chuyện tình Lolita

lephuhai

Hồi đó tôi học lớp 9. Và dĩ nhiên chuyện tình Lolita này không phải của tôi mà là của ông anh họ. Anh Hồng nhỏ hơn tôi một tuổi, bà con cũng đời thứ ba rồi nhưng khá thân thiết vì suốt giai đoạn chiến tranh anh thường xuyên ở với gia đình tôi; thậm chí má tôi lo cho anh ăn học từ những ngày mẫu giáo.
Lúc này anh đã nghỉ học vài năm vì trầy trật miết cũng không qua được tiểu học. Đi học quá mệt – anh ta thường nói với tôi như vậy – ở nhà chơi rồi chiều chiều đi tắm biển khoái hơn. Và hầu như trưa chiều nào tôi và anh Hồng cùng vài đứa bé con trong xóm đều có mặt tại Bãi Dương hoặc Hòn Chồng. Dang nắng nhiều đến nỗi lưng và hai cánh tay tôi lúc nào cũng lột da, hết lớp này đến lớp khác.
Một hôm anh Hồng nghiêm nghị nói với tôi: “Có chuyện này quan trọng lắm”. “Chuyện gì?” tôi hỏi. Mà mày không được nói lại cho chú thím biết. Được, tôi hứa. Tao vừa mới làm quen với một con nhỏ kia.
Tự nhiên tôi thấy phấn khởi: Chà, hay quá ta, con nào vậy? Tui có biết hông? Mày không biết đâu, con Nga, bán bánh mì chỗ đầu đường lộ đi xuống Hòn Chồng. Tôi la lên: Có khi biết mặt à nghen, mấy bữa trước tui hay ra quốc lộ mua bánh mì. Không, tao hỏi rồi, hỏi nó có biết mày không nó nói không biết. Vậy bây giờ tính sao? tôi hỏi. Thì bồ bịch chớ tính gì nữa…
Một lát tôi băn khoăn hỏi: Mà có thiệt là nó thích ông không? Sao tui nghi quá. Có mà, mới hôm qua tao tới mua ổ bánh mì mà nó không lấy tiền, nói để cho nó tặng. Tôi nhìn lại ông anh họ. Trời, xấu trai thấy gớm, chỉ được cái khỏe mạnh… Sáng hôm sau đi lễ nhà thờ về, ngang qua chỗ xe bánh mì tôi đi chậm lại. Bên này đường nhìn qua tôi thấy một con bé nhong nhỏng cao đang lanh lợi xẻ bánh nhét thịt bán cho mấy người đi đường. Chắc đây là con Nga. Về nhà nghe tôi tả lại anh Hồng nói đúng là nó rồi đó. Tôi hỏi: Nhà con Nga không có ai sao mà nó phải bán bánh mì ? Nó chỉ bán một xíu buổi sáng thôi, lát má nó ra bán. Nó còn đi học buổi chiều mà. Vậy à? Nó học lớp mấy? Lớp bảy.
Vài ngày sau anh Hồng buồn bã nói với tôi: Có một chuyện mà tao làm không được, phải nhờ mày giúp. Tôi nói: Chuyện gì mà ghê dữ vậy ta. Viết dùm tao cái thơ cho con Nga. Trời, chuyện tình cảm của ông tui biết gì đâu mà viết thơ. Anh Hồng năn nỉ: Kệ, mày giúp dùm tao đi mà. Mày biết rồi đó, chữ tao như mèo quào, nó coi thơ thấy được thì mắc cở lắm. Nhưng tui đâu có biết viết gì. Thì mày cứ tưởng tượng ra, giả bộ như nó là người yêu của mày, mày kể lể nhớ thương gì đó cho thiệt mùi. Kẹt ghê nghen, cái vụ này khó à. Hay là có gì ông ghé lại xe bánh mì nói cho lẹ, cần gì thơ từ cho phiền phức. Ghé xe bánh mì chỉ nói vài câu sơ sơ, chỗ mua bán mà nói năng gì được chớ, rồi sợ má nó thấy…
Cuối cùng tôi cũng mủi lòng, nhận lời làm “chim xanh chim đỏ” cho anh Hồng. Lá thơ đầu hơi khó viết, mấy lá thơ sau tôi ca cải lương nghe chắc là khá mùi mẫn nên trong thơ hồi âm con Nga tỏ ra phục anh Hồng sát đất vì cái tài văn vẻ dồi dào. Nhiệm vụ của tôi là sau khi viết thơ xong, đọc lại cho anh Hồng nghe rồi gấp làm tư bỏ vào túi quần. Sáng hôm sau đi lễ về ngang qua chỗ xe bánh mì tôi làm bộ chàng ràng rồi chờ khi vắng khách ghé lại nhét cái thơ vào tay con Nga. Thơ hồi âm tôi không biết anh Hồng nhận lại bằng cách nào vì tôi còn phải lo đi học. Chỉ biết trưa về là anh Hồng đưa lá thư cho tôi đọc để biết nội dung rồi tính liệu trả lời sao cho càng sướt mướt càng tốt. Cứ vậy thơ qua thơ lại cả tuần lễ…
Tối thứ Bảy, anh Hồng thầm thì với tôi: Chiều mai tụi tao hen gặp nhau. Ồ, hay quá, hẹn gặp ở đâu? Trên núi Sạn. Chết cha rồi – tôi kêu lên – ai đời hẹn hò trên núi cha nội! Đứng dưới này nhìn lên ai cũng thấy. Mặt anh Hồng lộ vẻ băn khoăn: Chà, tao lỡ hẹn với nó 4 giờ chiều mai rồi, làm sao đây ta? Tôi nói: Ông phải gặp nó chuyển địa điểm khác, hẹn trên núi là không kín đáo. Sao không ra Hòn Chồng? Ở đó có nhiều hóc đá mát mẽ và yên tĩnh.
Hồi đó nhà tôi ở dưới chân núi Sạn. Hòn núi này cao chỉ trung bình, phần lớn là lùm bụi và cây thấp. Có một con đường mòn dẫn lên lưng chừng núi. Có lẽ con đường này là của những người thợ chẻ đá. Thỉnh thoảng một năm vài ba lần, núi Sạn được làm nơi tập trận cho các khóa sinh và sinh viên sĩ quan của trường Hạ sĩ quan Đồng Đế. Cuộc tập trận chỉ bắn bằng đạn giả nhưng chúng tôi không được lại gần, chỉ đứng dưới chân núi nhìn lên… Trong mấy năm tôi ở đây, có hai lần “Việt Cộng” treo cờ “Mặt trận giải phóng” gần chóp núi vào ban đêm. Lá cờ có hai màu xanh đỏ, ở giữa là ngôi sao vàng. Báo hại mấy ông lính sáng hôm sau phải lần mò từng bước một, leo lên để lấy xuống. Họ cẩn thận quan sát từng bụi rậm chung quanh, có lẽ vì sợ bị gài mìn hay lựu đạn. May mắn là cả hai lần đều không tìm thấy loại vũ khí gì. Mấy ông lính vui vẻ đi xuống nói cười rôm rả, mặc kệ bộ mặt thất vọng của mấy đứa con nít tụi tôi núp sau lưng mấy cục đá tảng ló ra nhìn…
Ngày chủ nhựt hôm sau tôi đi cắm trại cả ngày với đoàn Hùng Tâm Dũng Chí của giáo xứ Vĩnh Phước, chiều tối mới về tới nhà. Anh Hồng đang nằm quay mặt vô vách tôn, tôi hỏi gì cũng ậm ừ không nói. Qua lời kể lại của mấy đứa em, tôi được biết anh Hồng đã không gặp được con Nga để thay đổi địa điểm hẹn hò nên phải y hẹn cũ. Bốn giờ chiều, có hai bóng người một trai một gái lầm lủi leo lên núi Sạn với khoảng cách hơn chục mét. “Bi kịch” là ở chỗ phía sau gần trăm mét, hàng đoàn trẻ con đi theo hò reo inh ỏi khiến ai ở dưới chân núi cũng phải ngước lên nhìn. Dĩ nhiên anh chàng và chị chàng mắc cở quay xuống. Không có mặt nhưng tôi cũng có thể hiểu được cái tẻn tò của hai người lúc đó…
Chưa kịp “sửa sai” thì xảy ra một sự cố. Bác tôi – ba anh Hồng – là lính lái xe vận tải. Ông vừa để thất thoát một số lượng lớn gạo ở trong kho. Suýt bị ở tù, bác tôi phải chịu kỷ luật thuyên chuyển về một đơn vị lính Biệt Động Quân ở Bình Định. Ông tới nói với ba má tôi để ông dẫn anh Hồng đi theo về đơn vị mới. Có cha có con cho đở buồn – ông nói. Bác gái tôi và mấy đứa con nhỏ vẫn ở lại Nha Trang… Rồi từ đó cho tới gần ngày “giải phóng” tôi mới gặp lại anh Hồng. Lúc này bác tôi đã chết mất xác trong một trận đánh trên cao nguyên. Anh Hồng lần mò tìm về lại Nha Trang, vẫn còn trên mình bộ đồ rằn ri của lính biệt động…

