Xuân Đất Khách

trantrungdao

Ai có về bên kia đất nước
Thở dùm tôi hơi ấm quê hương
Tôi, con én lạc mùa xuân trước
Vẫn khóc âm thầm nơi viễn phương.

Vẫn đếm xuân về trên đất khách
Nghe buồn nhỏ giọt xuống vai tôi
Ðèn ai thắp sáng bên kia phố
Nhớ quá, chao ôi, tiếng mẹ cười.

Bếp lửa than hồng sao chẳng ấm
Tôi thèm một chiếc bánh chưng xanh
Thèm nghe ai nói lời tha thiết
Một lời chúc tụng bước sang năm.

Ai có về bên kia đất nước
Chở dùm tôi nỗi nhớ qua sông
Hỡi em, cô gái mùa xuân trước
Còn đứng hong khô áo lụa hồng.

Lòng tôi cũng bạc theo màu áo
Chiếc pháo giao thừa đã tả tơi
Chén rượu mừng xuân tôi chẳng uống
Chỉ uống đêm nay những ngậm ngùi.

Trần Trung Ðạo

TÔI NỢ NGƯỜI ĐẠM BẠC

chuthuynguyen

vuốt ve tôi
cơn gió đầu mùa còn chưa về
từng cánh chuồn bay

con chim sâu chẳng buồn hót
ở chỗ ta nhớ nhau
khóm tre trưa nhớ gió

những con sóng háo hức gọi bờ
ngư phủ chống sào gát tay lên trán ngủ
hải lý nào đợi người?

lỡ thương môi chúm chím
trái rừng ngọt mê tơi
môi đó tôi nợ người

một ngày đau hơn vết thương
tôi quay lại chiến trường
tìm tiếng em khóc ngất

mênh mang lắm
bầu vú xanh ơi! đừng cự tuyệt
em đã bỏ bùa tôi

để lần sau em nhé
những búp lan nở dại
anh sẽ gọi thuyền

về đi! lời mộc mạc
đường cổng trời tối om
tôi nợ người đạm bạc…

Chu Thụy Nguyên

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ (TT)

ledachoanghuu

Dì đã đi bịnh viện.
Nó một mình ở nhà, má nó vô bịnh viện liền luôn. Gần một tuần lễ má đi đi về về, rồi dì cũng về nhà. Chiếc xe xích lô chở dì và má vô tận bên trong, dì vẫn còn đau, đi đứng khó khăn. Nó chạy ra phụ dìu dì vào:
“Dạ, dì mới về”.
Dì nói nho nhỏ:
“Ừa, đì mới về, chà cái thằng hồi nhỏ ú na ú nần, trắng bóc giờ đen như than và ốm nhách, tội nghiệp bây quá”.
Nó cười:
“Tại con dang nắng với lại vọc than đó dì”.
Dì nó quay qua má nó:
“Khổ quá, hay tụi bây dắt díu nhau trở lại trong này, coi vậy chớ trong này còn dễ thở, buôn bán nhỏ nhỏ cũng đủ sống”.
Má nó lắc đầu:
“Dạ, em cũng nghĩ nhiều rồi, muốn đi mấy bận cuối cùng tính tới tính lui hông được đâu chị…”.
Dì nó cắt ngang:
“Sao mà hổng được, người ta sống được thì mình được”.
Má nó tiếp:
“Dạ, hông phải vậy, chị hiểu sai ý em rồi, là vầy, giờ mà đi là chỉ có đi chui ở chui thôi, đâu ai chứng giấy tờ, tụi em lớn thì hổng sao chứ sắp nhỏ lấy gì học hành”.
Dì nó gật đầu:
“Ừa hén, bây nói tao mới nhớ, phải cho đi học kiếm mấy chữ, sau này đỡ cực thân”.
Nó thì thấy học hành bắt đầu chán chán, nửa muốn tiếp tục nửa muốn không, nhưng theo lời ba má thì phải đi. Thằng Cọt đã nghỉ học ở nhà chuyên chăn bò và phụ đi rừng. Nó nhớ lại bữa ngang nhà nghe ba má thằng Cọt cũng cãi rần vụ này.
Ba thằng Cọt:
“Cho nó nghỉ đi phụ tui kiếm ăn chớ học hành làm gì”.
Má thằng Cọt:
“Học hành có lợi sau này”.
“Bà chỉ cái lợi tui coi?”.
“Thì như ông Sáu Hoàng đó, ổng có cái chữ khỏi phải ra đồng”.
“Bà hay quá hén, có mình ông Sáu chớ mấy, mà nói thiệt tại ổng già làm hông nổi nên người ta để ổng cầm viết, còn ông Hai Sài Gòn kìa, thằng Hải tặc kìa, bao nhiêu người nữa đó, chữ nghĩa đầy mình có mần được cài gì hông hay phải cầm cuốc với lại mấy người có mấy chữ cũng làm cán bộ rần rần”.
“Biết đâu có may được như ông Sáu Hoàng, chú Tư”.
“Ở đó mà chờ may rủi, với lại bà có tiền đóng nổi hông, trăm thứ tiền chớ có như xưa đi học miễn phí đâu, tiền cơ sở vất chất, tiền sách tiền vở, tiền bút tiền mực, tiền ủng hộ quỹ này quỹ nọ, phong trào này kia, nói là ủng hộ nhưng thiệt ra bắt đóng hết chớ bộ, biết bao nhiêu là quỹ một năm”.
Má thằng Cọt tới đây hết cãi lại. Thằng Cọt còn bị ghép thêm một tội nặng khó phai dấu tích, vậy là nó phải nghỉ. Mùa nắng, đói khát, bao nhiêu sự thèm thuồng, thèm một lát thịt, thèm một con cá… tràn lên cuống họng đám con nít, đám chăn bò tuổi ăn tuổi lớn, và kế sách bao ngày suy tính bàn bạc được đưa ra, cùng thả bầy bò dưới chưn núi Đất, lùa cho con bò tơ vừa đủ tuổi kéo cày thằng Cọt chăn của hợp tác xã vào gần đám cỏ còn xanh bên trong hàng kẽm gai rồi giả tảng lờ bỏ đi xa, con bò cũng đói với đồng hanh nắng cháy có thua gì xăm xăm tiến lại, một tiếng nổ phát uỳnh tung bụi tung luôn cái cẳng con bò, mảnh đất còn cấm vì chưa gỡ hết bom mìn thuộc cái đồn trấn giữ trên lưng chừng núi, bò ba cẳng chẳng thể trở thành “dân chơi cầu ba cẳng” nằm vật bị xẻ thịt chia thôi, thằng Cọt đã gồng mình chấp nhận mọi hình phạt từ ban đầu rồi…
Dì đỡ bịnh, má con nó trở về. Mang hai chục bánh mì ổ to, bánh mì Sài Gòn thơm ngon, để lâu chỉ xìu xuống, đem nướng sẽ giòn trở lại chớ không cứng như đá và một thùng mì gói về chia cho bà con lối xóm thân thuộc, có được ổ bánh mì, vài gói mì tôm mà như bắt được vàng. Má nó mua thêm chôm chôm nữa, đem trái cây nhiều người thất cười quở: “Trời đất! chuyện nghịch đời, chở củi về rừng”.

