lay lắt
Xa em rồi, anh có thương thêm

Anh có về không, một chuyến tàu
Ngẩn ngơ hai đứa đứng nhìn nhau
Nước mắt chia ly còn mặn đắng
Mùa yêu xin hẹn những chuyến sau

Anh có cùng em về gác Thông
Một căn nhà nhỏ giữa hư không
Buông hết thương vay cùng nợ cũ
Sống với mây, trời, kiếp thong dong…

QUỲNH ĐỎ

ĐƯA EM ĐI ĐẾN GIÁO ĐƯỜNG

maiviet

Đưa em đi đến giáo đường
Sáng nay trời bỗng bất thường trong ta
Đường tình qua mấy ngõ hoa
Xin trời đừng để đêm xa ngày gần

Đưa em lòng cứ phân vân
Biết ngày mai có chung thân một đời
Ngón tay đeo nhẫn đâu rồi
Cầm lên để thấy mình kề bên nhau

Đưa em dưới nắng dãi dầu
Lỡ khi nào gặp sầu đau cũng đành
Đưa em bước chậm bước nhanh
Bước dài bước ngắn bước quanh co này

Bây giờ tay ở trong tay
Dẫn em đi hết đắng cay ngọt bùi
Xin em giữ thắm môi cười
Tìm hương xuân để dành nuôi mảnh tình

Lao xao góc chợ phù vinh
Đưa em về đó để nhìn trắng đen
Dẫu sau này có bon chen
Sóng đời vây bủa cũng quen thăng trầm

Qua nhiều ngả bảy , ngả năm
Đâu bằng một ngả trăm năm vô thường
Sáng nay quì giữa thánh đường
Đời anh từ đó xin nhường lại em
MAI VIỆT

Trăng đầy … khuyết em

tranngochuong

Đầu đình hỏi khóm trúc xinh,
Còn cưu mang mảnh vỡ tình ta xưa.
Cho ta hỏi nước giếng chùa,
Còn ôm ấp dáng ai mùa thanh tân.

Thuyền xa kéo bến lại gần,
Mà vương vít mãi bàn chân thẫn thờ.
Từ em khép vạt đào tơ,
Nào hay một chuyến bất ngờ sang ngang.

Chân ta vẫn lấm bụi làng,
Lòng ta đâu thể phũ phàng chốn quê.
Bềnh bồng bước mỏi bước mê,
Mù tăm hướng một nẻo về mênh mang

Ai còn dệt bóng thời gian,
Cho ta so lại ngón đàn sắc không.
Đã đi quá mấy dòng sông,
Còn say chi đến tím lòng tha hương.

Tim còn hẹn phút đổ chuông,
Trăm năm nén lại vô thường một giây.
Rượu quê cạn chén ngất ngây,
Lửa nhen ấm mảnh trăng đầy … khuyết em

Trần Ngọc Hưởng

GIẤC MƠ EM NHỎ CHÂU PHI

nguyenthikhanhminh

Đôi mắt em buồn
Nơi đó mỗi đêm ngủ
Cồn cào một giấc mơ
Châu Phi xanh đồng lúa chín

Nụ cười em buồn
Nơi đó mỗi ngày thức dậy
Khắc khoải bước đi
Mở Châu Phi một chân trời khác

Đôi chân cỏ khô
Vẽ không nổi con đường xanh
Thân thể lạnh
Vĩnh viễn giấc mơ khép lại
Yaguine, Fodé*
Bạn bè viết tên hai em trên áo
Những kẻ tuẫn đạo Châu Phi
Cho một bầu trời mơ ước*

Cho tôi được khóc
Hạt nước mắt Châu Á buồn
Cho tôi được chia
Hạt nước mắt Châu Á vàng
Hoài vọng
Khóc trên những giấc mơ đen …

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

*Cảm xúc ki tình cờ đọc được một bài báo cũ: “Nỗi tuyệt vọng của hai đứa trẻ Châu Phi” của tác giả Gia Hân, báo Mỹ Thuật, Saigon,Tháng 6/2001: Hai thiếu niên Phi Châu bị chết vi giá lạnh ở khoang bánh đáp máy bay, trên đường trốn sang Châu Âu. Trước khi đi hai em nói với bạn bè về ước mơ đi tìm một tương lai không còn đói nghèo cho quê nhà.