Chuyện qua đã lâu rồi. Và ông anh họ của tôi cũng còn đó, chuẩn bị bước qua tuổi sáu mươi. Không biết có phải số phận không mà cái đường vợ con của anh Hồng hơi bị tốn kém. Anh đã trải qua nhiều mối tình (có nhãn hiệu cầu chứng) từ Bãi Điều đến Sơn Phước, từ Trại Lết về Đất Sét… Nghe địa danh có thể hình dung được dặm dài…
Nhớ lại tự nhiên thấy thương cô bé tên Nga năm nào. Không biết bây giờ nàng Lolita bé nhỏ ấy đã lưu lạc về đâu?

Lê Phú Hải

TÔI

truongdinhphuong

Tôi là tôi, giữa cuộc chơi
Tôi là tôi, giữa cuồng khơi chợ trần
Tôi là tôi, có đôi lần
Nằm trên thác gió, nghe phần phật đau
Tôi là tôi, kẻ đến sau
Nép vào một góc nát nhàu, và mơ!
Đêm qua, mưa, gió, mịt mờ
Hình như, sóng bỏ bến bờ, ra đi…

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

CỚ GÌ?

trantuan

Hẳn gió đã tường cơn dị mộng
Nên đêm nay lệ ấy khô rồi
Mành trăng huyễn vỡ chìm sau núi
Cớ gì ta mãi ngóng xa khơi?

Ừ gió ngủ thật say đi nhé
Ta từng mong một sát na yên
Để mai còn ngắm bình minh nắng
Bằng ánh nhìn chưa vết tật nguyền.

Trần Tuấn

BUỔI TỐI TRÊN CỒN CÁT

nguyenleuyen

Buổi Tối

-A lô, anh ăn tối chưa?

-Cảm ơn em. Rồi. Mọi chuyện đều ổn. Còn em?

-Dạ, cũng vừa xong bữa. Mà… không phải với mì tôm nữa đó chứ?

-Hẳn nhiên. Chiều nay anh tự nấu món canh chua cá lóc, sườn ram và rau muống xào tỏi theo cách vào bếp trên Google.

-Ồ, vậy thì ngon quá.

-Rất ngon, nhưng chỉ một nửa, nửa kia là dở, thậm dở.

-Anh nói sao?

-Một nửa ngon và một nửa dở.

-Em hiểu rồi. Anh đang thiếu sự chia sẻ. Nhớ ai đó đã nói “yêu một tác phẩm nghệ thuật ta muốn chia cái đẹp ấy cho nhiều người…”.  Nấu nướng cũng là nghệ thuật mà anh. Chị Diệu nói chừng nào về?

-Còn mệnh đề thứ hai sao em không nói hết? “Còn khi yêu một người ta chỉ muốn giữ người đó cho riêng mình”.

-Thôi đi. Em hỏi chị Diệu chừng nào về?

-Anh đâu rõ, khoảng trên dưới một tháng nữa, là anh đoán vậy, không hỏi. Cứ để bà ấy thoải mái. Hỏi chỉ tổ làm bồn chồn.

-Nhưng gì đi nữa, trong lúc chị đi vắng thì anh cũng phải cố gắng ăn uống tử tế, đừng có suốt tuần mì tôm với cơm hộp với bia rượu. Em chỉ nhắc chừng vậy, anh biết phải làm gì mà, phải không? Bữa lên nhà, em liếc thấy trong giỏ rác toàn vỏ mì, trong khi đồ ăn trong tủ thì chất đầy. Tự dưng em cảm thấy buồn buồn. Đàn ông các anh mười người thì có đến mười một người y như nhau khi vợ đi vắng dài ngày: Trường kỳ kháng chiến với mì tôm, lại ôm bia rượu làm bằng hữu chi giao nữa. Chẳng bổ béo gì mà thêm bệnh.

-Anh biết, đâu phải con nít. Anh chưa bỏ bữa ngày nào. Cuối tuần còn được vợ chồng cô em đánh xe lên tận nơi, chở xuống bồi dưỡng như ông hoàng ấy chứ. Em đừng lo lắng vẩn vơ, mệt trí. Anh nghĩ, em để đầu óc thanh thản sẽ tốt hơn ba cái vụ ăn uống quăn queo này.

-Xem ra anh thừa thông minh, nhưng rất kém hiểu biết về y học phổ thông trong vấn đề dinh dưỡng!

-Phải, cái gì cũng biết hết thì đi giành với thiên hạ làm thiên tài sao. Anh thấy thời đại bây giờ chẳng cần phải  biết một thứ gì, hiểu một tí gì nhưng khi được đặt lên ghế thì mọi chuyện đều trơn tru.

-Lại xiên xẹo.

-Thôi, đừng có lo lắng vớ vẩn nữa, được không?

-Không. Không lo cho ai cả, nhưng vẫn phải dòm chừng.

-Là em nói ra đó nhé, không tin thì chạy xe lên kiểm tra ngay coi anh nói có đúng không?

-Đừng giỡn anh, tới vào giờ này để thiên hạ xé xác em sao?

-Anh không xé em thì ai dám vào xé cơ chứ?

-Đừng đùa dai, mà bạn anh tới chơi nhà hay sao nghe nói chuyện như bắp nổ vậy?

-Mấy người ngồi trên truyền hình nói chuyện gì đó, anh không rõ, đâu có nghe họ nói gì!

-Thôi, anh xem TV đi, em đi tắm đây.

-Bonne nuit!

-Au revoir!

Màn hình điện thoại sáng lên màu mây trắng, trôi bềnh bồng vài giây rồi tắt ngấm. Anh bỏ máy xuống bàn, ngẩn ngơ về cuộc nói chuyện vừa chấm dứt, có vẻ như một màn kịch ngắn đang tới hồi cao trào thì bị sự cố mất điện. Và, rồi trong đầu anh lập tức vòng vèo tưởng tượng dài ngắn: Bắt đầu là cô em mở nụ cười đắc thắng, đủng đỉnh bước vào phòng tắm, cửa khóa trái, tiếng nước chảy ào ào, mát mẻ. Anh tự cười với bản mặt hụt trân của mình. Đúng rồi, nước sẽ xoa mềm và xối trôi tất cả, anh tự nhủ thầm khi quay ra, bỏ mặc kệ đám người bé xíu đang lao xao trên màn hình, vác ghế ra sân ngồi nhìn vườn cây nhập nhoạng trong ánh điện, cao thấp, vung vẩy cành lá theo cơn gió nhẹ mỗi khi tràn tới. Bóng tối và ánh sáng trộn lẫn khiến những lùm bụi như những hình nhân đang chạy nhảy lẫn cẫn, duỗi dài trên mặt đất.

Điện thoại lại reo. Chùng chình một lúc mới đứng dậy, bước lên bậc cấp, bụng dạ hoang mang. Anh không mong Phương đã tắm xong và lại nhớ tới chuyện mì tôm, bia rượu để tra gạn lần cuối trước khi ngồi vào bàn trang điểm.

Đúng. Không phải cô em mà là Diệu.

-Anh nghe đây.

-Anh ăn tối chưa?

-Xong tám hoánh rồi. Em khỏe không? Chuyến đi vui vẻ chứ?

-Rất vui và rất khỏe. Chuyến đi thú vị lắm, về em kể cho nghe. Ủa đang nhậu hay sao mà em nghe tiếng ồn?

-Khổ. Một đám trên TV xí xô xí xào gì đó. Nhậu nhẹt gì đâu.

