Tiệm ăn Việt Nam, ngành kinh doanh đang lên ở Nhật Bản

dothongminh

Nếu muốn tự túc kinh doanh thì có lẽ không gì hơn là khai thác sở trường sẵn có và đang được người Nhật ưa thích, đó là tiệm ăn Việt Nam.Bài viết này muốn giới thiệu với các bạn một vài nét chính về các món ăn Việt nam được người Nhật bản khá là ưa thích và các tiệm ăn Việt nam tại Nhật bản. Nếu có cơ hội các bạn hãy thử đến đó một lần nhé.

Cho tới nay, số tiệm ăn Việt trên toàn nước Nhật gần 30 tiệm (riêng Tokyo là 20 tiệm) có khoảng 60% là do người Việt làm chủ, kéo dài từ Hokkaido ở cực bắc có tiệm sặc mùi nước mắm vì mang tên “Phú Quốc” (là tên một hòn đảo ở tỉnh Kiên Giang, Việt Nam) do người Nhật mới mở, xuống tới Fukuoka (Kyushu) ở cực nam có tiệm “Honba Betonamu Ryouri” khá kỳ cựu của anh Đặng Đức Thịnh… Tỷ lệ người Nhật mở quán Việt ở đây như vậy là rất cao so với các quốc gia khác, điều này cho thấy là người Nhật thích đồ ăn Việt Nam và việc mở tiệm đối với người Việt còn nhiều khó khăn. Nếu kể cả một số tiệm ăn Trung Hoa, Camuchia, Thái nay có thêm món ăn Việt thì tới hơn 65 tiệm.

Các món ăn được ưa thích

Các món được ưa thích ở Nhật là chả giò, gỏi cuốn, bánh xèo, phở bò, phở gà, carry, gỏi gà, miến xào, có tiệm có cả món bánh cuốn, trà và cà phê Việt Nam, bia 333, bia Sài Gòn, rượu Lúa Mới… Bánh tráng cuốn và nước mắm, bánh phở khô… nay trở thành các vật liệu khá quen thuộc với các phụ nữ Nhật mê món ăn Việt Nam. Ở Nhật, món phở bò chưa đạt được đỉnh cao nghệ thuật như ở Hoa Kỳ, nên chưa được người Nhật chú ý như chả giò, gỏi cuốn, bánh xèo. Ở Hoa Kỳ, đối với người bản xứ thì đại biểu món ăn Việt Nam là phở bò, có một số cơ sở làm ăn khá, có hệ thống đến 20 tiệm trên nhiều tiểu bang. Du khách Nhật tới Newyork rất thích vào ăn tiệm phở Bằng. Ở nhiều tiệm phở, thấy có khách Hoa Kỳ ngồi húp phở xùm xụp, tự nhiên mình cũng thấy hãnh diện lây. Món phở độc chiếm ưu thế vì có thể ăn no phở bất cứ bữa nào trong ngày, giá cũng rất phải chăng, chỉ 3,5 – 4,5 Mỹ kim một bát, còn chả giò hay gỏi cuốn chỉ là món ăn chơi thôi.

Tên Quán ăn :

Tên “Sài Gòn” được nhiều tiệm chọn nhất. Chúng tôi thấy có khoảng 10 tiệm mang cùng tên “Sài Gòn”, có tới 2 tiệm “Miss Sài Gòn” ở thành phố Musashino và ở Shibuya (trong nhạc kịch “Miss Sài Gòn”, có 2 người đóng vai chính vì thường đóng ngày 2 xuất và hàng năm trời nên phải thay phiên nhau), có tiệm lại còn lấy tên “Sài Gòn Đẹp Lắm” từ một bài hát mà có lẽ người Việt Nam nào cũng biết. Bảo đảm hương vị Việt Nam thì đã có tiệm lấy tên “Hương Việt” của chị Nguyễn Thị Điệp mở từ năm 1986. Chị Điệp trong năm 1996, 97 cũng đã đóng góp một chút kiến thức của mình về món ăn Việt nam để hoàn thành 2 cuốn sách về món ăn Việt Nam bằng tiếng Nhật. Thơ mộng thì có tiệm “Đà Lạt” ở Jiyugaoka quận Meguro, mà nhất là phim ảnh thời sự thì có “Ao Papaya” tức “Đu Đủ Xanh” ở quận Kita. Lời chào niềm nở và thân thiện thì chắc không đâu qua mặt tiệm mang tên “Hello Việt Nam” ở quận Chiyoda.Đơn sơ mà hấp dẫn thì không đâu hơn tiệm mang tên “Áo Dài” ở Akasaka, quận Minato. Ở Kobe có tiệm Mekong khang trang rộng rãi với 60 ghế của anh Tòng sánh vai với một tiệm chắc có hương vị rất Hà Nội vì mang tên “Lâm Hà Nội” mà. Nếu tỉnh Shizuoka có tiệm với cái tên “Sài Gòn” quen thuộc của anh Hùng thì cạnh đó, tỉnh Aichi không chịu kém, tháng 11/96 vừa ra một cửa tiệm với cái tên rất cổ kính và xanh rờn là “An Nam Blue”. Cái tên bình dân thì có “Quán Cơm Việt Nam” của chị Lệ ở quận Ota mở cũng 10 năm qua. Một nơi “khỉ ho cò gáy” như tỉnh Shimane ở tây-nam Bản Đảo cũng có tiệm Việt Nam, thiên hạ chọn hết tên hay nên chị Hataoka không biết chọn tên nào khác hơn là tên mình “Hataoka Restaurant”. Vào tháng 10/97, Hokkaido lại có thêm tiệm thứ 2, không chịu thua kém Sài Gòn nên mang tên “Chợ Lớn” mới lạ chứ, chuyên bán cà phê, bánh mì & tạp hóa Việt Nam do người Nhật làm chủ. Tháng 11/97 có thêm một tiệm ăn và rượu mang cái tên Nam Dương có vẻ bí mật “Tétés Café” (Tétés là giọt nước) nhưng bán món ăn Việt Nam và Thái, hơn 70 ghế, tại Nishi Azabu, quận Minato do công ty Nhật làm chủ. Hơn 30 tiệm ăn Việt Nam, tuy phần lớn chỉ khoảng 30-40 ghế, nhưng thật là “mỗi tiệm một vẻ”.
Đứng đầu trong lãnh vực kinh doanh tiệm ăn phải kể đến bác Nguyễn Văn Ngân, du học sinh qua Nhật từ năm 1941, nay đang làm chủ 3 tiệm ăn lớn ở Yurakucho (“Sàigòn Café” mở từ năm 1950) và Ginza, đều lấy tên là Sài Gòn, có tiệm tới 150 chỗ ngồi. Hệ thống tiệm Mỹ Dung ở Đông Kinh, từ tiệm đầu tiên ở Shinjuku, rồi 2 tiệm ở Bunkyo, Ikebukuro và tháng 4/97 thêm tiệm nữa lấy tên là Thiên Phước ở Yotsuya. Shibuya thì có tiệm “Bougainvillaea” (Hoa Giấy) đã được khoảng 20 năm, do anh Lưu Tuấn Kiệt làm chủ và mới đây cuối năm 1996 có thêm tiệm “Miss Saigon” do chị Tám làm chủ. Bì Ba Theo nấu ăn nổi tiếng, thường làm giò chả cho các nơi, kinh doanh tiệm “Hồng Phước” ở Omiya, tỉnh Saitama từ năm 1993, đang tìm thêm một địa điểm tại Tokyo để thu hút khách hơn.

Ngày 7/8/97 vừa qua, chị Nguyễn Thị Giang đã mời khoảng 100 bạn bè tới dự bữa tiệc ra mắt cửa tiệm của chị. Tiệm mang tên “Giang’s Betonamu Ryoriten”, gần ga Futago Tamagawaen cuối đường tầu Oimachi (từ Oimachi đi khoảng 14 ga, đi bộ độ 2 phút), chính thức khai trương ngày 8/8, có khoảng 30 ghế. Chị Giang là người từng dạy gia chánh tại Việt Nam, làm đầu bếp chuyên nghiệp cho nhiều quán ăn ở Nhật. Chị cũng dạy nấu ăn Việt Nam khoảng 7 năm qua, có 200 học trò, hầu hết là phụ nữ Nhật, rất thích đồ ăn Việt Nam, có người theo học chị liên tục nhiều năm.

Tháng 11/97, ngay đối diện hội quán Kyurian (Shinagawaritsu Sogo Kumin kaikan) ở cửa đông ga Oimachi, quận Shinagawa có quán “Sun Fish Kitchen” bán thức ăn Việt, Thái và Lào do người Nhật làm chủ. Điểm đáng nói là tỉnh Kanagawa với khoảng 1.500 người Việt, đông nhất Nhật Bản cho đến cuối năm 1997 mới có 1 tiệm ăn Việt Nam mang tên “Hương Quê” của anh chị Nguyễn Xuân Tùng (trước đây khoảng 10 năm đã có một tiệm ăn nhưng chỉ hoạt động trong khoảng 1 năm rồi đóng cửa). Một tiệm ăn khác đã đóng cửa từ 5, 7 năm trước là quán bà Định tại ga Okubo, quận Shinjuku, Đông Kinh, nổi tiếng lâu đời nhất, kéo dài suốt hơn 30 năm, thời sinh viên du học trước 1975 không ai là không biết. Tháng 3/98 cũng tại Yao có tiệm Việt Nam mang tên “Sài Gòn Quán” do chị Mai Hoa và Tuyết Minh trông coi. Đến tháng 4/98 lại có 1 quán tên “Ăn Ngon” tại Chuo-Ku, Osaka do người Nhật mở, hy vọng là ngon hết xẩy. Và đầu tháng 5/98 thì có tiệm “Sáng Tạo” của người Nhật và đầu bếp Việt Nam ra đời. Như vậy đầu năm 98 một lúc có đến 4 quán ra đời ở Osaka, sự cạnh tranh kể cũng khá gắt gao.

Tiệm ăn và nhạc sống

Tỉnh Kanagawa là nơi tập trung người Việt đông đảo nhất, chiếm khoảng một phần tư người Việt sống rải rác trên toàn nước Nhật. Thường người Việt tha hương tập trung về một nơi nào đó vì các yếu tố như khí hậu, môi sinh, thổ sản tương đối gần giống như ở Việt Nam. Những yếu tố ấy ở vùng này không khác với Việt Nam, nhưng đây là vùng công nghiệp nên rất dễ xin việc làm, ở đây rất dễ mướn nhà cũng như xin vào các chung cư của thành phố.
Nhờ số lượng người Việt đông đảo như vậy nên đã có một số tiệm đồ cũ, tiệm ăn Việt Nam mọc lên (không kể bán nhạc sách, cho thuê băng trong nhà).

Trong bối cảnh ấy, một nơi sinh hoạt lý tưởng vừa được thành hình. Đó là tiệm “Vietnam HAPPY Restaurant”, từ ga Sugamino ra phía bên trái đi bộ khoảng một-hai phút. Tiệm được thiết kế rất tiện nghi, có gắn máy điều hòa cho bốn mùa, có karaoke, disco, nhạc sống, hệ thống âm thanh studio tối tân, trên 3000 nhạc phẩm Anh-Nhật-Việt được chọn lọc chuyên nghiệp. Sàn nhảy rộng rãi, chung quanh được thiết bị với giàn đèn điện tử tự động. Ba hàng ghế được xếp theo hàng chữ U, hai hàng ghế nệm nhung, một hàng ghế tre mây đan, nhất là những món nhậu nổi tiếng Việt Nam và Thái Lan…

Đêm 30/4/1999 vừa qua, ban nhạc Newsky chính thức trình diễn với hơn 30 quan khách. Các ca sĩ ái mộ nhất hiện nay ở Nhật cũng đã liên tục xuất hiện với những nhạc phẩm bất hủ và thịnh hành nhất. Nam ca sĩ Ngọc Long với các nhạc phẩm: “Khi yêu, Yuugata no uta (Bài hát hoàng hôn), Con gái bây giờ” v.v… Nữ ca sĩ Ngọc Anh đăc biệt trong các nhạc phẩm: “Tình yêu màu tím, 999 đóa hoa hồng, Xin còn gọi tên nhau”…

Chương trình nhạc sống vừa tăng cường thêm Tuyết Hoa, với giọng hát ngọt ngào, lối trình diễn trẻ trung, sống động vẫn được mọi người ái mộ.

Điều kiện mở quán

Khi ra tiệm, cần điều kiện tay nghề tàm tạm trở lên, bởi đa số khách là người Nhật, họ sẽ không khó tính như người Việt (khi thấy món ăn không giống như tên gọi!?). Nay số tiệm và khách gia tăng, sự cạnh tranh cũng lên cao nên nhiều tiệm đã có nỗ lực cải thiện phẩm chất và cách phục vụ và chiều hướng khách Việt đi ăn tiệm Việt bắt đầu gia tăng. Muốn mở tiệm phải trả lời được câu hỏi đầu tiên: “Tiền đâu?”. Chi phí mở quán khoảng 5-25 triệu Yen (40.000 – 200.000 USD), để mở một tiệm khoảng 20-50 ghế, gồm 2 khoản chính là tiền thuê hay sang cửa tiệm cũ (10-20 lần tiền thuê hàng tháng), chiếm độ 1/2 và trang thiết bị độ 1/2. Đòi hỏi số vốn cao cũng là trở ngại chính, nếu không thì số tiệm ăn Việt mọc ra có lẽ còn gấp bội bây giờ.

Nhật Bản đang hướng mạnh vào Việt Nam và người Nhật rất thích món ăn Việt Nam, nên việc mở tiệm ăn hay mỹ nghệ cũng là một cách truyền bá văn hóa Việt vậy.