Chỉ có tình thương.

nguyennhathuy

1.Trước 1975, khi còn đi học, tôi đã biết khá nhiều về cộng sản qua ký ức của gia đình hồi kháng chiến 1 (1945-54) vì quê tôi là một vùng đất nghèo nàn của liên khu V, đó là một ký ức đen tối, đầy âu lo sợ hãi, sợ đói nghèo, sợ truy bức, sợ dòm ngó, sợ ngay chính những người bà con thân thuộc của mình trong “phóng tay phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức”(1952 – 53); biết qua nhiều lần coi phim “Chúng tôi muốn sống” ở sân đình làng, qua đọc báo Thế giới tự do. Lớn lên được đọc “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”, “Từ thực dân đến cộng sản” của Hoàng Văn Chí, đó là thứ hiểu biết đọng lại trong đầu mình một câu hỏi không có lời giải “Sao con người đối xử với nhau tệ hơn chó mèo trâu ngựa đến thế?” gần gủi nhất là “Làm thế nào để có thể tin được người công sản” của một tác giả người Đức để cả thùng giấy ở hành lang văn khoa, SV muốn lấy bao nhiêu cũng được, hồi đó đã biết tự hỏi: “Tuyên truyền thế này thì thua xa bọn Hà Nội, chủ trương của cấp nào mà tệ hại đến thế? tôi cũng biết đến những tàn nhẫn của Việt Cộng ở Miền Nam VN ở vùng quê nơi tôi sống, vụ chôn sống hàng ngàn người hồi Mậu thân ở Huế và việc xả súng ngăn chận làn sóng người trốn cộng sản Mùa hè đỏ lửa 1972 ở Quảng Trị…đó là một thứ hiểu biết kèm theo không ít kinh ngạc và khinh bỉ, cộng sản bá đạo và phi nhân đến thế sao?

Tóm lại, không hề ảo tưởng gì về chủ nghĩa cộng sản, chế độ cộng sản!

2. Năm 1975, cộng sản chiếm toàn miền Nam khi tôi đang dạy học, biết sẽ khó sống với họ nhưng tự an ủi rằng có gì đã có thiên hạ cùng mình, họ có thể có quá nhiều biện pháp phi nhân trong những năm chiến tranh như pháo kích vào vùng dân cư, đặt chất nổ nơi đông người, đặt mìn trên quốc lộ… theo cách suy luận “lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện” nhưng khi đã chiến thắng thì sẽ khác, vẫn còn le lói một hy vọng mong manh ở tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc để cùng xây dựng đất nước, bù đắp lại những thiệt thòi và mất mát trong chiến tranh nhưng càng ngày càng vô vọng, chỉ sau chưa đầy hai năm là nhận ra rằng niềm hy vọng mong manh nói trên là ấu trĩ, là dại khờ, là không hiểu gì về bản chất xảo quyệt và thâm độc của công sản mà điển hình là việc gọi viên chức sĩ quan chế độ cũ đi tập trung, chuẩn bị thức ăn và quần áo trong 10 ngày đã lên thành một, năm, mười, hai mươi năm trong các trại tù khổ sai được gọi bằng mỹ từ là “học tập cải tạo”; là phát động chiến địch “bài trừ văn hóa phản động, đồi trụy, nô dịch, lai căng, mất gốc, tàn dư của Mỹ Ngụy”, đốt phá, tiêu hủy hàng ngàn tấn sách, tài liệu quý không khác gì chính sách “phàn thư khanh nho” của Tần Thủy Hoàng bên Tàu sau khi thống nhất đất nước (năm 221 TCN), thứ văn hóa mà những trí thức, văn nghệ sĩ, giáo sư đại học, sĩ quan cao cấp trong quân đội “bên thắng cuộc” trong các hồi ký sau này thú nhận là nhờ đó mà họ được mở mắt, biết rõ hơn mình đã bị lừa trong suốt 21 năm qua cùng với việc chứng kiến tận mắt cảnh vật, người dân miền Nam và cuộc sống phóng khoáng tự do của họ, là tập thể hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh để xóa sổ hoạt động kỹ nghệ và buôn bán vận tải ở miền Nam mà thực chất là ăn cướp trắng trợn ruộng đất của nông dân và nhà máy, xí nghiệp, tiệm buôn, phương tiện vận tải tư nhân dưới hình thức lập hợp tác xã và công tư hợp doanh.

