THIÊN ĐÀNG VÀ ĐỊA NGỤC.

truongvandan

…Chủ nhật chúng tôi chỉ muốn nằm nhà bên nhau. Quỹ thời gian sống còn được bao lâu? Nhưng bè bạn lại đến chơi. Sao anh lắm bạn thế nhỉ? Anh hiếu khách, nên bạn bè thường đến chơi chuyện trò rôm rả. Ông nào cũng hăng, từ tranh luận đến tranh cãi đủ chuyện trên trời dưới đất, chuyện kinh tế, xã hội, môi trường, từ chuyện hôm nay đến chuyện cả ngàn năm sau.

Hai khách hôm nay, một là anh vợ, họa sĩ Lâm, một là em rể, thương gia Hưng. Anh vợ em rể, nhưng xưng hô mày tao thoải mái. Họ là bạn thân từ hồi trung học. Hình như anh Hưng vừa đi chơi golf về, trên đường về tiện ghé chở anh Lâm và họ tranh luận điều gì đó trên đường đi chưa đã, nên ghé đây cãi tiếp.
Anh thích những buổi tranh luận như thế, thường kiên nhẫn lắng nghe, đôi khi chen vào…

Tôi đứng dậy pha cà phê, anh ngả mình trên ghế nghe các bạn đang mải câu chuyện, thỉnh thoảng liếc sang như thể anh là trọng tài
– Kinh tế phát triển. Tao thấy bây giờ đời sống tốt hơn xưa nhiều, Hưng ngồi vắt chân chữ ngũ, nhấp nhấp ly cà phê…
– Chưa chắc đâu, Lâm thủng thỉnh, hồi trước, gần nhà tao có ông công chức quèn đi làm, vợ ở nhà trông con, nội trợ, vậy mà họ vẫn sống, ba đứa con đều con tốt nghiệp đại học, thành đạt cả. Bây giờ cuộc sống tăng lên, nhưng mấy ai đã làm được thế? Chồng là kỹ sư, vợ là nhà giáo, cả hai đều đi làm, nuôi một đứa con còn thấy chật vật. Không ai dám bỏ việc.
– Cái giá của tăng trưởng là phải thế. Đời sống cao hơn, nhiều vật chất hơn, nhiều tiện nghi hơn. Phải xài tủ lạnh, máy lạnh, máy DVD, karaoke, computer, internet,… Mấy cái tiện nghi của thời đại thông tin này, bộ bỏ qua không xài à? Muốn thụ hưởng, phải có tiền. Muốn có tiền phải đi làm, chồng đi làm không đủ, vợ cũng đi làm. Con cái hả? Cho đi học trường quốc tế. Có tiền là xong tuốt. Chẳng lẽ hàng xóm hưởng thụ mấy cái tiện nghi đó, còn mình thì nhắm mắt à ? Thời buổi cạnh tranh mà !.
– Đồng ý, nhưng tại sao lại phải cạnh tranh? Chẳng lẽ không có lối sống nào khác sao? Ai cũng làm việc quần quật với nhịp độ kinh khủng để sản xuất ra cái mobile phone đủ model, mà tiện ích có khi người dùng cũng chưa biết xài hết. Rồi đến lượt người khác cũng phải đầu tắt mặt tối mới có thể mua nổi mobile hiện đại đó. Đây là cách sống dựa vào vật chất.
– Mày hoài cổ. Cứ hay phê phán đời sống mới. Có thấy đầu tư nước ngoài vào nhiều hơn không?
– Thấy chứ. Đầu tư nhà máy ở Việt nam là…bèo. , chỉ cần mang dây chuyền cũ, công nghệ lạc hậu cũ, không biết bán cho ai, qua Việt Nam hợp tác liên doanh là làm giàu đủ rồi, định giá công nghệ cũ cao, công nhân rẻ, quảng bá thương hiệu, . . Không giàu to à?
– Họ có đóng thuế cho ta mà!
– Thuế? Lâm cười lớn. Thất thoát lớn ông bạn ơi. Không ít doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã khai giá nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài cao hơn giá mua thực tế để tăng chi phí, dẫn đến thua lỗ để khỏi phải nộp thuế thu nhập doan nghiệp. Nhiều doanh nghiệp khai lỗ mấy năm liền để tránh thuế nhưng liện tục mở rộng quy mô sản xuất.
– Chắc cũng có chuyện này, nhưng nghĩ cho cùng, chẳng lẽ chúng ta ngồi im nhìn Việt Nam nghèo đói mãi? Cũng phải tạo công ăn việc làm cho người dân chứ. Tao nghĩ là muốn hiện đại để bắt kịp Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan chúng ta cần phải dựa vào nước ngoài và viện trợ quốc tế. Dĩ nhiên phải trả một cái giá nào đó. Không ai cho không cái gì.
– Việc làm hả? Hiện đại hóa để bắt kịp người ta hả? Muốn thế phải khởi đầu từ công nghệ mới, năng suất hơn, giá thành rẻ hơn, chứ không phải từ công nghệ lạc hậu. Đó là lợi thế của thằng đi sau, mày hiểu không? Đó là chưa nói đến môi trường, công nghệ lạc hậu sản xuất bột ngọt, men bánh mì,… thải ra môi trường cả đống chất độc hại. Giải quyết nước thải ở mấy quốc gia đó, có mà đẩy giá thành sản phẩm lên đến tuyệt đỉnh. Thôi mang qua Việt Nam sản xuất cho thoải mái, luật môi trường còn lỏng lẻo, viên chức nhà nước cũng lỏng lẻo luôn…Không sướng à? Còn ô nhiễm môi trường, đâu cần đến thế hệ sau mới thấy. Tôm cá chết đầy sông, trồng trọt cái gì thì thua cái đó, nuôi heo nuôi gà cũng thua luôn, mày không thấy à? Vậy đâu là mục tiêu của phát triển ? Để con người hạnh phúc hơn hay để họ bị lệ thuộc nhiều hơn ?
– Mầy cũng có lý, nhưng không thể phủ nhận giá trị tăng trưởng. Những năm vừa rồi, thu nhập bình quân đầu người đã tăng nhiều lần
– Đừng vận dụng quá khứ đói khổ, so sánh với những năm tháng cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc để nhấn mạnh đến thành tựu chứ ông bạn. Đồng ý là mặt bằng có tăng, nhưng cũng phải xét đến các khía cạnh khác nữa.Vì nếu không trừ những thiệt hại đối với nông, ngư, môi trường, số tiền phải chi trả cho bệnh viện để chăm sóc các vấn đề nảy sinh như sức khỏe, thì chưa đủ. Tao sợ rằng chúng ta tăng trưởng theo mẫu hình : đổ tiền ra đầu tư, sản xuất vô độ, huỷ hoại môi trường. Trên mặt báo không thiếu những câu chuyện cầu không ai đi, cảng không ai đến, sân bay không ai dùng, hàng đống biệt thự sang trọng bỏ không. Đừng có hù tao, GDP tăng trưởng 7-8% , thu nhập đầu người một hai ngàn đô la. Tăng trưởng và phát triển khác nhau xa…
– Khác chỗ nào?
– Tăng trưởng càng cao, của cải xã hội càng nhiều, phân hóa giàu nghèo càng tợn. Của cải chỉ chui vào túi một nhóm người. Đâu là an sinh xã hội? Đâu là phúc lợi mà người dân được hưởng? Cá nhân trong cộng đồng có điều kiện tiến thân như nhau không? Hay con bác sãi chùa thì cứ tiếp tục quét lá đa cho được việc… Một quốc gia phát triển hay không là ở chỗ đó đấy. Còn ỷ vào viện trợ quốc tế hả? Xin lỗi… Chơi dao hai lưỡi, quờ quạng là phá sản như chơi…
– Phá chỗ nào?
– Tao cho mày một thí dụ của Philippines. Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế viện trợ cho nước này với yêu cầu mở cửa thị trường cho hàng hóa và vốn đầu tư nước ngoài. Họ khuyên Philippines tập trung sản xuất quần áo, giày dép, hàng điện dụng, nói chung là các ngành thâm dụng lao động, cần nhiều nhân công và kỹ thuật không cao. Nói thì nghe ngon, nhưng sau khi phá giá đồng pesos, để dễ xuất khẩu, xuất qua mấy nước giàu, một hai năm đầu còn trôi chảy, về sau, tưởng ngon, xuất nhiều thì những mặt hàng này bị cạnh tranh khốc liệt với các nước Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan…cũng đang nhận viện trợ và được khuyên sản xuất các mặt hàng tương tự. Thế là hàng ứ đọng. Kẻ bán nhiều mà ít người mua, thế mà sau đó các ông nhà giàu cho vay còn kiếm chuyện, lập hàng rào kỹ thuật, áp thuế chống phá giá… như ngón đòn ác hiểm đá vào hạ bộ. Gục. Nhiều doanh nghiệp đã “chết”, hay trên bờ vực phá sản. Đầu tư nước ngoài đổ vào, ai mà không sướng, tiền bạc rủng rỉnh, tiêu xài hàng cao cấp nhập khẩu, xe hơi, nước hoa,… Đến giai đoạn trả nợ bằng đô la , mới khốn khổ. Xuất không được lấy gì trả nợ? Phá giá đồng tiền nữa để dễ xuất hàng, thì dân khổ. Việt Nam có rơi vào trường hợp của Philippines hay không thì tự mày đoán ra… Quẹt gas, xe đạp mà tụi Châu Âu còn áp thuế chống phá giá muốn nín thở, nói gì đến hàng thực phẩm tôm cá, giở chiêu đánh phá giá mà mày còn lỳ đòn hả?, đánh luôn tiêu chuẩn an toàn thực phẩm… là sụm ngay. Có Chúa mới hiểu thế nào là “an toàn thực phẩm tuyệt đối” kiểu Châu Âu.
– Thì nước nào chẳng có chính sách bảo hộ mậu dịch. Mình phải biết luật chơi chứ!, Hưng chống chế
– Trước khi nhận đầu tư từ ngoài, phải biết dự đoán và bảo vệ mình.Tao thấy nền kinh tế hiện nay rất mong manh, dễ vỡ. Hiện nay chỉ số giá tiêu dùng cao hơn tốc độ tăng lương thì chất lượng nằm ở đâu ? Người dân không cần biết kinh tế tăng bao nhiêu; người ta chỉ biết lương mình trước đây mua được 200 tô phở, sau vài năm chỉ còn mua được 150 tô. Đấy là chưa kể giá nhà đất. Một người bạn của tao hai năm trước dành tiền mua một căn hộ 60 m2, còn thiếu một 100 triệu ; năm nay cũng căn nhà khu đó, cần phải thêm 300 triệu mới mua được. Vậy về mặt xã hội, căn hộ 60 m2 đất vẫn chỉ là 60 m2, có tăng thêm được chút nào đâu !
Nếu phát triển kiểu này thì không thể nào xuất khẩu ra thế giới và kiếm tiền của người mà chỉ có thể trấn lột dân nghèo.
– Mầy rắc rối. Suy nghĩ nhiều quá! Đời sống cao hơn thì cứ làm giàu đi. Hãy hưởng thụ.
– Không! Tao nghĩ tăng trưởng kinh tế cần phải đi đôi với phát triển xã hội. Có nơi như Bhutan không nhắc đến tăng trưởng mà nói đến chỉ số hạnh phúc GNH .
– Nữa! Lại tự làm khổ mình. Này nhé, về chuyện này tao thấy nghịch lý : Nhiều quốc gia có chỉ số hạnh phúc vượt trội so với các quốc gia tiên tiến có nền kinh tế phát triển, nhưng người dân tại các quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao vẫn có nhu cầu tìm đến và xin định cư ở những quốc gia có chỉ số hạnh phúc thấp. Hàng ngày có bao người sắp hàng trước sứ quán các nước phương Tây!
– Họ nghèo quá nên trước hết phải kiếm lấy miếng ăn….

