MILANO – SÀI GÒN: ĐANG VỀ HAY SANG?

truongvandan

1-
Mới chỉ 6 giờ mà may bay đã hạ cánh! Theo hành trình, tôi sẽ đến phi trường Malpensa vào lúc 6h35 sáng. Qatar là một hãng máy bay mà từ nhiều năm nay lúc nào cũng đến sớm hơn giờ ấn định. Elena đã có mặt. Nàng đã về Ý truớc tôi hai tuần, để có thể có thời gian quây quần với người thân lâu hơn; sáng đó nàng đã thức từ 4h để chuẩn bị đón tôi từ VN sang.
Tối hôm trước tôi đã nói với các cháu ra tiễn ở sân bay Tân sơn Nhất: Chú (cậu) là người đàn ông may mắn, đi người đưa, đến người đón. Người khổ nhất là Elena, lúc nào cũng cô độc, thui thủi, việc gì cũng phải tự lo, thế mà luôn ân cần và vui vẻ, lúc nào cũng muốn mọi người xung quanh được chăm sóc một cách chu đáo.
Niềm vui của Elena là cho đi chứ không phải nhận lại.
Nhiều lúc tôi nghĩ là cô ta còn “nợ” tôi từ tiền kiếp. Và kiếp này “phải” trả.
Và cô ta đang sẵn lòng “trả nợ”.
Tự chấp nhận và biến mình thành “con nợ truyền kiếp”. Với niềm vui.
2-
Trên con đường từ sân bay về thành phố Milano, những hàng cây bên đường lá xanh mơn mởn: Elena cho biết là mấy ngày trước có vài cơn mưa, rửa sạch bụi. Nhờ thế nên màu xanh của lá còn xanh hơn, thật khác với những tán lá vàng nâu của thành phố Sài Gòn, lúc nào cũng đầy khói, bụi vì xây dựng và đào bới.
Có lẽ nhờ cơn mưa bất chợt mấy ngày trước đó nên cuối tháng 5 mà trời vẫn còn mát mẻ như mùa Xuân.
Con đường 3 làn rộng rãi, quang đãng, xe chạy bon bon hoàn toàn khác với cảnh hỗn loạn, chen lấn từng thước đất, tranh nhau nửa vành bánh xe ở nơi tôi vừa bỏ lại.

3-
Con đường thẳng tắp. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã rời xa lộ. Xe rẽ vào đường làng. Thành phố chưa thức giấc nên có ít người qua lại. Sự xô bồ của đời sống Tây phương vẫn còn đang ngái ngủ, làm tôi cảm thấy như mình đang hòa vào một dòng sống khác.
Chỉ ít phút nữa là tôi sẽ về đến nhà. Nhà. Nhưng đây là đâu? Là Milano, nơi tôi đã từng sống 40 năm, sao mà xa lạ, chỉ sau một năm xa cách. Liệu đây có phải là lần cuối cùng tôi quay lại thành phố này, trước quyết định sẽ không, hay còn rất ít lần quay lại?

4-
Lúc Elena đậu xe, tôi nhìn thấy những chú sóc nhanh lẹ nhảy nhót trên thảm cỏ trong vườn. Chợt nhớ những buổi sáng mùa Xuân ngồi uống cà phê ở ban công trên tầng 3, tầng cao nhất ở căn nhà Cassina de Pecchi này. Bầu trời rộng mở. Không có những cao ốc che mất tầm nhìn. Những hàng cây xanh lá mướt. Chim chóc bay lượn, ca hát líu lo. Tôi thường nhìn những cụm mây trắng trên nền trời xanh. Thỉnh thoảng có vài cánh chim lao vút ra vườn. Và tiếng quạ kêu quang quác trong không gian yên tĩnh. Các chú quạ hay làm tổ trên cây thông thật cao gần đó nên nhiều khi đáp xuống trục antene trên nóc nhà đối diện làm chúng rung rinh.
Cây betulla (bouleau) trước nhà lúc này cành lá rất xanh. Đỉnh của nó chỉ cao hơn sàn nhà tôi chừng hơn 1 mét, cành xa bờ chưa đầy 2 mét, nên những buổi sáng mùa đông, cầm tách cà phê nóng trên tay, tôi thường đứng trên ban công nhìn tuyết đang tan hay những bụi sương theo cành trụi lá chạy xuống, nhưng đến cuối ngọn thì dừng lại, đọng thành giọt mà chưa đủ sức nặng để rơi; đong đưa treo mình như hạt ngọc. Nó kiên nhẫn chờ đợi, lung linh phản chiếu tia nắng như một lăng kính, mãi đến khi những bụi nước li ti khác hoà nhập, hạt nặng hơn, lúc đó mới gieo mình rơi xuống, hòa với lớp tuyết đang tan nằm dưới gốc cây.
Bước vào nhà, Elena thao thao nói chuyện mà tôi chỉ nghe tiếng được tiếng không. Đầu óc tôi đang “tơ tưởng” về mấy quyển sách đang nằm trong túi xách. Đó là 3 quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, bản thảo vi tính mà anh Nguyên Minh đã in ở VN để tôi đem qua đây tặng bạn. Sách in thử mà rất đẹp. Tôi sẽ dành riêng cho: Thiện (Paris), Vũ (Milano) và chị Huỳnh Ngọc Nga (Torino), chị bạn văn duy nhất của tôi ở Ý…
Đầu óc tôi còn đang mơ mơ màng màng về hành trình văn học của mình, về “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, tiểu thuyết đầu tay mà đã được công ty văn hoá Phương Nam ký hợp đồng để mua tác quyền 5 năm và sẽ in trong năm nay (nxb Hội nhà văn-2011).
Khi còn ở Ý và viết “Hành trang ngày trở lại” ( nxb trẻ, 2007) tôi đã xem Việt nam là nơi trú ẩn an toàn sau những bon chen của xã hội Tây Phương.
Còn khi đi về để viết “Bàn tay nhỏ dưới mưa”… thì xã hội Việt Nam đã như xã hội Tây Phương. Đã và đang bị Tây Phương hoá.
Thời gian chẳng bao lâu mà thay đổi quá nhiều.
Tôi đã mệt mỏi với những xô bồ. Cần sống chậm lại. Đó có thể là cách kìm hãm sự thao túng của kỹ thuật lên văn hoá, văn minh và thiên nhiên. Những chiêm nghiệm và bức xúc đó, phần nào đã tuôn trào, rơi trên mặt giấy và biến thành những con chữ.
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” vì thế đã được lồng trong bối cảnh xã hội mà tôi chứng kiến và đối chiếu, từ bên này hay bên kia trong các chuyến đi về. Thế nhưng câu chuyện của người đàn bà tuổi bốn mươi mới gặp được “một nửa” của mình có điểm xuất phát từ đâu? Vì sao chỉ sau 3 năm hạnh phúc nàng đã phải đối diện với căn bệnh nan y và nhìn lại toàn bộ đời mình, rồi cuối cùng tự hỏi, ta là ai?
Vậy Gấm là ai?
Hai năm trước, khi đọc bản thảo đầu tiên trong lần họp mặt ở Thân Trọng điền trang – (Đà Lạt), nhà văn Lữ Kiều (bác sĩ Thân Trọng Minh) và nhà văn Khuất Đẩu, cũng đều hỏi tôi câu hỏi đó.
Nhưng tôi im lặng. Không hiểu vì sao mình lại “thai nghén” nó !

5-
Nghỉ một hôm vì chênh lệch giờ giấc, sáng hôm sau chúng tôi đi thăm ba của Elena bị bệnh. Sau trận tai biến, gần một năm ông phải ngồi xe lăn và nói chuyện rất khó khăn. Elena rất buồn vì có lúc phải áp sát tai mà vẫn rất khó hiểu những lời phì phào của ông. May có bà dì Fiore chăm sóc và một nữ y tá đến theo dõi tình hình và chích thuốc vào mỗi sáng.
Buổi chiều, khi chúng tôi đang trên đường về nhà thì Giuseppe gọi điện mời đến nhà. Tôi hẹn bạn sáng hôm sau.
Chúng tôi ngồi với nhau dưới mái hiên nhà bạn. Cũng hơn năm rồi rồi tôi và Giuseppe mới gặp lại nhau, kẻ thì bận áo cơm, người ngược xuôi lăn lộn. Chuyện cũ, chuyện mới cứ tự nhiên ộc ra như suối. Giuseppe từng là một kẻ rất… rất giang hồ. Nhưng ở anh, có tấm lòng với anh em huynh đệ thật chí nghĩa chí tình.Từng hoạt động trong phong trào thiên tả, rồi về sau hụt hẫng. Quen nhau từ khi tôi mới qua Ý và học cùng phân khoa Hoá và Công Nghệ Dược. Lúc đó anh hoạt động trong phong trào sinh viên.Tôi còn nhớ có lần đi biểu tình chống Mỹ can thiệp ở Việt nam, khi về ngang qua khu San Babila, tay anh cầm cờ mặt trận nên bị bọn phát xít nơi đây vây đánh đến chảy máu mũi rồi bỏ chạy trước khi cảnh sát ập đến.
Năm tháng đi qua, lý tưởng ngày xưa chỉ còn là kỷ niệm. Sau bao chìm nổi, giờ anh là một quan chức cấp cao của tập đoàn dược phẩm Bayer (Đức). Lên cao, lại chán trò đấu đá tranh giành quyền lợi trong công ty, anh thu mình, tìm lối thoát và trở thành chủ tịch một câu lạc bộ đọc sách. Biết tôi viết và dịch, anh ân cần mời tôi một tối đến tham dự một buổi họp mặt của các thành viên trong nhóm.Tôi và Elena vui vẻ nhận lời.

