ĐÊM Ở BIỂN ĐÔNG

nguyenhuynh

( Như một nén tâm hương…)

Đêm hôm nay trăng sáng. Mặt biển êm ả chỉ lăn tăn gợn sóng. Hộ tống hạm HQ10 Nhật Tảo đã vùi dưới đáy biển trên 40 năm, đêm nay dường như giũ mình lấp lánh dưới đáy trăng.

Như mọi đêm, hạm trưởng trung tá Ngụy Văn Thà điểm danh, giọng âm âm lất phất trong ánh nước :
– Nguyễn Thành Trí
– Có ! – Thiếu tá hạm phó dáng vẻ thư sinh, đứng lên trên chiếc chân còn lại dõng dạc.
– Hoàng Duy Thạch
– Dạ có… Thưa trung tá, xương cốt của em bị bùn cát vùi quá sâu rồi.
Một giọng rổn rảng phía sau vang lên :
– Đù má ! Vùi như vậy mới còn nguyên vẹn. Không hiểu vì sao tướng tá tôi to như thế này mà xương cốt nhẹ tênh tênh, trôi đầu một nơi tay chân một ngã.
Một con cá vừa nghiêng mình, ánh vảy bạc chui qua lỗ thủng trên ngực đầy rong rêu của thượng sĩ người nhái Đinh Hữu Từ.
– Nguyễn Thành Trọng – Người hạm trưởng tiếp tục
– Có.
– Phạm Tiến Chung.
– Có.
– …
– …
– Người cuối cùng, người thứ 75…
Giọng trung tá Thà bỗng ngèn ngẹn :
– Chúng ta vừa mới tìm được trung sĩ Phạm Ngọc Đa, anh đã cô độc trôi nổi trên biển những 42 năm nay.
Bóng một người lướt thướt đi lên, tái nhợt. Anh ta ôm từng người và khóc :
– Các anh tề tựu ở đây, dù lạnh lẽo nơi đáy biển vẫn còn có chiến hạm tránh mưa tránh nắng. Riêng tôi thân xác trôi dạt ba ngày nhưng hồn phách phiêu linh nơi đầu gềnh cuối thác, cho tới nay mới tìm được các anh.
Tiếng khóc râm ran vang lên. Đàn cá vội dạt ra xa.

Hạm trưởng Thà ngửa mặt lên trời :
– Các anh em có nghe mùi gì đang thoảng đến không ? Mùi gì mà trên 40 năm nay chúng ta mong đợi mà chưa được một lần thưởng thức ?

– Mùi hương hoa ! – Lại gã người nhái họ Đinh to xác mau đói trả lời.

– Phải rồi ! – Hạm trưởng xúc động : Từ đất liền tưởng niệm chúng ta. Ba miền đất nước đang tưởng niệm chúng ta. Sài Gòn, Đà Nẵng và cả Hà Nội đang xuống đường tưởng niệm chúng ta.

– Nghe bảo ở Vũng Tàu nhóm anh Trần Bang bị côn đồ giật vòng hoa. Ở Sài Gòn, nơi tượng đài đức thánh Trần bọn chúng xua lũ quét dường ra ngăn cản. – Hạm phó Thành Trí nói trong buồn bực.

– Đù móa ! – Gã người nhái tên Từ hét lên : Để tui về vặt cổ chúng nó hết cho xong!

Cũng hạm phó, Nguyễn Thành Trí, người có dáng thư sinh giơ cao chiếc nạng làm bằng thân rong, bảo :
– Không cần. Sẽ có người xử bọn chúng ngay thôi.

– Nhưng sao là nghĩa sĩ Hoàng Sa mà không phải liệt sĩ ?- Ai đó hỏi vọng lên

– Chúng ta không cần. – Hạm phó Thành Trí ồn tồn : Khẩu hiệu của chúng ta là : Đất nước là trên hết, khác với những liệt sĩ hiện nay.

– Nghe bảo, người ta đang khởi công xây khu tưởng niệm cho chúng ta, vậy chúng ta có về trú ngụ nơi đó không?

Ngụy Văn Thà đưa mắt dò nhìn từng người một, sau ông phất tay :
– Không. Chúng ta phải ở lại đây. Chúng ta và chiến hạm còn phải canh chừng Hoàng Sa cho đến khi nào Hoàng Sa trở về tay Việt Nam chúng ta.
Hạm phó Thành Trí :
– Đất nước Việt Nam chúng ta dễ tới ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ, nhưng cha ông chúng ta vẫn dành lại được trọn vẹn lãnh thổ. Hôm nay cũng vậy, nhất là thời khắc chuyển giao này,Hoàng Sa là của chúng ta nay mai thôi.

– Đù móa Trung cẩu ! – Gã người nhái Đinh Hữu Từ lại văng tục : Đỗ Mười nó, hôm qua tui thấy máy bay chúng chở vợ ra đảo Chữ Thập bên Trường Sa chụp hình tự sướng.

– Chúng nó bán hết rồi ! – Thành Trí lẩm bẩm.

Bỗng hạm trưởng Thà đứng phắt dậy :
– Phạm Văn Qúy đâu ?
– Có mặt.
– Chuẩn bị khởi động chiến hạm. Tất cả vào vị trí. Chúng ta lần này không đi tuần tra Hoàng Sa như mọi đêm. Nhiệm vụ chúng ta là bảo toàn lãnh thổ đất nước, Trường sa cũng vậy. Đêm nay chúng ta trực chỉ hướng nam.
Đại úy Hoàng Duy Thạch, mở hết tốc lực chạy về Trường Sa.
Và HQ1O Nhật Tảo rẻ nước, lao vun vút trong đêm. Và như một con tàu ma, và đúng là một con tàu ma.
Đêm đã khuya, mảnh trăng đã ngã về tây. Đáy biển lờ mờ trong ánh lân tinh. Bỗng nhiên vẳng đâu xa xa tiếng ai nỉ non ai oán :
Việt Nam ơi, thời gian quá nửa đời người và ta đã tỏ tường rồi…
Nguyễn Thành Trí rùng mình :
– Uả, hình như ai đang hát bài ” Việt Nam tôi đâu ” của Việt Khang ?
Hạm trưởng quay lại hỏi Duy Thạch :
– Chúng ta đang ở đâu ?

– Dạ gần đảo Gạc Ma

– Có những bóng đen đang ẩn nấp trong các dãy san hô, thưa hạm trưởng. – Nguyễn Thành Trọng đang xoay nòng pháo nói vọng xuống.

– Từ từ, không được bắn. Hình như không phải bọn Tàu.
Những bóng đen lần lượt ra khỏi nơi ẩn nấp, tiếng hát càng rõ dần.
– Có tất cả 65 người. – Tay người nhái hét lên : Đù móa Việt Cộng !
Thành Trọng chòm chòm trên tháp pháo :
– Bắn chưa chỉ huy ?

– Bắn chết mẹ chúng đi ! – Aí đó hét lên.
Hạm trưởng phất tay :
– Không được bắn.
Rồi ông bước tới phía đám đông, hỏi một người đang cầm một cán cờ đã gãy :
– Các anh là ai ?

