TÔI ĐÃ NHÌN RA EM Ở ĐÂU

 

Tôi đã nhìn ra em ở đâu
Sao khuya lộng lẫy sáng chân cầu
Vậy mà chớp mắt em đi mất
Sông trả vai người trưa nắng cao

Tôi đun thêm củi vào lửa đỏ
Khói xanh bay em cũng về rồi
Em về áo cởi đường hư ảo
Nghĩa cũ càng than củi tôi ơi

Có khi tôi bỗng mờ như nắng
Lẩn lút bay vào trong tóc em
Nhiều khi nắng ở tôi đi mất
Tận cuối trời xa lại kiếm tìm

Nhiều khi lịch sử tàn như lửa
Vun quén tro tàn tôi nhớ ra
Em có định làm con chim lạ
Hiểu tiếng người hót ở trong hoa.

NGUYỄN ĐỨC TÙNG

ÁC MỘNG

 

 

Hãy chết đi tấm thân này rách mướp
Những mầm non không còn chỗ đâm chồi
Hãy chết đi tâm hồn này héo mục
Kệ hoa hương lay lắt chịu mồ côi.

Ta đã sống hơn vạn ngày ngu muội
Không lớn thêm dù chỉ tấc phân nào
Thể chất tinh thần thi nhau già cỗi
Sớm muộn rồi cũng nhận một lần đau.

Đầy chiêm bao lời thì thào hãy chết
Chẳng sợ gì lời thật mất lòng nhau
Có thể lắm sau lần ta hóa kiếp
Một ấu nhi kháu khỉnh cất câu chào.

NGUYÊN VI

 

 

 

WASHINGTON, DC (NV) – Blogger Mẹ Nấm là một trong 13 phụ nữ được Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump vinh danh anh hùng thế giới hôm Thứ Tư, 29 Tháng Ba, tại một buổi lễ trao giải tổ chức tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Washington, DC, theo danh sách do cơ quan này đưa ra.

Trong chuyến thăm lần đầu tiên đến trụ sở Bộ Ngoại Giao, bà Melania, cùng ông Thomas Shannon, phụ tá ngoại trưởng đặc trách chính trị, trao giải thưởng Phụ Nữ Can Đảm Quốc Tế của Bộ Ngoại Giao cho 13 phụ nữ này, theo AP.

Hình ảnh cho thấy, có 12 phụ nữ được giải có mặt, ngoại trừ blogger Mẹ Nấm.

Ban tổ chức vẫn để đủ 13 ghế, trong đó có một ghế trống.

Blogger Mẹ Nấm, tên thật là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, sống ở Nha Trang, hiện bị giam trong tù sau khi bị bắt hồi Tháng Mười, 2016, với tội “tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Là thành viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam, bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là một blogger có những bài viết liên quan đến thời sự Việt Nam rất sắc sảo, phổ biến trên Blog Mẹ Nấm và Facebook.

Bà có rất nhiều độc giả khắp nơi, và từng được tổ chức Những Người Bảo Vệ Nhân Quyền (Civil Rights Defenders) trao giải thưởng Người Bảo Vệ Nhân Quyền năm 2015.

Đệ nhất phu nhân Melania, thay mặt Ngoại Trưởng Rex Tillerson đang công du tại Thổ Nhĩ Kỳ, trao giải này.

Giải thưởng được trao cho các phụ nữ khắp thế giới, những người chứng minh sự can đảm và lãnh đạo trong việc cổ vũ cho hòa bình, công lý, nhân quyền, bình đẳng giới tính, và gia tăng quyền cho nữ giới – trong hoàn cảnh nguy hiểm đến tính mạng cá nhân.

Blogger Mẹ Nấm được Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump vinh danh: Đệ Nhất Phu Nhân Melania vinh danh 13 phụ nữ anh hùng khắp thế giới. Chiếc ghế trống (thứ 3 từ phải sang) kế bên ông Thomas Shannon là “dành cho blogger Mẹ Nấm.”

(Hình: AP Photo/Pablo Martinez Monsivais)

Trong phần phát biểu, Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump hỏi người tham dự đa số là phụ nữ hãy tưởng tượng bất cứ người nào trong 13 phụ nữ anh hùng đứng trên sân khấu với bà.

“Hãy tự hỏi mình có đủ tinh thần ngoan cường, sự can đảm, và sức mạnh nội tâm để đứng lên đấu tranh chống lại những sự trở ngại vô cùng lớn không,” bà Melania nói. “Rất tuyệt vời là mỗi một trong 13 phụ nữ được vinh danh này dám can đảm trả lời “có” đối với những câu hỏi này.”

Bà nói tiếp: “Những phụ nữ này đã đấu tranh ngay tuyến đầu chống lại sự bất công, và họ là những anh hùng thật sự.”

Bà cũng nói thêm, sự can đảm của những phụ nữ này nhắc nhở chúng ta rằng “luôn luôn có hy vọng mỗi khi người ta làm việc trong tinh thần phục vụ người khác.”

Các phụ nữ được vinh danh hôm Thứ Tư là công dân của Bangladesh, Botswana, Colombia, Cộng Hò Dân Chủ Congo, Iraq, Niger, Papua New Guinea, Peru, Sri Lanka, Syria, Turkey, Việt Nam, và Yemen.

Vào Tháng Tư tới đây, những phụ nữ này sẽ tham gia một chương trình trao đổi do Bộ Ngoại Giao bảo trợ đi thăm nhiều thành phố tại Hoa Kỳ.

Một trong các phụ nữ được vinh danh là bà Natalia Ponce de Leon, ngườiColombia, sáng lập tổ chức che chở và bảo vệ nạn nhân nhân quyền bị tấn công bằng acid sau khi một kẻ lạ mặt tung vào mặt và người bà này chất acid sulfuric hồi Tháng Ba, 2014.

Một người khác, bà Malebogo Molefhe, công dân Botswana, là một người bênh vực cho các nạn nhân phụ nữ bị kỳ thị giới tính, sau khi bà từng bị tấn công, trong đó có lần bị một người bạn trai cũ bắn tám phát đạn vào năm 2009. Sau vụ tấn công này, bà bị liệt xương sống và phải ngồi xe lăn.

Từ khi bắt đầu năm 2007, hơn 100 phụ nữ thuộc hơn 60 quốc gia được vinh danh và trao giải thưởng qua chương trình này, theo Bộ Ngoại Giao.

Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, 37 tuổi, từng bị bắt giam chín ngày hồi năm 2009, với tội “tham gia tổ chức phản động ‘Người Việt Yêu Nước’’ và được giao phụ trách mảng tài chính, tích cực viết bài trên blog Mẹ Nấm, nhận tiền từ tổ chức khủng bố để in áo thun có nội dung phản đối dự án bô xít ở Tây Nguyên.”

Sau đó, bà được trả tự do nhờ các áp lực rất mạnh từ nhiều chính phủ Liên Âu và các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế.

Báo CAND cáo buộc rằng “không lâu sau đó, Quỳnh lại càng lún sâu vào các hoạt động chống đối nhà nước dưới vỏ bọc ‘’đấu tranh nhân quyền.’’ Quỳnh tham gia nhiều hội nhóm trái phép như nhóm ‘’Tuyên Bố Công Dân Tự Do,’’ ‘’Mạng Lưới Blogger Việt Nam,’’ liên tục kêu gọi tụ tập, biểu tình gây rối an ninh, trật tự trên địa bàn Khánh Hòa và cả nước dưới danh nghĩa ‘’dã ngoại nhân quyền,’’ ‘’café nhân quyền,’’ ‘’biểu tình chống Trung Quốc,’’’ đòi trả tự do cho số người bị bắt, xử lý bên ngoài phiên tòa…”

 Người phụ nữ can đảm và ái quốc

Trước việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chọn blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh cùng 12 phụ nữ khác trên khắp thế giới cho Giải thưởng ‘Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Dũng Cảm’, trên trang Mạng Lưới Blogger Việt Nam nhiều người đã bày tỏ tâm tình đối với Mẹ Nấm qua sự kiện này.

Linh mục Anton Lê Ngọc Thanh (Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn) nói rằng ông ‘‘vui vì những nỗ lực hết mình, bất chấp rủi ro của Mẹ Nấm dành cho quyền tự do ngôn luận, bảo vệ các nhà hoạt động và ngăn chặn tình trạng bị chết trong đồn công an, đã được không chỉ người Việt Nam trong nước và hải ngoại biết đến, mà được cả Bộ ngoại giao Hoa Kỳ công nhận đó là một giá trị xứng đáng cả thế giới khen ngợi.’’

Luật sư Lê Công Định ở Sài Gòn phát biểu: “Tin Mẹ Nấm được Bộ ngoại giao Hoa Kỳ trao Giải thưởng Phụ nữ quốc tế dũng cảm thật sự làm tôi xúc động mạnh. Đó là sự nhìn nhận ở tầm mức quốc tế công sức bao năm qua của chị trong công cuộc tranh đấu cho quyền tự do ngôn luận nói riêng và quyền con người nói chung ở Việt Nam. Giải thưởng này tôn vinh những phụ nữ bị bắt giam, đánh đập và đe dọa giết chết vì đã đứng lên cho công lý, nhân quyền và pháp trị. Mẹ Nấm hoàn toàn xứng đáng với giải thưởng này, và chị đã đi vào lịch sử không chỉ của Việt Nam, mà còn của nhân loại như một chiến sĩ tranh đấu bảo vệ các giá trị tốt đẹp nhất của nền văn minh chúng ta.’’

