HƯƠNG ĐÊM

Người thức suốt với đêm khuya màu trắng
Căn phòng im như ngực biển đang chờ
Biển nổi sóng cho một đời tĩnh lặng
Tôi một đời cứ ngỡ giữa cơn mơ

Cám ơn em đã tới làm hoa cỏ
Để mùa thu vàng rực tháng ngày xa
Ngọn đèn ấm giọt mưa lùa theo gió
Để buồn vui đậm nhạt bước chân qua

Chiếc giường rộng, gối vương vài sợi tóc
Sợi nào dài thơm suốt những mùa xưa
Còn sợi ngắn chẻ làm đôi tiếng khóc
Nửa phần em – Tôi một nửa sao vừa?

Lúc tỉnh giấc thấy trăng treo ngoài cửa
Thời gian trôi như nước xối về sông
Làm xa cách một khoảng trời ở giữa
Để mùa thu cháy lá rụng xuôi dòng

Em về đâu giả vờ quên sợi tóc
Như nỗi buồn chẻ xuống hết lòng thôi
Nhành hoa trắng cuối khu vườn trăng mọc
Rớt một mùa thu lạnh xuống quanh tôi

Người lại thức với đêm khuya màu trắng
Mảnh trăng treo một nửa giấc mơ dài
Sợi tóc mỏng như tơ sao quá nặng
Khi trờ mình nghe rớt xuống nghiêng vai

Giữa dòng sông có hai người chờ đợi
Nắng mưa thành nỗi nhớ rất long lanh
Rồi năm tháng qua đi ngày sắp tới
Chút hương rơi trên gối có nguyên lành?

Từ Kế Tường

NHẮC ĐẾN MA LÂM

Chiều Thiện Giáo hồn mình đầy bóng núi
Con đường mìn ươm vết máu đơm khô
Khu phố quận những đời người đã mỏi
Cỏ tranh đùn cao gió khói hư vô

Đêm ngủ đổ ngâm thơ cùng đại bác
Hồn lao đao trong chuyến trực thăng bay
Đâu có chắc mặt trời mai sẽ mọc
Trời rây mưa lành lạnh khiến thèm say.

Khuya thức mãi trầm tư cây đèn lạp
Chảy trong lòng men nhạc Trịnh Công Sơn
Đêm không ngủ trong những ngày bão táp
Ôi những ngày máu ứa xác quê hương

Tôi hỡi tôi xin đừng chết nhé
Bóng hòa bình thấp thoáng ở miền Nam
Ngày ta mong nằm trong tầm tay với
Sao thấy lòng chưa dứt mối hoang mang.

Chiến tranh quá dài nên người quá khác
Không thể mừng vui tiếp rước hòa bình
Đêm đen quá dài nên người quá khác
Không thể nào tin sẽ có bình minh…

Nguyễn Bắc Sơn

Về nhà

Đoàn Thị Lệ Thanh

Screen Shot 2013-06-13 at 11.57.03 AM

Joana Gelazyte, Il pianista della vita

Nhiên vừa đặt cái giỏ thức ăn xuống sàn bếp, thì chuông điện thoại rung. Nhấc máy, Nhiên nghe giọng cu Toàn nghẹn ngào:

– Mẹ, con nè. Mẹ biết tin gì về ba chưa?

Nhiên nghe tim mình bỗng đập hụt mất một nhịp:

– Ba sao hả con?

– Mẹ ơi, ba bị ung thư giai đoạn cuối.

Nhiên thảng thốt, buột miệng :

– Hả, ung thư?

Giọng cu Toàn đều đều:

– Ba bị ung thư tuyến tiền liệt đã di căn vô xương, bây giờ chờ hóa trị và xạ trị. Nếu phát hiện sớm thì còn hi vọng, nhưng tình trạng ba thì có lẽ cũng đã trễ , bên Na Uy, y tế họ tiến bộ hơn Việt Nam mình chắc họ có cách chữa trị.

