ĐƯỜNG NÀO ĐI QUÊ HƯƠNG?

khuatdau

Dưới nấm mồ bằng nước xanh trong
ngôi nhà em giờ thấy mất tiêu
trái tim nhỏ vẫn thầm thì đập

Em đã khóc trên vai áo tôi
như con thác chảy qua ghềnh đá
nước mắt em dựng một hồ đầy
Sơn La
Sơn La
trong một thoáng biến thành hồng thủy

Những con đường thơm gót chân em
những ruộng đồng lúa xanh con gái
những vạt rừng lau trắng phất phơ
những đỉnh núi mờ trong sương khói
chìm
chìm
chìm rất sâu trong nỗi lặng im

Quê hương không phải những sườn đồi mới ủi
không phải những con đường thẳng tắp song song
không phải những căn nhà giống nhau như trứng
không thể nhổ lên trồng
mà có được quê hương

Quê hương là dòng suối chảy qua buôn làng
là gộp đá em thường ngồi mỗi lần ra suối tắm
là những bụi cây đêm tối rất nhiều ma
là đỉnh núi thần tiên thường bay lượn

Quê hương em bị bức tử nằm dưới đáy hồ
quê hương anh cũng trở thành những sân gôn xanh mướt
để cho những trưởng giả mới học làm sang
vung cây gậy đắt tiền
đánh vào những trái banh trắng như tuyết

Chúng ta bỏ ruộng bỏ rừng
lên thành phố
nhưng em ơi!
thành phố không phải là quê nội
cũng không là quê ngoại

thành phố là rạp hát khổng lồ
diễn hằng triệu vở tuồng thường trực

Chúng ta sống như đi xem hát
mua vé lấn chen
vỗ tay và huýt sáo
lúc cao hứng
chúng ta nhảy phóc lên sân khấu làm trò
để được nghe ồn ễnh
tiếng vỗ tay và huýt sáo

Nhưng rồi đêm hát sẽ chấm dứt
những đào thương lại cười
những thằng hề lau mặt
đêm trống trơn như chiếc quần không
đêm hụt hẫng đang rơi xuống vực

Cầm tay nhau
sờ mặt nhau
chúng ta hỏi thầm trong tăm tối
đường nào đi quê hương?!

KHUẤT ĐẨU

VU VƠ VỚI BẦY CHIM NHỎ

trantuan

Có bầy chim bé nhỏ
Náu mình trên gác chuông
Ngày ngày nghe khấn nguyện
Nên bầy chim thật hiền.

Bầy chim bốn mùa ríu rít
Hồn nhiên vui với những tiếng coong kinh
Quen với tiếng bước chân chiên mặc định
Quên thời gian đang đánh cắp tuổi tên mình.

Và bầy chim nhỏ nọ
Gửi đời theo tiếng chuông
Sáng trưa chiều và tối
Không ưu tư muộn phiền

Bầy chim chọn gác chuông làm quê quán
Thôi bon chen, thôi nghĩ chuyện riêng tư
Hạt thóc rụng phai màu trong ký ức
Nên hoang vu về trầm mặc cánh đồng

Từ đó bầy chim nọ
Quên không gian,
quên cả đường bay
Quên vỗ cánh, quên mình loài oanh vũ
Quên ban đêm và ngơ ngác ban ngày.

Theo tiếng chuông chiều muộn
Một ngày xuân rất xưa
Tôi về thăm phố cũ
Hàng phong già lưa thưa

Bầy chim nay đà luống tuổi
Rong rêu nay phủ kín gác chuông.
Chủ nhật buồn hơn năm trước
Dường như tượng đá cũng buồn!

Thành phố bây giờ hiu quạnh quá
Công viên xanh xao, ghế đá âm thầm
Không hò hẹn nên chiều qua rất vội
Một chút bàng hoàng lạc giữa hư không…