Luật sư Lê Công Định viết tiếp:’’ Giải thưởng quốc tế dành cho chị Quỳnh chắc chắn cũng là phần thưởng tinh thần vô giá dành cho thân mẫu của chị trong những ngày tháng khó khăn trước mắt. Bà hiện đang thay thế chị Quỳnh nuôi nấng hai con thơ của chị và người mẹ già ngoài 90 tuổi đang đau yếu. Trong lòng tôi đó mới thực sự là những người phụ nữ, người mẹ Việt Nam anh hùng. Họ xứng đáng với mọi lời ca ngợi, không cần và bất chấp sự tuyên truyền vô nghĩa của nhà cầm quyền”.

Blogger Phạm Thanh Nghiên cho hay, ‘‘hãnh diện khi Quỳnh được trao giải thưởng này. Nó là sự ghi nhận dành cho những nỗ lực không mệt mỏi của Quỳnh suốt gần 10 năm qua. Thế giới sẽ biết nhiều hơn về những gì đang xảy ra ở Việt Nam dưới sự cai trị của đảng cộng sản.’’

Và rằng ‘‘Nó cũng cổ vũ tinh thần cho mọi nỗ lực tranh đấu của người dân Việt Nam trong sứ mạng giải thoát đất nước khỏi sự kìm kẹp. Những giải thưởng như thế này tự thân nó mang thông điệp rõ ràng rằng Việt Nam không có nhân quyền. Chừng nào những giải thưởng như thế còn trao cho người Việt thì chừng ấy Việt Nam vẫn là một đất nước không tự do.’’

Cũng trên trang của Trang Mạng Lưới Blogger Việt Nam các Blogger như Nguyễn Hoàng Vi, Hải Âu, Trịnh Kim Tiến, Huỳnh Anh Tú, Dương Đại Triều Lâm ,Vũ Sỹ Hoàng… đã bày tỏ tình cảm lòng khâm phục, ngưỡng mộ dành cho Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, trước sự đóng góp to lớn vào công cuộc dân chủ hóa Việt Nam. (ĐD-KN)

Chạm cõi Mimosa

 

Về đây với xứ ngàn hoa
Bâng khuâng chạm cõi Mimosa ngập chiều
Hoa vàng màu nắng liêu xiêu
Hay là vàng của hắt hiu sương tràn

Mimosa cứ nồng nàn
Khói mây lãng đãng bạt ngàn thông reo
Chiều sâu hun hút lưng đèo
Sương trôi ngỡ nắng vàng neo dốc tình
Tôi ngồi vốc gió đồi chênh
Bụm tay hái cả mông mênh chiều tàn
Nầy em sợi gió trên ngàn
Nghe Mimosa chạm sắc vàng long lanh

Nầy chiều Đà Lạt mong manh
Có hay tôi với chòng chành thông xanh
Có hay tôi bước không đành
Mùa Mimosa vỡ giữa thành phố hoa…

Đà Lạt, tháng 10, 2016

Nguyễn Minh Phúc

BÀI HÁT CHIM QUYÊN

một tôi với một chỗ ngồi
bông mây trắng xuống chim đồi nhạc lên
chỗ này là khúc thiên tiên
sao con quyên nhỏ lạc miền hà khê

mái tình ê ẩm rủ rê
phố xuôi mấy bận xáng xề sang sông
nhà bên kia phố long nhong
người bên ni phố lòng nhòng ngựa xe

em quên vuốt mớ tóc thề
bạc như rừng núi vỗ về lá thưa
tôi quên mình tuổi cũng vừa
khô cong cọng cỏ chờ mưa bên ngàn

tang tình câu nguyện đa mang
chân như hóa khói về ngang quê nhà
chim quyên ăn nửa trái cà
con trùn nằm khóc hồn ma bãi bồi

ru hoài chi khúc sông vơi
nửa đêm trái mộng rụng ngoài thanh âm
nửa đêm nhộng nức kén tằm
tơ người năm cũ dệt đằm thắm xưa.

BÙI DIỆP

NHỮNG NĂM THÁNG Ở CẦN THƠ ( hồi ức)

 

 

 

 

Sau biến cố Mậu Thân, tôi tự hiểu, rằng không thể nhởn nhơ mãi ở Văn Khoa như những anh chàng lãng du giữa mộng và thực; bởi rất có thể đến một ngày nào đó quân trường sẽ điểm tên như một số bạn bè tôi trước đó. Điều mà má tôi sẽ buồn không ít, bởi bà mẹ nào cũng sợ súng đạn, chết chóc. Và vì vậy tôi quyết định nộp đơn thi vào ĐHSP như một cách “trốn chạy” tốt nhất. Trước khi ra bến xe Pétrus Ký, tôi ghé 38 Phạm Ngũ Lão gửi cho Văn bản thảo truyện ngắn Đong Đưa Kỷ Niệm (sau đăng trên Văn số 114 ngày 15.9.1968). Ông Trần Phong Giao nói tình hình hiện nay bất ổn lắm, cậu liệu mà chọn đường đi. Tôi nói ý định của mình. Ông nói, vậy thì tốt, nếu đậu có thể hoãn dịch. Tôi chào ông, ra bến xe.

Lần đầu tiên về miền Tây, tôi thấy cái gì cũng lạ dọc theo QL4: Đồng ruộng mênh mông. Vườn trái cây xanh um. Sông rạch chằng chịt. Những chiếc phà xuôi ngược bên dòng sông Tiền, sông Hậu. Những giỏ trái cây mơn mởn hai đầu bắc Vĩnh Long, Cần Thơ… Những chiếc xe lôi đạp lạ mắt. Thành phố Cần Thơ êm đềm. Bến Ninh Kiều như một cô gái quê đằm thắm…

Lần đầu đặt chân đến vùng sông nước miền Tây, không có ai thân quen, đành tìm một khách sạn tuyềnh toàng, ăn cơm dĩa chờ ngày thi. Trong thời gian này tôi bắt xe lôi đi quanh quẩn một vài nơi. Chỗ nào cũng thấy các sắc lính lẫn vào đám “civil”. Chán, về nằm ì trong phòng, mở toang ô cửa nhỏ nhìn ra bến Ninh Kiều, nhìn ghe thuyền tấp nập. Sáng và chiều nghe tiếng đọc kinh của tín đồ Hoà Hảo bên kia sông, gieo vào lòng một cảm giác lạ.

Mấy ngày sau, tôi vào trường thi ở trung học Phan Thanh Giản. Sĩ tử tứ xứ. Tôi không hề biết ai là ai, lầm lũi ngồi vào bàn, ghi số báo danh lên giấy, chép đề. Mãi tận tới nay, tôi vẫn nhớ rõ đề thi của khoa SP ban Việt-Hán: “Anh chị hãy bàn về sự thật của nghệ thuật giữa Mai và Lộc ở đoạn cuối tác phẩm Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng”. Tôi không nhớ mình đã viết những gì, nhưng chắc chắn những điều tôi “phịa” ra, được dẫn từ cấu trúc tiểu thuyết mới của Pháp rồi những A. R. Grillet, Camus, Clévi-Strauss … các trào lưu văn học phương tây, nhất là trường phái lãng mạn, ít nhiều ảnh hưởng đến nhóm TLVĐ cùng những nhận xét của cụ Vũ Ngọc Phan trong tập Nhà Văn Hiện Đại… choáng đầy 12 trang giấy thi trong 3 tiếng cắm cúi viết.

Chỉ có duy nhất một đề cho ban Việt-Hán! Tôi nộp quyển và không có khái niệm rõ ràng về lòng tự tin, nhẹ nhàng bước lên xe đò trở về SG, cũng như lúc ngồi xe xuống Cần Thơ, bỏ lại sau lưng những đường phố ngập bụi, bữa cơm dĩa, phòng ngủ ám mốc…

Nửa tháng sau, tôi nhận được điện tín báo đậu hạng thứ 3. Người mừng trước tiên là má tôi, mừng đến chảy nước mắt, sau đó là cha và hai em gái. Còn sự mừng của tôi là rút sâu vào đáy lòng, nhưng, trước hết tôi có thể yên ổn ba, bốn năm. Số đỏ!

Trước khi xuống Cần Thơ nhập học, tôi ghé lại 38 Phạm Ngũ Lão vừa báo tin vừa chào ông thư ký toà soạn. Ông vui ra mặt, hỏi tôi có quen ai dưới đó không? Tôi đáp không. Ông mở hộc bàn, lôi quyển sổ con hí hoáy viết cho tôi mấy địa chỉ, cả anh Viên Linh cũng cho tôi địa chỉ chị Phong Lan ở 105 Phan Đình Phùng. Tới nơi, đầu tiên tôi tìm đến nhà Lê Trúc Khanh trong con hẻm cuối đường Phan Thanh Giản. Từ đó gặp thêm Nguyễn Hoài Vọng rồi Phù Sa Lộc, Bùi Hữu Trạng… Tôi nhờ họ tìm giúp nhà trọ lâu dài. Và thật may mắn, trên căn gác gỗ số 2 cùng đường, còn bên dưới là quán cơm bình dân cho sinh viên, quân nhân, công chức… là chốn nương thân đầu tiên. Tiện lợi đủ bề.