3. Những “con người mới xã hội chủ nghĩa” mà tôi tiếp xúc trong xã hội ngày ấy trước hết là người đứng đầu và một số đồng nghiệp trong trường “từ A vào”, một số là cán bộ hồi kết và từ chiến khu về làm nòng cốt. Họ là thành phần hợm hĩnh, dốt nát nhưng lúc nào cũng thể hiện vai trò lãnh đạo, mở miệng ra là bác, là đảng, là chủ nghĩa xã hội, là các đồng chí phải thế này thế khác nhưng chừng như họ hô khẩu hiệu là chính! Tôi làm việc ở trường đến giữa năm 1978 thì nhận ra rằng những điều mình chứng kiến còn tệ hơn mình nghĩ trước kia, chuyện là ngày ấy trường tôi đóng sát huyện đội, bộ đội chiếm nhiều căn nhà cư xá của dân di tản không về làm doanh trại, một số nhà bị bom khi Việt cộng chiếm thị xã hư hại, một số nhà ở gần đó trưng dụng làm nhà ở cho các đồng chí A vào. Vậy mà con thủ trưởng đi hôi của, tháo dỡ cây gỗ ở các nhà hư bị lính huyện đội bắt, cha phải đi lãnh về sau khi đã mồm loa mép giải “báo cáo các đồng chí cháu còn nhỏ dại!”, lại có thêm chuyện cán bộ A và cán bộ tập kết về đấu đá nhau, kết quả là cán bộ tập kết bay … ra tỉnh làm lớn!

Tôi không kể những chuyện lợi dụng và bao che đám cách mạng ba mươi để trù giập những người có quá khứ dính dáng với chế độ cũ hay có biểu hiện bất phục sợ độc giả sẽ nghĩ đó là thù hằn cá nhân nhưng cơ quan tôi ngày ấy không ít người là nạn nhân dầu bề ngoài chúng vẫn thơn thớt khen ngợi, không khác nào khi miền Nam chưa mất, ở vùng xôi đậu đêm đêm du kích về gõ cửa những nhà có người là viên chức xã ấp VNCH bắt đi, bảo là “lên chiến khu học tập đường lối của chính quyền giải phóng” nhưng biệt tích mãi đến sau 1975 vẫn không về!

4. Không rõ tôi quá bao dung hay ấu trĩ hoặc khờ khạo để lúc đầu thật sự nghĩ rằng thủ trưởng tôi chỉ là trường hợp riêng lẽ để sau đó không lâu thì biết là mình lầm, những loại người này, những vi phạm kiểu này có khắp nơi. Phải chăng mặc cảm thua thiệt người miền Nam và lòng tham lam có cơ hội phát tác suốt những năm dài đói nghèo trên đất Bắc khiến họ phải hành xử như thế?

Từ năm 1978 tôi đã gặp một số người, tôi gọi họ là những người cộng sản chân chính, giao tiếp, quen biết rồi trở nên thân tình, tôi rất thương và quý họ, những con người – trước hết – có một cái tâm rất tốt, “trong veo”, không hề có chút tự hào mình làm lớn để hành xử theo suy nghĩ đó. Họ là một anh đồng hương, tỉnh ủy viên, trưởng ty Lâm nghiệp một tỉnh lớn, là một đại tá về hưu (dầu đại tá công an và quân đội của cộng sản VN khác nào lá mùa thu), là ba vị hiệu trưởng của 2 trường tôi dạy, đó là một đại úy giải ngũ nhà hàng xóm. Sự quen biết kể trên là chút niềm vui cho mình khi nghĩ rằng vẫn còn đâu đó những con người có thể vì thế chẳng đặng đừng, có thể vì bị dụ dỗ, có thể vì bị bắt buộc để khoác lên mình chiếc áo cộng sản nhưng cái tính bản nhiên, thiện lương, đạo đức của họ vẫn đang còn. Hiệu trưởng cũ của tôi là một thầy giáo lâu năm, chúng tôi vẫn đùa là Bonshevik thứ thiệt, người ta thì gọi là “cộng sản nòi” chỉ vì một lẽ là khi xã hội bắt đầu biết lấy thuốc lá ngoại có đầu lọc và bia thay miếng trầu là đầu câu chuyện thì ông, đi giao dịch để học sinh đi đào thuê khoai mì cho nông trường lại đem theo thuốc rê và cơm muối đậu gói trong lá chuối! Khi vợ ông (cũng là giáo viên) đem gạo mua theo tem phiếu lương thực cho gia đình đi xát lại cho trắng (vì thời ấy ai cũng phải mua gạo mốc), khi ăn cơm ông thấy lạ, hỏi, chị trả lời thật thì ông bảo rằng: “Gạo của đảng và nhà nước bán thế nào ta ăn thế ấy, đi xát lại là vi phạm đường lối chính sách!”. (Xin lỗi thầy, khi viết lại những giòng này, em không có ý chê trách hay phê phán gì về thầy mà chỉ muốn qua đó, nói lên một sự thật về cách nhào nặn con người kinh hoàng của cộng sản nhất là khi, chắc chắn những tháng năm cuối đời thầy thất vọng không ít về thứ chủ nghĩa và về cái chế độ thầy tôn thờ!).