Đỗ Thông Minh

G I Ấ U

trandzalu

Thôi về giấu nhớ trong tim
Giấu thương trong mộng, giấu tình trong đêm…
Buồn này anh cũng giấu em
Nói ra lại sợ mình biền biệt nhau !
Giấu ngày vào góc thương đau
Đốt bao nhiêu thuốc vẫn sầu…long đong !
Thôi về khép cửa chờ mong
Giấu xa xót dưới gối chăn ơ hờ…
Giấu yêu trong một bài thơ
Soi gương sao lại thẩn thờ trước gương
Giấu em luôn nỗi đoạn trường
Anh đi qua những vô thường thế gian…

TRẦN DZẠ LỮ

HOÀN HỒN CỎ XANH

truongdinhtuan

trước thiền môn đứng tụng thơ
phật cười, ngươi vẫn lơ mơ cõi hồng
tâm còn mắc cạn dòng sông
thôi về tiếp tục bế bồng thi ca

mai thành một nhánh xương hoa
trổ trên sa mạc làm quà cho ai
tươi lên đôi chút tuyệt tài
rơi tay tuyệt sắc một vài lung linh

xuống núi gặp người tụng tình
người khoe mấy hạt răng xinh cười trừ
anh còn vọng chốn sa mù
thôi về tiếp tục đứ đừ làm thơ

mai thành lau cỏ phất phơ
cờ kiêu hãnh trắng ngọn chờ chiều hôm
tay hồng ngón dã thảo thơm
mở ra trời lạ hoàn hồn cỏ xanh

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

LÊN RỪNG THĂM BẠN

lamchuong

Từ trên đồi cao nhìn xuống, giữa đại ngàn mênh mông xanh ngắt, đám rẫy của anh Khan nhỏ như một chiếc chiếu, màu nhạt lá non. Tôi lặn lội tìm đến giang sơn biệt lập của anh khi mùa bắp đang rộ trái. Lọt thỏm giữa đám rẫy là lều tranh. Giữa lều, treo một chiếc võng làm bằng bao bố. Những ngày ở đây, tôi ngủ trên chiếc võng này. Cái sạp tre để sát vách, chỗ ngủ hàng đêm của anh Khan.
Đối diện vách bên kia, anh kê những viên đá làm ba ông táo nấu ăn. Mọi thứ trong lều đều đơn giản. Phía ngoài, gần bên hông lều, một cái hố đang đào dở. Hố rộng bằng căn phòng nhỏ. Theo lời anh, còn phải đào sâu hơn nữa, khoảng hai thước.
Lúc mới đến, tôi hỏi: “Đào hố để làm gì?”
Anh nói: “Bắt khỉ.”
Tôi ngạc nhiên: “Bắt khỉ?”
“Ừ , bắt khỉ.”
“Để ăn thịt?”
“Khỉ ốm, chỉ có da bọc xương. Thịt khỉ lại tanh, không ai ăn.”
“Không ăn thì bắt để làm gì?”
“Để đuổi khỉ.”
“Bắt khỉ để đuổi khỉ? Tôi không hiểu.”
“Cứ ở đây vài hôm thì hiểu.”
Anh Khan không giải thích. Có lẽ anh muốn dành cho tôi một lý thú bất ngờ.
Buổi sáng sớm, trời còn mát, và buổi chiều, khi mặt trời xuống lấp lửng trên đọt cây rừng, nắng cũng dịu bớt, tôi phụ anh Khan trong công việc đào hố. Anh xúc đất vào cái ki đan bằng nan trẹ Tôi kéo đất lên, đổ chung quanh hố. Anh gầy nhưng sức dẽo và bền, tôi không bì kịp. Làm việc với anh, tôi đuối, phải nghỉ từng chặp. Những lúc tôi nghỉ, anh một mình xúc từng xẻng đất quăng lên. Anh làm đều đặn, khoan thai như đang tập thể dục dưỡng sinh. Đối với anh, không có gì phải vội vàng. Anh quan niệm rằng con người lầm lẫn khi chạy đua với thời gian. Đời sống ngắn ngủi mà một lúc muốn chụp bắt nhiều thứ. Và sau cùng, cái thứ mà họ không muốn chụp bắt đến với họ. Đó là sự tử vong. Khi nằm ngắc ngoải, họ nghĩ lại và thấy rằng họ chưa kịp sống cho đúng nghĩa một người đã sống. Nghe anh bày tỏ cái quan niệm sống này, tôi rất chán, nhưng vẫn hỏi sống thế nào cho đúng nghĩa một người đang sống? Anh nói, không tham cầu, không chờ đợi, tận hưởng sự hiện hữu trong từng giây phút. Tôi hỏi tận hưởng luôn cả nghịch cảnh, và nỗi niềm đau khổ? Anh nói nghịch cảnh hay đau khổ là do tâm cảm. Tại sao không coi đó là sự thay đổi món ăn của tinh thần? Đã từng ăn những món dở, mới biết thế nào là món ngon. Tôi cười, rằng tư tưởng anh được chắp nối một phần triết Đông, một phần triết Tây. Anh nói, anh chẳng cần biết Đông hay Tây. Anh sống theo kiểu của anh. Và anh cũng nói, tôi đã đến đây rồi, nên bỏ quên sách vở, để cho cái đầu được nghỉ ngơi thư thái.
Buổi trưa, lúc trời bắt đầu nắng gắt, tạm ngừng công việc đào hố. Tôi theo anh Khan đi kiểm soát chung quanh rẫy. Có những chỗ bị chồn, sóc cắn phá làm bắp hư hại. Và, vài nơi trên những luống khoai lang bị heo rừng ủi. Anh lần theo những dấu chân, để biết lối nào heo thường vào rẫy. Phải trừ khử những con heo phá hoại này. Anh Khan nói thế.
Tôi thấy chung quanh rẫy có treo những cái thùng thiếc, buộc lòng thòng thêm vài viên đá, và nối sợi dây dài đến lều.
Tôi hỏi: “Để làm gì?”
Anh nói: “Chuyện đơn giản thế này cũng không biết. Mãi chạy theo máy móc tinh xảo, lo tìm hiểu những chuyện xa vời tận mặt trăng mặt trời, đến lúc quay trở lại với đời sống thiết thực cận kề thì loay hoay, bối rối.”
“Anh chưa trả lời câu hỏi của tôi.”
“Mùa bắp ra trái, thú rừng thường hay đến kiếm ăn. Nhất là khỉ, heo rừng, chồn, sóc phá hại mùa màng. Thú rừng rất sợ tiếng động. Lâu lâu, giựt sợi dây làm thùng thiếc khua động để thú rừng bỏ chạy.”
“Tôi coi trong sách vở, nói người ta làm những hình nộm, trông giống như người đang giữ vườn, để đánh lừa thú vật không dám đến gần.”
“Chẳng có sách vở nào nói hình nộm để đuổi thú. Hình nộm chỉ có tác dụng đuổi chim mà thôi. Trên những cánh đồng, mùa lúa chín, người ta làm hình nộm ở nơi trống trải, dễ nhìn thấy, để chim muông không dám đáp xuống ăn lúa. Còn đây là rẫy bắp giữa rừng, nhiều cây cối rậm rạp che khuất, làm hình nộm không có tác dụng với thú rừng.”

Tôi đến với anh Khan được ba ngày. Lòng đã chán. Anh ít nói đến độ lầm lì. Sau những bữa cơm chiều, anh thường ngồi bập thuốc rê, trầm tự Lưng anh hơi còng xuống. Trông giống một hình tượng cô đơn, im lặng ngồi chịu đựng với thời gian. Tôi nói với anh như thế. Anh chỉ mỉm cười, xa vắng. Tôi cố gợi chuyện, bằng cách hỏi tại sao anh tách rời vợ con, lên rừng một mình như người ở ẩn? Tại sao khi ra khỏi tù, anh vụt đổi thái độ và lối sống? Anh ngó mông ra rừng, nói chậm rãi, thỉnh thoảng dừng lại một lúc lâu để bập vài hơi thuốc. Mỗi lần nhìn lại chặng đường đã đi qua, thật kinh khủng. Chiến tranh như con quái vật khổng lồ, theo nó thì bị nó ăn nuốt, cưỡng lại thì bị nó chà đạp. Đàng nào cũng chết, chỉ có điều chết trước hay sau mà thôi. Anh may mắn chưa kịp chết thì chiến tranh chấm dứt, bước sang giai đoạn khác. Trong tình thế mới, anh bị đẫy vô tù. Ở tù đã khốn nạn, nhưng ở tù dưới chế độ được mệnh danh là ưu việt, lại càng khốn nạn hơn. Những con người của chết độ ưu việt này, đã phát triển đến cao độ cái tính nham hiểm và gian trá. Họ biến tù nhân thành những con ma đói, và hạ xuống ngang hàng với súc vật. Điếu thuốc đã tàn, anh Khan ngừng lại vấn thêm điếu khác. Lúc nào cũng có điếu thuốc đang cháy khi anh nói, và anh cứ bập hoài, như để trấn an một nỗi niềm, hay để suy nghĩ, gạn lọc từng câu. Ngày anh được thả ra khỏi nhà tù, có người bạn cùng chung cảnh ngộ, kể cho anh nghe hai câu chuyện ngụ ngôn, gọi là chút quà tiễn bạn, làm vốn sống khi ra khỏi địa ngục.

Truyện một: Có một thương gia giàu có, hay đi buôn bán nhiều nơi, gom góp những vật quý trong thiên hạ về làm của riêng. Trong số những vật quý này, có con sáo biết nói tiếng người. Một hôm, người thương gia nói với con sáo rằng: “Sáo ơi, ta có việc sắp đi ngang qua quê hương thuở trước của mày. Vậy, mày có gì nhắn cho bạn cũ ở đó, ta chuyển lời chọ” Con sáo nói: “Ông chủ làm ơn cho tôi gởi lời thăm các bạn, và hỏi chúng có nhắn gì cho tôi hay không.”

Khi đến quê hương của con sáo, người thương gia ngước nhìn lên vòm cây, nơi có đàn sáo đang đậu, ông nói: “Đàn sáo ơi, con sáo quý của nhà ta, gởi lời thăm chúng bây. Và hỏi chúng bây có nhắn lại lời gì cho nó hay không?” Đàn sáo im lặng. Người thương gia đứng chờ một lúc. Và lạ thay, từ trên cây, đàn sáo rớt xuống chết hàng loạt.

Người thương gia trở về, con sáo của ông hỏi: “Ông chủ ơi, các bạn tôi thế nào?” Người thương gia nói: “Ta đã chuyển lời thăm của mày, hỏi chúng có nhắn gì cho mày không, chúng chỉ im lặng. Và sau đó rớt xuống chết như bị lời trù rủa ghê gớm.”

Ngày hôm sau, người thương gia thấy con sáo quý của mình nằm chết trong chuồng. Ông xách con sáo vất ra ngoài như một thứ đồ bỏ. Bỗng, con sáo vỗ cánh bay đi mất, trước sự ngạc nhiên của người thương gia.

Dứt chuyện thứ nhất, anh Khan nhìn tôi chờ đợi một sự góp ý. Tôi hỏi ý nghĩa chỗ nào? Anh giải thích, con sáo bị nhốt trong lồng vì nó có giá trị. Giả chết là một cách đánh lừa người thương gia, rằng nó không còn giá trị nữa. Nhờ thế mà nó thoát được sự giam cầm. Trong chế độ ưu việt này, người nào tỏ ra có giá trị, sẽ bị theo dõi dòm ngó. Nếu không dùng được, họ tiêu diệt, chứ không cho sống. Tốt nhất là giả ngây khờ, chẳng ai thèm để ý, sẽ được yên thân. Tôi mừng vì anh Khan đã bắt đầu tỏ thái độ cởi mở, ít ra anh cũng không còn giữ thế thủ với tôi. Còn chuyện thứ hai, tôi hỏi.

Truyện hai: Trong một buổi lâm triều, sứ giả của một nước láng giềng, dâng tặng nhà vua ba bức tượng hình người, và xin cho biết bức tượng nào giá trị nhất. Nhà vua và cả đám quần thần cầm lên, săm soi hoài, thấy ba bức tượng đều giống nhau, trọng lượng cũng bằng nhau, khó mà phân định bức tượng nào giá trị nhất. Cuối cùng, vua cho truyền rao trong dân chúng, tìm người thông minh giúp vua giải quyết vấn đề ba bức tượng.

Khi nghe chuyện này, có một nông dân cầm theo ba cọng rơm, lên đường đến kinh đô, xin vào yết kiến nhà vua để tìm hiểu giá trị của ba bức tượng. Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ nhất, cọng rơm thông qua lỗ miệng. Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ hai, cọng rơm thông qua lỗ tai phía bên kia. Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ ba, xỏ đến cuối cọng rơm, nhưng vẫn không thấy thông ra chỗ nào.

Anh nông dân cầm bức tượng thứ ba đưa cho nhà vua và nói, đây là bức tượng giá trị nhất.
Tôi lại hỏi ý nghĩa thế nào? Anh Khan cười, nụ cười ít thấy nơi một kẻ trầm tư, rằng nếu không có lời bình giải kiểu Mao Tôn Cương, thì tôi khó mà lãnh hội được cái thâm thúy của người xưa. Câu chuyện trên muốn nói, thứ nhất, tai nghe mà bép xép ra lỗ miệng, thì họa tòng khẩu xuất, nghĩa là tai họa theo cái miệng mà ra. Thứ hai, nghe tai này lọt qua tai kia, không nhớ gì cả, là thứ vô dụng. Cả hai loại người trên, chẳng giá trị gì. Thứ ba, nghe và cất kỷ trong lòng, không nói ra. Đây là loại người ý tứ kín đáo. Sống trong chế độ ưu việt, áp dụng Ba Không: không nghe, không thấy, không biết, có thể tránh được nhiều tai vạ. Tôi nói, tránh được tai vạ để giữ tính mệnh, nhưng sống mà buồn quá, cũng chán. Anh Khan ngước nhìn lên đám mây cao, nói trời lặng thinh, nhưng bốn mùa vẫn luân chuyển, vạn vật vẫn không ngừng sinh hoá. Không ai có thể biết được ngày mai sẽ xảy ra chuyện gì. Hãy chờ xem.