Mọi thủ tục nhập học đều suôn sẻ, mặc dù trước đó, tôi phải ra sức “năn nỉ” cô Ngọc người phụ trách thu nhận hồ hồ sơ cho các tân sinh viên SP, bởi tôi trễ hạn đến 2 ngày. May mà nhờ có chị Yến ở Viện nói giúp, sau khi tôi lên tận phòng Khoa Trưởng ĐHSP Nguyễn Văn Vàng trình bày “sự cố”.

Chương trình năm thứ Nhất không có gì khó khăn. Có lẽ vì thế mà “máu văn nghệ” liền nổi dậy. Anh em viết văn làm thơ ở Cần Thơ thì đông đảo, nhưng một tờ báo văn nghệ kiểu các tỉnh Trung phần thì vắng bóng. Duy nhất chỉ có tờ nhật báo Tây Đô chuyên về thời sự, chính trị, xã hội… Tôi bàn với Bùi Hữu Trạng, Nguyễn Hoài Vọng và Trịnh Ngọc Thảo thực hiện chương trình Văn học Nghệ thuật trên đài Phát thanh Cần Thơ, theo cách tôi và Hoàng Đình Huy Quan đã làm ở Tuy Hoà những năm 1965-1966. Ý tưởng của tôi được anh em tán thành và ông Trưởng đài cũng dành sự dễ dãi, ưu ái. Thời lượng phát mỗi tuần một tiếng vào tối thứ Tư và tất cả đều do chúng tôi chịu trách nhiệm nội dung kể cả phát thanh viên, ca sĩ, người ngâm thơ…. Số đầu tiên có một bài “đinh” khá dao to búa lớn: Văn học Nghệ thuật và Tuổi trẻ trước thời cuộc. Nội dung chủ yếu là vai trò của VHNT phải đứng về về phía cái mới, trên căn bản nhiệt huyết tuổi trẻ, có trách nhiệm trước sự tồn vong của dân tộc, trước cuộc chiến.v.v. và .v.v. Cũng trong số đầu tiên này, chương trình cho ngâm những bài thơ của Quang Dũng, Hoàng Cầm, một số các nhà thơ trẻ cùng các ca khúc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đức Quang. Đến số thứ 3, chúng tôi nhận được khá nhiều thư của thính giả: Góp ý có, khen có, chê có và rất nhiều bài vở cộng tác. Cả nhóm vừa phải học ở trường, vừa chọn lọc thư từ bài vở đưa vào chương trình, trả lời thư… Soạn chương trình thì dễ, nhưng thực hiện nó thì khó trăm bề (bởi chúng tôi là những tên “vác ngà voi hàng tổng” làm việc không công, nghĩa là không có một đồng công xá nào!): Ngày thu thì phát thanh viên bận thi, có người ngâm thơ thì không có anh thổi sáo, có người hát thì mất anh đệm đàn! Dẫu vậy, các bạn trong nhóm, nhất là Cỏ May, Thu Kiết, sau thêm chị Ngọc Mai đã rất nhiệt tình để chương trình không bị gián đoạn. Rồi Thái Khi, Nguyễn Thành Nghiệp cũng lao vào cuộc. Nhưng càng về sau thì chương trình xộc xệch hẳn đi. Xộc xệch bởi ai cũng phải lo “đèn sách”… Đến cuối năm 1968 thì tan đàn rã gánh! Mấy tháng sau, nhóm Về Nguồn của Lê Trúc Khanh “kế tục” chương trình này trên sóng đài Cần Thơ theo cách riêng của họ.

Cũng chính nhờ chương trình này, mà tôi được gặp lại những người bạn cùng xứ đang đóng quân ở Cần Thơ: Lê Đình Du, pháo binh đóng ở phi trường Trà Nóc, Lê Văn Hiệp, Không đoàn 4, Nguyễn Văn Phong, BĐQ, Lê Trọng Luật, SĐ 21… Nhưng hơn hết là được gặp gỡ các bạn văn mà trước đây chỉ “văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình” là Hạc Thành Hoa, Hà Nghiêu Bích bên Sa Đéc, Yên Uyên Sa ở Long Xuyên, Lộc Vũ Cần Thơ, Nguyễn Bạch Dương Vĩnh Long… để bàn những chuyện “long trời lở đất” về văn chương, về một tờ báo cho những người viết trẻ…

Chấm dứt chương trình trên sóng đài Cần Thơ, Bùi Hữu Trạng, Thái Khi và tôi bàn ra một đặc san tết. Tôi chạy bài vở, Trạng và Thái Khi lo giấy má, quảng cáo và in ấn. Tôi liền viết thư đến các bạn văn xin bài, và được đáp ứng nhiệt tình kèm theo những lời khuyến khích. Tên tờ đặc san số xuân Kỷ Dậu 1969 tới giờ này không thể nhớ tên. Hỏi Bùi Hữu Trạng cũng không nhớ, nhưng bài vở thì phong phú: Võ Hồng, HĐHQ, Kinh Dương Vương, Trần Hoài Thư, Trương Cương Thanh, hạc Thành Hoa, Nguyễn Bạch Dương… và anh em trong nhóm rồi giao cho BHT, Thái Khi mang đi in ấn. Khi hai anh mang báo về, tôi vô cùng ngạc nhiên, bởi báo in trên giấy trắng láng, sang trọng, đến nỗi khi mang biếu, ông Trần Phong Giao hỏi: Các cậu tìm đâu ra giấy đẹp vậy? Tôi không biết giấy đâu ra. Ăn tết xong, hỏi lại Trạng, anh nói xin bên Usaid , tiền in thì do quảng cáo và mang in tận Vĩnh Long. Tôi nghe và chỉ biết vậy. Coi như nhóm chúng tôi đã làm được điều mình ôm ấp. Tiếc là chỉ ra được một số duy nhất!

Đầu mùa xuân 1969, Tôi có thêm nhiều bạn mới, anh Trương Cương Thanh, Nguyễn Văn Minh, Trần Văn Liêm bên Luật, Nguyễn Thành Nghiệp bên Nông Lâm… Và bàn với nhau cùng thực hiện chươg trình ca nhạc Những Tối Thứ Bảy ở giảng đường Viện ĐH Cần Thơ. Đơn xin phép viết lằng ngoằng năm ba chữ gửi lên Viện Trưởng Phạm Hoàng Hộ và được duyệt ký ngay. Có lẽ ông Viện trưởng nghĩ đây là sinh hoạt văn nghệ bổ ích cho SVHS Tây Đô. Cầm được giấy phép trong tay, mừng thì ít mà lo thì nhiều. Lo là tìm đâu ra người đàn, người hát? Rồi âm thanh, ánh sáng, phông màn? Ngồi bên quán cà phê bên hông Viện ĐH, tôi hỏi Trương Cương Thanh: Tính sao đây? Tao vẽ áp phích quảng cáo, Thanh nói. Còn micro, loa, tăng âm, dây nhợ? Tôi hỏi. Minh lo. Minh nó giỏi chuyện này. Phần mày lo các anh em ca hát và mấy tay đàn trống. Tôi lục lại trong đầu: Cỏ May, Lâm Hồng Phước, Nguyễn Thành Nghiệp và Lê Văn Hiệp. Cỏ May thì đang năm Đệ Nhị Đoàn Thị Điểm, Phước học cùng ban Việt-Hán với tôi, Nghiệp và Hiệp một Nông Nghiệp, một Luật… có thể coi như bộ xương sườn làm nòng cốt cho chương trình. Còn lại thì những người trong cuộc sẽ “phát hiện” thêm.

Chúng tôi lại bắt tay vào việc “ăn cơm nhà…vác ngà voi” lần thứ hai. Tự bỏ tiền túi ra để làm tất cả.

Trương Cương Thanh vẽ áp phích: Chương trình Thơ Nhạc Những Tối Thứ Bảy, bên dưới vẽ chân dung cô gái mỹ miều, dưới cùng là: Do nhóm SV ĐHCT thực hiện, mang treo lên ngay mặt tiền của Viện và các khoa ở Cái Răng, giảng đường lớn ở khu ĐH mới. Nhìn chân dung cô gái trong áp phích, tôi buộc miệng: Giống Nga người yêu của mày quá đỗi. Thanh cười thú nhận!

