Đêm Ngồi Nghe Tiếng Chim Trên Biển

Đêm ngồi nghe tiếng chim trên biển
Chợt nhớ ngày ra cửa Vũng Tàu
Một cánh chim chiều theo đưa tiễn
Vô tình … cũng thấy xót xa đau

Đừng theo, chim nhỏ, đừng theo nữa
Rồi sẽ như ta lạc lối về
Ta như ngựa bỏ đời hoang dã
Quay nhìn mờ mịt dấu sơn khê

Từ nay cánh hạc vàng xa khuất
Chân trời kỷ niệm trắng mênh mông
Xung quanh chỉ một màu mây nước
Cách một trùng dương, vạn nỗi lòng

Bỗng dưng ta mộng làm mây trắng
Rót xuống quê hương những giọt sầu
Đêm nay mẹ có ngồi than khóc
Nước mắt xin làm mây trắng bay

Đêm ngồi nghe tiếng chim trên biển
Như tiếng thu xưa thổi lá vàng
Lòng ta mấy độ vàng như lá
Từ buổi xa người trên bến sông

Ở đây ta sống đời khinh bạc
Sớm tối đi về một cõi riêng
Cả một sơn hà ta nỡ bỏ
Sá gì chỉ một trái tim em …

Trần Trung Đạo

về i hay y trong chính tả việt ngữ

NGUYỄN KHẮC XUYÊN

Screen Shot 2013-09-10 at 12.29.24 PM

về i hay y trong chính tả việt ngữ

Đọc Ngày Nay số 239 ngày 1 tháng 11-1991, Phần B, chúng tôi được biết bài của P.A.N.K. nói về Vài điểm nhận xét về chính tả Việt ngữ, chúng tôi xin góp đôi lời để làm sáng tỏ vấn đề. Thực ra đã có nhiều người bàn luận tới. Riêng phần chúng tôi, chúng tôi cũng viết cho tạp chí Văn Hóa Nguyệt san Sàigòn năm 1956 về Nguồn gốc hai chữ I và Y trong quốc âm. Chúng tôi cũng nhắc lại trong Sự hình thành chữ quốc ngữ. Ở đây chúng tôi sẽ trình bày lai lịch vấn đề từ thế kỉ 17 cho tới ngày nay.

Chúng tôi sẽ nói tới ba giai đoạn chính yếu thuộc ba thế kỉ khác nhau: Thế kỉ 17 với nhóm người sáng lập chữ quốc ngữ, trong đó nổi bật tên tuổi giáo sĩ Alexandre de Rhodes, rồi sau gần hai thế kỉ nghĩa là vào thế kỉ 19 mới có Taberd và Theurel với tự vị Việt Latinh, Legrand de la Liraye và Génibrel với tự vị Việt Pháp để đi tới Huỳnh Tịnh Của. Sau cùng vào thế kỉ 20, chúng ta có Việt Nam Tự điển của Khai Trí Tiến Đức và Tự vị Việt Hoa Pháp của Gustave Hue, để rồi đi tới những tự điển rất gần chúng ta ngày nay: Lê Ngọc Trụ và Lê Văn Đức Sàigòn; Từ điển tiếng ViệtTừ điển chính tả tiếng Việt Hà Nội.

1. Thế kỉ 17 với Alexandre de Rhodes

Nói về Tự điển Việt Bồ La ấn hành năm 1651 ở Rôma thì cũng phải đề cập tới Khái luận về tiếng Việt hay Mẹo tiếng Việt, ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên cũng do Alexandre de Rhodes viết. Ông nói gì về hai tiếng I và Y chúng ta muốn bàn giải ở đây, vắn tắt thì thế này Tiếp tục đọc

NỖI BUỒN ĐÁNH RƠI

Nguyễn Tấn On

Từ trong nỗi nhớ Sông Trà
Tiếng chuông Thiên Ấn la đà mặt sông
Bạn giờ còn nhớ hay không
Một thời lang bạt cửa Đông la cà

Rượu nghiêng Thạch Trận La Hà
Sóng dòng Sông Vệ vỗ tà huy say
Về Thiên Bút ngắm mây bay
Trống trường Nghĩa Thục* chia tay mái trường

Bao năm lận đận tha phương
Miếng cơm cầu thực xứ sương mù và
Hoa vàng mấy độ thi ca
Nhớ quê mây trắng chiều Đà Lạt buông

Buổi về Quảng Ngãi mưa tuôn
Xuống xe bước trợt nỗi buồn đánh rơi

BA TÂM CẢNH

Tâm Cảnh 1

Xuân lăn lông lốc vó già
Giòng đời xoáy
chặn bóng ta giữa đường
Nửa đêm vò rượu
dư hương
Nỗi niềm chưa đủ say cùng giấc say.