TRẦN TUẤN

Bueno Aires – Ngồi bên ngọn cây du

tonnuthunga

Buổi sáng, tiếng động cơ cần trục đang xây dựng nhà cửa thức tôi dậy. Nắng đã chan hòa trên thành phố.Thời tiết ở đây gợi nhớ Sài Gòn, một buổi sáng nhiệt đới năm xưa, tôi cũng thức giấc với những tiếng động tương tự lẫn với tiếng còi xe inh ỏi trên con đường Lê Thánh Tôn. Buenos Aires không nhiều xe gắn máy, phần lớn là ô tô và họ chạy thong thả trong các đường phố rợp bóng cây xanh. Không ai bấm còi để phá vỡ sự yên tỉnh của không gian êm đềm cả. Bây giờ đang mùa hạ, nhiệt độ không tệ lắm vào buổi sáng, trời trong xanh lờ lững vài cụm mây trắng mỏng, trôi thật nhanh theo cơn gió hiu hiu. Độ ẩm khá cao nhưng chưa làm tôi đổ những hạt mồ hôi – những hạt mồ hôi hiếm hoi- ngày còn tại Cali, tôi phải tập thể dục cả giờ hoặc đạp xe mấy chục dặm mới có được.
Hôm qua, vừa xuống khỏi máy bay, tôi cũng đã được hưởng cái khí hậu ẩm ướt và oi ả, những cảm giác tôi ít khi nhớ đến. Chổ ngồi mới của tôi trên lan can lầu bốn, căn nhà nho nhỏ tại Palermo, thành phố Bueno Aires, bên ngọn cây du. Cành lá cây du xanh tươi, run nhè nhẹ, xao xác êm êm dưới chân các chú chim sẻ. Nắng vàng lung linh xuyên qua cành cây xanh, tự dưng lòng man mác, thật sự không hiểu được mình đang buồn hay vui.
Thành phố này có rất nhiều cây, trên lề đường, những đốm nắng roi qua cành lá; “vạt nắng bên thềm” nhà nào cũng có, và cũng không ít nam nhân dựa tường phì phèo điếu thuốc, nhìn người đẹp đi nhanh như gió, vui vẻ cười nói líu lo bằng tiếng Tây Ban Nha với nhau. Dù ít hiểu tiếng Anh, họ rất thân thiện và luôn luôn cố gắng đàm thoại với bạn khi được hỏi thăm. Vì thế dù chỉ biết nói lỏm bỏm các danh từ phổ thông, tôi vẫn được nhiều người khen và rất vui vẻ giúp tôi học thêm từ ngữ mới.
Mấy hôm nay hưởng lại khí hậu nóng, trái lại với mấy ngày lạnh lẻo lúc tôi rời Los Angeles. Qua ngày thứ ba trời bổng đổ mưa, sấm chớp đì đùng, gió mưa dữ dằn như những cơn bảo nhiệt đới ngày xưa. Tôi nằm quấn chăn, nghe cây du vẩy vùng gào khóc, nghe tiếng sấm như tiếng đại bác thâu đêm và các tia chớp như hỏa châu bùng cháy. Đêm ấy, giấc ngủ tôi triền miên ác mộng, những lần thức giấc cố nhớ nơi mình đang ở, thế rồi lại thiếp đi trong tiếng mưa rơi. Sáng dậy, nắng lại chan hòa, lá cây du xanh hơn và long lanh những giọt mưa, những chú chim sẻ mập nhảy sột soạt làm rơi những giọt mưa trên đầu bộ hành hoặc lộp bộp trên cánh dù rộng mở. Khí hậu mát hẳn như những ngày hè đã chào tạm biệt vì mùa thu vừa mới đến. Các chuyến mạo hiểm của chúng tôi cũng dể chịu hơn và đường xá cũng sạch sẽ, bớt bụi bậm.
Nơi chúng tôi trú ngụ là căn nhà của Carlo thuở anh còn độc thân. Anh có một bộ ghế bành cũ bằng da, rất êm ái. Lúc rảnh rổi hoặc khi đi chơi rong về, hai đứa tôi duỗi dài trong lòng ghế, uống một ly đá lạnh, lim dim nhìn tượng ông Phúc đứng giữa bàn hoặc mông lung nhìn ra ngoài balcony. Cây du vươn những cành lá xanh, long lanh giọt nắng, thỉnh thoảng giao động dưới những bàn chân của lũ chim sẻ, chuyền cành và líu lo nói chuyện với nhau. Không biết chim có ngôn ngữ không? Chúng nói tiếng Tây Ban Nha như dân địa phương hay vì bay từ chổ này qua chổ nọ nên chúng dùng Esperanto? Theo ý của Carlo thì mọi người ở đây nói tiếng Argentinien.
Carlo rất tự hào và yêu thương quê hương của mình. Anh cũng thích Á Châu vì anh có làm việc bên Tàu và Nhật mấy năm, nhờ thế anh bưng được cô Ngọc Anh về làm vợ và dắt díu nhau về sống tại Bueno Aires.
Ngọc Anh có một studio dạy các môn thể dục, khiêu vũ, múa cột, múa lụa. Mổi lần xem cô biểu diễn, cứ như là đi xem hát xiếc. Có nhiều đêm sau khi đi chơi và ăn tối về, chúng tôi xuống phòng tập học nhảy Tango Argentino. Tôi không được “sáng dạ” lắm trong nghệ thuật khiêu vũ nên không nhớ bước phải, bước trái, bước xéo, bước ngang chi cả, cứ bị thầy bắt tập đi tập lại hoài. Carlo tập cho chúng tôi nghe tiếng nhạc, phải để hết tâm hồn vào tiếng nhạc, và anh bảo rằng: tango là những bước chân không bao giờ dứt ?!?, nếu không có đủ chổ trống trên sàn nhảy, người ta chỉ cần ôm nhau mà nhúc nhích những bước nho nhỏ cũng được. Vì chưa thấm được cái tư tưởng cao siêu đó, tôi chép miệng than thầm: Nếu biết điều này thì thôi tôi ở lại nhà, ôm ông xã mà nhảy “ xì lô mông cổ” cho khỏi phải nhọc công bay ngàn dặm xuống Argentine.
Thế nhưng sau năm ngày chơi, ngủ, tập nhảy đầm tôi cũng vượt qua nỗi thống khổ của người vốn có “hai chân trái”. Carlo và Ngọc Anh an ủi tôi mãi mỗi khi tôi đi những bước sai lầm và hôm cuối cùng thì họ dẫn chúng tôi đi ra phòng trà ca nhạc để tập nhảy. Hôm ấy, chúng tôi phải mặc quần áo đẹp, đến nhà Carlos và Ngọc Anh ăn thịt nướng do chính tay chủ nhân làm, trước khi đi.
Vũ trường rộng, khách đến thật đông, sàn nhảy ở giữa, chung quanh là bàn ghế. Có nhiều người độc thân đến đây mời nhau nhảy. Họ có những ám hiệu thông thường để mời mặc dù ngồi rất xa nhau. Phần đông là khách lớn tuổi, đàn ông ăn mặc đàng hoàng sạch sẽ, các bà thì diêm dúa hơn và ai cũng mang giày gót cao nhọn hoắc. Những đôi giày ấy làm tôi rất sợ, cứ tưởng tượng bị người ta giẫm lên chân, thế nhưng sau buổi nhảy, tôi thoát nạn, không bị ai giẫm nát chân mình cả. Có nhiều lần chúng tôi bị vài mụ già đanh đá la vì cản đường đi của họ. Ngọc Anh bảo đó là mấy mụ du khách, nhảy không rành, không biết tránh kẻ khác; người dân Argentina rất chiêu đãi, nếu thấy mình mới tập nhảy lúc nào họ cũng khuyến khích chứ không sừng sộ như mấy người du khách nọ. Sàn nhảy rất đông người, tôi vừa đi theo nhạc vừa dòm chừng Ngọc Anh và Carlo, không nghe quở trách gì cả mà lại được khuyến khích ra sàn nhảy mãi nên tôi cũng hơi yên chí khi bước những bước tầm bậy tầm bạ. Thường thì ban nhạc chơi năm bản nhạc, khách phải khiêu vũ hết năm bản mới được về lại ghế. Đôi khi thấy quá đông người, chúng tôi chỉ đi vài ba bản rồi bỏ cuộc chạy về bàn ngồi xoa đầu gối. Sau nữa đêm, chúng tôi thuê taxi về nhà, rón rén, nhẹ nhàng về phòng sợ làm ồn láng giềng, ai ngờ láng giềng đang có tiệc khuya, mùi bánh nướng trong lò thơm cả hành lang.
Những ngày Bueno Aires của chúng tôi thật vui, tôi cảm thấy căn hộ độc thân của Carlo từ từ biến thành tổ ấm của mình. Chúng tôi như những con chim sẻ, chọn cây du làm tổ ấm của chúng. Ngồi trên ban công lầu bốn, bên ngọn cây du, tôi nghe đời trôi nhẹ nhàng như đám mây trắng lơ lững trong bầu trời xanh thẳm của Bueno Aires.