6-
Buổi sáng, trời mát mẻ. Tôi và Elena đến nghĩa trang thăm mộ mẹ nàng. Gọi là “mộ” nhưng thực ra đây là một hộc nhỏ trên tường, trong đó lưu giữ tro than của bà. Cuộc đời thật lạ. Chúng tôi sống với nhau những ngày đáng nhớ và từ “lúc ấy” không còn gặp nhau lần nữa. Sống chết là quy luật nhưng đây đó vẫn còn có bao người đang sống như mình sẽ không bao giờ chết.
Elena cẩn thận lau bụi trước khung ảnh của bà rồi thắp một nén nhang. Chấp tay đứng gần bên, tôi nhìn vợ mình đã bị “Việt hoá” như thế nào. Tàn nhang, chúng tôi dạo bước ra về.
Nghĩa trang vắng vẻ.
Vài chiếc lá rơi, lìa cành nhánh khẳng khiu, buồn đến ngậm ngùi…
Khi bước vào xe, đột ngột Elena bảo : Mình về và bắt đầu dọn nhà là vừa. Phải chuẩn bị nhà trống để cho thuê và có thể lần tới quay về Ý mình không còn được ở căn nhà này nữa.
Tôi bàng hoàng. Dù đã chuẩn bị tinh thần từ trước khi về lại Ý trong chuyến đi này… nhưng tôi vẫn không tránh khỏi bất ngờ.
Thế là bắt đầu một cuộc ném đồ đạc. Băng cassette. Video phim ảnh. Báo chí.Tài liệu. Các vật dụng… mỗi lần vứt bỏ là một nhát dao cắt vào da thịt.
Bốn mươi năm tôi đã sống ở đây, đã thay đổi chỗ ở nhiều lần và những vật dụng thân thiết ấy đã theo tôi. Giờ thì phải đành bỏ lại… vì không thể nào mang theo được. Sách vở là điều làm tôi khó nghĩ. Bỏ đi, tiếc. Đành phải chia bớt môt ít cho bạn bè, hy vọng họ có thời gian để đọc, còn những sách “quí”, phải gói ghém cẩn thận để đem về VN trong những chuyến đi về.
Bốn mươi năm. Tôi đã gắn bó với đất nước này thật mật thiết, bạn bè Ý rất đông, lấy vợ người Ý, học, làm việc, kinh nghiệm tích lũy nhờ học hỏi với các nhà khoa học rất giỏi và khiêm tốn.
Tôi chợt nghĩ đến nhưng người tôi đã mang ơn. Nhiều lắm. Những bạn sinh viên Franco, Guido, Giuseppe… lúc nào cũng sẵn lòng chia sẻ cùng những lời khích lệ lúc ngã lòng. Những đồng nghiệp chí tình Umberto, Loris, Marco, Enrica, Anna, Sandra… những vị thầy đáng kính và tận tâm Berti, Villa, Trabucchi.
Sống đời sống ở phương Tây mọi việc đều rõ ràng, sòng phẳng, thế nhưng lòng tôi luôn luôn canh cánh một món nợ. Nợ nước Ý. Nợ tình yêu của Elena, người con gái bốn mươi năm trước đã quen và yêu tôi hơn mọi thứ quý giá nhất trên đời. Một tình yêu hoàn toàn trong sáng, vô vụ lợi, không toan tính nhỏ nhen. Nàng chấp nhận đến với tôi từ khi còn là một “công tử” ngu ngơ du học, đến những năm tháng khó khăn, sau 75, ở căn nhà không lò sưởi, mùa đông bên trong nhà còn lạnh hơn bên ngoài; Nàng chẳng rời tôi thời không tiền ăn sáng… nhịn đói ôm sách ra thư viện để được ấm thân, vừa học vừa mong đến giờ ăn ở quán cơm sinh viên (mensa). Nàng động viên, khuyến khích và cho tôi sức mạnh để vượt qua bao nỗi khó khăn, từ khi tốt nghiệp, việc làm tạm bợ bị bóc lột đến xương tuỷ vì không có quốc tịch, lương ba cọc ba đồng, cho đến lúc vươn lên, trở thành giám đốc kỷ thuật và trưởng phòng nghiên cứu phát triển dược thú y cho một công ty thuộc tập đoàn lớn nhất nước Ý (Ferruzzi group).
Bốn mươi năm, tôi đã đi theo sự chọn lựa mà nhiều khi cũng không có quyền chọn lựa. Nhiều lúc tôi đã phải cắn răng chịu đựng nhưng có lúc cũng mỉm cười, nhìn chướng ngại như môt cuộc thử sức rồi ngẩng đầu để đi lên. Rất nhiều năm, thân mình chưa lo nổi còn tự gánh lấy trọng trách cưu mang cả gia đình. Mười ba năm quen nhau mà chưa dám làm đám cưới… thế mà Elena vẫn chờ cho đến lúc gánh nặng trên vai tôi nhẹ bớt. Giờ thì tôi hiểu ra, khó khăn còn là một thứ xúc tác để những bông hoa trong khu vườn tình người nở rộ. Thăng trầm, vinh nhục… tất cả đều đã trải, đều đã vô thường, thay đổi, và chỉ có hằng số Elena là còn ở lại. Nàng luôn ở bên tôi. Lúc nào cũng ở bên tôi. Dù có khi chúng tôi cách xa nhau hơn 10.000 km.
Là người luôn chấp nhận hy sinh, Elena yêu tôi bằng một tình yêu mãnh liệt. Tình yêu ấy như hai trái tim nằm giữa lằn ranh, vừa Hoà vừa Nhập, thách thức mọi khác biệt của hai nền văn hoá. Mới đây nàng còn từ bỏ tất cả những gì thân thương để tiếp tục theo tôi trong một hành trình mới, về sống ở Việt nam, một đất nước còn bao khó khăn và ngổn ngang những vấn đề.
Tất cả những hồi tưởng này, lướt qua đầu tôi như một cơn gió nhẹ nhưng mơ hồ làm bật ra một vài ý tưởng. Lời giải đáp cho những câu hỏi còn loé sáng hơn khi tôi có cơ hội trình bày tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” trong buổi họp mặt tại câu lạc bộ người yêu sách.

7-
Ở thư viện Albairate, sau khi chào hỏi Giuseppe đặt lên bàn 3 quyển bản thảo vi tính BTNDM rồi yêu cầu tôi tóm tắt câu chuyện cho các bạn. Qua vài lời giới thiệu ngắn ngủi tôi kể chuyện về người đàn bà bất hạnh, tuổi bốn mươi mới gặp được “một nửa” của mình, là tri âm thể xác và tri kỉ tâm hồn. Đến lúc ấy Gấm mới nhận biết được tình yêu, say đắm “như yêu lần đầu” và hiểu ra là “hạnh phúc thật ra ở ngay trong những điều nhỏ nhặt”. Gặp “Anh”, kiến thức Gấm được mở mang và học được nhiều điều quan trọng. Nhưng số phận éo le, đúng khi tưởng nắm giữ được hạnh phúc với người đàn ông của đời mình thì Gấm lại bị ung thư.
Từ căn bệnh thời đại này tôi đã lồng câu chuyện tình yêu vào một bối cảnh xã hội rộng lớn, trong đó lòng tham của con người đang làm trái đất cạn kiệt, xã hội rối loạn, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm… và con người càng ngày càng sống phản lại tự nhiên.
Còn Gấm, đứng trước cái chết được báo trước, nàng trăn trở, hoảng loạn, suy tư, ý thức “lẽ sống còn quan trọng hơn sự sống”… và cuối cùng tự hỏi “Ta là ai”.
Tôi bất ngờ và thú vị vì thấy có nhiều người đồng tình. Một cuộc thảo luận về nhịp sống hối hả làm thời gian bị đo lường, chắt bóp. Có người nói hiện nay tuy phương tiện giải trí có nhiều mà niềm vui dường như rất hiếm.Tâm trí của mọi người đều bị động. Có người nhắc đến các công nhân lắp ráp làm việc theo nhịp máy trong dây chuyền sản xuất, các động tác phải tuân theo các công đoạn trong một thời lượng quy định. Xong việc, về nhà, vội vàng, căng thẳng vì đường phố đông đúc. Cái gì cũng “express”, cũng “fast”… từ ăn uống đến mua sắm.
Giuseppe nói “Thế giới thay đổi quá nhanh trong những năm gần đây làm con người không kịp thích nghi và do đó đánh mất thăng bằng tâm lý. Có các phương tiện để liên lạc mà trong xã hội chẳng ai biết nhau. Sự gia tăng các phương tiện truyền thông hình như tỉ lệ nghịch với sự giao tiếp giữa các cá nhân, con người sống Bên nhau nhưng không sống Với nhau. Tiếp xúc qua không gian ảo, nhìn nhau qua màn hình.”
Tôi dịch một vài trích đoạn cho các bạn, từ tình yêu ngút ngàn của Gấm dành cho “anh” đến nỗi hốt hoảng của Gấm khi biết mình sắp chết, đoạn phân tích tâm lý lúc nàng chạy về phía Bình Quới nhìn mây trắng hợp tan rồi nghĩ về lẽ tử sinh làm mọi người rất thích.
Một thành viên câu lạc bộ hỏi tôi, viết xúc động vậy sao không dịch ra tiếng Ý? Trước đó tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc này. Nhưng tại sao không? Có thể lược bỏ bớt những phần không thiết yếu..