-Anh dùng hết thực phẩm trong tủ chưa? Để em gọi Nhi nó mua mang về.

-Cũng sắp hết, đừng gọi. Để coi thích món gì anh bảo nó mua. Có những món anh không biết phải nấu thế nào. Mà đoàn của em lên chùa gì đó trên núi Tà Cú chưa?

-Chưa anh. Đang ở khách sạn. Mấy bà bạn đang dạo phố, dòm coi sông Cà Ty có đẹp như trong thơ anh Hoài Khanh không. Em định bụng qua thắp nhang cho anh Tư Đình.

-Phải đấy. Gọi xe sang thắp cho anh ấy cây nhang. Dẫu gì cũng chỗ bạn bè thân thiết một thời.

– Dạ, em đi ngay. Mà này, đoàn sẽ đi miền Tây khoảng một tuần. Lượt về Sài Gòn, em ghé nhà các con chơi với chúng chừng nửa tháng, sau đó ra Vũng Tàu với con Trang bạn em. Anh biết nó mà, Trang dạy Vạn Vật ở Đồng Sơn đấy. Dễ chừng gần hai chục năm không gặp nhau. Chắc cũng mất một tuần nữa nó mới thả ra, rồi quay về Mỹ Tho thăm nhà, coi phụ với mấy anh làm mộ cho ba má. Hồi sáng Út Hiền kêu chị Năm phải lên nhà nó chơi một tháng, chị em ruột thịt gì mà ba bốn năm trời không thấy mặt nhau… Anh thấy đó, không đi thì thôi, hễ bước chân ra khỏi nhà thì chỗ này ới, chỗ kia gọi, sao bỏ được, anh!

-Ừ, em cứ thoái mái đi. Nhưng đừng có kiểu: “… Nghe tiếng cơm sôi chợt nhớ nhà” đó nghe. Anh nhắc lại, cứ rong chơi thoải mái, đừng bận tâm về anh.

-Nhưng em lo.

-Lo với lắng, anh đâu phải trẻ con để trông chừng vấp ngã.

-Anh sẽ vấp cái khác. Mà mấy tuần nay Phương có lên không. Em gửi anh cho nó nhắc chừng chuyện sinh hoạt đó.

-Cảm ơn bà vợ tốt bụng. Anh đi tắm đây.

Anh tự động tắt máy. Quanh đi quẩn lại cũng ngần ấy chuyện. Đúng là đàn bà – anh lẩm bẩm và ngồi phịch xuống ghế đẩu và chợt nhớ đến mấy câu thơ của Sơn khùng: Đàn bà người nào cũng như người nấy/ Nên dặn lòng thôi hãy cố quên Em/ Nhưng đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên suốt đười cứ nhớ nhớ quên quên. Diệu đã đi hết một quãng đường dài sướng khổ với anh. Rồi bây giờ lại Phương. Hai người hai thế hệ. Nhưng xem ra họ rất giống nhau. Bởi cả hai đều là đàn bà!

 

Ngó qua phía hòn non bộ, anh giật thót người khi thấy đôi đũa gát ngang miệng tô còn nằm trơ khấc trên thành bể khiến anh suýt nẩy bật lên kiểu điện giật, vì chứng cứ nói dối ngọt lừ vừa rồi vẫn đang phơi ì ra đấy, trần truồng. Xét về mối quan hệ thì giữa tô mì đã sạch nhẵn, thêm đôi đũa gát ngang vẻ thỏa mãn, đắc chí một cách đáng ghét… là hiện thực chua lòm so với canh chua cá lóc, sườn ram, rau xào do những bày đặt từ ngóc ngách sâu hoắm của sự tưởng tượng “phong phú”… Giữa chúng, hình như không họ hàng thân thích gì với nhau trong đời sống, chí ít là trước và sau khi có cú điện thoại tra vấn của cô em, nhưng rồi cái không tồn tại vẫn thắng cái đang “ngồi” thù lù ở thành bể kia, mà từ một khoảng cách xa, không có sự kiểm chứng thì nó giống như tên tội phạm đã thoát khỏi lưới luật pháp. Nó lại còn ngang nhiên có mặt trong lời thoại như sự che giấu cho tội phạm một cách quang minh. Cuộc nói dối trơn chùi đã làm cho Phương và ngay đến Diệu cũng tin rằng anh là người rất thật thà, ngay thẳng

Trên cồn cát

Quán Romance nằm cuối con đường dẫn từ đầu thành phố xuống giáp biển, trên một cồn cát cao, dân địa phương vẫn quen gọi quán Cồn Cát thay cho Romance. Phía trước mặt là một rừng dương xanh ngút, chắn những đụn cát cao chỉ chực có cơ hội là sóng biển xô bổ vào.

Anh và Diệu và Phương thích ngồi ở cái quán này, không phải thức ăn rẻ và ngon gì cho cam. Đơn giản là quán có những phòng ăn nhỏ vừa cho sáu người trên tầng ba. Mọi người vừa ăn vừa có thể nhìn ra màu biển xanh mênh mông ở dưới kia. Diệu chỉ thỉnh thoảng tham gia. Nhưng với Phương thì thường hơn. Bởi cô em cũng tâm trạng, cũng thích ngắm biển xanh và yên lặng lắng nghe tiếng lá dương reo vi vu hòa với sóng đập lao xao lên kè đá.

Tôi đề nghị:

-Tối nay mình đi ăn ở Cồn Cát, em nhé. 7 giờ được không?

-Sớm một chút, 6 giờ đi.

-D`accord! Em sửa soạn, anh tới trước. Nhớ mặc áo màu lá cây. Anh thích.

-Còn nhiều chiếc đẹp hơn.

-Anh thích chiếc này, chiếc lai cua màu lá cây ấy. Nó để lộ vẻ thanh thoát của em từ viền cổ, từ cánh tay trần. Nó sang trọng một cách dân dã như thể em đang ngồi quay tơ vậy. Cánh tay trắng muốt, chiếc cổ trắng muốt, những búp tay thon nổi lên giữa cuộn tơ vàng óng và, chiếc áo xanh làm nền. Nếu em biến chiếc áo ấy như một chiếc yếm thì em sẽ đẹp gấp bội trong mắt anh.

-Khéo tưởng tượng… Bày vẽ.

Quán thưa khách. Còn nhiều dãy bàn trống. Khi dượm chân bước lên cầu thang, chủ quán từ bếp lên chào và nói bữa nay có món cua lột. Tôi nói vâng cua lột. Ba người ăn chứ, chủ quán hỏi. Không, hai. Nhưng để người ta tới đã, coi có thích không. Chủ quán gục gật chiếc mũ trắng trên đầu cùng với câu nói, chúc vui vẻ, ngon miệng. Tôi nói cảm ơn và giơ tay vẫy vẫy.

Căn phòng chúng tôi thích ngồi, may chưa có người. Tôi mở toang các cửa lớn nhỏ. Phụ bàn giúp bật đèn và mở quạt rồi quay sang đặt quyển thực đơn dày cộp lên bàn. Chú đi một mình, phụ bàn hỏi. Không, hai, tôi trả lời, cháu chờ chút xíu nhé, chú sẽ gọi khi bạn đến. Cô bé dạ và quay ra.

Gió từ biển thổi vào, mát rười rợi. Tôi đứng lên tắt quạt và nhìn ra phía biển bắt đầu thẫm lại. Sóng vỗ rì rào và lá dương reo. Có vẻ như Phương có lý khi đưa ra nhận xét, rằng ngồi ở căn phòng này giống như ngồi trên ô riêng, ở nhà hát lớn, dành cho các quý ông quý bà nghe hòa nhạc giao hưởng. Cô nàng thêm, có những lúc em nghe như đó là bản giao hưởng số 5 cung Đô thứ Định Mệnh, đôi khi lại là khúc số 7 cung La trưởng Niềm vui hay các khúc Sonata. Em cảm ơn ông Beethoven thiên tài. Tôi hỏi, có khi nào em nghe giống như khúc Appasionata không? Nàng cười, để lộ chiếc răng khểnh cao ngạo giữa hai hàm răng trắng đều.

Phương bước vào. Nàng đúng là cô Tấm đã tìm thấy chiếc giày. Tôi đứng lên ôm nàng trong giây lát thay lời chào. Phương áp chặt. Cơ hồ như tôi nghe các thớ thịt, mạch máu, chân lông đều nhổm lên chực chảy ra ngoài.

