CHÚA SẮP BUỒN!

 

 

MÙA XUÂN NHÌN LÁ KHÔ,

Rồi mai nép lá rừng xanh
Về trong tiếng ngủ trên cành trăng phai
Như lặng lẽ vẫn đêm nay
Để nghe âm vỡ những ngày cuối năm

Đã chọn rồi mình ơi tình ngỡ
Chọn nhau đi cho hết đường trần
Nửa chừng cây, cành lìa gãy đổ
Nợ vương tình vốn chưa nương thân ..

Cho ta nhớ tình ơi tình ngỡ
Chọn nhau đi cho hết đường này
Những con đường chừng cây bóng ngả
Ta tận tình cho hết đổi thay

Xót tình nào thơ nghe ta say
Tiếng chim gầy bỡ ngỡ sớm mai
Những loài chim đông đàn đứng sẻ
Hót nhau về đậu hết tương lai !

Có bướm hoa nào trong sáng nay
Hứng mặt sương mình trong đôi tay
Có ngàn lớp ngăn trong chỉ kẽ
Một đường sinh tử xẻ chia hai

Mùa xuân đi mùa xuân lại về
Người đi rồi biết không còn nữa
Mùa xuân đầy đêm nghe lê thê
Tiếng cúc cù đê mê hiên cửa

Từ đó rừng bóng nghiêng bóng ngả
Cánh chim bằng bạt gió sơn khê
Đêm thắp lên cho nhen nhúm lửa
Bạch đầu lòng hết cuộc đam mê

Cây sẽ chết từ khi mất nước
Hoa đến tàn từ héo đến khô
Đi mỗi bước là lui mỗi bước
Đường mấp mô như những nấm mồ

Ta về mùa xuân nhìn lá khô..

CHÚA SẮP BUỒN!

Sa mạc nào mà chẳng mênh mông
Nơi lòng độ lượng để hư không
Hỏi tự bao giờ đời nên nỗi
Tìm trong tháng chạp lạnh, sương mù..

Thấu xương để thấy lòng đang nhức
Rêm mình là thẩm thấu cơn đau
Cuộc sống đến hồi hành khất thực
Tìm đâu về cắt rốn chôn nhau..

Rồi đến thế thế thời như thể
Đã trong giông bão để tang đời
Cây mùa hoa trái không thể trổ
Mặc đêm phung phá đến tả tơi

Ta về nghe trong từng kiệt quệ
Nghe hoang phế phủ những vui buồn
Ta về rã rời từng nhân thế
Nỗi trong cơm áo dễ nhục hằn

Dặn lòng thôi cố mà dễ chịu
Kẽo mốt mai cạn nghĩa cạn tình
Thắt sợi nhân tình.. vào cõi tịch
Ta về tìm lại dấu an sinh

Mưa nắng có hai mùa khánh kiệt
Lòng chung ấm lạnh cũng muộn phiền
Đen trắng tẩy bồi chi khác biệt
Ta về say tỉnh niềm mê điên

Ta về ly rượu chừng đã cạn
Củi bếp lòng tro cũng đã tàn
Ta về thời gian gần cuối chạp

Nhìn lên Thánh giá… Chúa sắp buồn
Từ tâm lạy Chúa.. mắt Chúa thương!
hoa nguyên.

CÁM ƠN

 

cám ơn đêm đã cho tôi bóng tối
lem luốc che điều ngụy trá tâm hồn
lòng tôi vẫn lang thang ôm thập giá
trong màu đen mùa xám hối cô đơn.

cám ơn sông cũng ngàn năm ra biển
ngàn năm mang dòng chảy rất thân quen
mỗi bến đổ cưu mang thêm rác rến
đành về nguồn bằng thân phận ố hoen.

cám ơn cây, những thân già thẳng đứng
giữa núi rừng ngạo mạn với trời cao
tôi tầm gửi nhờ gỗ cây bám cứng
cũng ngông cuồng dám thách đố trăng sao.

cám ơn thơ, nói thay lời yêu dấu
bằng ngữ ngôn chẳng có đáy tận cùng
như ngọn dao chưa bao giờ đâm thấu
niềm đau tôi cho đến phút lâm chung.

cám ơn em, cho tôi bờ vai rộng
vòm ngực căng đầy nhựa sống thi ca
xin mãi rộng cho thơ tôi tựa mộng
và mãi đầy vòm ngực núi kiêu sa.

