ĐÊM HÀNG HÒM

caovantam

Đêm phố cổ Hàng Hòm
Lucky star hotel lịch sự,
cửa kính 10 mm trong veo yên ắng trôi vào ngọn gió
rớt xuống hồ Gươm
Mặt nước đen ngòm cũng phơi bày đèn xanh đỏ
Tách café hòa tan tím sẫm
vòm cây Thủy tạ tái tê mùa gió bắc thổi về,
tràn đêm phố cổ Hàng Hòm

Thao thức cùng hồ Gươm lặng thinh…
Cầu Thê Húc khom mình cúi xuống
Già nua lãng đãng Tháp rùa,
Lắng nghe tiếng rơi buồn bã
thanh kiếm nhà Vua xuống đáy hồ,
Tất cả đều trở mình qua đêm ở phổ Hàng Hòm(*)

CAO VĂN TAM
(*) Ký ức HN

TỨ TUYỆT

khuatdau

Bác tôi có bốn người con, đều là gái. Nói theo kiểu miền Bắc là vịt giời, nói theo xứ này là ngao. Toàn là những tiếng dè biểu, chê bai.
Chờ mãi mà chẳng có một thằng cu, nên bác trai cảm thấy cái chức trưởng họ của mình nó lỏng chỏng cứ như một tổng thống được chỉ định chứ không phải do dân bầu lên. Còn bác gái, cứ mỗi lần nghe bà mụ bảo:”ơ lại là con gái” thế là thở dài; lần sau dài hơn lần trước, và lần sau cùng thì khóc. Chẳng phải bác lo chồng cưới vợ bé để kiếm con trai, (có cho cũng không dám) mà vì như bác nói, làm đàn bà khổ lắm, vui vẻ gì mà sinh ra cả lũ!
Tuy vậy, nhìn bốn cô con gái xinh xinh hai bác cũng yên ủi ít nhiều. Bác trai vốn là người sinh ra chỉ biết làm thơ chứ không làm gì khác, đã rất lạc quan, tự hào. Bác nói, ”nhà có con gái như có ngọc, sáng hẳn ra. Mình được đến những bốn viên, sang quá chớ bộ!”.
Bác gái thì nguýt:”ở đó mà sang, ông không nghe người ta nói, đó là bom nổ chậm à? Một trái đã mất ăn mất ngủ, đến những bốn trái thì biết làm sao đây!”
”Vớ vẩn! bác tôi cãi lại, bà có biết làm thơ không đấy, mỗi đứa là một câu thơ, bốn đứa làm thành một bài thơ tứ tuyệt. Ôi chao, Lý Bạch, Đỗ Phủ cũng phải thua tôi nữa kìa!”
“Hay nhĩ, bác gái cười, vậy ông thử đọc bài thơ đó nghe xem nào!”
Ông trợn mắt ngạc nhiên:”Thơ nào nữa. Bốn đứa là bốn câu thơ, tròn trịa, xinh xắn. Sống động như thế, nhìn chưa đã con mắt hay sao mà còn đòi đọc cho nghe nữa!”
Rồi mỉm cười ý nhị, bác hạ thấp giọng như chỉ đủ cho bà nghe:”Mà bài thơ tuyệt tác đó, chính bà là tác giả. Bà chẳng biết vần điệu gì ráo, nhưng đã đã sáng tạo ra chúng trong những phút xuất thần, đúng là thiên tài!”.
Mặc dù được bác trai bốc lên đến tận giời, nhưng bác gái tôi chỉ cười. Một lúc, bác nói như thể kéo bác trai xuống mặt đất.
“Tôi thì tôi lo lắm. Thời buổi này, kiếm được một thằng rể đã là khó. Mà đến những bốn đứa thì biết kiếm đâu cho ra. Bọn con trai, nếu không suốt ngày say xỉn thì bài bạc hút xách. Những đứa coi được được lại vô công rồi nghề, cứ ngồi chảy thây ra ở các quán cà phê! Ông hãy liều liệu mà ăn với ở. Con gái nhờ đức cha kia đấy!”
“Bà khỏi phải lo, bác tôi cao giọng, ăn ở như tôi đấy à? Đến mười đứa còn chưa hết đức, nói gì bốn đứa. Này nhé, tôi không tham nhũng thụt két, không bóp hầu bóp họng ai, không nịnh trên nạt dưới,…tôi chỉ là nhà thơ, một nhà thơ chân chính không thèm vào hội nhà văn, thì đứa nào bẻ cong ngòi bút tôi được!”
“Thì đấy, bác gái đãi giọng ra, điều tôi lo là ông thừa cái đức của các cụ xưa mà thiếu cái đức của bọn trẻ ngày nay!”
“Đức của bọn trẻ ngày nay là đức thế nào?”
“Là tiền!”
“Ơ! Bác tôi kêu lên như từ trên trời rơi xuống, là tiền à? Đức mà lại là tiền à? Thế cái bọn bán rừng bán biển, cướp đất cướp ruộng của dân, bọn vun quén tài sản rồi chuồn ra nước ngoài với cả đống đô la, là đức đó à?»
«Cũng gần như vậy».
«Đó là cái đức cống, thối hoắc!» Bác tôi phẩn nộ.
«Nhưng đời này thì nó thơm lắm. Không thối như ông tưởng đâu. Này tôi hỏi ông, khi ông đi ra đường với chiếc áo xệch xạc, chiếc mũ bèo nhèo, đôi giày vẹt gót, thì đúng là nhà thơ đó, nhưng có ai chào nhà thơ không? Hay là người ta chỉ chào ông giám đốc này, ông chủ doanh nghiệp nọ, ngay cả một chú công an đứng đường, cũng được thưa gửi kính cẩn. Nói đâu xa, anh em trong họ nhà này, dù ông là trưởng họ nhưng có ai coi ông ra gì. Ông còn thua cả thằng Bang, làm chủ hàng trăm con vịt đẻ, là cháu ông nữa đấy!»