5. Cũng ở tại ngôi trường có vị hiệu trưởng đáng kính và đáng thương này tôi đã gặp năm nam giáo viên về nhận công tác một lần, sau này được biết họ là con cha cháu chú ở Hà Nội gửi vào học trường ĐHSP Quy Nhơn khi trường mới thành lập thiếu sinh viên. Khi họ mới về trường, tôi lại nghĩ đây chắc là thành phần tốt, sẽ là những giáo viên đóng góp nhiều cho trường nhưng sau đó không lâu tôi lại thấy có đến 3 trong 5 nam giáo viên không như mình hy vọng. Họ sống tập thể trong trường nhưng để phòng ốc giường chiếu dơ dáy, ra ngoài ăn uống thì nợ nần, có lúc chẻ bàn ghế để đun nấu, khi có người lên tiếng, một trong bọn họ nhìn với ánh mắt thách thức và hỏi lại: Ông có ở đây cả đời không mà giữ gìn? 2 trong 3 người nói trên lại còn có quan hệ bất chính với học trò!.

Tôi gọi họ là những thầy giáo bê tha, ngày ấy không thấy “chính quyền và đoàn thể” đụng chạm gì đến họ có lẽ vì con ông lớn được gửi gắm, vì không có đơn thư tố cáo hoặc vì họ không chống phá và nhất là không vi phạm quy chế chuyên môn của nghề dạy học nhưng những người đứng đắn và hiểu biết thất vọng về lớp người này! Họ làm thầy giáo thì đối tượng được họ giảng dạy sẽ thành thứ gì – ở đây không bàn về trình độ mà chỉ nói đến lương tâm, hạnh kiểm và thiên chức một ông thầy?

Liệu cha mẹ có biết con họ thế này hay bố mãi lo chạy chức chạy quyền, lo bồ nhí, lo đục khoét và ăn cắp của công, mẹ mãi lo đi chùa- miễu- am- điện cầu cúng để gia đình được giữ mãi của cải không tạo ra bằng việc làm lương thiện và mồ hôi nước mắt, mãi lo nhảy đầm, đánh bài và “ăn nem” khi ông đi “ăn chả”?

6. Ngày “Đèn Cù” tập I của Trần Đĩnh phát hành ở Mỹ, một làn sóng người tìm đọc rầm rộ cả trong và ngoài nước với nhiều ý kiến khen chê trên các trang internet. Tôi đọc chừng 1/3 thì đã thấy chán ngán, thấy buồn và tự hỏi vì sao con người nói chung, các đồng chí với nhau nói riêng mà đối xử với nhau bằng những âm mưu, thủ đoạn tồi tệ rồi nghĩ rằng trong cuộc đời, có lẽ chỉ có tình thương là vượt lên trên mọi thứ, đó là tình thương yêu giữa người và người, giữa người với thiên nhiên, thú vật mới tồn tại lâu dài.

Tất nhiên, Đèn Cù cung cấp cho ta nhiều thông tin, tư liệu lâu nay chưa biết nhưng chỉ làm ta khinh bỉ những con người, tuy trước đây chúng ta không kính trọng nhưng cũng không nghĩ rằng họ xấu nết đến thế nhất là khi ông nói về những năm đầu thập niên 1960 ở cung đình cộng sản Hà Nội, chủ trương chống xét lại, chuyện theo Nga theo Tàu làm lộ rõ những thứ thú vật đội lốt người mà tên tuổi được biết đến rất nhiều trước đây, đó là Lê Duẫn, là Lê Đức Thọ, là Trường Chinh, là Tố Hữu, là Phan Quang và nhiều người nữa không cần nêu đủ ở đây. Dầu có nhiều nhược điểm nhưng Trần Đĩnh cũng góp phần cung cấp thêm sự kiện làm chứng âm mưu bán nước cho Tàu của tập đoàn Duẫn- Thọ và bè lũ cũng như nói cho thế hệ sau biết tội ác tày trời hủy diệt đồng bào khi chúng theo Tàu, xóa bỏ hiệp định Genève, phát động chiến tranh xâm lăng miền Nam, gây bao tang tóc cho dân tộc này trong hơn hai thập kỷ và tiếp đó là những đòn trả thù của các thế hệ kế thừa chúng sau 1975 qua các nhà tù trãi dài từ Nam ra Bắc.