– Chúng tôi là những oan hồn đã chết ở đảo Gac Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988.

– Sao gọi là oan hồn ?
– Vì chúng tôi chết mà không được bắn như các anh. Chúng tôi là những tấm bia. – Nói xong anh ta chỉ vào những lỗ thủng to như miệng chén trên cơ thể : Các anh thấy đó, đạn 12ly 7 xuyên qua và chúng tôi ngã xuống như những vật tế thần !

– Anh tên gì ?

– Thiếu úy Trần Văn Phương.

– Tôi nghe nói trận chiến đảo Gac Ma các anh có 64 người, sao hôm nay 65 ? Người mặc thường phục kia là ai ?

Một người đàn ông gầy gò đen nhẻm bước lên :
– Tôi là Trương Đình Bảy, ngư dân Bình Sơn Quảng Ngãi mới bị Trung Quốc sát Hại.

– Chúng tôi nghe báo chí nói là tàu lạ ?

– Tàu lạ cái con đĩ mẹ nó ! – Người đàn ông nổi giận : Tàu là Tàu chứ lạ chó gì !

– Tại sao hồn phách anh không về với xác thân anh ?

– Vì tôi là một oan hồn. Không ai bênh vực cho tôi, không ai dám nói kẻ đã giết chết tôi là ai.

Nguyễn Thành Trí quay qua hỏi đám đông đang liêu xiêu theo sóng nước :

– Vì sao các anh hát bài hát khi nãy ?

– Chúng tôi không còn tổ quốc. Chúng tôi không biết Việt Nam tôi đang ở đâu. Chúng tôi sống dật dờ trên những mõm san hô, thân xác chúng tôi cũng như thân xác các anh tan rửa trong lòng đại dương, nhưng hồn phách các anh còn có chiến hạm và trọng pháo che chở, chúng tôi không một tấc sắt trong tay.
Hạm phó Nguyễn Thành Trí hỏi tiếp :
– Nếu chúng tôi mời các anh lên tàu các anh có đi không ?
Dứt lời đã nghe thấy hai bên nhao nhao. Hạm phó dang hai cánh tay về phía hai bên tiếp tục :
– Ân oán 30 năm nhồi da xáo thịt đã qua lâu rồi. Tôi và các anh đều là những người hy sinh cho đất nước. Đất nước, dân tộc là trên hết. Trên cả hận thù . Chúng ta cùng một kẻ thù chung. Chúng ta cùng là người Việt. Tất cả điều đó lẽ nào không làm nên một cuộc hòa giải dân tộc, điều mà trên dương gian người thật đang cố làm. Vậy hãy để những con ma chúng ta làm gương trước họ.
Lời nói vừa dứt thì tất cả hai bên nhào tới ôm chầm lấy nhau khóc lóc râm rang một góc biển.
Tất cả cùng lên tàu. Tiếng hát lại cất lên. Lần này lời hát vang lên hùng tráng, trong pha lẫn giọng Bắc và Nam :
Từng đoàn người đi chẳng nề chi / Gìa trẻ gái trai giơ cao tay / Chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược…
Và hộ tống hạm HQ 10 Nhật Tảo hú lên một hòi còi lanh lảnh, mở hết tốc lực phăm phăm rẽ sóng về phía mảnh trăng trôi đằng tây, nơi đất liền mong đợi.

Ngày 19/01/2016. GLQT

NGÀY NHƯ THẾ

truongdinhtuan

ngày bất thường có lúc đói tự do
ai vây ta trùng trùng ý thức
thôi đành vậy ngồi lỳ trong đôi mắt
quỳnh như ơi chiều vọng động tiêu sơn

bầu trời kia cửa sổ đóng khung
bụi bụi mờ thiên đường ngái ngủ
vẽ đường vân hoa tay trời lỗi lạc
em dắt ta lạc qua ngõ trầm phù

ngày bình thường lúc nhớ lúc quên
vắng tiếng chim tràng giang đại hải
ta hồ đồ tưởng mình đang có
mơ hồ sông xanh núi biếc dằng dai

làm sao biết trái tim kia khép
là thiên thu nhốt một nửa linh hồn
chữ nghĩa nọ rơi từ tay phù thủy
ngọn sao hôm tìm mãi dấu sao mai

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

có một mùa đông

npphan

rồi có một mùa đông sẽ tới
anh xa em hơn ngàn dặm đường
anh xa em bằng bát ngát thời gian
bằng mênh mông không gian
bằng ngút ngàn thương nhớ

hoa cúc vàng mùa thu thôi nở
trời xanh xanh anh ngỡ quê nhà
cũng hương lúa nồng nàn
cũng con đường cỏ cây tình tự
sương sớm, sương chiều ướt đầm vai áo người qua

cái gió mùa đông bắc đi xa
nay trở lại
cái rét dịu dàng làm hồng môi người con gái
đêm trở mình
bâng khuâng

anh thương em về phía biển muôn phần
sóng vẫn vỗ trong anh
biển vẫn xanh về phía ấy
cách núi, ngăn sông nhưng anh nhìn thấy
cánh hải âu xoãi dài trong nắng vàng mật ong

ở quê mình không có mùa đông
nên anh muốn em gửi cho anh những cánh thư đầy nắng
để sưởi cho anh, để giữ cho thật nhiều hơi ấm
để lấp phần trống vắng trong anh

và chiều nay bầu trời cứ xanh
nghe xôn xao gió mùa đông bắc thổi
anh cứ tưởng: rồi có một mùa đông sẽ tới
sao bỗng nhiên mùa đông tới tự bao giờ