Một ngày, sau bữa cơm chiều, có hai gã người Thượng ghé rẫy của anh Khan. Anh giới thiệu, một người tên Y Nôm, người kia tên SõLum. Cả hai đều nước da ngăm đen, thân hình rắn rỏi. Họ dắt theo một con chó, loại chó săn, cao giò, bụng thon, tai vểnh, lông có vằn như cọp. Và mang theo những cái rế đan bằng mây rừng, giống cái rế lót nồi ở những vùng quệ Như đã hẹn trước, anh Khan đưa họ đi quan sát dấu chân heo rừng. Dài theo những lối heo thường ra vào phá rẫy, họ đặt những cái rế lật ngửa lên. Giữa rế để một miếng mồi bằng loại thịt đã có mùi hôi, được móc với một chùm lưỡi câu. Mỗi lưỡi câu cột dính với vành tròn phía trong của cái rế, bằng sợi cước dài khoảng gang tay.

Tôi hỏi: ” Làm thế mà có thể bắt heo rừng được sao?”
Y Nôm hỏi lại: “Chứ ông cán bộ nghĩ phải làm thế nào?”
“Tôi nghe người ta nói, dùng một thân cây níu quằn xuống làm cần bẫy, cột sợi dây làm thòng lọng, đặt trên mặt đất. Khi heo dẵm phải, cần bẫy bật, và cái thòng lọng siết giò heo treo lên.”
“Ông cán bộ chỉ nghe người ta nói, chứ ông không có để cái tay làm công việc. Làm cái bẫy như thế cũng được, nhưng không tốt và có hại cho con người.”
“Tại sao không tốt mà lại có hại cho người?”
Y Nôm cười, lắc đầu.
Anh Khan nói: “Nó không đủ lời giải thích đâu. Này nhé, trên đường heo đi, không dễ tìm được cây nào thích hợp để làm bẫy. Và khi đã làm bẫy rồi, không dễ gì con heo dẵm chân phải cái vòng thòng lọng. Giả dụ, heo đã dẵm vào thòng lọng, cần cây bật siết giò heo treo lên. Nó có thể cắn đứt dây, hoặc cắn đứt lìa một cái giò bỏ lại để thoát thân.”
“Trời đất! Nó dám tự cắn đứt cái giò à?” Tôi kêu lên kinh ngạc.
“Có nhìn thấy cái giò bỏ lại, mới biết loài heo rừng gan dạ phi thường. Làm cái bẫy như trên, đã khó lại tốn nhiều công, nhưng kết quả rất ít. Và chừng nào heo chưa mắc bẫy thì còn duy trì cái bẫy. Nếu lỡ có ai ngang qua, vô tình dụng phải, sức bật của cần bẫy có thể gây nguy hiểm.”
“Thế còn cái rế kia, bắt heo cách nào?”
“Cách nào thì chờ xem. Có thể ngày mai, ngày mốt. Không lâu đâu.”
“Nếu trong vài ngày, heo không đi qua lối đặt những cái rế, thì có cần phải thay mồi không?”
“Không cần. Heo là loài ăn tạp. Mồi càng bốc mùi càng hấp dẫn.”

Khi hai gã người Thượng đi khỏi, tôi hỏi anh Khan, tại sao Y Nôm gọi tôi là cán bộ? Anh nói, tất cả những ai đến với buôn bản vùng cao, mang cái dáng dấp phi lao động, chỉ biết đứng nhìn, hỏi những câu ngớ ngẩn, và chỉ trích phê bình, lý thuyết suông mà chẳng làm được gì , họ đều gọi là cán bộ. Anh nói tiếp, trong thời chiến tranh, người Thượng đã đóng góp tích cực một phần xương máu cho sự thành công chiếm đoạt miền Nam. Người ta hứa hẹn với họ, rằng họ sẽ được đền bù xứng đáng bằng cách cải thiện cho đời sống dân buôn bản tốt đẹp hơn. Nhưng chiến tranh chấm dứt đã lâu rồi, chế độ đã thành hình vững chắc, mà đời sống của họ vẫn thế, thậm chí còn khó khăn hơn. Họ không còn được làm ăn tự do nữa. Thỉnh thoảng, có những ông cán bộ từ miền xuôi lên đây, gọi sự tự do này là sự tùy tiện, thiếu tổ chức. Người ta đặt ra kế hoạch, bắt họ phải làm theo khuôn mẫu. Những kẻ không có một chút kinh nghiệm nào về đời sống giữa núi rừng, dạy khôn cho kẻ được sinh ra và lớn lên từ bao đời cha ông ở đây. Tóm lại, người ta nói về vấn đề cải thiện đời sống, mà không hề cung cấp phương tiện. Người ta chỉ muốn tổ chức lại mô hình xã hội, để dễ bề kiểm soát mà thôi. Trên đường trở lại căn lều, anh Khan nói từ ngày có tôi đến đây, anh đã phá lệ Ba Không: không nghe, không thấy, không biết.

Sáng hôm sau, anh Khan và tôi đang ăn khoai lang lót dạ, nghe có tiếng chó sủa, và tiếng kêu ơi ới ngoài rừng.
Anh Khan nói: “Y Nôm, SõLum gọi.”
Tôi theo anh ra nơi đặt bẫy. Hai gã người Thượng, mỗi người cầm một cây lao, đầu có bịt sắt nhọn, đứng vây một lùm cây rậm. Con chó sủa, nhiều lần dọm mình muốn chồm vô, nhưng không dám.
SõLum ngoắc tôi: “Ông cán bộ lại đây coi.”

Theo ngón tay chỉ của SõLum, một con heo rừng lông xám, hai bên mép có nanh dài và cong. Loại heo độc chiếc, đủ khả năng tách bầy, đi kiếm ăn một mình riêng lẻ. Nhìn cái tư thế mắc bẫy của con heo, tôi hiểu được tất cả những gì hôm qua còn thắc mắc. Heo táp miếng mồi, nuốt tới cổ, không trôi được vì đã mắc phải những lưỡi câu, cột bởi những sợi cước dính vào lòng chiếc rế. Vì sợi cước ngắn nên cái rế áp sát vào mõm. Heo dùng chân trước đẫy chiếc rế ra, nhưng không dám đẫy mạnh vì sợ sợi cước căng, làm lưỡi câu móc đau cuống họng. Đẫy một hồi, chân trước vô tình lọt vào một cái lỗ của chiếc rế. Coi như một cái chân đã bị trói. Cái chân trước còn lại, sẽ tiếp tục đẫy nữa, rồi cũng sẽ lọt vô cái lỗ khác, không rút ra được. Thế là cái mỏm heo và hai chân trước hoàn toàn bị khoá bằng chiếc rế. Heo không dám làm động mạnh chiếc rế, sợ lưỡi câu móc đau cuống họng. Khi đã mắc bẫy, heo chỉ có thể lê lết xa nơi đặt bẫy một khoảng mười thước không hơn. Và, người thợ săn chỉ còn một việc phải làm sau cùng, là phóng lao đâm vào những chỗ nhược của con heo mà không sợ bị nó tấn công ngược lại.

Sau vụ bẫy heo rừng. Anh Khan nói, Y Nôm và SõLum cho biết đàn khỉ đã kéo về lảng vảng vùng này rồi. Nhưng chừng nào chúng đến tảo thanh rẫy bắp thì chưa biết. Một hôm, tôi thấy vài con khỉ nấp ló trên cây. Anh Khan nói, đó là những con tiền sát, đi dò địa bàn hoạt động. Khỉ là loài tinh khôn sau loài người. Chúng sống có đàn. Mỗi đàn có một con khỉ đầu đàn. Con này sẽ dẫn đàn đi kiếm ăn rày đây mai đó, như những bộ tộc du mục thời xưa. Chúng đến cái rẫy nào một lần, sẽ lẩn quẩn ở đó nhiều ngày, ăn cho tàn mạt rồi mới chịu đi nơi khác. Con khỉ đầu đàn, không vào rẫy. Nó ngồi trên ngọn cây cao để canh chừng, và xua con cháu vào mục tiêu, ăn cho no, còn độn hai bên má làm phần dự trữ. Trước khi rút lui, chúng còn mang theo một hoặc hai trái bắp làm chiến lợi phẩm, và đóng thuế cho con khỉ đầu đàn. Khi nào con khỉ đầu đàn la ré lên là báo hiệu có biến, đàn khỉ đang ăn sẽ bỏ chạy, mất trật tự còn hơn cuộc di tản chiến thuật từ cao nguyên về miền biển. Tôi hỏi thế những cái thùng thiếc khua động chung quanh rẫy, không có tác dụng làm chúng sợ hay sao? Anh Khan nói, cũng có tác dụng trong những lần đầu, nhưng nhiều lần sau chúng quen, không sợ nữa. Khi ta ở trong lều, thì chúng phá ngoài rẫy. Khi ta ra rẫy, chúng kéo vô trong lều, lục phá tan hoang đồ đạc.

Một buổi trưa, nghe tiếng khọt khẹt ngoài rẫy, anh Khan giựt dây khua thùng báo động và chạy ra xem. Một vạt bắp bị phá. Nhiều cây gảy gục và trái bị cạp lem nhem dang dở.
Anh nói: “Chỉ mới đợt đầu mà thiệt hại như thế, thì đàn khỉ này có thể đông gần trăm con.”
Tôi ra bìa rẫy, nhìn lên những ngọn cây rừng, tất cả đều im lìm.
“Chúng đã chạy xa hết rồi.” Tôi nói.
“Chưa chắc. Có thể chúng nấp đâu đó trong những vòm lá. Thử ném mạnh một viên đá lên thì biết ngaỵ”

Tôi ném viên đá, không thấy động tĩnh gì. Anh Khan ném một khúc gỗ mục lên tàng cây khác. Bỗng nghe ào ào trên cây. Bầy khỉ hốt hoảng chuyền cành, đổi chỗ ẩn nấp. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, tất cả đều im lìm trở lại. Nhìn kỹ sẽ thấy vài con thu mình trong lá, hai mắt thao láo nhìn xuống.

Trở lại lều, anh Khan chuẩn bị bắt khỉ bằng cách đâm một chén muối ớt thật cay, trộn với cơm nguội, để xuống hố. Anh dựng thêm một cây tầm vông từ dưới lên miệng hố, và giải thích, cây tầm vông làm cái thang cho khỉ xuống hố. Gặp cơm trộn ớt đỏ, nó sẽ bốc ăn, cay quá chảy nước mắt, nó sẽ đưa tay dụi mắt. Tôi cười, bàn tay dính ớt mà dụi vào mắt, thì chỉ còn có cách làm hiệp sĩ mù nghe gió kiếm mà thôi.
Chuẩn bị xong, anh Khan kéo tôi ra một góc rẫy, nơi bìa rừng, ngồi dưới bóng cây tọ Anh nói, bỏ trống cái lều, nhường cho bầy khỉ. Nhưng suốt chiều hôm đó, không có con khỉ nào bén mảng vào lều.

Hai hôm sau. Trên đường từ nhà Y Nôm trở về, vừa đến rẫy đã nghe tiếng con khỉ đầu đàn trên ngọn cây ngoài rừng la ré lên, anh Khan chạy vội vào lều. Bầy khỉ tuôn ra, phóng chạy. Đồ đạc trong lều bị phá tung, vất bừa bãi. Dưới cái hố, bên hông lều, những con khỉ còn kẹt lại, tranh nhau leo lên bằng cây tầm vông. Cứ con này ôm cây tầm vông leo lên, thì con kia sợ hãi nắm đuôi kéo xuống, giành leo lên trước. Rốt cuộc, không con nào lên được miệng hố. Chúng quờ quạng, loi choi, bưng mặt, dụi mắt, và la chí choé. Anh Khan rút cây tầm vông lên. Thế là những con khỉ dưới hố đã hoàn toàn bị nhốt. Tôi đếm được bảy con.

Tôi hỏi: “Đã bắt khỉ rồi. Bây giờ, làm cách nào đuổi khỉ?”
“Đến giai đoạn này, mọi chuyện sau đều dễ dàng.”
Tất cả đồ nghề đã chuẩn bị từ trước. Anh Khan dùng thanh cây, một đầu có buộc thòng lọng, tròng vào cổ từng con, kéo lên, trói lại. Anh lấy kéo cắt lông trên đầu khỉ, như bị cạo trọc. Và lấy sơn màu đen đỏ trắng vàng, phết lem nhem lên đầu, lên mặt khỉ, trông rất khôi hài. Xong, anh mở trói, thả nó chạy vào rừng. Lại lôi con khác lên, hớt lông, sơn đầu…

Anh Khan giải thích, khỉ có khuynh hướng nhập bầy. Những con khỉ này, nó sẽ chạy đi tìm bầy để nhập. Nhưng những con khỉ khác không còn nhận ra bạn nữa, và tránh xa nó như con vật quái đản. Tự bản thân con vật bị sơn mặt, nó không biết nó quái đản, nên bầy khỉ càng chạy tránh, nó càng bám theo để nhập bầy. Cứ thế, một bên chạy, một bên bám riết, càng ngày càng đi xa, thật xa.

“Rồi nó sẽ về đâu?”
“Rừng núi bao la muôn trùng, ai biết sẽ về đâu.”
“Những con khỉ bị bôi sơn lên mặt, rồi sẽ ra sao?”
“Cũng không ai biết sẽ ra sao. Nếu nó cứ bám riết theo bầy, có thể một ngày nào đó, con khỉ đầu đàn sẽ cắn nó chết.”