Bueno Aires (3/22/2016- 3/29/2016)
Tôn Nữ Thu Nga

Tình núi.

luutrongtuong

(Yosemite, một chút dư hương)

Năm năm sống trên núi
Ngày đêm chẳng thấy người.
Năm canh nghe gió hú
Cây cỏ nhớ trần ai.

Mười năm tắm nước suối
Thần xác nhẹ thanh tao.
Nhìn trời cao vời vợi.
Quên chuyện đời thương đau.

Trăm năm tình mời mọc
Gian díu ngọn tơ trời.
Cơn mơ thèm trần tục
Tỉnh giấc lại quên đời.

Ngàn năm đời xa lánh
Ðâu có gì nhớ nhung.
Hàng vạn ngày lận đận.
Thoáng chốc tựa qua đường.

LƯU TRỌNG TƯỞNG

t h ơ v ề H u ế

nguyennhumay

1.
đi trong đêm Thành-nội
chỉ mình tôi và trăng
tôi nghe lòng cây cối
nghiêng bao nỗi thăng trầm …

2.
tôi ngồi lặng ngắm sông Hương
đêm vàng ánh trăng buồn
cố đô
chợt nghe đâu có tiếng hò
hình như Em mới xuống đò
chèo đi .

NGUYỄN NHƯ MÂY
.
1986

SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT (Chương 11)