Cuộc tranh luận đang sôi nổi thì bác Thuận đến. Ông bác sĩ già xem ra thoát tục, chẳng có gì trên cõi đời này làm ông vội vã.
– Bác đi ngang, ghé thăm Gấm xem có khỏe hay không thôi. Tới đây, thấy đang ngồi hóng chuyện, chắc là khỏe rồi ! Các anh cứ tiếp tục đi…, Bác Thuận từ tốn.

Lâm hào hứng vào cuộc tiếp…
– Họ nghèo, nên phải kiếm miếng ăn. Họ chưa hiểu hết những gì chờ đợi họ nếu được gia nhập vào “thiên đường” ở nước người. Nhiều người Việt sống lâu năm ở Mỹ và các nước Tây phương đều đang vỡ mộng. Họ có nhiều thứ hơn xưa: điện thoại di động, xe hơi, cao ốc…mà so với thời trước đời sống căng thẳng và thiếu hạnh phúc. Quốc vương Thái Lan mới đây cũng phát biểu: “Là một con hổ không quan trọng. Điều quan trọng là có một nền kinh tế có thể cung cấp đủ để ăn và sống”.
– Nhưng chúng ta không thể tự cô lập mình. Cần phải làm giàu. Và phải thoát cảnh nghèo đói
– Thì đúng thôi! Ngay cụ Khổng ngày xưa cũng quan tâm đến chuyện làm giầu, có lúc còn khuyến khích : “Ở một nước có đạo lý mà mình nghèo hèn thì đáng xấu hổ ; ở một nước không có đạo lý mà mình giầu sang thì đáng xấu hổ ”. Bác Thuận tiếp lời.
– Hay quá! Đúng quá. Nghèo cũng là một cái tội. Hưng như được tiếp sức.