Mọi người xôn xao bàn tán nhưng lúc đó đầu óc tôi chỉ nghĩ đến quyển tiểu thuyết đang chờ in ở Việt nam. Giuseppe nói: “Mới đây mà đã bốn mươi năm!” Bốn mươi năm! Bốn mươi năm! Tôi giật mình. Chợt tỉnh. Bốn mươi năm chẳng phải là số tuổi của Gấm đó sao? Cớ sao số tuổi của Gấm trùng với 40 năm tôi từng sống ở đây? Vì sao nàng chỉ hưởng hạnh phút có 3 năm rồi bị ung thư? Những trùng hợp này chỉ là ngẫu nhiên hay là tiếng gọi của tiềm thức, về một tình yêu cuồn cuộn của một thời tuổi trẻ, si mê, đầy nhiệt huyết và mộng mơ ở trời Âu và giờ đây như những đám mây bay qua bầu trời và sắp biến mất? Những thăng trầm, khổ đau, hạnh phúc của Gấm có khác gì đời sống của tôi mấy mươi năm qua? Thương yêu hờn giận, gắn bó đến thế, làm sao lòng không vương vấn, không đau như cắt ruột khi phải chia xa, dù được quay về nơi mình cất tiếng chào đời? Thế thì 40 năm sống ở trời Âu có khác gì 40 năm cuộc đời của Gấm? Rồi ba năm hạnh phúc, cũng chính là 3 năm mà tôi đã trở về quê hương. Tôi đã bình an biết bao. Nhưng khi ánh hào quang của cuộc trùng phùng chấm dứt, những biến đổi xã hội Á đông đang thay da đổi thịt, hoà theo nhịp sống cuồng loạn của toàn cầu hoá… đã xoá mất nếp bình thản cũ xưa, xuất hiện nhiều mâu thuẫn trong thời hội nhập. Những bất an thực phẩm, ô nhiễm môi trường, trái đất cạn kiệt… tạo ra bao căn bệnh ung thư.
Gấm chết. Như chết một ước mơ, chết một đời sống bình yên.
Ba năm, thời gian đủ để tôi nhận ra là đời sống như tôi nghĩ đã không còn. Con người, gia đình con cái ít quây quần bên nhau. Người già cô đơn. Các căn bệnh thời đại xuất hiện: lo âu, buồn rầu vô cớ rồi sinh ra trầm cảm. Rồi tự sát. Sức khoẻ cơ thể có thể tốt nhờ tiến bộ y học mà sức khoẻ tâm thần và sức khoẻ xã hội ngày càng kém sút. Chúng ta sống thọ hơn mà cuộc sống lại ít ý nghĩa hơn. Có khác gì những điều đang xảy ra ở trời Tây?
Ba năm, ngồi cà phê quán cóc ở vệ đường, tôi cũng nhìn thấy nhiều người lái xe bằng một tay, tay kia bấm phiếm nhắn tin, nghe điện thoại. Những bà mẹ chở con đi học thêm, đứa bé ngồi phía sau tranh thủ ăn, tranh thủ uống. Những người khác luồn lách, chạy xe với tốc độ kinh khiếp như đi vào chỗ không người. Có lần, trên chuyến xe đò về miền Trung ăn Tết, tôi kinh hồn thấy tài xế vừa chạy xe vừa dụi mắt chống cơn buồn ngủ. Chiếc xe chao đảo, suýt lao đầu xuống vực…
Nhịp sống đã thay đổi từng ngày, nếp sống văn hoá quay cuồng theo.Tình người đảo lộn. Ngay trong gia đình, cũng chẳng thiếu cảnh anh em vác dao chém nhau, chuyện con chửi mẹ, đánh cha, thậm chí giết cha mẹ cũng chỉ vì cơn sốt đất. Người người đang sôi lên vì kiếm tiền, kiếm việc làm thêm và mua sắm tất bật.

Những trăn trở ấy, không biết tự lúc nào đã đưa đẩy những ngón tay lên bàn phím, và từ tiềm thức, “Bàn tay nhỏ ” đã biến thành những con chữ.
Cầm trên tay, thấy sách được chia thành từng nhiều đoạn nhỏ, Giuseppe tò mò hỏi tôi đã lấy nguyên mẫu và cảm hứng từ đâu?
“Nguyên mẫu lấy từ nhiều nhân vật. Tôi đem gộp lại chuyện đời, hạnh phúc và khổ đau của nhiều người và viết thêm nỗi băn khoăn và tâm sự riêng của chính mình. Theo đó, tôi đã viết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” như nhiều mảnh gương, mỗi mảnh phản chiếu theo một góc. Có mảnh quay vào trong, soi nội tâm nhân vật, có mảnh hướng ra ngoài để nhìn ra thế giới. Qua các trang viết đều có phản chiếu một chút người, một chút ta, một chút bạn bè và những cảm nhận về những vấn đề mang tính bản thể: sự sống và cái chết, nhân phẩm và sự sa ngã, khát vọng vô cùng của con người và những hữu hạn của tồn tại…” Il trauma che stiamo vivendo in questo momento assomiglia al trauma che abbiamo vissuto 80 anni fa, durante la Grande Depressione, ed è stato causato da una serie di circostanze analoghe. Allora, come oggi, abbiamo affrontato un crollo del sistema bancario. Ma allora, come oggi, il crollo del sistema bancario era in parte una conseguenza di problemi più profondi. Anche se risponde correttamente al trauma (i fallimenti del settore finanziario) ci vorrà un decennio o più per raggiungere il pieno recupero. Se noi rispondessimo in modo inappropriato o con gli stessi strumenti neoliberisti che hanno favorito la crisi, questa durerà ancora a lungo e il parallelo con la Grande Depressione assumerà una nuova dimensione tragica. [ I macro-economisti mainstream sostengono che il vero spauracchio in una recessione non è caduta dei salari, ma la loro rigidità: se i salari fossero più flessibili (cioè bassi), la disoccupazione si sarebbe ridotta, auto- correggendo il problema! Ma questo non è stato vero durante la Depressione, e non è vero oggi. Al contrario, bassi salari e redditi portano semplicemente a una riduzione della domanda, indebolendo ulteriormente l’economia.]
Secondo la vulgata tradizionale, la politica restrittiva della FED ha causato la crisi del 1929, oppure il crollo (autunnale) di Wall Street ha provocato la recessione (che inizia in estate!!!) dell’economia americana. Il problema oggi, come allora, è un’altra cosa: la cosiddetta economia reale.
I paralleli tra la storia delle origini della Grande Depressione e quella della nostra crisi sono forti. Allora ci stavamo muovendo dall’agricoltura alla industria. Oggi ci stiamo muovendo dalla manifattura ad un’economia di servizi. Negli USA si calcola che il calo dei posti di lavoro nel settore industriale è stato drammatico, da circa un terzo della forza lavoro 60 anni fa a meno di un decimo di oggi. Il ritmo si è accelerato notevolmente nell’ultimo decennio. Ci sono due ragioni per il declino. Uno è una maggiore produttività, la stessa dinamica che ha rivoluzionato l’industria e costretto la maggioranza degli operai americani a cercare lavoro altrove. L’altro è la globalizzazione, che ha inviato milioni di posti di lavoro all’estero, a paesi a basso salario o quelli che hanno investito di più nelle infrastrutture o nella tecnologia. Qualunque sia la causa specifica, il risultato inevitabile è esattamente lo stesso di 80 anni fa: un calo del reddito e posti di lavoro. Per un certo tempo, la bolla immobiliare ha nascosto il problema creando una domanda artificiale, che a sua volta ha creato posti di lavoro nel settore finanziario e nella costruzione e altrove.
Giuseppe vỗ vỗ lên vai tôi: “Tác phẩm này giống như cuộc hành trình của con người đi tìm tình yêu, hạnh phúc và sự bình an trong một thế giới hỗn độn và điên loạn. Hãy cố dành thời gian để dịch ra tiếng Ý!”
Tôi gật đầu. Còn một điều nữa cũng vừa lóe lên trong trí nhưng tôi không nói với bạn. Đó là về cái chết của Gấm? Tại sao nàng đi trước mà không phải là anh? Bởi đó là nỗi khắc khoải, nỗi lo sợ, ước muốn và cũng là trách nhiệm của người chồng… Anh không thể “đi” trước, bỏ lại vợ mình trong một đất nước xa lạ… Uớc muốn này mới đầu tôi tưởng chỉ của riêng tôi, nhưng thời gian sau, khi Elena viết truyện ngắn đầu tay “Bàn tay trong một bàn tay”1 thì tôi chợt hiểu đó cũng chính là những ám ảnh và ước muốn thầm kín của nàng.