Tôi không nhớ là chương trình này kéo dài trong bao lâu, nửa năm hay một năm hay hơn thế? Chỉ nhớ phong cách sống hết mình của các “nghệ sĩ sinh viên”. Họ hát và đọc thơ với cả tấm lòng, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ: Giai điệu ngọt ngào của Cỏ May với ca khúc Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước: “Ngọc lan dòng suối tơ vương mắt thu hồ dịu ánh vàng. Ngọc lan nhành liễu nghiêng nghiêng từ mấy cánh phong nắng thơm ngoài song…” , Nguyễn Thành Nghiệp say sưa với Bên Cầu Biên Giới của Phạm Duy, Lê Văn Hiệp với những bản tình ca của Từ Công Phụng, Hồng Phước sâu lắng với dòng nhạc trử tình của Đoàn Chuẩn Từ Linh… Những giọng ngâm, đọc thơ hào sảng của các bạn bên Đoàn Thị Điểm, Phan Thanh Giản và bên Khoa Học, Luật, Văn Khoa, Sư Phạm… Sân khấu duy nhất chỉ có tấm áp phích bằng giấy bồi ghép nhiều mảnh phía sau để thay thế cho tấm phông; đôi lúc “hết tiền” thì Thanh dùng phấn vẽ lên bảng đen khổ rộng.

Khán thính giả hầu hết là anh chị em SVHS, các công chức, quân nhân quanh thành phố Cần Thơ. Họ đến giảng đường rất đông, chật kín; có khi phải bám lên các bậu cửa sổ để lắng nghe; trong số đó có cả các giáo sư các trường trung học và đại học ở Cần Thơ.

Trong chương trình này, chúng tôi đã mời nhà thơ, nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển và các bạn (ĐHSP Sài Gòn) về Cần Thơ tổ chức đêm trình bày những ca khúc mới nhất của anh. Duy nhất một chiếc guitar gỗ, anh và bạn gái (quên tên) hát say sưa những tình khúc khói sương, phiêu du: Thu hát cho người, Thu Sài Gòn, Chiều trên đồi, Chiều Mơ… đã được khán thính giả Cần Thơ dành cho những tình cảm đặc biệt với anh chàng sinh viên nhạc sĩ. Đêm nhạc VĐSB có số lượng người đến nghe đông nhất kể từ khi chương trình này bắt đầu thực hiện.

Người luôn khuyến khích về mặt tinh thần cho chương trình không ai khác hơn là chị Nguyễn Ngọc Yến, nhân viên của Viện, sau này là “phu nhân” của nhà văn Trần Hoài Thư. Không một tối thứ Bảy nào là không có mặt chị. Những buổi khán giả đông đảo chị mừng với nỗi mừng vui của nhóm, khi vắng người chị lại chia sẻ. Chị hầu như là người chứng kiến trọn vẹn cho đến chương trình cuối cùng.

 

 

Do ảnh hưởng những việc chúng tôi thực hiện được trong những năm ở giảng đường Cần Thơ, Trần Văn Liêm “xúi” tôi đứng chung liên danh với anh để tranh cử vào Tổng hội SVCT. Từ chối thế nào cũng không xong, cuối cùng tôi gật đầu gọi là kéo gai lấp trổ, nhưng trong bụng tôi lại mong cho liên danh chúng tôi thất cử để lo việc học và nhảy múa chuyện văn nghệ. Trời có mắt. Chúng tôi thất cử với số phiếu chỉ kém 3 phiếu. Sự thất bại này là nỗi vui mừng không tả bịt kín mấy ngày liên trong lòng.

Đầu năm 1970, khoảng tháng 3, phong trào SVHS cả nước xuống đường biểu tình chống Lon Nol, Sisowath Sirik Matak đã ra lệnh “cáp duồn” Việt kiều trên đất Miên. ĐH CT qua lời kêu gọi xuống đường của Tổng Hội SVCT, anh em tập trung tại khu ĐH mới, giăng biểu ngữ hô to: “Đả đảo tên sát nhân Lon Nol, Sirik Matak!”, hát vang bài Nối vòng tay lớn… Và tất nhiên, chính quyền địa phương không để yên, huy động hàng trăm Cảnh sát dã chiến, An ninh quân đội, có cả xe vòi rồng đến bao vây. Ngay cổng ra vào, vòng rào kẽm gai bung ra, hai chiếc xe vòi rồng dàn hàng ngang hai bên. Bên ngoài cảnh sát bắc loa kêu gọi giải tán, bên trong SV vừa hô đả đảo vừa hát vang. Cảnh sát thắt chặt vòng vây. Những tấm biểu ngữ phản đối bị gỡ ném xuống đất. Một vài SV giật lại nhưng liền bị hai vòi rồng phun nước tới tấp. Trần Văn Liêm và Phạm Xuân Triển chạy tới dựng tấm bảng đen lên để chặn vòi nước, bị ngã nhào. Tôi và nhiều SV khác liền chạy tới vừa đỡ Liêm vừa dựng tấm bảng xông ra định phá vòng kẽm gai để thoát ra ngoài, kéo theo đoàn biểu tình xuống đường. Nhưng khí thế “sôi sục” ấy đã bị hai vòi nước phun mạnh đến nỗi không ai đứng lên được. Liền đó là những trái lựu đạn cay bắn vào khuôn viên trường. SV dạt vào trong, lẩn vào các phòng và giảng đường. Cảnh sát cứ thế tiến tới với vòi phun và hơi cay. SV chạy tán loạn! Tôi phóng lên lầu 1 kéo theo Lê Dung, Phạm Xuân Triển và Liêm. Bùi Hữu Trạng chìm trong đám “tàn quân”. Hơi cay nồng nặc như thể kéo ra ngoài hai lá phổi và con ngươi. Dung khuỵu xuống. Tôi đưa lưng cõng Lê Dung và từ lầu 1 nhắm mắt phóng ra cửa sổ, rơi xuống mái tôn nhà dân, phóng tiếp xuống con hẻm nhỏ, thoát vòng vây cõng chạy về nhà (nằm trên đại lộ Hoà Bình, đoạn nay là công viên Lưu Hữu Phước). Mãi tới giờ này, tôi cũng không hiểu tại sao mình có sức mạnh, liều lĩnh đến vậy?

Một tiếng sau tôi quay lại, đứng bên kia đường nhìn vào. Cảnh tượng hoang tàn như vừa trải qua trận bão lớn: Xe máy, xe đạp, giày dép, mũ nón ngổn ngang, la liệt trên sân. Những biểu ngữ lăn lóc đầy bùn đất. Cuộc biểu tình coi như thất bại cùng với vòng rào kẽm gai biến mất, xe vòi rồng biến mất, chỉ còn mươi cảnh sát nón sắt, hườm súng bên ngoài cổng. Tôi bước qua cổng trường, tìm chiếc PC của Lê Dung dắt ra và đụng mặt một CSDC. Anh ta ngó tôi cười mỉm. Tôi ngước mặt: Mấy anh đi bảo vệ cho lũ giết hại đồng bào ruột thịt, rồi đi thẳng.

Trả xe cho Lê Dung, tôi về nhà trọ. Lúc này trên đường đi, tôi mới kịp nghe mùi thối trên người, cái mùi thum thủm, tanh tanh mà tôi đoán là những xe chữa lửa kia đã hút nước từ các cầu cá công cộng, rồi ngồi xuống lề đường nôn thốc tháo theo phản xạ tự nhiên.

Hình như một tuần hay mươi ngày sau, Tổng Hội SV Cần Thơ tổ chức xuống Tịnh Biên (Châu Đốc) cứu trợ Việt kiều. 6 chiếc GMC của QĐ4 chở SV và hàng cứu trợ, xuất phát trước Viện ĐH CT, số 5 đại lộ Hoà Bình. Đoàn khởi hành từ sáng sớm, đến 10 giờ mới tới nơi. Anh chị em SV chia nhau xuống hàng, một nhóm khác phân phát. Công việc diễn ra khá nhanh. Nhưng đáng chú ý nhất là tình cảnh của đồng bào vừa thoát khỏi bàn tay dã man của đám kính Lon Nol. S. Matak, vượt qua biên giới VN. Họ không mang theo được gì ngoài bản thân. Nơi họ được địa phương đón tiếp là những tấm lều bạt tạm bợ. Đứng bên này có thể nhìn thấy nhà cửa còn nghi ngút khói bên kia. Có người ngồi ôm mặt khóc thầm: Vợ con bị giết cả! Hiếm có gia đình nào còn nguyên vẹn. Nỗi sợ hãi chừng như chưa chịu buông tha họ, bởi khi hỏi han, họ chỉ trả lời tiếng một hoặc lắc đầu hoặc bằng những giọt nước mắt lăn dài!

 

Sau khi phân phát hàng cứu trợ, uỷ lạo xong, chúng tôi chuẩn bị lên xe trở về, cũng vừa lúc nhìn thấy anh Dương Nghiễm Mậu bước tới. Anh nói là tôi đi với Tiểu khu Châu Đốc về vụ cáp duồn. Việc đã xong bây giờ thì về. Và anh lên xe cùng chúng tôi trở lại Cần Thơ, bỏ ngang sự mời mọc của Tiểu khu Châu Đốc (Năm trước đó, anh là người đầu tiên leo lên gác trọ thăm tôi, hỏi han chuyện ăn ở, học hành, người thứ hai là Lê Thị Cẩm Hoa bên VTX).