Bác Thuận trầm ngâm một lát rồi nói như tâm sự :

– Nhưng nếu sống chỉ chạy theo vật chất là sai lầm. Hạnh phúc là sống bình an. Có lẽ vì thế mà nhiều nước đang xét lại sự phát triển của mình và nghiên cứu kinh sách Phật giáo và triết học Đông phương.
Suốt buổi, đây là lần đầu tiên anh lên tiếng: “ Theo con, đây là quyết định đúng đắn. Cần phải dừng lại và suy ngẫm. Chúng ta đang quá đà.”
– Chẳng những cần mà còn phải nữa. Hiện nay chúng ta đang bước vào giai đoạn cuối của thời đại kỹ nghệ đặt căn bản trên các nhiên liệu hoá thạch, trên dầu lửa, trên các loại khí đốt thiên nhiên. Nghĩa là nguồn năng lượng làm chuyển động nền văn minh kỹ thuật của các thế kỷ trước đang bắt đầu tàn lụi. Và chúng ta sắp bước vào một kỷ nguyên mới.
– Vì dầu lửa sẽ hết?
– Đúng! Ai cũng biết là nguồn nhiên liệu này có hạn. Có hạn không có nghĩa là cạn kiệt, dưới lòng đất chỗ nào cũng có, nhưng để khai thác có hiệu quả kinh tế thì từ nay sẽ càng ngày càng khó. Đã rất xa cái thời đào đâu cũng thấy dầu tràn. Vì chúng ta đã đào khắp nơi, trong lòng đất, dưới đáy biển.
– Không nhiên liệu là bế tắc. Nay mai chắc sẽ thấy người kéo xe xuất hiện trên đường phố quá! Mà tại sao con chưa thấy nước nào có hành động cụ thể?
– Vì lòng tham và ích kỷ. Chúng ta đang sống như không cần tương lai. Chúng ta sống như chỉ muốn hiện tại không bao giờ kết thúc. Với phương tiện hiện nay, sự vùi đầu dưới cát của các nước Âu Mỹ không thể đổ lỗi tại thiếu tiền hoặc thiếu kiến thức. Cái thiếu lúc này là một chữ Tâm làm nền tảng cho những tư duy và hành động
– Vậy theo ý bác thì tương lai sẽ ra sao? Chúng ta sẽ phải làm gì?
– Bác nghĩ là thế giới này cần tạo một cuộc cách mạng mới, một cuộc cách mạng kỹ nghệ thứ ba. Mục đích là loại bỏ nguồn năng lượng dựa vào nhiên liệu hoá thạch và triệt để sử dụng năng lượng tái tạo trong thế kỷ XXI. Con thấy không, mặt trời ngày nào không soi sáng thế giới. Mỗi ngày gió đều thổi vi vu trên khắp địa cầu. Từ bất cứ nơi nào trên thế giới chúng ta đều có nguồn hơi nóng dưới lòng đất và biến nó thành năng lượng không khó. Nếu sống ở vùng quê, chúng ta có thể sử dụng những phế phẩm của nông nghiệp và lâm sản. Nếu sống ở vùng biển chúng ta có thể khai thác chuyển động của sóng. Chúng ta còn có thể biến các thứ rác thải thành năng lượng. Trí tuệ nhân loại phải hướng về điều này thay vì làm điện thoại di động, TV, xe hơi, computer… đời mới. Và đây mới là sự thách thức cho tương lai. Bắt buộc. Mọi quốc gia thành viên đều phải tham gia . Ngoài ra chúng ta còn phải hợp lực đối phó với sự biến đổi khí hậu, điều này không chỉ có nghĩa là trái đất nóng dần lên mà còn phải quan tâm đến chế độ mưa nắng đổi thay và nền sản xuất nông phẩm nhiều nơi bị tàn phá.
-Ý tưởng tuyệt vời !
Anh reo lên. Còn anh Hưng và hoạ sĩ Lâm dường như bị lôi cuốn về những ý kiến của bác.
– Nhưng có lẽ thay vì gọi là cuộc cách mạng, bác thấy nên gọi là “cuộc tiến hoá mới của loài người”. Bác hy vọng là các thế hệ tiếp nối sẽ biết là chúng ta đang đi trên con đường sai lạc và phải đổi chiều. Rất tiếc là hiện nay mỗi cá thể đều bị trói buộc bởi những chính sách thối nát, những ràng buộc vào sự giả dối của các hệ thống ngân hàng và phải chấp nhận tất cả những gì mà các chính khách và giới tài chính đang lũng đoạn và áp đặt.
Bác quay sang anh, “Bác vừa dịch một tiểu phẩm từ email của một người bạn từ Ý gửi qua. Thấy hay, nên đến đây, vừa thăm Gấm, vừa đưa cháu, xem có báo nào thích thì đăng. “Bác già rồi, tranh luận không còn sôi nổi như mấy anh chị, thôi thì nói chuyện ngụ ngôn cho ngắn gọn”, giọng ông già hóm hỉnh.

Bác rút trong túi áo mảnh giấy gấp tư đưa anh, nhưng Hưng chồm sang, cầm lấy và đọc to :

Thiên Đường & Địa Ngục

Một người đàn ông gặp Chúa và thỉnh cầu: “Lạy Chúa, con rất muốn biết thế nào là Thiên Đường và Địa Ngục”. Chúa dắt ông ta đến trước hai cánh cửa.Ngài mở một cánh cửa và bảo ông ta nhìn vào bên trong. Ông ta thấy, một chiếc bàn tròn thật lớn, giữa bàn bày rất nhiều thức ăn, mùi thơm phưng phức làm ông ta thèm chảy nước miếng. Nhiều người ngồi quanh bàn, nhưng trông họ gầy gò, nước da xanh tái, bệnh hoạn. Họ có vẻ rất đói. Trên cánh tay họ gắn những chiếc muỗng nhưng cán rất dài. Họ có thể với lấy thức ăn nhưng vì cán muỗng dài hơn cánh tay nên không thể đưa thức ăn vào miệng .
Người đàn ông rùng mình khi nhìn thấy đau khổ của họ .
Chúa phán : “Con vừa nhìn thấy Địa Ngục”

Sau đó Chúa dẫn ông ta đến chiếc cửa thứ hai. Chúa mở cửa. Quang cảnh mà người đàn ông nhìn thấy vẫn giống như lần trước. Có một chiếc bàn thật lớn bày biện nhiều thức ăn làm ông ta chảy nước bọt. Nhiều người ngồi quanh bàn có những cánh tay gắn những chiếc muỗng cán dài. Nhưng lần này ông ta thấy mọi người đều khoẻ mạnh và vui vẻ nói cười.
Chúa phán “ Đây là thiên đường”
Người đàn ông ngạc nhiên, “Lạy Chúa, con không hiểu!”
– “Đơn giản thôi”, Chúa trả lời, “những người này biết là cán muỗng quá dài, không thể tự đút ăn cho mình được…Tuy nhiên họ có thể đút thức ăn cho người ngồi cạnh mình. Bởi vậy họ đã thực hành việc người này đút thức ăn để nuôi người kia.
Chúa tiếp: “ Con biết không, ta còn muốn nói thêm một điều này nữa… Trên trái đất này có đủ thức ăn để thoả mãn nhu cầu của tất cả nhưng không thể thoả mãn lòng tham lam của một nhóm người. Những ý nghĩ của chúng ta, dù có tốt lành đến đâu cũng chỉ là những viên ngọc giả nếu nó không được biến thành hành động. Con phải là sự thay đổi mà con muốn nhìn thấy điều đó xảy ra trên thế giới ”
– Tuyệt vời quá!
Bác Thuận nhìn chúng tôi và nói thêm :
– Bác nghĩ, cuộc cách mạng duy nhất là cuộc cách mạng nội tâm. Cuộc cách mạng chuyển hoá lòng tham, giận dữ thành nhân ái, thân thiện với người và với thiên nhiên. Con người không thể sống bình an và hạnh phúc khi dùng cái ác làm phương tiện.