Phương đẩy tôi ra và ngồi xuống, đẩy lọ hoa hồng ra đầu bàn.

-Mình ăn gì, em? – Tôi nói và đẩy quyển thực đơn về phía nàng – Ông chủ kêu có ghẹ, cua lột gì đó, quảng cáo rất ngon.

Phương xoáy vào mắt tôi.

-Anh quên hôm nay là ngày gì rồi sao. Rằm tháng bảy, lễ Vu Lan.

-A, xin lỗi – Tôi kêu lên – Vậy thì rau củ quả cho nó chay tịnh. Nhưng em phải cho anh một ly rượu. Vang Đà Lạt thôi. Đúng một ly.

-Được, một ly thôi nghe.

Khi cô bé phụ bàn bước ra, tôi cầm tay nàng nói bữa nay em đẹp quá. Nàng ngó cành hồng vàng nói, nịnh. Thiệt mà, tôi nói khẽ..

Chúng tôi nhẩn nha ngồi ăn, nói những chuyện không ăn nhập vào đâu, bởi ai cũng chăm chăm về hướng biển, như thể nơi đó đang lưu giữ những riêng tư của mỗi người. Thực tế lúc này. biển sẫm đen. Những cột đèn dọc bãi cát không đủ sáng để nhìn rõ mép nước và bờ cát. Tít tận ngoài xa những ánh đèn câu, giăng kín một khoảng không gian rộng. Hình như mọi chiếc thuyền đều đứng nguyên tại chỗ. Ánh đèn đứng nguyên tại chỗ.

-Em có bao giờ ngồi thuyền ra biển chưa?

-Chưa, em sợ say sóng.

-Em chỉ yêu mỗi dư âm của sóng biển, phải không?

-Cứ mỗi lần ngồi đây, nghe tiếng sóng, tiếng lá dương reo trong khoảng nhập nhoạng sáng tối là em nghĩ ngay đến những khúc giao hưởng cổ điển dành cho dương cầm. Ước gì giũ bỏ hết mọi phiền lụy trần gian và đến một nơi nào đó thật khuất vắng, thanh tịnh…

-Ước mơ bao giờ cũng đẹp và thực tế thì xù xì. Ta chỉ nên tận hưởng mỗi khi có dịp…

-Dạ, thực tế xù xì… – Nàng nói với nụ cười thật buồn bã, với đôi mắt u uẩn xa xăm khiến tôi nhớ ngay mấy câu của Bùi Giáng:

Em có nụ cười buồn buồn môi mọng

Em có làn mi khép lá cây rung

Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng

Hồ gương ơi! Sao sóng lạc vô chừng.

Tiếng lá dương, tiếng sóng trộn lẫn mơ hồ vọng lại. Chúng tôi yên lặng tiếp tục nhìn ra biển. Những quầng sáng nổi bật lên giữa màu đen thẫm. Tất cả đều đứng nguyên, không chuyển động. Đột ngột Phương quay sang tôi.

-Anh biết không, em yêu chị Diệu vô cùng, bởi chị đối xử với em như ruột thịt. Khi nào em bằng tuổi chị ấy, chắc chắn em sẽ đi theo con đường chị đang đi. Em thấy chị thanh thản, cởi bỏ. Ước chi lúc này em được phần mười của chị.

Tôi loay hoay, lúng túng không biết phải trả lời sao. Nhưng thực tế, chí ít là trong khoảng thời gian dài, cả ba chúng tôi đã gắn chặt vào nhau như kiếp tiền định. Những khi chúng tôi ngồi chung bàn ở căn phòng này, hình như ai cũng đọc được những ý nghĩ của người kia, bởi chúng tôi đều có những bất hạnh riêng. Cả ba đều hiểu nhau và cùng chia sẻ… Tận đáy lòng họ cũng run rẩy leng keng niềm hy vọng, lục cục nỗi thất vọng ê hề của số phận…

Trong ánh mắt của Diệu khi nhìn tôi và Phương, nàng như muốn nói: Anh đau khổ và mệt mỏi quá nhiều bởi những kỳ vọng dành cho thằng út đã sụp đổ, cộng với xã hội bên ngoài làm anh ray rức, tuyệt vọng. Em là vợ, nhưng không giúp được gì cho anh, bởi cả em và anh cùng bất lực, cùng đau đớn đến tột cùng về một niềm tin duy nhất bị đánh mất. Em biết ơn anh đã hiểu em, cho em đến với kinh pháp và đã được gội rửa. Còn anh, cả đời bi lụy vì chữ nghĩa, anh bay bổng với những giấc mơ đẹp, rồi bị xô đẩy, rơi đùng xuống đáy vực. Và rồi Phương là chiếc phao, là chiếc thang dây đã kéo anh lên khỏi vũng tối. Em cảm ơn Phương đã thay em làm được điều em không thể, dù cố gắng biết bao. Em tin anh. Đừng làm gì cho Phương buồn, bởi em nó cũng đang mang nỗi đau không kém cựa gì ai…

Phương thì, anh và chị Diệu đã xoa dịu vết nứt trong em như bàn tay êm ái của một bà mẹ yêu thương con hết mực, đồng cảm và chia sẻ cùng em, vực em đứng lên…

Còn tôi khi nhìn vào đáy mắt hai người, những người phụ nữ bao dung, mở lòng… tôi nghĩ nếu có kiếp khác, tôi cũng sẽ đi cùng trời cuối đất để tìm cho ra Diệu, và trái tim tôi sẽ vẫn dành một ngăn lớn cho Phương dẫu biết rằng “tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa…”.

-Thôi về anh. Em về coi chừng mấy nhóc học bài.

Tôi đứng lên. Chúng tôi cùng nhìn về phía biển một lúc rồi hôn nhau. Nụ hôn mang theo mùi rau củ quả trong bữa ăn. Nó ngọt ngào và chay tịnh đến vô cùng vô tận.

NGUYỄN LỆ UYÊN

 

 

Trà Sư, thánh địa của loài chim.

 

 elenapucillo

  

 

Sự yên lặng gần như thiêng liêng chào đón chúng tôi trong lúc thả dọc theo bờ kênh trên một chiếc xuồng nhỏ. Tiếng mái chèo khua trong dòng nước xanh thẫm làm kinh động mấy con rắn nằm nép mình giữa những xác lá khô rớt dọc hai bên bờ.

Một cảm giác yên bình lấp đầy trái tim tôi khi ánh mắt nhìn thấy những tán lá xanh của những rừng cây  cao vượt qua khỏi đầu những cụm lau tóc bạc.

Chiếc xuồng nhỏ và nhẹ trôi đi, mái chèo hình như cũng nhịp nhàng khuấy nước theo cùng nhịp đập của trái tim tôi.

Đây là một chuyến đi dài của tôi xuống An Giang thuộc mìền Nam Việt Nam nhưng chỉ khi tạm dừng chân để  thực hiện một chuyến đi bằng xuồng trong khu rừng ngập nước ở Trà Sư[1] mới ban tặng cho tôi những cảm xúc mạnh mẽ và đồng thời cho tôi cái cảm giác bình yên mà tôi đang tìm kiếm.

Chạy, luôn luôn chạy để khỏi phải suy nghĩ, chôn giữ trong lòng bao nhiêu bực tức mà không biết làm sao giải tỏa. Dường như chỉ có sự yên tĩnh nới đây mới cho phép tôi lắng nghe nhịp đập của trái tim mình, để hiểu được tầm quan trọng của sự hiện hữu và có thể sống những phút giây không thể nào lập lại.

Bầu trời về chiều lúc đầu có nhiều mây nhưng giờ đây đã sáng hơn và khu rừng lúc này  phủ một màu xanh rực rỡ, đây đó điểm một vài chiếc lá vàng hay đỏ úa như đang chuẩn bị lìa cành. Tôi nhìn thấy vài chiếc lá nổi trên mặt nước, trôi theo dòng kênh như đang muốn đồng hành với chiếc xuồng. Có vài chú cá nghe xao động nên cũng tò mò trồi lên mặt nước nhìn theo.

 

Chiếc xuồng trôi chậm lại và cuối cùng dừng bên một đầm nước có những cánh sen trắng và hồng đang đong đưa trên cuống.

Rồi, đột nhiên, có một  cái gì đó phá tan yên lặng.