duyenanh

22 giờ 30. Tiếng loa réo gọi tham dự mít tinh chào mừng cách mạng thành công sáng sớm mai làm rung cửa kính. Côn đề nghị bật đèn. Tôi đồng ý. ánh sáng ngập căn phòng. Tàn thuốc lá bừa bãi trên bàn xa-lông. Chúng tôi đã uống cạn chai rượu thứ nhất. Thiếu úy Bảo và trung sĩ Thân thấm mệt. Tôi dục hai thằng em kết nghĩa đi ngủ.
– Các em yên tâm, không có chết chóc gì cả, không có biển máu. Một nhà cách mạng chính cống đã quả quyết với anh rằng, cách mạng đại xá, đại đại xá.
– Sao lúc nãy anh không chịu nói? Bảo hỏi.
– Anh thử xem em can đảm đến đâu. Tôi đáp.
Bảo và Thân đi ngủ. Còn Côn với tôi. Chai rượu thứ hai được khui.
– Mày vừa nói gặp nhà cách mạng chính cống.
– Ừ.
– Ai đó?
– Phan Kim Thịnh.
– Thằng ấy?
– Nó chơi giép râu, nón tai bèo.
– Nó nằm vùng?
– Thứ rắn độc. ông đừng ngạc nhiên, nếu chúng ta không chết, sẽ có dịp nhìn rõ những thằng nằm vùng trong mọi lãnh vực. Và chúng ta sẽ há hốc mồm.
– Tại sao?
– Vì toàn những đạo đức gia khổ hạnh và chống cộng hơn cả người chống cộng hung hăng nhất.
– Nó nói cộng sản đại xá à?
– Ừ.
– Mày tin nó?
– Tin mẹ gì, tôi trấn an cu Bảo.
– Tao nghĩ nó đại xá thật.
– Ông nghĩ thì cứ nghĩ. Cộng sản nó làm gì, mình đâu đoán nổi. Nó bảo không là có, có là không. Nó qua mặt cả thế giới.
– Long?
– Đừng hỏi thêm nữa. Uống rượu đi.
– Tao mở ti-vi nhé?
– Chớ.
– Xem nó nói gì chứ?
– Nó khoe nó đánh Mỹ cút, Ngụy nhào.
– BBC vậy?
– Nó tường thuật cộng sản vào Sài gòn.
– VOA?
– Nó khen Việt cộng.
– Hay là mày với tao ra cổng ngắm nhân gian?
– Không. Ông làm ơn mở cửa cho khói thuốc tan loãng giùm.
Cửa mở. Khí thế cách mạng bên ngoài ùa vào nhà tôi “Nhân dân” ca hát, hô khẩu hiệu vang trời. “Nhân dân” không ngủ đêm nay. Họ không ngủ trong bóng tôi. Và họ khóc. Sao 30-4 dài thế? Với tôi, nó dài hơn cả đời tôi. Côn lại khép cửa. Chúng tôi uống rượu, hút thuốc chờ sáng. Đêm qua tôi đã chờ sáng. Đêm nay tôi vẫn chờ sáng. Tôi chẳng bao giờ ngu dại tin rằng cộng sản tha tôi. Ngày Chu Tử bị ám sát, tôi viết bài Nỗi cô đơn của người cầm bút đọc tại Viện âm nhạc và kịch nghệ quốc gia là tôi đã tiên đoán thân phận của tôi. Rồi tôi viết thêm bài nữa, đăng trên Sống*. Khẳng định tôi là kẻ cộng sản không tha, quốc gia không dung. Đến cuốn Tháng giêng ngon như một cặp môi gần xuất bản tháng 2-1975, tôi miệt thị cộng sản là bọn trả thù vặt và nói rõ, “đời sẽ có kẻ gọi ta là phản động.” Thế thì cộng sản phải trả thù tôi. Họ không trả thù tôi là họ thiếu lô-gích, họ hết là cộng sản. Cộng sản không tha tôi, đã đành. Nhưng tại sao quốc gia không dung tôi? Cái thứ gọi là quốc gia mà biểu tượng là Nguyễn văn Thiệu, Đặng văn Quang không được tôi xếp hạng quốc gia chân chính. Người quốc gia chân chính chưa hề nắm quyền bính tối cao. Tôi hằng coi Hà Nội như phỉ quyền, Sài gòn như ngụy quyền. Tôi thiết tha tranh đấu để có một chính quyền trên quê hương tôi. Muốn thế, cuộc chiến đấu của tôi phải loại bỏ phỉ quyền tôi tớ của Liên xô và ngụy quyền tôi tớ của Hoa kỳ. Và đích thị tôi là kẻ cộng sản không tha, quốc gia không dung. Họa may, quốc gia chân chính sẽ dung tôi. Tôi hy vọng thế.
Nhiều bằng hữu bảo tôi là kẻ nghịch thiên. Tôi không chối cãi. Tôi xác định thái độ nghịch thiên của tôi:
Thản nhiên ngước mặt ngạo trời
Trong cơn hồng thủy vẫn cười ngả nghiêng
Kể từ đời tắt lửa thiêng
Nỗi ta đối địa nghịch thiên mộng cuồng
Chém ngang độc nhất vô song
Tìm ra cái lẽ vô cùng thênh thang
Hỡi ơi tai đục trần gian
Sao nghe nổi máu cung đàn bão mưa
Hỡi ơi mắt trắng cõi thừa
Sao nhìn nổi ngọc trên thơ tỏ tình
Chung thân can tội nghịch thiên
Còn say cuồng mộng thản nhiên ngạo trời
Tên nghịch thiên ngồi uống rượu với bạn thơ ấu chờ sáng và chờ chết. Nó kiểm điểm nó. à, nó đã có 50 tác phẩm văn chương, 200 số báo Tuổi Ngọc, hơn 10 ngàn bài báo. Cộng sản không tha, quốc gia không dung nó nhưng đã có đứa nào bén gót nó?
– Này Côn.
– Gì?
– Người ta sẽ hâm mộ Con Thúy.
– Tại sao?
– Vì người ta sẽ thấy sau 30-4-75, giống hệt sau 19-8-45. Tôi đã viết về son phấn cách mạng nhạt nhòa.
– Mày nói đúng.
– Này Côn?
– Gì?
– Ông sẽ thoát biển máu. Tôi, có thể, sẽ thoát biển máu nhưng tù rục xương. Tôi muốn noi gương nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh.
– Sao?
– Khi tôi chết, đừng ai khóc. Cả ông nữa. Hãy cười, cười, cười?
Côn nín thinh. Giây lát, nó lảng qua chuyện khác.
– Mày biết ông Nguyễn Mạnh Côn làm quân sư cho tướng Vĩnh Lộc không?
Tôi ngạc nhiên xuýt rơi ly rượu:
– Thật à?
– Thật.
– Hèn chi Chậm bước tiên phong, muộn chiến trường. Chắc chắn, ông Vĩnh Lộc phải đợi ông Côn hút đủ cữ rồi mới hiến kế. Hóa cho nên, ông Vĩnh Lộc lên ti vi tối qua sốt ruột dữ.
Tôi nhớ cuối triều đại Ngô Đình Diệm, anh Nguyễn Mạnh Côn ra ứng cử dân biểu đơn vị quận 3, Sài gòn. Tôi cho anh ta vay tiền bán tập truyện Hoa thiên lý và đi a-lô vận động giúp anh ta. Hôm ra mắt cử tri ở trường tiểu học Chí Hòa, anh Côn là người nói thứ nhì, sau Huỳnh Thành Vị. Tốt quá. Vì họ Huỳnh mở màn cho anh Côn. Tôi ngồi đợi anh hút no thuốc phiện rồi mới rửa mặt, đánh răng. Rồi chở Vespa, đưa anh lên địa điểm. Chúng tôi tới, cử tri về gần hết. Vì anh đến trễ, nói sau cùng?
– Ông Ngô Đình Nhu xưa muốn cất nhắc ông Côn, chỉ chê tội nghiện.
– Nay ông Vĩnh Lộc xài. Vận nước đã hết. Tôi chờ chết là hợp lẽ trời.
Bèn nốc cạn ly:
– Đời nhà Thanh, dân Tầu mới hít tô phe bạo. Mừng cho Lưu Bang và mừng cho Lưu Bị. Vì Trương Lương, Tiêu Hà, Khổng Minh không đong thóc! Ông Vĩnh Lộc đồng hóa văn nghệ với quân sự. Hỏng, hỏng! Tại hạ có lời chê điểm này.
Đặng Xuân Côn dứt cuộc:
– Bây giờ, quân sư đang nằm “đong”, tân Tổng tham mưu trưởng đi đâu không rõ, “nhân dân” hồ hởi phấn khởi và nhân dân ôm nhau khóc trong bóng tối.
***
23 giờ. Không biết mấy giờ ở Guam? Bằng hữu văn nghệ của tôi đã đến đảo Guam chưa, hay còn lênh đênh ngoài khơi, trên hạm đội số 7? Tôi chợt nghĩ tới những người Việt Nam yêu tự do, chấp nhận báng súng của “lính thủy đánh bộ” Mỹ, dắt díu nhau leo lên nóc tòa đại sứ Mỹ rồi, sau 8 giờ 30, lủi thủi bước xuống, lếch thếch trở về. Những người Việt Nam thiếu may mắn di tản đang làm gì giờ phút này? Chắc chắn, họ đang sợ hãi, đang khóc và đang thèm được chết ngon lành. Đêm qua là đêm không ngủ của tôi. Đêm nay là đêm không ngủ của Sài gòn, của cả miền Nam. Không ngủ ngoài đường. Không ngủ trong nhà. Hoặc dẫu ngủ, chỉ là những giấc ngủ chập chờn như tên một tác phẩm của Nhật Tiến. Trong những giấc ngủ chập chờn, con người thấy chập chờn những huyệt sâu chôn sống tập thể, những mã tấu vung chặt ngang thây, những băng đạn ria phọt suối máu… Và tôi, không ngủ để hình tưởng một cái cần xé chứa tảng đá và tôi ràng giây kẽm gai kín nắp liệng xuống khúc sông nào đó. Tôi chết từng giây. Tôi biết tôi chết. Tôi sặc sụa. Tôi đau đớn. Tôi giẫy dụa. Trước đó, tôi phải đứng trước đám đông phán quan y hệt tên da trắng đứng trong vòng vây của dân da đỏ, phải tự thú mình có tội với Đảng, với Cách mạng, với Nhân dân? Tôi được phép mở to mắt để nhìn đám đông phán quan của thời đại tôi Chỉ có vài tên cộng sản chính thống. Còn rặt nhân dân bị cưỡng bức hận thù. à, trong đám nhân dân bị cưỡng bức hận thù, có vài đứa theo chủ nghĩa dậu đổ bìm leo. Những đứa này to mồm nhất, nỏ họng nhất. Chúng nó xỉa xói tôi, kết tội tôi, ném đá trúng thân thể tôi. Chúng nó vớ được cơ hội ngàn năm một thuở để tuyết hận thua kém tôi mọi mặt. Cỏ hèn vươn vai chống đại thụ. Tôi sợ hãi chứ. Nhưng không sợ hãi bọn dậu đổ bìm leo. Tôi xón đái ra quần. Tôi nghĩ những giọt nước tiểu của tôi dành cho bọn dậu đổ bìm leo ở khắp nơi trên trái đất Tôi đã tưới mát cỏ hèn. Đại thụ đã ban phước cho cỏ hèn. Hãy nhận phước ấy, cỏ hèn? Hãy nhận và đừng ân hận sự hóa kiếp. Bởi vì, cây cỏ luân hồi vẫn cỏ cây. Chỉ có con người, con người công chính và việc làm công nghĩa mới được phục sinh rạng rỡ. Và mãi mãi là con người.
– Long!
– Gì?
– Nếu ngày mai mày chưa chết?
– Thì ngày mốt.
– Nếu không có biển máu?
– Thì chết mòn trong tù ngục.
– Mày chấp nhận chết mòn?
– Tại sao?
– Vì tôi mong gặp hư vô.
– Hư vô là con mẹ gì?
– Là mềm bí ẩn của đời sống. Niềm bí ẩn này chỉ tìm gặp trong ngục tù, thống khổ và cô đơn.
– Mày sảng chưa?
– Còn rất tỉnh để sợ chết, dẫu chết cách nào, kiểu nào.
– Nghĩa là mày thèm sống.
– Dĩ nhiên.
– Sống mòn và chết mòn?
-Tôi vừa nẩy ý tưởng mới. Tôi muốn tìm hạnh phúc trong bất hạnh.
– Mày lãng mạn.
– Luôn luôn lãng mạn. Lãng mạn đến chết.
Hai đứa tôi cụng ly. Bên ngoài, đường phố xôn xao tiếng nói, rầm rập bước chân. Tôi không còn tin rằng nhân dân bị cưỡng bức ra đường hoan hô cách mạng thành công nữa. Nhân dân nghèo khổ đã thật tình và nhiệt tình hoan hô cách mạng. Tội nghiệp nhân dân! Nếu họ đã đọc Con Thúy của tôi. Đừng trách móc nhân dân. Nhân dân là thế. “Bạc như dân” mà! Nhân dân oán ghét chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm và nhân dân hoan hô cách mạng 1-11-1963. Cách mạng của lũ thoán nghịch không đem lại hạnh phúc cho nhân dân trong vòng ba tháng, nhân dân lại oán ghét và hoan hô đảo chính, chỉnh lý. Dưới chế độ quân phiệt Nguyễn văn Thiệu, tham thũng ngập ứ, thối nát tận óc, bất công đầy rẫy, đàn áp không thương xót, nhân dân thù hận và mong đợi tân cách mang. Nhân dân lại hoan hô như đã hoan hô. Và rồi, ba tháng sau thôi, nhân dân sẽ ủ ê với cách mạng vô sản. Kể từ dân tộc Việt Nam làm quen cách mạng, chưa bao giờ niềm vui kéo dài quá ba tháng. Rốt cuộc, cái dân tộc hẩm hiu này không thiết đoái hoài tương lai nữa. Tương lai tồi tệ hơn hiện tại và nghiệt ngã hơn dĩ vãng.
– Long?
– Gì?
– Lúc mày đi mua rượu, thằng Tự chạy ngang qua cổng nhà mình.
– Nó là lính thủy sao không theo tầu mà chạy?
– Phải thi hành sứ mạng đến tận 9 giờ. Vả nữa, vợ con nó còn nằm nhà.
– Sứ mạng gì?
– Gài mìn đánh sập cầu Đồng Nai ngăn chặn xe tăng cộng sản vào Sài gòn.
– Cầu không sập?
– Tại sao?
NHỮNG NGƯỜI LÍNH THỦY VIỆT NAM CỘNG HÒA NHÂN BẢN
Những người lính thủy được chỉ huy can đảm giao cho sứ mạng đánh sập cầu Đồng Nai trên xa lộ Biên Hòa để ngăn chặn xe tăng cộng sản tiến vào Sài gòn đã hoàn tất nhiệm vụ lúc 9 giờ ngày 30-4- 1975. Cả tấn TNT gài kín gầm cầu, bọc kín chân cầu. Xe tăng cộng sản từ Long Khánh bò vô, bị quân dân Tam Hiệp đón đánh. Trận chiến hào hùng và lãng mạn này kết thúc mau lẹ nhưng đã làm chậm bước tiến của cộng sản. Xa lộ lúc ấy, hai bên cầu Đồng Nai, nườm nượp dân chúng chạy giặc và đông đầy binh sĩ tan hàng. Dân chúng Sài gòn chạy xuôi. Dân chúng Biên Hòa chạy ngược. Cầu Đồng Nai nghẹt người và xe cộ. Cùng với ông già, bà lão, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng, những anh lính thủy giữ trọng trách đánh sập cầu còn nhìn rõ xe tăng cộng sản, bộ đội miền Bắc. Sức công phá của TNT gài dưới cầu sẽ làm tung bay cốt sắt xi-măng, phạm vi một cây số vuông. Và dân chúng sẽ bị chết, bị thương vô kể.
Những người lính thủy quay giang dinh, lao nhanh về căn cứ. Cầu Đồng Nai không bị đánh sập. Nếu là Mỹ, cây cầu sẽ bị đánh sập. Nếu là cộng sản, cây cầu sẽ bị đánh sập Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Nhưng với Việt Nam, cây cầu không bị đánh sập. Hình như nhận loại chưa biết chuyện này. Chúng ta thua trận, còn vì tình thương và lòng nhân đạo nữa…

