Như bóng mây bay cuối trời thương nhớ

Ngày không dưng chiều nắng quái lại về
Mang chút gió nồng nàn mùi hương cũ
Em đâu biết bầy chim xưa làm tổ
Trên ngọn sầu đông xanh biếc bao mùa

Mấy mươi năm người vẫn xa người
Như bóng mây bay cuối trời thương nhớ
Mộng đã tan. Trời ơi! Anh cứ ngỡ
Mắt thiên thu khép kín tự bao giờ

Em có buồn mai anh chết trong thơ
Hồn say khướt rượu đời chưa uống cạn
Em có khóc mai anh không còn sống
Cũng đừng quên chạm cốc lúc chia ly

Mưa Sài Gòn sẽ tiễn bước anh đi
Hồn vất vưởng theo đường em đến lớp
Tuổi học trò giấu thư anh giữa ngực
Em đi rồi bỏ lại trái tim đau

Mấy mươi năm ôm ấp mối tình sầu
Anh khốn khổ gò lưng qua ngõ lạ
Đứng chờ em – chờ đến khi hoá đá
Thành tượng đài đặt giữa trái tim mê

Ngày không dưng chiều nắng quái lại về
Em lẩn khuất giữa dòng đời xuôi ngược
Mấy mươi năm làm sao ai hiểu được?
Mối tình xưa – anh vẫn giữ trong lòng.

LINH PHƯƠNG

MỘ KHÚC SERENADE

Chủ nhật mùa hè 1826, buổi chiều nghiêng, nắng nuối tiếc rớt vài giọt vàng hấp hối. Trời đà thăm thẳm tím, chút tím vàng pha ráng hồng. Vài cánh chim lao xao khi ánh đèn thắp lên cuối làng. Những hàng sồi run rẫy. Người vẫn đi lang thang chưa muốn về. Nhưng chân đà mỏi và tim bồi hồi khát vọng mơ hồ. Cái khát vọng khó tả của người nghệ sĩ. Quán bên đường đã xôn xao tiếng người, cuộc vui như thường lệ của đời sống vào ngày cuối tuần. Những thửa lúa mạch đã gặt xong và con người như muốn gần nhau hơn khi nhàn rỗi. Tiếng cười nói cụng ly rộn ràng mời gọi, những ly bia đen sóng sánh bọt vàng trong ánh chiều. Những đôi nhân tình nắm tay khuất sau hàng giậu, trả lại những vạt nắng chiều dang dở cho kẻ cô đơn lang bạt. Schubert ngồi xuống cùng nhóm bạn, sau hàng rào ô liu thơm mùi cây trái. Vài cô gái trên hàng hiên cất quần áo đã khô nồng mùi nắng gió. Vài cô tựa ban công nhìn trời…

Schubert chạnh nhớ. 10 năm trước, trăng lưỡi liềm nhú lên trong vườn khuya. Không gian im ắng ngoại trừ tiếng con chim sơn ca lạc lõng hót. Tiếng hót giữa muôn trùng áo não thiết tha. Schubert đứng cạnh bên nàng Therese Grob, áo đầm phồng phủ trùm đôi chân nhỏ ngực nàng phập phồng trong chiếc corset bó sát, ánh trăng mờ soi những đường cong sáng trên làn da mịn. “Vì sao chàng không tiếp tục chơi đàn trong khánh phòng?” Nàng hỏi. “Đêm tha thiết gọi tôi ra đây!” Schubert trả lời. Nàng khẽ quay gót.” Xin đừng đi”. Schubert nói khẽ. “Em chỉ đi dạo tí thôi.” Nàng dừng lại đợi. Schubert cầm tay nàng và bước theo, mắt không ngừng nhìn trời. Mặt chàng như thất thần và trống vắng. “Chàng đang nghĩ gì vậy?” Chàng quay lại và nói khẽ như thú tội. “Chỉ là một giai điệu, nó cứ âm vọng trong đầu.” Hát cho em nghe đi. Chàng từ chối: “Chưa đâu! bài hát chưa xong.” Mắt chàng lại ngước lên khoảng không. “Khi nào xong chàng sẽ hát cho em nghe chứ!” “ Dĩ nhiên!” Chàng đáp. “Chàng chưa bao giờ tặng em bài gì cả, chưa có một bài ca ngắn ngủi nào cho em cả.” Nàng hờn dỗi. Ngực nàng thổn thức chừng như đón đợi giọt nước mắt long lanh. “Tất cả đều dành cho nàng. Các ca khúc trong 3 năm vừa qua khi chúng ta yêu nhau.” Chàng trìu mến quay nhìn mặt nàng. Nàng không nhìn lại. “Tôi sẽ hát cho em khi trở lại.” Chàng hứa. Nàng vẫn còn hờn dỗi nhưng chừng như an lòng. “Giờ anh phải đi! một ca khúc đang gọi mời anh. Anh đã gần gũi ca khúc này lắm, dường như nắm chặt nó trong đầu.” “Dành cho em chứ?” Nàng nhắc lại trong mơ hồ nghi hoặc. Rồi nàng chợt hỏi: “Mà sao mọi khi các ca khúc chàng làm nhanh lắm? Không như ca khúc này.” “ Đúng vậy, ca khúc này sẽ không như bao ca khúc khác. Nó sẽ ngọt ngào, sẽ nhẹ nhàng xa vắng, sẽ tinh khôi như tuyết đầu mùa, như lộc non cựa mình. Giai điệu đang réo gọi anh..”Chàng lại thì thầm như mộng du. Nâng bàn tay nhỏ xinh trong tay áo lụa phồng, chàng khẽ hôn lên và quay bước. Bóng chàng khuất trong bóng đêm, tiếng bước chân như lá rơi…

Nàng và Schubert đang đắm trong mối tình đầu ngất ngây. Cả hai đều che giấu một thực tế nghiệt ngã. Cha nàng mất sớm, người mẹ góa bụa phải trông nom một xưởng  tơ lụa nhỏ, cách không xa ngôi nhà của Schubert. Nàng có một giọng ca trong veo quyến rũ, làm ngất ngây những buổi sáng chủ nhật trong nhà thờ, nơi Schubert hàng tuần đến dự như con chiên ngoan đạo. Em trai nàng là một tay đàn piano và violon có năng khiếu. Âm nhạc đã vang lên giữa hai gia đình như sợi tơ duyên vô hình quấn quít. Thế nhưng chàng vẫn chưa có danh phận và tiền bạc. Luật lệ khắc khe buộc hôn nhân phải được bảo đảm bằng nghề nghiệp cơm áo vững chắc. Năm 1816 khi ấy Schubert tròn 19 tuổi mộng đầy mà tay trắng, chàng đệ đơn lên tòa án thành phố xin cưới nàng. Tòa bác đơn.

Ly bia mang ra sóng sánh đầy. Schubert nâng cạn cùng bạn bè. Tay chàng lau bọt bia trên miệng, ly bia ngon làm lòng hứng khởi. Chợt ánh mắt chàng rơi xuống cuốn thơ của Ludwig Rellstab mở sẵn trên bàn. Bạn của chàng đang đọc dở dang. Bài thơ Serenade – Mộ khúc. Như nam châm chàng bị cuốn hút vào những dòng thơ. Khuôn mặt chàng biến đổi, khi giãn ra khi dằn vặt, chàng cười mĩm rồi ngâm nga nhè nhẹ. Rồi chàng ngẩng lên nhìn quanh vào trời chiều. Xung quanh ồn ào tiếng người cười nói. Đèn sáng trong vườn quán và bóng chiều tím sẫm như ly rượu vang. “Đưa tôi cây bút chì!” Mắt chàng sáng rực, tay run rẫy. Ai đó đưa chàng cây bút, một tờ hóa đơn với vài khung nhạc kẽ vội ở mặt sau. Bạn bè lơ đãng tiếp tục cạn ly nói cười. Vài phút sau Schubert ngẩng lên, chiếc gọng kính nhấc lên trán, chàng khẽ ngâm nga và cất vội tờ giấy vào túi áo. Đám bạn vây lại đòi xem . “Không dành cho các bạn!” Chàng đáp: “Đã lâu tôi tìm kiếm bài ca này, qua núi cao, trong bão giông, trong bình minh, nhưng giờ mới gặp.” Chàng lắp bắp như nói với chính mình, giai điệu mộ khúc âm vang trong hồn:

Chiều buồn nhẹ xuống đời
người tình tìm đến người
thấy run run trong chiều phai…

 Schubert như thấy mình đứng trong vườn khuya kỷ niệm. Mối tình đầu xanh xao như ánh trăng non, đủ soi sáng ánh mắt nàng xanh lơ và mái tóc vàng trong đêm, khi nàng tựa ban công nhìn về xa thẳm. Trong bóng tối phủ vây tứ bề của hàng sồi, buổi chiều tạ từ để đêm xuống mang nỗi tự tình lao xao run rẫy. Chàng đứng đó dưới ban công nhà nàng, cất tiếng ca trong bóng đêm như đồng lõa, che giấu đi nét ngại ngùng tỏ tình.

Vẻ sầu của đóa cười
tình bền của lứa đôi
thoáng hương trong chiều rơi…

 Lá cây trên cao lao xao cùng tiếng chim về tổ. Thoảng nghe tiếng con chim sơn ca hót thánh thót giữa yên ắng của đêm. Tiếng chim lạc lõng thiết tha như tiếng lòng chàng thổn thức cho mối tình tuyệt vọng. Buổi chiều chết lịm êm ả. Cho hoàng hôn đến cô liêu. Cho người cần người, những tiếng yêu thương.

Chiều nay hát cho xanh câu yêu đời
cho người thôi khóc thương ai!
Cho niềm yêu đến bên tôi!

 Và chàng hát thì thầm khúc nhạc chiều. Dạ khúc hay mộ khúc? Giai điệu ru mơ như chiều xuống, giai điệu êm ả như khuya rơi, giai điệu thanh thoát như tình buông. Tiếng đàn trầm gót chân hò hẹn. Cung thứ buồn lãng đãng giọt thương. Sầu riêng tư gởi gắm muôn phương. Cho tình cũ hay dặm trường nhân thế.

Một ngày đó tóc mây đã phai màu
Có chờ ta oán trách đâu?
Có vì duyên kiếp không lâu

 Yêu nàng khi còn thơ, mối tình đầu ngu ngơ. Nay chàng 29 tuổi nhưng chàng đã nhuốm bệnh. Thất vọng vì âm nhạc và đời nghệ sĩ chẳng đem đến danh vọng sự nghiệp. Chàng hối hả sống và sáng tác. Một sự nghiệp sáng tác lấp đầy dòng nhạc cổ điển trữ  tình Châu Âu. Những dàn hợp xướng, những bản nhạc kịch. Những đoản khúc ngợi ca tình ái. Ngay cả Beethoven trong những ngày cuối đời trên giường bệnh đã cảm thán khi đọc những dòng nhạc của Schubert: “Thật là một thiên tài ẩn náu trong Schubert này!” Vậy mà tất cả vẫn chưa đem đến kịp cho chàng cuộc sống phong lưu. Một mái ấm hôn nhân. Và chàng nhuốm bệnh phong tình qua những cuộc chơi. Chàng tiếp tục tiêu pha hết đời mình vội vã. Như sợ chiều sẽ đến sớm và đêm thì không dài.

Đời sẽ thấy chúng ta sống không cầu
Cho tình cứ úa phai mau
cho người cứ mãi phụ nhau…(*)

 Schubert vứt bút và bỏ đám đông rảo bước về. Đêm đặc quánh những thôi thúc huyền ảo. Tiếng đời thôi còn lao xao sau lưng. Con đường về gập ghềnh trong đêm vắng. Cô đơn đi với âm giai, vương vấn trong lòng. Một khúc nhạc chiều ra đời, đẹp ngời hơn cả chuyện tình riêng tư của chàng. Bởi chàng đã tìm thấy cứu cánh trong âm nhạc. Âm nhạc đã giải thoát xác thân nghèo nàn. Ca khúc ngỡ chỉ dành cho Theresa đã trở thành cho các tình nhân. 4 năm sau thì nàng đã thành hôn với một người chủ tiệm bánh. Lời hứa năm xưa đã mãn nguyện. Giai điệu thai nghén 10 năm trong cuộc tình đã bật ra một chiều. Một giai điệu êm ái mà thiết tha, sâu lắng mà đậm đà, không hờn trách tuyệt vọng, đã trở thành giai điệu bất tử cho đời.

Hai năm Schubert từ biệt cõi đời một buổi chiều, chàng vừa qua tuổi 31. Hai năm sau khúc hát được đưa vào tuyển tập Bài ca thiên nga, những khúc hát của con chim thủy chung, mang vũ khúc hân hoan đến phút cuối cùng, trên mặt hồ đời sống áo cơm đầy sóng vỗ. Mộ khúc mãi còn đó đẹp như một bản tình ca bất tử. Cái đẹp đi thẳng vào lòng người không cần giải bày. Đẹp đến thiên thu. Chừng nào trái đất còn quay, chiều rơi mỗi ngày và người tìm đến người.