PHẠM HỒNG ÂN

PHỤ CHÚ RIÊNG CHO ” NHỮNG ĐÊM THÙ BÚNG MÁU “,

 

Tôi viết bài Thơ
như đâm vào ngực mình
Một tim thổ huyết.nát thần kinh
Một tim trào máu.và tôi viết
Quặn thắt đêm dài.đêm tử hình !

Quặn thắt linh hồn tôi.giá lạnh
Những ngày liếp quạnh.nỗi quê xa
Nhưng khuya đơm bóng.tan từng khúc
Tôi chết khi chiều.hoa vắng hoa !..

Tôi chết khi chiều chưa xuống núi
Mặt trời gào thét. nỗi can qua
Những cơn gió sủi mầu.biệt biệt
Can cớ gì mây.lại vỡ oà ?!…

Can cớ gì mây. trôi xót xa !…

HUY TƯỞNG

CUỐI DÒNG SÔNG

 

1.
Sông lặng lẽ ngày hạn hán khô mưa
Từ đất đá hoa cỏ Bồng vẫn nở
Em lầu cao, làm sao em thấu rõ
Khách qua đò. Đò đưa khách về đâu

2.
Chèo khua nước, lãng khách khuấy sông sầu
Câu thơ cũ mênh mang bùng lửa hẹn
Giai nhân rụt rè giấu lòng hổ thẹn
Chuốt xiêm cài e ấp quãng trường mơ

3.
Hồn kẻ sĩ vong thân đường bay khổ
Gãy nghê thường vũ khúc giấc chiêm bao
Giai nhân buồn xếp xiêm y áo não
Tiếng địch chàng tức tưởi khóc mùa đau

4.
Lửa âm ỉ cháy trong trái tim sầu
Gươm lãng khách hóa vô thường mộng ảo
Giai nhân về đốt xiêm y áo não
Khỏa thân nàng hát múa cuối dòng sông

HẠ QUỐC HUY

THÀNH PHỐ MÙA ĐÔNG

 

Thành phố ở hai mươi năm vẫn lạ
Con đường đi ngày mấy bận quên về
Vẫn rét lạnh như ngày đầu mới đến
Vẫn đậm đà một nỗi nhớ thương quê

Bạn bè cũ từ lâu không gặp lại
Người bỏ đi theo sóng nước miệt mài
Con dế nhỏ tiếc vầng trăng thơ dại
Ta tiếc thầm hơi ấm một bàn tay

Ta vẫn bước trên đường đầy gai nhọn
Thời gian qua năm tháng đến không ngờ
Còn hy vọng dù đã từng tuyệt vọng
Gót chân trầy máu nhỏ xuống trang thơ

Thành phố nhỏ mùa đông buồn vô hạn
Gió từng cơn hay tiếng thở than dài
Ta chợt hiểu trần gian này ảo mộng
Sống là đây rồi chết cũng là đây

Đào tuyết trắng như đắp từng ngôi mộ
Ta gọi thầm tên tuổi những anh em
Hỡi lịch sử ta gọi người lạc giọng
Bốn ngàn năm sao còn mãi đi tìm

Và mai mốt nếu qua thời xuôi ngược
Ta sẽ về kể lại chuyện tha phương
Chuyện ta kể biết còn ai hiểu được
Như muôn đời núi vẫn đứng cô đơn.

Trần Trung Đạo

NHỮNG CON MA DỄ THƯƠNG.

 

 

Tôi có duyên nợ với những con ma, năm 20 tuổi, tôi về dạy học ở một thị trấn ven đường, hoang sơ , vắng lặng… Trường nằm bên Quốc lộ 1, thời chiến tranh, nơi này đã hứng chịu những tàn phá khốc liệt của đạn bom, là nơi mà ban ngày Cộng Hòa, ban đêm Cộng Sản… Phụ huynh thấy cô giáo nhỏ xíu, ốm yếu thì thương, nói:”Cô về nhà tôi ở, cái bàn viết mà trường phân cho cô ngồi soạn bài, chấm bài là chỗ mấy ổng đâm nhau bằng lưỡi lê chết gục ở trển, máu me tùm lum mà cô không để ý!” Quả thật, những vết máu khô nâu nhòe nhoẹt được học trò cạo tới cạo lui bằng mảnh chai vẫn còn nhòa nhòa trên mặt. Mỗi lần ngồi làm việc ở đó, tôi trải lên một tờ giấy báo để che đi .