Bác ra về, nhưng chúng tôi ai cũng trầm ngâm về câu chuyện chiếc muỗng dài…

TRƯƠNG VĂN DÂN

BAN MAI KHÁC

nguyenthikhanhminh

Đâu đó
Khúc nhạc của người da đen
Rơi vào buổi sáng
Nơi giờ khắc thong thả của những giọt cà phê
Bỗng nức nở những hạt lệ mầu đen, khóc nắng
Tiếng kèn run rẩy bóng đêm
Thốc tới một ban mai rất khác
Cây xương rồng trong bình
Khóc nhớ sa mạc

Tiếng dương cầm
Buộc tôi vào gió
Dưới bóng mát những lùm cây
Tôi tan ra khoái cảm
Ban mai cũng thế
Đang là một bài ca trữ tình được viết bằng những nốt nhạc
Mà bao lâu nay
Nó cứ ngỡ mình chỉ được vẽ bằng ánh sáng
Như thời gian
Cũng tin rằng mình đã được viết bằng chờ đợi.

Đừng nói gì
Ban mai đang dịu dàng biết mấy
Em sợ tiếng nói
Sẽ chạm vào con gió nhẹ
Em sợ sức nặng của lời
Làm hỏng đi mầu xanh đang thao thức trong cây
Em sợ tiếng nói
Không có gì chở che
Sẽ rơi
Những hạt sương tan
Đừng nói gì trước khi ngày tới
Em cũng chưa sẵn sàng
Để nghe lời từ giã

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

TÌNH KHÚC XUÂN

hoangvancham

Mưa lất phất bay.
Nỗi nhớ lặng lẽ trở về bằng những âm xưa câu hát
Vụng dại một thời làm duyên
Dang tay níu cả mùa xuân về trên tóc.
Có ta cầm giữ một mộng mị từng ngày
Em chưa kịp yêu vì dòng sông chưa biết nói
Ngày đó chớm mong từng bước theo nhau
Áo lụa tan trường
Ngẩn ngơ khờ khạo một nét thương

Vùi sâu giọng hát những nét vẽ xưa
Bất chợt lòng mong nhau từ độ ấy
Có tiếng đàn hòa theo nhịp xuân mà tưởng như lời ngỏ
Em vẫn hồn nhiên
Em không nhìn được chút bâng khuâng
Từ đó ta vẽ vời cơn mộng

Bể dâu và cuộc đời làm nên dấu cách
Ta lạc mất mùa xuân
Mất nhau một bước giữa đời
Khăn áo theo người em mở lối truân chuyên
Từng bước trầm luân xuôi đời trăn trở

Ai biết được lòng mà dò dẫm cái mong thương….
Nữa chừng qua đi ta mới gặp nhau trong từng tấc lòng
Chia đôi nỗi nhớ
Ngâm ngùi như tiếc nuối
Góc trời xa xăm em biền biệt cõi ta
Sương khói bên em như chăm chút ngày qua
Một bến củ bên ta mong chút hương xưa về lại
Vội vàng chi!
Tâm giao những không lời như chứa chan tự tình bên sông nước
Nụ hôn như cánh mỏng thao thiết mùa xuân
Dòng thơ buông dài vô tận
Như có những tìm nhau cho đời kề cận duyên tơ.

Cuối sau em một đợi chờ
Một mai gió cuốn đôi bờ có nhau!
Phôi pha em giữa ngàn lau
Tự tình thức dậy theo màu áo xưa.

HOÀNG CHẨM ( quãng Trị )

Chuyện về những lá thư.