NP phan

HUẾ MÀ TA SẼ TRỞ LẠI

nguyenxuanhoang

1.
Huế. Tại sao?
Huế. Huế có nghĩa là gì nếu nó không gắn liền với những con người và cảnh vật của thành phố đó?
Thói quen của chúng ta nói rằng Huế là tất cả miền Trung, cũng như Hà Nội là Bắc, Sài Gòn là Nam. Cái để người ta buộc chùm với Huế là sông Hương, núi Ngự, là chùa Thiên Mụ, là lăng tẩm, là Vĩ Dạ, là Đập Đá… là Công Tằng Tôn Nữ, là Nguyễn Phúc, Vĩnh, Bảo, là cảnh trí, là những trận mưa liên tu hồ tận, là…
Những người Việt Nam tị nạn gọi California là Sài Gòn nhưng gọi Hoa Thịnh Đốn là Huế. Cali thì hiểu được, nhưng Hoa Thịnh Đốn, tại sao?
Người Hoa Thịnh Đốn kiểu cách chăng? Hay Hoa Thịnh Đốn có con sông Potomac chảy qua thành phố như con sông Hương lướt thướt dưới cầu Tràng Tiền? Hay Hoa Thịnh Đốn đầy dẫy những di tích lịch sử để làm cho người ta liên tưởng đến những lăng tẩm của triều đình nhà Nguyễn?
Cách chi thì cách, lòng tôi sáng nay tràn đầy xứ Huế.
Tại sao?
Nào tôi có biết!
Huế. Thành phố ấy tưởng như đã chìm mất trong sự quên lãng, thật ra vẫn còn quanh quẩn nguyên vẹn trong trí nhớ tôi.
Huế. Thành phố của tuổi mười sáu gắn chặt tôi vào với Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. Huế, thỏi nam châm tình ái của con đường đi qua Đập Đá và ánh nắng mới lên trên những hàng cau quạnh hiu của một mặt đường xỉn bụi.
Huế trước hết là khuôn mặt tuyệt vời, là đôi mắt hạnh nhân, là giọng nói ngọt ngào quyến rũ, là nụ cười bão tố.
Huế thổi trong tôi hơi thở thơm ngát của sông Hương.
Huế, tình nhân của tôi thời mới lớn.
Tôi đã thấy gì ở Huế hồi đó? Một chiếc hộp giấy bìa kín bưng bên trong là con dế nhỏ. Và tôi, cậu bé tìm trò chơi trong mùa mưa. Con dế dễ thương, tiếng gáy dòn tan, nhọn như kim. Và đứa nhỏ đứng lớ ngớ bên ngoài, chọc thủng cái lỗ nhỏ tí xíu nhìn vào.
Cách biệt. Ao ước. Sung sướng. Hồi hộp.
Nhưng một hôm bỗng nhiên Huế trôi đi như những cánh lục bình dưới gầm cầu sau cơn mưa lũ.
Tưởng vậy thôi, thực ra Huế không chìm mất hẳn. Như cái phao của chiếc cần câu có sợi dây tơ quá dài, Huế nổi lên, Huế trở lại trong tôi.
Trở lại trong tôi với tất cả nỗi đau đớn và xót xa.
Trở lại trong tôi với hình ảnh của một thành phố máu lửa. Huế giẫy giụa và bi thương. Huế nghẹn ngào và nghẹt thở.
Huế là người bệnh bị máu xối xả tuôn từ lục phủ ngũ tạng. Huế hấp hối.
Huế trở thành thành phố của bạo động và căm phẫn.
Huế trí tuệ.
Huế chôn xong người tình nhỏ bé, để hóa thân trở thành một nhà cách mạng cực đoan.
Huế khóc bằng nước mắt của dân tộc.
Chiếc cầu nối liền hai con đường chính của Huế đã gẫy. Con sông vẫn nghiêng bóng. Huế của trầm lặng đã trầm lặng trở lại sau những tiếng súng.
Trong cái ánh nắng chói chang của Huế, sao tôi chỉ nhìn thấy cái mù mịt của một đời sống xót thương?
Huế đầy hầm hố và xác chết, và tử biệt sinh ly?
Huế đòi lại người chồng người con đã bị vùi sâu trong đất đai và biển lửa.
Trên khuôn mặt xanh xao của Huế đang giàn giụa nước mắt là một Huế dũng mãnh.
Cả hai lần đến Huế, Huế đều dìm tôi xuống tận đáy vực của đau thương.
Lần đầu Huế là đôi mắt đen sâu như vực thẳm của tình ái. Lần sau Huế chính là ngọn lửa bốc cao tiếng khóc xót xa của một thời băng giá. Huế của địa ngục.
Như con chim sải cánh bay trên trời cao, ngó xuống tình cờ một thành phố ngổn ngang những di tích của một lịch sử, la liệt xác chết của một trận chiến ngu xuẩn, thấp tè những mái nhà tối tăm của một đời sống chậm chạp thiếu ăn và đen đúa.
Tôi bị cay mắt vì những cột khói mù của một thành phố cháy.
Huế hết chưa thời rêu rong và cổ kính?
Huế có còn không con đường hàng me đầy kỷ niệm?
Huế thơ ngây của tôi đã đầy chăng sự già dặn?
Huế của núi thấp và sông cạn.
Huế của tình yêu và thù hận.
Huế chỉ là nơi để nhìn ngắm và chiêm ngưỡng hay để sống và thở?
Huế, đó chính là thành phố mà tôi sẽ trở lại, mặc dù tôi biết là chẳng có ai chờ đón tôi ở đó.
Cũng chẳng làm sao, phải không? Bởi vì tôi đâu phải người khách lạ và Huế đâu phải là một miền đất không quen!
Huế cổ tích và hiện đại.
Huế với thời tiết kỳ quái, cách mạng xung động và trầm lặng khó hiểu.
Nhưng Huế, xin hãy chờ!
2.
Những cửa sổ của Huế
Mùa hè ở Huế, mặt trời xuống rất gần, đêm đứng gió, nóng bốc khói từng lỗ chân lông. Huế như chiếc hỏa lò lớn thiêu tro tất cả.
Trời xụp thấp. Và đám mây bồng, đã cũ xì.
Tôi ao ước mưa và tôi đang nghe thấy được mùi khói đất lượn qua mũi. Mưa. Cơn mưa tuyệt vời giữa mùa nắng cháy của Huế.
Tôi đang nghe hơi đất ngái xông lên, cơn mưa kỳ dị đang rơi xuống.
Hình như tôi ngửi thấy được mùi vị Huế, cái mùi cách đây lâu lắm tôi đã bắt được qua những bãi cát trắng chạy dọc đường từ sân bay về trạm ga, cái mùi đặc biệt Huế thoảng ra từ mái tóc gội bồ kết em, từ giọng nói ngọt ngào quyến rũ em, từ màu áo tím than buồn bã em.
Trong cơn gió nhẹ thổi tới mặt trong hạt mưa bay đọng trên cánh tay đặt ở bờ cửa, trong sự mệt mỏi của thân xác, tôi tưởng nhìn thấy lại khuôn mặt của một người với nụ cười dịu dàng, chiếc cổ cao, đôi mắt màu nâu sáng…
Nhưng không phải là cơn mưa phùn của mùa Xuân Đà lạt để khơi lại cái quá khứ đã nhòa nhạt, không phải là ngọn gió mềm Nha Trang để thổi bay chút phấn thông dĩ vãng đã phai màu. Chính là những giọt nước vỡ òa như cái bong bóng căng bị ép cực mạnh, chính là trận mưa tàn bạo bất thường, cơn gió thốc xoáy quái dị cuốn tung khuôn mặt ngày xưa của Huế. Chính là những căn nhà tôn lụp xụp, kiến trúc vuông vức phẳng lì hình hộp, san sát như những viên gạch để đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh mà Huế trở nên nghẹt thở. Chính cái màu xám xịt của đoàn xe dày đặc đầy nhóc những lính trận, đạn dược và súng ống, chính những chiếc thiết giáp nặng nề nghiến nát mặt đường với bụi đất đỏ bết chặt thành xe, chính cái áo tơi quá rộng trùm kín những đôi vai gầy nhỏ, chiếc nón sắt cứng nhắc ép xuống cái đầu mềm nhũn của người lính trẻ làm Huế trở nên người lạ mặt.