Cuối năm 1970, chúng tôi ra trường, tứ tán mỗi người một phương, hiếm khi gặp lại nhau. Sau tháng 4 đen, ít nhất 3 lần trở lại Cần Thơ và cố tìm lại những người bạn một thời bên nhau, nhưng cũng y như những gì Cần Thơ hiện khoác lên tấm áo mới. Tất cả đều xa lạ, dửng dưng. Bạn bè không tìm thấy một ai. Mãi đến năm 1993, bất ngờ gặp lại Nguyễn Thành Nghiệp ở Long An. Anh ở trong khu nhà tập thể của Chi cục BVTV tỉnh. Anh làm trưởng. Vẫn phong thái ngày xưa, lôi ra chai rượu Gò Đen và cây đàn, hát tặng tặng bài Chiều Qua Tuy Hoà của Nguyễn Đức Quang. Tôi và Nghiệp uống rượu, nhắc chuyện cũ và khóc. Hai năm sau nghe tin anh mất vì ung thư. Tôi đến Tân An đứng lặng trước tấm ảnh thờ, thắp nén nhang với tâm trạng bùi ngùi mà sao nước mắt lại ráo hoảnh chỉ thấy lòng trĩu nặng ? Ở SG, tình cờ gặp lại Lê Dung, ngồi quán cóc, mới biết một vài thông tin hiếm hoi về bạn cũ: Cỏ May làm ở Viện Văn Học bộ phận phía Nam (SG) đã nghỉ việc, La Thị Xinh đã chết, Lâm Hồng Phước có chồng ở Long Xuyên… Bùi Hữu Trạng vượt biển không biết trôi dạt xứ nào? Thái Khi thì biệt vô âm tín, cả Trần Văn Liêm và Nguyễn Văn Minh, Trương Cương Thanh?

Hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng trong đầu tôi vẫn luôn loá sáng hình ảnh những người bạn chân tình thuở 20. Tôi giữ những hình ảnh này với cả tấm lòng, trân trọng, như trân trọng một Cỏ May thời sương khói tình đầu và những dĩa bánh cống ở bền Ninh Kiều thơm ngát mùi bùn non, rau rừng mỗi khi con nước ròng rút xuống. Đó là mùi thơm lồng lộng của đất trời và tình người không thể nào phai.

NGUYỄN LỆ UYÊN

Ảnh trong bài :

  1. CM và ca khúc Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước
  2. Khán giả ở giảng đường nghe chương thơ nhạc NTTB
  3. Cứu trợ Việt kiều ở Tịnh Biên, Châu Đốc, 1970

lạc nhau một thuở trong rừng


em lạc rồi một hôm bỏ phố
nhớ suối reo mái tóc dài xưa
chân qua suối nắng nằm trong suốt
nhìn đôi chân non mấy cho vừa

mai rồi mốt tóc dài đợi gió
có chờ anh say mấy hương đêm
anh hứa sẽ ….hoá thân làm ngựa
cõng em đi mấy điệu êm đềm

em lạc phố vào rừng thương cỏ
anh bước theo lạc tuốt đành thôi
chùm hoa dại hôm qua anh hái
chiều đợi em góc núi anh ngồi

rừng không thưa nên rừng mê hoặc
lạc chung đường sao chẳng thấy nhau
đợi chiều hôm rồi chờ lại tối
thương chùm hoa cỏ cũng đang nhầu

buồn dăm phút rồi buồn thêm nữa
anh bẻ cành ghi vội bài thi
vẻ trái tim buồn so tổ bố
sao sinh em sinh anh làm gì …

Ngô Yên Thái

BUÔNG

 

Buông tôi biển rộng sông dài
Buông tôi cuối đất cùng trời hoang sơ
Buông tôi đầu bãi cạn bờ
Buông tôi mưa tạt gió lùa vực xa
Buông tôi giọt lệ sương nhòa
Buông tôi nửa mảnh trăng tà nghiêng soi
Buông tôi
lơ đãng
chìm
trôi
Lỡ buông tôi
chớ
níu lời ăn năn!

Tôn Nữ Thu Dung

MỘT ĐỜI ĐAU THƯƠNG

 

Chiếc xe lăn bằng điện cồng kềnh to lớn hơn xe lăn khổ thông thường nằm ngay trước cửa phòng 828 làm tôi giật mình để ý.

Khi tôi bước đến gần thì không cần quan sát kỹ tôi đã nhận ra sự quen thuộc của những dụng cụ linh tinh chung quanh chiếc xe lăn rất khác thường này.  Chiếc xe lăn bằng điện to gần gấp hai chiếc xe lăn thường và không có hai cái bánh xe lớn mà lại có bốn cái bánh nhỏ như bánh xe hơi nằm dưới một cái sườn vuông vứt bằng sắt cao chồng ngồng.  Trên cái sườn bằng sắt cao đó là một mặt ghế ngồi có lót bằng một miếng nệm khá dày bằng móp (eggcrate).  Phía bên phải của ghế có gắn một cái đèn chớp màu đỏ giống như đèn báo hiệu trên xe cảnh sát.  Phía bên trái cũng có một cái đèn giống như vậy chỉ khác là màu xanh.  Kế đó là cái tay cầm tròn như tay sang hộp số để điều khiển chiếc xe. Phía sau ghế có một cái khung cũng bằng sắt trong đó có đựng một hộp đổ nghề màu đen và một cái lồng chim bằng gỗ xiên xẹo. Một cái bình đựng nước bằng nylon màu xanh két, một sợi dây xích cũ máng ngay một bên tay ghế, cái áo thun màu đỏ với giòng chữ ” Peace not War” bọc sau lưng chiếc ghế.

Mỗi ngày khi ngồi ăn trưa trong văn phòng nhìn qua phía bên kia đường của cái clinic đối diện, tôi thường bắt gặp hình ảnh của một người đàn ông với đầu tóc dài rối bù như chiếc dẻ xoắn lau nhà ngồi trên chiếc xe lăn đặc biệt này với những thứ  đồ lỉnh kỉnh đó.

Sở dĩ tôi chú ý đến ông ta vì dường như trưa nào đúng mười một gìờ rưỡi người đàn ông này cũng hùng hổ liều mạng lái chiếc xe lăn phăng phăng, bất chấp những dòng xe hơi nhộn nhịp, mạnh dạn băng qua phía bên kia đường để vào một quán café có cái tên là TÈO.  Mỗi lẩn ông ta rời quán TÈO thì tôi thấy ông ta cầm cái bình nylon màu xanh két dốc lên miệng.  Tôi đoán có lẽ ông ta vào quán đó mua café đổ vào bình.  Tôi không nhìn rõ khuôn mặt ông ta cho lắm vì từ văn phòng tôi nhìn qua khoảng cách khá xa.

Một bữa tôi có hẹn bên văn phòng ông bác sĩ gần đó cũng vào dịp trưa, khi đứng ở cột đèn chờ dấu hiệu đèn xanh bật lên để băng qua đường tôi tình cờ thấy ông ta rõ ràng hơn.  Mái tóc dài màu hung vàng rối bù không biết là dơ vì lâu ngày không gội hay màu hung hung đó là màu tóc nguyên thủy. Bộ râu cùng màu rập rạp che hơn nữa khuôn mặt, chỉ chừa lại cặp mắt dấu sau đôi kính đen to.  Trên người ông ta có lẽ cũng có chừng năm lớp áo mà cái áo ngoài hết là một áo rằn ri nhăn nheo.  Đôi giày bốt nâu bạc màu to như hai chiếc xuồng nằm lửng lơ trên hai miếng để chân mà tôi có cảm tưởng như hai bàn chân của ông ta qúa nhỏ so với đôi giày. Ông ta ngồi bất động trên chiếc xe lăn, chỉ có đôi tay di chuyển để điều khiển chiếc xe thôi.  Mỗi khi chiếc xe lăn tới khiến những dụng cụ máng chung quanh tạo ra những tiếng động nhỏ kỳ khôi và cái đèn màu đỏ trên chiếc xe lăn thì cứ chớp liên hồi.

Trong khi tôi kiên nhẫn đứng chờ đèn xanh bật lên để băng qua bên kia đường thì ông ta nhìn tôi thách thức, và qua đôi kiếng màu đen đó tôi đã tưởng tượng được cặp mắt chế giễu trước khi ông ta bạt mạng lái vùn vụt chiếc xe lăn chạy qua phía bên kia lề bất chấp những giòng xe điên cuồng vội vã.

Hai buổi trưa vừa qua tôi nhìn qua cửa sổ không thấy bóng dáng người đàn ông này nên tôi cũng hơi làm lạ, không dè ông ta nhập viện và đang nằm trên lầu thứ tám này. Tôi  bước đến lật hồ sơ của phòng 828 xem, cái tên trên hồ sơ làm tôi khựng lại, Kevin Ngô.

Tôi nhủ thầm như vậy là chiếc xe lăn này để lộn qua phòng người khác rồi vì chủ của chiếc xe lăn có một không hai này không thể là người Việt Nam. Tôi định đẩy chiếc xe lăn qua một bên và đi tìm người chủ của nó thì lúc đó một ông y tá mặt đầy tàn nhang, tóc đỏ hoe đang đi trong hành lang ngừng lại cản tôi:

– Bà đừng đem xe đi vì ông Ngô sẽ giận dữ.

Tôi gặng hỏi:

– Ông Ngô?