(Tôi không sợ ma kể từ ngày Cà Rốt chết. Cà Rốt là bạn hàng xóm thân thiết nhất của tôi từ thời thơ ấu cho đến lúc nó vĩnh biệt trần gian… Nó chết lãng nhách vì một trái bom thả rơi vô tội vạ vào trung tâm khu cư xá công chức. Một thành phố thanh bình yên ổn nhất chưa hề nghe tiếng đạn bom trong suốt cuộc chiến tranh lại phải hứng chịu một trận mưa bom tan tác vào những ngày chấm dứt cuộc chiến. Tôi vĩnh biệt Cà Rốt cũng là vĩnh biệt tuổi thơ tôi!)
Những buổi chiều cuối tuần buồn rợn, từ cửa sổ của phòng nhìn về phía con đường nhỏ dẫn ra sau trường là một rừng xương rồng và một bãi tha ma hoang vắng. Tất cả giáo viên đã về nhà còn mình tôi ở lại… Tôi không thể chen chân lên những chuyến xe than chạy qua quốc lộ vì quá đông người và hàng hóa… Rất nhiều khi các học trò ban ngày làm du kích, ban đêm đi học bổ túc văn hóa thấy cô giáo đứng lơ ngơ chảy nước mắt khi những chiếc xe lần lượt đi qua không ngừng lại, chỉ để rơi rớt những đốm lửa cháy đỏ trên đường… đã động lòng trắc ẩn, về xã đội lấy súng chặn đường tài xế, gởi cô giáo về Nha Trang.
Những chiều sẩm tối, rừng xương rồng buồn bã một màu hoa đỏ, phụ huynh thường nói những lúc đi qua nhìn thấy cô giáo đăm đắm nhìn về hướng đó:”Nó thấm quá nhiều máu nên hoa màu đỏ rực!”.
Mặt trời chiều nào cũng nuối tiếc rơi xuống những đốm nắng tàn phai… tôi đi về phía ngôi nhà nguyện đổ nát, hoang tàn để được đọc những bài kinh còn nhớ trong tâm trí... Lạy Cha chúng tôi ở trên trời… Kính mừng Maria đầy ơn phước... để cảm thấy mình được an ủi và có thêm chút nghị lực mà sống tiếp… Cứ mỗi lần về ngang con đường mòn này trong chiều chập choạng tôi luôn nghe tiếng :” Chào Cô Giáo” và thấy một người lính trẻ, áo lính bạc màu, mũ bê rê nâu đứng tựa bức tường rêu thấp với nụ cười trêu chọc… tôi nhắm mắt chạy nhanh qua. Thầy Lập nói: ” đó là oan hồn của một người lính trẻ, mới rời quân trường về thăm nhà chưa kịp ra trận đã bị “bên kia” xử bắn ở cái cổng chào này! Cô giáo có duyên lắm mới được nhìn thấy đó!”
Buồn, nhớ 2 câu thơ anh Võ Duy Chung: Như đám tàn quân chiều trận mạc/ Khoác chiến bào che giấu vết thương... Và thầm nghĩ: nếu những con ma đều dễ thương đến vậy thì đâu có gì đáng sợ!
Hơn 6 năm dạy học ở đây, tôi nhiều lần theo phụ huynh học sinh đi vượt biển, Thị trấn nằm giữa, bên biển bên rừng và lớp tôi chủ nhiệm đa số là học sinh vùng biển. Trước mỗi chuyến đi, người lính trẻ đều đến trong giấc ngủ buồn bã hỏi tôi rằng:” Nỡ bỏ tôi đi sao cô giáo?” và như một sợi dây neo chặt tôi vào vùng đất đã trở thành quen thuộc này dù phụ huynh đã dặn dò tôi phải đọc thuộc mấy câu kệ để thoát khỏi vòng âm khí …Tôi trả lời trong mơ:” Yết Đế Yết Đế, Ba La Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha” để linh hồn ấy được siêu sinh tịnh độ.