SEAN BẢO

NẰM NGỦ TRÊN CẦU

 

 

Thuở bé, đọc Tây Du Ký tôi rất thích đoạn tả  vua khỉ Mỹ Hầu Vương (Tôn Ngộ Không sau này) nằm dựa thành  cầu ngủ say sưa trên đường về,  sau một chầu nhậu với bạn bè gồm vua của các loài thú .Trong giấc ngủ,  Mỹ Hầu Vương bổng thấy  có hai tên quỷ sứ đến mời đại vương khỉ đi chầu…Diêm Vương.
Gặp Diêm Vương, vua khỉ hỏi :” Diêm Vương mời ta đến đây có chuyện chi?”
Diêm Vương đáp “Đại vương đã tới ngày tận số nên không còn được sống trên dương thế. Đại vương phải xuống âm ty để chờ xét xử. Nếu đại vương ăn ở hiền đức, đại vương sẽ được  tiếp tục đầu thai  làm khỉ.. Nếu ăn ở ác nhân,  ác đức , đại vương sẽ bị trừng trị ở chín từng địa ngục, sẽ bị cưa hai, bị nấu dầu, bị cắt đuôi, cắt  lưỡi…”
Mỹ Hầu Vương rụng rời tay chân thầm nghĩ :” Chẳng lẻ từ nay ta không còn được  đánh đu, rong chơi, bơi lội … làm vương làm tướng lủ khỉ nhỏ nơi Thủy Liêm Động thân yêu?”
Bọn Diêm Vương này là ai mà dám xét xử ta. Vốn thông minh, Mỹ Hầu Vương biết lúc này mình phải tỏ ra nhún nhường:
”có gì làm bằng chứng rằng ta đã tới số ?”
Diêm Vương sai thư ký   mang ra cho Mỹ Hầu Vương xem một quyển sổ dày ngoài bìa ghi  “Hộ Tịch Loài Khỉ” , trong đó có ghi rành rành Mỹ Hầu Vương ngày , tháng đó là phải chết.
Vua khỉ giả bộ liếc ngang qua rồi bất ngờ xé toang quyển sổ.
Mỹ Hầu Vương nằm ngủ  trên cầu mấy ngày bổng tỉnh dậy. Bọn khỉ nhỏ vui mừng hò reo  khi Đại Vương  của chúng  kể lại câu chuyện  chầu Diêm Vương và cho biết rằng từ nay loài khỉ được miển dịch với cái chết.
Mấy ngàn năm sau có một  người  cũng nằm ngang thành  cầu mà ngủ,  mặc cho  người qua kẻ lại dòm ngó, mặc cho nắng chiếu xiên trên  mặt. Người ấy tên là Bùi Giáng. Có lẻ những câu thơ sau được làm trong những lúc ông thơ thới nằm ngủ bên cầu:
“Rụng rời dĩ vãng xô ngang
Kết thành tố mạch đôi đàng chia nhau
Nửa xin để lại bên cầu
Nửa xin trường mộng nhiệm màu mang đi” (1)

Từ ngàn xưa thi nhân đã lưôn trải hồn thơ lên những chiếc cầu:
Cảnh tiển đưa bên cầu lúc nào cũng buồn và đẹp hơn ở  siêu thị  hay  bến xe đò:
“Ngòi đầu cầu , nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền” (2)

Buổi chiều trong  thơ Nguyễn Du sao êm dịu  đến vậy  khi có bóng dáng một cây cầu:
“Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”.

Nhưng các nhạc sĩ mới là những người mê cầu nhất. Hãy nghe văn Cao mô tả niềm hạnh phúc lần đầu đón  bước chân nàng tìm đến:
“Nhà tôi bên chiếc cầu soi bóng
Em đến tôi một lần
Bao lũ chim rừng
Hợp  đoàn trên khắp bến xuân” (3)
Bài hát “Bên Cầu Biên Giới” của Phạm Duy thì lại mang đến cho ông tai họa.
Theo lời ông kể trong một hồi ký, Bên Cầu Biên Giới được sáng tác tại Chợ Neo,  năm 1948.mô tả mối tình say đắm của ông với một cô ca ve tuyệt đẹp  đã hoàn lương. Vì bài hát này ông bị kiểm điểm tơi tả và có lẻ vì không được tự do sáng tác, ông bỏ kháng chiến,  tìm cách vào Nam.

Chẳng phải  bài “Trăng Rụng Xuống Cầu” đã đưa Nguyễn Hữu Thiết lên hàng nhạc sĩ được yêu thích một thời ?

Ngày xưa  chưa có nhiều sắt thép, chưa phát minh ra xi măng nên loài người chỉ có thể bắt những nhịp cầu nho nhỏ. Những  cầu ván cũ kỷ , những cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi thân quen, gần gủi với khách bộ hành  biết bao.
Cầu thường cao hơn mặt đường nên khi đi qua cầu người ta thường đi chậm lại và được  nhìn thấy nhau nhiều  hơn. Cầu bao giờ cũng là nơi mát mẻ  nên  các chàng trai, cô gái thường hay ra cầu  để hóng gió hay để chờ đợi ai đó ,  làm sao mà biết được.
“Ngày đó trên chiếc cầu, em nhớ chăng?
Một chiếc áo dài màu trắng xinh xinh
Một nụ cười, mời anh, đưa em vào đời
Và từ đó hai đứa mình quen nhau (4)

Những cây cầu dài đến mấy cây số thời văn minh hầu như  không mặn mà với  thơ nhạc như thời “Ví dầu cầu ván đóng đinh”.Thật lạ. Những cây cầu dây văng  lộng  lẫy và tuyệt đẹp mới mọc lên ở nước tôi không gợi cho người ta một niềm tự hào dân tộc mà khiến cho người ta nghĩ đến cái chết.Tin trên báo,  cho đến nay đã có 42 người nhảy cầu Cần Thơ tự tử.
Buồn quá!
Không còn cảnh chờ phà để có cớ chuyện trò rôm rã,  không còn nữa những giây phút được  thấy cuộc đời trôi đi bình yên, chậm rãi.
Xe chạy vun vút trên cầu đưa ta về nhà nhanh hơn nhưng biết đâu cũng đưa ta về quá sớm  với những tuyệt vọng  , rối ren chưa kịp phân giải.
Tôi vốn sợ tốc độ. Một thời  báo đăng tin, Việt Nam dự tính mua tàu  siên tốc của Trung Quốc  để người dân có thể  ăn sáng, uống cà phê ở Hà nội rồi  ăn trưa ở Sài Gòn. Nghe mà ớn lạnh.

Bỗng nhớ và ngưỡng mộ  họa sĩ Hoàng Lập Ngôn với chiếc xe ngựa đưa ông cùng gia đình và bạn bè lãng du từ Bắc  chí Nam. Chiếc xe ngựa được họa sĩ thiết kế như một ngôi nhà gọi là “ Nhà Lăn  Mê Ly” vừa là phương tiện di chuyển, vừa là phòng triển lãm di động vừa là nơi hội họp bạn bè.
Ôi! Một thời lãng mạn, đáng yêu quá chừng:
“Ồ mê Ly đời sống với cây đàn
Tình tình tang dạo phím rồi ca vang” (5)

Rồi mấy cái hầm nữa chứ! Trời ơi! Tôi ghét mấy cái hầm quá đi thôi.
Khi những cây cầu dây văng thay thế cho phà Mỹ Thuận, phà Rạch Miểu, tôi tiếc cái cảm xúc  khi  đứng trên phà ,  nhìn những mãng bèo lục bình trôi trên   dòng nước mênh mông. Nhưng dầu sao khi xe qua cầu,  mình vẫn  còn nhìn thấy trời nước  , làng mạc  xa xa.
Chuyến lữ hành còn ý nghĩa gì khi  xe chui qua hầm chứ không  chạy  ngang qua đèo  Cả, Đèo Hải Vân, Đèo Ngang ? Chẳng lẽ ngày nay người ta tất bật kiếm tiền để được  hẹn nhau ở Thái Lan, Singapore chứ không còn muốn  hẹn nhau ở Cầu Ngói Thanh Toàn (8)? Chẳng lẽ ngày nay người ta ngồi  với nhau ở Cà Phê tầng 68 chứ không còn thích  ngồi  “Bên Dòng Sông Trẹm”? (7). Chẳng lẽ ngày nay người ta chỉ biết chúi mũi  nhìn vào màn hình Ipad chứ không thèm nhìn nhau   để  thấy lòng rưng rưng  khi cùng nhau   nhìn ngắm những con đường cây  cỏ  chen nhau,  cheo leo qua vách núi khi chiều nắng xế , rồi nhìn thấy mấy chú tiều lom khom gánh củi, rồi ngâm nga: “Nhớ nước đau lòng con “Quốc Quốc”? (6)

Huyền Chiêu

(1) Hôm Qua Mộng- Thơ Bùi Giáng

(2) Trích Chinh Phụ Ngâm

(3) Bến Xuân- Văn Cao

(4) Ngày đó (nhạc của…)

(5) Ô Mê Ly-Văn Phụng

(6) Thơ Bà Huyện Thanh Quan

(7) Tên một quyển tiểu thuyết thập niên 50

(8) tên một cây cầu cổ nhỏ bé ở Huế.

 

 

ĐĂM ĐĂM DỐC NHỚ TÔI VỀ

TRĂNG TREO CÕI THIỀN

chợt quên dâu bể

 

 

nghe đêm xuống phố u hoài
tiếng chim vườn cũ ngân dài xót xa
góc trời lộng lẫy hoàng hoa
thoáng như có chút mù sa tội tình

 

cây đời ngả bóng chông chênh
giữa cơn tràn mộng riêng mình ta đau
hắt hiu một ngọn tình sầu
mênh mang đêm lạnh một màu trăng khuya

 

người trên vạn nẻo đi về
chợt quên dâu bể, chợt mê mải tìm
từ tâm một chút là duyên
xin cho ta đợi đêm nguyên thủy tàn

NP phan

 

 

Điên Như Kiệt Tấn 2: năm nay đào lại nở

 

Ờ, đào lại nở trên đất Paris! Lại một mùa xuân rưng rức hoa đào làm lạnh thêm một người xa xứ. Để ấm lòng, ông Kiệt Tấn hết nhớ em vịt vàng bé xíu lại nhớ đến những người đàn bà mà có lẽ chỉ có ông trên đời này mới  nhớ tới họ mà thôi.

Những người đàn bà ấy, một bà lượm lon, một bà bán càrem, một bà bán đậu phộng. Ba người ấy là những “mối tình đầu” theo như cách nói của ông. Mối tình đầu của tuổi học trò! Ông có đùa dai không đấy. Sao không là Diễm để những chiều mưa sao em không lại? Sao không là Ngọ để theo Ngọ về? Sao không là người em xóm học để em ơi “khoóc” đi em? Mà lại là những bà cụ hom hem chít khăn mỏ quạ đi dép Nhựt cũ đến nỗi cao su bè ra, hoặc đội một chiếc nón rách tơi tả, hoặc để đầu trần đi cẳng không, áo trắng rách lưng đã ngã màu vàng xỉn!

Yêu lần đầu mà yêu như thế, bảo sao người ta không bảo ông điên!

Người tình đầu thứ nhất ông gặp ở xóm Hàng Xanh. Mới Tết xong ba bữa đã lại hỏi: thưa ông cho nhà cháu hỏi thăm, còn mấy hôm nữa thì là tết ạ? Còn lâu lắm cụ ạ! Thế hở ông? Thế mà cháu quên mất, làm phiền ông quá. Ông cho nhà cháu xin lỗi.

Những câu nói làm tôi bỗng giật mình. Cụ bà đồng bằng bắc bộ di cư ấy những năm mươi năm trước đây sao ăn nói lễ phép và lịch sự đến như vậy. Chả bù với bây giờ, nào nỡm, nào cút xéo ngay không bà đánh cho nát mặt!

Và cụ lại hỏi: Phiền ông cho nhà cháu hỏi thêm. Ông có biết nhà ông Đa ở lối nào, xin ông chỉ hộ cho nhà cháu! Lịch sự hơn cả Tây, hơn cả Mỹ!

Ông Đa là ông nào, có trời mà biết, nhưng bà cụ lượm lon cứ quanh quẩn ở xóm Hàng Xanh hỏi mãi. Ông Kiệt đoán chừng có thể là người tình cũ lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm, cũng có thể là người chồng đi lạc lúc trốn lên tàu di cư vào Nam. Một cụ bà còm cõi lẩn thẩn đi tìm người xưa cứ tới lui hỏi mãi khiến ông Kiệt đa đoan của chúng ta “yêu” lúc nào không hay. Vì yêu nên thương. Vì thương nên lo. Vì lo nên sợ. Và ông sợ rằng, xe tăng thiết giáp rần rần rộ rộ kéo lê những khẩu đại bác dài ngoằng băng qua xóm Hàng Xanh một ngày nào đó sẽ làm cho cái khăn mỏ quạ, đôi dép Nhựt bổn, mấy cái lon vừa lượm được văng tung toé và trái tim vẫn còn ấp ủ hình bóng người xưa còn đập, nhảy trên mặt đường!

Người tình đầu thứ hai là một bà già bán cà rem lúc tác giả còn học tiểu học. (Yêu sớm quá ông Kiệt nhĩ?). Không như bây giờ, kem đông cứng thơm ngon đựng trong thùng xốp, kem của sáu mươi năm trước xanh đỏ toàn nước đá đụng một tí là vỡ tan, lại giữ trong tẹt mốt làm bằng thuỷ tinh, nên người bán phải nâng niu ôm giữ trong lòng. Bà không thể chạy theo khách hàng là đám học trò nghịch phá như quỷ, không thể cạnh tranh với bọn con trai ma mảnh bày trò đổ xíngầu để vét sạch túi bọn nhỏ. Bà chỉ ngồi một chỗ vẩy vẩy cái chuông bằng đồng bóng loáng, leng keng, leng keng mời mọc như con chó hiền lành chỉ chờ có người ngó là vẩy đuôi ngoắc! Bà già nghèo xấu xí đó không ngờ hiện ra dưới mắt cậu bé Kiệt thân thương đến nỗi cậu thấy đó là  má tôi đang ngồi chồm hổm. Gọi ngon lành, má tôi tay xách bình cà rem, đứng ngó thằng con trai của bà đang xếp hàng đi vào lớp.

Yêu như ông đúng là điên thật, một người điên vô lượng thanh khiết, dẫu tôi có muốn điên cũng đâu có dễ.