Sáng mai, tôi sẽ rời khỏi lều rẫy, bỏ lại núi rừng, từ giả anh Khan để đi một nơi thật xạ Trong đêm, tôi nằm thao thức trên chiếc võng, không ngủ được. Nhìn ánh trăng khuya lạnh lẽo soi vào căn lều trống trải, tôi nghĩ đến những ngày cô đơn của anh Khan giữa đám rẫy đìu hiu. Tôi lại nghĩ đến đàn khỉ cứ chạy mãi, chạy mãi, không biết giờ này chúng dừng lại hay chưa? Anh Khan cũng không ngủ được. Anh ngồi dậy vấn thuốc, bất ngờ anh hỏi tôi, nghĩ thế nào về những con khỉ bị sơn mặt? Tôi nói, nếu ở Âu Mỹ, Hội Bảo Vệ Súc Vật sẽ can thiệp cho nó. Anh bảo, khi tôi sang xứ người, nên tìm đến cái Hội Bảo Vệ Súc Vật, để nhờ họ che chở. Và nhớ hỏi họ, rằng giữa vùng rừng núi Việt Nam, có những “con khỉ người” đang bị sơn mặt, họ có bảo vệ không?

LÂM CHƯƠNG

Nếp Gấp Thời Gian

tranvanle

Tôi rùng mình nghe gai ốc mọc,
lòng đại dương cũng thế này thôi?
Con chim hót trong bụi gai có lúc
thấy rõ mình những giọt máu rơi rơi…

Tôi rùng mình không nghe gì nữa
ngoài tiếng than của lũ côn trùng.
Đêm nguyệt tận hay là trăng đã vỡ?
Ba mươi tháng Tư là thế đó, Non Sông!

Chưa bao giờ bình yên thê thảm…
như ngày “người ta” giải phóng Quê Hương!
Người lính chết bên đường không có gì che mặt.
Trời mù sương, còn đó, chút mù sương…

Tôi rùng mình nghe tim mình quặn.
Nghĩ mà thương cây cội trên rừng.
Chỗ tựa lưng bây giờ đạn gắm.
Gót giày saut để dấu vết não nùng…

Đàn quạ bay. Đàn quạ bay. Tứ tán.
Những cô bé không điểm không trang.
Cái valise chừ là bao lát.
Những chiếc gối đầu. Đây. Đó. Đảo hoang…

Tôi thấy rõ đâu là Địa Ngục.
Buồn. Ngẩn ngơ. Mình đánh mất Thiên Đường?
Đánh dấu hỏi sau câu thơ gãy khúc,
tôi gục đầu. Nhắm mắt. Tàn nhang!

Trần Vấn Lệ

Nước mắt của H.

nguyentancu

Em đã khóc cả một thời gian dài
Để có được một nụ cười cô quạnh
Anh đã qua hàng ngàn con sông khô
Để chạm môi vào biển mặn vô cùng
Nước mắt như muối của thời gian
Như suối nguồn của năm tháng
Chảy qua những mái đầu tuyết bạc
Chỉ một lần thôi xanh đã chết lâu rồi

Anh đã có hàng vạn chỗ ngồi
Cho anh và em tựa lưng khi mỏi mệt
Anh đã thức hàng nghìn đêm để ngủ mơ và mộng
Giấc mộng của trò chơi phận người
Trên những cung đường sinh tử
Nơi ấy chúng ta đã chạy hụt hơi
Đã ngồi lại quá lâu và không biết bao giờ nằm xuống
Chỉ có giấc ngủ thôi đã mệt mỏi lắm rồi

Em đã khóc hết tuổi thanh xuân
Chỉ để có một nụ cười
Một nụ cười buồn
Buồn như
Giấc mơ về một giấc mơ gia đình êm ấm
Em thay đổi mãi những tình nhân hao khuyết
Những gã đàn ông trên chăn gối nát nhàu

Phải thay đổi thôi
Dù không còn gì để ngày mai thay đổi
phải liều mạng bơi một lẩn ra biển
Để nước mắt không còn lăn trên mi
Không còn mặn khàn như muối
Để nụ cười sẽ không còn hoang vắng
Vì những giấc mơ không có thật bao giờ.

Hãy đi đi em ơi đừng quay lại nơi nầy.

NGUYỄN TẤN CỨ

TỴ NẠN

dothongminh

Cuộc Di Cư Năm 1954: 950.000 Người
Ngày 20/7/1954, các nước ký Hiệp Định Genève chia đôi VN (nên ngày này sau đó đc gọi là “Ngày Quốc Hận”), dân chúng có 300 ngày và sau đó gia hạn để chọn miền muốn sinh sống. http://baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2012/12/30.12/2—BAI-13.jpg
Trong khi có khoảng 150.000 người, phần lớn là cán bộ CS và thân nhân, tập kết ra Bắc (hình bên, địa điểm như tại cửa sông Ông Đốc, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau), thì với chiến dịch “Hành Trình Những Đợt Tỵ Nạn Cộng Sảnhttp://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/bb/HD-SN-99-02045.JPEG/375px-HD-SN-99-02045.JPEG

Sang Phía Tự Do” (Passage To Freedom), số người ở miền Bắc di cư vào Nam rất đông (hình dưới), dù đã bị cán bộ CS ngăn chặn, vì họ đã có kinh nghiệm đối với sự man rợ của CS, nhất là vụ Cải Cách Ruộng Đất.
Di cư trước 19/5/1955: 871.533 người.
Di cư trong thời gian gia hạn: 3.945 người.
Vượt tuyến sau khi hết hạn: 76.000 người.
Ngay ngày 17/7/1954, chuyến tàu đầu tiên là Anna Salen của Thụy Điển đã đưa khoảng 2.000 người rời miền Bắc cập cảng Sài Gòn ngày 21/71954.
Tổng kết theo phương tiện chuyên chở:
4.200 chuyến bay chở 213.635 người.
Tàu thủy chở 555.037 người.http://www.vietmediaagency.com/images/upload/Article/Kien_Thuc_-_Giai_Tri/Tai_Lieu_Hiem/130120-TLH-TemDiCu-4.jpg
Phương tiện riêng 102.681 người (có khi đi đường bộ qua ngả Lào, bằng thuyền nhỏ hay bằng bè tre).
http://vi.wikipedia.org/wiki/Cu%E1%BB%99c_di_c%C6%B0_Vi%E1%BB%87t_Nam_(1954)
http://namrom64.blogspot.jp/2012/08/hinh-anh-di-cu-tu-bac-vao-nam-1954.html
http://www.vietmediaagency.com/D_1-2_2-92_4-802/bo-tem-di-cu.html
http://baoanhdatmui.vn/vcms/html/news_detail.php?nid=17491
Cuộc Di Cư Năm 1975…: 4.000.000 Người
Ngoài chuyện người dân sợ sự tàn ác của CS, cán bộ CS đã lợi dụng chính sách “Kinh Tế Mới” để cướp đất, cướp nhà, chương trình “thủy lợi” để thu tiền, việc đổi tiền và đánh “tự sản mại bản” để cướp của, thi cử theo lý lịch… tất cả đã lộ rõ bản chất cực đoan, ngu dốt của CS, đã đẩy người dân đến đường cùng.https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRdEayFZTefyQRci3OVg0YkAbgEMphjlQpLBfkye6-Rp4TgdhP-nA
Ngay sau 30/4/1975, thông tin về VN bị hạn chế tối đa, hình ảnh vùng “Kinh Tế Mới” đăng trên tuần báo Newsweek khiến mọi người ngỡ ngàng.https://encrypted-tbn1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTQhoZPwk-d_8lnmFmBIaMH5f6DHYNcx1He0dSnyVVrH8y_j6u2
– –
Đợt đầu ngay trước và trong ngày 30/4/1975 có khoảng 140.000 người (khoảng 120.000 người Việt và 20.000 người Hoa Kỳ ra đi bằng tàu thuyền, máy bay. Những đợt kế tiếp bằng tàu, thuyền, bè được gọi bằng 1 từ mới là “thuyền nhân” (boat people), đường bộ là “bộ nhân” (land people) kéo dài tới năm 1994 tức trong 20 năm.https://lh4.googleusercontent.com/-Lj01A7bRHl8/SumpcyYznhI/AAAAAAAA8kc/KD1u7gTRBX8/s310/001_080505-BoatPeople_map_Archive%252520of%252520Vietnamese%252520Boat%252520People%252520Inc..jpg
http://nguoiviethaingoai.org/ditan.html

Máy bay L19 đáp xuống hàng không mẫu hạm!
Thiếu Tá Lý Bửng và cú đáp lịch sử trên hàng không mẫu hạm USS Midway trong ngày lịch sử 30/4/1975.
Một phi công chưa từng đáp máy bay xuống hàng không mẫu hạm bao giờ, lại chở quá tải trên chiếc máy bay không đủ điều kiện để đáp, không có radio liên lạc với đài không lưu của tàu, nhưng đã đáp thành công.
Đó chính là Thiếu Tá phi công VNCH Lý Bửng, đã lái chiếc máy bay Cessna OE-1 “Bird Dog” (L-19), còn gọi là máy bay bà già hay là máy bay thám thính. Máy bay này chỉ có 2 chỗ ngồi, 1 cho phi công và 1 cho người quan sát, nhưng ông Lý Bửng đã chở tới 7 người, gồm vợ chồng ông và 5 người con.
Ngày 19/4/1975, hàng không mẫu hạm Midway (CV-41) cùng với 3 chiếc khác là Coral Sea (CV-43), Hancock (CV-10), Enterprise (CVN-65) vào vùng Biển Đông khi quân đội VNCH theo lệnh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bỏ vùng cao nguyên. 10 ngày sau, Midway tham dự “Chiến Dịch Gió Thổi Không Ngừng” (Operation Frequent Wind) di tản nhân viên Hk và hơn 3.000 người tỵ nạn Việt rời khỏi VN. Trực thăng liên tục mang người tỵ nạn từ đất liền đáp xuống Midway, trong số đó có 1 phi cơ nhỏ L19 đáp xuống. Chiếc phi cơ này sau được trưng bày ở Viện Bảo Tàng Hải Quân ở Pensacola, Florida, v à nay được để trong lóng chiếc Midway về hưu năm 1997, trở thành bảo tàng viện neo ở San Diego, California.
Ngày 29/4/1875, ông Lý Bửng đã cùng vợ con bay từ phi trường Tân Sơn Nhất ra Côn Sơn để sang ngày 30/4 sẽ bay từ Côn Sơn ra hàng không mẫu hạm của HK đậu ngoài khơi. Ông Bửng biết có hàng không mẫu hạm đậu ngoài biển, nhưng không biết chính xác vị trí nào. Rồi ông thấy tất cả các máy bay khác đều bay về một hướng, nên ông bay theo họ và tìm thấy hàng không mẫu hạm USS Midway. Gặp hàng không mẫu hạm, nhưng trên máy bay không có radio để liên lạc xin đáp. Ông Bửng bay vòng quanh tàu và chớp đèn ra hiệu đáp, nhưng ông không nhận được tín hiệu đèn xanh để đáp xuống.
Đài kiểm soát không lưu trên tàu Midway thì tưởng rằng chỉ có 1 mình ông trên máy bay, nên đã cố gắng liên lạc với ông, bảo ông không đáp trên tàu, mà phải đáp xuống biển, tàu Midway sẽ cho người ra cứu. Thế nhưng, mọi liên lạc đều không thành, do trên máy bay của ông Bửng không có radio.
Máy bay của ông lại sắp hết nhiên liệu, không đủ xăng để bay vào đất liền. Nếu thuyền trưởng tàu Midway không cho ông đáp xuống, 7 mạng người trên tàu không thể sống sót.
Ông kể, ông đã viết vào mảnh giấy xin lệnh đáp, cột vào cái dao và quăng xuống tàu. Ông làm như vậy 3 lần, nhưng nó đều rơi ra biển. Lần thứ 4 ông cột miếng giấy vào khẩu súng, bay thật thấp rồi quăng. May quá, lần này nó rơi xuống tàu sân bay. Mảnh giấy ghi: “Các ông làm ơn dời chiếc trực thăng sang bên kia cho tôi đáp xuống đường băng. Tôi có thể bay thêm 1 tiếng nữa, chúng ta có đủ thời gian để dời. Làm ơn cứu tôi. Thiếu Tá Bửng, vợ và 5 đứa con.”.http://nguoiviettudoutah.org/2011/wp-content/uploads/2014/04/LyBung2.jpg
Đại Tá Larry Chambers, Hạm Trưởng của tàu Midway đã cho ông hạ cánh. Biết không đủ chỗ đáp, nên ông Chambers ra lệnh cho các thủy thủ đẩy mấy chiếc trực thăng VNAF UH-1 Huey xuống biển. Trị giá của số máy bay quăng xuống biển lúc đó khoảng 10 triệu đô-la Mỹ, để có chỗ trống cho ông Bửng đáp. Trên sàn tàu lúc đó chỉ có lưới và móc để giữ các loại máy bay phản lực khác khi đáp, không đủ dụng cụ để chiếc L-19 của ông Bửng hạ cánh, nhưng ông Bửng đã đáp thành công, trước những cặp mắt kinh ngạc của tất cả những người HK và tỵ nạn VN có mặt trên tàu.
Ông Lý Bửng và các nhà báo sau khi ông đáp chiếc L-19.http://nguoiviettudoutah.org/2011/wp-content/uploads/2014/04/LyBung1.jpg
Ông Larry Chambers (thứ 2 từ trái sang) và ông Lý Bửng (phải).
Ảnh chụp ngày 5/4/2014.
Những người thân trong gia đình ông Bửng và gia đình ông Chambers.http://nguoiviettudoutah.org/2011/wp-content/uploads/2014/04/LyBung5.jpg
“The Opportunity to Make History: Vietnam War Hero’s Flight to Freedom Remembered”:
http://www.navyhistory.org/2014/04/the-opportunity-to-make-history-vietnam-war-heros-flight-to-freedom-remembered/
Clip ông Lý Bửng đáp chiếc L-19 hôm 30/4/1975:

Clip ông Lý Bửng phát biểu hôm 30/4/2010 trên tàu sân bay Midway về cú đáp lịch sử: https://www.youtube.com/watch?v=Zq_mg8CtSzk
Refugees ‘come home’ to the Midway after 35 years: http://www.recreationalflying.com/threads/cessna-bird-dog-carrier-landing.103138/
http://nguoiviettudoutah.org/2011/?p=48885