***

Họp đội thông báo, mỗi lao động chính phải đóng góp mười ngày công xã hội chủ nghĩa. Nhà nhiều lao động được giảm bớt, nhà nó phải đóng góp ba chục công. Đang mùa nắng, đội làm theo chủ trương xây dựng thủy lợi. Chị nó thay gia đình đi làm cả tháng trời.
Ngày ra quân làm thủy lợi cả hợp tác xã rầm rầm rộ rộ, loa kèn vang vang khúc nhạc, ông chủ nhiệm phát biểu hăng say: “Chúng ta phải thay đổi thiên thời, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”… và ở dưới thì chủ yếu là thanh niên vung tay hô quyết tâm quyết tâm khí thế.
Đại hội hợp tác xã đã bầu chú Tư râu vô ban kiểm soát, đội nó giờ đội trưởng là chú Năm Ngàn. Chú Năm Ngàn xìu xìu ểnh ểnh, nữa muốn làm nửa muốn không, nghe đâu chú Năm có bà con gì với chú Tư râu hay ai đó nên được vận động làm, chú nhận một cách miễn cưỡng.
Chú Năm Ngàn dẫn đoàn người vác cuốc, xẻng, xà beng, gióng gánh đi.
Chú Tám Phèn hỏi:
“Đi làm ở đâu vậy?”.
Chú Năm trả lời:
“Ở núi Đất”.
Anh Hải đất hỏi theo sau:
“Làm thủy lợi là làm cái giống gì?”.
Chú Năm Ngàn như người mơ ngủ ậm ờ:
“Nghe nói đắp đập, đào kinh, đào mương gì đó”.
Anh Hải tặc lắc đầu:
“Ông cũng chẳng biết gì luôn hả?”.
Chú Năm Ngàn làm thinh một hồi lên tiếng:
“Có phổ biến cho tui rồi mà tui thấy nó sao sao á, lên núi đất đào đá khiêng về đắp đập”.
Anh Hải hỏi tiếp:
“Đắp ở đâu?”.
“Ở con suối gần dưới chân núi luôn đó, sẽ có người hướng dẫn chỉ chỗ, đào mương cũng vậy, có mấy ông kia kìa – Chú Năm chỉ mấy người đang vác cái máy đo đạc có ba chưn – Mấy ổng đâu trên huyện về, đo đo ngắm ngắm bữa giờ rồi”.
Đến sườn đồi có bãi đá của núi Đất, đoàn người chia nhau người nậy đá lên người khiên xuống dưới suối cách đó chừng gần cây số rồi toán người dưới suối lựa đá mà xếp chồng lên nhau.
Hai tuần sau con đập hình thành, đập nhìn hoành tráng đắp chắn ngang dòng suối cao vượt bờ, chiều dày thì tới bảy tám thước. Nghe nói có con đập vừa đắp xong, cán bộ vui lắm. Có cụ già lững thững tới coi, chắp tay sau đít, ông cụ cả tóc râu đều dài và bạc phơ đi tới lui một hồi, cười cười phán:
“Tui ở đây gần cả đời chưa thấy ai làm kiểu này, con suối ở đây là con nước hỗn bởi gần nguồn, dốc núi tụ tập đổ xuống, có mưa là ào ào cuồn cuộn, mấy cục đá này có cái gì kết dính đâu, được ba bữa hông bị cuốn mất cái gì tui cũng chịu, nói thiệt nước mà, cho tảng đá cả tấn xuống thử có trôi hông chớ mấy cục lòn hòn”.
Nhiều người nhìn ông cụ mà nghi ngại, anh Ngạo hỏi:
“Chắc hông ông?”.
Cụ già quay qua anh Ngạo:
“Sao hông chắc, tui giỡn chơi à, cá gì tui cũng cá, dám bán nhà tui cũng cá”.
Anh Ngạo gục gật:
“Con hông dám cá với ông đâu, nghe ông nói có lý, với lại bữa giờ cũng nghe mấy người nói rồi”.
Dì Tư Thể hỏi:
“Mày nghe ai nói mậy, nói ba xàm coi chừng bị gông cổ nghe con”.
Anh Ngạo lè lưỡi:
“Có nghe thì nói có nghe, dám nói bậy, tui đâu muốn xộ khám”.
Anh Hải đất thấp thởm:
“Nghe ai nói nói lẹ coi”.
Anh Ngạo tiếp:
“À, hổm tình cờ tui nghe mấy ông kỹ sư đo đạc nói đó…”.
Dì Tư cắt ngang:
“Nói sao, mày cứ cà dần cà dà như ông già”.
Anh Ngạo cười khì:
“Thì một ông nói giống ông già là nghi quá, rồi một ông cản lại kêu thôi mày ơi, bàn cãi gì nữa, ở trển quyết vậy rồi cứ làm thôi, mày hông thấy ông tổ trưởng mình hả, ổng cãi bây giờ ngồi chơi xơi nước đó, hông chừng cho giảm biên chế thấy cha luôn”.
Chú Tư râu đứng sau đâu nãy giờ mặt đanh lại:
“Thôi nghe mậy Ngạo, mày làm hông lo làm đi hóng chuyện, nói hoang đàng chi địa, còn ông già cổ hủ ơi, thời buổi giờ khác xưa rồi, người ta làm có sách có vở, có tính có toán chớ khơi khơi đâu, ông về dùm đi, ăn nói lung tung quá”.
Ông cụ lắc đầu nói ngắn gọn và bỏ đi:
“Để rồi coi”.
Anh Ngạo không chịu thua:
“Đúng đó cứ để rồi coi” – Quay qua chú Tư râu, anh Ngạo tiếp: “Tui có sao nói vậy nghe ông, nói chình ình ngay lỗ tai tui tui phải nghe thôi chớ thèm hóng à, ông đừng gắp lửa bỏ tay người”.
Anh Ngạo mới đi làm chung với bà con đợt này, anh không chỉ ngang tàng hơn anh Hải tặc mấy lần mà còn ba lém nữa, nghe đâu anh là dân chợ búa đâu đó mới chuyển về. Anh Ngạo suốt ngày cà khịa nhứt là với chú Tư. Có mặt chú Tư bà con mỗi người lôi tên anh Ngạo và vài từ tưng tửng: “Ngạo đâu? Có Ngạo. Ngạo nè. Ngạo à, Ngạo hả? Ngạo luôn. Làm một ngạo đi. Cho một Ngạo. Chơi một Ngạo…”. Chú Tư đã khổ với anh Hải nay lại thêm anh Ngạo.
Đắp đập xong tới đào mương. Đào băng từ đập đá về cánh đồng lớn, cánh đồng này thuộc hai đội ba và đội bốn. Giữa trời nắng nóng, nắng đôi khi muốn cháy da người, nhiều người sạm đen như người ở vùng xích đạo, đoàn người lầm lũi đào tung bụi mù, gặp chỗ đất mềm không nói gì gặp chỗ đất cằn sỏi, đất gò chỉ có nước than trời, than đất, tiếng cúp cuốc xuống nghe chát chúa mà chẳng xuống được bao nhiêu, băm băm như đục đá, còn gặp phải đá thì tóe lửa xoẹt xoẹt…
Một buổi chiều vừa xong giờ làm, chú Năm Ngàn gặp anh Hải tặc và anh Ngạo:
“Tối mày về làm dùm tao cái bảng kiểm điểm”.
Anh Hải và anh Ngạo ngạc nhiên:
“Kiểm điểm vụ gì cha nội?”.
Chú Năm giải thích:
“Hai thằng bây xuyên tạc bậy bạ quá”.
Anh Hải cãi lại:
“Tui xuyên tạc cái gì?”.
Chú Năm nói:
“Hổm thằng Ngạo hát hò tầm bậy tầm bạ mày cũng rần rần hát theo mà hông chịu dòm rước ngó sau để ông Tư ổng đi ngang ổng nghe”.
Anh Ngạo cười hà hà:
“Ạ, tui hát bài nhạc chế, cây cuốc cong mình chờ mong cho nó gãy cây cuốc gãy thì mình khỏi ra đồng, khỏi ra đồng thì đừng mong có lúa… chớ gì, tui hát chọc cười bà con chơi cho qua cơn mệt chớ gì mà la làng”.
Anh Hải nhếch mép:
“Cha Tư này thù vặt, chả ghim tui lâu lắm rồi, nay thêm cha Ngạo gặp chuyện chả làm tới”.
Chú Năm năn nỉ:
“Thôi lỡ rồi, làm ơn viết đại vài dòng cho nó qua chuyện, đừng làm khó tao nữa”.
Anh Ngạo gật gù:
“Ờ, viết thì viết ba mươi giây xong ngay, có khỉ gì, ông Hải sẵn chữ viết dùm tui luôn cái coi, tui hậu tạ ông sau, mà ông viết mùi mùi nghe ông”.
Anh Hải gật đầu:
“Để tao viết, mày làm như ca cải lương viết mùi mùi, một xị đế nghen mậy”.
Anh Ngạo cười ha ha:
“Cho ông một lít lên bờ xuống… mương luôn”.
Hai tuần sau mấy cây số mương về tới cánh đồng cũng là xong công xã hội chủ nghĩa.