Bác gái tôi nói tới đó thì nghèn nghẹn, rơm rớm nước mắt. Một lúc, bác thở ra: «tôi nghĩ mà thương cho tụi nó. Bốn chị em mà có mỗi chiếc xe cà tàng, thì ai mà thèm vào. Tụi nó nói, mỗi đứa một chiếc tay ga, còn chưa chắc nữa là. Làm cha làm mẹ mà để con cơ cực như thế, tôi xấu hổ quá!». Và, bà khóc thành tiếng.
Bác trai cứ trợn trừng ngó lên trần nhà, miệng lẩm nhẩm hai tiếng «đức» và «tiền» như người bị ma nhập; rồi bất ngờ nắm lấy vai bác gái, nói như reo :
«Tiền cả đống kia đấy! Hơ hơ!»
Bác gái mệt mỏi đứng dậy định đi, nhưng bác trai giữ lại.
«Nhiều tiền thật mà. Bốn đứa con gái là bốn cục vàng, hà hà. Này nhé, con Phong mà ai cũng kêu là cây sào, thử hỏi ở cái xứ dân lùn này có ai chân dài bằng nó không. Nó mà đi thi hoa hậu thì đoạt vương miện là cái chắc. Còn con Hoa suốt ngày hát hò, cứ ghi tên mà thi Idol hay Giọng hát Việt. Con Tuyết dù còn đi học nhưng cái làn da trời cho đúng như tên nó, thì thi người đẹp sinh viên. Con Nguyệt lém lỉnh giỏi ngoại ngữ, làm phóng viên cho Việt tấn xã, đi nước ngoài như đi chợ, miễn là đừng có chỉa hàng. Bốn đứa là bốn cái máy in tiền. Bà là mẹ, rồi sẽ được đăng hình lên báo, còn tôi, khi được phỏng vấn, chúng nó thỏ thẻ: dạ bố em là nhà thơ ạ, nghe còn oách hơn cả giám đốc ngân hàng đấy chứ! Ơ kìa, nhưng bà sao thế, bà ngất đấy à? Này cháu, giúp bác đưa bác gái vào giường, bà ấy vui quá, ngất đi đấy!»
Đúng là bác gái tôi đang ngất, nhưng chẳng phải vì vui. Sau này bác nói:«Chán bác giai mày quá! Toàn những chuyện không đâu. Cầu trời cho tụi nó không đứa nào vớ phải một thằng chồng như bác mày!»
Cũng vì không thể tin được một ông chồng cứ mãi nghĩ chuyện đâu đâu, nên bác gái dẹp bốn cái máy in tiền qua một bên. Bác bảo:«ai thì mơ chứ bác không mơ. Hay ho gì cái trò thi hoa hậu với thần tượng. Cứ phơi tồng tộc ra trước bàn dân thiên hạ như phơi bánh tráng ấy, thì là con gì chứ đâu phải con gái!»
Cái nỗi lo ế chồng cứ mãi ám ảnh bác gái tôi, như một người chèo đò lo thuyền chìm khi phải chở nặng. Mỗi khi nhìn cái Phong, đã hơn ba mươi tuổi đầu mà chẳng thấy tăm hơi động tĩnh gì cả, bác cứ thở dài thườn thượt. Nhưng bác trai, lúc nào cũng lạc quan tin tưởng:
« Sao mà ế được. Chẳng qua là, nó phải chịu cái dớp của một câu thơ hay, thế thôi. Mà thơ hay cũng như ngọc trong đá. Phải mất một thời gian đẽo gọt người ta mới tìm ra được ngọc. Bốn đứa là bốn câu thơ toàn bích. Thì bốn thằng rể cũng phải vậy. Bà làm thơ xướng thì tôi làm thơ họa. Nhất định tôi sẽ làm. Tôi sẽ tìm ra đủ bốn đứa để họa lại. Phong, Hoa, Tuyết, Nguyệt thì họa lại phải là Cầm, Kỳ, Thi, Họa. Tôi ví dụ là vậy, chứ không phải đốt đuốc đi tìm bốn cái thằng có tên như thế. Nhỡ cầm mà không biết đàn thì sao. Nhỡ kỳ mà không biết đánh cờ cũng hỏng. Nhỡ thi mà nói một câu chẳng nên lời thì thi cái nỗi gì. Còn họa mà vụng về làm gì cũng không nên thì chỉ có nước là tai họa. Những câu thơ tôi chọn phải thật giàu hình tượng, nhiều ý tưởng ; nói rõ hơn là phải đẹp giai này, chỉ số IQ thông minh phải cao đến tận nóc!»
«Thôi, thôi, bác gái kêu lên như hét, một mình ông là thơ, tôi đã đủ mệt quá rồi. Thêm bốn đứa con gái ông cũng gọi là thơ. Giờ thêm bốn thằng rể, ông lại gọi là thơ nữa, có mà tôi chết sớm!»
«Bà không việc gì phải chết sớm đâu. Hãy cứ sống mà xem tôi chọn rể. Đẻ như bà thì tôi không làm được, nhưng người khác đẻ để tôi chọn, thì là nhất!»
Thế là bác tôi, với bổn phận nặng nề làm cha, cọng với nguồn thi hứng dạt dào, đã lùng sục trong đám con cháu bạn bè quen biết, đưa về một « lũ bốn tên » như bác gái tôi mỉa mai. « Một lũ người không ra người, ngợm không ra ngợm, nhưng ăn thì như ngạ quỷ, bao nhiêu cơm, phở, bún, bánh đều sạch nhẵn. Rể như thế thì chỉ có nước bán nhà!»