Và nếu kể cả những người đi đoàn tụ, “HO” (thực ra là H01…H10, H11…)… thì vào năm 2015 đã lên tới độ 4,5 triệu người Việt sống rải rác tại 100 quốc gia trên thế giới.
Người tỵ nạn đã phải ra đi trong hoảng hốt và vội vã ngay trước và sau ngày 30/4/1975, nhưng chỉ 1 thời gian ngắn sau thì đường lối thống trị của nhà cầm quyền dần dần hiện rõ làm mọi người ngỡ ngàng, vì CSVN vừa ngu dốt vừa gian ác khiến dân chúng miền Nam thấy không còn đường sống phải tìm cách ra đi đông hơn. Sau đó, dân miền Bắc cũng bỏ nước đi tìm tự do.
Kỹ Sư Nguyễn Gia Kiểng đã viết bài “Vết Thương Ngày 30 Tháng 4”, trong có đoạn: “Ngày 30 tháng 4, 1975 đã không đến trong niềm vui thống nhất đất nước, hòa giải và hòa hợp dân tộc mà mọi người mong ước… Các xí nghiệp tư cũng được ‘tiếp thu.’, thanh thiếu niên diện ‘ngụy quân ngụy quyền’ bị đuổi khỏi trường học. Các đường phố, trường học mang tên những danh nhân miền Nam được đổi thành những đường mang tên liệt sĩ Cộng Sản, có khi chỉ là những tay khủng bố rất tầm thường.”.
Theo ông, đất nước VN sau đó là những trại học tập cải tạo giam hàng trăm nghìn cựu quân cán chính VNCH, trí thức bị đàn áp, bỏ tù, các quyền tự do căn bản bị chà đạp và ngay những người đã từng ủng hộ chế độ Hà Nội như Nguyễn Thanh Giang, Tiêu Dao Bảo Cự vì lên tiếng phản kháng với nhà nước mà bị canh chừng, quản chế.
http://www.thongluan.co/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=1759

Bè ty nan Vượt Biển Bằng Bè
Ngày 23/9/1975, ông Nguyễn Văn Phong cùng các con trai và bạn con đã dùng chiếc bè tự đóng tại bến Thanh Đa, Sài Gòn, để vượt biển. Bè gồm 36 thùng phuy xăng loại 200 lít, chia ra làm 2 hàng hàn nối với nhau, phía đầu cắt nhọn để rẽ sóng, bên trên làm giàn và nhà tạm trú. Bè chở 14 người (trong số đó có 1 em bé sơ sinh mới 8 tháng) theo sông Sài Gòn ra biển, được tàu Nhật vớt ngày 27/9/1975 (hình do thủy thủ Yoshida chụp cảnh thuyền nhân đang phất cờ “SOS”). Sau đó mọi người đã đi định cư tại Hoa Kỳ.

9 người vượt biển bằng bè kết bằng 7 cái phao ngày 21/10/1979…Chiếc bè được trưng trong viện bảo tàng Nam Úc
Mình không có xuồng thì tại sao mình không lấy nhiều cái ruột xe ráp lại thành cái bè? Tôi đem ý nghĩ này bàn với vợ tôi và trấn an vợ tôi rằng “nếu mình đi bằng ghe, thì có thể bị chìm và chết, còn cái bè, tuy lạnh lẽo khổ cực nhưng không bao giờ chìm”. Vợ tôi cũng tin tưởng vào tôi, nói “vậy được đó, làm đi”…
Chiếc bè được trưng trong viện bảo tàng Nam Úc.
Nên cuối cùng tôi quyết định ráp 7 cái (1.050 kg). Khi bỏ bè xuống nước phần nổi độ 10 cm. Thế là tôi lấy giấy bút ra vẽ chi tiết cái bè (tôi đậu tú tài Kỹ Thuật, nên biết vẽ Kỹ Nghệ Họa). Xong tôi ghi ra 2 tờ giấy, vợ tôi giữ 1 tờ và đạp xe đi mua cốm dẹp, đường, dây nylon, can nhựa, poncho v.v… Còn tôi đi mua gỗ và tìm thợ mộc để làm cái khung sườn + ruột xe. Tôi nhớ hoài nét mặt của ông thợ mộc khi tôi đưa tấm sơ đồ, ổng cứ nhìn ngang nhìn dọc, ổng không hiểu cái đó là cái gì?..Chiếc bè
Tất cả những sự chuẩn bị này, đối với tôi không có gì là khó khăn cả. Chỉ có 1 điều khó khăn nhất cho tôi là làm sao di chuyển số đồ đạc này ra bãi biển Cà Ná (gần Phan Rang). Chỉ riêng điều này không thôi cũng làm tôi tính toán nát óc..:
Anh Nguyễn Hữu Ba tại phòng triễn lãm Viện Bảo Anh Nguyễn Hữu Ba tại phòng triễn lãm Viện Bảo Tàng Nam Úc
Tàng Nam Úc.
Chuyến đi ấy không thành! Anh Ba bị tù 39 tháng.
Sau khi tôi về được 2 tháng, được người bạn cùng khóa giới thiệu tôi lái 1 chiếc tàu dài 12,5m, chở theo 83 người. Tôi trực chỉ đảo Natuna – Indonesia. Sau 77 giờ vượt biển, tôi cập vào bờ Natuna (ngày 12/4/1983) để xin nước và bản đồ để tiếp tục đi Úc. Nhưng chính quyền ở đây không cho đi. Họ đưa tôi qua đảo Kuku rồi trại tỵ nạn Galang. Gần 6 tháng sau (13/10/1983), gia đình tôi đến Úc, bỏ lại VN 1 đứa con, vì khi đi gấp quá tôi không về kịp Qui Nhơn để mang theo được…
Các con tôi nay đã trưởng thành. Tất cả 4 đứa đều đã tốt nghiệp đại học. Chúng tôi rất mừng có được gia đình hạnh phúc. Tôi xin cảm ơn vợ tôi, Và biết ơn nước Úc đã đón nhận chúng tôi định cư tại Úc, 1 xã hội tự do, dân chủ, công bằng và bác ái.

Chuyện vượt biên: VƯỢT BIÊN BẰNG BÈ (Nguyễn Hữu Ba)

Có người dùng cả chiếc vỏ lãi (còn gọi là tắc ráng, 1 loại thuyền máy, hoặc xuồng, ghe nhỏ và dài hình thoi, thường làm bằng gỗ và gắn thêm máy, là phương tiện di chuyển chủ yếu và phổ biến ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ) gắn máy F12 chạy tới Mã Lai tỵ nạn.
Do chính sách hà khắc, trả thù, cướp bóc và đối xử phân biệt cũng như sự tham ô, trình độ kém, nhà cầm quyền CSVN đã đưa đất nước đến bờ vực thẳm, khiến có hàng triệu người bị dồn đến đường cùng trở thành thuyền nhân và hàng trăm ngàn người đã bỏ xác ngoài biển cả.
http://www.youtube. com/user/ p0912345
Những con thuyền mong manh chất đầy người đi tìm tự do!https://lh6.googleusercontent.com/-E2bqv1OvIdQ/Sump4uRamuI/AAAAAAAA8nQ/5bvgbeVwZqg/s560/boatpeople_057.jpg

“Tự do hay là chết”,
chấp nhận chống chọi với biển cả!!!

Thuyền nhân trải qua biết bao gian nan, chết chóc!https://lh6.googleusercontent.com/-bTOiViTrJqg/SumqQk0GR0I/AAAAAAAA8ps/MZeLHjU_ogg/s517/ty_nan_cs_122.jpg

Già trẻ, trai gái đều phải đi tìm tự do.

Trở thành tem của Hoa Kỳ…
Bài hát “Đêm Chôn Dầu Vượt Biển” của Châu Đình An.


Ca nhạc sĩ Việt Dũng (1958-2013) dù bị liệt 2 chân cũng chống nạng ra đi, làm thuyền nhân và đã viết những bản nhạc nói về chuyện này qua “Lời Kinh Đêm”…
Lời kinh đêm ôi lời kinh đêm
Lời kinh buồn như tiếng mẹ thở dài…
Thuyền mong manh ôi đời lênh đênh
Thuyền bấp bênh cuộc sống mơ hồ
Lời kinh cầu từng ngày quen thuộc
Lời mẹ buồn giữa tiếng Nam-mô…
Trời chơ vơ ôi người bơ vơ
Người vẫn ôm mảnh ván rũ mục
Lời kinh cầu từng hồi nấc nghẹn
Lời mẹ buồn giữa tiếng Amen
Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mộ xanh
Biển ngây ngô hay biển man rợ
Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ
Và khủng khiếp hơn khi con tàu lạc hướng, hết thức ăn và nước uống, bị hải tặc… khiến người phải ăn thịt người chết:
Sáng dậy em điểm tâm bằng đôi con mắt
Đêm về em ngậm ngùi gặm khúc xương tay
Em hỡi em biển vẫn đầy
Sao em uống máu cho ngậm ngùi chua cay…
Ca nhạc sĩ Phan Văn Hưng – Trần Trung Đạo với bài “Em Bé Việt Nam Và Viên Sỏi” năm 2003…
Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông này để lại cho Ba
Viên kẹo lớn này để qua cho chị
Viên kẹo nhỏ này để lại cho em
Còn viên kẹo thật to này… là phần Bé đấy
Bên bờ biển ở Palawan
Có một bé gái lên sáu lên năm, lên năm,
Em đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ
Nói chuyện một mình
Như với xa xăm
Em đến từ Việt Nam,
Câu trả lời duy nhất
Hai tiếng đơn sơ mà nhiều người quên mất
Chỉ hai tiếng này
Em nhớ trong lòng
Còn bao câu khác
Em chỉ về mênh mông
Mẹ em đâu? – Ngủ ngoài biển cả
Em, em đâu? – Sóng cuốn đi rồi
Chị em đâu? – Nghe chị thét trên mui
Ba em đâu… Em lắc đầu không nói
Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa
Trên ghe sót lại chỉ dăm ba người
Lạ lùng thay, một em bé mồ côi
Ðã sống sót sau sáu tuần trên khơi
Họ kể lại, em từ đâu không biết
Cha mẹ em, đã chết đói trên tàu
Chị của em, hải tặc bắt đi đâu
Còn em trai, sóng đã cuốn trôi mau
Kẻ sống sót, sau sáu tuần nổi trôi
Cắt thịt da lấy máu thắm đôi môi
Máu Việt Nam, ôi linh diệu vô cùng
Nuôi sống em, Em bé Việt đơn côi.
Suốt tuần nay, em bé vẫn ngồi đây
Một mình, trông nhìn ra biển xa vời
Như thuở em chờ Mẹ đi chợ về
Em thì thầm những câu nói vẩn vơ
Em cúi đầu, nhưng không ai vuốt tóc
Biển ngậm ngùi, mang thương nhớ ra đi
Mai này ai có hỏi: Bé yêu chi?
Em sẽ nói là em yêu biển
Nơi cha chết, không tiếng kèn đưa tiễn
Nơi chị rên, nghe buốt cả thịt da
Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua
Và em trai, ở lại với sóng vỗ
Nhưng bé hỡi, rồi mai sau bé lớn
Không bao giờ sẽ quên máu Việt Nam
Giọt máu linh thiêng sẽ nuôi bé lớn
Máu thương yêu vẫn chảy từ ngàn năm…
Bé thơ ơi, cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần, nước mắt chảy thiên thu

clip_image002

Bên phải là tượng người cha dắt con ở Mã Lai.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Thuy%E1%BB%81n_nh%C3%A2n
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=p9IJZ2f5na

Boat People

Vietnamese Boat People

SBS News Video
về thuyền nhân Việt Nam tại Mã Lai ngày 24/6/1979.
http://www.cbsnews.com/video/watch/?id=4462053
Vớt Người Biển Đông