Năm ấy, Thầy Lập rủ:” Ở lại qua đêm Giao thừa này đi cô Thụy, dự một phiên chợ Âm Dương cho biết với người ta!”
Chợ họp ở chân Dốc Găng, giữa rừng dương liễu, những ngọn đèn bão lững lờ như trôi trong đêm sương, những ngọn đuốc chớp tắt theo gió núi và những đống lửa nhỏ đốt bên đường sưởi ấm… Những bóng người mờ tỏ âm u. Tôi nắm chặt tay Hương Giang vì nó đang sợ muốn khóc thét lên. Thầy Lập hỏi: ” sợ không cô Thụy?” Tôi cười:” Thụy vốn là bạn của những con ma mà!”
Đêm nay là đêm Giao thừa, người sống và người chết trả hết những ân oán mà họ đã gieo gặt cho nhau để không còn nợ nần vương vấn. Tôi chỉ cho thầy Lập và Hương Giang thấy người lính ấy… Tôi không muốn đọc bài kệ cũ nữa. Mặc bạn thôi, nếu bạn không muốn siêu sinh tịnh độ thì cứ ở lại nơi này mà lặng lẽ gởi đến mọi người những nụ cười trêu chọc!
” Cô giáo, đói lòng ăn nửa trái Sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương” và trút vào giỏ tôi một rổ Sim tím thẩm… tay thầy Lập còn lạnh ngắt hơn cả tay Hương Giang nữa .” Cô nói chuyện với ai vậy Thụy?” Rồi kéo cả hai chúng tôi chạy nhanh ra Quốc lộ.

Đó là đêm cuối cùng tôi ở nơi xứ đó, Thị- Trấn- Ven- Đường .Mùng một tết tôi về nhà theo chuyến xe đò sớm nhất và không bao giờ trở lại nơi này vì lớp tôi chủ nhiệm đã vượt biên gần hết trong đêm tôi đi tìm phiên chợ Âm Dương!

Luôn có những con ma theo tôi suốt những chặng đường. Trước khi sinh đứa con gái đầu lòng, trưa nào nằm ngủ tôi cũng nghe tiếng banh thẻ đập đều đều trên sàn gác. Tôi hỏi:”đứa nào chơi ồn vậy con!” Tiếng trẻ con nũng nịu :” con nè cô, con là Tiểu Phượng”. Tôi nhớ, tôi gặp cô bạn thời trung học trong một trại tạm giam ở Phú Yên, cô có bầu 7 tháng và sinh non trong trạm xá. Con bé chết, cô nói trong dòng nước mắt đớn đau uất ức:” Tao đặt tên bé là Trần thị Tạm Giam và gởi trong chùa Núi.Thỉnh thoảng mày về thăm nó giùm tao” Tôi để cô thấm những giọt nước mắt đau buồn trên vai áo mà chẳng biết nói gì… Sau đó cô vượt biên, mất tích để tôi cứ đau đáu chờ hoài tin tức từ một chiếc ghe thất lạc!
Tôi về chùa Núi, xin sư cô đổi tên cho bé. Tôi khấn thầm: ” Bé con, cô yêu thương con vô cùng, cô gọi con là Tiểu Phượng… đóa hoa phượng bé bỏng xinh đẹp cuối mùa hè mà mẹ và cô ép vào trang lưu bút rồi tức tưởi từ bỏ tuổi thơ ngây…”
Tôi sinh con gái đầu lòng, nó dịu dàng xinh đẹp như cô bé Tiểu Phượng của giấc mơ tôi… nó cũng có một khóe lúm đồng tiền bên má trái như cô bạn học ngày xưa. Phải chăng tôi đã dần dần tìm lại được những gì đã mất?

Nhiều năm sau ở Mỹ,tôi mua một căn nhà nhỏ ở miền Nam California, người phụ nữ đang thuê căn nhà tôi định mua đã nói:
– ” Không ai dám ở đây đâu chị vì nhà bên cạnh có một con ma!”
– ” Vậy sao cô dám ở?”
– ” Vì em là một cô đồng, mấy con ma sợ em thì có! và em được cho ở không tiền”
– ” Tôi không sợ con ma nhà bên cạnh, giá rẻ thì tôi mua thôi!”
Nhà bên cạnh bỏ hoang mấy năm nay vì người chủ ở một mình đã chết. Tôi nhắm mắt mua đại để có một chỗ yên thân và không dám nói với ai về con ma nhà bên cạnh. Sửa sang nhà mình xong tôi qua quét dọn sân vườn bên ấy, trồng mấy luống hoa Mười Giờ, Ngũ Sắc rực rỡ đủ màu… Tôi nói thầm:”Mặc dù ông là người Mỹ nhưng đã chết rồi thì ông sẽ hiểu ngôn ngữ chung của tâm linh phải không? Ông cũng biết tôi muốn gì chứ! Với tôi thì không sao, ông có thể về đứng bên hiên nhà ông ngắm hoa ngắm lá! hút thuốc cũng được luôn(không hiểu sao tôi hình dung con- ma- nhà- bên- cạnh là một người đàn ông nhân hậu, tóc bạc trắng, bụng phệ và lúc nào cũng ngậm chiếc tẩu thuốc nghi ngút khói …) Nhưng còn mấy đứa nhỏ, thấy ông chắc tụi nó tản hồn tản vía… Vậy thì ông đừng xuất hiện trước mắt tụi nó nhen!” Tôi có cảm giác ai đó đang cười thanh thản. Thỉnh thoảng giữa khuya, tôi lén mở cửa sổ nhìn qua, không thấy gì hết, ngọn đèn bên sân này hiu hắt chiếu qua sân hàng xóm, lạnh lẽo, buồn buồn…