Từ khu rừng rậm rạp một đàn cò không biết từ đâu đang vỗ cánh bay lên, những đôi cánh trắng nổi bật lên trên nền màu xanh thẫm của lá cây. Chúng bay đồng loạt, có lúc xoay tròn, nhanh chóng chuyển hướng như thể được điều khiển bởi một nhạc trưởng và hòa trong vũ điệu đẹp mắt đó là tiếng kêu ríu rít vang động giữa lưng chừng trời.

Thiên nhiên sôi động này đã bất ngờ làm trái tim tôi tràn ngập một niềm vui khó tả. Có lẽ do mệt mỏi và sự yên tĩnh lúc đầu đã làm tôi ngây ngất rồi giờ đây, sự cuồng nhiệt từ tiếng đập cánh đồng loạt của đàn cò đã rung lắc tôi bằng một sức mạnh đến bàng hoàng.

Lúc này thì trời sáng hơn và tôi bắt đầu nhìn thấy những cây tràm có hoa và vỏ trắng hiện lên giữa những tán lá xanh. Vừa ngỡ ngàng vừa thích thú tôi nhận ra bao điều kỳ diệu của thiên nhiên mà cây rừng đang gìn giữ trong sắc lá và hương tràm ngào ngạt. Thiên nhiên hình như đã ban tặng cho con người một kho tàng vô giá thông qua loài cây đơn giản và khiêm tốn này. Từ những chiếc lá người ta ép rồi chưng cất để chiết lấy tinh dầu, một loại dầu tràm có tính năng tuyệt diệu: kháng khuẩn, phòng ngừa cảm lạnh, trị nhức đầu, đau bụng, phòng gió và tránh ho..

Khi người chèo xuồng nói là dầu tràm còn có tác dụng xua đuổi, chống và trị muỗi thì tôi vô cùng thích thú vì loài côn trùng đáng ghét này thường hay chích, đốt và hút lấy máu của tôi.

Mặt trời lúc này sắp tắt nhưng phong cảnh đẹp hình như chỉ vừa mới bắt đầu.Từ một cụm rừng xa tôi nhìn thấy một đàn vạc và le le có đến hàng ngàn con đang bay về tổ, những đôi cánh của chúng phần phật, xoãi rộng rợp kín bầu trời.

Trong không gian, tiếng chim ríu rít trầm bỗng trong một bản hòa tấu không ngừng. Tưởng như tất cả các loài cùng đồng thanh hát bài hát ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp, ca ngợi cuộc sống yên bình bằng những giai điệu nồng nàn, làm cho khách phương xa là tôi cũng tự dưng thấy mình thật gần gũi với khung cảnh hoang dã nơi đây.

Nhưng phút xuất thần không kéo dài được lâu, trời sẫm tối và sau một chuyến phiêu lưu đầy thích thú và bất ngờ chiếc xuồng cũng phải quay về.

Trong lúc xuồng quay đầu, rẽ nước.. trong mắt tôi vẫn còn đọng lại những hình ảnh của một thiên nhiên tinh khiết chưa từng bị ô nhiễm. Còn trong đôi tai như vẫn còn vang lên giai điệu du dương của những loài chim như một lời tạm biệt và hẹn ngày tái ngộ.

Elena Pucillo Truong

 

Sài gòn 10-2016

(Trương văn Dân dịch từ nguyên tác tiếng Ý “ Il santuario deli uccelli nella foresta di Tra Su” )

[1] Rừng tràm Trà Sư nằm trên địa bàn xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang

cuồng điên vì nhớ

nguyenminhphuc

 

lòng cuồng điên vì nhớ…( Hoài cảm- Cung Tiến}

tiếng chân người rất khẽ
sao vọng động hồn tôi ?
mùa thu qua rất nhẹ
sao vàng lá lưng trời?

người về mang thương nhớ
đau một chiều nắng phai
bờ môi ngày hội ngộ
mưa chìm khuất sông dài

có phải tình dong ruổi
trong tim giờ phai phôi
hay chỉ là hạt bụi
rơi xuống cánh tay người

tôi cũng xin là gió
trải xuống đầy đôi môi
nghe trong từng hơi thở
buồn im tiếng ngậm ngùi

người có về đây nữa
mang cho đời chút ơn
mùa thu nào qua cửa
tôi ngồi chờ hoàng hôn

lòng cuồng điên vì nhớ
trong tôi – ngày quạnh hiu
nghe khối tình vụn vỡ
trôi giữa hắt hiu chiều…

Nguyễn Minh Phúc
lập đông- 2016

Có nên đập phá một tượng thần?