Nhưng bác tôi cãi lại: «Có như thế chúng mới là đàn ông. Chúng ăn như hổ, uống như rồng, bà không thấy là đối quá chỉnh với thực như miêu của các con mình à? Còn cái bề ngoài, bà phải nhớ chiếc áo không làm nên thầy tu, đừng tưởng chúng khùng, chúng là những nhà thơ đương đại, có điều chưa kịp nổi danh đấy thôi».
Bác gái tôi lại buông một câu quen thuộc:«chán bác giai mày quá!» Còn các câu thơ trong bài tứ tuyệt, khi thấy các «câu thơ» nửa như tân hình thức nửa như hậu hiện đại mà ông đem về, thì đồng loạt kêu lên: «Thôi, bố gả chúng con cho Đại Hàn hay Trung Quốc đi. May ra bố mẹ còn được vài trăm đô!».
Cuộc chiến về thơ cứ nhùng nhằng như thế thì đùng một cái, bác tôi lăn ra chết! Không phải chết trong một đêm trăng huyền hoặc như Lý Bạch, mà là chết trong một đêm ba mươi tối đen như mực. Bác chết ngoài hiên, bác gái nói đi giải ngã đấy thôi, trong khi các thi hữu thì bảo bác đi tìm vần thơ. Dù sao thì bác cũng đã chết rồi. Cái nỗi buồn mất cha, mất chồng không đủ che lấp cái nỗi nhẹ người, tôi không dám nói nỗi vui, khi trong nhà bớt đi một bóng người mà ai cũng cho là lẩn thẩn.
Di cảo của bác để lại là những tập vở học trò đề bên ngoài là thi phẩm, nhưng lật bên trong chẳng có bài thơ nào, ngay cả một câu cũng không! Nhớ lúc sống bác bảo, tác phẩm chưa hoàn thành là tác phẩm hay nhất, đạt nhất. Tiếc rằng, bác không sống đủ lâu để hoàn thành, cho dù khi ấy nó không còn là hạng nhất nữa. Cái hay, cái đạt ấy bác đã đột ngột đem theo xuống mồ!
Như thế, cả một đời làm thơ, bác chỉ còn để lại duy nhất một bài thơ tứ tuyệt. Tiếc rằng, (cũng lại tiếc) bài thơ còn sống lâu hơn bác đó, không phải bác làm một mình mà đồng tác giả cùng với bác gái!
Bốn câu thơ ấy, sau khi mãn tang cha cũng lần lượt đi lấy chồng. Người chèo đò chở khẳm là bác gái tôi cũng cặp được bến. Bác đã có thể thở phào nhẹ nhõm.
Có điều bốn chàng rể chưa chắc đã làm nên một bài thơ họa đắc ý như bác trai tôi mong muốn. Nếu còn sống, thế nào bác cũng chê là sai niêm luật, lạc vần lạc điệu, chỉ được cái đối nhau chan chát.
Cô chị cả tên Phong, cao một thước tám thì lấy một anh chàng mà chiều cao khiêm nhường của anh ta, chỉ vừa đúng cái chân dài của cô. Ngày cưới, cô dâu mặc váy trắng trông như nàng Bạch Tuyết, còn chú rể tuy vậy mà rất tự tin, tự cho mình là một trong bảy chú lùn.
Cô hai Hoa, thì lấy một anh mặt mụn nhiều như cám. Cô không đủ tự tin để chụp hình bên anh, nhưng cô rất thích khi thấy anh chường mặt ra quảng cáo đủ kiểu trên truyền hình. Anh sẽ đem về cho cô ngoài những tấm ngân phiếu còn có cả đống kem dưỡng da, thuốc tẩy trắng.
Cô ba Tuyết, không thể tìm đâu ra cách đối nào hoàn chỉnh hơn, khi sánh duyên với một cầu thủ bóng đá người Gana. Cô tự hào mà bảo rằng, anh ấy là đêm, cô là ngày, có như thế cuộc sống lứa đôi mới không buồn chán.
Cô út Nguyệt, có lẽ là xấu số nhất, lấy một ông chồng già những mong được cưng chiều, nhưng chưa hết tuần giăng mật thì chồng bị đột quỵ, chữa chạy lắm cũng chỉ lập bà lập bập tiếng được tiếng mất.
Các thi hữu của bác tôi khi dự lễ cưới, đều khề khà phẩm bình những câu thơ «đực» không hợp vì chúng mới quá, lạ quá, «đối» với các câu thơ «cái» nghe trúc trắc làm sao! Nhưng các cụ cũng gật gù mà khen rằng, bày ra được một cuộc trình diễn nghệ thuật có một không hai như thế này: nào có cao có thấp, có trắng có đen, có xấu có đẹp, có già có trẻ, thì chỉ có mỗi một nghệ sĩ bậc thầy duy nhất, là số phận mới tạo dựng được mà thôi.
Bác gái tôi, suýt chết ngộp vì thơ, nên chẳng ưa gì bốn câu thơ mới. Chỉ có một điều làm bác nguôi ngoai, ấy là cả bốn đều nhiều đức, tức là nhiều tiền.
Thôi, nói nhiều thêm tội cho cái linh hồn thanh cao của bác giai tôi!