Theo truyền thống gia đình, cứ rằm và mùng một tôi hay ra thắp nhang khấn vái giữa trời cầu bình an cho người thân và thỉnh thoảng cũng xin xỏ vài điều mình muốn… Tôi hay bị la vì cái tội thích ăn gì cúng nấy chứ không áp dụng theo sách vở như Cầu Dừa Đủ Xài hay Mơ Đủ Điều Chôm Cóc Đủ… Thôi kệ đi, những con ma dễ thương vẫn theo tôi suốt cuộc, những lúc hoạn nạn ốm đau, trong giấc ngủ vẫn có những cái nheo mắt rất ma, những nụ cười rất mị đủ sức vực tôi dậy để đi cho hết cuộc đời!
Và sắp đến giờ Giao thừa rồi, tôi – bổn cũ soạn lại- bày biện nhang đèn hoa trái giữa sân , khấn vái mấy con ma quen biết, chẳng cần xin giàu sang phú quý gì cho vướng bận, mà chỉ xin rằng cho tôi muốn gì được nấy, chừng đó là quá đủ với tôi rồi!

Tôn Nữ Thu Dung

Thơ LÊ VĂN TRUNG

Trước 1975, nói gì thì nói, tôi chỉ là một đứa trẻ con, dù có tập tành làm văn thơ (… khá nổi tiếng của Tuổi Hoa và Tuổi Ngọc) và cũng đua đòi đọc những cuốn sách thời thượng của các tác giả Việt Nam lẫn thế giới mà… không hiểu gì hết! Những người đã nổi tiếng trước 75, khi ra hải ngoại, họ tiếp tục sáng tác, hoặc làm báo, hoặc trở thành các nhà truyền thông hoặc phê bình thì tôi mới biết rõ hơn về họ. ( tôi luôn biết ơn anh Trần Hoài Thư đã cố vấn và đỡ cho  nhiều … bàn thua khi thấy tôi… dễ chết vì thiếu hiểu biết!)
Cách đây 1 năm, tôi nhận liên tiếp những emails của một bạn tên Viên Hướng gởi rất nhiều thơ của tác giả Lê Văn Trung, tôi đã rất ngạc nhiên vì tác giả này, tưởng đâu giang hồ nói đúng: dân ta phải biết sử ta/ cái gì hỗng biết thì tra gu gồ... Tra hoài không thấy tên tác giả này…  những bài thơ hay vậy sao không hề có một dấu vết nào, từ đâu… Tôi hỏi : Bạn ơi, mình tò mò chút, bạn là gì của nhà thơ Lê Văn Trung. Câu trả lời cũng đơn giản: Mình muốn bạn đăng lên trang Tương Tri, mình là người được ủy quyền!
Tôi luôn có một nỗi sợ âm thầm vì anh Quan Dương thường đe dọa: Có một lúc nào đó người ta kiện Tương Tri tự tiện đăng bài là tổng… bí thơ vác chiếu ra tòa bán nhà trả nợ! Thế nên tôi vẫn cẩn thận lưu lại những emails cho phép hoặc ủy quyền như thế này.
Rất may, tôi còn có một Quân Sư Quạt Mo, ngài phán: Nhà thơ Lê Văn Trung sinh năm 1947, quê Quảng Nam. Ông tốt nghiệp QGSP Quy Nhơn năm 1969, ra trường về Quảng Ngãi dạy, trước 75 thơ ông đăng nhiều ở Bách Khoa, Văn, Ý Thức, Thời Tập…. Sau 75 ông và gia đình về Huế sau đó bị đi tù cải tạo nhiều năm, ra tù ông chuyển đi kinh tế mới ở một nơi heo hút thuộc huyện Xuân Lộc, Đồng Nai cho đến nay. Ngoài thơ ông còn viết truyện ngắn lấy bút hiệu là Lê Nam Phương…Ổng là bạn của mấy ông Trần Hoài Thư, Lê Văn Nhàn v.v… Tôi hỏi: Đi dạy sao mà bị ở tù? Quân Sư cũng bí: Ai biết đâu!
Vậy là Tôi có manh mối…