nguyenhoangquy

Tôi không nhớ lần sau cùng ra bưu điện mua tem gửi thư cho ai, lúc nào và viết gì trong đó trừ một lần cách đây gần 3 năm ở Sài Gòn khi đi gửi chuyển phát nhanh một tập thơ của một người bạn nhờ gửi tặng cho một người bạn khác. Cũng là gửi thư nhưng không chính thức. Tôi nghĩ ra việc này nhân lúc nhìn lịch thấy chỉ còn 3 ngày nữa là hết năm, nhận email một cô cháu trước Giáng sinh rất lâu, chưa trả lời được dầu lòng vẫn nghĩ là nên viết xong trước năm mới 2015.
Nghĩ lại, chiều 30 hay 31 viết cũng không sao,chỉ cần một cái click chuột là thư đến, còn việc mở máy đọc lúc nào lại là việc của cháu. Với việc này, “con rùa bưu điện” không thể can thiệp vào chuyện cậu cháu tôi và với đà này, e rằng sẽ có một ngày không xa khái niệm “con rùa bưu điện” không còn được thế hệ trẻ biết đến như tem phiếu, sổ gạo… cũng như không biết gì về thời bao cấp! Tôi nghĩ đến số phận của những lá thư viết tay trên giấy gửi qua đường bưu điện trong thời đại IT này chắc sẽ có ngày bị lãng quên. Và bỗng nhớ về … ngày xưa!.
Học đệ lục (lớp 7) trường huyện, một thầy giáo tôi rất yêu thương đi quân dịch, thầy cho riêng tôi một tấm hình 6×9 của thầy, tôi vui và rất tự hào vì mình học hành không xuất sắc gì, thầy còn ghi cho tôi cái địa chỉ nhà “để em thích thì viết thư về đó cho thầy”. Tôi nhận, lí nhí nói lời cám ơn và sau vài tuần, tôi viết thư, nắn nót từng chữ từng hàng kể chuyện trường, chuyện phố huyện, chuyện học hành của mình. Hình như đó là thư đầu đời tôi đã viết và gửi qua bưu điện. Thầy không trả lời vì sau đó được về dạy lại do không đủ sức khỏe!
Việc viết thư, viết đơn được dạy trong môn Văn của trường trung học nhưng tôi chẳng học được gì nhiều. Do vậy, hiểu biết của mình về “món” này thật hạn chế, sau này đọc thấy người ta dùng nhiều tên: cánh thư, lá thư, bức thư, có chỗ còn dùng tờ thư. (1)
Kính, kính mến, thân mến, thương mến, mến thương, yêu dấu, dấu yêu, nhỏ… là những chữ đầu tiên kèm theo chữ dùng để xưng hô với người mình muốn viết, kính bác, kính anh chị, Kim Anh yêu dấu…, cũng có khi từ chỉ vị trí của người nhận đưa lên trước: Ba mạ kính mến, bạn thân mến, Nhỏ dấu yêu của anh…
Thư cũng như một bài tập làm văn, có đủ các phần nhập đề, thân bài, kết luận. Thư tỏ tình thì kết luận luôn là : “Anh yêu em nhiều lắm”; thư xin tiền học thì: “Mong ba mẹ gửi sớm cho con”; thư phân trần thì: “Xin chú thím hết sức cảm thông cho cháu!” hoặc : “Em phải tin rằng đó chỉ là hiểu lầm để tha thứ và thông cảm cho anh”.., Hihi! Nhưng cái nhập đề mới là thú vị, những người sống ở nông thôn, ít học, chân thật thường hay dùng chữ “Đầu thư” (cũng như khi kết luận hay dùng chữ “Cuối thư “ có khi thêm cả cụm từ “không gì hơn…”) và cũng thích nói văn hoa, ví dụ: mượn bút thay lời. Do vậy mới có chuyện vui là một anh đi bộ đội viết thư về nhà bắt đầu bằng câu Kg (kính gửi) bố mẹ yêu dấu, đầu thư, con mượn bút thay lời viết thư này thăm bố mẹ. Đứa em đọc tới đó, bà mẹ buộc đọc tiếp: mày đọc nhanh xem nó có gửi mì chính về được ít nhiều mà bảo là kilogram. Ông bố mới vừa nhả xong một hơi thuốc lào thì phán: Từ từ đã, mới mua cho một cây bút Hồng Hà trước khi đi mà lơ đễnh thế nào để mất giờ đã mượn bút (thay lời) của người ta rồi!!
Phần kết lá thư thường nhắc lại những vấn đề đã nói ở trước, nhấn mạnh thêm và nếu là với những người yêu nhau thì thường kết thúc bằng những câu : “Ngàn đời yêu em”, “yêu em mãi mãi” hoặc sến sến chút chút thì “Yêu em chết bỏ!”, với chuyện xin tiền thì “Đừng quên mẹ nhé”, “Quên thì chết con đấy nhé bố!” rồi còn chua thêm mấy chữ Tàu: “Thư bất tận ngôn”(2), chữ Việt hơi sến sến: “Giấy vắn tình dài!”
Có những khi thư viết đã xong, lại nhớ còn có việc quên chưa nói, phải viết thêm phần Tái bút. Nhiều người thấy rằng tái bút dài dòng viết ngay 2 mẫu tự liền nhau: PS dầu không biết đó là chữ viết tắt của một từ tiếng la tinh có cùng nghĩa: Post Scriptum.
Ngày xưa, thư tình thường được viết trên giấy có mùi thơm hoặc người viết tẩm nước hoa vào, nếu là loại đắt tiền thì hương thoang thoảng và chậm mất mùi, nếu là rẻ tiền thì mùi nặng, có người còn ép vào thư một bông hoa. Tôi không biết “Lá thư” trong nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn – Từ Linh thơm vì bỏ thứ gì vào mà ngào ngạt hương (Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương)? Dụng cụ đựng thư người ta gọi chung là bì thư nhưng cũng còn chữ dùng khác là bao thư, phong thư. Thời tôi đi học bì thư thường in hàng chữ: Par Avion hay Via Air Mail hiểu là thư chuyển bằng đường hàng không mà muốn được thế thì dán nhiều tem hơn. Bì thư thời VNCH rất đa dạng, sau này còn có hình phong cảnh đất nước, hình các loài hoa, góc trái trên In chữ Người gửi…., ở giữa in: Người nhận, lại có bì góc trái in From…, ở giữa in To … Bì thư nào không in thì người gửi thư tùy ý, thường với người có chút chữ nghĩa thường thấy ghi ở góc trái trên chữ Exp: …. Đó là chữ Expéditeur (tiếng Pháp) hoặc Expeditor (tiếng Anh) là người gửi. Giữa bì thư thì tùy quan hệ mà ghi: Kính gửi, thân gửi, mến gửi, thương gửi, gửi đến, thư đến, đôi lúc chỉ một chữ : Về hoặc: Thương gửi về… xập xí xập ngầu, đủ cả! Lâu rồi không dùng đến bì thư, không biết đã có thêm những đổi thay gì?
Ở trên, đã nói đến thư đầu tiên tôi viết, thư sau cùng (cho đến nay) tôi nhận được, có lẽ đây cũng là thư cuối cùng qua đường bưu điện, là thư một người bạn gửi từ Hà Nội đến Bangkok hai năm trước, cô bạn viết và gửi vì chìu tôi để anh biết nét chữ của em như anh yêu cầu. Trong thư cô than phiền là đã lâu không cầm bút, không viết thư trên giấy nên sau 3 lần viết, xé, cuối cùng thì hay dở gì cũng để y nguyên như vậy. Nhận được, tôi rất vui!
Có một thứ văn hóa không có sách vở nào dạy nhưng xã hội thừa nhận ngày ấy là Văn hóa thư tín . Thứ văn hóa này chi phối nhiều đối tượng: ngành bưu điện, bưu điện nơi đi, nơi đến, nhân viên phát thư, người nhận thư rồi chuyển giúp và cả người viết, người nhận… Ví dụ trả lời sớm một lá thư thăm hỏi của người lớn tuổi hơn, ngôn ngữ xưng hô với họ lễ phép là có văn hóa, thư tay nhờ chuyển mà dán bì, đọc trộm thư của người nhờ chuyển đều là những biểu hiện thiếu văn hóa. Luật pháp cũng bảo hộ sự an toàn thư tín với việc xử phạt những người cố tình xé thư người khác để đọc.
Ngày đi học, tôi sống ở cư xá, mỗi tuần vào thứ 3 và thứ 5 người phát thư bưu điện đến phát khoảng 10h30- 11h30 lúc sinh viên đã ở trường về, không khí những lúc đó đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố nhất là với những người trông giấy báo nhận tiền nhà gửi, mong thư người yêu mà lẽ ra đã đến từ tuần trước. Có người chờ hoài không có thư người yêu bỏ cơm trưa lên phòng đắp mền nằm, khi xuống mắt…đỏ hoe. Có người không bao giờ có thư lại thường ra phòng khách sớm chờ người phát thư đến, nhận hộ tất cả thư tình và thư thường, dùng thư làm vật trao đổi với café, thuốc lá, không thỏa thuận được, thế là đánh nhau!
Tôi thấy có người nhận thư, xé hoặc gỡ ngay phần keo dán, đọc vội đọc vàng rồi nhét vào túi. Tôi thì khác, nhận thư bất kể là gia đình, bạn bè hay người yêu, không đọc vội mà bình tĩnh (dầu rất nóng lòng muốn biết trong thư viết gì) quét phòng ở sạch sẻ, trải lại ra nệm trên giường cho phẳng phiu, xếp lại đống sách vở bừa bộn trên bàn học, đi rửa mặt rồi mới… ung dung đọc. Tuy cầu kỳ nhưng với tôi, là sự trân trọng người viết và cũng là một cái thú!
Ngày xưa, có người sưu tầm được nhiều bức thư tình viết hay và có ý nghĩa của những nhà văn, nhà thơ, danh nhân, tập hợp lại xuất bản thành sách tựa đề là “Những bức thư tình hay nhất thế giới”, tôi nhớ trong đó hình như có cả thư của hoàng đế Napoléon gửi người tình Joséphine của mình. Nhà toán học nổi tiếng Nguyễn Xuân Vinh cũng đã phát hành một quyển sách của ông, cuốn “Đời phi công” lấy tên tác giả là Toàn Phong, dưới dạng những bức thư của một phi công gửi cho người yêu của mình, quyển sách được rất nhiều người tìm đọc.
Khi viết lại những chuyện này tôi nhớ sau ngày đậu Tú Tài, đi Sài Gòn thi đại học, rồi lên học Đà Lạt, cô bạn gái ở gần nhà đang học đệ tam, quen biết chưa lâu, tôi lại học đệ nhị cấp xa nhà, chỉ về vào cuối tuần, ít gặp nhau nên giao tình chưa đậm xin địa chỉ tôi từ một đứa em họ, gửi qua bưu điện một lá thư viết rất ngắn gọn. Qua bao nhiêu dâu bể cuộc đời, không còn giữ được “thủ bút của tác giả” nhưng tôi vẫn nhớ như in những câu này: “Ở trường về thật buồn, chiều nay bỗng dưng nhìn về kỷ niệm nhiều hơn, niềm an ủi như có dịp vỗ cánh bay xa. Một lần nào đó, trong những ngày nắng hạ lên cao, nhìn dáng sắp đi xa và nghe nói sẽ viết nhiều. Tất cả giờ đây hiện về với khá nhiều mất mát. Nghe chừng như có một cái gì quý báu đang vuột khỏi tầm tay!” Khi nhận được thư này, tôi thấy lòng mình lâng lâng và tự hỏi: phải chăng đây là một thông điệp? Có phải đây là một lá thư tình? Và nếu đó là thư tỏ tình thật thì chính là thư đầu tiên tôi nhận được trong đời, tuổi mười chín!
Có một chuyện tiếu lâm tôi đọc được hồi nhỏ kể rằng, ngày xưa, lính tiền đồn thường rất mong nhận thư và siêng viết thư cho gia đình, cuối tuần, trong đơn vị có người gom hết thư đem về bỏ thùng thư bưu điện ở phố. Có anh lính nọ gặp hoàn cảnh mẹ ruột và vợ sống chung nhà nhưng không hòa thuận với nhau. Do vậy, anh luôn tìm cách dung hòa tình cảm giữa mẹ và vợ. Ngày cuối tuần kia, người nhận thư cho đơn vị đến nhận và đi gấp để kịp xe, anh luống cuống thế nào bỏ nhầm thư cho vợ vào bì của mẹ và thư cho mẹ vào bì của vợ. Khi thư đến nhà, người vợ đọc được có đoạn rằng: “Mẹ ơi, con biết rằng mẹ rất buồn khi phải sống với một con dâu hư thân mất nết và hỗn láo. Nó có gì không phải, mẹ nhớ lấy để ngày về phép, con đập một trận cho nó biết thân để mẹ vui mẹ nhé!”. Trong khi đó, người mẹ đọc được một đoạn rằng: “Em yêu dấu, thật bất hạnh cho em khi phải làm dâu vào một gia đình có mẹ chồng hắc ám như mẹ anh, anh cũng chẳng vui thú gì, chỉ biết ngày đêm cầu nguyện cho bà ấy sớm chết đi để vợ chồng mình sống hạnh phúc và thanh thản với nhau!”. Không nói tiếp thì người đọc cũng biết kết cục chuyện này khi người lính về phép.
Không hình dung được khi việc gửi thư qua đường bưu điện mất hẵn thì xã hội sẽ buồn thế nào? chỉ biết rằng ở bưu điện các tỉnh thành, “ngành viễn” đã phải nuôi “ngành bưu” từ nhiều năm nay. Việc in tem thư sẽ ít dần, khi phát hành các bộ tem mới không còn đóng dấu ngày phát hành đầu tiên cho những người sưu tầm và việc chơi tem, một thú vui tao nhã, bổ ích cũng sẽ không còn ai biết đến, nghề viết thư thuê mà ta thường thấy ở Bưu điện Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn trước đây không còn nữa. Con người không còn được sống với cảm giác lâng lâng khi nhìn thấy nét chữ người thân yêu mà hình dung ra khuôn mặt và tâm trạng của họ khi nắn nót viết cho mình, thay vào đó là những font chữ vô hồn của máy tính, Ipad, cell phone… Cho hay, để xã hội ngày càng đi lên, cần chấp nhận rằng để được cái này phải mất cái khác!