***

Nó bị hai trận đòn nhớ đời!
Một trận lỗi nó.
Đội có thêm quy định về tiếng kẻng, thứ sáu hoặc thứ bảy hàng tuần lúc hai giờ có bốn tiếng kẻng báo hiệu bà con tới nhà ông Sáu Hoàng mua cá, cá từ dưới thị xã lên bán theo tiêu chuẩn. Lúc này bán hàng cho dân nhà nước có thêm cái cửa hàng thương nghiệp cấp ba và bán theo tem phiếu, theo sổ hộ gia đình. So với giá bên ngoài, ở chợ thì kiểu bán này rẻ hơn rất nhiều. Mất cái sổ hay tem phiếu là khổ, coi như đói, gặp gượng mặt nhăn nhó khó chịu người ta ví như mặt mất sổ gạo là vậy. Tem phiếu tính theo nhân khẩu, nhà nó mua được bốn ký cá. Và nó được giao canh giờ nghe tiếng kẻng để đi mua. Mua cũng vậy, bán mua bao cấp, nhà nước lập mấy trạm thu mua lương thực, nông sản của dân giá theo quy định cũng như bán rẻ như bèo.
Thứ sáu nó nằm dài cổ chờ, lâu lâu nghe văng vẳng tiếng két két keng leng là nhổm dậy liền nhưng nghe kỹ thì không phải, bốn tiếng kẻng rất rõ ràng. Chiều thứ bảy nó tiếp tục ngã người trên tấm phản dưới gốc mít trong cái gió liu riu. Gió liu riu buổi chiều làm mắt nó ríu xuống vậy là chìm vào giấc mộng. Oánh một giấc đã đời giựt mình thức giấc, trời ơi đã bốn giờ. “Vắt giò lên vai” mà băng đường tắt bất kể gai gốc phi tới nơi xếp hàng và dĩ nhiên là… xếp chót, cuối cùng tới lượt thì còn được… một ký mà bác bán hàng ngắt bớt vài con của người này người kia dành cho.
Tối về nó ăn nó một trận đòn. Má nó nghi cho cái tội ham chơi. Mà cho ăn đòn cũng phải, nó không trách móc gì. Lấy đâu tiếp tế vô trong rẫy cho ba nó, làm lụng cực khổ với cái nắng gay gắt lại nhai toàn với mắm muối, vài con khô đét làm sao chịu thấu. Ngoài chợ thì cá hiếm, cá mắc mỏ có mua nổi đâu. Bị oánh đau thiệt nhưng còn khó trào nước mắt hơn hổm trước, nó tận mắt thấy, má đi chợ mua được mớ cá mua luôn mớ đầu cá nói về cho heo, má nó chẳng dám ăn cá chừa để đưa vô rẫy cho ba và vài con cho anh em nó, còn mình lặng lẽ lựa trong mớ đầu cá, đầu nào còn tươi còn ngon đem kho cho mình, cá dành cho heo thử hỏi cái nào còn ngon (?!).
Một trận thì oan ức.
Tóc quá dài, cô giáo nhắc mấy lần nó giả tảng lờ, không biết cách nào kiếm tiền mà xin má thì ngại quá. Cô giáo hăm lần cuối: “Em không hớt cô gởi giấy về mời phụ huynh lên đó”. Nó vắt óc suy nghĩ rồi nảy ra một ý, đi học về ghé vô tiệm hớt tóc ông Tư bạc, tiệm không có khách, ông Tư ngả người trên ghế ngáy khò khò, nó ngồi đợi, quá giấc trưa có lẽ tới giờ đói ông Tư thức giấc, thấy nó ông hỏi:
“Hớt tóc hả nhóc con, sao hông kêu ông dậy?”.
“Dạ, con thấy ông ngủ ngon quá”.
Ông Tư tiếp:
“Nhưng chờ ông về ăn cơm cái đã”.
“Dạ, ông ăn cơm lẹ lẹ nghe ông, con chờ ông oánh cờ…”
Nghe tới oánh cờ, “món” khoái khẩu của ông, ông mê lắm nên phủi tay luôn:
“Oánh cờ hả, oánh luôn, cơm nước từ từ”.
Nó cũng muốn oánh cho nhanh để còn hớt tóc rồi về:
“Nhưng con có giao kèo”
Ông Tư lấy bàn cờ ra:
“Nói nghe coi”.
“Dạ, oánh ba ván, nếu con thắng, ông hớt tóc cho con hông lấy tiền, con thua con mới trả”.
Ông Tư gật gù:
“Được”.
Bàn cờ được sắp ra, ông Tư nhường nó đi trước, cùng dàn trận nhanh cấp kỳ rồi từ từ ông Tư chậm dần, suy đi tính lại từng nước đi. Cuối cùng ông thắng, ván đầu tiên coi như nó đi tong. Nó tự dặn mình phải chậm rãi, không được lơ là bởi phân tâm lúc chờ ông Tư. Ván thứ hai lấy lại quân bình, một đều. Ván thứ ba tiếp tục xảy ra căng thẳng, nó tập trung hết mức, nếu thua ván này thì toi mạng à. Ông Tư bóc con xe vượt sông thẳng tiến, thấy ông bị hở sườn nó với tay định bóc con xe phản công, ông Tư ngăn lại:
“Khoan khoan, hông đi con đó”.
Ông Tư đi con khác, lát sau tới nó đi trật nước cờ ông Tư cười khà khà:
“Chiếu bí nghe con”.
Nó giựt con cờ lại:
“Khoan, con đi lại nước này”.
Ông Tư trợn mắt:
“Thua rồi, đi lại cái gì”.
Nó sấn cổ cãi:
“Thì hồi nãy ông cũng đi lại đó, nếu hông con đi nước nữa là chiếu ông rồi”.
Ông Tư gãi đầu:
“Ờ… ờ… thì… thì đi lại đi”.
Chơi một chập nữa nó chiếu bí, ông Tư bực tức hết xưng con:
“Ván này hông được mày, huề đi, chơi lại ván mới”.
Nó nhìn mặt trời, trời đã quá xế nhưng nó cũng chẳng biết làm sao đành gật đầu:
“Nhưng lần này hông có đi lại đì gì hết nghe ông”.
Ông Tư rổn rảng:
“Hạ thủ bất hoàn, oánh lại ba ván, hông như ba ván hồi nãy”.
Thấy ông Tư không về ăn cơm, con ông đơm một cà mèn xách ra, gặp ông oánh cờ, chị này nói:
“Trời, ba oánh cờ quên cơm luôn, thôi ba nghỉ chút để đói à”.
Ông Tư ậm ờ:
“Ờ để đó, tao ăn giờ”.
Ba ván tiếp theo tỷ số là 2-1 nghiêng về… nó. Nó mừng rơn dợm đứng dậy bước vô ghế hớt tóc, ông Tư đập tay vô bụng:
“Khoan mày, tại tao đói quá… run tay chớ dễ thua hả, ba ván nữa mày”.
Nó tui nghỉu:
“Con cũng đói vậy, ông chơi… ăn gian”.
“Ăn gian hồi nào, mày ăn gian thì có, tao đói nói tao đói”.
Hai mái đầu, một bạc trắng, một còn xanh… non còn cãi qua lại một chập nữa, biết khó thay đồi ý ông Tư, lỡ ông hông chịu hớt tóc cho thì khổ, nó dịu dọng:
“Thôi, oánh ba ván nữa, nhưng ông ăn cơm đi để hồi ông đổ thừa”.
Ông Tư gạt ngang:
“Oánh tiếp, tao hết đói rồi, hạ thủ bất hoàn nghe mậy”.
Chú Tám Phèn ghé vô tiệm hớt tóc ông Tư:
“Chú Tư hớt cho con cái tóc”.
Ông Tư ừ, à:
“A… a, mai đi Tám”
Chú Tám hỏi lại:
“Sao giờ hông hớt, mê cờ quá hả”.
Ông Tư không ngẩn mặt lên:
“Làm gì có, tại… tại… gởi cái dao cạo… đi mài rồi, mai mới lấy, hớt hông cạo coi sao được”.
Chú Tám nửa tin nửa ngờ nhưng thấy ông Tư chăm chú vào ván cờ quá nên thôi:
“Dạ, thôi mai con ra, chà thằng nhỏ con anh Hai oánh cờ cũng dữ hen, dám oánh với ông Tư”
Nó cười cười:
“Dạ, oánh cho vui chớ con oánh dỡ ẹt”.
Hai ván tiếp theo bất phân thắng bại, lại là 1-1. Ván thứ hai oánh trong trời nhá nhem cho tới hết thấy đường, chuẩn bị ván thứ ba, nó đứng dậy:
“Dạ, thôi coi như huề, con về” – và nó chờ trận đòn.
Ông Tư lần chần, rồi đứng dậy đốt cây đèn dầu:
“Khoan, vô đây ông hớt nhanh cho rồi về”.
Ngồi lên ghế mà lòng thấp thởm, hớt xong nó lóng ngóng:
“Dạ… dạ… con hông có tiền”.
Ông Tư cười xuề:
“Ông hông lấy tiền, biết bây làm gì có tiền…- ông Tư được nước nói luôn – Ông thả cho bây đó chớ”.
Nó mừng quýnh chạy biến trong bóng tối nói với lại:
“Bữa nào rảnh con ghé oánh cờ với ông Tư”.
Nhưng nó vẫn không thoát trận đòn vì cái tội đi biền biệt.