Huế mà tôi đang nhìn thấy (chìm trong sương mù của tấm vải thô đục đan bằng những giọt nước mưa to) xa xôi như một vùng đất chưa hề một lần đặt chân đến.
Huế mà bây giờ ta đang nhìn thấy huyền ảo mong manh như một cái gì không có thực.
Huế tối tăm trong những bong bóng mưa vỡ tung khi chạm thành cửa kính, mũi xe, mặt đường.
Và như thế Huế chào đón tôi.
*
Tôi xuống xe ở nhà ga tàu lửa — những nhà ga tàu lửa của hầu hết những thành phố còn sót lại miền Nam này đã trở thành những trạm đi và đến của đường hàng không – nhớp nhúa hơn, lạc lõng hơn và tội nghiệp hơn cái nhà ga mà tôi đã nhìn thấy, đã chờ đợi, đã đưa đón, đã ra đi và đã biệt ly hồi đó.
Chiếc xắc trên tay, không còn thứ hành lý nào khác để chờ lãnh, tôi đứng chơ vơ một mình ở sân ga.
Huế đó sao?
Trên sân ga này một buổi sáng tôi đã đến, len qua cánh cửa người soát vé, chạy băng trên nóc những toa tàu, gặm khúc bánh mì khô trong khói than.
Trên sân ga này, trong một buổi sớm mai lạnh buốt tôi đã nhìn thấy mắt em nhỏ lệ ngậm ngùi, nơi chúng tôi đã chia tay nhau không một lời từ biệt, và chúng tôi, ngầm hiểu với nhau rằng như thế là tình yêu đã hết.
Huế đó sao?
Hòn sỏi dưới chân tôi cũng lạ mặt giống hệt như tôi đang đứng trên bờ cát, những con sóng xô vào, rút nhanh, xóa tan hết cái vết chân ai vừa mới dẫm lên.
Người phu xe thở dốc khi đưa chúng tôi băng qua những con đường ổ gà — trận lụt bữa trước đã cuốn trôi tất cả — lên một chiếc cầu, nép tránh một chiếc xe hàng ọp ẹp, chúi nghiêng khi chùi xuống một lỗ trũng.
Bao Vinh xa không thể tưởng.
Chẳng hiểu là bạn ta có thấy được đường xa và cơn mưa buồn bã của tôi không?
Bạn đã nói đến quê nhà của bạn, thời thơ ấu của bạn, con đường mà bạn đã băng qua để đến trường học lớn nhất miền Trung, chiếc cầu (mà chúng tôi đã đi ngang qua đây) là nơi mà mỗi buổi chiều dân chúng thẩn thơ lên đó hóng những ngọn gió mát từ mặt sông thổi lên.
Tôi đã ngủ lại đêm ở nơi này. Bao Vinh ba giờ khuya nước sông lớn theo cơn mưa xoáy đứt neo trôi đi những thuyền buôn của mấy người Quảng. Và ta đứng trên bao lơn Bao Vinh nghe thấy Huế than khóc, rên rỉ, trôi trên sông một đời buồn bã.
Huế đó sao?
Sáng hôm sau khi Bao Vinh còn ngái ngủ tôi đã rời bỏ nó để trở về thành phố. Dù sao tôi vẫn ưa nhìn Huế tận mặt, tận mặt trong cái vẻ nguyên vẹn không màu sắc và phấn son của nó, tận mặt vì ở đó — những con đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu… đầy người hay con đường Lê Lợi, Phạm Ngũ Lão, Trần Thúc Nhẫn… vắng vẻ đến dễ sợ — tôi có thể thấy được cái mà ít ra Huế có thể phô bày. Thành phố Huế là khuôn mặt của Huế, những cái khác chỉ là tay chân. Cầu Trường Tiền và sông Hương là mạch máu và trái tim của Huế. Những chiếc cầu khác, những nhánh sông khác chỉ là những mạch máu nhỏ tiếp dưỡng và bồi bổ cho mạch máu lớn.
Thành Nội là vầng trán của Huế, trên đó người ta có thể nhìn thấy những nếp nhăn cổ tích, con đường hẹp ngập đầy bóng mát và lá úa của những tàn cây lớn đứng tuổi trước những thành quách rêu phong là dấu vết của một thứ quá khứ vàng son không bao giờ long lanh lại nữa.
Óc não Huế là khu Đại học trẻ trung chẻ ra bằng những con đường đá xanh, rợp bóng cây của những cuộc dạo chơi tình cảm, đứa con muộn màng của mối tình kỳ cựu nhất là chàng trai tơ Quốc Học và nàng kiều nữ Đồng Khánh.
Ruột gan Huế là chợ Đông Ba ngổn ngang xô bồ bên ngoài ngôi nhà tối tân không được tận tình sử dụng.
Và Vĩ Dạ bên kia Đập Đá chính là Tình Ái Huế.
*
Bỏ lại Bao Vinh một buổi sáng tôi nhớ gì?
Có phải câu ca dao mà bạn ta đã đọc (và ta đã không nghe rõ lắm).
Bao Vinh cao bực (?) thẳm bờ
Ghe thuyền năng đậu, mẹ nhờ duyên con
Thế nào là cao bực, là thẳm bờ? Tôi chỉ có thể giải thích được một điều là chốn ấy có người qua kẻ lại, và cái duyên của con gái có thể làm thay đổi cuộc sống của bà mẹ.
Bỏ lại Bao Vinh, sau một đêm gần như không ngủ, tôi thấy Huế dần dần hiện ra trong lặng lẽ im lìm, bất động.
Còn quá sớm để đánh thức một dĩ vãng đang yên ngủ, nhưng hình như quá trễ để pha một cốc nước trà cho người già nua?
Phải không Huế?
*
Như vậy đó tôi nhìn thấy Huế.
Suốt mấy ngày trời Huế mưa dầm mưa dề mưa tầm mưa tã.
Huế nhốt tôi trong trường Quốc Học. Cửa kính sỉn mờ, hành lang u ám, và tiếng trống vào lớp buồn xưa.
Huế trầm lặng, nghiêm trang như phòng thi với những khuôn mặt xanh, mắt lo âu, trán ưu tư. Huế kêu réo ký ức của một hoài niệm.
Mưa rơi trên sân trường, mực đầy trang giấy trắng. Và niềm im lặng cổ kính.
Chính là khuôn mặt dịu dàng em, đôi mắt tròn đen hơi ngơ ngác em, nụ cười buồn rầu và mái tóc ướt huyền em… xô đẩy cánh cửa thần thoại cổ tích…
Trận mưa da diết và kỳ diệu của Huế làm ướt đẫm tâm hồn tôi.
*
Còn nhớ buổi chiều đầu tiên của một ngày có nắng sau trận mưa liên tu hồ tận ở Huế, một người bạn hỏi tôi:
“Nóng chưa?”
“Cái gì nóng?”
“Thì trời nóng đất nóng chứ còn gì!”
“Nóng!”
“Vậy thì đi”.
“Đi đâu?”
Bạn ta không trả lời. Hắn dẫn tôi ra trước Kỳ Đài (A! Chỗ này đây đã có trận đánh lớn, ngưòi ta giết nhau để cắm một ngọn cờ. Bao nhiêu người đã chết ở bãi cỏ xanh này. Bao nhiêu tuổi trẻ đã nằm gục vắt ngang khẩu đại bác cũ kỹ này? Một tấm vải. Một lá quốc kỳ. Và máu chảy xuống. Có phải là tôi đang nghe lại tiếng đạn réo ngang mang tai, một trái lựu đạn vừa nổ, một hơi thở vừa thoi thóp? Có phải tôi đang nhìn thấy lại trong trí tưởng cái hình ảnh quằn quại của người lính trận? Có hay không điểm khác nhau giữa sự đau đớn thân xác của người chiến sĩ này và người chiến sĩ bên kia sông? A! Chỗ này đây…) Đẩy tôi xuống một bờ dốc. Bước lên một tấm ván gỗ. Leo qua một khoang đò. Bạn ta cười cái cười kỳ cục.
Đêm trên sông Hương. Tôi tưởng thấy tất cả cái lóng lánh của một trang sách, mê say của một truyện kể… Nhưng chẳng có gì hết. Đò san sát nhau tấp dọc bờ. Người đàn bà tháo dây, chống sào. Đò lướt ra, không xa lắm, neo lại.
“Thế thôi?”