Người tình đầu thứ ba là một bà già bán đậu phộng ở bến xe Mỹ Tho. Bà cũng rách rưới, xập xệ nhưng lúc nào cũng sẵn sàng tặng không một nụ cười móm mém cho khách. Cũng như bà bán cà rem, bà không thể nào tranh khách được với các cô gái nhanh nhẹn trẻ trung. Vì vậy bà bán ế. Mà càng ngày càng ế ẩm hơn nữa vì bà buộc phải bán đậu lép. Trời hỡi! Sao khốn cùng tới mức phải đi bán đậu lép! Tác giả kêu lên nghe đứt ruột. Đứt ruột vì một người biết việc bán đậu lép là không lương thiện mà vẫn cứ phải bán. Dù có lí nhí cảm ơn, dù có tặng không bao nhiêu nụ cười thì trong lòng bà vẫn nặng trĩu xấu hổ xót xa. Con trai đi lính chết, con dâu phải tần tảo nuôi con. Hạt chắc cô dâu luộc bán ban ngày, hạt lép để bà lập lờ đánh lận con đen lừa bán trong đêm. Có vậy mới kiếm được chút tiền lời nuôi mình và nuôi cháu! Thế là những người nghèo muốn sống lương thiện cũng khó mà sống được. Cứ phải dối gạt một chút. Một chút nhưng mà cả một đời dài thì dối gạt bao nhiêu?! Cho nên những hạt đậu ấy tan vào miệng ông đắng chát.

Ngồi ở tầng cao Paris bên ly rượu vàng sóng sánh mà ông không nhấm nháp được hương vị nồng nàn của mùa xuân vì ông nhớ ra không chỉ ờ Hàng Xanh, ở sân trường tiểu học Bạc Liêu, ở bến xe Mỹ Tho mà còn ở bến phà  Rạch Miễu, Cần Thơ, Vàm Cống…nhiều không đếm hết những bà già quê hương, những bà có làn da nhăn thơm tho mùi đất, có nụ cười rì rào tre trúc, có bàn chân nứt nẻ phù sa, có trái tim từ bi vô lượng đã bơm máu vào rún tôi từ thưở còn trong bụng mẹ. Những bà mẹ Việt Nam không một chút anh hùng, những bà mẹ bình thường của bao nhiêu năm chinh chiến. Vẫn còn đó những mối tình đầu của ông. Vẫn còn đó cho dù thời gian qua mau và cuộc sống quay cuồng khiến chúng ta vô tình hay ơ hờ không thấy.

Ông Kiệt ( không có Trụ ) ơi, đọc xong truyện này tôi thấy mắc cỡ quá. Mắc cỡ vì tôi đã từng gặp bao nhiêu người lượm lon, bán cà rem, bán đậu phộng, bán chuối chiên, cóc ổi xoài như ông mà sao lòng tôi lúc ấy và cả đến bao năm sau vẫn cứ dửng dưng. Tôi không khinh họ nghèo vì tôi có giàu có gì hơn đâu, nhưng tôi lại chỉ động lòng trắc ẩn với những người ăn mặc lành lặn và nói ra ông chớ cười, xinh đẹp một chút, trẻ trung một chút, sẵn sàng lao vào dòng xe cộ như mắc cửi để nhặt cho nàng một chiếc khăn rơi, hay gồng mình làm Lục Vân Tiên trước bọn lục lâm thảo khấu cho dù sau đó ôm đầu máu vì dở hơi trói gà không chặt. Tôi nào dám gọi một bà bán cà rem, bà lượm lon hay bà bán đậu phộng bằng một cách thực lòng như ông.

Nhiều người khen ông là bồ tát nhưng tôi không nghĩ vậy. Ông yêu họ một cách thực lòng vì cuống rún của ông chưa lìa, vì mùi bùn đất phù sa vẫn chưa rửa sạch ở tim ông dù ông đang sống ở Paris. Sống ở Paris mà lòng ông thì ở Bạc Liêu, ở Việt Nam, còn tôi và chắc cũng có nhiều người khác sống ở Việt Nam mà hồn mộng ở tận Paris hay Nữu Ước! Sống xa quê hương mà ông lại nhớ, lại yêu. Còn tôi sống giữa quê hương mà lại quên lại ghét. Đôi khi ghét quá vì nghèo đói, vì tụt hậu, vì …hàng trăm thứ…!

Có ngứa ngáy cầm bút một đôi khi, tôi mới thấy viết được một truyện như ông viết, nếu có phải lăn ra chết thì cũng thực là sướng. Sướng vì ít ra cũng làm được một việc nhỏ có ích cho mình và cho đời. Mà đọc lại cho kỹ thì thấy ông đâu có viết, ông chỉ trải lòng mình ra, không như trải thảm đỏ ở nhà hàng khách sạn hay các cuộc đón rước phương diện quốc gia quan trên ngó xuống người xa trông vào, mà là trải như lúa rạp mình trên đồng ruộng, như nước phù sa đong đưa vào tận thềm nhà, trải như nghé con goi mẹ như cháu sà vào lòng bà. Tự nhiên phơi hết gan ruột chứ không kỳ khu gọt dũa, không làm văn theo kiểu cách tân.

Ông Kiệt ơi, cảm ơn ông đã cho tôi tìm gặp lại quê hương ngay chính giữa quê hương mình. Tôi cũng như ông, chỉ mỗi một quê hương chiến tranh nghèo đói, nhưng đó là một quê hương thật với những bà mẹ quê hương, mà dù có đi khắp năm châu bốn bể cũng không dễ gì tìm ra được. Ờ, cũng như ông, tôi yêu họ, dù đây là tình cuối chứ không phải tình đầu…

 

KHUẤT ĐẨU

học em

 

học em ở cái hững hờ
cái hờ hững cái lửng lơ thiệt tài
học em ở cái liêu trai
cất trong rương đợi ngày mai…điêu tàn

học em cầm cái phím đàn
không bao giờ gẫy khúc tràn cung mây
học em không uống mà say
không cầm điếu thuốc hoa tay vẫn vàng

học em tập bước qua hàng
bao giờ cũng biết ngó sang bên đường
học tỉnh bơ học nhún nhường
học em nói tiếng yêu đương không lời

học em tiến học em lùi
học dọa dẫm học bùi ngùi học em…
học chính khóa học dạy kèm
sao anh chẳng tiến bộ thêm được gì

cuối đời bước đến phòng thi
trước tờ giấy trắng giống y tên khờ


NGUYỄN HÀN CHUNG

THOÁNG TÌNH

 

Năm 1977, nhà nước đẩy 5 thằng sinh viên vừa tốt nghiệp 2 năm chính trị lên Buôn mê thuột làm việc tại các ngân hàng thị xã và huyện. Sở dĩ gọi là “đẩy” vì chẳng ai muốn lên cao nguyên bắt đầu sự nghiệp mới trong xã hội mới cả. Lý lịch của tôi không được “trong sạch” vì có cha là công chức thuộc chính quyền cũ, lại “bôi bẩn” lý lịch thêm vì đạo công giáo và dân di cư 1954 nên bị đày lên vùng cao nguyên là điều dễ hiểu. Suốt 2 năm làm việc tại ngân hàng huyện Buôn Hồ (Krông Buk), tôi nghiệm ra nhiều sự thật về xã hội cộng sản, rồi băn khoăn mãi về vận mệnh của đất nước, của chính mình, rồi thở dài ươm mơ và tìm mọi cách đạt cho bằng được ước mơ đó để sống cho đúng nghĩa con người.

Khoảng thời gian này, cả nước đói. Sau vài lần đổi tiền, sau những chuyến bay, loại vận tải cơ khổng lồ C130, bụng dồn cứng hàng xa xỉ phẩm, sau những chuyến xe đò chất đầy hàng hóa cao nghễu nghện trên nóc, và sau những lần chuyển hàng bằng bất cứ phương tiện di chuyển nào… tất cả đều trực chỉ miền Bắc vốn đói khổ đã lâu năm, dân chúng miền Nam thật sự đói meo. Cơn đói tàn khốc hiện diện trong bữa cơm của mọi gia đình. Đói vì hầu hết lương thực bị vơ vét để trả nợ, sau nữa là tích trữ lúa gạo để chuẩn bị đánh Kămpuchia. Buôn Hồ, một huyện khá hẻo lánh, lại trông càng nghèo nàn và khốn khổ hơn bất cứ địa danh nào trên vùng cao nguyên. Buôn Hồ buồn hiu hắt. Đúng ra phải gọi là Buôn Huyền… Buồn. Phố huyện dài chừng 100 mét, lác đác dăm cửa hàng nhà nước, lưa thưa người mua, vì tiền phải để dành cho bao tử. Riêng chợ huyện luôn luôn sầm uất, nhiều kẻ bán hơn người mua. Vơ vét hết của nhà đem bán để lấy miếng ăn. Tôi ăn 2 cái Tết ở huyện, vì lẽ tự nhiên là tiền lương để dành không đủ để về quê ăn Tết. Bình thường Buôn Hồ đã buồn, Tết nhất lại càng buồn tẻ hơn.

Tôi làm việc, cố “nín thở qua sông”, và âm thầm thực hiện kế hoạch bỏ nhiệm sở về lại đồng bằng để tìm cách vượt thoát bằng đường biển. Suốt 2 năm đó, tôi chẳng thiết tha gì, bóng tối bao phủ con đường trước mặt, tôi mò mẫm bước, dọ dẫm từng bước chân. Bây giờ nghĩ đến 2 năm ở Buôn Hồ, tôi chẳng có gì luyến tiếc về đoạn đường đầu tiên khi vừa trưởng thành, nhưng phải cám ơn quãng đường ngắn ngủi đó vì tôi đã học được quá nhiều bài học về cuộc sống, về thân phận con người, và hiểu được sự cuồng vọng của một chủ nghĩa (mãi sau này sống ở nước ngoài tôi hiểu chính chủ nghĩa cuồng vọng này đã đưa dân tộc tôi đến bờ tuyệt vọng). Đôi lúc tôi muốn quên đoạn đường 2 năm này. Quên hẳn. Dĩ vãng chẳng còn gì ngoài tình thân với vài người bạn đồng cảnh ngộ, và con đường choèn choẹt lớp bùn đỏ lấm bê bết dưới chân như cuộc đời lầy lụa của tôi. Nếu nhớ, tôi xin nhớ đến một chút tình cảm còn sót lại với cô bé miền sơn cước, và hình ảnh cô bé độ trăng tròn năm đó vẫn mãi lẩn quẩn trong trí nhớ của tôi vốn đã hao mòn nhiều theo tuổi đời chồng chất.

Tôi nhớ mãi H’Lem. Người sơn nữ Rađê.

Cô gái lớn lên giữa núi rừng miền cao, hấp thụ nền văn hóa kinh, và có vẻ quyến luyến nếp sống tỉnh thành. Tuy vậy, H’Lem không hề quên cội nguồn, nàng vẫn mặc váy, áo cánh cũn cỡn như mọi cô gái thượng khác, vẫn nói sõi tiếng Rađê, và bập bẹ tiếng Việt. Bộ váy tuyền thống của người dân tộc lúc nào cũng khoác trên tấm thân mảnh mai, ẻo lả như liễu duyên dáng bên bờ hồ. Đừng nghĩ người nàng nhỏ nhắn mà không biết việc nặng nhọc đồng áng. Có lần tôi gặp H’Lem trên đường làng, gùi nặng trĩu những khúc củi trên lưng, xếp cao vượt quá đầu nàng. Tôi bước ngược đường, nàng cắm cúi bước không để ý một ai chung quanh, người hơi chồm về phía trước để giữ thăng bằng, bước chân vững chãi bám chặt mặt đường. Đến gần, tôi gọi nhỏ tên nàng. Chân vẫn bước, H’Lem ngẩng đầu nhìn thấy tôi, và nở nụ cười để lộ hàm răng xếp đều như hạt bắp non. Đường xa từ cánh đồng bên kia đồi bước về, gùi nặng trên đôi vai gầy như cánh chim, tôi nghe hơi thở mệt nhọc của nàng. Tôi nhìn sững khuôn mặt H’Lem, đôi mắt đen lay láy thơ dại của người thiếu nữ vừa qua tuổi mười sáu. Ráng chiều phủ lớp ánh sáng thoi thóp cuối ngày lên khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi trông rực rỡ như được thoa một lớp phấn hồng. Những giọt mồ hôi trên khuôn mặt nàng lung linh như hồng ngọc, trong đó tôi thấy cả một bầu trời cao nguyên lãng đãng sương mù, chập chờn vây bủa núi rừng linh thiêng huyền bí và đầy ướt át lãng mạn. Chân đi chậm lại khi thấy tôi, H’Lem gật đầu cười nhẹ, rồi cúi mặt lầm lũi bước. Chúng tôi không dám đứng lại giữa đường trò chuyện, vì phong tục Rađê không cho phép một người con gái đứng giữa đường nói chuyện với người khác phái. Ngày hôm sau, tôi hỏi nàng tại sao phải gùi nhiều củi nặng nề thế, nàng bảo con gái khi đi rẫy thì gùi không nhưng lúc về để gùi trống thì cha mẹ mắng, họ hàng chê không tiếc lời. H’Lem bảo đó là con gái xấu. Tôi hiểu ý nàng muốn nói là con gái hư. Nếu hư thì khó cưới được chồng, nàng bảo thế. Số vốn tiếng Việt của nàng ít ỏi, đủ để nói chuyện bâng quơ, còn tôi hiểu lõm bõm tiếng Rađê, nói bập bẹ tiếng dân tộc nên thật khó khăn cho tôi khi nàng muốn diễn tả một vấn đề phức tạp nào đó liên quan đến phong tục tập quán.