KHUẤT ĐẨU
01/4/2014

THÁNG TƯ Ở NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI

linhphuong Lát nữa đây em trở về nhà
Từ giã chỗ anh nằm yên ngủ
Nơi rừng cây rì rào gió thổi
Thay lời em thương nhớ mõi mòn

Lúc tiễn anh cầm súng lên đường
Em ngỡ chỉ vài năm xa cách
Chỉ vài năm thôi mà muốn khóc
Giấu khát khao-hy vọng-vào lòng

Mới đó đã gần mấy mươi năm
Chưa một lần chúng mình gặp mặt
Hòa bình rồi được tin anh mất
Trái tim em hóa đá đợi chờ

Nhang sắp tàn-chiều cũng nhẹ rơi
Nắng lấp lóa sau hàng bia mộ
Giã từ nhé ! Những bông hoa đỏ
Dưới tượng đài- quanh khắp nghĩa trang

Tháng tư này trời bỗng xanh hơn
Như màu lá bạch đàn bay trong gió
Anh đâu còn để nghe em nói
“ Lát nữa đây em trở về nhà “

LINH PHƯƠNG

THÁNG CHẠP BUỒN NHƯ LỜI THÚ TỘI

nguyenmannhien

Tháng chạp buồn như lời thú tội
Người đi mất hút cũng chuyến tàu
Đâu biết ta giữa trời mưa bụi
Nằm co không dám tiễn đưa nhau

Tháng chạp buồn như lời thú tội
Người đi quên đám cỏ sân trường
Áo học trò thêm mùi giá rét
Và tàn cây độ lượng vô cùng

Dẫu người đi vui sân ga mới
Nhớ giùm ta bên dưới góc đường
Nhớ giùm ta một thời trẻ dại
Cũng mịt mù như trái tim câm…