nguyendangthuong

Nhân dịp sinh nhựt lần thứ 80 của Gabriel García Márquez, cựu tổng thống Bill Clinton đã ca tụng nhà văn Mỹ Latinh này như sau: “Tôi tin rằng ông ấy là nhà văn viết truyện hư cấu quan trọng nhứt của bất cứ ngôn ngữ nào kể từ sau William Faulkner”. Ông có cho biết thêm, thời sinh viên ông đọc một mạch “Trăm năm cô đơn”, không để cuốn truyện rời khỏi tay dù trong giờ học. Vậy xin hỏi hôm đó ông tới lớp làm gì? Hay là ông đọc nhưng không xem, như ông hút cần sa không nuốt khói, vân vân. Tuy nhiên, dẫu sao thì những lời tâm tình chưn thiệt đó đã chứng tỏ với thế giới rằng cựu tổng thống Mỹ không chỉ mê gái, mê golf, mê chính trị chính em và mê kiều nữ Monica mà thôi. Tất nhiên người viết bài này rất khâm phục các vị yêu văn chương (García Márquez) và biết tôn trọng sự thật.
Nhà văn Gabriel García Márquez đã và đang được độc giả thế giới mến mộ. Trong số độc giả to tát ấy (cứ giả sử như vậy đi) tất nhiên cũng có ta. Nhứt là miền Bắc. Độc giả ta sùng bái Márquez (miền Nam đã có “Trăm năm cô quạnh” từ đầu thập niên 70), trước tiên, vì cuốn truyện nổi tiếng nhứt của ông ta đã vang danh thế giới, một phần (nếu không muốn nói là phần lớn), có thể do cái tựa cải lương, bắt mắt. Ở Hà Nội, García Márquez còn được thêm hào quang của một tác giả thiên về cánh tả và bạn thân lâu năm của Fidel Castro, cộng thêm cảm tình dành riêng cho một quý khách đã bỏ ít thì giờ hiếm quý làm một chuyến viễn du vời vợi tới kính cẩn nghiêng mình trước lăng Bác. Sau cùng, vì Gabriel García Márquez đoạt giải Nobel văn chương, mà độc giả ta thì luôn luôn nể kính các nhà văn Nobel. Viện sĩ hàn lâm không thể sai lầm khi lựa chọn hộ ta: cái gì họ thấy hay thì ta có bổn phận đọc và cảm thấy tuyệt vời… gấp bội gấp ba!
Riêng tôi, tôi chẳng rõ do đâu mà nhà văn García Márquez lại chống Mỹ tơi bời như vậy, ngoài đời cũng như trong tác phẩm. Nếu gạt qua một bên các vấn đề liên hệ để chỉ chú trọng đến sáng tạo văn học nghệ thuật thuần túy, thì, không có Faulkner tất nhiên sẽ không có García Márquez. Không có “Absalom, Absalom!” chẳng có “Trăm năm cô đơn”. Không có Yoknapatawpha chẳng có Macondo. Không có “ông đại tá” Sutpen chẳng có “ngài” đại tá Auréliano Bueldia. Tới một vùng đất mới khẩn hoang lập nghiệp, hoài bão khai sinh một họ tộc sẽ vang danh; sự loạn luân đưa đến sự tuyệt diệt của dòng họ đó qua vài thế hệ, bởi giọt máu cuối cùng là một đứa cháu bẩm sinh ngu đần; sáng chế và sử dụng kỹ thuật lắp ráp phần mảnh, kể chuyện từ nhiều góc cạnh và tầm nhìn khác nhau qua nhiều tiếng nói như một tấu khúc thiếu hòa âm; hài hước châm biếm định mệnh ác độc trớ trêu, từ cửa miệng người nghe cũng như người kể; thảy đều có trong/ đã đến từ “Absalom, Absalom!” và vài tác phẩm khác của Faulkner.
Hơn nữa, “trăm năm cô đơn” có thấm thía gì đối với sự “lẻ loi muôn đời” của con người, ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Cô đơn và hoảng sợ trong cảnh hoang sơ, con người đã dần dà chế tạo Thánh thần và Thượng đế, hầu giải thích những hiện tượng mà nó không thể hiểu, để có những quyền lực cao siêu vô hình giúp đỡ và che chở nó chống chọi thiên nhiên, muông thú. Nhưng, mặt khác, con người đã bị Thượng đế (nếu ta tin có Thượng đế) lưu đày xuống dương gian sống trong khắc khoải cô đơn đau khổ tột cùng nhiều hơn hạnh phúc, không biết với mục đích gì (phi lý), và nhân loại phải chờ đợi mãi mãi một vị cứu tinh (Godot) không bao giờ tới, mặc dù đã có sự giáng thế của Đức Phật Thích Ca và của Chúa Giê-su. Beckett đã diễn tả/ biểu hiện tấn bi kịch về sự cô đơn và nỗi thống khổ ngàn đời của con người trong một vở kịch hai hồi, giản dị tới trơ trụi, hài hước đến cười ra nước mắt, trong đó một chiếc giày cũ mòn đế, lê lết mãi và trĩu nặng như phiến đá định mệnh cột dính vào chân khó rứt ra, đã mang vẻ đẹp biểu trưng siêu hình cao độ, bất ngờ. Nó khiến người xem nghĩ tới đôi guốc mộc lấm bùn đất của nông dân Hà Lan, và chiếc giày da há miệng cô đơn, như cuộc đời nghệ sĩ, đặt trên ghế, trong tranh Van Gogh.
Trên phương diện đạo đức, ta có nên chỉ trích một nhà văn lạm dụng tiếng tăm để phục vụ một lý tưởng cách mạng cao quý đã lệch đường, hoặc đã chuyển hướng khi có quyền bính trong tay? Có nên diễn dịch (hay không cần thiết vì đã lộ liễu) sự lựa chọn thời gian (sinh nhựt của mình) tới đảo những người khốn khổ hôn má Castro như một hành động khiêu khích hầu gây chú ý và tiếng vang cho chế độ trong những ngày tàn của con khủng long, mà cái chết sẽ khiến toàn dân Cuba trong và ngoài nước, túa ra đường, hoặc để vỗ tay reo hò chiến thắng, hoặc để đấm ngực bứt tóc khóc la như khi Mao chết (mà chỉ cần vài năm sau sẽ tự cởi trói vui vẻ bước lên xa lộ tư bản đế quốc, như Trung Quốc, như Việt Nam?) Nhảy bài tango cuối cùng với El Lider trước khi chìm xuồng xã hội chủ nghĩa?
Gabriel García Márquez đã nhiều lần yến tiệc tưng bừng thâu đêm với “lãnh tụ vĩ đại” và các vị khách quý của “ngài”, đã kiên nhẫn lắng nghe các diễn từ tự tôn, chống Mỹ dài bốn, năm tiếng đồng hồ của Phi Đen, trong khi các đồng nghiệp Cuba giãy chết. Xin kể một thí dụ: Reinaldo Arenas. Ông này là một nhà văn Cuba kiêm nhà thơ đồng tính, tài hoa, nhưng đã bị chế độ Castro giam cầm rất dã man, trước khi ông tìm đường tẩu thoát bằng cách “thí mạng gay”, cùng với khoảng 10.000 người Cuba “thí mạng cùi” chen lấn xô đẩy nhau chạy vô tòa đại sứ Mỹ xin tị nạn chính trị năm 1980, khi Castro hé rào ốc đảo vài giờ (định chơi khôn mà hóa dại). Độc giả có thể đọc bài “Cuba & các nhà văn đồng tính luyến ái” của Reinaldo Arenas do tôi chuyển ngữ, trên website Tiền Vệ. Đăng “Mấy cô điếm buồn” trên talawas chủ nhật tất nhiên là một việc làm hữu ích đáng được ca ngợi, chí ít là vì độc giả cần được tiếp cận tác phẩm.
Tôi đã đọc hết chương một của “Trăm năm cô đơn” (qua bản tiếng Pháp) rồi không muốn tiếp tục vì nghĩ, nếu mọi việc có thể xảy ra ngon lành như vậy nhờ ngòi bút thần kỳ thì bận tâm làm chi; có có, không không, cũng vậy thôi mà). Nếu tư bản Mỹ bóc lột công nhân đồn điền chuối ở Macondo đến mức khốn cùng, thì thay vì mưa hoa vàng và lũ nước bùn, sao hiện thực thần kỳ không cho họ một trận mưa gà quay và một cơn lụt rượu nho để nhậu lai rai chơi? Thử hỏi, cái đẹp để làm gì, và để cho ai, nếu không để cho con người? Nếu, theo lời một nhà phê bình nọ, hình tượng người đẹp thăng thiên là để làm ẩn dụ cho cái đẹp không thể tồn tại ở chốn dương gian nhơ nhớp, thì đẹp để làm gì? Vĩnh biệt cuốn tiểu thuyết trường giang, tôi đọc thêm một truyện ngắn không nhớ tên (về một cái lồng chim), trong đó kẻ giàu thì tim đá, người nghèo thì tim đập vân vân, thú vị rất lớn, và có xem “Tường trình về một cái chết được báo trước”.