Trại Tỵ Nạn Pulau Bidong

Tem “Thuyền Nhân”của Bỉ năm 2009.alt
Ngày 9/8/1979, tổ chức nhân đạo là Hội Bác Sĩ Cấp Cứu Đức cử tàu Cap Anamur tới Biển Đông đi cứu thuyền nhân.
Nhà hảo tâm người Đức, Tiến Sĩ Rupert Neudeck.capanamour-250.jpg
1 chiếc thuyền được tàu Cap Anamur cứu vớt tháng 4/1984, được đem về đặt tại Troisdorf.
Hoạt động trong thời gian 1979-1986, 4 con tàu mang tên Cap Anamur đã lần lượt cứu được 11.300 thuyền nhân VN.alt
Bia kỷ niệm tàu Cap Anamur tại cảng Hamburg – Landungsbrücken, Đức.
Năm 1987, 2 tổ chức Đức và Pháp chung sức cử con tàu Ile de Lumière II (Đảo Ánh Sáng) / Cap Anamur III đi cứu thuyền nhân.
Trên tàu Cap Anamur III Đức-Pháp lần này thủy thủ đoàn gồm toàn người Pháp, nhân viên thiện nguyện từ Đức, Pháp và Hoa Kỳ, trong đó có nhiều người VN, mà trước đây chính họ cũng đã là những thuyền nhân. 3 tổ chức nhân đạo của Đức, Pháp và HK phối hợp làm việc dưới sự trực tiếp điều hành của Bác Sĩ Philippe Beasse thuộc Hội Y Sĩ Thế Giới.
Khi làn sóng vượt biển lên cao, chính phủ Pháp cho 3 chiến hạm đi cứu vớt trong khi nhiều đoàn thể nhân đạo hỗ trợ.
Người Việt tỵ nạn khắp nơi, đặc biệt nhất là Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển tại HK, do Tiến Sĩ Nguyễn Hữu Xương làm Chủ Tịch, đã thu góp tài chính ủng hộ chiến dịch.
Liên tục từ năm 1978 đến năm 1989, người Việt trên khắp thế giới đã hướng về Biển Đông. Nhiều người Việt đã trực tiếp tham gia vào các tổ chức cứu vớt thuyền nhân như Médecins du Monte với các BS Philippe Bease, Bernard Kouchner, A Deloche và Tiến Sĩ Reupert Neudeck, Chủ Tịch Ủy Ban Cap Anamur… Chiến dịch Mary là tiêu biểu sự hợp tác giữa người Việt hải ngoại và các tổ chức quốc tế.
Cảm ơn ông bà Neudeck và dân tộc Đức
Ngày 9/8/2014, Đại Hội Cap Anamur lần thứ 35 được tổ chức tại cảng Hamburg, Đức với Tiến Sĩ Rupert Neudeck, các quan chức Đức và hàng ngàn người Việt từ Đức và nhiều nơi trên thế giới về tham dự.
Ông Nguyễn Hữu Huấn thay mặt Ban Tổ Chức chào mừng quý khách và cho biết: “Ủy Ban Cap Anamur lấy mỗi con tàu đều là tên Cap Anamur hết. Bốn con tàu đi liên tiếp nhau chứ không phải đi vớt 1 lần 4 chiếc. Tôi được chuyến Cap Anamur số 1 vớt. Tàu Cap Anamur số 1 đi vớt người từ 1979 đến 1982, chia thành 29 chuyến thì đã vớt được 199 chiếc ghe. Tôi được chính phủ của tiểu bang Hamburg cho đi học tiếng Đức trong vòng 11 tháng. Cuối năm 81 tôi bắt đầu trở thành thành viên của Ủy Ban Cap Anamur, lên tàu đi vớt người ta tiếp và tôi đã đi liên tục trong 5 năm rưỡi. Cho đến khi chấm dứt vào năm 1987 thì chính thức ra năm 87 là tàu Cap Anamur số 4.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Cap_Anamur
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/35-years-the-cap-anamur-4-boat-people-tt-08082014134740.html
http://thuyennhan.info/index.php?route=product/product&path=33&product_id=369
http://cdcghh.blogspot.jp/2014/08/ai-hoi-lan-thu-35-cap-anamur-ngay-tri.html
Điều đáng nói là không chỉ riêng người sống trong chế độ VNCH đi tỵ nạn mà ngay những cán bộ nòng cốt CSVN cũng ra đi.
Như Luật Sư Bộ Trưởng Tư Pháp Trương Như Tảng vượt biển ngày 25/8/1979 tới Nam Dương rồi tới Pháp với tâm sự đầy hối hận qua cuốn “A Viet Cong Memoir”.
Như biên tập viên Lệ Xuân, làm việc trong báo Tuổi Trẻ, con gái ông Nguyễn Thành Đệ, người đã phải đóng 200 lượng vàng để vượt biên theo “Phương Án II” (bán chính thức) không thành, bị lấy luôn căn nhà cuối cùng và Thư Ký Tòa Soạn Võ Văn Điểm – Chủ Biên đầu tiên của tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Tuổi Trẻ Cười – người có vợ và 2 con đã chết trên biển trong 1 chuyến vượt biên…
Hàng chục ngàn người Việt sống ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa cũng phải bỏ nước ra đi.
Ngay từ trước ngày 30/4/2014 và kéo dài hàng chục năm sau đó, Hạm Đội 7 của Hải Quân HK với các hàng không mẫu hạm Hancok , Midway và nhiều chiến hạm đã góp công rất lớn trong việc cứu giúp thuyền nhân.
Ngày 10/6/1990, hạm đội HK khi đi từ Thái Lan qua Philippines đã phát hiện và cứu vớt 1 tàu tỵ nạn chở đầy ắp 155 người (có vài người bị bệnh, bị thương). Sau khi mọi người lên chiến hạm hết, tàu tỵ nạn được đánh chìm. Phim do anh Phạm Quốc Hùng là lính Thủy Quân Lục Chiến trên chiến hạm quay.

http://nguoiviethaingoai.org/ditan.html
Những đợt tỵ nạn như vậy kéo dài suốt 20 năm cho đến khi Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ quá mệt mỏi phải tìm cách ngăn chặn.

ĐỖ THÔNG MINH

PHÚT BÃO NGUYỆT

huytuong

Tôi tan vào im lặng
Nở rộ đóa quỳ vàng
Cắn đường gân lá mỏng
Im lặng lời mênh mang

Tôi tan vào im lặng
Bát ngát cỏ đằm sương
Con trăng đau tàn bạo
Ói mửa trời vô ngôn


Mịt mù cành im lặng
Khói xanh mù…
Khói điên…

HUY TƯỞNG

THƯ VỀ HỘ DIÊM – PHAN RANG

maiviet

Hỏi em từ buổi chia tay
Rằng nơi nắng cát gió mây thế nào ?
Lâu rồi tàn ánh trăng sao
Biết còn ai , gởi cho nhau chút lòng

Hỏi con đường sứ còn không
Những chiều xưa đứng chờ trong nắng vàng
Cây hương du ở đầu làng
Ngày xuân hoa có giăng hàng phấn tơ
Chiều nghe chuông xứ nhà thờ
Hỏi còn sương khói quanh bờ đồng lau ?

Mỗi lần bước lên đời nhau
Cho hương từ đó giữ màu nguyên trinh
Hỏi sao ta bỏ cuộc tình
Vào nơi biển sóng để nghìn trùng xa
Còn đây năm tháng phù hoa
Dù trong giây phút vẫn là thiên thu

Hỏi rằng nơi ấy , mưa thu
Còn bay trên đỉnh đồi phù vân xưa?
Bây giờ tình đã xa đưa
Lòng ta thiếu nắng nhiều mưa xuống đời

Bởi xưa bẻ nửa trăng thề
Nên giờ lạc mất một đời với nhau

MAI VIỆT

TIẾNG CHUÔNG NGÂN (PHẦN 5) NGÀY ĐEN TỐI

nguyenthingoclan

Sau nhiều lá thư của ông Giao gởi về thuyết phục, hứa hẹn một cuộc sống tươi đẹp, mẹ buộc cô phải làm đám cưới với ông. Biết không thể nào ngăn cản ý của Mẹ được nữa nên Hải Đường im lặng ra vẻ đồng ý, nhưng trong lòng thì đang tìm cách thoát cho bằng được cuộc hôn nhân này. Đêm đó cô quyết định viết lá thư từ hôn gởi cho ông Giao với những lời lẽ  thật cay đắng và cả van xin. Hải Đường đề nghị  một cách dứt khoát, yêu cầu ông Giao ra nhận lại lễ vật đã tặng  trong lễ hỏi. Một quyết định liều lĩnh đầu tiên trong đời mà cô dám làm để giải thoát cho bản thân. Hải Đường chọn con đường tìm lại tự do cho mình đồng thời cũng chấp nhận một cuộc đời đắng cay, tủi nhục khác.
Nhận thư, có lẽ ông Giao không còn hy vọng gì ở cuộc hôn nhân này nữa nên mười ngày sau, người chú và người em trai thay mặt gia đình từ Bình Định vào xin được nhận lại những lễ vật đính hôn. Chiếc nhẫn bằng kim cương có giá trị lớn cùng những lễ vật khác Hải Đường đã cẩn thận gói sẵn để trong tủ chờ đến ngày trả lại cho nhà trai.

Ngày định mệnh  25/6/1977.
Đang cầm chiếc cuốc xới cho tơi đất để trồng mì, anh trai từ nhà qua báo cho Hải Đường biết gia đình ông Giao đến nhận lại lễ hỏi theo đề nghị trong thư của cô.  Mẹ cho gọi  về ngay. Hải Đường nghe báo tin mà rụng rời cả tay chân. Chiếc cuốc trên tay lúc đó cô nắm chặt không muốn thả ra. Một thời khắc sợ hãi kinh hoàng cô cần phải đối mặt trong lúc này.
Hải Đường biết điều đen tối đang chờ cô trong chút nữa thôi. Sợ hãi tột cùng. Cô điên loạn hay đã chết rồi trong lúc ấy?
Sợ Mẹ, sợ họ hàng ông Giao nên Hải Đường trốn biệt vào một bụi cây rậm bên rẫy. Không ai có thể tìm ra cô cho đến tối mịt. Chung quanh là bóng đêm. Sương bắt đầu rơi xuống trên những tán cây, trên lá và trên tóc Hải Đường ướt đẫm. Lạnh buốt xương và cái đói hành hạ. Nhắm mắt lại cô bắt đầu rơi vào cơn mê loạn.

Có ánh sáng đom đóm bay đêm chập chờn. Tiếng gió rít, ve vuốt, rượt đuổi. Âm thanh răng rắc. Tiếng lá rơi xào xạc, lả lơi. Có tiếng hát ru em của Dì Út vọng về.

 Điệu múa Đêm tàn Bến Ngự. Lượt là trong bộ Hoàng bào vàng óng.

Những hạt sương mong manh trên má. Cái lạnh thấm dần vào thân thể yếu mềm hoà với cái đau bị muỗi đốt vẫn còn đỡ hơn cái đau trong tâm hồn mà Hải Đường đang gánh chịu lúc này. Cô muốn mình được thiếp đi một cách nhẹ nhàng. Thôi đừng đau đớn nữa. Cô muốn bay vào hư vô mãi mãi để không còn phải giáp mặt với những bất hạnh mình đã chịu từ bao nhiêu năm nay.
Sương lạnh thấm vai. Buốt rét mềm đôi bàn tay nhưng con tim nóng hừng hực bừng lên như ngọn lửa hồng đốt cháy.
Tiếng muỗi vo ve hát ca nhảy múa.Tiếng côn trùng ran ran bên cạnh. Có tiếng sột soạt của con thú hoang đói mồi.Tiếng chin chit của lũ chuột tinh ranh.
Có tiếng hú gọi đến như tiếng người. Đen thẫm. Mờ mờ ảo ảo ánh đén hắt sang ..

Hải Đường giật mình bừng tỉnh. Không gian rờn rợn. Chung quanh toàn những cây cao và bụi rậm. Đêm của lũ côn trùng ma quái. 
Đói cồn cào!
Hải Đường muốn nằm yên trong bụi cây này mãi. Mong được khép chặt đôi mắt, thiếp đi nhẹ nhàng và đừng bao giờ thức dậy  nữa. Muốn được bay bỗng lên rồi tan ra, biến vào hư không. Xin đừng đau đớn. Cô đau đớn nhiều rồi. Hải Đường muốn trốn chạy đi đâu đó thật xa cái xứ này. Nhưng trốn đi đâu bây giờ?
Rét run và đói. Hai tay ôm chặt lồng ngực, hơi thở yếu dần. Hải Đường trở mình bên bụi cây gai. Có vết đau trên lưng. Không! Nó nhói từ trái tim. Nắm nhánh cây gai đang đong đưa trước mặt, níu chặt, chập choạng. Có mùi mặn trên đôi tay.
Không còn nơi nào  có thể nương thân. Về thôi!
Lầm lũi  bước cao, bước thấp mò mẫm từng đoạn đường mòn, bước qua con suối lạnh Hải Đường tìm đường về nhà.
Bọn dế giun đang hát khúc hoan ca hay khúc bi ai bên kia bờ suối?

Rồi cũng đến được. Cổng nhà đây rồi! Cánh cửa màu xanh quen thuộc và cây trứng cá của Hải Đường mỗi chiều đứng đợi. Mà đợi gì nhỉ?
Bàn tay chạm vào cánh cửa, Hải Đường run lên bần bật, thân thể co rúm lại, bước chân không còn nhấc lên nổi nữa. Chờ  một lúc lâu, nghe trong nhà im vắng cô rón rén đi vào bằng lối bên hông nhà. Vừa đến sân nhìn thấy Mẹ ngồi trên ghế, nét mặt giận dữ đang chờ. Thân thể mãnh mai tội nghiệp đổ sụp xuống dưới chân Mẹ.

Không còn cảm giác để mà đau nữa.  Không còn đủ sức để van xin. Tê dại. Khù khờ. Có tiếng gió rin rít. Gãy đổ. Lào rào. Rền rĩ. Nước mắt cạn khô rồi. Miệng bỏng rát. Da thịt nham nhám mùi vỏ cây. Hải Đường lạnh!

Đã bao nhiêu lần trong đời sống bên ngoài gia đình. Đó là những đêm đi biểu diễn văn nghệ cùng với bạn bè thời đi học. Những lúc ấy Hải Đường chỉ có niềm vui.
Đêm nay cô cũng có một đêm bên ngoài ngôi nhà của mình. Bên ngoài đúng nghĩa của nó vì Hải Đường đang ngồi dựa gốc cây trứng cá trước nhà mình giữa đêm khuya.Tâm hồn khô khốc, trống rỗng, nhạt thếch. Đã khóc như một phản ứng tự nhiên nhưng không hiểu vì sao mình khóc. Chẳng ý thức được gì, không hiểu mình đang làm gì và chuyện gì đang xảy ra với mình. Sự trống rỗng đến ngạc nhiên.

Lại mơ!

Hoá thân thành con đom đóm nhỏ lập loè bay lên với các vì sao. Sao sáng quá khiến cô sợ hãi,
Mơ bay trên sân trường phủ đầy hoa phượng đỏ có những tà áo trắng phất phơ.
Mơ xoay tròn trên sân khấu với vũ khúc Vọng cố đô trong vai cô Công chúa mặc áo Hoàng bào.
Mơ mình ngồi bên giòng sông tuổi thơ, nước êm đềm cuốn đi chiếc lá khô vừa rơi xuống. Ba  chở đi trên chiếc Lambretta qua cầu Bạch Hổ chiều lộng gió thổi bay chiếc mũ rộng vành.
Mơ được Ba đưa vào Đài phát thanh Huế khi người còn làm việc trong ban văn nghệ .
 
Mơ! Cô mơ nhiều lắm.