8-
“Nền kinh tế hiện nay giống như một chiếc xe đạp. Nó buộc chúng ta phải làm việc và đạp liên tục thì mới chạy được, dừng lại là té ngã”. Anh bạn Franco đã từng nói với tôi như thế. Và hôm nay hình như mọi người đang kiệt sức, không đạp nổi. Nền kinh tế rất mạnh của Ý và Âu châu đã suy thoái từ vài năm qua. Nhiều hãng xưởng đóng cửa hay làm việc cầm chừng. Bạn bè nhiều người lo lắng.
Buổi sáng, Elena cầm tờ báo và gọi tôi đến xem. Một cửa tiệm nợ lương 5 tháng không trả. Một thanh niên Phi Châu đến hối thúc lương tháng. Chủ và thợ sinh ra cãi vả. Ông chủ vào nhà lấy tiền và ném vào mặt người làm công. Lúc anh ta cúi nhặt, ông rút súng bắn mấy phát vào lưng. Một phát trúng gần tim và anh ta chết trên đường cấp cứu. Cô gái Ý đi cùng anh ta cũng bị thương. Cô là nhân viên tư vấn của một tổ chức thiện nguyện. Cô đến giúp vì anh bạn ngoại quốc không nói rành tiếng Ý.

“Ở mọi nơi trên thế giới, sự tàn ác đều như nhau. Lòng tốt có giới hạn. Mà cái ác thì không cùng.” Tôi đắng họng. Không biết bình phẩm ra sao. Mãi sau Elena mới nói: “Cuộc đời này là gì? Chẳng qua chỉ là một hơi thở! Tại sao chúng ta không sống cho cái Tâm mình đẹp? Chỉ vì Tham mà người ta ganh ghét và chém giết nhau. Thế mới biết Phật giáo thật thâm diệu: Ai biết xem thường danh lợi thì đời sẽ bình an và lúc nào cũng cũng có thể mở lòng chào đón mọi người, với tình thân ái.”
Tôi nhìn vợ mình. Một tình yêu vô bờ bến đang dâng trào. Và bỗng dưng tôi nhớ là khi viết về cái chết của Gấm, chẳng có trang nào mang theo niềm tuyệt vọng. Sức sống của tình yêu luôn có phong cách khác thường, dù biết sắp đi đến đoạn cuối cuộc đời nhưng đôi mắt tình yêu vẫn nhìn đời sống ngời ngời khát vọng, bao dung.

9-
Mới đến Milano “hôm qua” thế mà nay đã sắp về lại Việt nam rồi. Một tháng trôi qua trong nháy mắt. Tôi xuống phố Cassina dé Pecchi để mua sắm vài món đồ. Đang bước, tôi bỗng nghĩ là mấy mươi năm trước những con đường này hoàn toàn xa lạ với tôi, thế rồi trở nên quen, đã đi qua đi lại bao nhiêu lần và bây giờ lại sắp hóa ra xa lạ.
Sự vật biến đổi. Còn duyên thì hợp, hết duyên thì tàn.
Milano-Sài Gòn.
Sài Gòn-Milano.
Hai ngày nữa là có chuyến bay rồi!
Nhắc nhở đó làm loé lên trong trí tôi mấy câu thơ của người bạn vong niên ở Hà Nội mà tôi rất quý:
Cùng chung một chuyến đò ngang
Kẻ thì sang bến người đang trở về
Lái đò lái mãi thành mê
Sang về chẳng biết mình về hay sang.

TRƯƠNG VĂN DÂN

LỤC BÁT CHO CẶP CHÂN MÀY

truongdinhtuan

thôi em đừng có nhíu mày
mà nghe trĩu cả mây bay hoàng thành
trăm hoàng hôn vạn bình minh
cách nhau diễm lệ thiên tình bao nhiêu

hãy cong lên nhịp thiên kiều
đưa nhau qua khúc mưa chiều nắng mai
cho say khướt cuộc trần ai
đáy ly hồ hải bóng đài đền nghiêng

thôi đừng có nhíu ưu phiền
hãy cong xuống dựng một miền cỏ non
ta xây gác tía lầu son
mai mời em ngự chon von đỉnh trời

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Bao Giờ Còn Mặt Trời

transa
***

Bao giờ còn mặt trời
Giọt nước còn bốc hơi

Bao giờ còn trái đất
Thì giọt mưa còn rơi

Con bướm mới lià đời
Con sâu vưà hoá bướm

Một chiếc lá vàng bay
Một mầm cây chợt mọc…

Lập đi và lập lại
Cho không đầy không vơi

Trái đất chung thuỷ mãi
Chung quanh một mặt trời

Trân Sa

NHẤT CHI MAI – CHẤT NGƯỜI MUÔN THUỞ

phantranghy

Người, cũng là muôn loài trong cái thế giới ta bà, vẫn mang tứ khổ của cuộc đời, vẫn phải chịu bao cảnh trầm luân, vẫn phải nỗ lực tu tập để thoát khỏi luân hồi. Tôi cũng thế. Có lúc tôi chịu đớn đau, chịu bao phiền não. Tôi nào thoát được chốn trần gian đầy khổ ải.

Đôi khi, vì cớ này cớ nọ, tôi tìm đọc những vần thơ Thiền. Và tôi bắt gặp bài kệ Cáo tật thị chúng (Có bệnh bảo mọi người) của Thiền Sư Mãn Giác (1052 – 1096):
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Xuân ruỗi, trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa cười.
Trước mắt, việc đi mãi,
Trên đầu, già đến rồi.
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua, sân trước, một cành mai.
(Ngô Tất Tố dịch)
Thơ Văn Lý – Trần, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội – 1977

Thiền sư nhìn sự vật trôi, với tâm định, định đến vô cùng, hòa nhập với chân như, nên tâm Ông rung lên tiếng thơ lòng thiền. Trước tự nhiên, tâm tự nhiên theo. Ông an nhiên theo vòng sinh hóa vũ trụ:
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.

Tự nhiên là vậy. Xuân khứ rồi xuân đáo, hoa lạc rồi hoa khai. Có phải đó là quy luật sinh hóa? Có phải đó là quy luật thời gian?

Nói về mùa xuân là để nói đến tứ mùa. Thời gian cứ trôi, kiếp làm người cũng như muôn loài phải mang chuyện sinh tử, phải chứng kiến những sự đời trôi qua trước mắt: Sự trục nhãn tiền quá. Sự đời trôi theo thời gian, mà thời gian lại trôi theo tâm, bởi tâm là con mắt huệ – mắt thiền. Đời trôi mà tâm định là cớ làm sao?

Nhưng, làm người cũng có thể tâm định kia mà!

Tâm định, nhưng thời gian vẫn cứ trôi. Và thế là cái lão vẫn cứ đến với con người.

Đó là sự nghiệt ngã của tự nhiên dành cho con người. Cái già từ từ đến trên đầu: Lão tòng đầu thượng lai. Đọc câu thơ, tôi bỗng nhận ra một điều: trên đầu tôi tóc đã hóa trắng. Tôi đang đến già. Già vì biết, vì khổ não, phiền trược. Tôi già theo thời gian…

Thời gian của vũ trụ, của ánh sáng thì vô cùng. Thời gian của đời người thì có hạn. Tôi nghe có ai đó nói bên tai tôi là, chỉ có vượt cái có hạn đế đến cái vô cùng mới có thể vượt qua vòng luân hồi của tử sinh – sinh tử.

Và trong tôi như thấy giờ phút sắp viên tịch, chất thiền của Mãn Giác Thiền sư tỏa sáng bên các đệ tử:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dẫu hoa tàn khi xuân hết. Nhưng sức sống của thiên nhiên vẫn mãnh liệt. Trong cái tàn của hoa xuân lại ẩn hiện mầm sống của đất trời qua hình ảnh nhất chi mai. Thiền sư không nói hoa nở trước sân, nhưng tâm cảm một cành mai đang hấp thụ, chắt lọc tinh túy của đất trời để tồn tại trên cõi đời này. Cùng sự đồng cảm với Mãn Giác, Thiền sư Chân Không (1046 – 1100) nói về Diệu Đạo: Xuân lai xuân khứ nghi xuân tận. Hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân (Tạm dịch: Xuân đến xuân đi tưởng xuân hết. Hoa tàn hoa nở vẫn hoàn xuân).

Tất cả cũng chỉ là sự sinh hóa của vũ trụ, sự tuần hoàn của Đại Ngã. Cảm nhận sự tuần hoàn ấy, hồn thơ của Mãn Giác đã định trước đổi thay, trước luân hồi của vạn vật. Không còn tứ khổ khi Nhà thơ Thiền mang bệnh lại nói nhất chi mai. Bởi vì Thiền sư đã an nhiên cái lẽ thường tình sinh tử: Sinh lão bệnh tử- Tự cổ thường nhiên (Diệu Nhân, 1041 – 1113).

Cả bài kệ đầy chất thơ, từng câu từ đầu đến cuối đều có ý niệm thời gian. Tác giả dùng thời gian như là qui luật mà con người phải nhận lấy để làm Người, để khẳng định sự tồn tại của chất Người – nhất chi mai. Quả thật, ở Thiền sư, thời gian tịnh đến độ như không có gì để nói, như bản ngã người hòa với Đại Ngã Tự nhiên, như chân như của người, của Phật.

Đọc Cáo tật thị chúng của Mãn Giác Thiền sư trong thời buổi này, tôi vẫn thấy nhất chi mai theo thời gian hấp thụ tinh khí thần của Nhật – Nguyệt – Tinh Đại Ngã để thành Người.