***

Mỗi lần bị oánh đòn đau thì có đau nhưng thường hay được bù cho những thứ khác sau đó như dành cho sẵn nguyên con cá tươi ngon trong bữa cơm, nấu chén chè chén cháo… Gắp con cá cho mà má nó rưng rưng, nó cũng vậy, biết má nó đâu muốn oánh chỉ vì quá nóng giận và trong hoàn cảnh này khó có thể không bực tức. Cá chè… nó khoái lắm nhưng khoái nhứt là tối đến được má cho gát đầu trong lòng nằm trên bộ phản để má mân mê tuốt trứng bắt chí trên đầu, đã ngứa và êm ái vô cùng và lại còn được nghe tiếng ngâm nga những câu ca dao, những bài hát dân ca, có những bài mà mãi về sau này nó không thể quên:

“Ngó lên hàng kẽm Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi
Thương cha nhớ mẹ thì về
Nhược bằng thương cảnh nhờ quê thì đừng”.

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”.

“Ngó lên hàng núi cao măng
Thấy ba ông đội cởi trần nấu cơm
Một ông xách chén đòi đơm
Hai ông ứ hự nồi cơm đương vần”

“Đói lòng ăn nửa trái sim
Uốn lưng bát nước đi tìm người thương
Người thương ơi hỡi người thương
Đi đâu mà để buồng hương lạnh lùng”…

Má nó như cái kho tàng chứa ca dao dân ca, tục ngữ, bài vè, câu hò câu hát, hát đối hát bội… phải nói nhiều như trứng như chí trên đầu nó. Nó chẳng mắc cỡ vì điều này, ai ai từ lớn tới nhỏ lại không vậy, nó còn ít hơn đó chớ. Nhiều đứa trứng trắng đầu, trứng no tròn bóng lưỡng đi trong nắng mà thấy ánh lên những tia phản chiếu, có đứa đang học ngứa quá, lấy tập để trước mặt, tay quào quào cào cào mái tóc là chí rớt lộp độp xuống, ấn ngón cái giết kêu lốp bốp. Lại có đứa chí mén nhỏ xíu len lỏi trong từng chân tơ kẻ tóc rất khó bắt, khó chải rơi rụng hết bị cắn ngứa quá gãi tróc da đầu thành ghẻ chóc lục cục đầy. Có đứa phải cắt tóc sát nhưng thành lỏm chỏm để trị ghẻ, cạo đâu có được. Còn có chuyện rùng rợn, có đứa em của thằng nào đó mà nó không dám nhớ tên đau nhứt cái ghẻ chóc trên đầu quá, đứa anh gở mày ghẻ thì thấy cái chấm trắng ngỡ là mủ nhưng nặn hoài không ra, cưng cứng và lâu lâu nhúch nhít, kiếm được cái nhíp khựi và gắp ra thì muốn té ngửa, là con dòi, trời ơi nó đóng xung quanh sắp lớp một dề, gắp ra gần cả chục con, nghe muốn ớn lạnh hơn cảm cúm. Chí nó sanh và lây lan lẹ làng kinh khủng trong khi xà bông nào có, có được xà bông cục 72% cứng như đá hay hộp xà bông kem màu xam xám sền sệt để giặt giũ, ai lấy gội đầu tóc cháy vàng hoe như râu bắp. Nhiều người lấy sáng kiến từ cách giã than nhuyễn hay cát để rửa chén với sơ mướp khô cho bớt dầu bớt mỡ, bỏ lên đầu mà gội nhưng có mấy công hiệu gì, tội tình thêm, rồi tìm kiếm lá này lá nọ nấu nước tắm gội mà trị. Lâu lâu dì nó gởi ra ít đồ trong đó có cục xà bông gội Camay hay Lux là mấy chị nó nhảy chân sáo cất kỹ đâu tới lượt mấy nhóc con. Ôi thôi! đâu chỉ vụ chí đã khổ không đâu, lại sanh đâu ra rận rệp, rận rệp trong ngóc ngánh nào trên giường, trên mùng mền, chiếu gối nó cũng chui rúc ẩn mình được, chờ chực đêm về có hơi người là mò ra mà chích, mà hút máu, rận rệp sanh cũng không thua kém gì con chí. Dăm ba bữa phải đem vạt giường, chiếu gối… ra sân nắng đập giũ và phơi, sanh nhanh quá cách bình thường giết bằng tay trị không nổi phải dùng tới thuốc rày mà phun mà phết, nhà cửa vương vấn cái mùi nồng nặc của thuốc, thuốc rày độc hại khỏi phải nói, vậy mới giết

