những bài lục bát trích trong nhật ký 1

1.
buổi khuya bồng bế nhau về
một nùi chỉ rối lăn kề tai ương
vui chi gà gáy đoạn trường
đành im giấc  mọn  mùa sương tan rồi.

2.
tôi trôi. trơn tuột. xám nhòe
suối ơi đừng chảy đam mê ra rừng
đầu truông cuối bãi ngập ngừng
non ơi tóc thả trên nguồn bay chưa

Trần Anh

Nước Mắt Trước Cơn Mưa, Jan Wollett 1/2

Screen Shot 2013-04-13 at 5.54.57 PMJan_Wollett

CHUYẾN BAY CUỐI CÙNG TỪ ĐÀ NẴNG

JAN WOLLETT

(Nữ Trưởng Tiếp Viên Hàng Không)

“Tại sao họ bắn? Chúng tôi là những người bạn tốt”

Ngày 29/3/1975 đáng lẽ nhân viên khách sạn Sài Gòn phải đánh thức tôi dậy lúc 5 giờ sáng . Tôi là tiếp viên trưởng của một chuyến bay khứ hồi ra Đà Nẵng . Nhưng 5 giờ sáng hôm ấy không có ai đánh thức tôi dậy. Khoảng 6 giờ sáng mới có điện thoại của Val Witherspool, một nữ tiếp viên khác. Cô ấy bảo: “Chị xuống ngay phòng đợi khách sạn trong vòng 5 phút.” Khoác bộ đồng phục, tôi lập tức chạy xuống cầu thang. Ông Ed Daly và Val đang chờ tôi ở dưới nhà. Bruce Dunning, làm việc cho hãng tin CBS cũng đã có mặt. Tôi bảo Bruce: “Bọn này phải ra Đà Nẵng”. Anh ta nói: ’’Có tin thành phố này rơi vào tay Bắc Việt rồi” Tôi nói: “Nếu thành phố này đã mất thì chúng tôi đâu có đi” Bruce yêu cầu được đi theo chuyến bay. Ông Daly bảo: “Muốn đi thì đi. Có mặt ở phi trường Tân Sơn Nhất trong vòng một giờ đồng hồ nữa.”

Bruce tập họp Mike Marriotte, chuyên viên quay phim và Mai Văn Đức, chuyên viên âm thanh, rồi chở họ ra phi trường. Chúng tôi bước lên chiếc World Airway Boeing 727. Là tiếp viên trưởng, tôi được thông báo là sẽ có một hay hai tiếp viên người Việt đi thông dịch, sẽ có binh sĩ bảo vệ để đương đầu với đám đông. Hôm trước, chúng tôi đã gặp khó khăn ở Đà Nẵng, và chúng tôi cũng sẽ phải mang theo nước ngọt, nước cam, bánh mì săng-uých cho hành khách.

Vừa vào phi cơ, tôi nói với Val và Atsako Okuka, một nữ tiếp viên khác: “Các bạn hãy xem xét ngay mọi thứ.” Chúng tôi thấy không có đồ ăn thức uống. Đó là dấu hiệu đầu tiên cho biết một cái gì bất thường đang xẩy ra…Không nước ngọt, không nước  cam, không bánh mì, không đồ ăn thức uống trên phi cơ. Cũng không có tiếp viên người Việt, cũng chẳng có binh sĩ bảo vệ nào hết.

Chúng tôi thảo luận xem có nên bay ra hay không. Lúc ấy Daly và phi hành đoàn đã lên phi cơ rồi. Dunning và toán làm tin CBS cũng vậy. Hai nhân viên cơ quan  USAID leo lên. Họ trấn an chúng tôi là mọi việc ở Đà Nẵng cũng tốt thôi, không cần gì đến binh sĩ bảo vệ Tiếp tục đọc

THƠ VIẾT TRÊN CẦU THẠCH HÃN

Tặng anh Dương Kiền

Về đây, thương đất, thương trời
Thương mây cuối dốc, thương đồi xa xa
Thương từng ngọn cỏ, cây hoa
Thương vuông cát trắng đã pha máu hồng

Về đây, thương cả ba sông
Sông Chia, sông Hận, sông dòng Nghĩa Trang*
Không mồ, nên kiếp chưa tan
Hồn soi bóng nước, lang thang mây trời

Đò xuôi, xin nhẹ, đò ơi **
Đáy sông còn đó bạn tôi đang nằm

Về đây, trời lạnh căm căm
Thương em, thương mẹ tháng năm quê nghèo
Giã từ còn mãi trông theo
Lệ nhòa gởi lại, lưng đèo anh qua./.