Cần nói thêm địa bàn hoạt động của tôi khi được bổ về huyện Buôn Hồ. Tay thủ trưởng gốc Nghệ an, lùn loắt choắt, mắt sâu, mũi quặp, lưỡng quyền cao, giọng ồ ồ vì nghiện thuốc lào kinh niên họp tất cả 5 sinh viên chúng tôi lại và ra lệnh về các làng mạc xa xôi để đòi nợ. Những nợ cũ của dân chúng mượn từ Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp của chế độ cũ đều phải trả cho nhà nước. Tiền dân gửi vào ngân hàng thì tên thủ trưởng bảo, “thằng Thiệu đem đi hết rồi.” Hắn dằn mạnh chữ “thằng” trong câu nói. Đó là cái sốc đầu tiên của tôi khi vừa nhận nhiệm sở. Riêng tôi được điều về làng mạc của người dân tộc, ở đó có ông chủ tịch xã nói tiếng Kinh khá sõi. Xã (tôi quên mất tên) nằm sâu cách quốc lộ 14 chừng vài cây số. Phương tiện di chuyển duy nhất là đôi chân, may mắn mới có xe bò đi nhờ. Nằm dọc theo quốc lộ là 3 xã toàn dân công giáo; Hà Lan A, B, và C. Thuở mới di cư vào Nam, dân Nghệ Tĩnh Bình được tổng thống Diệm cấp phát ruộng đất kéo nhau lên đây canh tác. Thời đấy gọi là dinh điền. Dân số ban đầu tụ tập tại Hà Lan A, sau đông dần nên lập thêm Hà Lan B, và cuối cùng là Hà Lan C.

Công việc của tôi rất đơn giản, mỗi ngày đi đến từng gia đình còn vướng nợ với ngân hàng cũ đòi cho bằng được. Không trả ít thì trả dần. Không có tiền thì bán gia súc để trả nợ. Chỉ thị rõ ràng từ tay thủ trưởng ngân hàng. Chuyện đòi nợ đối với tôi chẳng đặng đừng vì thấy gia đình nào cũng nghèo. Gia tài họ có vài sào ruộng, trồng lúa và ngũ cốc. Dưới nhà sàn thả rông dăm con gà chạy lăng xăng kiếm mồi; nếu nhà khá giả thì có thêm vài con heo mọi chạy sục sọi kiếm cùi bắp hoặc bất cứ cái gì có thể nuốt để nhét cho đầy bụng. Họ chăm lo canh tác trên mảnh đất riêng, dứt khoát không vào hợp tác xã. Thời chiến tranh, họ vỡ đất, cày bừa loanh quanh xã chừng độ 4-5 cây số. Đi xa hơn rất nguy hiểm vì sẽ gặp quân FULRO (Front Unifié pour la Libération des Races Opprimées, Mặt Trận Thống nhất Giải phóng các Dân tộc bị Áp bức), một lực lượng đòi tự trị vùng Tây nguyên do thực dân Pháp để lại, và nhất là gặp bọn việt cộng chính quy miền Bắc. Khi hết chiến tranh, đất rừng bạt ngàn nên dân làng cứ tha hồ vỡ đất mới để canh tác, cương quyết không chịu làm ăn chung theo chính sách của nhà nước. Nói mãi không nghe, nhà nước răn đe bằng cách tịch thu đất cũ của họ. Lấy đất cũ thì họ lại đi xa hơn, vỡ đất mới. Cứ thế họ cuốc bộ hơn chục cây số đường rừng để canh tác. Mùa gặt tới, họ đem lúa cất trữ trong nhà, ngũ cốc đem bán ở chợ Hà Lan đổi lấy cá mắm. Phần đông dân làng làm vừa đủ ăn, thì lấy đâu dư tiền để trả nợ mà họ vay mượn trước đây.

Biết thế, nhưng tôi phải thu cho được vài trăm tiền nợ để mỗi tháng đem về nộp cho ngân hàng. Đó là chỉ tiêu của tay thủ trưởng đặt ra cho mỗi đầu người. Thường tôi cầm danh sách nợ đến gặp ông chủ tịch xã, và đi với ông đến nhà nào trông có vẻ dư dả và nhờ ông giải thích với họ. Tôi chìa danh sách nợ, cho họ xem số tiền nợ cả nghìn, xin họ trả nợ chừng vài ba chục, và thường họ đồng ý ngay. Mỗi tháng tôi đi chừng chục nhà, thế là đủ số tiền nộp. Bản tính người dân tộc không thích dây dưa với chính quyền, kể cả trước và sau 75, nếu không nói là sợ. Họ chỉ muốn yên thân làm bạn với nương rẫy, sống cuộc đời giản dị, ngày canh tác, tối rượu cần theo ngày tháng trôi. Họ nhìn nhân viên nhà nước với ánh mắt e dè, ngại ngùng tiếp xúc. Thấy nét mặt nhăn nhúm của họ khi ông chủ tịch giải thích số tiền nợ là tôi hiểu ngay. Họ không thích tôi, họ tránh thấy tôi, chỉ vì tôi mang tai họa đến cho cả gia đình. Thật khổ cho nghề đòi nợ thất đức của tôi. Bởi thế, theo ông chủ tịch xã đi đòi nợ là một cực hình mà tôi cắn răng phải làm đôi lần trong tuần.

Và tôi gặp H’Lem lần đầu khi theo ông chủ tịch xã đến nhà một người dân tộc khá giả trong làng.

Ông chủ nhà người tầm thước, độ 50. Ông ăn mặc theo lối người Kinh, áo sơ mi quần tây trông lịch sự. Theo giấy nợ tôi cầm trên tay, ông nợ ngân hàng cũ khoảng hơn 300 đồng. Tôi tính rợ nếu mỗi tháng ông trả nợ chừng 30, thì gần năm tôi sẽ thu hết số nợ này. Gia đình ông trông dư dả, căn cứ vào bầy heo mọi hơn chục con chạy rông kiếm ăn dưới nhà sàn; chưa kể đàn gà kêu quang quác đang rượt đuổi nhau giành mồi, góc vườn quây một hàng rào tre thấp thoáng mấy con dê đang lặng lẽ nhai cỏ. Nhà sàn cao hơn mặt đất chừng hơn mét, chủ nhà phải bước xuống mấy bậc thang gỗ để gặp ông chủ tịch đang gọi tên ông ơi ới. Tiếng dân tộc tôi đang học, nghe lõm bõm và bập bẹ nói được vài câu ngắn nên không hiểu hai ông nói với nhau những gì. Chắc chắn ông chủ tịch đang giải thích lý do tôi có mặt buổi sáng sớm hôm nay. Chủ nhà gật gù, rồi đưa hai tay phần trần. Trong cả trăm tiếng dân tộc nghe lạ tai, tôi chợt bắt được một chữ tiếng Pháp quen thuộc (d’accord) mà ông chủ nhà cứ gật gù chêm vào sau mỗi câu nói của ông chủ tịch. Ban đầu tôi nghĩ là tiếng Rađê, nhưng cách phát âm khá chuẩn của ông chủ nhà khiến tôi buột miệng hỏi:

– Parlez-vous francais?

Ông chủ nhà quay ngoắt sang tôi, ánh mắt tỏ vẻ ngạc nhiên:

– Oui… oui… et vous?

Tôi cười gượng:

– Un peu.

Tôi nói thật. Số vốn Pháp văn từ trường La San suốt mấy năm trung học đã bị rỉ sét từ lâu. Học mấy năm đại học chỉ toàn tiếng Anh, vì là ngôn ngữ thời đại. Buổi sáng hôm đó không hiểu số vốn tiếng Pháp của tôi chợt bừng sống dậy. Có lẽ nghe vài chữ Tây của ông chủ nhà đã kích hoạt một góc trí nhớ ngoại ngữ trong đầu. Tôi hứng khởi lạ lùng. Ở một nơi lạ lẫm không một ai quen biết, giữa một bản làng lụp xụp nghèo nàn, nếp sống dân làng còn đượm nét hoang sơ, được đối thoại với người đàn ông xa lạ bằng vài chữ tiếng Pháp tôi bỗng thấy thấp thoáng ánh sáng văn minh thành thị. Chắc chắn tôi sẽ moi bằng hết vốn liếng tiếng Pháp của tôi để nói chuyện với ông chủ nhà, cũng là một cách gây thiện cảm hay nhất. Không gì bằng đối thoại và hiểu được người đối diện. Hàng rào ngôn ngữ là bức tường ngăn cách với mọi người, khiến tôi khó hoàn thành được nhiệm vụ. Đầu óc tôi rộn ràng với nhiều ý nghĩ…

Ngay lúc đó, tôi nghe tiếng sột soạt bên hông và tôi ngoảnh mặt lại.

Một cô gái trẻ măng đẩy cửa liếp từ căn nhà nhỏ bước ra ngoài, trên vai khoác một túi xách nhỏ. Cô ngẩng mặt lên nói một câu ngắn với chủ nhà mà tôi đoán là cha cô. Ông gật đầu và cô quay đi, bước ra đường và tiến về phía trụ sở xã. Điểm đặc biệt đầu tiên tôi nhận ra là da cô trắng nõn như cánh sen. Suốt hơn năm ở bản, tôi chỉ thấy đàn ông đóng khố trần che đủ cái cần che, da ngăm đen nổi mốc meo do phơi nắng cả ngày và biếng tắm rửa; con nít đen đủi, bụng ỏng đít teo, trần truồng dang nắng và chạy lông bông khắp xóm; phụ nữ quấn hờ cái váy, vải yếm sơ sài không đủ che ngực để lộ làn da nâu sần sùi đóng vảy. Lần đầu tiên tôi thấy một cô gái Thượng nước da trắng đến lạ lùng. Một màu trắng tinh khôi, gợi cảm cuốn hút sự chú ý của mọi người. Trên người cô là bộ quần áo truyền thống dân tộc màu đen, điểm những sợi chỉ đủ màu chạy viền quanh. Thoáng một cái, cô quay người đi nên tôi chưa nhìn rõ mặt. Còn tôi mê mải nhìn theo dáng đi uốn lượn của cô đến nỗi không nghe tiếng ông chủ tịch gọi rộn bên tai.

Tôi ngượng ngùng quay lại. Chủ nhà nói với tôi là ngày chủ nhật đến gặp ông để lấy tiền nợ. Tôi hiểu được chữ “chủ nhật”, còn nguyên câu thì tôi chỉ đoán. Tôi gật đầu cám ơn ông, cả ông chủ tịch và ra về. Cả mấy ngày, tôi cứ ngóng ngày chủ nhật đến, không phải vì số tiền nợ ông chủ nhà hứa, nhưng chỉ muốn gặp lại cô bé hôm nọ.

Hôm chủ nhật, tôi đến khá sớm. Đang gọi tên ông chủ nhà thì cửa liếp lại mở, và cô bé hôm nọ bước ra. Thấy tôi, cô nhoẻn miệng cười:

– Anh muốn gặp ama?

Đúng như tôi đoán, chủ nhà hôm đó là ba cô. Tôi gật đầu:

– Ba cô có nhà chứ?

Cô vẫy tay:

– Chờ em.

Tiếng Việt cô phát âm khá sõi. Cô vén nhẹ tà váy, thoăn thoắt bước lên nhà sàn, kéo tấm cửa chắn và bước vào trong. Dáng cô nhỏ nhắn, khuôn mặt khá xinh, và đặc biệt làn da trắng. Ở cái xứ bụi đỏ mù trời, phần lớn dân chúng cày sâu cuốc bẫm, dầm mưa dãi nắng nên khó giữ cho được làn da nuột nà. Cô gái lại là người dân tộc mà giữ được làn da trắng nuốt phải kể là một kỳ công. Hay là cô bé lai Tây không chừng, tôi nghĩ thầm.

Tôi kiên nhẫn đứng chờ. Cha mẹ ở nhà sàn, nhưng cô gái lại ở riêng nhà trệt như người Kinh. Căn nhà nhỏ dựng gần bên, mái và vách lợp tranh trông khá vững chắc. Từ bậc thang dẫn lên nhà sàn, qua khoảnh sân lót gạch là đến tấm cửa liếp của căn nhà trệt. Hai lần tôi thấy cô từ trong căn nhà nhỏ bước ra. Mấy hôm trước và hôm nay.

Một lát sau, ông chủ nhà xuất hiện, vẫy tay gọi tôi lên. Tôi leo lên mấy bậc thang gỗ, theo ông vào nhà. Nhìn thoáng, tôi đếm được ba bếp dùng để nấu nướng. Theo phong tục của người Rađê, con cái và dâu rể vẫn có thể ở chung một nhà sàn. Căn cứ vào bếp nấu ăn, mỗi bếp là một gia đình, người ta biết có bao nhiêu gia đình chung sống. Đôi lúc một nhà sàn dài hun hút chứa hơn chục gia đình gồm mấy chục người chen chúc sống. Chỉ vào chiếc ghế thấp chân cạnh bếp, ông ra hiệu tôi ngồi. Ông đi về phía góc nhà, mở nắp rương, lấy ra vài chục bạc trao cho tôi. Tôi nhận tiền, viết biên lai đưa cho ông. Ngồi trên chiếc ghế đối diện, ông niềm nở hỏi chuyện tôi. Tôi dùng hết số vốn tiếng Pháp còn nhớ để diễn tả, chữ đực chữ cái. Tôi thật sự không theo kịp ông nhưng cũng đủ diễn tả một phần những điều ông muốn biết về tôi. Nhà tôi ở miền xuôi, lên đây làm việc, tôi nói với ông. Ông nói tiếng Pháp suôn sẻ, giọng khá chuẩn. Tôi ngồi nghe ông nhiều hơn nói, mà nghe cũng chẳng hiểu hết ý. Câu chuyện sôi nổi dần, ông kể chuyện thời ông làm phụ tá cai đồn điền cho Tây, rồi về làng lấy vợ. Ông nói thêm, ông có 3 con, cô con gái lúc nãy là con đầu lòng. Ông bảo thêm, elle s’appelle H’Lem. À ra thế, tôi nhủ thầm, tên cô bé là H’Lem.