DUYÊN ANH

Sài Gòn Trong Trí Nhớ

tranhoaithu

Sài Gòn có mùa hạ dài hơn mùa đông
Nên Sài Gòn có mắt em xanh như da trời tháng sáu
Sài Gòn có thật nhiều quán cà phê quán cóc
Nên bàn ghế Sài Gòn đầy ắp tình thân

Sài Gòn có ngày cuối tuần Thủ Đức về thăm
Để những xe lam dập dìu Bến Thành Chợ Cũ
Để anh trở về thăm em, người em gái nhỏ
Khi ngọn đèn Sài Gòn đã thắp sáng Bùng Binh

Sài Gòn buổi chiều trời hay nổi giông
Nên những hiên nhà là những hiên tình hò hẹn
Sài Gòn có những con bồ câu cúc cù trên hàng dây điện
Nên Sài Gòn vẫn là nơi hò hẹn của hai kẻ yêu nhau

Sài Gòn ít khi thấy được ánh hoả châu
Nên đêm đêm Sài Gòn bình yên giấc ngủ
Để em đến trường như con sáo nhỏ
Để người lính trở về, có chỗ dừng chân
Để mãi mãi Sài Gòn là những bâng khuâng
Trong con tim của những người viễn xứ…

Trần Hoài Thư

MAI NGƯỜI VỀ

linhphuong

Mai người về cho ta xin gởi
Tháng tư buồn đã mấy mươi năm
Khăn tang-tóc thề bay theo gió
Đỏ thắm máu tươi dưới nắng hồng

Bạn bè ta ở trong rừng thẳm
Không mộ bia nhang khói lâu rồi
Mấy mươi năm mắt chưa hề nhắm
Ngày 30 tan nát cơ đồ

Mai người về cho ta xin gởi
Cánh hoa thời loạn giữa Sài Gòn
Nói rằng Linh Phương này vẫn nhớ
Thủ đô mình Hòn Ngọc Viển Đông

Chiều thương xá Tax-sáng Mai Hương
Đêm vũ trường hay phòng trà ca nhạc
Thanh Thúy sầu giọng liêu trai hát
Thái Thanh buồn” Kỷ Vật Cho Em”

Mai người về nghe đời lênh đênh
Tìm lại tuổi thanh niên xa lắc
Tìm lại mối tình xưa đã chết
Mùa loạn ly bạc trắng mái đầu

Phà Thủ Thiêm giờ biết tìm đâu ?
Sông xanh mãi màu xanh sông núi
Hồ Con Rùa cây cao vời vợi
Dẫu muôn thu kỷ niệm chưa mờ

Mai người về chợ Bến Thành ơi !
Có chút gì ta đau cắt ruột
Có chút gì mà ta đánh mất
Mấy mươi năm thất thủ Sài Gòn…

LINH PHƯƠNG

“Hát nữa đi H. – hát điệu nhạc buồn; điệu-nhạc-quê-hương…”

nguyentruongtrunghuy

Sẽ nói thôi, rất nhỏ…
“Những lời này cho em”…
Sẽ hát thôi, rất khẽ…
“Hát điệu nhạc buồn, điệu nhạc quê hương”…

“Nước mắt rơi cho tình ra đời
Nước mắt khô âm thầm không lời…”

Và nước mắt đã rơi trước hừng đông sau chót, của một ngày cuối tháng Tư nóng giãy, ràn rụa những chia phôi và hỗn mang…