Thực ra tôi thức khuya để xem phim kể trên (miễn phí trên ti vi), vì tò mò muốn biết mặt con trai Alain Delon. Không nhớ chuyện phim, không nhớ khuôn mặt Anthony. Chỉ nhớ phim khá dài, tôi buồn ngủ ngáp lên ngáp xuống, trong phim có một cha cố áo thâm cuối cùng đã vội vã bước lên tàu làm vài cử chỉ ban phúc lành để được nhanh gót rời hòn đảo nhỏ, nơi đã xảy ra cái án mạng được thông báo trước, nhớ Anthony Delon dù khá đẹp trai nhưng vẫn thua bố. Đúng ra, thực chất của vấn đề không phải là văn chương Márquez (ai thích thì đọc), mà sự tâng bốc và đúc tượng. Giải pháp tốt nhứt cho tôi là tôi nên đọc lại Márquez một lần nữa, rồi một lần nữa, và sẽ thích tơi bời (không hoa lá) với lần thứ tư, như Faulkner khuyên các độc giả (sẽ không nghe lời) đã than phiền họ không hiểu cuốn truyện “Âm thanh và cuồng nộ” của ông.
Có nên diễn dịch tượng thần García Márquez và hiện thực thần kỳ như một ý đồ kỳ thị, gây chia rẽ Nam Mỹ-Bắc Mỹ, tạo tác một nền văn học tiếng Tây Ban Nha đối chọi nền văn học tiếng Anh (của Mỹ), cung ứng một thể loại văn chương mới cho các quốc gia thuộc “Thế giới thứ ba”, chống cảm nghĩ (đại tự sự) suy đồi tiểu tư sản (nhưng đại tỷ phú), như từng xảy ra với hiện thực xã hội chủ nghĩa? Fidel Castro và García Márquez, hai chiến sĩ tiền vệ, kiêm lãnh tụ vĩ đại Mỹ Latinh, của xã hội cách mạng và văn học cách mạng? Tượng Thần, tượng Phật, tượng Chúa, tượng Người, đều do con người nhào nặn. Chúng có thiêng hay không cũng do con người. Nhiều pho tượng đã bị đập phá, hay bị quên lãng, nhiều pho tượng khác đang được nặn đúc.
Do vậy, miếu đền chỉ tấp nập khi còn nhang khói. Trong cao trào hiện thực xã hội chủ nghĩa, Truyện Kiều và các tác phẩm cổ điển (phong kiến), thơ văn lãng mạn (tiểu tư sản) từng bị truất phế, được “sáng suốt” phủ nhận bởi chính các tác giả của chúng, khi họ chọn theo con đường cách mạng vô sản. Tượng thần Nguyễn Trãi của thời “chống Mỹ cứu nước” đã dời đi đâu rồi? Hiện thực xã hội chủ nghĩa nay đã là hoang địa, ngổn ngang những mảnh tượng vỡ: Gorki, Ehrenburg, Mayakowski, Ostrovski, Simonov, Fadeev… Các tác phẩm kinh điển, những “Người mẹ” (Gorki), những “Cô lính trẻ” (Fadeev), những “Bão táp” (Ehrenburg), những “Thép đã tôi thế đấy” (Ostrovski), của một, hai thế hệ thanh niên nam nữ Hà Nội nay đã được thay thế bằng những “Harry Potter”, những “Mật mã Da Vinci”, những “Mối thù tơ lụa”, những “Mùa thu lá bay”, những “Bảo bối Thượng Hải”…
Mặt khác, Nguyễn Du đã có một pho tượng ở Hà Tĩnh, một trường dạy văn ở Hà Nội, tên đường phố công trường ở nhiều nơi khác. Vậy mà hình như vẫn chưa đủ. Có cần chép trọn tác phẩm Kiều vào một dải lụa mấy trăm thước, trong lúc trẻ con bụi đời ở cái thành phố được “giải phóng” và mang tên “đẹp nhứt” vẫn còn dốt nát? Khi cả nước đang là cái chợ trời sex có thể chóng trở thành môi sinh lý tưởng cho trùng si-đa? Khi có những “show trial” (xử án làm gương và thị uy) tệ lậu hơn dưới thời Stalin? Nếu có người thực tình nghĩ chép thơ như vậy là trân trọng thiên tài Nguyễn Du, là về nguồn sữa lục bát, là yêu mến văn chương nước Việt, là thấu hiểu thông điệp Kiều, thì cũng nên hoan hô hip hip hooray ba lần. Dư nước mắt như Thúy Kiều khóc người đời xưa bên Tàu (chưa chắc đã có thật), thì cũng thế gian thường tình thôi.
Đẹp đẽ gì, có phải thế không ạ, những cảnh đời (thật) dở khóc dở cười ở ta và ở ngay trước mặt, mà các cuộc thi hoa hậu nhốn nháo, các buổi trình diễn thời trang lộng lẫy, các lễ hội tấp nập tưng bừng, chỉ thể hiện phơi bày được một phần mỏng như lớp kem trên mặt bánh vẽ? Bước kế tiếp của nhà nghệ sĩ dân gian viết hoa tự Kiều vào lụa chắc là sẽ hoạ khắc một tác phẩm vĩ đại khác vào tường cẩm thạch, trên vách Trường Sơn, hay chiếu lên không trung cho toàn thể nhân loại chiêm ngưỡng? Chờ xem! Thao thao bất tuyệt về “rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, một cảnh trí chỉ dê rô phần trăm ta, chẳng hóa ra trong quán trọ Kiều, lữ khách đã để lại quá nhiều hành trang ư? Ảnh hưởng Kiều? Một câu lục bát có âm hưởng (dư hương) Kiều chỉ là một cái rắm có chút mùi… sầu riêng?
Thời sự:
Trăm năm trong cõi lưu manh
Chữ tiền chữ mạnh đúng là khoái nhau
Trải qua một cuộc choảng dao
Những điều trông thấy mà chau đôi mày
Lạ gì cái đảng thịt cầy
Hun tây hít mĩ bi giờ thở ta
Dồi chó ba khúc bày ra
Kính dâng tổng thống gọi là tri ân
Cảo thơm vội giở dần dần
Phong tình lậu mũ ghẻ tầu si-đa
Rằng năm con Khỉ triều Gà
Ba miền lẳng lặng nhà nhà nín thinh
Có thằng bán mít tên Minh
Đông ăn gầu nạm sớm sinh con ruồi
Đặt tên là Hồ Trí… Cuội!
Trữ tình:
Ngảnh trông biển rộng trời cao
Rừng dừa hạ đã nhuốm màu thời gian
Màu thời gian tê tê
Màu thời gian tái tái
Hương thời gian mắm rồng
Hương thời gian tanh tanh…
Để rộng đường dư luận, sau đây là bản dịch một bài nhận định tuy ngắn nhưng hàm súc, của Jonathan Bate về nhà văn Gabriel García Márquez trong mục “Millenium Reputations” (tạm dịch: “Những tiếng tăm của thiên niên kỷ”) để trả lời câu hỏi: “Tác giả, hay cuốn sách nào, của 1000 năm vừa qua, đã được đánh giá quá cao?”, đăng trên tờ Sunday Telegraph ra ngày 19 tháng 9 năm 1999. Tựa đề do tôi đặt. Tác giả Jonathan Bate, sinh năm 1958, là một chuyên gia về Shakespeare. Từ năm 1991 đến năm 2003 ông giảng dạy văn chương Anh tại Đại học Liverpool (Tȏ Cách Lan). Ông đang giảng dạy Shakespeare và văn chương trung đại tại Đại học Warwich (Anh), và cũng kiêm thêm chức vụ Governor (ủy viên hội đồng quản trị) của kịch đoàn Royal Shakespeare Company (Luân Đôn).
*
Jonathan Bate
Trăm năm nắn nót
Tờ New York Times đã mô tả cuốn truyện “Trăm năm cô đơn” (1967) của Gabriel García Márquez như “tác phẩm văn chương đầu tiên kể từ sau “Sáng thế ký” mà toàn thể nhân loại cần phải đọc qua. Đây là trò tán tụng lố bịch nhứt mà tôi đã gặp. Cần phải đọc à? Cuốn truyện tự ve vuốt sự khéo léo của nó đến mức không đọc nổi.
Đại khái, nó vẫn được đánh giá như tác phẩm đã khai trương thể loại “hiện thực thần kỳ” pha trộn lối tự sự thực tế hiển nhiên của tiểu thuyết tả chân truyền thống với những cái vô lý dị kỳ như thăng thiên và “thuật giả kim” (alchemy).
García Márquez đã ở tư thế điển hình nhứt của ông khi một phụ nữ đương phơi đồ bỗng dưng bay bổng lên không trung.
Các hợp chất khác của hiện thực thần kỳ là những người bô-hê-miên, những gái điếm có quả tim vàng, những người lùn, những kẻ bịp bợm, và vô số nhân vật lẫn lộn nhau rất khó phân biệt đến mức bạn cần có một bảng gia hệ nếu muốn theo dõi cốt chuyện. García Márquez và các đệ tử của ông là bọn trí thức đô thành giả vờ khâm phục cái khôn ngoan giản dị của giai cấp nông dân. Các huyền thoại, chuyện thần tiên, chuyện dân gian là những thức tự chúng đã tuyệt diệu rồi. Thế nhưng, sẽ là một điều ngớ ngẩn vô cùng nếu ta nghĩ rằng pha trộn chúng với những mẩu chuyện vặt vãnh trong gia đình sẽ làm tiêu tan lòng tự mãn của giới trung lưu ở thời đại chúng ta.
Cứ hy vọng rằng “Trăm năm cô đơn” sẽ không đẻ ra trăm năm tiểu thuyết nắn nót, lê thê, được đánh giá quá cao. Quá đủ rồi, vì nó đã gợi hứng cho những cuốn truyện đầy những lõm lồi thái quá như Nights at the Circus của Angela Carter, và Midnight’s Children của Salman Rushdie.