Mải nói chuyện, tôi không để ý H’Lem đang ngồi xéo bên hông nhặt sạn, rổ gạo nằm gọn giữa 2 bàn chân. Được một lát, nàng kéo ghế đến gần bếp, nhóm lửa. H’Lem đổ bầu nước vào ấm, ngồi chờ sôi. Chỗ nàng ngồi chênh chếch ngay phía sau ba cô. Khuôn mặt nàng nhìn nghiêng nghiêng, mái tóc bồng bềnh chấm vai, sống mũi thẳng, miệng chúm chím như nụ hoa. Sau làn khói bếp, buổi sáng hôm ấy hình ảnh H’Lem chập chờn mờ ảo như một nàng tiên trong truyện thần thoại.

Cô hóng chuyện, tôi nghĩ thế. Từ lúc biết H’Lem ngồi bên cạnh, tôi cố hỏi chuyện nhiều hơn, gặng hỏi nhiều chi tiết thật ra không cần thiết. Tôi muốn khoe chút vốn liếng tiếng Pháp của tôi. Chẳng biết ba cô có hiểu tôi hỏi gì không nữa, nhưng ông linh hoạt hẳn ra khi thấy tôi lắng tai nghe và hào hứng theo dõi câu chuyện. Ông say sưa nói gần như độc thoại, còn tôi hiểu lơ tơ mơ. Có lúc bắt gặp cô liếc nhìn về phía tôi, khẽ nhếch môi cười, ánh mắt rạng rỡ vui. Rõ ràng cô bé tỏ vẻ cảm phục tôi nhiều.

Giữa câu chuyện, ông vồn vã mời rượu cần. H’Lem khệ nệ mang đến một chóe rượu cao tầm đầu gối đủ cho 2 người đối ẩm. Muốn uống, người ta lấy nước suối đã cất sẵn trong bầu đổ vào bình, chờ cả tiếng cho rượu ngấm. Cần trúc dài hơn sải tay đã được phơi khô, thông ruột nhét đầy trên vách. Cắm cần vào bình, kéo ngược đầu kia xuống, và hút mạnh một hơi rồi trao cho khách. Rượu theo sức hút rót vào miệng. Ngoài vấn đề vệ sinh thường thức, tôi lại không quen uống rượu, nhất là giữa ban ngày. Ông vỗ vai tôi, cười cười nói, “sois un jeune…” Tôi vẫn lịch sự từ chối, hứa với ông một buổi chiều nào đó sẽ thù tạc với ông. Chủ nhà hiếu khách lại mời cơm, tôi cũng xin khất, viện lẽ có việc phải đi chợ Hà Lan mua vài thứ cần dùng.

Ông tiễn tôi ra tận cửa. Bước xuống mấy bậc thang, tôi vẫy tay chào ông. Ông nhắn theo, “à bientôt”. Tôi gật đầu lập lại lời ông. Bẵng đi mấy ngày, tôi không nhớ gì đến chuyện H’Lem vì phải về ngân hàng nộp tiền. Nghỉ ở cơ quan được chừng tuần rồi phải trở lại bản làng. Thật sự tôi vẫn thích đi công tác hơn là ở cơ quan, vì được ăn cơm trắng. Cơm nước ở cơ quan theo đúng tiêu chuẩn, nghĩa là độn khoai sắn, chỉ vỏn vẹn mấy ký gạo cho cả tháng. Khẩu phần gạo vốn ít oi từ sau 75 vì bị nhà nước thu vét để trả nợ nay lại càng vơi đi vì đúng thời điểm tích trữ lúa gạo để đánh Cămpuchia. Bữa ăn, xới được nửa lưng bát cơm trắng là may lắm. Còn lại nhai trệu trạo mớ khoai sùng và hột bobo cứng như sắt đến long cả răng, lở cả lợi. Những ngày ở cơ quan, ăn không đủ no nên tiền lương bọn sinh viên chúng tôi đem nướng hết ở mấy hàng quán. Tiền lương không đủ trả cơm hàng cháo chợ nên sổ nợ lúc nào cũng chi chít những con số. Hễ lãnh lương là đem trả nợ rồi ký sổ tiếp. Về làng, tuy an ninh không bảo đảm (đã có lúc quân Fulrô đánh vào làng), nhưng lại được ăn cơm trắng. Cơm gạo mới của người dân tộc dẻo quánh, chỉ cần chan nước mắm dằm ớt hiểm thì tôi ăn một lúc bốn bát là thường.

Một lần tôi ghé vào trụ sở xã để tìm ông chủ tịch. Đứng ở cửa trụ sở xã nhìn sang trường tiểu học bên hông, tôi bỗng thấy H’Lem. Hóa ra cô gái là giáo viên. Trường xã chỉ có từ mẫu giáo đến lớp 3, do một giáo viên từ miền bắc điều vào làm hiệu trưởng. Tôi lẩn thẩn bước qua trường, tò mò nhìn vào lớp học của H’Lem. Bầy con nít cỡ chừng hai chục đứa đang hát theo cô giáo, một bài dân ca tiếng Rađê. Giọng H’Lem cao vút, hai tay múa nhịp nhàng. Bầy con nít áo quần xốc xếch vây quanh cô giáo ê a hát theo, thân hình lắc lư như đang lên đồng. Nhìn đám con nít đen đủi, tôi chợt nghĩ đến Bạch Tuyết và 7 chú lùn trong truyện cổ tích. Nàng nhoẻn miệng cười khi thấy tôi đứng lấp ló bên ngoài. Tôi vẫy tay chào, H’Lem chào lại. Đứng nhìn một lúc tôi dợm quay đi thì thấy nàng chạy vội ra ngoài. Đến gần, H’Lem bảo:

– Anh muốn đến nhà H’Lem không?

Tôi nghĩ ngay đến số tiền nợ nhưng nếu đến tôi cũng chỉ nói chuyện bâng quơ với ông chủ nhà. Một chút tình cảm nào đó bắt đầu nhen nhúm khiến tôi sẽ không đủ can đảm mở miệng đòi. Ngượng ngùng, tôi nói nhỏ:

– Tháng sau tôi mới đến gặp ba cô.

– Anh đến nhà H’Lem, không phải nhà ama.

Tôi hơi ngạc nhiên, chỉ tay vào người cô:

– Cái nhà bên cạnh phải không?

– Dạ.

Tôi ngơ ngác hỏi tiếp:

– Cô mời tôi đến nhà cô?

Khuôn mặt H’Lem rạng rỡ, giọng vồn vã:

– Dạ. Mời… em mời… mời anh đến nhà.

Lấy lại được bình tĩnh, tôi hứng khởi:

– Chắc chắn tôi đến. Khi nào thì tiện?

– Thứ bảy. Trưa anh đến. Em có bạn nữa.

H’Lem biết tiếng Việt khá nhiều, nhưng ghép lại thành câu cú thì cô bé vẫn chưa thạo. Tuy lờ mờ hiểu được ý của nàng, tôi vẫn ngạc nhiên về sự bạo dạn của H’Lem. Không hiểu có phải tập tục của người Rađê cho phép con gái đi trước con trai một bước. Tôi bỗng thấy yêu tập tục này quá. Hơn tuần, tôi mong gặp lại H’Lem nhưng không dám đường đột. Lời hứa với ông bố sẽ thù tạc một lần với ông nhưng tôi vẫn ngại ngùng. Nợ thì phải chờ tháng sau tôi mới dám mon men đến nhà. Chưa biết làm thế nào để gặp lại cô thì H’Lem đã mạnh dạn ngỏ lời mời đến nhà. Tôi hoan hỉ gật đầu.

Y hẹn, tôi đến. Đứng ngoài cửa liếp, tôi nghe tiếng lao xao trong nhà. Tôi gõ nhẹ lên nẹp tre, gọi nhỏ tên cô. Cửa mở, H’Lem xuất hiện ở ngưỡng cửa, nét mặt rạng rỡ. Cũng khuôn mặt trẻ măng và làn da trắng nuốt như bao lần, H’Lem trông rực rỡ dưới ánh mặt trời gay gắt vào buổi trưa hôm đấy.

Cô đưa tay mời tôi. Vừa bước vào, tôi nhận ra một cô gái đang ngồi trên giường cười cười nhìn tôi. H’Lem bảo bạn em, H’Ngăm. Tôi nhận ra ngay sự tương phản giữa hai cô gái. H’Lem trắng bao nhiêu thì H’Ngăm đen bấy nhiêu. Một màu da đen sạm quen thuộc của các cô gái dân tộc. Thân hình H’Lem nhỏ nhắn, còn H’Ngăm thì to lớn, đẫy đà. Mái tóc đen nhánh của H’Lem phủ chấm vai, còn H’Ngăm thì búi tó như một bà già bắc kỳ chính hiệu.

Căn nhà nhỏ hoảnh bằng bàn tay, vừa đủ kê một chiếc giường, bên trái là chiếc tủ khá cao, bên phải là chiếc bàn chiếm gần nửa chiều dài của chiếc giường. Trên bàn đặt bộ ấm trà và ba bốn tách xếp ngay ngắn, bên cạnh là bình tích đựng nước sôi. Trên vách, một dãy móc áo treo vài bộ quần áo màu đen dân tộc truyền thống. Thấy tôi nhìn quanh một vòng, H’Ngăm nheo mắt:

– Anh thấy nhà con gái dân tộc ra sao?

H’Ngăm phát âm tiếng Việt khá sõi như H’Lem. Tôi thật tình:

– Ngăn nắp không thua gì con gái Kinh.

H’Lem chỉ tay vào chiếc ghế đặt gần bàn, giọng nhỏ nhẹ:

– Anh ngồi đi.

H’Lem ngồi xếp bằng trên giường. Bên cạnh là H’Ngăm, cô gái ngồi thòng chân đong đưa theo câu nói. Còn tôi ngồi đối diện, cách nhau là chiếc bàn dài. H’Lem vỗ vỗ vai bạn:

– H’Ngăm dạy mẫu giáo giống em.

Tôi nhìn cô gật đầu và lẩm bẩm cái tên mới nghe lần đầu:

– Tôi nói tên đúng giọng dân tộc không?

H’Ngăm vỗ tay:

– Đúng giọng rồi. Anh giỏi lắm. H’Lem nói anh giỏi.

– Tôi mà giỏi gì. Hai cô mới giỏi. Hiếm người dân tộc làm cô giáo.

– H’Lem nói ama thích anh vì anh biết tiếng Pháp.

– Tôi quên hết tiếng Tây rồi. Bây giờ tôi chỉ muốn học tiếng dân tộc để nói chuyện với hai cô.

– Tiếng dân tộc không hay đâu.

Tôi đáng trống lảng:

– Thế cả trường có mấy cô dạy mẫu giáo?

Lại cũng H’Ngăm:

– Có hai đứa này thôi.

H’Lem xen vào:

– Anh uống trà?

Tôi gật đầu. H’Ngăm cười:

– Bọn này biết người Kinh thích uống trà.

– Thế người dân tộc thì sao?

– Người dân tộc chỉ uống nước suối, uống rượu cần, không thích uống trà.

H’Lem đứng lên, mở bình tích, đổ nước vào ấm. Cô mở hộc bàn, lấy ra một bịch trà, dán nhãn Bảo Lộc. Bốc một nhúm, nàng bỏ vào ấm. Tất cả thao tác pha trà của H’Lem trông thuần thục. Tôi tò mò:

– Thế hai cô cũng thích uống trà.

H’Ngăm luôn nhanh nhẹn cướp lời. H’Lem có vẻ trầm tĩnh ít nói hơn. Hoặc giả cô bé nể nang, nhường cho bạn làm chủ câu chuyện.

– Bọn này thích uống trà như người Kinh.

Trong câu chuyện, H’Ngăm luôn so sánh những sinh hoạt của hai cô với người Kinh. Cuối câu, tôi thường nghe cô nói, giống người Kinh hoặc như người Kinh. Tôi có cảm giác hai cô rất hãnh diện sự Kinh hóa của mình. Ngay cả đôi xăng đan cô đi dạy cũng có quai hậu, trông lịch sự chứ không đi chân đất hoặc mang dép lẹp kẹp như bao cô gái dân tộc khác. H’Lem nhìn tôi, đôi mắt trong veo:

– Anh ăn kẹo?

Giọng tôi hớn hở:

– Có gì hai cô cứ dọn ra, tôi ăn hết.

H’Ngăm lại cướp lời:

– Bọn này chỉ có kẹo thôi.

Số vốn tiếng Việt của H’Ngăm và H’Lem vừa phải, đủ để ghép thành một câu chuyện nhỏ. Lối đặt câu của hai cô giáo đôi lúc ngây ngô, buồn cười. Thỉnh thoảng, H’Ngăm trộn vào một chữ dân tộc khi không tìm ra chữ Việt để diễn tả. May thì tôi hiểu, không thì phải hỏi lại và nàng giải thích thêm. Đối với tôi, trình độ ngoại ngữ của hai cô như thế là nhất làng, hoặc có thể nhất huyện. Ăn ở dầm dề hơn năm nhưng tôi chưa gặp một cô gái dân tộc nào nói tiếng Việt thạo như H’Ngăm và H’Lem. Cứ thế, chuyện trò lan man về làng xóm, phong tục, thời tiết chừng mươi lăm phút. Bình trà cạn dần, kẹo lạc vơi gần hết. Tôi quay lại chuyện tiếng Việt:

– Hai cô nói tiếng Kinh hay lắm. Tôi cứ tưởng là người Kinh.

H’Ngăm nhanh nhẩu trả lời. Tôi có cảm giác H’Ngăm đóng vai người chị, lúc nào cũng muốn bảo vệ đứa em gái H’Lem.

– Bọn này không hay đâu.

– Hay mà.