NGUYỄN MAN NHIÊN

THẰNG KNORR

nguyenvi
Tiếng nắp chai bia đầu tiên được khui đánh xoạch gọn bân, tín hiệu bất thành văn báo đã tới giờ khai tiệc. Bờ biển quê hương chỉ cách đó chưa tới nửa cây số đường chim bay, trời chiều lại đang dần vào tối, gió mát trăng thanh…Ôi, gió mát trăng thanh. Khung cảnh cuộc tiệc khá là lãng mạn, hắn nghĩ thầm.
Hắn không đếm. Mà có ai trên đời này lại vô công rỗi nghề và thừa hơi sức để cất công ngồi đếm tất cả các câu nói trên trời dưới đất tại một bàn tiệc! Vậy là hắn đoán, đến lúc ấy, có lẽ phải trên cả trăm câu ngắn dài, có cả những câu thuộc loại trời ơi đất hỡi được tuôn trào từ bộ nói của mấy chục con người. Và “lúc ấy”, chính là cái thời điểm sếp phó của hắn mở lời. “Rằng, sinh thời cụ Ăng-ghen có dạy, nếu bạn bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào bạn bằng đại bác. Liệu hồn!”
Đang mơ màng trò chuyện với Long Vương hay Hằng Nga chi đó quên rồi, hắn chợt há hốc mồm to như ngáp. Chắc Long Vương đã nhận mùi mắm nêm quá nặng nên lặn mất. Còn Hằng Nga chắc chợt nhận thấy hắn xí trai vì trống hoác mấy cái răng khôn cũng đã vội vã thăng thiên. Mồm hắn chưa kịp khép lại vì chưa hết ngạc nhiên, thì đôi mắt hắn đã mở to trợn ngược khi nghe sếp trưởng nhảy bổ vào mồm sếp phó. “Ông có biết thì nói, không thì thôi, câu này là của cha Góc-ba-chốp, thằng đã phá tan tành Liên Xô và khối Đông Âu đó, nhớ chưa!”. Trời đất. Hắn muốn độn thổ ngay lập tức, nhưng hắn không làm được bởi lẽ hắn chẳng phải Tề Thiên Đại Thánh sở hữu tới bảy mươi hai phép thần thông biến hóa. Thế nên hắn vẫn ngồi tại chỗ, mặt hắn đực ra, cực xấu. Hắn đành, và chỉ còn cách dấu cái bản mặt quái dị đang ê ẩm bằng giải pháp cúi gằm gần song song với mặt bàn tiệc và bốc nhai ngấu nghiến món gì đó bất kỳ, có thánh mà nhớ nổi.
Hắn bỗng nhớ tới một câu chuyện vui trong một cuộc trà dư tửu hậu. “Này, ông có công nhận rằng tháp Ép-phen là công trình kiến trúc hoành tráng nhất của Luân Đôn không?”. “Ông lại hay đùa rồi, tháp Ép-phen nằm chình ình ngay giữa thành Rôm nước Ý. Ông chớ mà xem thường tui đó nghen!”.
Hóa ra, câu ai nói lịch sử có lúc cũng lập lại, lại đúng. Chí ít là với hai câu chuyện trên – một chuyện tếu một trăm phần trăm, và một chuyện thật cũng một trăm phần trăm. Tôi là bạn hắn. Tôi tin, khi nghe hắn bảo lúc ấy hắn nhục ghê gớm, bởi cuộc tiệc có cả một số quan chức có cỡ của địa phương. Chẳng biết có phải do bận say mồi, hay nhất trí đồng tình với quan điểm “Ý – Luân Đôn” của hai sếp nhà hắn mà chẳng thấy ai có thêm ý kiến ý cò gì sất. Tội nghiệp cho sếp phó hắn lúc ấy, khuôn mặt đang rạng rỡ màu bia bỗng chuyển tái xám vì ngượng, tiu nghỉu như chú học trò lớp ba bị thầy mắng vì không thuộc bài. Chỉ hơn cu cậu lớp ba cái khoản không bị “ăn” điểm hai và bị phê “khá lắm con!” rồi không phải về chỗ quỳ!
Hắn lại bảo tôi, chuyện cụ Ăng-ghen và tay Góc-ba-chốp bị “bắt” phải nói cái câu của Abutalip – nhà thơ lớn của nước Cộng hòa Đagextan thuộc Liên Xô cũ – đã xảy ra cũng hơi bị lâu, tưởng rằng đã quên!. “Vậy căn cớ gì ông lại nhớ như in, đột xuất như lên đồng thế?”. “Chuyện là thế này, cái khô gáo dừa của tui may mắn được cạo rỉ bất ngờ…”. Rồi hắn lại thao thao như lên đồng khiến tôi mệt cả tai, mà sướng! Hóa ra mới sáng nay hắn được vinh hạnh được tham dự họp hội đồng thi đua khen thưởng của cơ quan. Trời xui đất khiến thế nào mà sếp trưởng của hắn lại chính là chủ tịch hội đồng, và sếp phó – dĩ nhiên là phó chủ tịch của cái hội đồng ấy rồi. Nhưng như vậy cũng chưa thành chuyện, chắc hắn rồi cũng chẳng thèm nhớ gì cái chuyện xưa tích cũ đó, nếu…Ừ, nếu không có chuyện sáng nay chính hai vị sếp trưởng – chủ tịch và sếp phó – phó chủ tịch hội đồng này thay nhau đề nghị đúng tên hai vị, và chỉ có hai, rồi “hô biến” cho các thành viên của hội đồng nhất trí bỏ phiếu tán thành cho hai vị này và nhanh chóng làm thủ tục gởi danh sách lên cấp trung ương khen thưởng!
Bất giác, hắn nhớ lại câu hát vui mà dạo này đài truyền hình trung ương thường léo nhéo quảng cáo cho hạt nêm Knorr, đâu như là “hạt quỷ gì mà ngon ngon thế…!”. Vốn mang máu nhà thơ phường xã, hắn tự cho phép được cải biên tí cho hợp tình hợp cảnh: “Thằng quái nào mà tham danh thế? – Xin đáp rằng, thằng sếp nhà tui! Nhưng sao mà nó thường ngu? – Xin thưa, vì sếp giành phần ngu nhất của con heo!”.