Tâm Cảnh 2

Bên lầu vắng
áng thơ bay
Tuôn ra khỏi cuộc lưu đày sơ sinh
Tay vàng khói
mắt vàng tình
Nửa đời lặng lẽ cố quên phiêu bồng.

Tâm Cảnh 3

Đêm về cửa ngõ mở toang
Cửa hồn cháy rực rỡ
loang bốn bề
Loang từ sơ ngộ câu thề
Loang lên tương kiến giấc mê rả rời
Đường trần tôi đuổi bóng tôi
Trăm năm chập choạng bên đời thanh xuân.

Vĩnh Hiền

tiến hóa

Du Ngã

evolution

1.

Từ lâu, vẫn nghi nghi cái thuyết tiến hóa nói con người hình thành từ loài khỉ! Dù xem kỹ lại thì ông Darwin nói ông tổ của chúng miềng không phải là mấy chú khỉ ta thấy bây giờ, mà từ một loài vượn. Loài vượn người Homo thuộc Họ Homininae!

Hehe, nói vậy thì có khác gì nói con người tiến hóa từ… cái-con-gọi-là Người! Home tiến hóa từ Homo! Chả có liên quan gì đến khỉ vượn tinh tinh gì cả!

Kinh Thánh thì nói Chúa sáng tạo con người sau cùng, sau khi đã sáng tạo thế giới và muôn loài và đặt con người làm chủ cái vườn địa đàng ấy! Nghe có vẻ dễ chịu hơn, vì sau khi Ngài rút kinh nghiệm trong quá trình sáng tạo, gom hay bớt dở, rồi mới tạo ra con người!

Thế nhưng, than ôi, Ngài lại bày ra một một trái-táo-hiểu-biết giữa vườn! Khiến cho con người sa ngã. Nhưng cái sa ngã này, lại đưa con người đến với cuộc đời trần thế. Dẫu phải chịu tội lỗi, đau khổ, lửa hỏa ngục nhưng với cám dỗ, tình yêu, cái đẹp, cuộc đời trần thế đáng sống hơn lăng quăng vô tư lự giữa chốn địa đàng. Có gì đáng chán hơn khi dòm Eva mà như dòm khúc gỗ, không biết nàng là vưu vật xinh đẹp tuyệt trần quyến rũ điên đảo tâm thần.

2.

Con người khác muông thú lắm! Này nhé:

Trong thế giới muông thú, con đực dành phần sắc đẹp: con thì lông vảy đủ màu, con thì sừng ngà to tướng, con thì bờm tóc rậm ri! Cứ tới mùa, mấy chú chàng lại khoe sắc khoe màu hòng quyến rũ mấy cô nàng. Lượn qua lượn lại, nhảy múa cà tưng, làm đủ mọi trò nhố nhăng mong trái tim mấy nàng rơi rụng!

Ở thế giới con người miềng, gọi mấy chú chàng giống vậy là: mấy thằng đĩ… đực!

Ở thế giới con người miềng, sắc đẹp thuộc về mấy nàng! Cả thế giới điên đảo theo từng đường cong, ánh mắt, khóe môi! Thời trang làm quý cô ngày càng xinh đẹp, còn những lúc không-thời-trang quý cô không những xinh đẹp hơn mà còn trở thành hiểm họa chết người!

Trong thế giới muông thú, yêu nhau chỉ có một mùa mỗi năm. Đến mùa chúng mới động dục, mới ham muốn, mới tìm nhau. Hết mùa hai bên gặp nhau lại trơ như gỗ đá!

Ở thế giới con người miềng, tình yêu tràn ngập khắp không gian thời gian, có bao giờ con người ngừng yêu? Xuân Hạ Thu Đông, nắng hay mưa, ngày hay tối, cùng cực hay giàu sang, thảm họa hay bình yên… con người cứ miệt mài yêu. Thậm chí yêu cả trong… mộng với cảm xúc y như thật! Thiện tai! Thiện tai!

Và trong tư thế yêu đương, muông thú đâu có đẹp bằng con người! Chúng quay lưng với nhau, trong khi con người mặt đối mặt, môi kề môi, mắt nhìn mắt (trừ khi mê man đành phải nhắm tít lại thôi, hehe), núi rừng ép vào nhau từ trên xuống dưới, khăng khít, hòa hợp, tuyệt diệu!

Mới nói sơ sơ đến sắc đẹp và yêu đương, đã lắm sự khác vậy rồi!

3.