Đêm đó mát thật nhưng tôi buồn cười. Suốt đêm tôi buồn cười. Chẳng là vì tôi chờ đợi tiếng phách gõ của những thuyền nhỏ bán quà trên sông. Một người bạn ở Sài Gòn nghe tôi sắp ra Huế bèn nói cậu nên ngủ đò. Có gì hay không? Có. Gì? Tiếng động trên sông Hương đêm. Ra sao? Hắn nói đến tiếng phách gõ có nhịp điệu đặc biệt là một thứ ngôn ngữ mà người ta có thể truyền cho nhau được trên sông. Chẳng hạn như chè có lối gõ khác với cháo. Bún bò có một nhịp động khác với hột vịt lộn. Và những nàng kiều nữ nữa… Nhưng bây giờ đây, nghĩ đến thứ âm thanh trong trí tưởng đó làm tôi tức cười muốn chết. Tôi đâu có đi tìm một chút gió mát trên sông Hương. Tôi tìm nghe tiếng động của Huế ban đêm. Và tiếng động đó không có thực. Chỉ có tiếng người ơi ới rao hàng và tiếng mái dầm ì òm trên mặt nước.
Huế đó sao?
Trong bóng tối của trời đất, trong hơi thở của sông nước, tôi tình cờ nghe được tiếng thở dài của Huế. Phải, và trong cái tỉnh táo của đầu óc, trong sự lặng thinh của trái tim, tôi nhìn thấy lại khuôn mặt dịu dàng em, sự chết nằm trên vành khăn tang trắng cuồng bạo lạnh lẽo, nhưng trong đôi mắt nai em chứa chan một đời sống êm đềm, nồng nàn.
*
Trước khi dời bỏ Huế, tôi đã ra ngồi bên bực thềm Lăng Miếu trước trường Đồng Khánh. Vũng nước của trận mưa bữa qua còn đọng trên mặt đất. Ngày thì đã qua nhưng mùa hè vẫn còn. Chẳng làm thế nào để thấy được những con bướm trắng bay ra từ ngôi trường đó, rộn rịp nhởn nhơ trước mặt tôi khua guốc trên đường lộ, hót như chim, xuống đò qua sông mang theo chút ngây dại còn sót lại của đời tôi.
*
Ôi! Huế rêu phong buồn bã, thành quách cuồng tín, mưa dầm, nắng cháy!
Ôi, Huế bạo động và trầm lặng như em.
3.
Huế, Xin chào!
Xin chào thành phố buồn thiu, con sông lặng lẽ.
Xin chào Bao Vinh phố hẹp nhà đông, thuyền bè đứt neo, tiếng động ban đêm.
Xin chào bạn bè mà tôi đã gặp trên chuyến đi, ngôi trường nổi tiếng mà quá khứ vàng son của nó còn ngự trị nơi tôi cả một triều đại. Xin tạm biệt mùa thi, mùa hạ của Huế.
Xin chào mừng những chiếc đò xếp lớp như cá mòi đóng hộp, một chút gió sông, một trời đen ám, một đêm lạ lùng.
Xin chào những đóa sen trắng nở thơm quanh hào Thành nội, con đường bóng mát lởm chởm đá xanh dẫn đến ngôi nhà người họa sĩ trẻ đã một thời cùng tôi chung học dưới mái trường.
Xin chào bạn tôi, người đã sanh ra và lớn lên trên đất Thần kinh nghe thấy quanh quẩn đâu đó một điều tuyệt vọng.
Xin chào bóng tối của những cây nhãn trong quán Ngự viên, những giọt mưa phả ướt mặt tôi trên đường về chỗ trọ, tối ám quạnh hiu.
Xin chào những cây me thở diệp lục tố nơi bạn tôi đang ở mà tôi không đến được, xin chào nhà sàn Trần Thúc Nhẫn vườn kín lá cây xanh, nơi người bạn gái tạm trú với một mối tình đã chết.
Xin chào người anh em làm thơ viết văn tình ái và cách mạng của một Huế bi phẫn và cuồng nộ.
Xin chào mảng nắng sáng góc phố Lê Lợi, màu trời chiều tháng Sáu Vĩ Dạ. Xin chào hơi thở thơm hương cau hương bưởi em. Xin chào mùi bồ kết và chanh, tẩm đầy mật ong rừng trên mái tóc em.
Xin chào Kỳ đài chưa treo cờ, những khẩu đại bác bảo tàng viện bóng lưỡng sẽ không bao giờ còn thở khói, bờ cỏ mướt sương buổi sáng còn ướt chân tôi.
Xin chào Đập đá thấp, với chiếc cầu vòm cao trong trí tưởng, dẫn ngang những làng xóm khô cằn vừa trẻ lại bằng những chùm nắng lóng lánh trên hàng cau, bờ cỏ.
Xin chào Thuận An cát vàng bẩn xỉn, chiếc phà khô kệch chòng chành, người đi ngơ ngẩn.
Xin chào những bàn thờ, những nén hương ngạt ngào dọc bờ sông bị vây ám trong cơn mưa vào ngày kinh đô thất thủ làm sống dậy trong tôi một Tôn Thất Thuyết đảm lược, một Hàm Nghi vĩ đại can trường.
Xin chào nỗi đau khổ trong chiếc nón bài thơ, trong màu áo, trong mắt nhìn của những người mẹ ở chợ Đông Ba.
Xin chào một người trong trường Jeanne d’Arc với cổng kín tường cao, chiếc xích đu đong đua cả một chiều chờ đợi.
Xin chào đôi mắt to đen, vành khăn tang trắng, áo lụa vàng, nụ cười buồn, nhìn ai không nói trong sân trường Quốc học mùa thi.
Xin chào những trái cây còn non trong ngôi nhà cổ, nơi bóng tối nhiều hơn ánh sáng, chỗ nát tan nhiều hơn lành lặn, nơi tôi đã đến đốt một ngày dài kỷ niệm.
Xin chào những cây sầu đông không nở trái để tôi hái tặng em, xin chào những con đường em đã đi mà tôi không biết nơi nào để giẩm lên đó những dấu chân muộn màng, xin chào ngôi nhà em đã ở cùng với những người thân yêu mà tôi chưa một lần gặp mặt, xin chào những kỷ niệm riêng tư của em mà tôi không hề muốn nhìn ngắm.
Xin chào những dấu đạn, những hố bom, những xác chết, những vườn không, nhà trống, những chia lìa và tủi nhục của một thành phố tai ương.
Xin chào những chùm hoa phượng nở đỏ như máu trong trường Đồng Khánh, trái tim của hăng nồng và sắt máu, xin chào mãi mãi những tâm hồn vĩ đại đã không ngừng nhúm ngọn lửa đấu tranh không ngừng chống mọi gian trá, bất công và đàn áp.
Xin chào những người đang yêu, những mối tình đang lớn -hay đã chết trong Huế.
Xin chào mặt trời trên cao, con mắt duy nhất đã nhìn thấy tội ác và đau khổ của một vùng đất khô cằn, nghèo đói, gầy ốm, bệnh tật và thiên tai.
Xin nghiêng mình trước một xứ Huế của những con người chịu đựng bền bỉ dẻo dai mãnh liệt hơn bất cứ một người dân nào trên thế giới.
Xin chào con đường mòn nhỏ dọc bờ sông với cỏ xanh đưa tới những bậc cấp của những Lăng Miếu trước trường nữ trung học, nơi tôi đã đi dạo mỗi buổi chiều với em, ghế đá nhám bẩn nơi tôi đã ngồi một mình nhìn con sông lặng lờ và những bậc cấp bằng gạch nung đã rêu xanh, nơi tôi tưởng đang nghe thấy tiếng cười rộn ràng của tình yêu Huế.
Xin chào các em nhỏ ở Huế, những đứa con được nuôi dưỡng trong một bầu khí đe dọa, bú mớm bằng thứ sữa thử thách, đầy cay đắng và kinh hoàng, các em sẽ lớn hơn mọi trẻ em trên thế giới vì các em có đủ căm thù để tranh đấu và đủ yêu thương để tha thứ và sống với kẻ khác.
Xin chào một tuổi trẻ hiện tại và dũng cảm Huế.
Xin vĩnh biệt quá khứ vàng son và xa cách Huế.
Xin chào một thành phố mà chắc chắn là tôi sẽ còn trở lại dù không ai chờ đợi.
Hãy làm bộ vĩnh biệt Huế, nghe.