Chú thích
(1).Dân quê các tỉnh Nam Ngãi Bình Phú hay dùng chữ lá thơ. Lúc nhỏ tôi nghe câu hát ru con này: “Buồn tình cha chả buồn tình/ Không ai đi Huế cho mình gởi thơ/ Gởi thơ ra thăm cha ngoài Huế/ Gởi thơ về thăm mệ Quảng Nam” (gởi thơ = gửi thư, mệ = mẹ) hoặc “Thương chi cho bõ công trình/ Nẫu về xứ nẫu bỏ mình bơ vơ/ Bơ vơ thì mặc bơ vơ/ Nẫu về xứ nẫu viết thơ cho mình” (nẫu = họ, người khác, từ địa phương Phú Yên)
(2). Có lẽ người ta dùng nhầm, chữ “thư” trong câu này là sách (thư viện) hơn là lá thư.

NGUYỄN HOÀNG QUÝ

LỜI NGỌN CỎ

chuthuynguyen

1. hôm nay tôi đang ở
ngoài rìa vực của gió
chống cằm nghĩ về thinh không
nơi hoài niệm dậy lên mùi đất cũ

2. có một điều mãi tận bây giờ
tôi chưa hề thú nhận cùng bạn
thật ra
tôi chỉ là ngọn cỏ

3. có một lần
tấm da dê cố băng qua dòng sông trong một cuộc tỉ thí
lúc trở về
nó phất phới, đen nhẻm, sũng nước
dừng lại trước mặt tôi
cười rung
rỏ nước cam lồ xuống thân tôi
lúc tôi sắp cháy vèo cọng cỏ khô

4. hương ân ái một đôi khi thoảng bay từ cánh đồng
cùng những nốt dương cầm trác tuyệt
bỗng nhớ mùi môi em
hoàng lan chiều trinh tiết

5. dặn lòng mình
đừng bao giờ làm gã khờ hào phóng
đu dây qua cuộc đời người đàn bà láng giềng
dù truyền thuyết về nàng ( nghe được lúc nửa đêm )
chừng như quá bi thương

6. thì thôi
thà quay về làm ngọn cỏ
dù gió có đùa
dù tuyết có dập vùi chôn lấp

7. lúc làm thân ngọn cỏ
ta dại tình yêu em hồn nhiên
ôi người đàn bà sở hữu những giọt lệ
luôn là những hạt sương ân sũng
nên trong ngút hận lửa đời
thật may ta chưa hóa tro than …

Chu Thụy Nguyên

LÀM SAO EM BIẾT

Hovietkhue

Giấu mình đêm tối ba mươi
Anh không dám thở , đợi người đi ngang
Đi ngang
Đi ngang
Đi ngang…
Em đi qua
nện
vang vang gót giày
Anh gom góp thoáng hương lay
Ươm vào giấc ngủ tràn đầy mơ em…

HỒ VIỆT KHUÊ

Con Quan Thì Được Làm Quan

luuthy

Khi xưa ở vùng Tây Sơn Hạ có một ngôi chùa nhỏ. Trong ngôi chùa nhỏ có một ông thầy và một chú tiểu quét lá đa.