Ôm choàng một khúc hát, cầm tay một giai điệu, soi vào những bừng sắc truyền cảm typo , dìu thêm những gam màu óng ánh một niềm nhớ…từ những nhạc tập thời tiền-thuyền-nhân, tôi biết mình đang gom lại những tả tơi vàng son của một Saigon đã úa nhàu, trên tay – ôi những “gấm nhung phiền thế thời”/ tháng Tư – “dưới mặt trời ngồi hát hôn mê” – ngồi hát (lại) như đang khấn nguyện những bản cầu hồn sầu bi và diễm ảo đã vào sâu dĩ vãng, hát một mình, hát nguyện trong nhà-nguyện-riêng-tây nơi thành-phố-tình-yêu đã mục ruỗng từ dạo đó, để rồi vấy thốc lên từng lớp bụi bảng lãng giữa không trung – Thứ ”bụi khói khóc hư vô” – ôi những bụi khói làm mắt cay vô cớ… những bụi khói thời gian mịt mùng bay lên từ điển lễ khâm liệm – khâm liệm một Saigon đẹp của những “cầu vồng bắc giữa mưa và nắng” – và đó, những lớp bụi cũng từ cuộc đào huyệt một vang bóng Saigon đẹp – đẹp từ những phế tích, từ những cố-tình-huỷ-diệt, từ những vết-tích-chết, từ những “tàn hơi hám cũ” – Saigon đẹp cả đến những cái tên nhân văn của bảng hiệu những ấn quán phát hành – những cái tên mà không cần chi khác, chỉ bằng cách nghĩ để định danh từ những chủ nhân cũng đủ thấy “tầm” & “tâm” của những người muôn năm cũ: Gìn Vàng Giữ Ngọc, Khai Phóng, Kẻ Sĩ, An Tiêm…(đó là còn chưa kể bảng hiệu của những ấn quán xuất bản triệu triệu những ấn phẩm khác như Lá Bối, Diên Hồng, Khai Trí, Trí Đăng, Cảo Thơm, Vàng Son…). Ôi cái đẹp của một thời “Thi ca trong sữa lúa /Tiểu thuyết trên lụa đào”…

Sau cuộc-khổ-nạn-của-người-Việt-Nam, sau trận phần thư khủng khiếp…Những quyển sách, những tập nhạc, im lìm…chờ hát – im lìm chờ mở ra – im lìm cam phận – Hồn một thứ gì đó/ hồn một ai đó đang âm thầm nương náu – Có phải?!?
Khi hát lên những bản tình ca cũ – trí nhớ như đã ướp bằng hương. Hương thời gian dắt mình đi trên “đường xưa lối cũ” về thời “đang nâng niu cuộc tình lộng lẫy” – để thấy lại một khung trời hoa mộng, bỏ hết những thề nguyền và bội phản của những ngày tháng Tư sầu xé lệ tang thương, chỉ còn những rung vang, chỉ còn những thi-nhạc-hoạ, chỉ còn những êm đềm (& ám ảnh) những đôi mắt cô quạnh của tranh bìa Nguyên Khai, Đinh Cường, Duy Liêm, Trịnh Cung, Duy Thanh, Hồ Thành Đức…dặt dìu như một cơn mộng đẹp; những gương mặt chìm ảo như đến từ một cõi chiêm bao – cánh áo bay lên – “đổi gì được đây lấy lại thơ ngây” – những nét đẹp khó nắm giữ, như “cho lần cuối” – “gần thắm thiết trong mối sầu” nhưng cũng “xa như hình bóng, còn gặp lại nhau chăng” & những dòng kẻ nhạc – một yêu dấu đã từng – dịu dàng & mỏng mảnh…”còn tiếng hát gửi người” – gửi những gì xa ngái…

“Sài gòn trái tim anh, tim đất nước
Anh mới hiểu
Tại sao mình yêu tổ quốc
Và tại sao mình yêu dấu Sài gòn
Em cho anh nhiều, em nhớ nổi không
Tiếng hát thê lương, điệu ru kỷ niệm…”
(Saigon Trường Ca – mở đầu Saigon Ngày Dài Nhất – Duyên Anh)

Ôi những điệu ru kỷ niệm, với bảng lảng hồn đầy và đam mê tình ngất, hôm nay, một mình mình hát – tiếng hát xé mây đưa thời gian trở lại, và dừng lại – dừng lại ở thời thảm-kịch-chưa-dựng-bày, dừng lại ở thời thiên đường – dù biết “thiên đường có thật – chỉ là sự thật – khi đó là những thiên đường đã lỡ”…

“Ngày xưa em lụa đào
Anh nắng vàng xôn xao
Ôi người yêu ngọc ngà
Sợ quên em đêm nhớ
Nụ hôn đêm nào cho
Khi về còn ngẩn ngơ
Dòng sông đưa chuyện tình
Theo sóng đầy lênh đênh
Em lụa phai nhạt màu
Nụ hôn xưa rớm máu
Vạt nắng sáng nguồn cơn
Bây giờ… hoàng hôn!”
(Chuyện Tình – Duyên Anh)