Nguyễn Xuân Hoàng
* Trích Căn Nhà Ngói Đỏ của Nguyễn Xuân Hoàng, Văn Nghệ xuất bản 1989.

LƯU MANH CHỮ NGHĨA

hochibuu

Ta bảo: ta là thằng lưu manh chữ nghĩa
Em nói: lưu manh thì không thể thủy chung
Em nhầm, lưu manh chỉ là cách nói
Còn thủy chung là bản chất của ta.

Thiên hạ bây chừ Lý Thông cùng khắp
Phù phép vô cùng biến có thành không
Đạo thánh đạo tiên đạo luôn chữ nghĩa
Ta chỉ một mình đứng bằng đôi chân.

Nhắm mắt bịt tai làm người ngớ ngẩn
Giả điếc giả câm sống hết kiếp người
Dòng thác cuốn trôi những điều vớ vẩn
Ta giữ trong lòng chỉ mình em thôi

Im lặng là ta muốn lòng thanh thản
Có gào có la cũng chẳng được gì
Vật lộn cả đời thành người vô sản
Em đã biết rồi đừng hỏi làm chi…

HỒ CHÍ BỬU

Phác thảo sai

trantuan

Sáng nay nắng ghé hiên nhè nhẹ
Không lẽ bây giờ thu đã sang?
Nhà bên, cô bé ngồi hong tóc
Bỏ nụ quỳnh trơ trụi góc vườn.

Vài cánh chim trời bay đó đây
Về đâu chim hỡi giữa trùng mây?
Thiu thiu con dế mèn mơ ngủ
Nghe lạnh buột rên giọng rất gầy.

Có một thương thuyền trên bến sông
Gác dầm từ độ mới tàn đông
Hỏi thăm, nghe nói người thương khách
Đã sạt nghiệp sau một chuyến lầm.

Ta vẫn trầm ngâm buồn tiếc đời
Tiếc hoài một dĩ vãng xa xôi
Loay hoay hư huyễn rồi quên mất
Phượng vẫn đài trang tận phía người.

TRẦN TUẤN

20 câu nói không thể quên của Martin Luther King

20-cau-noi-khong-the-quen-cua-martin-luther-king

1. Tự do không bao giờ được ban phát từ những kẻ cai trị, nó phải được đòi hỏi bởi những người bị cai trị.

2. Bạn không thể điều khiển hướng gió, chỉ có thể điều khiển cánh buồm. Bạn không cần phải thấy hết các bậc thang mà chỉ cần đi bước đầu tiên với một niềm tin.

3. Bóng tối không thể xua đi bóng tối, chỉ có ánh sáng mới làm được điều đó. Hận thù không thể xua đi hận thù, chỉ có tình yêu mới có thể làm được điều đó.

4. Sự khác biệt giữa một người mơ mộng và một người có tầm nhìn là người mơ tưởng luôn nhắm mắt còn người có tầm nhìn thì luôn mở mắt.

5. Thử thách lớn nhất của một người không phải khi anh ta đang ở trong sự thoải mái và tiện nghi, mà là khi anh ta đang ở trong sự thách thức và tranh cãi.

6. Không ai biết tại sao họ lại sống cho đến khi họ biết được họ sẽ chết vì điều gì.

7. Tôi đã chọn tình yêu. Hận thù là một gánh nặng quá lớn.

8. Niềm tin là bước chân đầu tiên, cho dù bạn không thể nhìn thấy hết cả cầu thang.

9. Một quốc gia hay nền văn minh tiếp tục sinh ra những người đàn ông nhu nhược đang tự sinh ra cho mình một cái chết tinh thần trong tương lai.

10. Trong giây phút cuối cùng, chúng ta sẽ không nhớ lời nói của địch thủ, mà là sự im lặng của bạn bè.

11. Chúng ta phải biết sống chung với nhau như anh em hoặc tiêu tan cùng nhau như những kẻ ngốc.

12. Chúng ta phải nhớ rằng trí thông minh thôi thì chưa đủ. Trí thông minh cộng với đức tính – đó mới là mục đích của nền giáo dục thật sự.
Sự giáo dục hoàn chỉnh không chỉ cho con người sức mạnh của sự tập trung, mà phải có những mục đích chính đáng để tập trung nữa.

13. Đừng quên rằng những gì Hitler đã làm ở nước Đức đều hợp pháp.

14. Tha thứ không phải là một hành động thỉnh thoảng. Đó là một thái độ vĩnh viễn.

15. Sự thay đổi không đến một cách tự nhiên, mà nó đến từ sự phấn đấu không ngừng.

16. Tình yêu là thể lực duy nhất có thể biến một địch thủ thành một người bạn.

17. Sẽ có một ngày nào đó một cá nhân phải đứng về một phía, không nhất thiết là an toàn, cũng không phải là chính trị, hoặc phổ biến, mà anh ta phải đứng về phía đó vì lương tâm anh ta cho rằng đó là điều đúng.