 Làm ơn cầm hạt bụi này.Từ trăm năm cõi lưu đày nhân gian. Làm ơn cầm rất nhẹ nhàng. Rất mong manh, dễ vỡ tàn trên tay. Nhẹ như khói, nhẹ như mây. Nhẹ hơn cả tiếng thở dài trong tim. Và làm ơn đừng nguôi quên. Rằng thiên thu hạt bụi chìm hư vô. Tìm nhau trong hạt bụi này. Chờ nhau trong cõi lưu đày tình nhau.
( Lê Văn Trung)

Trân trọng giới thiệu cùng các bạn những bài thơ … có người về lại khu rừng cũ, nhìn thấy thơ xưa bụi phủ mờ…

 

HẠT BỤI

 

Ta về tàn mạt cuộc rong chơi
Dòng máu trong tim chảy ngậm ngùi
Trả nhau chưa hết mùa dâu biển
Nợ cả cơn mơ, giấc mộng người

 

Chữ nghĩa văn chương ôi phù phiếm
Trăm năm ta khắc đá đề thơ
Có người về lại khu rừng cũ
Nhìn thấy thơ xưa bụi phủ mờ

 

Đưa tay gạt từng chùm rêu mỏng
Lệ chảy trên từng câu cổ thi
Mới hay thơ chỉ là cơn mộng
Thơ chỉ là sương là khói bay

 

Ta về gửi áo phong trần lại
Gửi hết trăm năm trả nợ người
Hạt bụi đời ta là hạt lệ
Lăn rã rời theo cuộc nổi trôi.

 

 

HẠT MUỐI

 

Không chờ đợi cho tròn câu duyên nợ
Ta bỏ đi Người cũng vội qua sông
Ta bỏ đi mà lòng ta ở lại
Người qua sông Con nước chảy ngược dòng

 

Rồi một hôm trên dặm trường dong ruổi
Ta ngậm ngùi tìm lại bến sông xưa
Thì dòng sông đã mấy mùa bồi lở
Thuyền nhổ neo trôi giạt phía xa mờ

 

Lòng những tưởng chuyện mất còn dâu biển
Ta và người là cát bụi trần gian
Sao vẫn nghe tận đáy đời biển mặn
Hạt muối còn đau buốt nỗi chia tan

 

Dẫu biết rằng ta Chỉ là lữ khách trần gian.

 

 

HÃY BẮT ĐẦU CUỘC RONG CHƠI NGẬM NGÙI

 

Hãy bắt đầu thôi em chớ để
Ngày vui ngắn quá dưới tay Người
Ta ném trăm năm vào một cõi
Nối tình dâu biển để rong chơi

 

Nhân gian sâu thẳm rừng gai độc
Em nở cho ta một đóa hồng
Ngày mai có ngã bên triền dốc
Ta nhìn máu đỏ thắm hư không

 

Giọt lệ sầu xưa em cứ khóc
Mắt người thiên cổ bến mờ sương
Ta rót tràn ly màu ngọc bích
Tràn ly từng giọt tình bi thương

 

Hãy bắt đầu thôi ngày sắp hết
Chiều hoang lịm ngắt bóng mây tàn
Ta tụng dăm câu bùa chú lạ
Em về nhung lụa trắng màu tang

 

Trăm năm thôi cũng đành gang tấc
Ta sóng bờ khuya mỏi mạn thuyền
Chút sắc hương thừa em cứ để
Tan vào ta nỗi ngậm ngùi riêng

 

Hãy bắt đầu thôi ngày sẽ trôi
Hồn thiên thu lạnh lẽo bên trời
Ngọn gió oan khiên nào thổi tới
Lệ có còn xanh đôi mắt người

 