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

NGỒI DƯỚI TRĂNG TAN

hacthanhhoa

Khi trở lại thành phố sầu quá khứ
Mây bỗng tan thành lệ xót thương đời
Em bỗng chốc thành vầng trăng xa lạ
Nhỏ mật vàng cho đắng khắp hồn tôi…

Như con thú nhận mũi tên tẩm độc
Một phút thương em biết mấy thu sầu
Ta muốn lánh mọi người nghe tình khóc
Một mình nằm chết lặng giữa hang sâu.

Rất sợ phải nhìn trăng mới mọc
Một vùng ánh sáng lạnh buốt thân
Trăng càng cao hồn càng điên điên mãi
Nguyệt bạch tan thành một cõi băng.

Trăng thành nước lạnh xối trên da
Vàng phai từ độ bóng nguyệt tà
Những đêm măt đất mênh mông quá
Một bóng ta dài xa rất xa.

Từ nay xin trăng đừng mọc nữa
Mỗi giọt trăng mang một biển sầu
Trăng nhìn đắm duối làm ta sợ
Những sợi tơ mềm đủ giết nhau…

Khi trở lại thành phố sầu quá khứ
Mây đã tan và trăng đã tan rồi
Chỉ còn lại nỗi sầu như con thác
Cứ đêm ngày tuôn mãi xuống lòng tôi.

Hạc Thành Hoa

Mặt trời đi đâu?

tranthienthi

mặt trời ngã xuống
chẳng biết nằm chỗ nào bên núi bên kia núi
ta đứng giữa chiều mà tiễn ngươi di
chẳng biết ta chiều
hay em chiều
mà trời tắt nắng
mặt trời sẽ nằm thế nào trong đêm.

chúng ta giống đêm ở sự lặng im
cái lặng im của biển
cồn cào những sóng
đêm chưa bao giờ đòng nghĩa với cái chết
chén rượu ven đường
giục một cơn say.

tôi nhớ về buổi chiều
em và và những viên gạch trên tường
ám ảnh như nhau
những viên gạch
muốn giữ lại sợi khói lò nung đi theo mình suốt kiếp
em ngồi canh một lời hẹn
cái vui buồn đến tận trăm năm.

thực ra mặt trời chưa bao giờ ngủ
cho dù
cứ mỗi chiều lại đi về bên kia núi
em vẫn cứ nằm mà buồn
và tôi
nhớ người đau đáu.

này đưa bàn tay đây
tôi cầm
đừng hỏi để làm gì
đưng hỏi tại sao
chút hơi ám trước trời tháng chạp
cái tôi còn
và có thể chia nhau

trần thiên thị

NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC

khuatdau

xiếc của người

Chợ nằm bên bến sông, nhưng không trên bến dưới thuyền mà chỉ có một con đò rách do một ông lão lái. Một năm chỉ có mấy tháng mưa lũ là có khách, còn thường ngày, người ta cứ việc xắn quần lên mà lội. Chợ phiên của làng nên dọc một hàng dài trước chợ ưu tiên cho những gánh cốm đặt kề nhau san sát. Rồi hàng gốm, hàng thổ sản, hàng cá, hàng mắm đều bày ra giữa trời, dưới những tàn cây. Chỉ có hàng xén là được kê lên cao trên sạp bằng tre trong những chiếc lều xiêu vẹo. Những cô gái đẹp thường là chủ hàng, bán được ít lâu các cô theo chồng, để lại không ít ngẩn ngơ cho một vài ai đó.
Chợ cũng là nơi kéo đến khá đông những mụ ăn xin rách rưới, những lão thầy bói giả mù. Đôi khi còn có thêm một gánh xiếc nhỏ, bày ra một vài trò lạ để bán thuốc. Như cái trò bào thai nằm trong bụng mẹ khá kỳ dị của một cặp vợ chồng nghe đâu ở tận Cà Mâu ra.
Khi phiên chợ bắt đầu đông người, anh chồng đem ra một chiếc bình thủy tinh to cỡ vò nước đặt lên bàn, hỏi: “Có ai thấy cái bào thai nằm trọng bụng mẹ chưa? Chưa hả? Thì Coi này!” Và, một con bé chừng 10 tuổi gần như trần truồng leo lên bàn, chầm chậm cho hai chân vào bình. Rồi em từ từ hạ cái mông teo tóp xuống sát đáy, cùng một lúc co hai chân khẳng khiu lên, hai tay ôm lấy gối, sau cùng là rụt cổ cho đầu vào, nhắm mắt lại. “Mình ơi, anh ta kêu lên, có phải con em nó nằm trong bụng mình như thế này phải không?” Chị vợ đứng gần đó gật đầu nói “phải”. Mọi người đang quây kín vòng trong vòng ngoài cứ trố mắt ra mà nhìn, bàng hoàng như vừa trông thấy một phép lạ. Rồi như bị ma ám, ai cũng đâm ra tin những gì anh ta nói, thì cứ cho là mù quáng đi, nhưng mớ lá cây và rễ cây lộn xộn chẳng biết cây gì mà anh ta bảo là trị bách bệnh, chỉ trong chốc lát đã được bán sạch.
Đứa bé xong việc chui ra ngồi thụp xuống đất, liền được bọn trẻ con bu quanh. Chẳng những để nhìn mà chúng còn muốn sờ thử xem người thật hay con gì đó như con rắn, con trăn đã biến thành người nên mới chui được vào bình một cách ma mị như thế. Rõ ràng là em đang thở và cái ngực mỏng dính với hai núm vú nhỏ như hai hạt đậu có khác chi mọi đứa bé trong làng, nhưng chúng vẫn cứ hồ nghi. Vì vậy, khi một đứa trong bọn bất ngờ kêu lên: “ma! bay ơi, ma!” thế là cả bọn rùng rùng bỏ chạy như bị ma đuổi.
Có một đứa chẳng những không chạy mà còn bước tới gần hơn, đưa miếng cốm đang cầm trong tay cho con bé như muốn nói: nó tin em là người thật. Con bé ngước đôi mắt có hai hàng lông nheo cong vút lên nhìn nó. Em ngập ngừng thò bàn tay nhỏ như một búp hoa ra cầm lấy. Rồi lại ngập ngừng đưa lên miệng, cắn một vài hạt, nhai tí tách. Nó nhìn cái miệng con bé, nhìn những hạt cốm thấm nước bọt, nhìn đôi mắt đen to và nhoẻn miệng ra cười.
Thế là chúng làm quen nhau, con bé ăn mà không nói, nó cũng nhìn thôi chứ không biết nói gì. Nhưng cả hai đứa tưởng chừng như đã quen nhau lâu lắm, còn hơn thế nữa, cùng ở chung một nhà. Khi cha mẹ thu dọn xong đồ đạc kêu con bé đi, nó cũng đi theo. Ra khỏi chợ, đi xuống đò có ông lão ngồi chờ, nó cũng theo xuống luôn. Cứ thế, nó không rời con bé nửa bước cho đến khi người đàn bà nhận ra có một điều gì gần như là của trời cho, chị ta liền kề tai chồng nói nhỏ gì đó và anh ta vội vàng đến bên thằng bé, đưa tay ra nắm chặt lấy tay nó.
Mãi đến khi chợ tan, người mẹ xao xác kêu con ơi, con hỡi mà không nghe nó “ơi”, mới hay là mình đã lạc mất con!