7. Có một sự trùng hợp thú vị là tôi cũng bắt đầu nghe qua Youtube thiên hồi ký “Thép đen” của Đặng Chí Bình một cựu điệp viên VNCH hoạt động ở miền Bắc bị bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội (do Trần Nam thực hiện với lời tựa của nhà xuất bản Đồng Tiến), người viết lời tựa cho rằng: “Điều đáng nói và sự kỳ diệu nhất của tập hồi ký là sự trỗi dậy của tình người trong thế giới của loài thú”. Khi tác giả đến Australia, Saigon Times đã gặp ông và được ông đồng ý cho xuất bản. Saigon Times đã viết lời giới thiệu trong đó có đoạn như sau:
“Giống như tất cả những ai có lòng yêu nước, đã sống trong lao tù của cộng sản, đều âm thầm tự trao cho mình sứ mạng, tiếp tục chiến đấu chống lại cái tàn nhẫn bất nhân của chủ nghĩa cộng sản đến hơi thở cuối cùng, điệp viên Đặng Chí Bình, sau khi ra hải ngoại, miệt mài suốt 20 năm để hoàn thành thiên hồi ký Thép Đen dầy ngót 2000 trang, gói ghém tất cả những bi kịch phi nhân đầy rùng rợn trong chế độ lao tù cộng sản mà tác giả đã trải qua; đồng thời thắp sáng chân lý: Ngay cả trong những nơi tận cùng của tăm tối, phi nhân, đói khát, đầy thù hận nhất do chế độ cộng sản tạo dựng, tình yêu thương người, lòng hướng thiện, khát khao cái đẹp, tôn thờ chân lý vẫn luôn luôn hiện hữu và được ấp ủ, trong lòng người dân Việt”.
Để đất nước, con dân Việt Nam sống trong hòa bình, yêu thương và đùm bọc nhau, điều cần thiết nhất là những người cộng sản cầm quyền sớm tỉnh ngộ, hồi tâm, giải thể đảng cộng sản, điều hành đất nước theo con đường dân chủ đa nguyên, khi đó, khối đoàn kết dân tộc sẽ được vun bồi, âm mưu Hán hóa của Tàu cộng chắc chắn cũng sẽ không thể nào thực hiện được. Một suy nghĩ không mới mẻ gì nhưng là điều biết bao người mong đợi đã lâu!

Nguyễn Nhật Huy

NỖI NIỀM BAY TRẮNG BÔNG LAU

tranvannghia

Bóng lau bay trắng cả chiều
Một mình tôi với đìu hiu, một mình
Xa đâu rồi mắt ai xanh
Dốc đời lãng đãng vết tình bể dâu

Bóng lau bay trắng chân cầu
Nhuộm chi nhuộm cả mái đầu thanh xuân
Với biệt ly chẳng rượu nồng
Mà sao lúy túy say không đường về

Lạnh lùng nửa mảnh trăng khuya
Xắt xeo khói bếp cay xè mắt ai?
Bỏ làng lên phố cầu may
Bóng lau bay nhớ bóng mây quê nhà

TRẦN VĂN NGHĨA

ĐÊM CHÚA GIÁNG SINH

linhphuong

Chúa chạy show tất tả khắp nhà thờ
Nhà thờ nào cũng đều không vắng Chúa
Đêm Giáng Sinh nắm tay em dạo phố
Qua những con đường giống Chúa chạy show

Chúa chạy show bởi Chúa có tín đồ
Anh chạy show vì tình yêu đích thực
Nằm máng cỏ Chúa vô cùng hạnh phúc
Còn hạnh phúc anh là được bên em

Chúa ngự trên trời nghe tiếng a men
Anh dưới đất uống cà phê “ Con Cọp “
Gió nhè nhẹ thổi về mang hơi bấc
Se se đợi chờ mùa chim én bay

Sài Gòn em áo ấm tháng mười hai
Mười hai tháng một năm ròng rã nhớ
Dẫu đôi khi chúng mình còn giận dỗi
Hờn vu vơ những chuyện chẳng ra gì

Sài Gòn mỹ nhơn đẹp đến lạ kỳ
Mặc váy ngắn khoe đôi chân trường túc
Thiên hạ ngẩn ngơ giao thông ùn tắc
Chúa lắc đầu trễ hẹn với con chiên