“Ngày đó chúng mình” đã hát, và hôm nay, với một lần xuyến xao được tìm lại /thấy lại bằng những khúc ca – “dung nhan mang tình yêu” chấp chới ẩn hiện về trong trí nhớ…là một cánh rừng mịt mùng thác lá đổ “nối gót người vào dĩ vãng nhạt màu” , là những ốc đảo cô đơn “đã chìm vào cơn mưa”, là những lướt thướt của chấp chới “nắng chiều”, là mãi mãi những tiếng trầm hồ cầm âm u dội vào lòng nhau vĩnh viễn một “chiều đi lặng lẽ, thương nhớ muôn bề”, là những “vì sao đêm đi về bí mật”… rơi xuống đời thành những “giọt nước mắt cho ngàn sau” – giọt nước mắt quạnh quẽ, cô liêu khi “một mình ta đứng nhìn mối tình duyên tan theo”, hay giọt nước mắt phủ xuống hồn người đã tả tơi khi “buồn rơi trên tâm hồn lẻ loi, thương hình hài con người nhỏ bé”, hay giọt nước mắt hòa tan cùng “trời còn làm nước mắt rơi mau/trên vùng tuổi mưa ngâu…”, hay cũng có thể lắm chứ, giọt nước mắt vui mừng khi “có một lần tôi đưa em, đưa em về miền nắng ấm/ những con chim thôi ngủ sau mùa đông lạnh căm” – quay lại cùng từng nhánh rong trôi về nguồn, trong từng sát na của ” năm tháng úa trên lưng tháng ngày”, trong không gian của 1 nơi chốn “sưởi ấm những giọt tình nồng”, trong từng góc phố “mưa giăng chiều nắng tàn”…và trong chất ngất những nghẹn ngào của vùng kí ức; quay về – vẹn nguyên – những buổi trưa “theo em xuống phố”, những buổi chiều “ngày hôm qua trong nắng thiên đường”, những buổi tối “đèn xanh đã tắt giọng hát ân tình”, những ngày “dĩ vãng màu xanh trong thân yêu”, những tháng “gần thắm thiết trong mối sầu”, những năm “thách đố thương đau”…

“…Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua…”
(Ta về – Tô Thuỳ Yên)

Bằng những khúc hát, ta đã về như thế… Về với dĩ vãng & ở lại vĩnh viễn bởi lẽ “Từ đây tôi sống bằng kỷ niệm” như tuyên ngôn một nhân vật từ nhà văn của tuổi hoa mộng Duyên Anh.
Những tập nhạc của một thời hoa mộng, khi anh biết yêu lần đầu – khuôn mặt của thiên đường, khi em biết yêu lần cuối – nụ cười của vực thẳm.
Hát lên đi em ơi, để không còn là những “hiu hắt quê hương bến cỏ hồng”, hát lên đi em ơi, để chờ đợi, để gom lại một chút bụi khói sương của một thiên đường đã lỡ bốc cháy.
Hát nữa đi em, để còn biết “đôi khi hạnh phúc…buồn”, để biết “trong bao kiếp hoang…vui chưa tìm thấy”.

Và hát để đưa bồng bềnh của những đám mây kỉ niệm quay về gần, một lúc nào đó, sẽ rơi rụng xuống trần gian này thành những mơ mộng mông mênh…góp đầy cho một lần thương nhớ…

“mưa thân ái trên tay
tay mỏi rời trong tóc
tóc nhớ ai mọc dài
mắt nhớ ai muốn khóc

tay của em,
tóc của em, và
mắt của em
của mưa của mưa, ừ
của mưa
tay em tay mưa tóc em tóc mưa mắt em mắt mưa

ôi gia tài quí báu của đời ta
ngàn vàng không đổi được”
(Một Chút Mưa Thơm – Mường Mán)

Những “gia tài quí báu của đời ta” này…ở đây, hôm nay, hát lên trong những ngày cuối cái tháng oan khiên – tháng mà ở đó, với nhiều người, bao nhiêu năm trôi qua đi nữa thời gian mãi mãi cũng chỉ có duy nhất một – tháng mà ở đó, nửa đất nước như lên cơn đồng thiếp…

Mưa cũng đã rơi, không còn là những “móc mưa hạt huyền”, không còn là “giọt mưa tìm đến để chia lầm lỡ với người hoài trinh”, không còn là những “giọt mưa trên lá”, không còn là những “giọt mưa rớt trên tượng đá” để ai đó phải đau khổ muôn niên, không còn là những hiền như sương sớm trong tuổi đá buồn với giọt “mưa rơi mênh mang trên hai tay xuôi” …

…chỉ còn là những cơn mưa quái ác …
“qua trận gió kinh thiên”…
& mưa … & nước mắt….
…nước mắt
sau
cơn
mưa…

“Giọt nước mắt nghẹn ngào
biển ướp muối khô tim
Giọt nước mắt oan khiên
Giọt nước mắt cô đơn
…Ôi giọt nước mắt cho những thân phận sắt se
cho những tâm hồn tái tê
cho những con người não nề…
Giọt nước mắt tỏ tình thương ngàn xưa hư vô
Giọt nước mắt tội nghiệp còn thế giới hoang vu
Giọt nước mắt tâm tư
Giọt nước mắt ươm mơ
Rơi xuống em ơi. Xanh ngọc vàng tơ…”

(Giọt nước mắt cho Việt Nam – Duyên Anh)

NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG HUY

MẤY VẦNG TRĂNG…

dungkqd

1.
Đêm nay trăng khuyết một miếng
Mọi người nhìn nhau nghi ngờ
Có đứa đổ thừa mình cắn
Thì ra là lão nhà thơ…
2.
Hôm qua trèo lên sân thượng
Thấy quả trăng tròn, giật mình
Hình như là gã hàng xóm
Cũng ngồi ngửa mặt lặng thinh
3.
Vầng trăng lơ lửng trên đầu
Lâu nay tưởng thân quen lắm
Vậy mà mỗi lần muốn ngắm
Lại phải lọ mọ thức khuya
4.
– Đêm qua đứa nào trộm mất trăng của tao?
Tìm khắp Huế cả đêm mà chẳng thấy
Đám thái giám vào chầu run lẫy bẩy
Buổi thiết triều quan lính cứ nghi nhau…
– Đêm qua đứa nào trộm mất trăng của tao ???

DŨNG KQD