NGUYÊN VI

THÁNG TƯ… !!!

tachithan

Tôi cháy lòng tôi những tháng tư
Quê hương biệt dạng tự bao giờ
Nhiều đêm thức với vầng trăng ảo
Ai trả tôi về những giấc mơ

Không lẽ chỉ là mây trắng bay
Sao tôi chưa hết hạn lưu đày
Núi sông cách biệt lâu rồi nhỉ
Nhiều ngày tôi chết chỉ tôi hay !

TẠ CHÍ THÂN

MỘT ĐIỀU BÌNH THƯỜNG

nhatphong

một điều rất đỗi bình thường
trở nên không bình thường
một điều không bình thường
bỗng nhiên
trở nên bình thường

bình thường không phải là bình thường
chủ nhật không là chủ nhật
tôi không phải là tôi
trái đất đang trượt lên đà quay của chính nó
tôi trượt lên tôi

thế giới khạc ra miếng to miếng nhỏ
âm thanh lộng óc
tôi mồi chài tôi tham gia vào một canh bạc do tôi bày ra
tôi sát phạt tôi
bằng chính tôi

có một cơn gió thổi ra ngoài quỹ đạo
không thể hình thành bão giông
có một tia sáng lạc loài
không thành sấm chớp
nhưng gió vẫn thổi
tia sáng vẫn lóe lên
rất đỗi bình thường

tôi gửi cho tôi một thông điệp u hoài
như một bằng chứng về thời gian đã có lúc ngừng trôi
và không gian đã có lúc tưởng như bùng nổ
tôi hà hơi tiếp sức cho tôi
để có thể nói lời cám ơn
cho một điều bình thường là bình thường