Đêm Giáng Sinh lộn xộn bởi mấy em
Cái lộn xộn dễ thương đầy lãng mạn
Nên anh yêu Sài Gòn khi mới lớn
Và yêu em lúc tuổi đã “ sém già “

Như nhà thờ yêu giọng hát thánh ca
Như Chúa yêu tín đồ toàn thế giới
Dĩ nhiên là anh yêu em quá đỗi
Yêu quá chừng nên Chúa phải chào thua

Hai con chiên hư hỏng đủ bốn mùa
Xuân-Hạ-Thu-Đông đều yêu say đắm
Mười hai giờ khuya ngày hai mươi bốn
Cả hành tinh nín thở bởi nụ hôn

Hai con chiên hư hỏng ở Sài Gòn
Mừng Chúa Giáng Sinh vô cùng hạnh phúc
Thành phố đêm nay bỗng dưng động đất
Lúc Adam ăn trái cấm Eva

LINH PHƯƠNG
Đêm 24.12.2014

MIỀN KÝ ỨC MÀU XANH

thuyvi

Chúng ta, mỗi người, thường có những vùng ký ức thời tuổi nhỏ cho riêng mình. Hôm qua, đọc một bài viết về khu Tân Định của ông Trần Đình Phước, tôi như được gặp lại người bạn thân thiết lâu ngày. Giống như mọi tình cảm chìm trong quá khứ bấy lâu, nay được dịp lùng bùng vỡ sôi tung toé nhớ nhung. Những dòng chữ của ông còn dẫn tôi lội sâu vào những kỷ niệm thân thương, bé bỏng, ngây ngô, tuy có lúc rõ nét, có khi mơ hồ và xúi tôi ngồi ghi lại những con đường thời tuổi nhỏ trong trí nhớ thật mỏng manh nhỏ nhoi của mình.
Lúc đó tôi còn bé lắm, học ở nội trú và mỗi cuối tuần được đón về nhà ngoại. Nhà của ngoại là một nếp nhà cũ kỹ, mái ngói, bệ vệ, nằm ngay chính giữa một con ngõ cụt rộng rãi trên đường Nguyễn Đình Chiểu như lọt thỏm trong những ngôi nhà cao tầng hiện đại chung quanh.
Ngay đầu đường trong này đi ra là nhà của ông Đinh Cường. Lúc đó ông chưa nổi tiếng và có chút liên hệ họ hàng gì đó với gia đình tôi vì ông gọi ngoại tôi là chú. Tôi còn nhớ cách nhà ông Cường vài căn là một tiệm phở, tuy giờ không nhớ tên, nhưng tôi nhớ nơi đó trang trí nhiều chậu dừa kiểng, đặt tràn ra ngoài hành lang sát mí với nhà in Sài Gòn.
Đứng trước nhà ông Đinh Cường, ngó xéo xuống qua bên kia đường là trường Đồ Chiểu với cánh cổng nặng nề đóng kín mít thường xuyên. Mặc dù, tôi học ở trường tiểu học này chỉ vài năm, lại nữa trí nhớ một đứa con nít thường là chắp vá, nhưng không hiểu sao tôi lại nhớ đặc biệt ngôi trường này, cho nên mỗi lần nhớ lại, tôi dường như, tôi vẫn còn ngửi được mùi lá nồng nàn của hàng điệp già cỗi phủ um bóng mát dọc theo lối đi trong khoảng sân rộng trước những cửa lớp, và, hình như tôi còn cảm giác được vết nham nhám trên đầu ngón tay như đang sờ đụng vào những băng ghế bằng xi măng đặt rải rác trước hành lang.
Cổng phụ của trường nằm ngay góc, chỗ đó là con ngõ nhỏ rải rác những ngôi nhà còn nguyên khoảng sân yên tĩnh với vòm cây bông giấy đầy đặc những chùm hoa bung ra những cánh nhỏ lá thuôn màu hồng ngát.
Tan học, nếu trở ngược con đường Hai Bà Trưng để về nhà, tôi sẽ đi ngang rạp chiếu bóng thường trực Kinh Thành giăng đầy những áp phích film ca múa Ấn Độ với đầu mấy con rắn đang phùng mang bên các cô đẹp mê hồn giông giống như khuôn mặt Phật bà Quan Âm. Nếu dừng lại, nhìn vào, sẽ thấy hai bên cửa rạp là dãy vách dán đầy quảng cáo, nơi đó có hàng song sắt láng bóng thấp lè tè là chỗ tôi đu tòn ten trong lúc chờ ông cậu mua vé hay đang quẩn quanh tán ngẫu với bạn bè.