Phan Trang Hy

CÕI VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

Năm 12 tuổi, cô bé Nguyễn Thị Khánh Minh (NTKM) đã viết xuống 4 câu thơ hồn nhiên, trong veo, kỳ vĩ, lạ lùng:

“Chú chuồn kim nhỏ
Khâu vào trong gió
Một nghìn giấc mơ
Em về qua đó…”

Năm 14 tuổi, cũng giọng thơ hồn nhiên, trong veo, kỳ vĩ, lạ lùng ấy, có thêm một chút thảng thốt trong ánh mắt rất nhân hậu, cô bé NTKM viết tiếp:

Em giơ tay hứng giọt mưa mùa đông
Nhịp nước nào rơi trong tiếng lạnh lùng
Tay em bé nước tràn không đủ nắm
Nên buồn buồn nước vỡ bâng khuâng…”

Những câu thơ tinh khôi ấy đã bay đi cùng tháng năm, như vừa mới đây thôi! Ồ không! Chiếc bóng, giấc mơ của cô bé NTKM nửa thế kỷ trước, giờ đây vẫn lung linh, long lanh, tràn ngập cảm xúc:

Vườn đêm đầy quá, mộng
Ô chiêm bao được mùa
Đừng mong tôi về nữa

Ở lại cùng giấc ngủ
Sống thực một kiếp mơ
Nhớ chi đời huyễn ảo

Ảo thực hai mặt soi
Một phiến đời lá mỏng
Chông chênh mãi hẹn hò

Một giấc mơ. Tôi sống
Một giấc mơ ăn đời
Một giấc mơ ở kiếp

Đừng mong tôi về nữa
(Một Giấc Mơ – Trích trong tập thơ Ký Ức Của Bóng, NTKM, 2012.)

Cô bé NTKM năm xưa, giờ đây, nữ sỹ NTKM vẫn thế, vẫn “Một Giấc Mơ,” “Một giấc mơ. Tôi sống / Một giấc mơ ăn đời / Một giấc mơ ở kiếp… / Đừng mong tôi về nữa”

Vì sao tôi phải dài dòng khi vừa đọc xong, đọc một mạch suốt đêm, đọc chậm lại những trang văn, những con chữ như những đàn chim đang vỗ cánh chao nghiêng bay lên, khi ẩn khi hiện, khi tưng bừng líu lo giọng hót?

Những trang văn “Bóng Bay Gió Ơi!” của NTKM, đúng hơn, là những trang tản-văn-thi đẹp đến nao lòng! Đẹp vì hồn vía của Chữ, đẹp vì tấm lòng, ký ức, giấc mơ của tác giả gửi vào Chữ, trọn vẹn, tha thiết, thủy chung với mình, với người, với đời, với cõi văn chương tràn đầy niềm bi mẫn.

Cõi văn chương NTKM là Giấc Mơ (viết hoa!) Giấc Mơ rất thật và rất mộng. Giấc Mơ ấy, hình như trọn đời nữ sỹ đã xem đó là tâm huyết, tâm hồn của mình. Giấc Mơ chính là Ký Ức Của Bóng lung linh long lanh. Giấc Mơ chính là hiện thân của nữ sỹ, trong và ngoài, trước và sau, ẩn và hiện liên-tục-trong-từng-phút-giây: “… có ai đã cảm thấy đi bên cạnh những phút giây thường ngày là nhịp đập vời vợi của giấc mơ? giấc mơ ủ mùi hương của quá khứ lẫn ngày mai, giúp ta đi những bước nhẹ nhàng. Giấc mơ thời gian, bạn ơi…”(Theo Cảm Xúc Mà Đi.) Theo tôi, đó là cõi văn chương rất hiếm hoi trong thời đại nhiễu nhương và đầy tai ương bất hạnh nầy.

Cõi văn chương NTKM rất nhạy cảm trong từng tiếng rơi nghiêng của một chiếc lá, trong từng mùi hương của ngọn gió, sương cỏ quê nhà, trong từng hơi thở nhẹ đau đáu trầm luân của người cha rất mực dấu yêu, trong cái chết oan khuất bi tráng của một bậc nữ lưu vô song Nguyễn Thi Lộ, trong từng kỷ niệm rất mong manh, rất thơ mộng của từng người thân, bằng hữu…

Cõi văn chương NTKM rất nhẹ nhàng, sâu lắng những nỗi đau. Những nỗi đau rất diệu kỳ! Càng thấm vào, tâm hồn tôi càng xanh hơn, trong hơn, sáng hơn. Niềm đồng cảm, tương ứng chăng? Nhiên! Đúng vậy!!!

Và, Giấc Mơ (viết hoa)? Phải chăng, mỗi chúng ta đều đang sống trong Giấc Mơ của riêng mình? Giấc Mơ rất thực và rất mộng? Mỗi một sát na là rợp bóng Thiên Thu?

“Giấc mơ thời gian, bạn ơi…”

Giọng thầm thì, thủ thỉ của nữ sỹ vẫn còn vang bên tai tôi lúc trời vừa rạng sáng. Suốt đêm, tôi đã đi tìm, đã bơi, đã bay, đã nhập vào trong Giấc Mơ của bạn tôi.

“Giấc mơ thời gian, bạn ơi…”

Cảm tạ nữ sỹ! Tôi cũng vừa quay về với tôi. Nghe theo lời khuyên của nữ sỹ, tôi đã đi tìm, đã bơi, đã bay, đã nhập vào trong Giấc Mơ của tôi rồi!

Đẹp đến nao lòng! Bóng Bay Gió Ơi!

Nguyễn Lương Vỵ

DSC00319

Tương Tri trân trọng giới thiệu những tản văn lung linh màu sắc của một tác giả quen thuộc Nguyễn Thị Khánh Minh
Liên lạc mua sách qua email :
khanhnguyenm@yahoo.com

ANH KHÔNG PHẢI LÀ DON JUAN

trandzalu

Anh không phải là Don Juan
Để lọc lừa tình ái
Mà chỉ là kẻ lặng thầm tay nải
Hứng giọt tình rơi…

Nếu đúng là em rơi
Vào trái tim lãng mạn…
Nhưng kiếp người thì như nhà tu khổ hạnh
Anh xin tạ ơn đời!

Bởi sống có mấy lần vui
Khi nỗi buồn thì đăng đăng đê đê vô lượng ?
“Tôi TỒN TẠI “, nếu không được sống
Thì còn nghĩa lý gì nữa em ơi!

Chôn quá khứ, không màng ngày mai
Siết lấy tình em lẩy
Nghĩa là anh được thấy

Màu bình minh khi em hất nụ cười tình

TRẦN DZẠ LỮ

Ba năm tù, một hộp sữa

 

dokh

Cửa hàng nằm ở mặt lộ cái, lem nhem bày ở cửa kính ngoài vài ba áo quần phụ nữ trên những người mẫu nhựa không còn được mới. Gừng nói.

Thỉnh thoảng, tôi vào đây, mới tìm được hợp khổ người.

Vóc dáng người ở đây không mấy cao to và phụ nữ cũng tầm thước, Gừng cũng chẳng là bé nhỏ gì mấy.

Đây là cửa hàng Trung Quốc, có cỡ tôi mặc vừa. Đây lại rẻ.

Tôi nhìn mấy cái nịt vú, có lẽ Gừng muốn nói đến phụ tùng phụ nữ này, cỡ như nàng là khó kiếm ở đây. Cửa hàng Trung Quốc thì hiếm hoi nhưng có một thì chẳng mấy chốc mà sẽ có hàng trăm, món gì cũng 10 cordoba, tha hồ mà sắm rẻ. Gừng thuộc loại phụ nữ thiếu hiểu biết về tiêu dùng, hay là người Nicaragua thiếu kiến thức hơn là người Việt Nam. Chẳng hạn, khi nói đến túi đầm Louis Vuitton tôi tả mấy Gừng vẫn không biết, Louis Vuitton Trung quốc cũng chưa biết chứ nói gì đến Louis Vuitton Pháp, trong khi nhân vật nữ nào trong “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư cũng đều nhận được “LV” dỏm hay là gin. Gừng bảo

Chẳng hiểu chủ người gì, nhưng Á đông. Rất là lạ, bà lại nhuộm tóc màu vàng!

Tôi nhìn trên bảng hiệu dòng chữ “Chuyên bán sỉ và lẻ” và xác nhận, vừa chuyên sỉ vừa chuyên lẻ thì chỉ có cửa hàng Trung Hoa (do một Marilyn Củng Lợi làm chủ). Ở đây, có lẽ là người Đài Loan hay Hương Cảng chứ không phải là Đại lục. Một chuyện vui, chắc là vì nghe lời các cố vấn Liên Xô xúi dục, nên trong thời gian nắm quyền, FSLN vẫn duy trì quan hệ ngoại giao với hòn đảo thay vì công nhận Trung Quốc! Đảng Cộng sản Mao (MAP-ML, hiện ở khoảng 1% cử tri) thì mồ côi, sau khi bỏ Bắc Kinh để ủng hộ Tirana, tội nghiệp thế, Bắc Kinh đã xét lại thì Tirana lại chẳng bao lâu mà lăn ra mà chết!