Ông y tá tiếp tục nói:

– Đúng rồi, của cải của ông ta chỉ có bao nhiêu đó cho nên tôi phải hứa là bảo vệ  chiếc xe thì ông ta mới đồng ý để nó ở ngoài này, nếu để trong phòng thì chật chội qúa, mỗi ngày vào chữa trị vết thương cho ông ta không có chỗ để máy móc.

Tôi chất vấn:

– Phải ông Ngô nằm trong phòng 828 không”

Nhìn sự thắc mắc trên khuôn mặt của tôi ông y tá lật đật nói:

– Ông Ngô nằm trong phòng đó đã hai ngày.  Bà cần kiểm soát (audit) hồ sơ của ông ta hả”

Tôi không còn kiên nhẫn được nữa nên gật đầu đại cho xong chuyện:

– Ừ! Để tôi coi hồ sơ của ông ta xem sao

Kevin Ngô năm nay 54 tuổi, góa vợ, không nghề nghiệp và vô gia cư.  Ông ta nhập viện cách đây hai hôm với triệu chứng lở loét ở xương chậu (sacral decubitus).  Càng đọc tiểu sử của ông Kevin Ngô tôi càng thấy lạ thêm.

Kevin Ngô là Viet Nam Veteran, theo lý lịch hồ sơ thì ông ta là người Mỹ. Ông ta đã từng bị gãy xương sống, chấn động mạch máu não và sau khi bình phục thì hai chân ông ta rất yếu, đã phải dùng xe lăn từ bao nhiêu năm nay.

Sau khi đọc lướt qua hồ sơ, sự tò mò khiến tôi mạnh dạn gõ cửa phòng của ông để xem có phải đây là chủ nhân của chiếc xe lăn điện không.

Vì cái tên Việt nên mặc dù người đàn ông trước mặt qủa thật là người đàn ông mà tôi đã từng thấy bên lề đường hằng ngày, tôi giới thiệu với ông ta tôi là y tá trưởng và mở lời chào hỏi bằng tiếng Việt Nam:

– Chào anh Kevin, anh có khỏe không”

Đôi mắt không còn giấu sau làn kính đen nửa mà là đôi mắt xanh biếc với cái nhìn rất thờ ơ, ông ta ngạo mạn trả lời:

– Nằm một chỗ như thế này thì làm sao khỏe được.

Tôi ngạc nhiên khi nghe câu trả lời hằn học bằng tiếng Việt khá rõ ràng của ông ta.

– Xin lỗi anh nghe, đáng lẽ phải hỏi là anh có cần gì không thì mới phải.

Đôi mắt xanh bây giờ không nhìn tôi mà nhìn chăm lên trần nhà:

– Lỗi phải chi bà, mà bà có cần gì không?

Lại  là lời thách thức. Tôi từ tốn trả lời:

– Tôi tưởng anh người Việt Nam nên chỉ muốn vào thăm thôi.

Ông ta nhìn tôi châm biếm:

– Như vậy là bà chỉ thăm viếng người Việt Nam thôi sao” Tôi người Mỹ nhưng nhờ có tên Việt, may qúa mới được bà vào thăm.

Tôi vẫn điềm đạm:

– Nếu có dịp ai tôi cũng thăm cả nhưng có những người Việt Nam không thông thạo Anh ngữ thì họ là những người được tôi ưu đãi giúp đỡ trước tiên.

Kevin bắt đầu dịu giọng:

– Bà giúp được những gì?

Tôi nói với ông ta là tôi thường thông dịch cho những người Việt Nam nếu cần và vì đây là nhà thương công giáo nên chỉ có mấy bà soeur vào thăm mỗi ngày.  Nếu những người đạo Phật muốn cầu an thì tôi có thể liên lạc với thầy ở chùa đến an ủi, cầu an cho họ.

Đôi mắt xanh của Kevin không dưng sáng lên và tia nhìn của ông trở nên thân thiện:

– Bà hay đi chùa phải không? Tôi cũng đạo Phật.

Tôi ngạc nhiên đến tột cùng.

Cuộc đàm thoại với người đàn ông Mỹ có cái tên Việt này bắt đầu kỳ thú.  Có lẽ bắt gặp cái nhìn nghi ngờ của tôi nên Kevin đưa tay vào cổ áo lôi ra một sợi giây chuyền vàng với cái tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát bằng cẩm thạch rồi giọng buồn kể:

– Vợ tôi tặng cho tôi sợi dây chuyền này khi chúng tôi mới lấy nhau…

Rồi bỗng dưng Kevin ngưng kể, đôi mắt nhắm lại và lắc đầu:

– Chuyện tôi buồn lắm, lúc khác nói chuyện nữa nghe bà.

Tôi biết Kevin không muốn tiếp tục và vừa lúc đó người physical therapist đến phòng để chữa trị vết lở cho ông.

Nhìn cái máy Whirl Pool kềng càng và cái giường khác biệt dành cho những bệnh nhân với vết thương lở nặng, tôi mới hiểu tại sao ban nãy ông y tá bảo là mỗi lần chữa trị vết thương không có chỗ xoay xở trong căn phòng chật hẹp.

Tôi cáo từ Kevin, cho số điện thoại và bảo nếu cần gì thì cứ gọi thẳng cho tôi.

Ba ngày kế tiếp tôi phải đi học một khóa tu bổ trong ngành nên không vào bệnh viện.  Ngày thứ tư trở lại khi lên đến lầu thứ tám, chiếc xe lăn bằng điện không còn nằm chình ình trước phòng 828 mà nằm khuất sau một cánh cửa ở cuối hành lang.  Cô y tá Karen cho biết là Kevin được đưa xuống Intermediate Care ngày hôm qua vì trong phổi có nước. Tôi lật đật đi xuống lầu ba nơi Kevin đang nằm điều trị.  Mái tóc không còn rối bù mà bây gìờ đã được chải chuốt thẳng dài mướt trên gối.  Bộ râu xum xuê cũng được tỉa gọn gàng để lộ khuôn mặt rất dễ coi nhưng phong trần, khắc khổ.   Khi tôi bước vào Kevin có vẻ mừng rỡ.

Tôi nhìn thân thể yếu đuối của ông nằm bồng bềnh trên chiếc giường nước (pressure released bed), chưa kịp hỏi han thì mặc dầu kẹt ống Oxygen trên mũi, Kevin cũng gắng đùa, lần này bằng tiếng Anh:

– Tôi được …vinh dự lắm mới được nằm trên cái giường nước này đó bà.

Giọng Kevin không có gì mỉa mai cho nên tôi cũng đùa theo:

– Tại vì anh… đặc biệt…

Thật sự thì khi những người bệnh nhân nhập viện với vết lở khá nặng ăn sâu vào da thịt vì không có đủ khả năng di chuyển nên máu không lưu thông đều, tạo nên áp xuất mạnh gây ra sự lở loét (decubitus) thì chúng tôi phải dùng những chiếc giường nước như thế này để giảm bớt sức ép của mặt giường vào cơ thể với làn da vốn đã rất mỏng manh.

Vì hai bàn chân yếu Kevin phải ngồi trên xe lăn cả ngày, mặc dầu chiếc ghế có lót miếng nệm dày bằng móp như đã nói nhưng vì ngồi một chỗ qúa lâu, sức ép của cả thân thể dồn vào phần xương chậu, cho nên Kevin mới phải nhập viện với vết lở đó

Kevin cười buồn:

– Bà coi đó, cái… bàn tọa của tôi thì lở loét, bây gìờ thì cái phổi cũng …lều bều đầy nước.

Tôi an ủi:

– Anh ráng tịnh dưỡng, năm ba bữa sẽ mạnh lại rồi về nhà…

Tôi nói chưa xong câu thì đã biết mình lỡ lời.  Ông bệnh nhân này là người vô gia cư. Dường như đoán được ý nghĩ của tôi, Kevin mệt mỏi thì thào:

– Nhà đâu mà về bà.  Tôi sống trên chiếc xe lăn bao năm nay, nhà là những con đường, những bờ bụi…

Kevin nói tới đây thì thở dài và có ý như không muốn tâm sự nữa:

– Thôi bà đi làm đi, không dám làm mất thì giờ của bà.

Lần này là lần thứ hai Kevin cố ý tránh kể chuyện riêng tư của chính mình.

Tôi làm việc với bệnh nhân lâu năm và lúc nào cũng tôn trọng sự riêng tư của họ, tôi cũng hiểu là đối với Kevin, sống trang trải một mình ngoài đường, góc xó và va chạm những thực tế hiểm hóc trong đời sống trên lề đường thì ông ta khó có thể tin tưởng ai để tâm sự về cuộc đời mình. Tôi chào Kevin sau khi chúc ông ta nhiều may mắn.

Những ngày kế tiếp tôi không đích thân đến thăm Kevin vì tôi nghĩ sự thăm viếng của tôi chỉ làm phiền ông ta thôi mặc dầu tôi vẫn hoài thắc mắc về cái tên họ Việt Nam của ông.  Tuy nhiên, mỗi ngày tôi vẫn theo dõi tình trạng sức khỏe của Kevin qua điện thoại với những người y tá săn sóc cho Kevin. Tôi cũng liên lạc với cô Nancy làm về xã hội nhờ cô lo cho Kevin một nơi chốn cư ngụ khi sau khi xuất viện.