Có được thằng bé như bắt được vàng, hai vợ chồng liền dông tuốt vào nam, bỏ lại sau lưng những phiên chợ quê, mà ở đó sự nghèo đói, sự khờ khạo đã giúp cho cả hai có một thời rủng rỉnh bạc tiền. Chồng, người to khỏe, trên mình xăm rằn rịt như thuồn luồn, có một vẻ gì đó giống như người Miên với nước da nâu bóng, tóc quăn quăn. Hắn làm nghề ăn ong nếu có thể gọi đó là nghề, len lách quanh năm giữa những cánh rừng tràm bạt ngàn trước khi làm cái nghề bán thuốc. Vợ, có cặp mắt lúng liếng chết người, đi ở đợ bị bà chủ dữ như cọp ghen ngất trời xẻo mất một bên vú. Cả hai gặp nhau khi hắn ta cho chị ta một nắm lá (không biết lá gì, hắn bí mật không nói) để đắp lên ngực mỗi khi đau nhức. Hắn bảo hắn thương cái vú tội nghiệp đó, phải nói là tiếc thì chính xác hơn, vì mỗi khi hành sự bàn tay hắn thấy thiêu thiếu và hắn thề là sẽ cắt cả hai khi gặp con mụ đàn bà ác độc kia. Nhưng khi gặp rồi, trong một đêm trăng trên bến sông, thay vì nghiến răng xẻo một phát cho hả giận, hắn lại đặt môi lên hôn rồi làm này nọ các thứ, coi như đã trả thù xong cho vợ. Hắn bảo, đối với đàn bà, làm như thế là đủ nhục lắm rồi. Chị vợ hứ cái cốc, bảo “vậy tôi đã bị anh làm nhục biết bao nhiêu lần rồi, hả?” Hắn nói, “tụi mình thì khác, chuyện đó coi như cơm ăn nước uống, không ăn sao mà sống được!”
Đứa con gái kia cũng không phải là con đẻ của hai người. Nó là con của một người đàn bà dân tộc, mới sinh chỉ được ba ngày đã bị dân làng bắt phải chôn theo mẹ, vì mẹ chết nó cũng sẽ chết thôi. Hai người, trong một lần luồn rừng ăn ong, đã liều mạng cướp lấy nó đem về nuôi. Đứa bé có nước da màu mận chín chứ không đỏ hon hỏn, được chị vợ bỏ vào gùi đeo miết trên lưng. Ăn, ngủ, thức, ngay cả chơi cũng chỉ ngọ ngoạy trong chiếc gùi chật hẹp. Lâu ngày lưng nó cong vòng, chân tay mềm oặt đến nỗi có thể cuộn lại như một con cuốn chiếu. Thế là, hắn nảy ra cái ý định tập nó chui vào bình như làm xiếc để dụ người ta tới xem mà bán thuốc.
Để có được cái trò lạ mắt không gánh xiếc nào có được, hắn cũng phải tốn không ít tiền bạc và công sức. Hắn tập ngày tập đêm khiến chân tay đứa bé lúc nào cũng trầy trụa, đau nhức. Muốn mau kiếm ra tiền, hắn cứ giục “ráng lên con, ráng lên chút nữa, chỉ còn cái đầu thôi mà!”. Rồi vì quá nóng ruột, hắn bôi mỡ lên khắp người đứa bé, cố ấn cái đầu bướng bỉnh của nó xuống, mím môi ấn mãi cho đến khi lọt thỏm vào bình. Đứa bé sợ hãi khóc è è còn hắn thì nhảy cẩng lên reo mừng: “được rồi! được rồi đấy con!”.
Nhưng hắn bỗng kinh hoàng nhận ra đứa bé đã bị nêm chặt như một cái nút chai, coi như nó sắp bị chôn sống một lần nữa. Hắn vò đầu bức tóc, loay hoay mãi mà không làm sao kéo con nhỏ ra được, đành phải xách búa mà nện vào bình. Đứa bé chết hụt, cứ trông thấy chiếc bình là sợ run. Hắn phải dỗ ngon dỗ ngọt, hứa xuống phố mua búp bê, mua quần áo đẹp; rồi lại dọa bỏ vào rừng cho cọp tha hay bị đười ươi bắt dẫn vào hang làm vợ, mãi đến mấy tháng nó mới biết cách tự mình chui vào rồi chui ra như một con ốc mượn hồn. Nó cũng bắt đầu thấy thích thú khi nằm cuộn tròn trong đó, nên thay vì chui vào nốp ngủ, nó lại chui vào bình.
Đã 5 năm rồi nó giúp hai người không phải sống trong rừng vừa thiếu thốn vừa đói khát: chồng chiều tối nào cũng có bữa nhậu, vợ mặc quần lĩnh cổ đeo kiềng vàng. Giờ nó đã lên mười, sắp bước vào tuổi dậy thì, dù có bắt nhịn ăn nó cũng sẽ lớn phổng lên, biết làm cách nào mà chui cho lọt. Chỉ có cách thay bình to hơn, nhưng cách ấy thì đành dẹp bỏ nghề vì bình cỡ lớn phải đặt mua tận bên Tây, lại thêm tiền chuyên chở nữa, có mà bán nhà nếu hai người có nhà.
Đang lo con bé lớn quá coi như mất cái cần câu cơm, thì bỗng dưng như từ trên trời rơi xuống, có được một thằng bé bảo đi là đi, bảo xuống thuyền là xuống, răm rắp nghe theo không khóc không la cứ như bị thôi miên. Nó sẽ thay con Mị Lan mà chui vào bình, sẽ nối tiếp cái trò bào thai trong bụng mẹ để kéo khách đến dài dài cho họ. Hai người liền bỏ tên cũ đặt tên mới cho nó là Đông Nhi, vừa hay hơn mà cũng vừa để chẳng còn ai tìm được nó.
Đông Nhi lúc ấy 5 tuổi mà đã cao gần bằng Mị Lan, nên phải tập ráo riết thôi. Khổ nỗi, đứa bé ấy chỉ nằm cuộn tròn trong bụng mẹ có mỗi chín tháng và mười ngày. Khi sinh ra, nó đâu có lớn lên trong gùi, cùng lắm khi vui mẹ nó lật ngửa cái nắp bầu đựng cốm ra, đặt nó nằm lên rồi lo bán hàng. Đến khi biết đi biết chạy, thì nó như con gà con vịt con chó con mèo, cứ việc chạy nhảy vui chơi thõa thích. Vì vậy tìm cách bắt nó chui vào bình như Mị Lan là rất khó, nếu không muốn nói là không thể được.
Nhưng cặp vợ chồng dễ bị kết tội là mẹ mìn này lại cứ tưởng hễ muốn là được, nên chồng thì mua thuốc võ, vợ mua than quạt lò, ngày nào cũng đem nó ra mà thoa bóp hơ hóng. Thuốc gì lạ lắm, gắt gắt cay cay chứ không thơm mùi quế và mật ong như thuốc bắc. Thuốc thấm vào da chạy rần rần, lửa nóng đến nỗi làm tay chân bốc khói, trông nó giờ như miếng thịt đã được ướp gia vị đang nướng trên lò than, chỉ thiếu là không nhỏ xuống những giọt mỡ bắt lửa kêu xèo xèo. Hai người ra sức bóp nặn, phải nói là hành hạ thì đúng hơn, suốt cả mấy tháng cũng chỉ làm cho nó co được hai chân lên ngực, còn đầu và tay thì không cách gì cho vào bình được.
Đã có lúc đâm ra nản, nhưng rồi cuối cùng hắn cũng nghĩ ra được một trò mới, ấy là thuê thợ thiếc hàn một cái ống thủng hai đầu như cái trống cơm chưa bịt da. Đứa bé bị hắn bẻ gập làm đôi, nhét cả chân và mình vào rồi nhấc cả ống lên mà xóc xóc, một lúc sau nó khó nhọc chui ra như một con bê đẻ ngược. “Vung hai tay lên coi, ờ, giỏi lắm!” Cái ông kẹ mà trẻ con chỉ nghe dọa chứ không thấy giờ đang đứng trước mặt nó, miệng ngọt ngào thế chứ ăn thịt nó mấy hồi!
Cái trò này tuy không nghẹt thở bằng trò chui vào bình, nhưng xem ra cũng lạ con mắt. Cái khó là đứa bé bị gập làm đôi với tay chân lèo quèo mà vẫn lọt qua được cứ như một viên đạn vọt ra khỏi nòng một khẩu súng thần công, nên hắn đặt tên là súng bắn thịt. Chị vợ đứng xem bảo “ngộ quá ta, mình lập luôn gánh xiếc đi, bán vé một đồng một người, chứ bán thuốc gặp ai cũng bị chửi”. Anh chồng cười, “nếu thế mình mua thêm một con khỉ nữa. Xiếc mà không có khỉ đâu ra xiếc”. Chị vợ hào hứng bảo “mua thêm trăn, anh to con quấn trăn lên cổ, coi đã lắm à”.
Thế là bọn họ lập ra một gánh xiếc thật sự với hai tài tử là Mị Lan và Đông Nhi, đặt tên là Xiếc Lan Nhi.