Tiếng thở dài của con trai nức nở như khóc khiến bàn tay cầm máy của Nhiên cũng run rẩy…

Gác máy, Nhiên thẫn thờ buông mình xuống ghế. Đã mười lăm năm không gặp, không liên lạc chuyện trò, không một lời chào hỏi xã giao. Giữa hai người luôn là một quãng không xa mù khơi, trước là Việt Nam – Mỹ, rồi sau đó Mỹ – Na Uy, mà đâu phải đến mười lăm năm, chỉ sau ba năm chung sống, mỗi người đi về hai hướng ngược nhau. Mảnh vỡ của cuộc hôn nhân vẫn nằm yên trong tim Nhiên, đợi khi nghe đến tên Hoài thì đâm lén mấy cái, tuy khẽ nhưng nhoi nhói đau rất lâu. Chị bảo với con “Đừng nhắc tên ba khi nói chuyện với mẹ”, tuy nhiên chị vẫn lẳng lặng nghe khi con kể chuyện Hoài. Vài năm sau khi đến Mỹ, Nhiên nghe “ Mẹ, ba vượt biên rồi. Ba không cần con nữa, bây giờ con chỉ còn một mình . Mẹ đi, ba cũng đi, ai cũng bỏ con”. Nhiên lặng lẽ khóc thương con. Vài năm sau nữa, Nhiên nghe “ Mẹ, ba rớt thanh lọc bị trả về Việt Nam rồi” . Rồi vài năm sau “ Mẹ, ba lấy vợ, trẻ hơn ba mười tuổi, và qua Na Uy sống rồi.”. Nhiên nghe hờn tức chẹn ngang cổ. Rồi hôm nay “ Mẹ, ba bị ….”, Nhiên choáng váng tựa như khi Hoài đồng ý chia tay. Thoạt tiên có một chút băn khoăn, hay là vì mình nhiều lần rủa xả người ta “ Trời tru đất diệt”, rồi sau đó là ân hận, là hồi nhớ. Dáng người Hoài tầm thước, không vạm vỡ, nhưng không đến nỗi gầy gò, từ lúc nhận nhiệm sở tại trường PTTH Ban Mê Thuột, ít khi Hoài xin nghỉ bệnh. Lần bệnh nặng nhất là sau khi ăn mừng sinh nhật Nhiên, khách mời là cả tổ Sử Địa. Không biết do thức ăn không sạch, hay ăn quá nhiều (dấu hiệu của bệnh tiểu đường mà bây giờ Hoài đang mắc phải), Hoài bị tiêu chảy, nằm liệt giường hai ba ngày phải nhờ Nhiên phải dạy thay. Thấy Hoài nằm bẹp, mặt mũi bơ phờ hốc hác, Nhiên thương tình nấu cháo đem qua. Hoài không ngồi dậy nổi, Nhiên phải kê đầu anh vào chiếc gối đặt hơi cao vào đầu giường rồi bón từng muỗng cháo cho anh. Nghe y tá của trường bảo phải cho người bệnh uống nhiều nước pha muối và đường, Nhiên cặm cụi pha chế, rồi tỉ tê nhắc Hoài uống….Khi khỏe lại, Hoài đến lớp được, nhưng vẫn than với Nhiên không muốn ăn cơm, cơm ở bếp ăn tập thể khó nuốt quá. Vậy là Nhiên lại ngày đêm suy nghĩ xem đi chợ nên mua gì về tẩm bổ cho bệnh nhân. Rồi Hoài “ăn cơm tháng” với Nhiên, rồi Hoài và Nhiên thân thiết như đôi bạn, rồi tha thiết như đôi tình nhân. Sau mỗi bữa cơm chiều, Hoài nán lại phòng Nhiên, cầm đàn chơi một vài bản classic, thỉnh thoảng hát một vài bài do anh sáng tác. Hoài thường kể cho Nhiên nghe về tuổi thơ phá phách, nghịch ngợm, đầy bất mãn mặc dù anh luôn thương yêu và kính sợ cha mẹ Tiếp tục đọc

HÁT DẠO BÊN TRỜI

Ôm nửa vầng trăng lạnh
ta về bên trời cao
hát điên đời hiu quạnh
chống gậy nhìn mưa mau

Tuổi nay gần tam thập
sống lẻ như đá mòn
bằng hữu mù tăm tắp
tình nhân như dao đâm

Mấy năm rồi không gặp
hồn nứt nỗi âm thầm
nhất túy buồn thêm đậm
ca ngâm vời cỏ cây

Cùng chỉ màu khói sương
ngẫm nghĩ hoài hương đỏ
mắt mờ đường chiêm bao
ngắt một cành hoa nhỏ
nhớ thu biếc hôm nào
hồn ta chao chớn gió
nay biết về nơi đâu?