Mơ cái êm êm của tuổi thơ bên giòng sông Hương. Mơ con chuồn chuồn ớt đỏ vụt bay trong khoảnh khắc hai ngón tay vừa chạm vào cái đuôi mềm mại, âm ấm của nó. Mơ con đường đất nhiều sỏi đá dẫn tôi đến trường tiểu học và thằng bạn mập xịt, kẻ thù  thời thơ ấu.  
( Xem ” Chuyến Tàu Tuổi Thơ” cùng tác giả)
Mơ tiếng chuồn chuồn chạm nước. Nhẹ nhàng như nụ hôn bất ngờ anh lướt nhẹ trên má.

Nhiều khuôn mặt lướt qua trong trí nhớ vội vàng. Nhòe nhoẹt. Rõ nét. Vui nhộn. Lặng lẽ. Hung tợn. Như có thể chạm được nhưng lại xa vời vợi.
Hải Đường mơ, mơ mãi trong giấc ngủ mê hoảng loạn. Hai tay bó gối. Lưng tựa vào thân cây.
Tiếng muỗi vo ve, tiếng chó sủa trong đêm vắng vẻ. Con đường khuya thỉnh thoảng có ánh đèn vụt qua.
Có tiếng xì xào xa xa. Tiếng chim non gọi mẹ. Thống thiết.
Có cánh tay choàng qua vai ôm chặt . Hơi ấm từ đâu đó sưởi ấm bờ vai gầy yếu của cô  vẫn còn đang trong mơ tuyệt vọng.
Có cái lay nhẹ bờ vai. Lờ mờ Hải Đường nhận ra một giọng nói quen thuộc. Có tiếng âm âm từ rừng núi dội về.
Có tiếng hỏi dồn. Cô bay lên. Nhè nhẹ. Từ từ. Chậm rãi. Hải Đường chạm vào mây. Mềm mại. Âm ấm.
Mây vuốt vào má. Có bàn tay đặt nhẹ lên môi. Có cánh tay dìu  đứng dậy. Lướt hay bay đi. Nhẹ tênh.
 
Hải Đường như vô cảm lúc đó. Bước chân bềnh bồng. Chệnh choạng.
Anh Thọ!
Hình như Hải Đường đang gọi tên ai đó.
Anh dìu cô về căn nhà nhỏ của mình.
Sáng hôm sau, cơn mê bừng tỉnh. Anh nói: “Bây giờ thì em quyết định được rồi đó, em phải tự chọn con đường mình đi, không ai ép buộc em được. Nhìn em như thế này anh cảm thấy uất ức lắm. Anh muốn đưa em thoát khỏi cuộc hôn nhân vô nghĩa này, anh sẽ bất chấp tất cả nếu em đồng ý”.
 
Anh an ủi, dỗ dành, thuyết phục, vỗ về Hải Đường  mãi. Có còn nơi đâu để cô về nữa?.
Cơn gió rin rít thổi qua mái lá. Có tiếng róc rách của con suối chảy qua ngang đây. Bản nhạc rừng líu lo.
Hải Đường  gật đầu đồng ý. Cô cũng chẳng cần gì khác nữa.
Sau này, khi hai vợ chồng tâm sự cùng nhau, Anh hay ôm đầu Hải Đường vào lòng, nói đùa: “Mẹ đã vô tình tặng cho anh món quà vô giá này”.
Một tuần sau Ủy ban xã cấp giấy công nhận kết hôn và cho hai người ở nhờ căn nhà nhỏ vắng chủ. Của hồi môn Hải Đường mang theo chẳng có gì nhiều. Ngoài áo quần, chỉ còn vài ba cuốn sách và những kỷ vật thời học trò.
Hai vợ chồng sống với nhau thật hạnh phúc. Anh rất yêu thương Hải Đường, lo lắng cho cô đủ điều, từ những việc nhỏ nhặt nhất trong gia đình. Kinh tế khó khăn  nhưng không lấy đó làm buồn phiền. Vợ chồng cô chăm lo hạnh phúc gia đình. Quyết định không có con vội trong lúc này. 
Cuộc sống tuy nghèo nhưng thơ mộng. Hai người  thường hay ngồi bên nhau hằng giờ mỗi đêm, chồng đàn vợ hát những tình khúc xưa thật say sưa. Khi chưa vướng bận chuyện con cái, hai người thường hay xuống suối vào những đêm trăng sáng. Đêm trăng bên giòng suối vắng thật huyền ảo, ánh trăng tràn ngập khắp nơi. Trăng như rơi vỡ trên giòng nước.
Hải Đường và anh đi dọc theo bờ suối hoặc ngồi trên tảng đá cùng nhau câu cá. Thường thì anh cầm cần câu còn cô cầm đèn, ngồi giữ chiếc lồng đựng cá và nhai bắp rang cho đỡ buồn ngủ. Nhưng cũng có đôi lúc cô thiếp đi lúc nào không hay. Đến khi anh gọi dậy, cùng nhau trở về trời cũng bắt đầu sáng.
Cuộc sống vợ chồng khi mới lấy nhau thật lãng mạn dù muôn vàn khó khăn phải đối mặt hằng ngày.
Năm 1980 Hải Đường sinh con trai đầu lòng. Cuộc sống bây giờ khó khăn hơn nhiều, với đồng lương của anh làm sao nuôi được vợ con nên anh quyết định xin nghỉ việc ở Uỷ ban xã để ra ngoài làm ăn.
Cuộc sống vất vả hơn nhiều. Anh bươn chãi khắp nơi để kiếm sống.Ở thời buổi này, kiến thức, chữ nghĩa anh học được chẳng giúp gì được cho cuộc sống gia đình.

Vào một buổi sáng thàng hai 1982, đang lui cui làm việc ở nhà thì em gái Hải Đường chạy vào báo tin Ba bị tai nạn bên rẫy. Cô tức tốc chạy băng qua, đến nơi thì Ba đã trút hơi thở cuối cùng. Đau đớn chồng thêm đau đớn, vành khăn tang đầu tiên trong đời lại dành cho người cô yêu thương và kính trọng nhất. Người luôn mong muốn cho cuộc đời con gái được sung sướng, hạnh phúc nhưng lại bất lực nhìn đứa con gái yêu thương của mình chịu hết đau khổ này đến đau khổ khác. Không đủ sức dìu dắt để con được vào đời may mắn hơn.
Hải Đường mồ côi Ba!

Đứa con trai thứ hai ra đời  năm 1983 thì tháng ngày vất vả  bắt đầu từ đây. Anh Thọ tham gia đoàn người đi tìm trầm. Mỗi chuyến đi của anh lặn lội trong rừng sâu nước độc từ nửa tháng đến một tháng đã đày ải thân xác anh.
Căn nhà nhỏ bên cạnh nhà thờ  được Ủy Ban Xã cho ở tạm thấp lè tè và nóng bức vô cùng. Lấy nhau đã năm năm mà tài sản gia đình của họ chẳng có gì. Thậm chí cái quạt máy cho con mát trong những ngày hè cũng không có. Hải Đường phải xin vào làm kế toán ở ủy ban xã với đồng lương èo uột nhưng vẫn cố gắng sống sao cho vừa đủ. Điều này có nghĩa bản thân cô phải biết tính toán và tiết kiệm một cách tối đa. Một đồng quà cho con cũng phải suy nghĩ.
Anh Thọ đi núi vất vả  nhưng không kiếm được bao nhiêu. Lúc trầm khan hiếm thì lại không được gì. Lúc tìm được trầm thì hàng không ai mua phải bán rẻ. Phải nói là số phận gia đình Hải Đường thật bất hạnh. Người ta cũng như mình nhưng lại gặp may mắn còn anh thì xui rủi cứ đeo đuổi mãi .
Cuộc sống khốn khó nhưng hạnh phúc trôi đều theo năm tháng
Và kỷ niệm nhẫn tâm một lần ùa về  thật bất ngờ..

Một buổi chiều, Hải Đường thong thả đạp xe về nhà sau giờ làm việc. Hôm đó anh Thọ không đi núi, thay cô lo cho hai con nên cô cũng không vội vã lắm. Tự cho phép mình hưởng thụ một chút gió chiều, nắng nhạt, cái cảm giác mà lâu lắm rồi có không có được.
Hải Đường nhớ hôm ấy tóc bay sau ngược gió vì cô không kẹp lên. Một chút lãng mạn sau bao tháng năm buồn, hôm nay cô muốn được hưởng một tí.

Khi đạp xe về gần ngôi nhà cũ, quán cà phê Hải Đường ngày trước. Cô giật mình vì thoáng thấy một dáng người cúi đầu lầm lũi bước đi bên kia đường. Dáng ấy quen thuộc đến mức Hải Đường không thể lầm lẫn được. Hai tay cô run run trên ghi đông xe đạp, toàn thân cứng đờ. Chiếc xe vẫn từ từ tiến lên phía trước một cách nặng nề.
Khi đến trước quán cà phê cũ, người ấy dừng lại và nhìn vào trong rất lâu. Hải Đường cũng dừng lại bởi một sức hút vô hình từ phía bên kia đường. Cô ngộp thở, tai ù đi, ran ran tiếng gió.
 
Hải Đường bước ra khỏi xe và nhìn chằm chằm vào con người ấy. Bất chợt người ấy quay lại nhìn cô.
Người bên này, người bên kia đường bất ngờ hoà tan trong  ánh mắt. Hai chân Hải Đường muốn quỵ xuống. Đôi mắt của anh. Đôi mắt u buồn kỳ lạ, xa xăm nhưng lại có ngọn lửa bùng cháy bên trong.
Trời ơi! anh đó sao? Hơn mười năm rồi, anh gầy và đen hơn nhiều. Dáng người khắc khổ. Anh nhìn cô không hề chớp mắt. Hải Đường cũng vậy. Nước mắt cô chảy dài  xuống má tự nhiên không kìm chế được. Hải Đường muốn chạy ào qua với anh nhưng hai chân chôn chặt xuống lề đường. Không được! Không thể được. Cô nhủ thầm như vậy.
Người bên này, người bên kia đường chỉ im lặng nhìn nhau  trong chốc lát, không ai nói một lời nào. Khi anh quay mặt bước đi cũng là lúc Hải Đường ngồi lên yên xe, đạp về nhà. Cô cám ơn anh đã kìm chế được trong giây phút đó. Nếu anh băng qua con đường rồi đứng trước mặt cô liệu điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Hải Đường cũng không biết nữa. Trong khoảnh khắc xảy ra chớp nhoáng ấy, cô tin anh vẫn còn yêu mình. Đôi mắt không giấu được điều gì.
Về đến nhà chồng con  ra đón, hai đứa con bụ bẫm dễ thương ôm lấy Hải Đường. Nhờ vậy cô đã che giấu được cảm xúc bất ngờ với chồng lúc đó. Hải Đường đã quyết định đoạn tuyệt với mối tình đầu từ lâu. Hơn mười năm, đôi lúc có nhớ về anh nhưng với tình yêu chồng con dành cho cô quá lớn không cho phép có những giây phút yếu lòng. Cũng bởi Hải Đường may mắn chưa gặp lại lần nào kể từ lúc anh ra đi. Nhưng chiều nay, gặp nhau trong hoàn cảnh như vậy lòng cô đau xót lắm. Thà anh cứ cúi đầu, đừng nhìn để cô không mang nặng đôi mắt ấy, có lẽ sẽ nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Hải Đường biết phải làm sao bây giờ. Đã là gái có chồng,  sinh được hai cậu con trai, trái tim  mềm yếu vẫn chưa quên được anh sao?
Thật ra  Hải Đường đã tự dối lòng. Cô nghĩ không chỉ riêng mình mà với bất cứ người phụ nữ nào đều không thể quên được tình yêu cũ. Nếu có thể quên, có nghĩa là họ chưa bao giờ yêu và được yêu. Người phụ nữ luôn yếu mềm. Chỉ có thể chôn vùi nó vào trong trái tim để làm tròn bổn phận người vợ, người mẹ. Coi đó như là một kỷ niệm thiêng liêng. Một tượng đài của ký ức.
Hải Đường cũng chỉ là một phụ nữ yếu đuối.
 Mối tình đầu luôn có một chỗ đứng trong trái tim. Dù đã có gia đình nhưng cô vẫn dành riêng cho mối tình ấy một  giang sơn nhỏ bé trong tâm hồn. Nó mong manh, kỳ ảo vô cùng.
 Sáng hôm sau nhìn thấy Hải Đường xanh xao mệt mỏi, anh Thọ đến bên cạnh, nhẹ nhàng:
– Em đau rồi, hôm nay xin nghỉ một ngày cho khỏe. Để việc nhà anh lo. Em cứ nằm nghỉ.
– Dạ không anh, em mệt một tí thôi, đi làm được mà.
Nói với anh như vậy nhưng Hải Đường rất mệt do cả đêm qua thao thức, nằm không dám trở mình sợ anh lo lắng. Cô hối hận và thấy thương anh. Trong một phút yếu lòng gặp lại anh, Hải Đường trở thành người phụ nữ phản bội chồng mình dù chỉ trong tư tưởng.

 Đôi khi nhiều chuyện cứ tưởng đơn giản nhưng không phải vậy. Ngỡ đã quên được anh rồi, nhưng khi bắt gặp ánh mắt u buồn của anh buổi chiều hôm ấy lòng cô lại vấn vương, ray rứt. Nhiều năm sau này cũng vậy, cho đến ngày chồng qua đời, trái tim héo khô và thân xác gầy mòn sống đơn độc một mình nuôi con, Hải Đường mới thật sự quên được tất cả. Cô quên hết những con người đã từng yêu thương mình. Quên hết. Không có ai, không còn ai trong tâm trí cô nữa. Bởi một điều đơn giản cô không còn thời gian để tiếc nhớ, để mộng mơ, để oán trách.  