Đây, tôi phải mở dấu ngoặc dành riêng cho người đọc ở Việt Nam, khi thấy đảng Cộng sản ở Nicaragua ở đâu ra mà lắm thế. Đảng Cộng sản “chính thống” (PCN), chiều hướng Liên Xô phân ra thành đảng Xã hội Nicaragua (PSN) và đảng Cộng sản Nicaragua (PC de N). Nhìn danh xưng (nói chung ở trên thế giới, không riêng gì ở đây), nếu thấy có chữ Xã hội thì vừa có thể là khuynh hướng Xã hội (Đệ nhị), hay khuynh hướng Xã hội mềm èo uột (Đệ một rưỡi hay một hai phần ba), lại vừa có thể là Cộng Sản Đệ tam ẩn danh và cũng lại có thể là Trốt kít (Đệ tứ) trá hình xâm nhập nên từ “Socialista” này rất mông lung. Nếu sau từ Xã hội thêm vào chữ “Lao động” hay nhất là cụm từ “Người lao động” thì đích thực là Đệ tứ. Nếu lại có từ “Cách mạng” (thí dụ ở đây PRT, đảng Cách mạng Người lao động) thì không trật vào đâu (còn khuynh hướng Đệ tứ nào thì ở đây xin không bàn đến, rất nhiêu khê nhức đầu)! Nhưng nếu Xã hội hay Cộng sản mà “Mác-Lê” hay “Nhân dân” lại còn “Hành động” nữa thì hẳn là Mao-ít (ở đây là MAP-LM, Phong trào Hành động Nhân dân – Mác Lê Chủ nghĩa)! Dễ gây nhầm lẫn thì là từ “Cách mạng” này, vì cả Mao lẫn Trốt đều chuộng mặt hàng. Cũng dễ hiểu, đây là đồ nhặt lại, phế thải vứt ra vỉa hè của các đảng Cộng sàn chính thống không còn xài từ đã rất lâu nay, ai lại chẳng ham. Tôi đóng dấu ngoặc, ở ta chỉ có một đảng Cộng sản, tiện lợi và khỏi phải thắc mắc.

Gừng không tích cực lắm về mặt chính trị nhưng cô bỏ thì giờ ra hoạt động xã hội với “Phong trào Phụ nữ Tự lập”. Việc của Gừng là giúp đỡ các chị em buôn hương.

Gừng dạy họ đan chiếu?

Trước khi họ bán thân, họ đã biết đan chiếu rồi, Gừng nói, biết làm công nhân xưởng máy, biết bán hàng, phục vụ tiệm ăn, biết đánh máy mười ngón tay, có người như tôi tốt nghiệp đại học.

Vậy không phải là giúp họ có nghề để hoàn lương?

Ở đây, mọi người đều thấy làm đĩ là xấu! Gừng có vẻ bất bình. Hành nghề đĩ thì bị dư luận, gia đình, hàng xóm… dè bỉu và chính bản thân họ cũng không thấy… cũng không thấy… tự hào!

Tôi không có đánh giá họ về mặt đạo đức. Đó là một chọn lựa cá nhân, tôi tôn trọng lựa chọn này và giúp đỡ họ là về mặt… tinh thần.

Tôi tiu nghỉu, tí nữa thì tưởng Gừng giúp đỡ họ về mặt trau dồi vành ngoài vành trong. Giúp đỡ đây là làm thân với họ, chị em mình, để họ cảm thấy bớt xa cách và bớt bị cô lập. Về mặt tâm lý thôi, vì ở đây luật pháp không cấm đoán. Không cấm đoán thì đã là tốt rồi. Ít nhất là khỏi phải nộp tiền cho má mì với lại công an. Nơi nào luật pháp cấm đĩ, thì chỉ có nuôi ma-cô, dắt mối và cảnh sát công an.

Có khi ít bị bóc lột hơn là lao động trong các xưởng may, tôi đoán thế. Lại kiếm được nhiều tiền. Lại… vui hơn là… ngồi đạp máy cả ngày.

Không có vui đâu, Gừng trả lời tôi cái đầu lúc lắc, cũng nhọc… tâm lắm.

Và Gừng có vẻ cũng buồn theo. Tôi không dám hát cho Gừng nghe ca từ sửa đổi của “Ya Mustafa” những ngày tôi còn bé:

Chérie je t’aime, chérie je t’adore
Tìm em không thấy, thấy em ở trong Chuồng bò
Đi vô đi ra
Là mất năm trăm [26] !

Đĩ ở đây không nhiều, không có mát xa, bia ôm, karaoke lộ liễu, và Managua thì cũng chỉ có được hồ Managua thôi chứ làm sao mà có được… Hồ Tây. Vài hộp đêm dành cho doanh gia nước ngoài, mấy cái bóng đêm về mờ nhạt và bình dân gần xa cảng Tico. Tôi không quen Gừng là nhờ do các thân chủ được giúp đỡ về tâm lý của cô giới thiệu (nếu được thế thì đã quá hay). Một băng rôn đen tuyền kiểu màu phụ nữ Hồi Giáo, nhưng lại là của Phong trào Phụ nữ Tự lập, rao trên phố “Không đầu phiếu bọn Ortega, Arce, sát hại những phụ nữ” làm tôi đâm ra nghi vấn. Ông Ortega, theo tôi biết, thì chỉ có sát hại dân tộc thiểu số Miskito ở miền Đông chứ tôi chưa nghe đến sự cố nào là nổ súng vào đàn bà biểu tình như (chẳng hạn) ở Gaza, Palestine, thế nào là sát hại?

Trước đây, nếu người mẹ có vấn đề sức khỏe, về lý do y tế, thì vẫn được phá thai. Giờ thì Gừng nổi giận, long lanh đuôi mắt. Nhờ đến Ortega đấy, phe hữu mới thông qua được luật hoàn toàn cấm phá thai, cho dù giữ thai thì người mẹ có thể mất mạng vẫn cứ cấm như thường!

Ở Mỹ ông Bush chỉ đang mơ được có bấy nhiêu, tôi bảo. Vậy là Ortega đi trước cả Hoa Kỳ! Nhưng ở nước tôi, trong thập niên 80, đàn bà phá thai không những chẳng cấm, chẳng ngồi tù còn được bồi dưỡng một hộp sữa đặc Ông Thọ! Nhưng chẳng phải vậy mà có thể nói là phụ nữ khá hơn đây hay là bình quyền hơn gì đó…

Luật mới Nicaragua phạt tội phá thai này là từ một đến ba năm tù, phe hữu hung hãn còn đòi phạt đến 20 năm (!) nhưng cánh FSLN ở Quốc Hội vẫn còn chút thể diện mà lơ qua điều khoản này, ba năm là đủ rồi, vui lòng Giáo Hội. Nói cách khác, ở Nicaragua phá thai là tội ác nặng gần bằng ở Việt Nam dịch thuật tài liệu và đưa lên Mạng. Nhưng ở Nicaragua dịch thuật tài liệu và đưa lên Mạng thì nhà nước nào có thưởng một hộp sữa đặc El Senor Longividad, tóm lại theo tôi thì ở nước mình vẫn hơn.

Nicaragua là nước sùng Ki tô Công giáo, ảnh Đức Giáo Hoàng Juan Pablo II trong nhiều nhà hơn là ảnh Britney Spears mang bầu. Dĩ nhiên, đây không phải là tuyệt đối, vào thánh đường Managua tôi không thấy Gừng làm dấu thập hay là quỳ gối, vẩy nước thánh lên người. Nhưng Managua động đất, xây dựng lại, ngay cả dưới thời Tổng thống Ortega (84-90) thì xây dựng thánh đường trước tiên, và sau đó, ông Ortega đi rồi, thì mới xây dựng Intercontinental Đại khách sạn. Không hiểu có lẽ vì thời điểm, mà thánh đường mang một vẻ kiến trúc Stalin (kiểu Cung Văn Hoá các nước XHCN), phía sau mái lại dáng dấp đền Hồi Trung Á. Nhưng bên trong thì rõ rệt là một nhà thờ. Ở điện phụ, nến lấp lánh vây quanh, một Giê-su khổng lồ dang tay trong lồng kính (đây là lần đầu tôi thấy ông được lồng kính bảo vệ tuy thú thật, những giáo đường tôi ít khi vào bên trong). Dưới chân ông phủ phục tín đồ lâm râm cầu nguyện, ôm chặt những giải lụa màu tím lòng thòng cho đến tận sàn.

Họ đang cầu được phép lạ, Gừng nói với vẻ gì châm biếm.

Nhưng khi một người đứng trước buông dải lụa này ra, Gừng cũng nhún mình hai bước lực sĩ, không cầm lấy đưa lên môi mà dùng tay chạm rất nhanh vào. Tôi không hỏi là cô ước phép lạ gì, chỉ đoán chắc là phép lạ liên danh MRS kỳ này đắc cử và phụ nữ, kể cả phụ nữ buôn hương, được thêm một phần giải phóng và thoải mái về mặt tâm lý.

ĐỖ KH.