Hãy bắt đầu thôi, hãy bắt đầu
Ta dìm ta trong vũng tình sâu
Nghe vỡ buồng tim bung dòng máu
Chảy siết đời qua cuộc bể dâu

 

 

MIỀN IM LẶNG

 

Như chiếc lá rơi hoài không chạm đất
Tôi rơi buồn trong những giấc mơ em
Rơi buồn tênh như một nốt nhạc tình
Từ muôn kiếp, từ xa mù mê vọng

 

Bóng em khuất nẻo hoàng hôn quạnh vắng
Áo mờ phai, tóc chải lụa phai chiều
Tôi chới với giữa chập chùng cơn mộng
Níu bàn tay hờ hững lá vàng gieo

 

Tôi chới với giữa một MIỀN IM LẶNG
Tôi rơi hoài vô tận phía hoang vu
Chốn phải đến hàng triệu năm ánh sáng
Tôi rơi cùng hàng triệu triệu cơn mơ

 

Ôi một MIỀN IM LẶNG nở đầy hoa
Tôi rơi mãi về QUÊ NHÀ TRO BỤI
Tôi rơi về phía lòng em mở hội
Giữa một MIỀN IM LẶNG của nghìn năm.

 

 

 

MÂY TRẮNG BÊN TRỜI

 

Lòng thương hoài những áng mây chiều

Cứ bay mỏi về phương trời cố xứ
Và thương ta suốt một đời du tử
Thương em mịt mờ xa lắc mù tăm

 

Năm tháng buồn trôi, năm tháng lặng thầm
Năm mươi năm như tiếng thở dài vô tận
Năm mươi năm những gập ghềnh bên trời lận đận
Ta nợ người hay nợ chính đời ta

Ta nợ ta hay nợ cả quê nhà
Chìm dâu biển không thể nào trả nổi
Thơ ta viết không đủ lời xương máu
Cũng lặng chìm trong suốt cõi nhiễu nhương

 

Giấc mơ xưa hương sắc cõi thiên đường
Ta bỏ lại tình ta như bỏ lại linh hồn đá sỏi
Ta bỏ lại đời ta bên những dòng đời mệt mỏi
Ta bỏ lại tình em hiu hắt tuổi thu vàng

 

Năm mươi năm, ừ nhỉ, năm mươi năm
Ta vẫn ngóng hoài những màu mây bên trời cố xứ
Ta vẫn đi hoài suốt một đời du tử
Vẫn hoang mang lạc mất một phương về

 

Thổi qua đời mình những ngọn gió sắt se
Không mang nổi tình nhau qua ghềnh qua suối
Mặt trời ta chiều nay đã hoàng hôn réo gọi
Còn mong manh sợi mây trắng bên trời.

 

  

MÁI NHÀ XƯA

 

Tôi theo anh về thăm quê Đại Lộc
Mùa ve ran ran bụi nắng bay mù
Anh và tôi mười mấy năm phiêu bạc
Lòng cơ hồ nghe mỏi bước lãng du…

 

Con đường cũ rẽ năm ba nẽo mới
Tôi phân vân không biết lối nhà xưa
Khi tìm gặp những người quen biết cũ
Kẻ mừng vui, người buồn bã: bơ phờ

 

Anh chỉ tôi chiếc cầu kỷ niệm
(Nơi bao lần tôi đứng đợi người yêu)
Dòng sông giờ đây bên bồi bên lở
Chiếc cầu xưa đã gãy quỵ tiêu điều

 

Mẹ nhìn tôi thấy quen quen nhớ nhớ
Mái tranh nghèo từ buổi đầu gặp anh
Mẹ ít đổi thay tuy da nhăn tóc bạc
(Tôi nghe lòng sống lại những chiều xanh)

 

Cây ổi sẻ bên đường giờ đã chết
Hàng keo thưa vừa trổ đọt hôm qua
Mẹ bảo tôi: “Cửa nhà quạnh vắng
Con gắng về chơi”.  Lòng tôi chợt xót xa

 

Tôi nhớ những trưa giống hệt trưa này
(Tuy bây giờ có đôi chút đổi thay)
Mẹ ngồi chờ bên mâm cơm đạm bạc
Miệng cười tươi mắng nhẹ: “Gớm tụi bay!”

 

Tôi bỗng thấy lòng mình nhói đau, xúc động
Thèm được cùng anh gọi hai tiếng: “Mẹ ơi!”
Anh sợ tôi buồn nên khẽ cười nói lảng:
“Mai chúng ta về Hà Dục (*) thăm chơi”.