H’Lem chỉ ngồi cười cười, thỉnh thoảng góp một vài câu rồi phá lên cười nắc nẻ. Giọng cười H’Lem dòn tan, nghe róc rách bên tai như dòng suối chảy len lỏi qua bản làng.

– Dạy mẫu giáo khó không?

– Dễ lắm. Cả ngày chỉ hát thôi.

– Nhưng làm sao biết dạy?

– Tôi và H’Lem đi học ở tỉnh ba tháng.

– Ba tháng?

– Bọn này học đến lớp 5 ở Hà Lan. Cán bộ đến làng chọn bọn tôi rồi bảo đi học ở tỉnh.

Tôi tò mò:

– Tiền lương làm sao các cô đủ sống?

H’Lem khoát tay:

– Em thích dạy con nít, còn tiền lương không nhiều.

Tôi hiểu ý cô nói yêu nghề đi dạy chứ chẳng trông mong vào tiền lương. H’Ngăm giải thích thêm:

– Buổi sáng dạy, còn buổi trưa bọn này phải đi rẫy. Làm rẫy mới có tiền, đi dạy không có tiền.

Tôi thắc mắc:

– Làm rẫy cho cha mẹ thì làm gì có tiền.

H’Ngăm giải thích:

– Làm cho cha mẹ rồi cha mẹ cho tiền cưới chồng.

Tôi nhớ ra dân tộc Rađê theo mẫu hệ. Con gái đi cưới chồng. Nhà trai thách cưới thì cha mẹ nhà gái phải bán gia súc mới đủ tiền. Có gia đình cưới chồng cho con cái xong bỗng sạt nghiệp. Dãy nhà sàn trống hoác vì bán sạch sành sanh. Người dân tộc chuộng con trai hơn, vì sinh con gái rất tốn kém khi chúng lập gia đình.

– H’Lem mười sáu tuổi nên lấy chồng được rồi.

Vừa nghe đến đó, H’Lem lấy tay đập thùm thụp vào vai H’Ngăm. Mặt nàng đỏ ửng. H’Ngăm phá lên cười, né người sang bên và nói một tràng tiếng dân tộc với H’Lem. H’Lem vùng vằng, mặt xụ xuống. Cô quay mặt đi, nói lại một câu dài. Cô bé không bằng lòng câu nói đùa của bạn. Đúng ra, H’Ngăm nói chẳng sai. Con gái 16 ở buôn làng có thể cưới chồng. Chỉ tội cô lấy H’Lem làm ví dụ. Tôi vội giảng hòa:

– Tôi có người bạn lấy chồng năm 17 tuổi. Người dân tộc lấy sớm hơn một năm. Cũng gần giống con gái Kinh.

Một người bạn học của tôi học dở dang lớp 12 vội bỏ trường lớp đi lấy chồng. Tuổi 17 quá non nớt để gánh vác trách nhiệm của một người vợ, và một người mẹ. Còn con gái dân tộc 16 tuổi đã vững chãi với sương gió, khí hậu khắc nghiệt, và công việc đồng áng. Lớn lên giữa núi rừng, miệt mài trên nương rẫy từ lúc còn đỏ hỏn bú mớm, những cô gái ở lứa tuổi 16 hầu như đã sẵn sàng để gầy dựng một thế hệ tương lai. Mỗi ngày của H’Lem bắt đầu với bầy con nít, trưa nắng trùm kín người chỉ chừa mặt, khoác gùi trên lưng ra nương rẫy, chiều xuống gùi nặng trĩu trở về nhà xong một ngày thật mệt nhọc. Tuổi H’Lem mười sáu. Nàng đã trưởng thành.

Từ khi quen H’Lem, ngày tháng vẫn lặng lẽ trôi với công việc đòi nợ nhạt nhẽo nhưng trong tôi rộn rã một niềm vui. Giữa bản làng nghèo nàn cô quạnh, tôi đã có một người bạn, một người em gái nhỏ. Cuối tuần, tôi ghé nhà chào hỏi ông chủ nhà lấy lệ, rồi kiếm cớ hỏi han H’Lem. Tôi giữ lời hứa uống rượu cần với ông. Ông hào sảng tiếp tôi và mấy người bạn của ông với một chóe rượu cần ngon nhất chôn dưới đất đã hơn năm. H’Lem tiếp nước đổ vào chóe. Cô bé không dám đến ngồi gần, vì toàn bậc cha chú. Chuyện lan man, uống mãi đến khi rượu nhạt thếch. Say khướt. Ông chê tôi. Tôi cười gật đầu chấp nhận kém tửu lượng. Vài lần váng vất cơn say, tôi còn đủ tỉnh táo không dám bước vào nhà riêng của H’Lem, sợ men rượu ép men tình. Và nếu có chuyện đáng tiếc xảy ra, chắc chắn sẽ gây tai tiếng không hay. Cho cả tôi lẫn H’Lem.

Quen biết H’Lem là một hạnh ngộ bất ngờ ngoài sự mong ước của tôi. Cả năm, mảnh đời buồn tẻ của tôi trôi lững lờ với nhiều đăm chiêu về cuộc sống, mơ ước một tương lai khác, suy nghĩ lung về một khung trời mới. Ngày hôm qua với những ước mơ. Ngày hôm nay cũng với ước mơ đó, và tôi biết chắc ngày mai niềm ước mơ của tôi vẫn là mơ ước. Ngày tháng ở buôn làng của tôi trôi chầm chậm một cách nhàm chán, buồn tẻ đến tuyệt vọng. H’Lem đến như một hạnh phúc nhỏ mà tôi nâng niu, trìu mến. Cuộc sống chợt hứng khởi hơn mỗi khi bước ngang trường học thấy H’Lem quấn quýt bên bầy trẻ nhỏ. Tuy vậy, tôi vẫn cố giữ một khoảng cách để giữ tiếng thơm cho nàng, một người con gái đẹp thùy mị. H’Lem hiếm hoi như một nhánh lan khoe sắc gửi thân trên vách đá lởm chởm rêu xanh. Cô bé như một đóa hoa rực rỡ giữa một rừng cây khô cháy, lá úa tàn. Tôi mới ngoài hai mươi. H’Lem tròn trăng, tuổi có thể cưới chồng. Bóng dáng tôi lảng vảng ở nhà riêng của cô bé sẽ không tránh khỏi những con mắt tò mò của các chàng trai dân tộc. Tôi mong sự quen biết của tôi sẽ không ảnh hưởng gì đến chuyện cưới hỏi về sau của H’Lem. Vì H’Lem phải ở lại buôn làng để cưới chồng, và tôi phải về lại đồng bằng, tìm cách vượt thoát cho một tương lai tươi sáng hơn.

Lúc nào nàng tiếp tôi tại nhà riêng đều có mặt H’Ngăm. Chưa bao giờ tôi ngồi riêng với cô bé trong căn nhà nhỏ. Mỗi sáng chủ nhật, tôi đều cuốc bộ ra nhà thờ Hà Lan tham dự thánh lễ (một điều tôi không làm được khi ở cơ quan vì tay thủ trưởng răn đe cấm cản), lòng vòng ở chợ mua vài món lặt vặt rồi quay về làng. Đôi lúc mua được một vài món trang sức thủ công nho nhỏ, tôi đều tạt ngang biếu H’Lem. Nếu thấy chỉ có mỗi cô bé, tôi đưa quà rồi lên nhà sàn gặp ba cô. Ngược lại, nếu thấy có cả H’Ngăm thì tôi ở lại chuyện vãn. Đôi lúc cô bé hiểu sự ngại ngùng của tôi nên thế nào cũng gọi bạn đến chơi. Tôi biết thế vì đôi lần sau khi chuyện trò với chủ nhà và từ giã ra về, xuống nhà sàn ghé mắt nhìn vào nhà cô, đã thấy H’Ngăm ngồi cạnh cô bé đang vẫy vẫy tay mời tôi vào.

Tôi nhớ mãi một lần. Hôm đó, tôi đến thăm H’Lem như bao lần khác, tình cờ gặp cô bé đang giã gạo. Trước mặt H’Lem là cái cối gỗ cao cỡ nửa thước, tầm trên đầu gối. Cô cầm cái chày dài vượt quá đầu, ở giữa đẽo lõm vào cho dễ nắm. Hai tay nắm chặt eo chày, cô đưa lên cao và dập xuống lòng cối. Thao tác đưa chày lên cao rồi giã xuống nhịp nhàng, uyển chuyển như một điệu múa nhà nghề trên sân khấu. H’Lem đứng giữa sân, váy ngắn buộc hờ tuột sâu dưới eo ôm gọn lấy đôi mông tròn mẩy, đôi chân trần mũm mĩm trên nền gạch, áo cánh ngắn cũn cỡn. Chiếc áo cô mặc quá ngắn như không thể nào ngắn hơn được nữa, kiểu áo “đình chiến”, phủ vừa đôi vai để lộ đôi cánh tay thuôn thuôn trắng nuốt, vạt áo thả hờ qua bộ ngực căng đầy rồi đứng khựng lại lưng chừng, phập phồng theo nhịp giã. Khuôn mặt đỏ hồng của H’Lem lấm tấm mồ hôi, mái tóc buộc gọn sau gáy, chùm tóc mai cong vút phất phơ theo ngọn gió nhẹ ban mai.

H’Lem đẹp lạ lùng vào buổi sáng hôm ấy. Một nét đẹp hoang dã của nụ hoa đồng nội, đơn sơ, vụng dại nhưng đầy ma lực sơn cước quyến rũ. Hai tay cô bé cầm chày đưa lên cao, kéo xốc theo vạt áo, để lộ cả một vùng da thịt trắng ngần đập vào mắt tôi. Khoảng giữa phần thịt da lồ lộ, giữa cái eo nhỏ nhắn, cái rốn tròn tròn nằm lả lơi hút chặt ánh mắt đờ đẫn của tôi. Tôi đứng ngây người nhìn cái rốn sâu sâu của cô bé. H’Lem đứng cách tôi chừng vài mét, bụng lẳn thóp vào theo nhịp thở, cái rốn nhún nhẩy theo nhịp giã của cô. Mảng da bụng lõm vào, và lỗ rốn trông như cái hố trũng cơ hồ nuốt hút hết cả khối nước khổng lồ. Tôi chợt nhớ câu nói cảm khái của Phạm Thái trong “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” về mối tình bi thảm với nàng Trương Quỳnh Như tài sắc, “…chí lớn trong thiên hạ không chứa đầy đôi mắt mỹ nhân.” Ngây người ngắm H’Lem giã gạo, tôi cũng cảm hoài mượn câu nói của người xưa, “…chí lớn trong thiên hạ không chứa đầy lỗ rốn mỹ nhân.”

Thấy tôi đứng như trời trồng, H’Lem nhận ra ánh mắt tội lỗi của tôi. Khuôn mặt hồng của cô bé bỗng đỏ rực:

– Đừng nhìn em.

– Đứng đây mà không nhìn H’Lem thì nhìn ai?

Vạt áo của H’Lem vẫn kéo xốc lên một cách trêu chọc. Tôi ngồi bệt xuống sàn gạch, dựa lưng vào vách nhà, ánh mắt không rời khoảng da bụng trắng hồng. Cái rốn sâu chỉ bằng nửa ngón tay út nhưng tôi có cảm giác nó sâu thăm thẳm đủ chôn vùi tương lai của tôi. Lần đầu tiên trong đời, tôi thoáng nghĩ đến một cuộc sống vĩnh viễn ở vùng rừng núi, quanh quẩn bên nương rẫy và chợt quên đi những ước mơ nhen nhúm từ hơn nửa năm nay.

Quen biết H’Lem đã hơn nửa năm. Mỗi lần gặp cô, chuyện nói hoài không hết, ánh mắt và nụ cười như gia vị đậm đà cho câu chuyện thêm thú vị. Mỗi lần gặp là một nỗi vui riêng biệt. Vậy mà có một lần cô bé giận tôi. Hôm đó, tạt ngang trụ sở xã tôi bỗng thấy H’Ngăm từ trường chạy vội sang. Đến gần, cô nói nhỏ, “thỏ đổi lông”. Tôi ngơ ngác chẳng hiểu gì. Nhăn mặt, lắc đầu, tôi hỏi ngược:

– Cái gì?

Nét mặt H’Ngăm nghiêm nghị hẳn:

– Thỏ đổi lông. H’Lem thấy thỏ đổi lông.

– Thỏ nào? Đổi lông làm sao? Tôi chẳng hiểu gì cả.

N’Ngăm chỉ tay về phía nhà H’Lem:

– Anh đến nhà, H’Lem nói cho biết.

– Sao H’Lem không cho tôi biết ngay bây giờ?

– H’Lem giận anh.

– Giận tôi?

– Đúng, thỏ đổi lông.

Tôi đưa hay tay lên trời:

– Lại nữa, thỏ đổi lông là sao?

– Không nói, để H’Lem nói.

– Khi nào?

– Chiều.

Nói xong, H’Ngăm ngoe nguẩy quay ngược về lớp. Thú thật, tôi chẳng hiểu gì về chuyện “thỏ đổi lông.” Chắc chắn đây phải là một thành ngữ Rađê, và ngụ ý thế nào thì tôi phải gặp H’Lem mới hiểu rõ. Chiều xuống, tôi đến nhà đã thấy hai cô gái ngồi yên vị trên giường. Không ngồi vội, tôi hỏi ngay:

– Thỏ đổi lông là sao?

H’Ngăm đưa hai tay ra phía trước, thân hình nhún nhẩy, lẩm nhẩm hát theo nhịp của một điệu nhạc vô hình nào đó:

– Thỏ đổi lông. Thỏ đổi lông… a… ha… thỏ đổi lông.

H’Lem không thèm nhìn tôi:

– Anh ngồi xuống.

Tôi nhẫn nhịn ngồi, và một lần nữa lập lại câu hỏi:

– Nào, cho tôi biết chuyện gì?