NHẬT PHONG

TRĂNG YÊU THƯƠNG

tranthitruchaMùa hạ đến, hàng phượng vĩ trước cổng trường sư phạm bắt đầu lóng lánh đỏ hồng trong nắng, tiếng ve rền rĩ âm điệu buồn buồn, da diết…khu nội trú bổng trở nên xôn xao, ai nấy đều sửa soạn hành lí để trở về với gia đình sau những ngày vật lộn với bài vở. Nhiên thẩn thờ xếp hành lí vào valy, về nhà ba hay mẹ bây giờ?…có lẽ chỉ mình Nhiên là sợ những ngày hè. Thảo đứng ở cuối phòng nhìn mắt Nhiên rưng buồn, cảm thấy thương bạn đến nao lòng. Thảo muốn làm cho bạn vui và phải phải dùng sức mạnh của nhóm:
Ê, nhóm ngũ tý nghe đây, tất cả sẽ về nhà Thảo một tuần, sau đó hãy chia tay ai về nhà nấy, đồng ý giơ tay lên.
Cả bọn nhao nhao :
– Đồng ý ! đồng ý ! đứa nào không đồng ý cài số de ra khỏi nhóm.
Quê Thảo có vườn dừa xanh mát bên dòng sông nhỏ trong vắt, má Thảo lại hiền, rất chìu con gái, tha hồ cho cả bọn tung hoành…Thế là cả bọn lên đường…Và đêm trăng ở đó, Nhiên đã gặp anh…ánh mắt, nụ cười và tiếng hát…
…Đưa người ta không đưa sang sông
Sao nghe như có sóng trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong…
Nhiên chơi vơi trong tiếng hát và đắm chìm trong ánh mắt tối thẳm, hoang vu đó…lũ bạn nghịch ngợm rủ nhau bỏ đi tự lúc nào Nhiên cũng không hay biết. Anh dừng những ngón tay thon dài trên phím đàn và cười với Nhiên
Bạn em bỏ trốn hết rồi phải không?
…ơ!…em không biết….vì anh đó!… Anh bật cười thật to, tiếng cười cũng ấm áp như ánh mắt của anh.
Sao anh không đàn nữa?
Anh sợ em cũng bỏ trốn theo mấy nhỏ bạn của em.
Em không trốn đâu, em có thể nghe anh đàn suốt đêm cũng được.
Thật không? Suốt đời cũng được nghe!
Ha..ha..ha…hi…hi…hi… Tiếng cười của lũ bạn vang lên trong bóng cây tối mịt, giọng nhỏ Thảo vang lên sang sảng:
Chết nhỏ Nhiên, nhỏ để anh Tưởng bắt bắt mất hồn rồi…Nhiên nóng ran ở hai má, bọn nó ác thật, nỡ bỏ Nhiên một mình trốn đi, bây giờ còn trêu nữa, nước mắt tràn đầy mi, Nhiên giận dỗi bước bước ra vườn. Sau lưng Nhiên tiếng nhỏ Thảo vẫn không buông tha:
Giận rồi đó! Tại anh Tưởng tất cả, anh phải dỗ nhỏ Nhiên.
Ơ!…con nhỏ này, tại sao là anh?
Không biết, tại anh là tại anh. Tiếng cả bọn nhao nhao hùa theo, Nhiên lững thững bước đi, gió từ bờ sông đưa lên mơn man, xoa dịu những giọt nước mắt trên mi Nhiên, ánh trăng lấp lánh trên sông thật yên tĩnh, có tiếng mái chèo khua nhẹ của chiếc thuyền đi câu đêm. Nhiên ngồi xuống thảm cỏ bên bờ sông, bứt một nhánh cỏ đưa vào miệng nhấm nháp, cỏ non có mùi vị đăng đắng ở đầu lưỡi.
Hù!..
Á!…Nhiên hoảng hồn quay lại, anh đứng đó với lũ bạn nghịch ngợm. Nhỏ Thảo nhe răng cười thật dễ ghét.
Thôi, xin lỗi công chúa khóc nhè, mời công chúa về ăn cháo gà kẻo má đợi.
Thật không?
Thật chứ sao không…Ê lêu! lêu! nghe cháo gà là hết giận liền hà. Anh Tưởng thấy đó, công chúa vừa mít ướt vừa tham ăn nữa đó. Cả bọn xông vào túm lấy Nhiên kéo đi như một tên tù nhân. Má Thảo đang ngồi đợi bên nồi cháo gà bốc khoái thơm lừng, mùi húng quế, lá chanh non, hạt tiêu hoà lẫn vào nhau hấp dẫn lạ thường.
Ngồi xuống ăn đi các con, lâu lâu về đây má bồi dưỡng cho khoẻ để học chứ ở nội trú ăn uống kham khổ quá, tội nghiệp!..nhìn con Thảo như cái que tăm…
Má đừng lo, nhìn Thảo vậy chứ khoẻ lắm, sáng nào nó cũng chạy quanh sân trường ba vòng đó, hai cái ống sậy của nó mà biểu diễn thì mấy anh lác mắt hết. Má và cả bọn cười ồ, nhỏ Thảo đổ quạu
Á!…anh này bênh nhỏ Nhiên, chưa gì mà đã bênh nhau bỏ em út có má và bọn bây làm chứng nha.
Cả nhà cười vang, Nhiên xấu hổ cúi mặt, má Thảo nhẹ nhàng nhắc nhở:
Thôi , ăn đi các con, còn đi ngủ kẻo khuya rồi. Má đem tô cháo gà thơm phức cho Nhiên và nói thật dịu dàng
Má ưu tiên cho Nhiên phần ngon nhất đây, thỉnh thoảng theo Thảo về đây nghỉ ngơi nghe con, nó bảo rủ mãi mà con không chịu về với nó.
Nhiên dạ thật nhỏ, ánh mắt của anh, tiếng nói ấm áp của má và nụ cười trêu chọc của lũ bạn làm Nhiên cảm thấy lúng túng, vụng về. Đêm đó , trong căn nhà nhỏ Thảo, Nhiên thao thức không ngủ được, cảm giác lạ nhà xen lẫn tiếng đàn của anh réo rắt ngoài sân vọng vào. Lũ bạn của Nhiên ngủ thật ngon, nhìn những khuôn mặt vô tư của bọn nó Nhiên bỗng có một cảm giác thật lạ, có gì đó như muốn lao xao trong bóng đêm ” Mình đã tách ra khỏi thế giới hồn nhiên của bọn nó tự lúc nào? Tại anh…hay tại tại tiếng đàn réo rắt ngoài kia?”

Chiều thứ bảy, nhóm bạn của Nhiên đã về nhà hết, chỉ còn một mình Nhiên lang thang trong sân trường im vắng, gió mùa thu hiu hắt rượt đuổi quanh những hàng cây trút lá vàng xao xác. Nhiên bỗng thấy thật đơn độc, thật sự Nhiên không có chốn để trở về trong những ngày cuối tuần như các bạn của mình, mặc dù Nhiên vẫn còn ba còn mẹ…Ngôi nhà của ba thật sang trọng nhưng thật lạnh với ánh mắt vô cảm của dì và các em, dường như không có chỗ dành cho Nhiên, các em mỗi đứa một phòng riêng với đầy đủ tiện nghi được trang trí rất tinh tế, phòng của ba và dì cũng vậy…nhưng Nhiên phải ngủ tạm ở phòng khách mỗi khi về, ba ngượng ngùng tránh né ánh mắt Nhiên. Dì và các em chỉ cười khi Nhiên cầm túi xách lên chào để về nội trú. Còn về với mẹ thì cũng vậy, chỉ khác một điều là mỗi khi Nhiên về chồng của mẹ tự nguyện ra phòng khách ngủ, và những đêm mẹ ôm Nhiên vào lòng, nước mắt mẹ ướt đẫm tóc Nhiên. Mỗi lần về nhà thấy mẹ cứ lúng ta lúng túng nhét vào valy Nhiên những món quà mà mẹ mua giấu mua diếm người chồng bằng những đồng tiền tự dành dụm lấy. Rồi lần nào đưa Nhiên ra bến xe về trường mẹ cũng nghẹn ngào trong tiếng khóc:” Gắng học nghe con, mẹ sẽ không để con khổ đâu…”Nhiên chỉ biết quay đi để tránh cho mẹ nhìn thấy những giọt nước mắt.