GỬI LẠI PHAN RÍ

maiviet


Tặng anh Huỳnh Hữu võ và các bạn

Nắng còn đó sao bóng chiều vội xuống
Xe chưa đi đã gió thổi ven đường
Trong mắt ta xem chừng như lạ lẫm
Phố thị vừa đọng lại chút mù sương

Bạn tiếp ta lòng đầy hương biển mặn
Tình tràn như giọt rượu rót tràn ly
Bao năm người chân mây ta cuối bể
Gặp lại rồi như chưa hề chia ly

Giữa trời rộng nghe đời gần gũi quá
Cầm tay nhau thấy hết bể dâu mòn
Thương tóc bạn bóng sương nhòa vai áo
Gót chân về phai dấu những đêm hoang

Chiều đã nhạt trên lưng đồi Xich Thố
Thơ còn bay theo mây gió đại ngàn
Xe qua rồi ta với người ngoái lại
Sau lưng mình vừa gợn thoáng buồn tan

MAI VIỆT

CHƯA TỪNG TUYỆT VỌNG

tonnuthudung

Ngôi biệt thự nằm đối diện với quán ăn của nhà Nghi , rủ một bóng râm im mát với giàn Hoàng Anh trước ngõ… Năm đó , Nghi mười sáu tuổi , đi học về vừa thay áo dài ra là phải chạy lên ngồi quầy tính tiền cho mẹ…Nghi đẹp mặn mà từ năm mười ba tuổi khi mới vừa trổ mã. Nghi chưa đến tuổi nghĩ rằng mình xinh đẹp, chỉ khi mẹ nói :
-Chị Ngân sắp lấy chồng rồi, bé Nghi thay chị ra ngồi quầy giúp mẹ.
Nghi vùng vằng không chịu , Nghi ghét ánh mắt bọn con trai nhìn mình trên đường, trong trường và ngoài quán. Mỗi lần gặp những ánh mắt bọn nó, Nghi nổi da gà, ôm chặt chiếc cặp vào ngực hoặc lấy tay che ngang cổ áo như một thói quen…Nhưng không thể nào nói lời từ chối khi mẹ bắt đầu ca bài ca con cá : Thời buổi khó khăn …
Mà thời buổi khó khăn thật , lương của ba không đủ để nuôi bầy con 8 đứa của 2 bà vợ. Mẹ phải gom góp vốn liếng để mở quán cơm này kiếm sống ( cũng dựa hơi ba là bót trưởng bót Bà Hòa Chợ Lớn để bọn giang hồ không bắt đóng tiền bảo kê hay quậy phá .)
Mẹ nấu ăn rất ngon, quán càng đông khách chừng nào Nghi càng học dốt chừng đó … Mẹ nói :
-Học giỏi cho mấy rồi cũng bị lấy chồng, như chị Ngân đó , chỉ có Tú Tài 1 mà cũng lấy được chồng Kỹ Sư. Còn bé Nghi đẹp như hoa hậu thế nào chẳng kiếm được một ông Bác Sĩ !!!
Vốn dốt sẵn , thêm tật làm biếng, nghe mẹ dụ dỗ , Nghi xiêu lòng muốn bỏ học để phụ mẹ làm ăn nuôi bầy em 6 đứa và bà vợ bé của ba.. Ban đầu nghe tin Nghi định nghỉ học khi mới lớp 10 , ba rất giận nhưng ông cũng nguôi ngoai khi nhớ lại rằng nếu không có quán ăn này thì lấy đâu cơm nước xe pháo học hành cho cả gần tiểu đội ông vô tình hay cố ý tạo ra ??? Lại nữa , ông được an ủi rằng một bầy con trai của ông đứa nào cũng thông minh đỉnh ngộ ( giống ông)…Còn bé Nghi thì tuy dốt nhưng đẹp quá chừng chừng ( như mẹ nó .)

Cho đến một ngày , một ngày không gió to bão nỗi , một ngày không trút mưa thịnh nộ . một ngày không nắng đốt cháy da , một ngày không mây xám âm u … Nghĩa là một ngày …chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ thương …thôi . Nghi choáng váng khi một anh chàng pilot với bộ đồ bay từ ngôi biệt thự bên kia đường, lững thững qua ngồi trước quầy , uống một ly chanh muối … Nghi nhắm mắt lại , rồi mở mắt ra…không tin đây là sự thật…Một chàng Alain Delon từ màn bạc , vén màn bước xuống đời Nghi… Nghi run như chiếc đuôi con thằn lằn bị đứt lúc bàn tay chàng khi trả tiền có thể vì vô ý chạm ( rất nhẹ) vào tay Nghi…Và Nghi luống cuống đến nỗi quên không thối lại tiền dư… Chàng cười…ra về , đưa tay chào Nghi như chào cấp trên vậy…Nhiều ngày Nghi không ngủ được, từ quầy , Nghi cứ nhìn đăm đắm qua sân biệt thự…chờ một bóng người đã chạm vào giấc mơ Nghi … Nghi lơ ngơ , lãng đãng , mẹ than phiền : Con sao vậy , như người mất hồn mất vía …Mẹ còn định dẫn Nghi đi lên đồng coi hồn ma bóng quế nào chọc ghẹo cô con gái cưng của bà !

Nghi không nhớ có phải chàng gọi chanh đường mà Nhi đưa nhầm chanh muối nên chàng giận và không thèm trở lại
Nghi sợ rằng vì mình luống cuống quên thối tiền nên chàng đã nghĩ Nghi là con bé tham lam
Nghi hình dung nụ cười của chàng và cử chỉ chào Nghi đầy trêu chọc…
Nghi tức tưởi khóc vì giận mình và luôn chép miệng như một bà già nuối tiếc thuở vàng son : Phải chi mình đừng vậy , đừng kia …
Ôi , Nghi đã yêu một người không hề biết Nghi là ai ! Tình yêu đơn phương của Nghi sao đong đầy đau khổ…Nhưng ông trời cũng không muốn hành hạ Nghi quá đáng … Ông chỉ thử thách Nghi đâu chừng một tháng… một tháng là ba mươi ngày dài bất tận, đêm nào cũng đẫm nước mắt tủi thân…
Bức thư tình đầu tiên chàng gởi tới cho Nghi toàn tiếng Anh , Nghi nhìn hoài không hiểu nỗi mà cũng chẳng dám hỏi ai ! Nhìn qua nhìn lại , nhìn tới nhìn lui , Nghi suýt hét lên mừng rỡ vì một câu , một câu then chốt Nghi hiểu được và Nghi chỉ cần hiểu nhiêu đó là đủ : I love you , Baby … Vang quanh Nghi là những tiếng nhạc của Thiên Thần , Nghi choáng váng như đất trời đảo lộn : I love You , Baby…I love You , Baby…
Nghi cất bức thư trong cặp khi đi học, kẹp bức thư trong sổ tính tiền khi ngồi quầy, ôm bức thư trên ngực khi đi ngủ… Khi nó gần như tơi tả thì mẹ bắt gặp , xé tan xé nát , giận giữ vô cùng “ Mẹ không muốn con quen với bọn lính tráng sống rày chết mai …” Nghi biết mẹ thương mình , luôn muốn mình kết tóc xe tơ cùng một ông Bác Sĩ nào đó ( trong giấc mộng hàng đêm của mẹ), nhưng câu nói của mẹ như một lưỡi dao đâm thốc trái tim bé nhỏ của Nghi… Khi chàng đến chơi , mẹ vô cùng lịch sự và lạnh nhạt đẩy đưa…mẹ xứng đáng là một nhà ngoại giao tài giỏi ( ngay cả bà vợ bé của ba cũng tâm phục khẩu phục không dám ghen ngược bao giờ …dù những khi bị mẹ xử oan xử ức chỉ biết khóc rấm ra rấm rứt mà không dám mét với ba). Mẹ đâu muốn đuổi xua chàng thẳng thừng ra mặt vì sợ mất đường nhờ vã ông bà dân biểu hét ra lửa là ba mẹ của chàng … chỉ có Nghi với trái tim tan nát !!!

Niềm vui của Nghi là những lá thư chàng gửi, Nghi ân hận vì mình đã khá ngu để không thể viết lại cho chàng những điều Nghi nghĩ…Chưa khi nào Nghi thấy học dốt là một tội lỗi lớn lao như bây giờ… Cô chạy bàn tên Thùy là một sinh viên trường Luật, rất giỏi, rất thông minh… Thấy Nghi âu sầu buồn bã , chị hỏi thăm và nghe Nghi nhỏ to tâm sự với ngập tràn nước mắt. Chị đã lau nước mắt cho Nghi , an ủi :
-Được rồi , để chị bày cho Nghi viết, nhưng phải rất bí mật , mẹ em mà biết sẽ thẳng tay đuổi chị.
Nghi mừng rỡ ôm hôn chị Thùy tới tấp , và chép lại những câu sau :
Anh Duy,
Hạnh phúc không có thực
Ở trong bàn tay em
Hạnh phúc như gió bấc
Đến một mùa…rồi quên…

Từ đó , chàng gọi Nghi là cô bé thi sĩ của anh. Tình yêu giấu giấu giếm giếm luôn vô cùng tuyệt vời, chỉ mình chị Thùy chứng kiến với nhiều nỗi xót thương…Đến một ngày khi không giữ nỗi điều bí ẩn luôn dày vò tâm trí , Nghi thú tội qua hai hàng nước mắt :
– Nghi không phải là cô bé thi sĩ của anh…Tất cả những thư , thơ v.v…là chị Thùy viết và Nghi chép lại … Nghi không biết cả viết thư thì sao mà làm thơ được …
Chàng hơi bất ngờ một thoáng rồi gõ gõ đầu Nghi :
– Có sao đâu bé con ,Anh cũng chép từ NHỮNG BỨC THƯ TÌNH HAY NHẤT THẾ GIỚI !!! Viết thư tình phải rất cần đến một kỹ năng siêu đẳng mới có thể làm đối tác động lòng trắc ẩn…
Nghi hơi xấu hổ vì không biết chàng đùa cho Nghi đỡ quê hay nói thật tình ( vì thực sự Nghi cũng chưa hề nghe ai nói hay đọc được tác phẩm NHỮNG BỨC THƯ TÌNH HAY NHẤT THẾ GIỚI bao giờ . Nghi đúng là một con nhóc ngố ơi là ngố !!!)
Chàng hứa như đinh đóng cột: Khi Nghi đúng 18 tuổi 1 ngày, chàng sẽ đưa ba mẹ sang hỏi cưới Nghi…Nghi hạnh phúc đợi chờ…