Haizzzza! Vì vậy đừng tin con người tiến hóa từ loài nào hết nhé bạn! Từ khởi thủy, chúng ta là con người và bây giờ chúng ta vẫn là… Con Người

TÌNH NHƯ NƯỚC CHẢY QUA CẦU

LINH PHƯƠNG
Một hôm vú dậy núm cau
Lụa thơm che khuất gió vào ngực em
Hững hờ nắng đứng ngoài hiên
Đợi mùa yêu rón rén tìm người thương
Cho môi dày gặp môi thơm
Sợi tơ hồng cột nụ hôn ngọt ngào
Một hôm đừng hỏi tại sao
Bèo trôi hoa giạt về đâu cuối trời ?
Trăng thề nửa mảnh còn soi
Mà em sớm vội quên lời thề xưa
Sông buồn từ thuở tiễn đưa
Sầu đời từ thuở rượu chưa rót đầy
Một hôm mắt xót xa cay
Anh bao năm thiếu bàn tay em rồi
Thầm đau chi những câu thơ
Ngày đi đã lỡ hẹn hò ngày sau
Ngày sau ngày bạc mái đầu
Tình như nước chảy qua cầu vậy thôi

QUÊN ĐỂ MÀ…

Ta về quên nhé đường xa
 Quên qua trường cũ quên tà áo xưa
 Quên con đò nghỉ đón đưa
 Quên cây phượng có nụ vừa đơm bông
 Quên đời quên những ước mong
 Giấu sau chiếc nón nỗi lòng riêng tây
              LA TY

Phương Nam thương nhớ…

Minh Vy

VUES_POUPEE_2

Tôi nhận được lá thư của chị vào một buổi sáng chớm thu, người phát thư nhìn tôi rồi mỉm cười, nói như trêu đùa.

Chắc ở thế kỷ này, chỉ có cô còn sót lại.

Vì sao vậy bác?

Thì thời đại bây giờ, người ta dùng thư điện tử, hay điện thoại nói cái ào là xong, vừa nhanh vừa gọn, ai đâu rảnh rỗi mà ngồi viết thư như thế này.

Tôi mỉm cười, cúi đầu chào bác đưa thư rồi đi vào nhà. Tay run run xé lá thư, dòng đầu tiên với nét chữ nghiêng nghiêng nhưng đều tăm tắp và được viết bằng bút mực tím của học trò Tiếp tục đọc

NHỮNG ĐOẠN RỜI CHO AI ?

THẬT SỰ

Có vô số những điều tôi muốn biết
Mà trần gian độc địa khép đôi bờ
Tôi vẫn sống vẫn yêu đời tha thiết
Vẫn nghĩ rằng đời sống rất nên thơ …

ĐÔI KHI

Nụ hôn rớt ngày trăng non vừa mọc
Đêm tàn rồi sao rượu chẳng mềm môi
Nghiêng ly cạn tìm em trong đáy cốc
Buồn rưng rưng gió tiễn cuối chân trời…

GIẤU

Tôi giấu tình tôi qua những tiếng cười
Có thất thế cũng chỉ là lỡ vận
Em vẫn nhớ bên kia trời lận đận
Có một người thảng thốt trái tim đau

NHƯNG

Khi tôi nói những lời khôn ngoan nhất
Là bình yên đã chắp cánh xa vời
Khi toan tính những hơn thua được mất
Là mây đen đã lem luốc khung trời
Khi tôi nói lời bâng quơ chát ngắt
Là vô tình đã hết cuộc rong chơi…

TÔN NỮ THU DUNG

Thoại Châu, tôi biết trời chưa sáng

Mười mấy năm rồi đấy Thoại Châu
Berkeley vừa nở hoa đào
Khi về mở lại căn buồng cũ
Ngóng nhìn ra vịnh thấy đêm thâu

Tại sao bóng đen và sương ướt như sầu
Dưới đất liền, rồi trên núi cao
Thử nghĩ tại sao không hạnh phúc
Tại sao cuộc sống không mầu?

Tại sao không trăng không sao?
Tất cả tại sao về những mối sầu
Dĩ vãng chìm theo trăng lặn
Tháng ngày mặt biển nhăn nheo

Sao buổi chia tay không gì đáng nói
Giả như ai thích chuyện phi thường
Mười mấy năm trời nơi gió bụi
Mười mấy năm toàn chuyện bi thương

Khi về mở lại căn buồng cũ
Chạm mặt hoài những chuyện buồn đau
Thử nghĩ thời gian và hạnh phúc
Góc tường dựng đứng bên nhau

Những bức tường trói chặt bóng đêm
Những chấn song
Những con đường chưa thắp sáng đèn

Thoại Châu tôi biết trời chưa sáng
Gió bụi sương mưa vẫn dãi dầu
Ðêm nghe tiếng khóc trôi qua biển
Mười mấy năm rồi đấy Thoại Châu

Nguyễn Bá Trạc