Chú tiểu ngày ngày quét lá đa hay cắc cớ nhón chân nhìn qua hàng rào nhà hàng xóm. Nhà hàng xóm có một công tử con nhà quan tối ngày không mần thơ cũng ka ra ô kê với ôm bia.

Chú tiểu thắc mắc mới hỏi thầy:

-Thưa thầy, tại sao con tối ngày chỉ được ăn đậu hủ với xì dầu còn thằng con nhà quan bên cạnh lại được thịt thà, seafood, ca hát với bia ôm? Con với nó khác nhau ở chỗ nào?

Ông thầy vừa gõ mõ vừa trả lời:

-Con quan thì được làm quan con sãi ở chùa thì quét lá đa.

Chú tiểu không đồng ý mới cãi lại thầy:

-Hắn đúng là con quan… nhưng con đây đâu phải là con thầy chùa mà con lại bị quét lá đa?

Nói xong chú ném áo, trả kinh cho thầy, chắp tay vái thầy lần cuối rồi bỏ chùa ra đi.

Rời chùa, chú lần theo đường 19 nhắm hướng tây mà lên vùng Tây Sơn Thượng.
Trên đường đi chú gặp một vị đạo sĩ đang luyện tập pháp thuật. Đạo sĩ tay phải cầm búa thợ rèn, tay trái cầm câu liêm, miệng hô thần chú, biến trắng thành đen biến đen thành trắng.

Chú tiểu chắp tay vái chào đạo sĩ, đạo sĩ gật đầu hỏi:

-Tại sao ngươi đường đường là chú tiểu ở chùa, không lo chuyện quét lá đa tụng kinh gõ mõ mà lại tính chuyện bôn tẩu giang hồ.

Chú tiểu mới tình thực mà kể hết ngọn nguồn cho vị đạo sĩ hay. Đạo sĩ nghe xong mới hỏi:

-Vậy ngươi có muốn đổi đời, ngày ngày thịt cá tôm cua lobster, bia rượu với gái ghiết. Muốn hay không một tiếng trả lời ngay, không suy nghĩ với suy tư, ta không có thì giờ, có hay không? Có thì đi theo ta ta sẽ dạy!

Chú tiểu gật đầu ưng thuận, rồi gập đầu bái lạy đạo sĩ làm sư phụ.

Ngày qua ngày, đêm qua đêm, sáng học kinh sách, đêm luyện công phu, phút chốc cũng đã hơn 2 năm, chú tiểu ngày xưa giờ đã thành một tiểu đạo sĩ thứ thiệt. Tiểu đạo sĩ nhìn đống lá đa trước nhà lại nhớ đống lá đa trước sân chùa xưa, nhớ thằng công tử con nhà quan cạnh chùa, mới chắp tay xin sư phụ đạo sĩ cho mình về quê.

Đạo sĩ gật đầu.

Tiểu đạo sĩ chào thầy, tay câu liêm tay búa xuống núi lại theo đường 19 hướng về đông mà về Tây Sơn Hạ.

Thầy trụ trì ngưng gõ mõ, ngước mặt nhìn ra ngoài. Ngoài sân quạ không biết từ đâu bay tới bu đậu kín cây đa già. Bầu trời sau cơn mưa trời lại tối che kín nửa bầu trời, cầu vồng đứt đoạn bóng chệch về hướng tây. Thầy giật mình nhớ lại lời sư phụ lúc lâm chung “Bốn ngàn năm mới có một lần, cầu vồng đứt đoạn, bầy quạ đen bu kín cây đa chùa”. Thầy thở dài, tay khẽ một hồi chuông…

Phía bên kia nhà hàng xóm, tiểu đạo sĩ tay búa tay câu liêm đứng trước cổng nhà quan, mặt lạnh như tiền, nghiêng đầu liếc nhìn ngọn đa già, tiếng chuông chùa vừa “boong” lên một tiếng, tiểu đạo sĩ chân đạp mạnh cổng nhà quan, phi thân phóng thẳng vào nhà trong, vung búa đập bể đầu quan ông, vuốt câu liêm chém đứt đầu công tử, quan bà chỉ kịp hét lên hai tiếng “Ông…Con…” là trợn trừng mắt đứng tim ngã rạp người xuống đất.

Tiếng hét của quan bà đánh thức đứa con vừa tròn tháng. Tiểu đạo sĩ nhíu mày phóng nhanh về hướng gian sau nhà, nơi có tiếng khóc trẻ thơ, không ngần ngừ nâng cây búa thợ rèn…

-A di đà Phật! Tiểu đạo sĩ hãy đừng tay, xin nể tình thầy xưa ngôi chùa cũ, hạ tay búa nới câu liêm, giao đứa nhỏ cho bần tăng nuôi nấng.

Tiểu đạo sĩ hạ cây búa thợ rèn, nhìn thầy hỏi:

-Thầy thật sự muốn nhận thằng nhỏ này đem về chùa nuôi nấng? Thầy có sẵn sàng đồng ý làm những điều con nói?

Nói xong tiểu đạo sĩ đến gần nói nhỏ vào tai ông thầy cũ.

-A di đà Phật! Phật dạy phải hạ đao thì mới thành Phật, còn ta nay muốn thành Phật lại phải cầm dao! Bần tăng sẽ làm theo lời tiểu đạo sĩ.

Thầy trụ trì nói xong đến bế thằng bé con mang về chùa.

Đứa bé con còn đỏ hỏn ngồi trong lòng thầy trụ trì đang tham thiền nhập định, nín khóc, miệng mỉm cười nghe tiếng mõ lời kinh. Thầy trụ trì đọc kinh mà tâm thần bất định, thỉnh thoảng buông hai tiếng “oan nghiệt” giữa lời kinh. Dứt tràng kinh, thầy dùng kéo xuống tóc cho thằng tiểu đồ đệ mới, đặt cho hắn cái pháp danh là Thôi Kệ.

Hôm sau, thầy cho đốn ngay cây đa già, xây bức tường gạch cao quá đầu người, rồi dựng chuồng gà và ra chợ mua về đám gà con.

Ngày qua ngày, đêm qua đêm, xuân qua hạ tới thu về rồi đông đến, năm nào sân chùa cũng vắng vẻ không một chiếc lá vàng rơi.

Sinh nhật thứ mười sáu, tiểu Thôi Kệ cảm ơn lời thầy chúc, xong chỉ tay sang phía bên kia hàng rào gạch hỏi thầy:

-Dạ thưa thầy, nhà bên ấy nhà ai sao lúc nào cũng có tiếng đờn ca múa hát?

Thầy trụ trì trả lời:

-Nhà đạo sĩ.

Tiểu Thôi Kệ hỏi tiếp:

-Sao thầy làm thịt gà cho con ăn mà thầy chỉ ăn tương với chao và đậu hủ?