Nghi 18 tuổi , chàng biệt dạng…Tháng 4/75 đưa ba Nghi , ba chàng vào trại cải tạo không có ngày về. Quán nhà Nghi đóng cửa, những năm tháng ấy đâu ai còn tiền để ung dung vào quán … Ngôi biệt thự cũng đóng cửa im ỉm , giao cho một bà cô của chàng từ Bắc vào ở để mẹ chàng và các em đi kinh tế mới hầu giảm thiểu án cải tạo của ba chàng…
Cả nhà Nghi phiêu dạt về quê nội, trồng rau trồng sắn đắp đổi qua ngày để chờ đợi ba về…
Chị Ngân rủ Nghi đi buôn , chị Ngân vừa đẹp vừa giỏi , nuôi ông chồng thất nghiệp và chia sớt cho cả một đại gia đình chồng em út nheo nhóc (mà mới vài năm trước đây mẹ không ngừng hãnh diện khoe đã gả được chị Ngân vào nơi êm ấm danh giá , sang giàu bây giờ thì mẹ không ngớt ngao ngán thở dài khi thấy bên nhà chồng chị Ngân từ lớn tới nhỏ không ai biết cầm cái cuốc !!!)
Nghi lơ ngơ láo ngáo đi theo chị Ngân …xách giỏ , khi thì khô mực , khi thì bột ngọt , khi thì cà phê …cao cấp hơn có khi là một giỏ đầy thuốc tây ngụy trang bằng những đòn bánh chưng , bánh tét…
Những khi về Sài Gòn , trong lúc chờ bạn hàng thu xếp tiền bạc , hai chị em lại đón xe bus lang thang về chốn cũ, về nơi mà mẹ đã bỏ ra ba chục cây vàng để mở quán sinh nhai…Hai đứa cứ chép miệng phải chi …phải chi bây giờ mình có số vàng này…
Còn Nghi thì rơi nước mắt khi nhìn qua ngôi biệt thự kín cổng cao tường bên kia đường…nơi giàn hoa Hoàng Anh rực vàng rủ xuống…nơi mà khi môi chàng chỉ mới chạm nhẹ vào tóc Nghi mà Nghi đã có cảm giác phải chi mình được chết trong giây phút ấy… Một thiên đường vừa khép cửa…Chị Ngân lau nước mắt cho Nghi, dọa :
– Nếu Nghi cứ khóc khi về đây thì chị sẽ không bao giờ dẫn Nghi theo nữa…
Nhưng chị Ngân biết dù chỉ là một con bé ngu ngơ ngốc nghếch nhưng trái tim Nghi đã tan vỡ tự bao giờ , Nghi không nhìn một đứa con trai nào khác , Nghi chỉ lén lén thầm thì trò chuyện với những lá thư … Có một ngày , ăn mặc sang trọng như một mệnh phụ , chị Ngân đến bấm chuông ngôi biệt thự , dõng dạc hỏi :
-Tôi muốn tìm ông bà A.
Cái tướng đài các của chị Ngân đã làm người đàn bà ( cô của chàng) vanh vách kể : Ba chàng đã vượt biên sau khi mãn hạn cãi tạo .Chàng đã bảo lãnh cho mẹ và các em qua Mỹ năm ngoái…Nhưng khi chị Ngân hỏi địa chỉ chàng thì bà cô thủ thế , chối bai bãi là không hề biết … dù hàng xóm kể là chàng đã liên lạc nhiều lần để gởi tiền , gởi quà về cho mẹ và các em…
Chị Ngân giống mẹ , đầu óc thông minh nhạy bén và có tài ngoại giao thượng thặng… Chỉ với năm chục ngàn và một gói thuốc samit lẫn 3 ngày ngồi đồng trước cửa quán nhà ngày xưa… chị đã có trong tay địa chỉ chàng từ người phát thư…
Chị lập tức dẫn Nghi ra bưu điện , cho tiền Nghi gởi một bức thư hỏa tốc qua Cali. Lần này thì Nghi tự nghĩ ra để viết :
Anh Duy,
Nghi nhớ và thương anh vô cùng tận…

( và cũng là bé Nghi ngớ ngẩn dốt nát như ngày nào, Nghi viết thêm rất bình dân học vụ đúng kiểu Hạnh Nghi , không chút màu mè riêu cua gì cả …).
Nghi mong rằng anh chưa có người yêu , chưa có vợ và vẫn đợi chờ Nghi.
Chị Ngân đọc , cười , chép miệng:
– Chị cũng mong vậy , Mong rằng Duy còn nhớ chút hương đồng gió nội lúa lác của Hạnh Nghi …
Kệ , ai nói gì thì nói…Nghi đang sống trong mơ…giấc mơ đẹp còn hơn cổ tích…

Duy bay về lập tức (sau khi nhận được thư). Ôi chàng phi công hào hoa phong nhã của giấc mơ Nghi…Nghi kín đáo nhìn ngón tay đeo nhẫn của Duy trước khi ngã vào vòng tay êm ấm đó . Duy ngạc nhiên:
– Bé con , sao em cứ nhìn chằm chằm vào ngón tay anh ???
Rất ngây thơ , Nghi thỏ thẻ :
-Mẹ dặn , khi định quen với một người đàn ông nào, con hãy nhìn vào ngón tay đeo nhẫn, hãy để ý dù không thấy chiếc nhẫn nào nhưng nếu thấy một dấu trắng vòng quanh , con hãy quay mặt đi vì đó là một người đang có vợ hoặc đã từng có vợ !!!
Duy cười ngặt nghẽo :
– Bé con , anh đã tìm lại được cô nhóc ngu ngơ của mười năm về trước.

Sân phi trường Los Angeles lạnh buốt dù Nghi hai ba lần áo …Nước mắt rơi tràn trên mặt khi vòng ôm của Duy ấm áp chở che , từ nay , Duy là ba , là mẹ , là tất cả gia đình bè bạn…Nghi ngước lên nhìn Duy và câu đầu tiên Nghi thốt ra trên đất Mỹ :
-Cho Nghi đi học tiếp nha anh !
Duy hơi ngạc nhiên :
– Có chuyện gì vậy , bé con ?
Nghi phụng phịu , bặm môi :
-Ai nói gì Nghi cũng không hiểu được , Nghi lạnh mà không biết cách hỏi một cái mền …
Tưởng tượng Nghi bé nhỏ co ro vì lạnh , vì đói trên máy bay , Duy ân hận vô cùng vì đã không thu xếp về được để Nghi phải đi một mình suốt nửa vòng trái đất , hoang mang , sợ hãi…
– Nghi ngu ngốc quá phải không anh ?
Duy cười , ôm chặt lấy Nghi :
-Không đâu bé con , em rất tuyệt . Rồi em sẽ đi học cho đến khi nào …hết chữ thì thôi !

Tôi hay hẹn gặp Nghi trong công viên La Paloma Park , canh Nghi là chiếc xe lăn của Duy… Nghi nghiêng đầu nói gì đó với Duy và cô cười nắc nẻ … Duy không cười , không nói , khuôn mặt vô hồn của Duy như tạc bằng đá xanh lạnh lẽo…Nghi vẫn nói và cười và rơi nước mắt . Một tai nạn đã làm Duy bất động từ vài năm nay, nhưng Nghi không bao giờ thôi hy vọng … Định mệnh đã đưa Nghi tới cùng Duy nơi ngưỡng cửa thiên đàng lẽ nào khép lại … Nghi quay lại nhìn tôi , khuôn mặt xinh đẹp của cô dịu dàng như Đức Mẹ , cô nói :
-Chị Thùy ơi .
Hạnh phúc như gió bấc
Lạnh một thời …rồi thôi

đó chị .
Tôi mỉm cười với cô , Can đảm lên , cô nhóc , mọi người luôn ở bên cô .

Tôn Nữ Thu Dung.

CÂU HỎI CỦA MỴ CHÂU SAU KHI TRỌNG THỦY CHẾT

linhphuong

Trọng Thủy gánh non sông chạy về phía biển
Biển thét gào dậy sóng
Mịt mờ đường lông ngỗng
Đứng giữa hai đầu Tổ quốc
Hồn Mỵ Châu chắp tay hoa bật khóc
Đầu chít khăn tang

Ngó trời đất non sông
Nàng đớn đau bất lực
Máu hóa thành hạt ngọc
Chảy dài ra biển đông
Sóng vỗ bốn ngàn năm
Bóng ông cha chống gươm buồn vẫy gọi

Trường Sa lồng lộng gió
Hoàng Sa lồng lộng gió
Mỵ Châu đặt trong trái tim thương nhớ của mình vô vàn câu hỏi
Ai đánh cắp nỏ thần dâng cho giặc ?
Sao Thần Kim Quy nỡ đành nói sai sự thật
Để Mỵ Châu muôn đời mang tội với quê hương

Lịch sử có thể nào viết khác hơn
Giải oan cho người chết ?

Lịch sử có thể nào viết khác hơn
Tại sao nồi da xáo thịt ?

LINH PHƯƠNG