Phải gọi là gánh xiếc bỏ túi thì đúng hơn, vì cả người và thú nằm gọn trong lòng một chiếc xe ngựa, sáng chiều lọc cọc từ làng này sang làng nọ. Vật dụng quý nhứt vì đắt tiền và dễ vỡ là chiếc bình thủy tinh, được bọc trong một chiếc mền chuột cắn rách lỗ chỗ. Con khỉ có dây xích được móc vào thùng xe mà vẫn cứ nhảy choi choi, con trăn thì ngoan hơn nằm ngủ im trong một cái lồng sắt.
Đến một ngã ba thôn hay trước một cổng làng, chủ xiếc gò cương cho ngựa dừng xe lại. Bọn trẻ con lúc nào cũng là những khách không mất tiền nhưng được cái ồn ào vì có mặt sớm nhất, coi như chúng quảng cáo giùm.
Mở đầu là cảnh bắn súng thịt. Ông chủ dựng đứng cái ống thiếc, bẻ gập Đông Nhi làm đôi, nhét vào như kiểu mấy chú ba Tầu cán mực khô trước cổng trường học. Khi thằng bé bị ép chui qua khỏi đầu, ông vác cái ống lên vai như một chiến binh vác ống phóng lựu quay mấy vòng rồi đưa lên cao, xóc xóc mấy cái miệng hô “đùng” và viên đạn thịt liền rớt xuống đất nghe cái “bịch”! Bọn trẻ con rú lên như chính chúng bị bắt làm như thế. Rồi con khỉ mặc áo chẽn leo lên một chiếc xe đạp con đạp mấy vòng, vừa đạp vừa nhăn nhó. Trò này rất nhộn vì con khỉ đít đỏ cứ chỏng cái đít lên mà đạp chứ không chịu ngồi và bọn trẻ có dịp cười thích thú. Tiếp đến là Mị Lan, tự chui vào bình một cách lặng lẽ như con tằm đang tự trói mình vào trong cái kén. Đây là màn biểu diễn coi như kỳ công và cũng kỳ dị nhứt. Người ta hồi hộp nín thở theo dõi từng cử động của em, cách em co chân rụt tay sao cho vừa khít để còn chỗ cho cái đầu. Giờ em như con gà con sắp nở, đã đến lúc chui ra mà không được làm vỡ một miếng vỏ trứng nào! Sau cùng, ông chủ cởi trần phơi cái bụng có cái rốn sâu hoắm bế con trăn to và dài nặng đến cả trăm ký ra khỏi lồng, nặng nhọc quấn quanh cổ như chiếc khăn lông to sù đi qua đi lại. Thỉnh thoảng ông nắm đầu con trăn đang thè lưỡi chìa vào mặt một đứa nhỏ nào đó đang đứng gần, khiến nó cũng phải thè lưỡi sợ xanh mặt.
Vậy là xong một cuộc hát xiệc mà không cần rạp hay quảng cáo rình rang. Khách hảo tâm cứ việc bỏ tiền vào tay bà chủ đang ngồi ngáp vặt. Nhưng cái lòng hảo tâm của bọn trẻ là một cái gì quá xa lạ, còn người lớn thì nó cũng teo tóp như cái bụng của họ, nên nhiều khi cái lòng bàn tay chỉ có những đường chỉ ngang dọc và mấy cục da chai sần. Hát không công đã buồn, lại càng buồn hơn khi có điều ra tiếng vào, rằng cái bọn này to đầu mà sao lại sống bám vào những đứa trẻ?!
Đó là những ngày đầu chệch choạc chưa được tổ đãi, người và thú đều đói meo. Cứ trông cái mặt con khỉ như dài ngoằng ra, không nhảy nhót mà ngồi ôm gối là đủ biết cái nỗi buồn của một gánh xiếc nghèo. Chị vợ một thời quần lĩnh kiềng vàng thấy sao mà nản quá, đã mấy lần định bỏ xiếc để đi theo cải lương. Anh chồng xem ra cũng chẳng tiếc gì cái người đàn bà đã bị xẻo mất một bên vú, nhưng mà công sức đã bỏ ra, nghĩ cũng uổng. Anh ngồi vặt râu, ngẫm ra thấy mình cũng quá dại, thọc tay vào tận túi thiên hạ mà chưa chắc đã moi được tiền huống hồ là ngồi chờ cho họ móc túi ra.
Sau những lần coi như hát chùa, hắn ta khôn hơn, chọn những sân chùa có cổng tam quan và có tường xây, nhờ sư cụ cho các chú tiểu đứng canh rồi hát ăn chia, chùa 3 xiếc 7. Với trường học, xin hiệu trưởng cho phép diễn trong giờ ra chơi, mỗi đứa chỉ 5 cắc thôi mà cả mấy trăm đứa thì đúng là hốt bạc cắc! Một đôi khi cũng có một vài tay phú hộ chơi ngon kêu vào xiếc cho con cháu và bạn bè coi chơi, cũng kiếm được cả bạc trăm. Hai tài tử còn được xoa đầu hun hít, cho thêm bánh kẹo. Thế là chị vợ lại ỏn ẻn: “em nói chơi chứ dại gì mà bỏ anh!” và hắn lại ưỡn ngực ra mà đấm bình bịch, ra cái điều thằng này chứ phải ai đâu mà giỡn mặt.
Và rồi, lóc cóc lóc cóc, con ngựa già lại tiếp tục lọc cọc kéo chiếc xe lăn bánh trên những nẻo đường vô định. Và cậu bé mất mẹ từ đây chỉ còn biết trông lên những đám mây mà tưởng tượng rằng đó là dáng mẹ nằm, tóc mẹ xỏa, áo mẹ bay trong những chiều nắng đẹp…(Còn tiếp)