18. Thời điểm luôn đúng để làm một việc đúng.

19. Câu hỏi liên tục và khẩn cấp nhất trong cuộc đời là: “Bạn đang làm gì cho người khác?”.

20. Một người luôn có một trách nhiệm đạo đức để phản đối những luật bất công.

images (10)

HOÀNG SA ƠI!

tranbaodinh

Những chàng trai đất Việt
Đi không hẹn ngày về
Trời tháng giêng xanh biếc
Se sắt lòng nhớ quê!
.
Giáp dần ngày cận Tết
Vĩnh lạc gọi Cam tuyền
Người lính Việt, sống chết
Giữ Duy mộng, Nguyệt thiềm
.
Quang hòa nam, bắc đảo
Máu thắm cành Phong ba
Sắc trắng bàng Vuông nở
Trận hải chiến Hoàng sa
.
Chiều biển Đông, tàn trận
Hồn tử sĩ dật dờ
Đất Tổ ơi, muôn dặm
Đảo mất, đến bao giờ !?

Trần Bảo Định (1974)

CÂU HỎI CỦA MỴ CHÂU SAU KHI TRỌNG THỦY CHẾT

linhphuong

Trọng Thủy gánh non sông chạy về phía biển
Biển thét gào dậy sóng
Mịt mờ đường lông ngỗng
Đứng giữa hai đầu Tổ quốc
Hồn Mỵ Châu chắp tay hoa bật khóc
Đầu chít khăn tang

Ngó trời đất non sông
Nàng đớn đau bất lực
Máu hóa thành hạt ngọc
Chảy dài ra biển đông
Sóng vỗ bốn ngàn năm
Bóng ông cha chống gươm buồn vẫy gọi

Trường Sa lồng lộng gió
Hoàng Sa lồng lộng gió
Mỵ Châu đặt trong trái tim thương nhớ của mình vô vàn câu hỏi
Ai đánh cắp nỏ thần dâng cho giặc ?
Sao Thần Kim Quy nỡ đành nói sai sự thật
Để Mỵ Châu muôn đời mang tội với quê hương

Lịch sử có thể nào viết khác hơn
Giải oan cho người chết
Lịch sử có thể nào viết khác hơn
Tại sao nồi da xáo thịt ?

LINH PHƯƠNG

Tổ quốc là gì? Tôi vẫn tự hỏi

tuankhanh

Tổ quốc là gì, mà trước khi chết, Frederic Chopin, nhà soạn nhạc lừng danh của Ba Lan (1810 – 1849) cứ khắc khoải dặn dò trong lúc đau yếu, rằng hãy mang trái tim của ông về chôn cất ở quê nhà? Lưu lạc ở Pháp và Anh suốt trong 20 năm, nhưng Chopin luôn ngóng về đất mẹ, kể từ cuộc nổi dậy của người Ba Lan trước ách xâm lược của đế quốc Nga (1831).

Khi nghe tin cuộc cách mạng thất bại, dẫn đến việc hàng ngàn người Ba Lan phải ra đi lánh nạn, Chopin đã khóc và viết bản Etude cung Đô thứ (Op. 10, No. 12), còn gọi là bản etude Cách mạng, để ghi lại như một dữ liệu âm nhạc cho lịch sử đau thương của tổ quốc mình.

Tổ quốc là gì? Tôi vẫn tự hỏi

Với một nghệ sĩ cello tài danh, được cả thế giới chào đón như Mstislav Rostropovich (1927 – 2007), nơi nào cũng có thể là nhà, nhưng năm 1978 khi bị chính quyền Liên Xô cũ tước quyền công dân Nga, không cho trở về quê hương vì thái độ bất đồng chính kiến, ông đã đau khổ nói rằng “Nước Nga mãi trong trái tim tôi. Vậy mà tôi đã không thể quay lại để nhìn thấy tổ quốc và bạn bè của mình”.

Nhưng sau đó, năm 1991, khi Liên Xô tan rã, Rostropovich vội vã tìm cách bay trở lại Nga, xin một khẩu súng để được chiến đấu cho quê hương mình không còn chịu ách độc tài nữa. Lúc đó ông 54 tuổi, và đang được nhiều quốc gia như Anh, Canada, Nhật, Mỹ… sẵn lòng mời ông làm công dân danh dự của nước mình.

Tổ quốc, trong mỗi con người, ắt hẳn đều có những lý lẽ riêng cho sự ràng buộc lạ kỳ đó. Có thể đó là những lý lẽ dài dòng, hoặc chỉ là những cảm giác mơ hồ nhưng khó thể chối bỏ. Tổ quốc có thể gợi nhớ bằng hạnh phúc hay đau thương nhưng ký ức đó thì sẽ mang theo đến tận cuối đời như một món nợ trong tâm thức về nơi chốn.

Năm 2008, trong một bài nói chuyện về lòng ái quốc tại bang Missouri, ông Barack Obama đã nói với những người rất trẻ về tổ quốc và một tình yêu cho nó “khi đối diện với mất mát và hy sinh, con người trong một đất nước không bỏ chạy, không né tránh mà lại càng gắn kết với nhau hơn để đứng dậy, đó là tình yêu cho tổ quốc”.

Nước Mỹ là một quốc gia phải nói nhiều về tình yêu tổ quốc và giáo dục kiên trì ý tưởng đó, bởi đó là quốc gia của những người nhập cư, bao gồm nhập cư từ chính các nước có tư tưởng thù địch với họ. “Hãy bắt đầu bằng những ký ức đẹp đẽ nhất mà bạn đã sống trên đất nước này, gìn giữ nó bằng cảm giác đơn sơ nhất, thậm chí có thể bỏ ngoài tai các lời tuyên bố hay tranh cãi của các chính trị gia”, ông Obama nói.

Tổ quốc – đất mẹ

Thật bí ẩn khi đem vào tâm trạng của con người nỗi buồn ngập đến lúc ra đi, khi thấy mình bất lực. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888 – 1939) lúc say, đã giắt tấm bản đồ nước Việt rách ở lưng quần, lang thang ca hát nghêu ngao “Dù như sông cạn đá mòn. Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa” (Thề non nước).

Đất mẹ dưới ách thực dân, quan tham dẫy đầy, quân dữ lao nhao, người Việt không còn thương nhau, tổ quốc điêu linh, người trí thức nếu không viết xuống bằng thơ văn, thì biết phải làm sao?”