Nhiên dừng lại trước họp thư của trường để tìm thư mẹ, nguồn an ủi duy nhất vào chiều thứ bảy. A!…có thư …mà không phải thư của mẹ – Trương Thoại Tưởng – ĐHTH Huế, tim Nguyện đập loạn xạ …Nhiên nắm chặt lá thư như sợ nó vụt mất rồi chạy về phòng nội trú.
Huế – Những ngày mưa
Nhiên nhớ!
Những ngày nắng đã đi qua, nơi anh ở bây giờ là những cơn mưa dai dẳng kéo dài buồn da diết!…Anh nhớ đôi mắt ướt đẫm buồn của Nhiên trong đêm trăng mùa cũ…Vào học đã được ba tháng rồi mà anh vẫn ở tâm trạng ngẩn ngơ, nuối tiếc…Vì Nhiên đó, biết không?!…
Anh muốn nói với Nhiên, rất nhiều, rất khẽ, vừa nghe nhưng con chim nhỏ cũng giật mình ngoài cửa sổ bay mất. Nhiên ơi!.. Tình yêu là nỗi buồn dịu vợi, cũng là niềm vui trên nếp nhăn của ngày tháng đọng trên môi…Hạnh phúc ! đó là đỉnh cao của tình yêu,mà thượng đế đã ban tặng cho loài người tình yêu và hương hoa của thời con gái. Khi em dỗi hờn, hạnh phúc là những lời ngọt ngào rót nhẹ vào tai, phải chăng đó là ân sủng của con người mà anh đón lấy và cho em.
Anh muốn cho em như cơn mưa đầu mùa vỗ về lộc non trên cây ngô đồng trước mùa xuân ấm áp, như giấc ngủ tròn không chút mộng mị trong hồn. Nghe em! anh muốn đến với em như tình yêu của đôi uyên ương khi vầng dương thức giấc, như niềm đau và tươi cười trên khuôn mặt nhà thơ, nghĩa là em biết đó, nghĩa là tình yêu là cay đắng, ngọt ngào và hạnh phúc vinh thăng,
Anh biết em đang buồn như những gốc cây lặng lẽ trong vườn trường im vắng, năm tháng nào đã cướp mất của em những hồn hậu vô tư, anh muốn để lại trong em nỗi sầu lắng xuống. Này nhé em! anh yêu mùa thu co chút nắng vàng làm nên An Nhiên….

Trời tối thẩm tự lúc nào, hàng cây phi lao ở sân trường đang rì rào tự tình với gió, tiếng bát đũa lách cách ở phòng bên cạnh thật vui tai, Nhiên nhìn qua cửa sổ, ánh trăng chan hoà mặt đất bàng bạc , mờ ảo như sương đêm…
(Mùa hè đang đến, tự nhiên nhớ thời con gái… nên gởi truyện viết từ thời xa lắc )

TRẦN THỊ TRÚC HẠ

THƠ VÕ DUY CHUNG

voduychung

ĐOẠN MỘT
Nước chảy mòn đê , rượu mòn môi
Rượu cuốn trôi đi hết những ngày
Những ngày ta sống mông lung quá
Đổ hết đời như những vỏ chai…

Những vỏ chai xếp hàng ngang dọc
Trống trãi bên trong một nỗi buồn
Như đám tàn quân chiều trận mạc
Khoác chiến bào che giấu vết thương…

ĐOẠN HAI
Rượu đốt đời ta như rừng cháy
Đã bao năm hiu quạnh tro tàn
Một đốm lập lòe còn đâu đấy
Như ráng chiều vàng úa trên cây

Thôi thử xếp ngay hàng thẳng lối
Cùng vỏ chai ta đứng gióng hàng
Để nghe chiều vụng về trong cõi
Một cõi miền gió hú dã man

VÕ DUY CHUNG
( tặng cô giáo thân yêu )

GIỮA MÙA HUYỄN TƯỢNG

tranthoainguyen

Em về Bát Nhã tinh khôi
Đêm xanh diệu pháp trăng đồi thúy hoan
Gió ru bướm mộng phương ngàn
Rừng cây cỏ thức giăng hàng đuốc hoa.
Một tôi rớt xuống ta bà
Một tôi siêu thoát bay qua non thần
Một tôi chết trận hồng quần
Một tôi tĩnh lặng xếp chân tọa thiền.
Con đường Phật pháp vô biên
Giữa mùa huyễn tượng nhị nguyên song trùng
Ta ra sắc bất dị không
Gương thần thấu thị một vòng tử sinh.
Em về cởi áo vô minh
Thiền sư thi sĩ thoát linh hồn sầu.

TRẦN THOẠI NGUYÊN