Từ rạp Kinh Thanh đi bộ thêm một đổi, gần đến chỗ ngã ba bị uốn cong góc nhà đèn, đường Bà Lê Chân cắt ngang Hai Bà Trưng đổ vào Nguyễn Đình Chiểu, nơi đó ngày xưa có trạm xe ô-tô-buýt trước mặt vài tiệm có trưng mấy tấm hình hàm răng to ưỡn là phòng trồng răng của người Hoa. Kế đó, tôi còn nhớ một tiệm bán cơm thố, vì cái món thịt ba rọi kho mắm ruốc ( ? ) sóng sánh màu tím thật nồng.( nhưng, ông TĐP cho biết là mấy tiệm cơm thố không nằm ở đây mà trên đường Nguyễn Phi Khanh )
Vừa băng qua đường, cũng dọc theo đường Hai Bà Trưng là dãy tiệm bán cà phê như của nhà văn Trương Đạm Thủy kể : ” Mặc dù sách phong thủy Tàu thường khuyên không nên cất nhà ở ngã ba, ngã tư đường vì dễ bị nạn xui xẻo nhưng các chú Xường, chú Hía, A Hoành, A Koón… thì đều chọn các nơi nầy làm chỗ kinh doanh. Tuy Sàigòn, Chợlớn, Gia Định, Phú Nhuận, Đa Kao có hàng trăm tiệm cà phê, hủ tíu Tàu nhưng nhìn chung chúng đều có một “mô – típ – made in China” khá giống nhau, tức là quán nào ở phía trước cửa cũng có một xe nấu hủ tíu được làm bằng gỗ thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên của xe được trang trí bằng những tấm kính tráng thủy vẽ những nhân vật Quan Công, Lưu Bị, Triệu Tử Long, Trương Phi trong truyện Tam Quốc Chí khá vui mắt.
Bên trong quán hoặc xếp bàn tròn hoặc vuông. Khách vừa vào trong gọi “cá phé”, song mấy tay phổ ky vẫn bưng ra một mâm nào bánh bao, xíu mại, há cảo, dà chá quải đặt trên bàn. Khách dùng hay không cũng chẳng sao “pà – con – mà!”
Hồi đó không có nhiều tiệm cà phê fin kiểu “cái nồi ngồi trên cái cốc” như bây giờ mà chỉ có cà phê Tàu. Vì thế uống cà phê Tàu phải có một phong cách riêng
Cà phê được mang ra dân ‘sành điệu” hồi đó ngồi chân dưới chân trên, sau khi khuấy nhẹ cho tan đường bèn đổ ly cà phê ra cái đĩa đặt phía dưới. Chưa uống vội, khách chậm rãi mồi điếu thuốc rít vài hơi để chờ cà phê nguội xong rồi nhón lấy cái dĩa đưa lên miệng vừa thổi vừa húp…”…..(ngưng trích).
Sáng nào được ông ngoại dẫn ra quán café, dù chỉ là con nhóc, tôi cũng bày đặt bắt chước ông ngoại, đòi, đổ càfé sữa ra dĩa cũng húp xì xụp y chang.
Đi lang thang lên một chút là gặp tiệm thuốc bắc Kim Tân (hình như có trưng hình ông lực sĩ thật lớn giơ bắp tay cuồn cuộn?) Tiếp đó là những tiệm tạp hoá, tiệm thuốc bán na ná nhau… Dọc lên một đỗi sẽ gặp nhà thờ Tân Định màu đỏ gạch tôm thật ấm cúng với kiến trúc cầu kỳ đầy nghệ thuật như những mũi tên bay vút lên bầu trời.

Một bài viết nào đó của ông Trần Đình Phước có nhắc đến tiệm chụp hình Luyến khiến tôi nhớ lúc còn ở nhà ngoại, có lần cậu đưa tôi ra Luyến chụp hình, tấm con bé làm duyên chống tay nơi cằm được chủ tiệm dành làm hình mẫu. Sau này khi tôi lớn hơn một chút, trở về thăm lại Tân Định, ghé vào đây chụp thêm tấm nữa, cũng không ngờ tấm hình đó lại may mắn được chủ tiệm đặt tại một chỗ, mà bất cứ khách bộ hành nào cũng thấy con bé mặc áo sơ mi sọc, tay ôm cây vợt đánh vũ cầu cười duyên suốt nhiều năm dài. Kế bên Luyến là phòng làm răng mà chị Liên con cô Năm làm ở đây, không hiểu có phải vì cứ bị chọc con bé ” lòi sỉ ” nên tôi gồng mình chịu đau để ông nha sĩ bứng cái gốc răng dài thượt !