Hai con khỏe mạnh, ít đau ốm nên Hải Đường cũng bớt được nỗi lo.Có lẽ ông trời thương cảm hoàn cảnh gia đình cô nên ban cho hạnh phúc như vậy. Niềm hạnh phúc lớn lao nhất là mỗi chiều đi làm về được bồng ẳm, ôm chặt hai con vào lòng. Buổi tối sau khi dỗ hai con ngủ cô tranh thủ làm sổ sách kế toán cho hoàn chỉnh. Những ngày anh Thọ không đi núi sẽ ngồi ôm đàn hát khẽ cho cô nghe hoặc gíup cô cộng những dãy số để làm quyết toán.
Những đêm trăng đẹp, cả gia đình ra ngồi bên bờ suối ngắm trăng lên. Ánh trăng xuyên qua những tán cây hai bên bờ suối trông thật lãng mạn. Trăng rơi xuống mặt nước lững lờ trôi, trăng vỡ từng mảnh nhỏ trên lưng phiến đá. Có khi trăng lại cười với gia đình họ.  Hai con trai tung tăng bên bờ suối, còn vợ chồng Hải Đường ngồi cạnh nhau hát cho nhau nghe những bản tình ca . Ôi, thời gian ấy sao mà đẹp quá!
Có những buổi sáng anh dậy thật sớm chuẩn bị bữa ăn sáng cho công việc đi kiếm củi cách đó gần 10 cây số. Cực nhọc, vất vả là vậy nhưng lúc nào anh cũng tươi cười, ngọt ngào, nhẹ nhàng với Hải Đường và đùa giỡn với hai con.  Trăm ngàn khó nhọc nhưng gia đình cô rất hạnh phúc, đầm ấm, chỉ mong cuộc sống mãi bình yên.
 
Đầu năm 1993 gia đình Hải Đường phải bỏ cái vùng đất oan nghiệt ấy ra đi. Đến vùng đất mới xa lạ ở vùng rừng núi cao nguyên để kiếm sống. Phải vay mượn thêm để có tiền cất tạm nhà mới. Anh Thọ không còn đi núi nữa vì sức khỏe rất kém. Hải Đường mở quán nước giải khát nhỏ trước nhà và anh Thọ nhận dạy kèm Toán, Anh văn cho học sinh cuối cấp nên cũng có thêm thu nhập. Tuy vậy, quần quật quanh năm suốt tháng mà cũng không trả hết nợ. Túng thiếu đeo đuổi gia đình cô mãi.

Năm 1994 anh Thọ phát bệnh nặng, phải vào bệnh viện để điều trị nhiều đợt do xuất huyết dạ dày. Sức khoẻ anh càng ngày càng sa sút. Anh xanh xao, gầy yếu nhưng vẫn phải dạy học để có thêm thu nhập cho gia đình. Hải Đường làm mọi công việc để đủ tiền nuôi hai con ăn học và thuốc thang cho anh. May mắn nhất là hai đứa con  rất ngoan hiền, biết phụ giúp đỡ đần công việc trong nhà nên cô cũng được đôi phần an ủi, yên tâm.
Cuối năm 1994 sức khỏe anh đã kiệt quệ. Thương cho hoàn cảnh, mến anh và thích cách dạy của anh nên học trò vẫn đến học rất đông. Anh ngồi kê gối dựa vào thành giường giảng bài, còn học trò ngồi chung quanh ghi chép. Khi thấy anh mệt thì thay phiên nhau quạt, xoa bóp cho anh, lại còn nấu từ nhà mang đến cho anh những món ăn bồi dưỡng sức khỏe. Cứ như vậy anh cố gắng dạy cho đến gần ngày ra đi.

Anh Thọ mất vào một buổi tối giữa tháng giêng âm lịch tại bệnh viện tỉnh. Trước đó vài giờ, khi anh đang còn nhận máu từ những đứa học trò hiến cho anh thì vị bác sĩ trực tiếp điều trị cho anh đã gọi Hải Đường ra ngoài hành lang hỏi: “Chị đã có con trai chưa?”  Cô gật đầu trả lời “Dạ, tôi được hai cháu trai”. Bác sĩ giọng nhỏ lại: “Vậy là tốt rồi. Bệnh anh nặng lắm, bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối, không qua được đâu. Có lẽ một vài hôm nữa thôi”…
Hải Đường gục xuống hành lang bệnh viện, ôm mặt khóc.
Trở vào phòng ngồi bên cạnh nhìn anh thoi thóp thở, cô cứ ôm lấy đôi chân gầy guộc, xanh xao của anh như muốn níu giữ anh ở lại với mình, với hai con. Hải Đường xin anh đừng bỏ rơi cô và hai con mà đi. Hải Đường yếu đuối quá, cần anh che chở biết bao. Hai con còn thơ dại quá, cần anh nuôi nấng, dạy dỗ mới khôn lớn nên người.
 
Bón cho anh từng muỗng sữa rất nhỏ mà anh vẫn nuốt thật khó khăn. Nước mắt anh chảy dài trên gối và nước mắt Hải Đường thì rơi từng giọt trên ngực anh. Rồi anh sờ soạng, cầm lấy hai bàn tay cô nắm  chặt như muốn dồn vào đó tất cả sức lực còn lại của mình. Giọng anh lạc hẳn đi:  “Em yếu đuối quá! Anh sợ em nuôi con không nổi. Tội nghiệp cho em.” Rồi bàn tay anh lơi dần, mắt khép kín và đôi chân cũng lạnh dần.
Anh ra đi thật lạnh lùng, thật vội vã không chút tiếc thương, mặc cho Hải Đường và hai con đã ghì chặt, đã kêu tên anh biết bao lần.

Hải Đường trở thành  góa phụ năm 38 tuổi…
Đám tang anh thật lặng lẽ. Bà con không có nhiều. Đông nhất là học trò của anh và hàng xóm  tiễn đưa đến nơi cuối cùng.
Sau đám tang anh một tuần Hải Đường lại phải lao vào công việc. Đau đớn và thương tiếc chồng cũng đành nén lòng để kiếm đồng tiền nuôi hai con và trả nợ.  Cuộc đời cơ cực cứ vậy mà lôi cô đi. Con trai lớn tội nghiệp  phải nghỉ học để đi học nghề, đau lòng lắm nhưng đành phải vậy thôi. Làm sao một mình Hải Đường có thể gánh vác được để cho con tiếp tục đến trường. Cô thật sự bất lực để kiếm đồng tiền nuôi con. Nước mắt chỉ biết nuốt vào trong nhìn con mới mười lăm tuổi phải vào đời kiếm miếng cơm.
Từ lúc ấy Hải Đường không còn để ý gì về mọi chuyện chung quanh nữa. Công việc bắt đầu từ sáng sớm và kết thúc vào 9 giờ tối hàng ngày. Ban ngày cô nấu chè bán cùng các loại nước giải khát và đồ tạp hóa. Hàng gì bán được cô cũng gom góp mua về bán. Đêm đến làm nhiều loại bánh để sáng sớm hôm sau đạp xe đi bỏ khắp nơi.
Khổ cực đến nỗi Hải Đường không còn nhớ chuyện gì đã xảy ra trong cuộc đời mình hơn hai mươi năm qua. Không có thời gian để nhớ về thân phận mình, để nhớ về những ngày xưa rằng cô đã có một thời đi học vui đùa cùng các bạn, đã có một tình yêu đầu đời thật đẹp. Thậm chí cô cũng quên luôn mình đã từng có một gia đình êm ấm, hạnh phúc. Quên luôn những khổ đau đã trải qua, vì chính thời gian này là thời kỳ bi đát nhất, khó khăn nhất trong đời cô.
 
Một điều kỳ lạ nhưng may mắn đã xảy ra. Vào đúng ngày mãn tang anh Thọ, mới sáng sớm, bất ngờ cô em chồng đến thăm, chạy ào vào nhà:
 
– Chị Hải Đường ơi! Em nằm mơ thấy anh Thọ về. Khuôn mặt anh buồn lắm. Anh vừa khóc, vừa nói với em đừng đòi lại số vàng đã cho anh chị mượn. Anh xin em cho chị vì biết chị trả không nổi. Sáng nay em đã ra mộ thắp hương đồng ý rồi. Thôi chị đừng lo nữa, em cho chị để nuôi cháu. Chị yên tâm nhé!
 
Hải Đường mừng rỡ đến nghẹn ngào không nói được lời cảm ơn cô em chồng. Chỉ biết ôm chặt lấy cô ấy mà khóc nức nở.
Vậy là  bớt đi một nỗi lo. Hải Đường biết ơn vô cùng. Tình cảm và sự cưu mang của cô em chồng Hải Đường nhớ mãi mãi.
 
*****
 Thời gian vun vút trôi nhanh. Con trai chị bây giờ đã khôn lớn, bắt đầu kiếm được tiền giúp đỡ mẹ và em. Hải Đường  sung sướng khi con  đem đồng tiền đầu đời của nó kiếm được đưa cho mình. “Con đã trưởng thành rồi, Mẹ mừng lắm!”. Chị xúc động nói với con như vậy. Con trai đã lớn, chững chạc, hiền lành và giống ba như đúc. Hải Đường không phải làm công việc của người đàn ông nữa, không phải leo lên mái nhà để lợp lại tấm tôn tốc mái. Đóng những cây đinh để treo hàng hóa hay cầm cái cưa xẻ tấm ván làm ghế ngồi. Chị sung sướng nhìn con đóng cái bàn, cái ghế, sửa lại hàng rào… Làm những việc mà trước đây chị phải gánh vác thay chồng.
Bây giờ nhà chị thực sự đã có người đàn ông rồi.

Vất vả để nuôi con, thân xác héo hon, nhan sắc cũng úa tàn theo. Hải Đường đóng chặt trái tim mình như sợ ai đó biết được nó đang cô đơn mà gõ cửa. Chị sống an phận, nén buồn tủi với  tiếng thở dài.

Nhiều người đàn ông nhìn ngó, đánh tiếng. Trong số họ cũng có  người không vướng bận gia đình, kinh tế khá giả nhưng chi không để tâm. Lòng đã lạnh nguội rồi. Chị đã có hai con trai và đó là chính cuộc đời của chị. Con  ngày càng khôn lớn và chị cảm thấy mình được bảo vệ, chở che. Còn gì hơn nữa. Ấm lòng, hạnh phúc trong cảnh mẹ góa con côi chị luôn cầu mong sao quãng đời còn lại được bình yên, may mắn.

Cuộc sống cứ trôi đều. Cuốn Hải Đường theo với những tháng ngày cực nhọc, buồn tủi.  Chị không còn nhớ ai và cũng không muốn nhớ về ai. Thật ra cũng chẳng còn ai để cho chị nhớ về. Hải Đường quên hết, sống khép kín trong vỏ ốc cô đơn. Chị biết chẳng ai còn nhớ đến mình. Bạn bè ư ?  Một thời đã xa rồi. Tình yêu ư? Trái tim  héo khô rồi. Nơi vùng đất xa xôi cao nguyên này chỉ còn lại mình chị và hai đứa con tội nghiệp sống trong nghèo khổ mà thôi. Một thời nhan sắc đã qua, cái khổ tàn phá dung nhan chị. Một người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh.

Có những chiều ngồi giặt áo quần bên giòng kênh nhìn nước chảy cuồn cuộn, Hải Đường chợt nhớ đến con suối  năm xưa. Chị nhớ những đêm trăng cùng chồng ngồi trên tảng đá to nhìn trăng lên. Hải Đường nhìn xuống giòng kênh ấy và nhìn  thấy chồng mình ngồi trầm tư nhìn ánh trăng trên giòng nước chảy lững lờ bên giòng suối năm xưa. Nhìn thấy từng mảnh trăng vỡ vụn dưới những bọt nước bên khe đá.

Con kênh đưa giòng nước chảy về đâu? Có đem theo được nỗi lòng Hải Đường về lại chốn cũ. Nơi những đêm trăng chị ngồi bên chồng, tựa đầu vào vai anh nghe hạnh phúc trào dâng.
Có mang dùm tâm hồn nhỏ bé tội nghiệp của chị về đâu đó xa xa, nơi ấy có anh, mối tình đầu vụng dại. Giòng kênh nước chảy ơi! Nước mắt chị lại hoà xuống dòng kênh, trôi đi.
 
Có những đêm mệt lả người Hải Đường ngủ  thiếp đi. Trong mơ màng giấc ngủ hiện về những ngày tươi đẹp hiếm hoi của đời mình.

Chị mơ thấy Ba chở đến Đài phát thanh Huế, nơi Ba vẫn thường làm việc. Cô bé năm tuổi đứng đằng trước hai tay vịn vào ghi đông. Ba ngồi trên xe hai đầu gối giữ chặt, vừa chạy vừa cúi xuống hôn lên tóc cô con gái bé nhỏ .
Chị mơ đang chơi cờ cá ngựa cùng chồng. Khi  bị thua, anh vừa nhẹ nhàng vuốt mũi vừa nheo mắt chọc chị. Tức quá,chị khóc không thèm chơi mặc cho anh năn nỉ.
Chị mơ những đêm trăng lẽo đẽo theo anh đi dọc con suối, tay cầm giỏ đựng cá, hai vợ chồng vừa đi vừa hát nho nhỏ.
Chị mơ về mối tình đầu. Nụ cười nửa miệng và đôi mắt nhìn nghiêng của anh. Mơ thấy anh băng nhanh qua hành lang lớp học, nghiêng đầu nhìn. Bóng anh mờ dần dưới sân trường rồi mất hút đằng sau cánh cổng.
Chị mơ cùng bạn bè tung tăng ngoài cửa lớp, mơ điệu múa  Vọng cố đô với áo Hoàng bào rực rỡ.
.
Chị mơ nhiều lắm để rồi khi tỉnh giấc, những giọt nước mắt lăn dài trên má.
Và như vậy Hải Đường cứ mơ, mơ và mơ. Những giấc mơ an ủi chị, đem lại hơi thở cuộc sống  sau những giờ mệt nhọc. Giấc mơ cho chị thêm nghị lực, dìu chị đi như đứa bé con mới lớn chập chững những bước vụng về.
Hải Đường mơ nhiều lắm. Vì chỉ có mơ mới đem lại cho chị niềm hạnh phúc mà thôi, dù biết rằng đó là hạnh phúc trong mơ.

NGUYỄN THỊ NGỌC LAN