Trần Dzạ Lữ
*1973
(trích Hát Dạo Bên Trời)

Chuyện Đời Mẹ

Con chẳng về đâu dù mưa hay nắng
Sông Thu Bồn trăng tháng bảy còn in
Mười năm trời con làm mây viễn xứ
Mười năm dài biền biệt dấu chân chim

Ngày mẹ chết con chưa tròn một tháng
Cha tảo tần sớm nắng với chiều mưa
Thiếu sữa mẹ đời con thành đại hạn
Thiếu lời ru con lớn với lọc lừa

Ngày mẹ chết con nằm trong máng cỏ
Có hay đâu mây kéo một phương trời
Cha vấn cho con một vành tang nhỏ
Con mang đi, đi suốt phận con người

Từ mẹ chết cha một đời góa bụa
Sống âm thầm trong mái lá tường xiêu
Xin cho con bú từng hơi sữa lạ
Giọt mồ hôi nhỏ xuống chén cơm chiều

Những đêm mưa con nằm nghe cha kể
Chuyện đời cha dài như một giòng sông
Mẹ có đẹp? Cha nhìn xa không nói
Nhưng con nghe dao cắt ở trong lòng

Chuyện cha mẹ gặp nhau không cưới hỏi
Buổi giao thời xiêu lạc cả bà con
Rượu tân hôn cha thay bằng nước vối
Dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng

Và phương ấy bao mùa mưa sẽ đến
Nấm mồ hoang hương khói lạnh từ đây
Cầu xin mẹ bình yên qua chín cõi
Trên dương gian con nối cuộc lưu đày

Trần Trung Đạo

Những địa chỉ khó quên ở Nha Trang

 Nguyễn Hoàng Quý

6586_373798486054571_979645294_n

Tôi đến Nha Trang lần đầu tiên vào Giáng sinh 1968 khi từ Đà Lạt chạy Honda xuống với đứa em họ, đi công việc và chỉ ở lại một đêm rồi quay về nhưng thành phố này đã tồn tại trong tôi từ năm lên sáu qua những chuyện kể, những tấm hình anh Hai tôi làm việc ở đây giữa thập niên 50 của thế kỷ trước đem về.

Nhà ga, chùa Hải Đức, nhà thờ Đá, cầu Xóm Bóng… in đậm trong tâm trí tôi từ những tháng ngày xa xưa ấy với những tự hào trẻ con, làm gì mà lũ bạn cùng xóm  hay cùng lớp nghe nói đến những nơi này? Tôi nhớ những tối mùa hè sáng trăng, đem chiếc chõng tre  ra trước sân nhà ngồi hóng mát, mẹ tôi vẫn thường đọc “Trăng rằm mười sáu trăng treo/ Anh đóng giường lèo cưới vợ Nha Trang”, mỗi lần nghe thế, tôi nghĩ đến anh Hai và mong mau đến ngày anh về.

Ra trường, vào Cam Ranh dạy học tôi đi máy bay, khoảng 4g chiều thì máy bay lượn vài vòng, hạ độ cao để xuống phi trường Nha Trang. Ra khỏi đồng rưộng phía Nam, từ trên máy bay nhìn xuống là biển xanh ngan ngát, những con sóng ngoài khơi lăn tăn và xa xa là vài chiếc thuyền đánh cá, biển và bờ biển trong nắng nhạt buổi chiều đẹp như vẽ, là nhiều căn nhà màu trắng của thành phố và hình ảnh đó đọng lại trong tôi mãi đến bây giờ khi tôi gắn bó với nơi này đã bốn mươi năm.

Cam Ranh cách Nha Trang 60 cây số, hồi ấy chỉ đi xe đò, tôi lại không có người thân ở đó nên thời gian đầu thấy xa lạ dầu rằng ngay từ 1968, khi chạy xe về lại Đà Lạt, trên đường Nha Trang-Thành, nhìn khung cảnh hiền hòa hai bên đường, tôi đã mơ sẽ được định cư lâu dài ở xứ này. Cuối tuần, những đồng nghiệp có nhà ở đây về nhà, người khác có bạn bè, người thân thì ra chơi, nghỉ cuối tuần, khi vào lại kháo nhau nào là đi uống bia dưới Duy Tân, nào là coi phim “Meurtre au soleil” ở Nha Trang Ciné đường Hoàng tử Cảnh mà mình chưa có cách nào vì vài tháng đầu tôi chưa có bạn để đi cùng.