Ngay góc chợ Tân Định, đầu đường Trần văn Thạch, buổi chiều là khu bán nước Sâm Bổ Lượng, đối diện có mấy gian hàng chả quế thơm nứt mũi, đi một khoảng còn gặp thêm một rạp chiếu bóng Mô Đẹc chuyên chiếu những phim Âu Mỹ. Sẵn đà, nếu sử dụng xe gắn máy, phóng tay ga là ra tới ngã ba, quẹo tay mặt trên đường Trần Quang Khải, phóng vút một hồi, đụng Đa Kao, quẹo mặt cái, là gặp ngay tiệm bán chè đậu xanh, thạch Hiển Khánh cũng nằm phía tay mặt.
Tắp vô Hiển Khánh, dắt xe lên lề, ngó mắt qua thấy ngay hình cô ca sĩ Thanh Thúy có mái tóc dài và bàn tay đẹp đậm đuột. Ngoáy cổ qua bên kia là tiệm guốc cao gót Đa Kao. Và nếu nhón lên một chút là vào con đường Nguyễn Phi Khanh hẹp té, hầu như toàn dân Bắc Kỳ di cư chuyên làm ô mai bán cho lũ học trò con gái.
Viết bài này không nhắc tới những buổi tối được ở nhà, sau khi học bài xong, thế nào ông cậu cũng chở tôi trên chiếc xe đạp đua bằng nhôm thật hách vừa huýt gió điệu nhạc Cerisier Rose Et Pommier Blanc réo rắc vui nhộn, vừa đạp chiếc xe phóng vun vút một vòng từ nhà ra Hai Bà Trưng, rẽ qua Đinh Tiên Hoàng ghé tiệm bánh mua Paté Chaud (lúc đó góc bưu điện SàiGòn chưa có loại bánh này) rồi trực chỉ bến tàu vừa hóng gió vừa nhâm nhi tận tình cho hết mấy cái bánh rồi mới về.
Khi ông cậu có chút tiền còm, hào sảng hơn thì chở con bé ra Chợ Cũ ăn cháo cá, uống xá xị, rồi đạp chậm một vòng chợ Bến Thành để con bé nhìn nghiêng nhìn ngữa, chỉ trỏ cười nói lung tung một hồi rồi chiếc xe vun vút về với điệu nhạc trong miệng cùng màn đêm mát rượi yên ả của một thưở thanh bình.
Bây giờ, cậu tôi – mất rồi. Ông ngoại dĩ nhiên không còn. Tôi cũng đang rơi vào tuổi đủ già. Ngẫm lại, một vòng cuộc đời, như chớp mắt, có khi còn nhanh hơn chớp mắt. Nhiều lúc một mình, lòng ngổn ngang xúc cảm với những kỷ niệm đứt đoạn, lan man …Có khi tôi bắt kịp một giai đoạn, thí dụ vào khoảng năm 1963-64, một biến cố gì đó khiến không khí trong nhà ngoại tôi buồn hẳn. Sau ít tháng, một quyết định của ông ngoại làm cả nhà rụng rời là tôi phải nghỉ học theo ông bà ngoại chuyển luôn cái sạp bán vải Thọ Lộc đông khách trong chợ Tân Định xuống Mộc Hoá – một tỉnh lỵ heo hút buồn ngắt ven biên giới!
Để rồi cho đến hôm nay, khi tôi đã trải nghiệm qua bao thăng trầm. Chứng kiến bao cảnh bể dâu. Là nhân chứng của bao nhiêu trò đen trắng. Cũng không ít lần phẫn uất trước những kẻ muối mặt, thời cơ, biển lận, láo khoét. Tôi mới hiểu sự lựa chọn của ông ngoại, khi ngoại thể hiện lẫm liệt một nhân cách can đảm quay lưng, giả ngơ, làm điếc trước những kẻ theo đóm ăn tàn, trước những trò xâu xé bẩn thỉu của các đồng sự của mình!!…
Có người nói, kỷ niệm như những bọt sà bông tuy đầy màu sắc lóng lánh nhưng dễ vỡ. Và, tất cả rồi sẽ xoá nhoà đi không dấu vết.
Tôi đang cố không tin điều này.

( * ) Người viết lúc đó còn bé quá, trong trí nhớ chắc chắn có lẫn lộn vài chi tiết. Mong thứ lỗi.