NGUYỄN ĐĂNG THƯỜNG

ngày về

npphan

ngày về lớp lớp tàn phai
chỉ còn lại một dấu hài trong mơ
giọt nào rụng xuống hiên mưa
chút ơn cay đắng cũng vừa quạnh hiu

vai gầy thấm đẫm hoang liêu
quỳnh hoa một đóa ít nhiều đa mang
giật mình, ngỡ cơn mưa tan
là trăm năm đã ngỡ ngàng khói sương

thì thôi hí cuộc vô thường
dấu chân miên viễn, nỗi buồn kiêu sa
hỡi ôi, con dế hiên nhà
bỗng nhiên cất giọng la đà gọi ai

NP phan

KÝ ỨC CÀ PHÊ DIỄM XƯA

nguyendangtrinh

ngả tư quang trung – võ tánh
những chiều cà phê diễm xưa
đông bắc gió mùa lành lạnh
ngồi đưa nhít về dưới mưa!…

khói capstan thơm lừng lựng
tự nhiên lạ lạ sao sao
vẽ loằng ngoằng bay lứng ngứng
lơ ngơ từng sợi ca dao!…

nắng tháng cuối năm vàng ợt
càng beo bủng sau gót nai
tiếng hát khánh ly đơn đớt
lạc tông dưới sóng áo dài!…

bài thơ ngoi ra miệng túi
hớp lia như sắp đứt hơi
chào đời chưa may đã rủi
rèm mi giọt ngấn giọt rơi!…

khoắng tách cà phê nguội ngắt
ngoài chiều gam phố chuyển màu
thổ mộ cuối ngày lọc cọc
mặt đường hắt lại chuỗi đau!…

nguyễn đăng trình

GHẺ

Hovietkhue

Bao giờ sau mùa sò cũng đến…mùa ghẻ.
Tay, chân đám trẻ sống ở các làng ven biển thường chơi vọc đất cát là mảnh đất màu mỡ cho cái ghẻ sanh con đẻ cháu.
Trong làng, từng đống vỏ sò vỏ ốc như những cái mộ lúp xúp phơi mưa nắng là nơi tụ tập của ruồi nhặng. Gió mang chúng với những cái cánh đầy vi trùng len lỏi vào từng ngóc ngách trong mỗi gia đình.
Thọat đầu chỉ là mụn nhỏ ngứa ngáy, rồi gãi, rồi trầy trụa, rồi sinh ghẻ và lây lan khắp chân tay. Rồi đứa trẻ này lây cho đứa trẻ khác. Có mùa ghẻ phát triển rầm rộ đến nỗi ngành y tế từ tỉnh đến làng xã phải phát động chiến dịch chống ghẻ.
Cô bé Thanh Triều bị ghẻ. Các bạn hàng xóm của Thanh Triều cũng bị ghẻ. Chúng cãi nhau, đứa này đổ cho đứa kia lây ghẻ cho mình.
-Con Triều bị ghẻ trước. Ghẻ mọc đầy kẽ tay nó.
-Trong lớp, tao thấy thằng Tín đút tay trong hộc bàn gãi đã quá trời!
-Thằng Bổn không thuộc bài mà còn đứng “đờn” nên cô giáo cho về nhà…lập ban nhạc luôn.
Không đứa nào chịu đã giới thiệu ghẻ cho bạn mình.
Ba Thanh triều lắng nghe chúng cãi nhau. Ông phì cười, đưa tay rờ mấy sợi râu cằm. Chợt ông nghe ngứa ran. Ông đưa tay lên nhìn: ở kẽ tay ông đã nổi lên mấy cái ghẻ từ lúc nào.
*
Thằng bé gãi lia lịa. Tay này gãi tay kia. Hai tay gãi khắp mình mẩy. Nó đứng sau các tấm bình phong che các bàn với nhau, giương mắt thao láo nhìn mẹ nó. Nó đói bụng. Nó cố kiễng chân nhìn các thức ăn trên bàn. Nó mới năm tuổi. Nó không dám kêu mẹ xin ăn vì mẹ nó cấm vào nơi này nhưng nó đói quá. Hồi chiều, nó mải chơi rồi ngủ quên, chưa ăn cơm.
Bia ôm cũng là một thứ dịch như…dịch ghẻ. Nó lây lan từ thành phố đến làng quê. Nó đến thị xã miền biển này hồi nào chẳng ai hay. Nó hiện diện trong nhà hàng quốc doanh biển đõ chữ vàng đến quán lá xập xệ mang tên cúng cơm của cô chủ.
Cái quán bia mà ba Thanh Triều đang nhậu thuộc lọai quán bình dân, chỉ có bia chai “Sài Gòn” và bia “lên cơn”* sản xuất tại thị xã. Nhiều quán còn đại-bình-dân hơn, chỉ cần vài xị rượu cũng…chễm chệ ôm như ai. Dạo này ba Thanh Triều ghiền cái khỏan uống bia có chỗ “gác tay” lắm. Nhờ làm ở cơ quan mà dân buôn bán thường phải quan hệ nên ba Thanh Triều được chiêu đãi luôn.
Ba Thanh Triều đang úp mặt vào bộ ngực của cô tiếp viên thì thằng bé vụt kêu:
-Má!
Cô tiếp viên hốt hỏang xô ba Thanh Triều ra, ba thanh Triều kịp nhìn thấy đôi mắt thằng bé tròn xoe nhìn ông.
Thằng bé lắp bắp:
-Con đói.
Cô tiếp viên nắm tay thằng bé lôi đi. Khi cô trở lại, ba Thanh Triều hỏi:
-Em đưa con tới quán chi vậy?
-Nhà không có ai. Em đã dặn nó chơi ở ngòai sau.
Cô tiếp viên trả lời, giọng buồn buồn nhưng rồi cô nhỏen cười và hôn cái chụt vào má ông, ghì riết đầu ông vào ngực cô.
Ánh mắt của thằng bé làm ba Thanh Triều cụt hứng. Ông xin phép các bạn về sớm mặc họ nài nỉ, không quên “boa” cho cô tiếp viên gấp đôi thường lệ.
*
Khi ba Thanh Triều thoa thuốc trị ghẻ cho em, cô bé khóc lóc cứ giấu hai bàn tay ra sau mông. Dù ba Thanh Triều dỗ ngon ngọt thế nào cô bé vẫn khóc thét, giãy nãy.
Sáng Chủ nhật, ba Thanh Triều chở em và Tín, đứa bé hàng xóm dạo chơi về miệt đồng bằng xe máy. Dạo này ruộng lúa bị rầy nâu phá dữ lắm. Trên đường đi, thỉnh thỏang ba Thanh Triều dừng xe, chỉ cho hai đứa xem những bóng người mang bình, huơ vòi dài xịt thuốc trong các ruộng lúa.
Ba Thanh Triều xin phép chủ ruộng nhổ một bụi lúa bị rầy cho hai đứa săm soi và giảng giải:
-Hai con xem thân lúa bị rầy nâu bám đầy ví như cánh tay hai con bị ghẻ vậy. Nếu không xịt thuốc bảo vệ thực vật, rầy sẽ “ăn” chết lúa. Hai con không thoa thuốc trị ghẻ, ghẻ sẽ “ăn” khắp tay chân, mình mẩy hai con, da hai con sẽ sần sùi đầy sẹo lở dơ dáy lắm. Hai con ngồi ở đâu sẽ kéo theo ruồi nhặng tới đó, gây hôi thối khiến mọi người xa lánh.
Sau buổi dạo chơi về, Thanh triều ngoan ngõan để cho ba thoa thuốc trị ghẻ. Cả các bạn Tín, Bổn, Bi cũng được ba Thanh Triều trị ghẻ cho. Mỗi khi thoa thuốc, để các em đỡ đau rát, ba Thanh Triều dạy chúng đồng ca:
“Cái ghẻ mày ngủ cho ngoan
Nếu không tao sẽ khảy đờn lung tung
Cái ghẻ mày chớ nổi khùng
Coi tao thoa thuốc sát trùng mày đây!”.
Trông các cô cậu vừa hát vừa chảy nước mắt nước mũi thật tức cười.
Ba Thanh Triều chợt nhớ tới thằng bé trong quán bia ôm. Không hiểu má nó có thoa thuốc trị ghẻ cho nó hay không? Đêm đêm má nó có còn mang nó tới nơi làm việc? Từ đêm đó ba Thanh Triều chưa trở lại cái quán bia đó. Mãi đến giờ, ánh mắt của thằng bé cứ như còn nhìn xóay vào ông.
Có tiếng còi xe cúp trước cổng. Người bạn cùng sở làm với ba Thanh Triều cười toe tóet, ra dấu bảo ông đi chơi. Nó đến giờ này là có “độ” rồi. Người bạn không chờ ông kịp leo lên xe, hí hửng:
-Quán mới! Có mấy em đã lắm.
Người bạn rồ ga nhưng ba Thanh Triều lại quay vào nhà. Ông lấy chai thuốc trị ghẻ cho vào túi quần. Ông muốn trở lại quán cũ.
-Đến quán số 9 đi!
Người bạn ngạc nhiên nhưng cũng chiều ý ba Thanh Triều.
Ba Thanh Triều muốn tặng chai thuốc trị ghẻ để cô tiếp viên thoa cho thằng bé và cho cô. Lần đó cầm tay cô, ba Thanh Triều phát hiện trong kẽ tay cô nổi những chấm đỏ như mình. Thuốc trị ghẻ này hay lắm, ba Thanh Triều thoa có ba lần đã hết trơn…

HỒ VIỆT KHUÊ