Chu Trầm Nguyên Minh

………..
* Sông Chia: sông Bến Hải, sông Hận: sông Mỹ Chánh
Sông Nghĩa Trang: sông Thạch Hãn
** Ý thơ Lê Bá Dương

Quảng Trị 12/10/2012

TUY HÒA NGÀY TRỞ LẠI

Về lại sông Ba
Ngâm mình giữa dòng nước mát
Sau bốn mươi năm tình đất tình người
Cầu Đà Rằng muôn đời vẫn thế
Những nhịp cầu đen buồn bã * trong tôi

Về lại sông Ba
Những bạn thân xưa vẫn còn đâu đó
Trên bến xe đời giục giã của ngày xưa
Một sớm tinh mơ
Ta nhìn lên trên đỉnh Chớp Chài
Mây vẫn bay bay và núi vẫn xanh

Về lại sông Ba
Còn đâu dấu chân ngày cũ
Đứng trên Tháp Nhạn một mình
Hướng về Hiếu Xương lòng miên man nỗi nhớ
Ngôi trường em trong ký ức của tôi!

Về lại sông Ba
Ngâm mình giữa dòng nước mát
Sau bốn mươi năm tình đất tình người
Tuy Hòa ơi! Và Phú Yên ơi!
Một thành phố mùa xuân
Thành phố của tình yêu và hiện đại
Bỗng thấy lòng mình choáng ngợp
Trong một sớm tôi về

Huỳnh Hữu Võ

(*)Thơ Phạm Cao Hoàng

NHỮNG MÙA NẮNG NHA TRANG

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

nhatrang9

Nếu tôi là họa sĩ, có lẽ những giọt nước mắt xa Nha Trang sẽ được vẽ bằng một mầu sắc nào đó rất lung linh trong một bức tranh mùa nắng, có đôi mắt to của một cô bé 16 tuổi đựng suốt năm tháng ấu thơ dạt dào tiếng sóng, một ngày con sóng bật ra khỏi khóe mắt thành những hạt lệ, nên nó sẽ là một mầu rất mặn biển, để người xem tranh biết được nỗi chia lìa đó đã cứa xót lòng tôi đến thế nào.

Tôi không là họa sĩ, cũng không là một tài năng cụ thể nào đó để có thể thưa thốt cùng người một cách diễm lệ hình ảnh 16 mùa nắng Nha Trang, Nha Trang nhi đồng, Nha Trang dậy thì, và, Nha Trang khói sương giật lùi sau chuyến xe lửa đang chở tia nhìn nuối buồn đau của tôi ngày tôi bị gỡ đi cái núm gió nắng mặn mòi ấy. Thế nên tôi cứ khắc khoải khi đêm về thốt nghe như có tiếng tầu lửa vang bên ngoài cửa sổ. Thế nên tôi nghĩ mình nợ Nha Trang một món nợ ân tình. Tôi nghĩ, vâng, tôi nghĩ nếu cho tôi trở lại mười sáu năm đầu đời để lại dung dăng dung dẻ với Nha Trang, thì có lẽ tôi sẽ biết nạp một cách tận tình hơn hơi thở phập phồng của phố biển, để bây giờ có thể viết về nó một cách tròn đầy hơn, tha thiết hơn Tiếp tục đọc

Mấy thuở ngư tiều

Ôi khuất nhục một đời khuất nhục
Rượu nhàn sinh ta cứ uống cầm hơi
Này con chim vắt vẽo tít lưng trời
Mày cứ hót, như ta từng hót
Đời nhìn ta, ta nhìn đời khinh bạc
Thế dại gì mà chối cuộc du sinh
Những kẻ quanh ta một lũ dị hình
Nào, ta hót đến tận cùng tân khổ
Hót hụt hơi qua trùng trùng cổ mộ
Cho lửa nguồn rực đỏ cả thiên sơn
Ừ một hôm ta bỏ phố lên rừng
Tay cầm búa vung đau từng nhát búa
Máu phụt đỏ rịn ra từ mạch gỗ
Ta hãi hùng ôm mặt khóc rưng rưng
Ta lại về ngồi câu đú câu lươn
Đú đẽn nào đâu – Chỉ thấy một trời buồn
Ta ngồi thở, tưởng chừng như đất thở
Lớp lớp vĩ nhân cứ nhìn ta xớ rớ
Ta mỉm cười…
Ngoắc gió mặc thuyền trôi.