Tổ quốc là gì mà đời mình phải nhớ, đời sau phải giữ? Nguyễn Phi Khanh (1335 – 1428) khi kháng chiến chống quân Minh xâm lược nước Việt bị bắt, giải qua biên giới chịu tội đã quay lại dặn Nguyễn Trãi (1380 – 1442) rằng hãy quay về tìm cách diệt giặc cứu giang sơn. Trong Hận Nam Quan của nhà thơ Hoàng Cầm có hát lại lời xưa: Về ngay đi, ghi nhớ hận Nam Quan./ Bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt,/ Cha nguyện cầu con lấy lại giang san…

Với những người ghi danh trong lịch sử thì đã vậy, còn với từng con người Việt bình thường, tổ quốc là gì trong trái tim họ? Cô bạn có hơn 20 năm sống ở nước ngoài nói mỗi khi gần Tết Việt, nghe một khúc nhạc quê, nghe mùi hương trầm lại dậy lên nỗi nhớ nhà kinh khủng. Tổ quốc như một vết cắt trong tim, tưởng đã lành với nhiều người đi xa, nhưng không ngờ cứ nhói lên khi nghĩ đến.

Trong các cộng đồng người Việt xa quê, ngày Tết là ngày không thể quên. Nhiều khi Tết chỉ nằm trong trí tưởng tượng, Tết là ngày phiền toái vì phải trữ trong nhà những món ăn dài ngày không đúng theo luật vệ sinh của phương Tây, phải giải thích thật dài dòng cho lũ trẻ về một đất nước với nhiều huyền thoại mà ngày thường chúng không quen.

“Làm sao Việt Nam lại có những câu chuyện kỳ quái như một đôi vợ chồng lại đẻ ra trứng?” – “Nó là huyền thoại để ghi nhớ, để tìm hiểu về một quê hương có thật – mà dù lạ lùng đến thế nào chúng ta sẽ chấp nhận, phải giữ gìn, vì đó là nơi ông cha chúng ta sinh ra”, tôi nghe người cha trong gia đình giải thích cho đứa con sắp vào đại học, nói tiếng Việt đã ngọng nghịu.

Những câu chuyện về Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Ánh… là gia sản lớn nhất mà các bậc phụ huynh có thể tự hào nói với con cái mình – ở những vùng đất mà trẻ con hội nhập cuộc sống mới luôn nhanh và giỏi hơn, thậm chí dạy lại cho cha mẹ.

Quả là từng người Việt vẫn giữ gìn cho mình những điều không giải thích được về đất mẹ, dù khó lý giải được tận cùng các ý nghĩa. Cũng như mỗi người dù đi đâu, nơi nào, vẫn mang trong tim một gánh nặng yêu thương bí ẩn về quê hương, không dễ từ bỏ.

Lễ, Tết trong đời sống Việt xa quê, chỉ là dịp để gặp lại, để nhớ, để kết nối trong trí nhớ những ràng buộc mơ hồ về quê hương – mà đôi khi phải cố quên, nhưng thật dễ bùng lên thương nhớ. Một người bạn đã sống hơn 30 năm ở Mỹ kể rằng những năm 1970, số người Việt cứ báo bệnh, đồng loạt nghỉ vào ngày Tết âm lịch khiến nhiều công ty, hãng xưởng hoang mang, báo cho các cơ quan y tế về một bệnh dịch bí ẩn.

Sau này khi hiểu ra, nhiều nơi cũng châm chước vì đó là ngày không thể thiếu với cộng đồng Việt Nam. “Đôi khi, nghỉ cũng chẳng làm gì. Về nhà pha một ấm trà, ăn một cái bánh chưng và mất một ngày lương nhưng lại thấy vui, vì đó là phong tục xứ mình, phải giữ”, anh bạn Việt kiều kể lại.

Trong lịch sử hơn 2.000 năm không tổ quốc của người Do Thái. Tổ quốc – đất mẹ, là sự khắc khoải, là giấc mơ tìm về không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ. Từ những năm 60 trước Công nguyên, bị đế quốc La Mã xâm lược và xoá tên khỏi bản đồ thế giới, người Do Thái đã lưu lạc khắp nơi, và dù thành đạt ở đâu, đã quần tụ nơi nào… họ vẫn khát khao dựng lại quê nhà.

Trong Bài học Israel của nhà văn hoá Nguyễn Hiến Lê, điều mà mỗi người Do Thái cầu nguyện trước bữa ăn hay chào nhau, đều là “năm sau về Jerusalem”. Con cháu của những kẻ mất quê hương đó luôn được nghe và dạy nói như vậy, để biết và nhớ rằng mình có một tổ quốc.

Thật tuyệt vọng và viển vông với những người Do Thái góp tiền mua lại đất đai ở Palestine, dọn về xây dựng từ khô cằn và hoang mạc. Từ thế kỷ 19 đến sau đệ nhị Thế chiến, đến năm 1948 người Do Thái mới có cơ hội reo mừng dựng cờ trên đất mẹ, dù chung quanh đầy những quốc gia với tình trạng thù địch. Hôm nay, câu chào “năm sau về Jerusalem” vẫn được nhắc lại như một ký ức kiêu hãnh độc tôn của một dân tộc không từ bỏ tổ quốc của mình, dù trải qua ngàn năm quay quắt mong đợi.

Năm sau đến Hoàng Sa

Tôi có một người bạn ở Hà Nội, mà cứ thỉnh thoảng lại thấy ông treo hàng chữ “Năm sau đến Hoàng Sa”. Đó là một người sống cả đời vẫn chưa bao giờ có dịp ra biển đến gần Trường Sa hay Hoàng Sa. Nhưng sự âm vang trong lời hẹn của ông lại là sự khắc khoải kỳ quái đến mức suy nghĩ luôn luẩn quẩn về hai chữ Tổ quốc.

“Năm sau đến Hoàng Sa”, khẩu hiệu ấy đủ sức làm những ai nhìn thấy phải bật nhớ đến biển, đến mộ gió, đến những cái chết oan khiên của ngư dân và thanh niên người Việt được trao trách nhiệm gìn giữ quê hương mình. Đúng là chúng ta đã mất mát quá nhiều, nên đã đến lúc chúng ta cần đứng lại, cùng nhau, trên quê hương này.

Năm nay, tôi lại thấy người bạn đó treo cao câu “Năm sau đến Hoàng Sa”. Thật thú vị, tôi cũng thấy thêm một vài người treo khẩu hiệu đó. Hoá ra những người khắc khoải về quê hương không cô độc, dù là số ít. “Đến Hoàng Sa” chỉ là một khái niệm. “Đến Hoàng Sa” là con đường rất dài – có thể dài hơn con đường đến Jerusalem, có thể dài hơn cả 2.000 năm của người Do Thái, nhưng đó là con đường của những người yêu tổ quốc mình.

Nhiều năm, tôi vẫn không thể nào giải thích được trọn vẹn về ý nghĩa “tổ quốc”. Nhưng trong trí tưởng tượng của mình, tôi nhìn thấy đó là một ngôi nhà chung của bà mẹ Việt đã sinh ra rất nhiều đứa con.

Như trong câu hát Mẹ năm 2000 của nhạc sĩ Phạm Duy, có đứa đã là bạo chúa, có đứa là kẻ hèn, có đứa tham lam muốn bán đứng chính ngôi nhà của mẹ mình… nhưng dẫu thế, những đứa con còn lại rồi sẽ chung tay dựng lại, làm lại từ đầu, dù là tro tàn. Ngôi nhà đó – đất mẹ – và anh chị em tôi, tôi gọi tên, là Tổ Quốc.

TUẤN KHANH