Nhưng rồi, “Que sera, sera!”, dạy ở Cam Ranh đúng 4 tháng thì quân giải phóng đánh BMT rồi miền Nam mất, di tản, quay về, xin dạy lại, làm quen với nền giáo dục mới…và trong bối cảnh đó, tôi có KN, một “đàn chị” sinh trước tôi vài tháng, ra trường trước tôi hai năm nhưng cùng lứa “tú tài Mậu thân” và cùng học ở Huế với nhau.

1.

KN có một người cô ruột (em bố) làm việc ở bệnh viện tỉnh có chồng là đại úy pháo binh VNCH, nhà ở đường Phương Sài, khi chúng tôi có nhau, nàng đưa tôi về giới thiệu rồi từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi ra nhà hoặc mỗi dịp hè về sở giáo dục học chính trị – nghiệp vụ tôi đều ghé nhà Phương Sài, nhà của O trở thành địa chỉ đầu tiên gắn bó với tôi với khá nhiều kỷ niệm vui buồn nhất là khi tôi thành cháu rễ của O, Chú đầu năm 1978.

Tháng 10 năm đó, khi chúng tôi chuyển lên dạy ở trường miền núi Phú Yên thì nhà O trở thành chốn đợi về, chốn nương thân của chúng tôi khi về thành phố, nơi chú cháu ngồi khề khà tâm tình, đàm đạo chuyện thời thế bên ly rượu thuốc, nơi O tôi, bằng đồng lương ít ỏi của mình vẫn sắm chút gì cho anh chị ăn chứ ở núi mấy tháng rồi! Sau này khi vợ tôi sinh con gái đầu và khi cu Út bệnh chuyển từ Tuy Hòa về Nha Trang điều trị dài ngày đều về ở đây và có sự giúp đỡ của O Chú và các em..

Khi chúng tôi về hẵn Diên Khánh, nhà O vẫn là nơi chúng tôi tá túc trước khi có chổ ở ở trường, vẫn thường xuyên lên xuống nhưng khi chúng tôi ổn định ở nhà riêng của mình không lâu thì tôi đi làm xa, vợ tôi cũng bận rộn, xuống Nha Trang thì dành thì giờ ghé ông bà ngoại các cháu từ Huế vào sống sau này, chúng tôi ít ghé thăm, mỗi năm chỉ ghé vào mùng một Tết và ngày giổ bà nội nhưng từ sâu thẳm lòng mình vẫn luôn nhớ ơn O Chú Tiếp tục đọc

GỞI NGƯỜI EM PHAN RANG

Em còn gót rẽ tay che
Áo cơm phơ phất về nghe những buồn
Dáng còn tha thướt liễu dương
Hàng cây cúi mặt tang thương lòng người
Mắt còn xanh biếc biển khơi
Giọng chim ngào ngọt một thời ngẩn ngơ
Yêu mê thẩm thấu không ngờ
Bàn tay măng búp, phút giờ phiêu diêu
Trăng đưa trời đất đăm chiêu
Hồn anh bỗng dậy thật nhiều mộng mơ…

Ngọc Thuỳ Khanh

Em không về phố

 
tặng Y.N
Phố núi chiều nhiều mây
Xe đi về vội vã
Bao dòng người hối hả
Mưa về chăng chiều nay?
Phố núi ngập tràn hoa
Em chưa hề ngoảnh lại
Bên một loài hoa dại
Sương còn in màu mây.
Phố núi chiều hoàng hôn
Trời tím màu thương nhớ
Em quên lối ta về
Khói chiều ru hồn mơ
Phố núi ngày không em
Tôi gởi hồn vào gió
Trôi về phương trời ấy
Nơi ngày xa tận ngày…
Trần Huy

Những ngày không định trước

Âu Thị Phục An

A-Walk-In-The-Rain

Bạc Liêu , ngày…

Cuộc thi kéo dài hai ngày, đã qua. Lần nào nộp bài, ra khỏi phòng thi trước nhiều đôi mắt thèm muốn cũng như ước ao của nhiều người không làm bài được tôi nhìn đồng hồ tay, còn hơn nửa giờ nữa mới hết hạn.