(bên trời cố xứ)

(*) Hà Dục, quê nhà của Nguyễn Kim, một người bạn.

 

TRONG MƠ TÔI THẤY CÁC EM VỀ

 

Trong mơ tôi thấy các em về buồn bã
Đứa đồi cao ôm súng nhớ sân trường
Đứa què quặt đi bằng đôi nạng gỗ
Các em về không giấu nỗi đau thương

 

Đứa ôm mặt khóc ròng trên xe đẩy
Buồn hay vui khi gặp lại nơi này
Lòng tôi như cơn mưa phùn tháng bảy
Các em về hiu hắt gió heo may

 

Đứa lủng lẳng đôi tay còn bết máu
Nằm im lìm trên từng chiếc băng ca
Đứa vừa chết phủ tang cờ, đôi mắt
Còn lăn tròn hai hàng lệ xót xa

 

Xin cám ơn cho tôi còn gặp lại
Dù các em về trong một thoáng mơ thôi
Dù các em về không còn nguyên thân xác
Nhìn được nhau cũng đủ gượng môi cười

 

Trong mơ tôi từng dãy bàn lớp học
Nằm đìu hiu, cây phượng đứng im lìm
Mắt cay cay tôi tưởng mình sắp khóc
Nhớ các em giờ trăm đứa trăm miền.

 (Blao, tháng 7.69)

 

TRUYỆN CỔ

 

Rồi cũng như từng câu truyện cổ
Ta ngồi kể mãi dưới sương khuya
Ta ngồi nghe ta như đứa trẻ
Nghe bà kể chuyện mà nằm mơ

 

Mơ thấy đêm xanh màu áo mỏng
Em về trong vắt một làn hương
Mơ thấy bồn hoa mùa thu trước
Nhớ ai mà nở nụ hoa vàng

 

Mơ thấy đôi chim về xây tổ
Quấn quýt đan từng sợi ái ân
Mơ thấy ta ngồi trên bến cũ
Nhìn sóng tan từng vòng vô tâm

 

Ta biết tình là câu chuyện cổ
Ta ngồi ta kể để ta nghe
Ta nghe bằng một linh hồn nhỏ
Bằng tấm lòng trong như suối khe.

 

 

TƯỞNG NIỆM

Em lẫn khuất khắp thiên đường địa ngục
Ta buồn tênh ngồi đợi giữa trần gian
Cành hoa úa trên tay người buổi ấy
Vẫn còn nguyên dòng lệ ấm vô cùng.

 

TUYỆT LỘ

 

Rồi những mùa xanh tiếp tiếp đi
Dặm ngàn thiên lý gió sương bay
Giang hồ bạc thếch hồn ly khách
Chén rượu nhân quần men đắng cay

 

Tìm ai giữa đất trời mông quạnh
Đốt đuốc soi lòng, ta với ta
Đã liệm trăm năm vào đất lạnh
Còn đâu hương sắc mộng phù hoa

 

Sá gì gom hết ngàn thu lại
Nhân thế vàng như rừng úa vàng
Sá gì đập vỡ trăm hồ rượu
Trời đất cơ hồ tuyệt mỹ nhân

 

Ta say từ buổi em là rượu
Ta tan từ độ em là mây
Ta phai từ thuở hương là gió
Từ trăng chìm dưới bến sông này

 

Rồi những mùa xanh trôi tiếp tiếp
Trùng trùng vô tận kiếp nhân sinh
Chén rượu nhân quần xin cạn hết
Ta và em lạc giữa phận mình.

    Lê Văn Trung

 

áo xuân

 

người đưa tay chạm
mùa xuân
tôi hôn hạt ngọc
đoạ trần
thành hoa

con đường dài-thổ mộ già
non cao dốc núi
tà tà
khói sương

chấm pha cổ tích hoang đường
tôi hôn vết mộng ủ hương chân hồng

ngón tay mềm-hái hư không
giật mình bay động
một dòng
chim di

người run cúc mở
xuân thì
tôi hôn thế giới
hồ nghi
mối tình

giọt sương ôm một hạt kinh
bỗng nghe tiếng vọng an bình gọi tên

ru người giấc ngủ
chiều quen
cho tôi hôn miết
bao phen
muộn phiền

trần ai khai hội nhân duyên
có tôi đứng lại bên hiên bụi hồng

Pham Quang Trung