Lúc nói chuyện với cô Nancy thì tôi mới khám phá ra Kevin là ” khách hàng thường xuyên” của bệnh viện và cũng là người được cô Nancy dành rất nhiều thì gìờ lo lắng cho mỗi khi ông ta nhập  viện trong những năm qua.

Cô Nancy cho biết là Kevin rất bướng bỉnh vì cô đã từng lo cho Kevin đi đến ở viện dưỡng lão cũng như đến những nhà dành cho những người tàn tật, nhưng Kevin chỉ ở vài hôm sau đó lại bỏ đi ra sống lang thang trên đường phố trên chiếc xe lăn.  Chính cô Nancy là người xin giấy tờ cho Kevin có được chiếc xe lăn bằng điện để tiện việc di chuyển.

Khí hậu miền Texas tuy nóng nhiều nhưng mùa đông cũng có những ngày lạnh căm xương. Kevin sống dưới những gầm cầu của những con lạch nhỏ. Hôm nào chịu lạnh không thấu thì Kevin xin vào ở trong Salvation Army, nhưng được vài hôm thôi rồi cũng bỏ đi ra ngoài sống vất vưởng đầu đường xó chợ.   Cô Nancy cho tôi hay là Kevin đã và đang trải qua những khủng khoảng tinh thần sau khi rời quân ngũ (post traumatic stress), cho nên tính tình đôi lúc bất bình thường.

Một tuần sau đó thì cô y tá gọi cho tôi hay là Kevin đã đỡ nhiều và đã được đưa trở về lại lầu tám. Kevin có nhắn lại là ông ta muốn gặp tôi.  Tôi trở lên thăm và lần này thấy ông ta gầy guộc hẳn đi.

Sau khi chào hỏi qua loa, Kevin ngập ngừng:

– Có một chuyện làm phiền bà…

Trong khi tôi nhìn Kevin chờ đợi thì ông ta lấy từ dưới cái gối ra sợi giây chuyền có tượng Phật Bà bằng cẩm thạch mà lần trước Kevin đã khoe với tôi.  Lần này Kevin buồn bã nhắc lại:

– Tượng Phật này là của vợ tôi tặng cho tôi khi chúng tôi mới lấy nhau. Sợi dây chuyền bị đứt rồi, nhờ bà giữ giùm vì tôi không có chỗ cất sợ để mất đi.

Tôi cầm sợi giây chuyền vàng, thật sự sợi giây không bị đứt chỉ có cái móc bị gãy thôi. Trong khi tôi còn mân mê sợi giây chuyền trên tay thì dường như Kevin không cầm lòng được nên bắt đầu kể cho tôi nghe về cuộc đời bi thảm của ông.

Nếu nói theo số mệnh thì Kevin là người khổ hạnh cho nên cuộc đời của ông thật nhiều đớn đau.

Kevin lớn lên mồ côi cha mẹ, sống với một bà dì góa bụa.  Sau khi xong trung học hai năm thì Kevin bị động quân và được gửi qua Việt Nam đóng binh ở Kontum.  Nơi đây Kevin đem lòng thương một một cô gái miền cao nguyên chất phác, hiền lành.  Cha mẹ cô gái sống trong khu gia binh rất nghèo và đông con nên khi Kevin ngõ lời muốn cưới để đưa cô về Mỹ ở thì hai ông bà đồng ý ngay. Chẳng may sau một đêm khu gia binh bị pháo kích thì cô gái bị trúng đạn chết.  Kevin rất đau khổ và chỉ vài tháng sau khi ra chiến trường thì bị thương trên xương sống rồi được đưa trở về Mỹ.

Khi trở về với tấm thân tàn tật và sự ám ảnh tàn khốc của cuộc chiến điêu tàn ở Việt Nam khiến Kevin bị khủng khoảng tinh thần.  Vì phải mổ xương sống mấy lần nên Kevin nằm nhà thương gần cả năm trời. Lúc xuất viện thì bà dì góa bụa của ông ta qua đời.

Một thân một mình, Kevin sống qua ngày trong căn nhà nhỏ của bà dì cho đến khi bị bệnh chấn động mạch máu não thì không thể lo cho chính mình, và sau nhiều lần ra vào nhà thương thường xuyên, Kevin đồng ý vào một viện dưỡng lão ở tạm. Ngày tháng ở trong viện dưỡng lão này là một nỗi đọa đày đối với Kevin. Sống chung đụng với những người già nua nhiều thụ động càng làm cho Kevin qúa chán chường. Nhưng chính nơi chốn buồn tẻ này lại là môi trường mà Kevin đã gặp thêm một phụ nữ Việt Nam khác, người vợ mà ông quí trọng yêu thương nhất.

Cô Lài làm y tá phụ.  Một trong những phận sự của cô là mỗi tối giúp cho Kevin thay áo quần sửa soạn để đi ngủ. Vì hai chân của Kevin qúa yếu nên mỗi lần di chuyển từ cái xe lăn qua tới giường nằm thì cô Lài dường như phải dùng hết sức từ hai cánh tay của mình nâng cả cơ thể của Kevin để đưa qua. Dạo đó Kevin xử dụng chiếc xe lăn thường nên cái ghế không cao như xe lăn điện hiện đang có nên dự di chuyển từ chiếc xe lăn qua giường rất khó khăn.  Kevin thấy cô Lài nhỏ nhắn, mỗi lần cô phụ như vậy thì Kevin thấy rất áy náy.  Cô Lài tiếng Anh thì hạn chế nhưng cô cũng hiểu được sự quan tâm của Kevin đối với cô nên lần nào cô cũng nhắc Kevin là cô tuy nhỏ người nhưng lại mạnh, vả lại đây là nhiệm vụ của cô.

Mỗi ngày cô Lài đi làm vào ca chiều, Kevin ngồi ở ngay cửa nhìn cô thoăn thoắt đi vào và để ý là cô làm việc rất chăm chỉ, ai cô cũng lo lắng rất chu đáo cho nên tất cả mọi người trong viện dưỡng lão đó đều thương mến cô.

Kevin để ý là khoảng sáu giờ chiều sau khi phụ những bệnh nhân ăn uống xong thì cô Lài  ra ngồi một mình trên chiếc ghế đá ở một góc sân  bắt đầu ăn cơm và đọc một cuốn sách nhỏ trong tay. Sau vài tuần để ý thì Kevin mân mê lại làm quen.  Cô Lài lúc đầu còn rụt rè nhưng sau đó với vốn liếng Anh ngữ kém cỏi cô cũng trò chuyện với Kevin.

Được biết cô Lài lúc trước ở miệt Phan Rang, khi cộng sản chiếm nước được vài năm sau thì  cha mẹ  cô mượn được một số vàng cho cô đi theo chiếc tàu chở mướn  qua được tận đảo bên Mã Lai.

Sau một thời gian đợi chờ mòn mỏi thì cô được bốc qua  Mỹ. Qua đến Texas cô vừa đi học chương trình ESL luyện Anh ngữ và vừa xin đi học ra làm y tá phụ. Với đồng lương có giới hạn của một phụ tá, cô Lài hàng tháng vẫn đều đặn gửi tiền về giúp cho cha mẹ nuôi đàn em ở Việt Nam.  Cô vẫn hằng mong muốn có dịp trở về thăm quê và thăm gia đình nhưng mỗi lần nghĩ tới tốn phí di chuyển thì cô lại tiếc, vả lại số vàng mà cha mẹ cô mượn bây giờ cô phải đi làm trả lại cho chủ nợ ở bên Mỹ này.

Kevin thấy cô cầm một cuốn sách mỏng bằng tiếng Việt Nam và mỗi ngày lại đọc vài trang sau khi ăn cơm. Cô Lài cho biết đó là cuốn kinh phật, cô đọc cho tâm hồn được thư thái. Cô là một phật tử sùng đạo với một niềm tin mãnh liệt là con người phải sống cho chân chính thì mọi việc sẽ tốt lành trong đời sống.

Lúc đầu nghe cô Lài nói thì Kevin chỉ cười ngạo báng, vì mỗi lần nhìn thân thể tàn tật của mình, nhớ tới những cảnh bom đạn, chết chóc trong cuộc chiến mà ông ta từng tham dự ở Việt Nam thì Kevin không khỏi giận dữ.  Kevin đâm ra nghi ngờ sự che chở của đấng linh thiêng.  Cô Lài nghe vậy vẫn không nản chí, cô tiếp tục đọc kinh và nhẫn nại nói về niềm tin của mình.

Sau một thời gian gặp gỡ, trò chuyện với cô Lài, Kevin cảm thấy lòng dịu lại. Nỗi buồn thì còn đó nhưng đã bớt được sự phẫn nộ đối với cuộc đời.  Riêng cô Lài cũng cảm thấy bớt cô đơn. Hai người trở nên tâm đầu hợp ý và môt năm sau thì tất cả mọi người trong viện dưỡng lảo GF hoan hỉ tổ chức một cái đám cưới nhỏ cho cả hai.  Kevin không ngờ đời mình lại may mắn như thế.  Cô Lài nhận lời cầu hôn của Kevin không một chút do dự, đắn đo.  Qùa cưới của Kevin dành cho cô Lài là lời tuyên bố sẽ ra tòa xin đổi họ theo họ của vợ là họ Ngô.