-Người tu hành không ăn thịt.

-Thầy tu hành sao lại dùng dao cắt cổ gà làm thịt?

-A di đà Phật! Do nghiệp thầy quá nặng, Phật dạy phải hạ đao thì mới thành Phật còn ta muốn thành Phật lại phải cầm dao!

-Thầy tu hành không ăn thịt chỉ ăn chay, còn con đã quy y sao không ăn chay lại phải ăn mặn?

-A di đà Phật! Chay cũng là không mà mặn cũng là không! Bức tường gạch cũng là không, cây đa già cũng là không! Chỉ có cái này là phải có, Thôi Kệ, con đã làm xong bài thơ tình thứ 1000 với vẽ xong bức tranh tố nữ thứ 200 chưa?

Thôi Kệ lắc đầu nhìn thầy rồi ngập ngừng hỏi:

-Dạ thưa thầy…

-Con còn điều gì muốn hỏi ta?

-Thưa thầy, con tình cờ thấy được tờ giấy xé ngang có bài thơ với nét chữ của thầy ép trong cuốn kinh Phật. Bài thơ lục bát chỉ có một câu đầu “Con quan thì được làm quan”…còn những câu sau thầy xé bỏ, những câu đó là câu gì?

Thầy trụ trì tay lần tràng hạt, thở dài, im lặng không nói, tay đổ một hồi chuông…

Lưu Thy

không đề

npphan

ngọn cờ
bay lả bay la
đêm nằm trắng mộng
con cà con kê
em ơi
tàn cuộc thì về
bận lòng bến lú sông mê làm gì

chỉ cần
một chút cuồng si
bước chân mò mẫm
đường đi nhiệm mầu
nhẩn nha tằm ăn lá dâu
sá chi nhân thế
nỗi sầu thất kinh

hỡi ôi
nào chuột nào bình
cái tâm vô cảm hiện hình yêu ma
tội thì gần
nợ thì xa
múa may trong cõi ta bà
u minh

NP phan

Con Chữ

truongdinhtuan

những con chữ
lăn dị cuồng
tôi con thú đã bị thương góc rừng
những con chữ
quay bão bùng
tôi nguyên vị bữa não nùng nguyên sơ
những con chữ
lạc bơ vơ
tôi sa mạc đứng chết khô chờ người
những con chữ
khóc rồi cười
tôi điên đão trước lẽ lời như ru
những con chữ
bước thiên thu
tôi bia đá cũng ngục tù theo nhau

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Bí quyết để nổi tiếng

phamhoainhan

Facebook là nơi dễ khiến người ta nổi lên lòng ham muốn. Khi post một hình hay một status thái lên thì muốn người ta thích và bấm like cho nhiều, muốn người ta comment cho lắm. Khi mình comment hay like ở nhà người khác, thì trong lòng cũng kỳ vọng rằng người ta sẽ đáp lễ bằng cách comment hay like ở nhà mình, hoặc nhấn like cái comment của mình. Trạng thái mong muốn có thể cực đoan đến mức: không cần phải khen, ném đá cũng được miễn là comment càng nhiều càng tốt, để chứng tỏ ta đây được nhiều người quan tâm.
Ba Trợn cũng không ra ngoài cái ngoại lệ đó. Mỗi lần vô Facebook, nó đều ngó số lượng like, comment trên nhà mình, so sánh với số lượng tương ứng của người khác mà mủi lòng. Không cầm lòng được, Ba Trợn tìm đến quân sư Hai Ẩu để hỏi han:
– Anh Hai ơi! Làm sao để trang Facebook của em có nhiều người like, nhiều người comment?
– Dễ ẹc! Viết những câu status thật hay hoặc thật buồn cười.
– Hic, em không nghĩ ra được cái gì hay hoặc buồn cười hết anh Hai ơi!
– Vậy thì post lên những tấm hình thật đẹp hoặc thật độc.
– Hu hu, em chỉ có hình xấu òm và chẳng có gì đặc biệt hết.
– Hừ, gì cũng hổng có hết thì lấy chi để người ta thích. Hay là đi chôm hình, chôm status của người khác đưa lên nhà của mình đi.
– Đâu được anh Hai. Của người ta hay thì thiên hạ đã coi trước rồi, đâu đợi coi ở nhà mình. Mà nếu họ có coi ở nhà mình và like thì cũng hổng sướng, vì đâu phải của mình đâu.
Ba Trợn tỉ tê:
– Anh Hai thông cảm cho thằng em bất tài này. Em chẳng có gì hay ho hết mà vẫn muốn người ta like mình, comment cho mình. Nếu em tài giỏi thì đã tự mình thu hút mọi người, đâu cần nhờ tới anh Hai làm gì. Ráng giúp dùm thằng em đi anh Hai!
Hai Ẩu được nâng bi, khoái lắm, nói:
– Chú mầy ra cho anh đề bài khó quá: không biết gì, không giỏi gì mà muốn mọi người thích. Thế nhưng anh đây vẫn có cách giúp chú.
– Dạ, anh cứ dạy bảo. Em xin nghe.
– Chú mầy hãy vô trang Facebook của một người nổi tiếng nào đó, giáo sư Ngô Bảo Châu chẳng hạn. Rồi comment vô đó một câu đại khái như thế này: Tay này cũng khá đấy!
– Hả? Làm vậy có du côn và hỗn quá không? Em là cái thá gì mà dám nói với giáo sư Ngô Bảo Châu Tay này cũng khá đấy! theo cái kiểu dạy đời vậy.
– Ấy, vậy mới sốc hàng chứ! Nói giọng đó thì chỉ có thể là một trong hai trường hợp. Một là một thằng mất dạy, hỗn láo không biết thế nào là lễ độ. Hai là một bậc sư phụ, giỏi hơn hẳn người được comment (ở đây là GS Ngô Bảo Châu). Cả hai trường hợp đều khiến người xem quan tâm đến kẻ vừa comment xem đó là ai mà mất dạy (hay tài giỏi) như vậy? Họ cũng sẽ vào trang nhà của chú mầy để coi lai lịch, mặt mũi chú mầy ra sao. Tha hồ mà nhận comment chửi rủa nhé!
Ba Trợn nghe lời, làm thử. Nó vô trang của mấy tay nhà báo nổi tiếng, còm vô đó câu: Viết thế cũng được đấy! Vô trang của người mẫu xinh đẹp, nó còm: Ngó tướng cũng được đấy! Vô trang của ca sĩ lừng danh, nó còm: Hát vậy nghe cũng khá đấy! Vì các trang ấy có nhiều người xem, nên nhiều người thấy cái câu bố láo của Ba Trợn, và họ chửi tới tấp. Thế là Ba Trợn nhận được nhiều comment dù rằng nó chẳng sáng tạo ra được cái giống gì hay ho cả.
Hai Ẩu khoái chí, nhìn Ba Trợn, cười hỏi:
– Sao? Chú mầy thấy sáng kiến của anh hiệu quả không?
Ba Trợn cũng ngó Hai Ẩu, cười trả lời:
– Tay này cũng khá đấy!!!

PHẠM HOÀI NHÂN