H’Lem quay lại, nhìn thẳng vào mắt tôi, nét mặt buồn buồn:

– Em thấy thỏ đổi lông ngày hôm qua.

H’Ngăm bồi thêm:

– Tôi cũng thấy luôn… thỏ đổi lông.

– Là sao?

H’Lem nhỏ nhẹ:

– Hôm qua đi chợ Hà Lan, em thấy anh đi với một cô Hà-lan.

Rồi cô cúi đầu, giọng buồn bã:

– Anh đổi lông?

Tôi chợt nhớ ra ngày chủ nhật, ở nhà thờ ra, tôi lang thang vào chợ Hà Lan. Sát hông chợ là một cửa hàng thương nghiệp. Tôi tạt ngang mua gói thuốc lá. Cô bán hàng trẻ măng xinh xắn, biết tôi là cán bộ ngân hàng nên liều bán cho tôi một gói (thường phải có giấy giới thiệu mới mua được, vì thuộc loại xa xỉ phẩm). Thấy cô vui tính dễ mến, tôi đứng lại, vừa hút thuốc vừa tán chuyện. Tính tôi vậy, lợi khẩu, khéo léo nói vài câu là chuyện kể ra không hết. Cô lắng tai nghe, ra chiều thích thú. Lan man một lúc, cô phải tạm đóng cửa để đi chợ mua thức ăn. Tôi giở thói nịnh đầm, xin theo cô lang thang vào chợ. Cô đồng ý ngay. Thế là tôi và cô lẩn thẩn đến chợ, gây sự tò mò của kẻ mua người bán. Đến hàng rau hàng cá, cô trả giá, tôi tần ngần đứng bên. Mua xong, bỏ gói cá vào giỏ rồi tạt sang hàng rau. Tôi sánh vai với cô rảo khắp khu chợ xổm. Những năm đó, xã hội còn khép kín, nhất là ở huyện xã khỉ ho cò gáy lại còn nhiều điều cấm kỵ, một cặp trai gái không phải vợ chồng xách giỏ đi chợ là điều rất ngạc nhiên. Tôi phớt lờ vì cá nhân tôi chẳng có tăm tiếng gì phải giữ. Trước sau gì tôi cũng rời bỏ mảnh đất bụi đỏ này. Nhưng không ngờ là H’Ngăm và H’Lem đi chợ, và chắc chắn đã thấy tôi.

Bây giờ tôi hiểu được nghĩa của câu “thỏ đổi lông”. Cô hỏi tôi, anh đổi lông? Được hiểu như thay lòng đổi dạ? Đúng ra, tôi chưa là gì với H’Lem và tôi xem cô bé như một đứa em gái. Chưa bao giờ hứa hẹn, và cũng chưa hề nói một câu tỏ tình. Tình cảm của tôi đối với H’Lem, nếu có, bước xa hơn bình thường một chút nhưng vẫn luôn trong vòng lễ giáo. Thế mà cô bé tỏ vẻ khó chịu khi thấy tôi đi với một người con gái khác. Nói “thỏ đổi lông” trong trường hợp của tôi thì khắt khe quá, nhưng tôi hiểu ra một khi con gái dân tộc có cảm tình với ai, họ muốn một sự trung thành tuyệt đối. Lòng trung trinh của người dân tộc thật tuyệt vời.

Nét mặt cô buồn hẳn. Cô ngồi bó gối, ủ rủ như con chim mắc mưa trong cơn bão. Nhìn thật tội. H’Ngăm im lặng, vẻ mặt đăm chiêu, ngồi nhìn mông vào tấm vách. Căn nhà bỗng chìm vào một sự yên lặng nặng nề. Tôi nghĩ sánh vai với cô gái ở chợ Hà Lan chẳng là gì, chỉ là một cơn bốc đồng. Đấy là quyền tự do của tôi và H’Lem chẳng có quyền gì ngăn cấm. Vì một lẽ tự nhiên cô bé chưa là gì trong tim tôi. Nếu có, chỉ là một thoáng tình.

Nhưng tôi lại không đủ can đảm nói thẳng điều tôi nghĩ với H’Lem. Quan niệm của cô bé khác hẳn quan niệm về tình cảm của tôi. Bao bọc bởi núi rừng bát ngát và nương rẫy bao la, nếp sống chân chất của người dân tộc khiến họ suy nghĩ thật đơn giản. Trắng, đen rõ ràng, không thể có một màu xám xám lưng chừng. Tôi nghĩ phóng khoáng hơn, và sự cởi mở trái ngược với lối suy nghĩ bảo thủ của cô bé. Nói thật chắc chắn sẽ làm cô đau hơn, và tôi thật không nỡ.

Tôi nhỏ nhẹ:

– Cô ta làm ở cửa hàng thương nghiệp. Anh nhờ cô trả giá vài món đồ. Chỉ vậy thôi.

Tôi phải nói khác đi, kể ngắn gọn lại vì càng nhiều lời cô càng không hiểu hết ý, không khéo lại gây thêm hiểu lầm. H’Lem ngước đôi mắt thơ dại nhìn tôi:

– Anh không đổi lông?

Tôi nói xuôi:

– Nhờ người ta mua vài món đồ không có nghĩa là đổi lông.

Nước mắt long lanh, giọng cô trầm hẳn xuống, hình như để chỉ mỗi tôi nghe:

– Em buồn khi thấy thỏ đổi lông.

Rồi cô nắm chặt lấy tay tôi (lần đầu tiên chúng tôi có sự đụng chạm), giọng tha thiết hơn bao giờ:

– Anh đừng đổi lông.

Nếu không có H’Ngăm, tôi đã ôm cô bé vào lòng, vuốt tóc an ủi cô đôi lời. H’Ngăm ngồi đó, đuôi mắt sắc lẻm khẽ liếc nhìn bàn tay của H’Lem, nét mặt nghiêm nghị như một quan tòa sửa soạn đọc bản án “thỏ đổi lông” trừng phạt tôi. Mặc dù trấn an H’Lem nhưng tôi không dám hứa hẹn gì thêm sợ lấn sâu vào chuyện tình cảm. Lời nói của tôi nếu gieo nhiều hy vọng thì sau này sẽ gây hậu quả thật không hay khi tôi rời bỏ mảnh đất bụi đỏ mù trời này. Tôi chỉ muốn H’Lem hiểu lưng chừng, bằng lòng với sự quen biết đơn sơ để tránh khỏi sự tuyệt vọng, nếu có, về sau.

Vậy mà có lần tôi suýt vướng lưới tình và tưởng sẽ vùi thân nơi đất khách. Hôm đó H’Ngăm nhắn tin H’Lem đau và muốn gặp tôi. Lại cũng H’Ngăm, cô gái luôn đóng vai con nhạn đưa tin. H’Ngăm cho biết cô bé đã nghỉ dạy 2 ngày. Cơm chiều xong, lúc trời vừa sẩm tối, tôi khoác chiếc áo măng-tô dày cộm rảo bước đến nhà. Tôi phải đợi trời tối để tránh ánh mắt tò mò của dân làng. Đêm xuống nhanh. Trời mùa đông lạnh se sắt. Tôi đến nhà H’Lem lén lút như một kẻ trộm. Đến nơi, đứng ở cửa, tôi khẽ gọi tên cô bé. Có tiếng thều thào trả lời. Tôi khẽ đẩy cửa liếp bước vào. Ngọn đèn dầu leo lét đặt trên bàn đêm tỏa ánh sáng mờ mờ nhưng đủ để tôi thấy H’Lem đang nằm trên giường, tấm khăn mỏng đắp ngang hông. Kéo cái ghế sát vào thành giường, tôi ngồi xuống, nắm bàn tay cô bé. H’Lem không cưỡng lại, để tôi nắm tự nhiên. Bàn tay cô bé mềm mại thịt da, và tôi cảm thấy một luồng hơi nóng truyền sang tay tôi. Hóa ra cô bé bị sốt. Bóp nhẹ bàn tay của H’Lem, tôi hỏi nhỏ:

– Em uống thuốc gì chưa?

Khuôn mặt cô bé đỏ hồng dưới ảnh hưởng của cơn sốt, H’Lem gật gật đầu, giọng mệt nhọc:

– Amĭ (mẹ) cho em uống thuốc dân tộc.

Người dân tộc hái lá cây trong rừng, tự sắc thuốc chữa bệnh. Cùng đường, tuyệt vọng mới đem ra bệnh xá. Thời đó cả nước chỉ có mỗi loại thuốc phổ thông tên ‘xuyên tâm liên’ trị bá bệnh; từ sốt đến tiêu chảy, từ phù thủng đến đau dạ dày. Nếu thuốc nam không chữa được, ra bệnh xá thì cầm bằng cái chết, vì y tá xem qua loa rồi lại cấp phát cho vài viên “thần dược” xuyên tâm liên. Bước ra khỏi bệnh xá, người nào trên tay cũng cầm một loại thuốc, mặc dù bệnh tình hoàn toàn khác nhau. Đã hai ngày mà cơn sốt không giảm, có lẽ phải đưa H’Lem đi bệnh viện tỉnh. Bệnh xá xã trông ọp ẹp và bẩn thỉu đến rùng mình. Đặt tay lên trán cô bé, tôi ghé sát mặt H’Lem, hơi thở nóng hừng hực phả vào mặt tôi:

– Em đỡ chưa?

Cô gật đầu nói em bớt nhiều. Vầng trán lấm tấm mồ hôi, cánh tay cô luỗi hẳn, không còn sức lực, nặng trĩu trên tay tôi. Mấy ngón tay thon thon ngoan ngoãn để tôi vuốt ve. H’Lem nhìn tôi, giọng trìu mến đầy cảm động:

– Anh đến nhà em…

– H’Ngăm nói, anh mới biết.

Dưới ánh đèn dầu vàng nhợt nhạt, khuôn mặt H’Lem như một hấp lực kéo sát tôi lại gần. Tôi định hôn lên đôi môi khô nứt nẻ của cô bé nhưng không hiểu sao tôi ngưng ngay ý định đó. Tôi ân cần:

– Em uống chút nước nhé?

H’Lem khẽ gật đầu. Tôi nâng đầu cô dậy, lấy chiếc gối dài kê lên cao. Bầu nước để gần bên, tôi đổ ra ly, và múc từng thìa mớm cho cô uống. H’Lem nhếch môi, khó khăn uống từng hớp nước. Được hai ba thìa nước, tôi bỗng thấy nước mắt cô bé chảy dài lên má.

– Sao vậy?

Giọng H’Lem nghe như muỗi kêu:

– Cám ơn… anh.

– Không sao, em nằm nghỉ đi.

Nhẹ nhàng đặt đầu cô bé xuống chiếc gối êm. Bỗng H’Lem hơi rướn người, nắm chặt tay tôi:

– Anh ở lại nhà em.

– Ừ, anh ở lại chứ. Em cứ nằm nghỉ cho khỏe.

Cô nhoẻn miệng cười, nụ cười trong cơn sốt trông méo mó như đôi môi bị lệch sau cơn động kinh:

– Em khỏe nhiều lắm.

H’Lem nằm yên dưới cơn sốt đến rồi đi, mắt nhắm nghiền, hơi thở mệt nhọc. Tôi ôm bàn tay nóng sốt của cô bé, lặng lẽ vuốt mái tóc bê bết mồ hôi, vỗ về cho cô ngủ. H’Lem ngủ hiền lành như một mèo nhỏ, chìm vào giấc ngủ bình yên không mộng mị. Tôi ngồi lâu lắm, cũng chìm đắm vào những suy nghĩ về một tương lai mù mịt. Ngoài kia, bóng đêm phủ kín buôn làng. Cả một không gian tĩnh lặng đổ ập lên mọi sinh vật, chỉ còn tiếng côn trùng rỉ rả nghe như một khúc nhạc đơn điệu, buồn não lòng.

Bỗng H’Lem trở mình, và choàng tỉnh. Tôi nghe tiếng lao xao vọng đến từ xa. Thính giác bén nhạy của một cô gái sơn cước phân biệt được hầu hết mọi tiếng động trong đêm tối. Tôi chợt nhận ra tiếng chân người. Cô bé nhìn tôi, đưa ngón tay lên miệng ra hiệu yên lặng. Đồng hồ tay chỉ gần nửa khuya. Đêm hôm khuya khoắt, chỉ có đám du kích đi tuần quanh bản. Tôi biết tay du kích trưởng là người Kinh, được bổ về làng chỉ huy khoảng 7-8 thanh niên dân tộc, với nhiệm vụ giữ an ninh cho làng xóm.

Nên hiểu tình trạng an ninh vào những năm vừa mất nước. Tất cả mọi sự đi lại đều phải được sự chấp thuận của chính quyền, kể cả thăm viếng ngủ qua đêm. Sau giờ giới nghiêm, ở làng xã thường bắt đầu từ sẩm tối, ai về nhà nấy, không được tụ họp, hoặc ngủ lại mà không có giấy phép. Thời gian đó dân chúng đã sống như trong một nhà tù lớn, ai ở xà lim nấy. Tôi đến công tác ở xã, ông chủ tịch đã chỉ định cho tôi trú ngụ tại một nhà cố định. Dĩ nhiên, ban đêm tôi ngủ lại ở một nhà khác cũng phải có giấy phép. Trai chưa vợ, gái chưa chồng, ban đêm ở chung một nhà có thanh minh mấy cũng chẳng ai tin. Tình ngay lý gian là thế. H’Lem là giáo viên, tôi là cán bộ ngân hàng, nếu bị phát hiện cả hai ở trong một căn nhà quá giờ giới nghiêm thì khó mà biện hộ cho sự ngay thẳng. Nếu đám du kích ập vào bắt quả tang và lập biên bản (có thể bị ghép tội hủ hóa) thì tôi chẳng còn mặt mũi nào làm việc ở xã này thêm một ngày nào nữa. Nhưng điều tai hại nhất là để lại tai tiếng cho H’Lem. Trước mặt chính quyền xã cô phải giải thích sao cho xuôi, và nhất là sự xấu hổ khi cô bé phải đối diện với phong tục tập quán của bản làng. Lệ làng lắm lúc nặng nề gấp nghìn lần hình phạt của luật pháp. Làm sao tôi gỡ tai tiếng cho H’Lem đây.