Lê Sa

T.Tâm.Ma nương – một chiều bên chén rượu quê cùng Tư Rết.

KHUYA QUA ĐƯỜNG THỦ KHOA HUÂN

Đêm thưa xe cộ vắng người
Đèn hiu bóng nhạt đường về một tôi
Nhà người đâu quá xa xôi
Tưởng gần mà lại mù khơi lối nào
Biết tình không có ngày sau
Nên còn nửa trái tim đau để buồn
Mưa gầy gió muộn trăng suông
Vành treo giữa tháng ngậm sương khuya đầy
Bóng im gót đổ hàng cây
Nhớ em về dỗ cơn say cuối ngày

Mai Việt
16/3/2007

THÁNG TƯ ĐEN SẮP VỀ, BA LẠI VIẾT CHO CON

Chu Thụy Nguyên

bangtotnghiep

Tháng tư lại đến với ba, hay dù đã đi qua rồi, tháng tư với cha con mình vẫn mãi là đầu câu chuyện.Một câu chuyện nghiệt ngã đau lòng. Cũng chính vì cái tháng tư quái ác đó, mà ba và biết bao nhiêu chiến hữu của ba đã phải nghẹn ngào bước vào những trại tù tập trung dọc dài đất nước. Cũng chính cái tháng tư đen tối đó mà triệu triệu người Việt Nam phải lên ghềnh xuống biển, vượt biên giới, phải chết phơi lưng giữa bờ giữa bụi như những kẻ vô danh, chỉ vì hai chữ TỰ DO.

Tháng tư là cái tháng mà ba đã non dạ thưa với bà nội con, là ba chỉ đi “học tập” có 10 ngày thôi, rồi về, nội đừng khóc.Lúc đó thật sự ba nửa mừng lại nửa lo. Mừng là vì nếu thật sự 10 ngày như họ nói, chỉ cái loáng qua thôi ba sẽ về với nội, với mẹ, và với các con. Còn lo là vì thế hệ ba đã được đào tạo khá kỹ lưởng và nhân bản. Hơn nữa, lúc trên chiến tuyến ba cũng biết rõ kẻ thù của ba là ai, dã tâm của họ đã gieo rắc cho dân tộc cùng máu đỏ da vàng với họ những tội ác như thế nào. Hơn nữa những gì ba đã được xem qua cuốn phim nói về những ngày cải cách ruộng đất ở miền bắc ” Chúng Tôi Muốn Sống ” hay những gì ba từng đọc trong ” The Gulag Archipelago ” ( Quần Đảo Ngục Tù ) của Alexandr Isayevich Solzhenitsyn những ngày gần mất nước, đã làm ba phải ít nhiều ngờ vực, ít nhiều suy nghĩ về những chuổi ngày sẽ bị tù rạc, đày ải trước mắt Tiếp tục đọc

HỒNG HẢI

Bách niên giai ngẫu tựa sông dài
Cang lệ lưu dòng bất tận nhai
Phong vị thăng hoa khi sóng dữ
Thủy bào đắm nguyệt lúc triều sai
Con thuyền định mệnh tình neo đậu
Tấm ván tào khang nghĩa hậu lai
Đảo ngọc sánh đôi bên hải giác
Thái dương soi bóng đón ban mai.

Bạch Ngọc Phước
Sandefjord 19.03.2013

MỘT TIẾNG ĐỒNG HỒ TRƯỚC KHI LÊN ĐƯỜNG HÀNH QUÂN

Khi tao đi lấy khẩu phần
Mầy đi mua rượu đế Nùng cho tao
Chúng mình nhậu để trừ hao
Bảy ngày sắp đến  nghêu ngao trong rừng
Mùa này gió núi mưa bưng
Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan
Mùa này gió bụi mưa ngàn
Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà
Những thằng lính trẻ hào hoa
Lưu đày trong cõi rừng già núi xanh
Lao mình vào cuộc phân tranh
Tiếc thương xương máu sinh thành được ư.

Nguyễn Bắc Sơn

Bài thơ này được trích trong CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ TÔI ,( tập thơ được phát hành năm 1972  đã gây nên một tiếng vang lớn trong lòng độc giả). Thư Ấn quán tái bản tại Hoa Kỳ năm 2005. Tác giả giữ bản quyền.