Tôi nghe câu chuyện tới đây thì cảm động rưng rưng nước mắt. Thì ra là như thế nên Kevin mới có họ Việt Nam. Nếu tôi là một nhà văn thì tôi có thể viết nên một câu chuyện tình rất tuyệt vời. Kevin tiếp tục kể:

– Bà biết không, Lài là một người vợ hiền và là một người đàn bà rộng lượng nhất trên đời. Tôi học được cái tính nhẫn nhục, vô vụ lợi của Lài.  Tôi tàn tật không lo được cho Lài, mỗi ngày Lài đi làm thì tôi chỉ biết đợi chờ và trong lúc đó thì tôi tìm hiểu thêm về đạo Phật.  Cuốn sách đầu tịên tôi đọc là cuốn sách của thiền sư Thích Nhất Hạnh.  Bà đã đọc “Đường Xưa Mây Trắng” chưa” Tôi không biết Phật giáo có bao nhiêu phái chỉ biết là thiền sư này viết sách qúa hay. Tôi càng đọc càng thấm thía những gì Lài đã cố nhẫn nại khuyên răn tôi sống một đời sống đầy ý nghĩa và rộng lượng bao dung bởi vì mai này ai cũng chết, chỉ có những gì mình để lại cho đời mới đáng kể thôi.

Ông kể tiếp cho biết là sau khi làm đám cưới ông và cô Lài thuê một căn nhà nhỏ.  Cô Lài vừa đi làm vừa săn sóc cho ông.  Cuộc sống tuy vất vả vì cô Lài phải cáng đáng mọi chuyện trong nhà nhưng không bao giờ cô than vãn.  Nổi mong muốn duy nhất của cô Lài là được trở về thăm gia đình.  Vì muốn có một số tiền chi phí cho chuyến đi nên cô Lài đi làm bất chấp gìờ giấc.  Kevin thấy xót xa cho vợ nên trong lúc ở nhà ông ta đóng những cái chuồng nuôi chim nho nhỏ và đứng trước những góc đường bán, hoặc bán cho những người làm trong nhà thương mà ông quen biết.

Nghe Kevin kể, tôi nghĩ tới hộp đồ nghề và cái chuồng chim xéo xẹo của ông trên chiếc xe lăn mà đâm ra tội nghiệp.  Tự nhủ là mai mốt Kevin lành bệnh thì tôi cũng sẽ đặt ông làm cho vài ba cái chuồng nhỏ nuôi chim sau sân nhà.

Kevin còn cho biết là cả hai vợ chồng ông đều ăn chay trường. Cô Lài ăn chay trường vì lời nguyền từ khi biết đưọc tin mẹ cô bị ung thư tử cung.  Cô mãnh liệt tin rằng với sự cầu nguyện hy sinh chân thành của cô thì mẹ cô sẽ tai qua nạn khỏi.  Kevin ăn chay vì trong lòng anh muốn cám ơn bà mẹ vợ đã có công nuôi dưỡng dạy dỗ vợ anh từ thưở nhỏ nên anh mới có được một cô vợ thật thà rộng lượng như vậy.

Tôi nhìn nét mặt khắc khổ của Kevin, không ngờ dưới bộ mặt hung hăng của người cựu chiến binh Việt Nam đó lại chất chứa môt tâm hồn dịu dàng chân thành.  Tôi đang tự hỏi không biết câu chuyện của Kevin kể sẽ đưa đến thêm những chi tiêt bi đát nào nữa thì không dưng Kevin nhìn tôi lạ lùng:

– Như tôi đã nói mai này ai cũng chết nhưng cái chết của vợ tôi thì qúa tức tưởi, bất ngờ. Trời Phật không công bằng với tôi cho nên bắt tôi chịu đựng từ những khổ đau này đến tai biến khác.  Có lẽ kiếp trước tôi vụng tu đó bà.

Nói đến đây thì Kevin nghẹn lời, tia mắt quắc lên một tia nhìn giận dữ:

– Quê hương nhỏ bé của bà là mảnh đất oan nghiệt nhất mà tôi thấy trong đời. Chính mảnh đất ấy, bằng cách này hoặc cách khác đã cướp mất những yêu thương trong đời của tôi.  Lài là người đàn bà thứ hai đã bỏ tôi trên cuộc đời đầy cô đơn, buồn tẻ này.

Theo chuyện Kevin kể lại, tôi được biết cách đây ba năm, cô Lài mừng rỡ dành giụm được một số tiền để trở về Việt Nam thăm bà mẹ đang bệnh ung thư.  Kevin khuyến khích vợ nên về ngay để còn có thì gìờ ở bên mẹ trong lúc bà còn tỉnh táo.  Cô Lài hớn hở trở về và tính ở bên nhà cho trọn một tháng.  Hai tuần lễ đầu cô Lài điện thoại về cho chồng kể chuyện về gia đình nghe vui ghê lắm.  Rồi chỉ vài hôm sau đó anh nhận được một tin làm anh bàng hoàng, chới với.  Cô Lài trong lúc băng qua đường phố bị xe tông chết.

Tôi nhớ đến những lần bắt gặp Kevin lái chiếc xe lăn bất chấp hiểm nguy để băng qua đường trong làn sóng xe tấp nập. Phải chăng đây là sự thử thách ngạo mạn của ông với định mệnh? Như định mệnh đã cướp mất người vợ hiền lành cao qúi của ông.

Cô Lài chết trong lúc bà mẹ bệnh hoạn vẫn còn để thầm khóc nhớ thương con.  Kevin cũng thầm khóc thiết tha nhớ vợ. Trên đời này có lẽ không bao giờ anh có thể tìm được một người đàn bà nào khác đầy lòng từ bi như cô Lài.

Từ đó cuộc sống đối với Kevin không còn ý nghĩa, ông đâm ra gàn bướng, cáu kỉnh với mọi ngưòi.  Vài tháng sau Kevin gom góp hết chút tài sản chất lên chiếc xe lăn và ra sống dưới gầm cầu SC.

Tôi lặng người nghĩ đến số phận qúa hẩm hiu của Kevin rồi bỗng thấy xót xa. Còn biết bao nhiêu người là nạn nhân của chiến tranh và nạn nhân của cuộc đời đầy rẫy thương đau này”

Tôi đem sợi dây chuyền đưa ra tiệm nữ trang nhờ người làm lại cái móc cho thật chắc.  Khi nhìn kỹ tôi thấy trên lớp vàng mạ phía sau tượng Phật bà, hai chữ LK quấn quít nhau như tên tuổi và cuộc đời của cô Lài và Kevin đã gắn chặt với nhau như một mối duyên được phật trời sắp đặt.

Ngày hôm sau tôi đi làm thật sớm ghé lên thăm Kevin trước khi đến văn phòng. Khi bước vào phòng của Kevin, tôi đụng ngay chiếc xe lăn bằng điện với đầy đủ “gia tài” của Kevin.  Kevin cho tôi biết là chiều nay ông ta phải chuyển qua một nhà thương dành cho cựu chiến binh cách đây một trăm dặm.  Vết thương lở loét của ông qúa sâu nên phải làm ghép da (skin graft) và nhà thương quân đội SW là nơi sẽ chịu tất cả phí tổn về việc mổ xẻ. Kevin chỉ ngay chiếc lồng chim xéo xẹo trên chiếc xe lăn và nói:

– Không có gì tặng bà làm kỷ niệm ngoài món qùa nhỏ này.  Bà tin đi bao giờ tôi khỏe, tôi sẽ trở về kiếm bà và sẽ sửa nó lại cho thẳng thớm.

Tôi cầm sợi giây chuyền bước đến đeo vào cổ cho Kevin:

– Đây là sự thương yêu của anh, hãy ráng giữ lấy niềm tin.

Trên khuôn mặt phong trần của người thương phế binh Mỹ bất ngờ có hai giòng lệ chảy dài và tôi bắt gặp một nỗi an hòa trong đôi mắt xanh biếc của Kevin khi anh bắt đầu thì thầm lời nguyện cầu: Nam Mô A Di Đà!

Nguyễn Thị Huế Xưa

Giọng sầu

 

Tôi về đây nhớ chiều xanh
Con chim nào hót trên cành khô kia
Dòng sông mấy nhánh chia lìa
Đêm thành phố lại trầm mê giọng đồng
Hát đi em mấy mùa đông
Con chim cũng hót trong lồng nhân gian
Con chim nhớ mặt trời tàn
Nhớ sương đầu lá đêm vàng trăng rơi
Bây giờ tôi hát cho tôi
Và em sẽ hát cho người ta nghe
Để đêm nào bước chân về
Cô đơn đường phố lòng nghe rã rời
Giọng kia đã mất trong lời
Hồn kia đã lạc cõi đời điêu linh
Thôi em cứ hát cho mình
Đời quay trái đất vô tình tháng năm.

HOÀI KHANH