Tôi vội vặn nhỏ ngọn đèn dầu. Bước chân xôn xao tiến đến gần, tiếng xì xào nói chuyện nghe rõ dần. Nhìn quanh bốn bức vách bằng tranh, tôi chợt run lên. Vách tranh mỏng, người tò mò chỉ cần khều khều lớp rạ là đủ thấy cảnh vật trong nhà. Bọn du kích biết căn nhà này của H’Lem, nếu một đứa đứng lại chòng ghẹo cô bé cũng đủ nguy. Hình như H’Lem cũng nhận ra sư nguy hiểm cận kề, cô bé giật tay tôi:

– Tắt đèn… anh, tắt đèn…

Tôi che tay, thổi phụt ngọn đèn. Căn nhà chìm hẳn trong bóng đêm. Bọn du kích bước đến ngang nhà. Một đứa nghịch ngợm cất tiếng gọi tên cô bé. Bàn tay H’Lem lạnh ngắt, run bần bật, không hiểu vì sợ hay vì cơn sốt. Tim tôi đập thình thịch. Cả hai nín thở, chờ đợi. Gọi mãi không thấy ai lên tiếng, toán du kích phá lên cười hô hố rồi bỏ đi. Tiếng chân xa dần rồi mất hẳn.

Tôi hoàn hồn. Bàn tay của H’Lem vẫn giữ chặt cánh tay tôi. Cô bé vẫn chưa hết sợ. Bóng tối dày đặc như hũ nút. Có tiếng thạch sùng tặc lưỡi đâu đó trên mái nhà. Tôi nghe ngóng thêm một lúc nữa. Tất cả yên ắng trở lại. Cảnh vật chìm dần vào giấc ngủ nửa khuya về sáng. Khi biết chắc chắn sự nguy hiểm đã qua, tôi gỡ nhẹ bàn tay cô bé, nói nhỏ:

– Để anh thắp đèn.

H’Lem giữ chặt tay tôi:

– Đừng anh… đừng… nó trở lại…

H’Lem lo xa, và tôi thấy không hẳn là vô lý. Sự nguy hiểm vẫn rình rập chúng tôi. Nỗi lo sợ bị bắt quả tang còn vương trong tâm trí. Tôi ngồi yên trong bóng đêm lâu lắm, nghe bước thời gian hình như chậm lại, uể oải, mệt nhoài sau cơn căng thẳng của đầu óc. Cả hai im lặng đồng lõa trong bóng đêm quyến rũ. Hình như chúng tôi cố tìm đọc ý nghĩ của nhau. Anh đang nghĩ gì về em, và không biết em đang muốn gì nơi tôi. Chỗ tôi ngồi ngang tầm ngực của H’Lem, nghe rõ hơi thở phập phồng của nàng. Tôi linh cảm một cái gì đó mới mẻ, lớn lao đang sửa soạn xảy ra. Đêm mệt mỏi trôi nhưng ướt át đợi chờ. Thời gian cũng kiên nhẫn đợi. Tôi cũng thế, trong tôi đang chờ một điều gì đó sẽ xảy ra, và chắc chắn sắp xảy ra.

Chung quanh tôi là một màu đen đặc quánh. Thị giác mù lòa, nhưng tôi vẫn cảm nhận được mùi hương da thịt quyện lẫn với hương đêm nồng khứu giác. Người tôi chồm về phía trước, mặt suýt chạm vào bộ ngực căng tròn của H’Lem. Bóng tối xúi dục, đầy cám dỗ. Đầu óc tôi chợt nhen nhúm một ý nghĩ tội lỗi chiếm đoạt. Lúc nãy, tim tôi đập thình thịch vì sự nguy hiểm, bây giờ con tim lại rộn rã trong lồng ngực. Trong bóng đêm, tôi cúi mặt sát vào thân hình nóng sốt của H’Lem. Hơi thở của H’Lem bỗng trở nên gấp gáp, đứt quãng như lực sĩ chạy đua gần đến đích. Bàn tay của nàng bấu chặt cánh tay tôi, siết nhả theo từng hơi thở dồn dập. Năm ngón tay thuôn thuôn bỗng trở nên mạnh mẽ lạ thường, cắm phập vào cánh tay tôi như móng vuốt của loài thú dữ giữ chặt con mồi. Tôi không sao cựa mình thoát ra được. Sức lực của cô gái mười sáu không thua gì sức bẻ gãy sừng trâu. Cánh tay tôi đau buốt. Một cơn đau dịu dàng, phấn kích.

Đột nhiên, tôi nghe tiếng H’Lem rót nhẹ vào tai:

– Anh… anh…

Giọng nàng ướt sũng như ánh trăng vàng dẻo quánh trong đêm rằm. Tim tôi đập nhanh như trống thúc quân. Người tôi rạo rực hơn bao giờ. Đang luống cuống chưa biết phản ứng thế nào thì H’Lem cầm bàn tay tôi đặt nhẹ lên ngực nàng. Tôi thở hắt ra như bị hụt nhịp tim. Hít vào một hơi thật đầy, tôi lụp chụp úp bàn tay lên hai quả đồi vun đầy nhọn hoắt. Bầu ngực săn cứng dưới làn vải mỏng. Không hiểu sao đêm hôm đó, tôi lóng cóng như một cậu con trai mới lớn, lần đầu tiên khai phá vùng đất cấm. Tôi ngơ ngác, vụng về, hoàn toàn ở thế thụ động. Bất chợt, sự ham muốn của thân xác sung mãn ở lứa tuổi thanh niên trỗi dậy như nước lũ từ thượng nguồn đổ ào ạt xuống đồng bằng, cuốn trôi hết mọi đạo lý thường tình. Giọng H’Lem nhừa nhựa trong đêm vắng:

– Nằm… nằm…với em…

Giọng nói nhẹ như tơ của H’Lem đêm hôm đó vừa tha thiết, vừa cứng rắn như lệnh truyền. Tôi nghe một chút nài van, nhưng ngầm chứa ma lực của một nữ thần sơn cước. Đầu óc tôi ngầy ngật, lâng lâng như đang trong cơn say. Bàn tay H’Lem kéo chúi thân hình tôi về phía nàng. Lý trí không đủ sức cưỡng lại sự mê hoặc của một thân hình trắng nõn. Tôi nghe tiếng sột soạt trở mình. Mắt đã quen với bóng tối, tôi lờ mờ thấy H’Lem nằm sát vào một bên giường, đủ chỗ cho tôi nằm nghiêng ngắm nhìn khuôn mặt nàng trong bóng đêm.

Trong một thoáng, đầu óc tôi đủ tỉnh táo để nghĩ đến một tương lai mà tôi đang mơ ước, những dự định của tôi phải thực hiện. Tôi khẽ rùng mình nghĩ đến sự huyền bí của núi rừng tây nguyên, của bùa ngải, thư ếm… những điều ma quái tôi biết được qua báo chí, sách vở mà khoa học không giải thích được. Chuyện kể về một người miền xuôi lỡ lời hứa với một cô gái Thượng bị thư ếm vật lạ trong bụng. Bùa ngải cũng có quyền lực riêng, đủ sai khiến, và hành hạ nạn nhân đến chết. Ma xó, người dân tộc thường nuôi trong nhà để bảo vệ và trả thù, nếu cần. Những quyền lực vô hình nhưng đầy uy lực. Từng ấy ý nghĩ quay cuồng trong đầu với một tốc độ chóng mặt. Tôi choáng váng như vừa trải qua cuộc giải phẫu với liều thuốc mê quá mạnh. Thời gian chỉ mất vài giây đủ cho tôi ôn lại những ý nghĩ và đủ nghị lực cưỡng lại được ma lực của xác thịt.

Tôi ngã chúi theo sức kéo của H’Lem nhưng không nằm xoài bên cạnh nàng. Ôm lấy khuôn mặt H’Lem, tôi nói nhỏ vào tai nàng:

– Chật lắm, không đủ anh và em nằm.

H’Lem thở hắt một hơi dài, vội nhả cánh tay tôi. Loài dã thú đã thu móng vuốt, trả tự do cho con mồi thoát thân. Nàng sửa lại thế nằm, lặng lẽ quay mặt vào vách. Căn nhà lại chìm vào yên lặng. Lòng tôi nguội dần theo cơn gió đông thổi lạnh lùng qua tấm cửa liếp. Không biết H’Lem ngượng hay giận dỗi, tôi vỗ về:

– Em ngủ đi. Anh ngồi đây với em.

Không thèm trả lời, H’Lem kéo vội tấm khăn đắp lên người. Cuối chân giường, tấm chăn bông xếp ngay ngắn. Tôi xũ ra, đắp thêm lên người cô bé. H’Lem để yên, không nói gì. Tôi ngồi xuống, suy nghĩ mông lung. Quá mệt mỏi, tôi ngủ gà ngủ gật trên ghế mãi đến gần sáng. Tôi choàng tỉnh khi nghe tiếng gà gáy. Nhìn ra ngoài, trời còn tờ mờ chưa đủ rõ mặt người. Tôi rón rén đứng dậy. H’Lem vẫn còn ngủ say, hơi thở đều đặn. Tôi lặng lẽ bước ra cửa, về nhà.

Sau này, mỗi khi nhớ lại đêm da thịt đầy cám dỗ đấy, tôi biết nếu tôi không cưỡng lại được ma lực và nằm xuống bên cạnh H’Lem, chắc chắn mơ ước của tôi cũng nằm lại nơi đất khách. Tôi không dám nói tương lai bị chôn vùi nhưng tôi biết tôi phải nhận trách nhiệm của sự buông thả quá trớn, chưa kể ma thuật huyền bí của người dân tộc… tất cả đủ để cầm giữ tôi lại mảnh đất đó, mãi mãi. Một lần vượt được cơn cám dỗ, tôi về lại đồng bằng và cũng vượt được cơn sóng dữ của biển cả trùng khơi, bắt đầu cuộc sống mới nơi xứ người, đạt được ước mơ đã nhen nhúm từ lúc ngộ ra bản chất của một xã hội giáo điều.

Cả mấy tuần sau, H’Lem tránh mặt tôi. Ghé ngang trụ sở xã, nhìn qua trường, giọng cô bé vẫn ngân nga trộn lẫn với tiếng nghêu ngao của bầy con nít. Tôi tránh bước đến cửa lớp. Phân vân không biết có nên đến nhà thủ thỉ với H’Lem đôi lời chăng. Suy đi nghĩ lại, tôi không dám, sợ sẽ lún sâu vào chuyện tình đã thấy trước sự chia ly.

Thật may mắn, chỉ hơn tháng sau, tôi được lệnh đổi đi ngân hàng huyện Thuần Mẫn. Đây là huyện mới sáp nhập, nằm sát biên giới cao nguyên Gia Lai, KonTum. Trước ngày đi, tôi ghé nhà H’Lem báo cho nàng biết. Đôi mắt H’Lem thất thần:

– Anh đi xa?

– Ừ, có giấy chuyển công tác đây.

– Khi nào anh về?

– Không biết nữa. Huyện mới nhiều việc. Anh sợ bận rộn lâu mới về thăm em được.

Cô bé nghe tiếng được tiếng mất, chẳng biết có hiểu ý tôi không. Giọng H’Lem sũng buồn:

– Anh nhớ về… đến nhà em.

Tôi vội hứa cho cô bé yên lòng:

– Khi nào về Hà Lan, anh sẽ ghé thăm H’Lem.

Không ngờ đó là lần cuối tôi nói chuyện với cô bé. Ngày đầu gặp gỡ trong niềm vui. Ngày cuối cùng gặp mặt trong nỗi buồn chia tay. Tôi phải dứt khoát với lòng mình, tránh bịn rịn chỉ thêm khổ về sau, vì chuyện tình chẳng đi đến đâu. Tôi phải bỏ mảnh đất này, phải ra đi, và quyết chí không để một vài thứ tình cảm vụn vặt làm cản trở ước mơ. Tôi nghĩ thầm, giá tôi nhận H’Lem làm em gái thì hay hơn.

Làm việc tại huyện Thuần Mẫn chừng vài tháng thì được tin của cha mẹ tôi. Thư gửi qua bưu điện, với mật ngữ ngày tháng sẽ đi thăm bà dì ở Cam ranh. Trước ngày giờ định mệnh, tôi khoác túi vải lên vai, cầm giấy phép đi đường đã được cạo sửa tinh vi, đón chuyến xe đò chạy ngang Thuần Mẫn về thị xã Ban mê thuột, rồi từ đó về lại đồng bằng. Tôi ra đi không ngoảnh mặt lại.

Xe đò chạy ngang Hà Lan, tôi nhìn con đường đỏ quạnh dài hun hút dẫn đến bản làng mịt mờ trong tầm mắt, và hình dung một H’Lem nhỏ nhắn, làn da trắng hồng, vẫn xinh tươi, sống động bên bầy trẻ thơ. Một cô bé tập tễnh làm quen với văn hóa Kinh, và đã có lần tôi rón rén bước vào làm quen trái tim cô. Tôi thầm gửi lời chào vĩnh biệt H’Lem theo gió, và chợt quên đi lời hứa đến nhà thăm hỏi cô khi có dịp trở lại Hà Lan.

Ngồi trên chuyến xe đò rời vùng đất đỏ vào buổi sáng hôm ấy, tôi cố quên đi tất cả, chỉ giữ lại trong tôi một thoáng tình.

Hải Ngữ