Tôi không ngờ mình có thể làm bài được một cách trôi chảy và cũng không ngờ tôi chẳng hề sung sướng một mảy như tôi vẫn nghĩ trước cuộc thi. Có lẽ học hành, thi cử chỉ như một cái cớ được tôi vịn vào để khỏi cúi đầu bước qua một chặng đường khác mà ở đó lễ nghi cùng một vòng nhẫn làm cho chật vật đời sống. Đậu? Tôi cũng chẳng mừng lắm dù mảnh bằng kiếm được giúp tôi kiếm sống một cách dễ dàng hơn. Còn rớt? Có lẽ tôi cũng chẳng hề buồn hoặc toan tính bày một keo khác như lời tôi đùa với mọi người, thua keo này ta bày keo khác. Đã hai keo, thêm một keo thứ ba nữa ắt chẳng hay ho gì. (Đậu, rớt , những tên gọi, những dấu hỏi vẽ lên không hề đem theo được một hình ảnh vui buồn nào. Lạ không?)

Lại phải chịu đựng thêm nhiều đôi mắt thán phục nữa, tụ tập sau bức tường thấp của trường trung học, tôi mới thảnh thơi, đi chậm rãi xuống phố như bất cứ một ai chung quanh không bận bịu vì thi cử.

Con đường đưa xuống phố chợ, không một bóng cây. Bên này, những gian nhà nửa cổ kính nửa điêu tàn ngăn cách nhau bằng một lớp tường loang lở, cùng ngó sang xóm nhà tồi tàn phía bên kia con sông nhỏ. Mỗi lần đi giữa vẻ điêu tàn của con đường tôi đều cảm thấy hồn xác rối bời không khác gì những căn nhà hai bên lối đi. Lúc chiều này cũng thế, nắng chiều làm ngột ngạt và thư hẹn xuống của Thăng cùng với cuộc thi mới qua khiến tôi không rõ mình đang có những ý nghĩ nào trong đầu. Nếu có một phù phép nào giúp tôi tách bạch tâm tưởng thành một vật có thể nhìn ngắm được, chắc hẳn đó là một vật biến dạng liền liền. Tôi bật cười một mình khi tạt vào quán nước vắng và chọn một góc có thể nhìn thấy chút trời vương mây trắng trôi lờ đờ biếng nhác, qua khung cửa nhỏ. Gọi một ly trà lạnh, tôi thử vẽ vời ra một vài hình ảnh có liên quan xa gần đến cuộc thi và ngày hẹn xuống của Thăng Tiếp tục đọc

crazy kim

tôi nhớ đêm nhà kim
áo khoác treo một dấu hỏi
cô mặc chiếc váy nhỏ màu trắng với những chấm polka đỏ
cô là một khoảng cách, nhưng với tôi lúc này cô đang đứng trước mặt
tôi nhận… ra lý do tại sao tôi đã ở đó mà không phải một nơi nào khác

đó là khi tôi bắt gặp cái nhìn xói mòn, im lặng và điên dại của kim
đêm kẻ những đường viền lên mắt cô mệt mỏi
cảm giác kỳ lạ của tình yêu chảy từ những giọt nước mắt
giống như cận cảnh quay chậm trong một bộ phim
không trang điểm

tin tôi đi, giữ lại những cảm xúc không phải là một cái gì quá khó khăn
đôi khi chúng ta chạy như điên qua đám đông xô đẩy
hét lên tên ai đó giữa đường phố
thành phố hình thành từ các con số và các dấu hiệu
trong đó kim sống và thở

khi một cánh cửa đóng lại, một cánh cửa khác mở ra
tôi biết nếu mình đi qua cánh cửa trước mặt
như những sợi dây điện cháy đến rạng đông
kim là một cách sống, một phần của tiếng thở dài
một dấu đóng trên bóng tối

Nguyễn Man Nhiên

NGUYỄN MAN NHIÊN ,sống và làm việc ở Nha Trang. Một người bạn quý của Tương Tri.