Đôi điều suy nghĩ khi đọc sách báo xuất bản ở Việt nam hiện nay

nguyenmonggiac

Nguồn: Văn Học số 49, tháng 3 năm 1990

Trên số Tết Canh Ngọ 1990, tạp chí Văn Học có nêu lên một số câu hỏi liên quan tới những tác phẩm và bài viết của các tác giả ở Việt nam, lên tiếng phê phán chỉ trích chế độ Cộng sản. Những câu hỏi tạp chí Văn Học đưa ra như sau:

1. Có hay không có một dòng văn chương phản kháng ở quốc nội?

2. Nếu có, đối tượng phản kháng này là:

– Bản chất chế độ Cộng sản

– Hiện tượng sai trái của những cán bộ thừa hành

3. Trong trường hợp có một dòng văn chương đối kháng thật sự, những nhà văn lưu vong phải làm gì để hỗ trợ? Trong trường hợp trái lại, sự phản kháng nhằm vào những cán bộ cấp thừa hành với mục đích củng cố guồng máy, những nhà văn ở hải ngoại phải làm gì?

4. Ảnh hưởng của các tác phẩm này đối với độc giả trong và ngoài nước?

Trong tất cả bốn câu hỏi, câu thứ nhất quan trọng hơn hết. Vì nếu người được hỏi thẳng tay phủ nhận, cho rằng không hề có những tiếng nói phản kháng chế độ ở trong nước, thì không còn gì để thảo luận với nhau nữa. Và quan điểm dứt khoát ấy khá phổ biến trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, kể cả trong giới viết lách.
Lập luận chung của những người có lập trường dứt khoát này là: guồng máy truyền thông hoàn toàn do chế độ Cộng sản Việt nam chỉ đạo và kiểm soát, từ đề tài sáng tác, việc tuyển chọn, in ấn, cho đến phát hành. Một guồng máy tuyên truyền chặt chẽ như vậy không bao giờ để lọt ra ngoài một văn nghệ phẩm nào đi ngược với chủ trương chính sách của nhà nước. Từ đó tất nhiên phải có hai hệ luận: những tác phẩm “gọi là phản kháng” chẳng qua chỉ là cái bẫy để tô hồng cho chính sách “gọi là đổi mới” nhằm xoa dịu sự căm phẫn của quần chúng ở quốc nội và vận động tuyên truyền ở quốc ngoại, và những văn nghệ sĩ “gọi là phản kháng” đó thực chất chỉ là những “văn nô”. Không cần biết họ viết gì, chỉ biết họ đang ở Việt nam (nhiều trường hợp là đảng viên Cộng sản hoặc đang làm việc cho guồng máy Cộng sản) và sách báo họ làm được nhà xuất bản của nhà nước in, thế là đủ! Không mất thì giờ đọc tài liệu tuyên truyền.

Lập luận cứng rắn dứt khoát đó không phải chỉ một sớm một chiều mà có. Nó bắt nguồn từ những kinh nghiệm đắng cay tích lũy lâu đời, do nhiều thế hệ nạn nhân Cộng sản đã từng bị lừa dối nhiều lần, cuối cùng dứt khoát không còn tin gì nữa. Ngay cả những tiếng miệt thị như”văn nô”, “bồi bút”, “những tên biệt kích, du kích văn hóa”, cũng không phải là sáng kiến của những người tỵ nạn Cộng sản đặt ra. Đó là sản phẩm của guồng máy tuyên truyền Cộng sản, người đọc gặp nhan nhản trên sách báo Cộng sản khi họ muốn triệt hạ những thành phần văn nghệ sĩ đối lập. Hãy đọc Lénine để thấy ông tổ Cộng sản này đã dùng chữ như thế nào khi muốn bôi nhọ, trấn áp, vùi dập những người đối lập với ông.

Tuy nhiên, tôi nghĩ muốn phán xét ai, trước hết phải đọc tác phẩm của họ đã.

Năm 1985, tôi được hội Nghiên cứu Khoa học Xã hội ở New York nhờ viết một tiểu luận về “Chính sách của Cộng sản Việt nam đối với văn nghệ từ 1975 về sau”, nên bắt buộc phải thường xuyên tìm đọc sách báo xuất bản ở Việt nam, phải tiếp xúc, phỏng vấn những người có kinh nghiệm, am tường về vấn đề này. Càng tìm hiểu, tôi càng thấy vấn đề không đơn giản như đa số đồng bào trong cộng đồng đã nghĩ: không phải tất cả thơ văn đã được nhà nước Cộng sản Việt nam in ra đều thực hiện đúng theo đơn đặt hàng, không phải tất cả người cầm bút ở quốc nội đều ngoan ngoãn “ăn cơm chúa múa tối ngày”. Bỏ họ chung một rọ “văn nô” để khỏi phải bận tâm gì nữa, để thì giờ lo đi làm trả nợ nhà nợ xe nợ báo hiểm, khỏe re. Nhiều người đã chọn giải pháp đó. Nhưng nếu còn quan tâm đến những gì đang và sẽ xảy ra trên quê hương Việt nam, thì chúng ta không thể không tìm hiểu đời sống, tâm tình, ước vọng của hơn sáu chục triệu đồng bào ở quốc nội. Một cách để tìm hiểu là tìm qua các sách báo đã xuất bản, với óc biện biệt phê phán khách quan và sáng suốt.

Cần sáng suốt để một lần nữa khỏi bị lừa vì những sản phẩm tuyên truyền, đồng thời khỏi bỏ phí những giá trị đích thực. Bất cứ tiếng nói nào thực sự đòi hỏi cho quyền làm người, tố cáo sự giả trá, sự bất công, sự đàn áp tự do đều cần thiết trong giai đoạn này. Huống chi tiếng nói đó lại được diễn đạt qua nghệ thuật. Cho nên qua kinh nghiệm tìm hiểu của riêng tôi, tôi nghĩ quả tình có một dòng văn chương phản kháng ở trong nước, không phải mới đây mà đã có từ lâu, ít ra là từ thờí Nhân văn Giai phẩm.

***

Để trả lời câu hỏi thứ hai: “Nếu có (dòng văn chương phản kháng), đối tượng phản kháng này là bản chất chế độ Cộng sản hay hiện tượng sai trái của cán bộ thừa hành?”, tôi thấy chúng ta cần phải đồng ý với nhau về một số điều trước đã.

Tôi nhớ hồi trẻ khi còn học văn chương ở đại học, tôi rất thích một câu nói của văn hào Pháp, André Malraux: “Phán xét tức là chẳng hiểu gì cả” (Juger, c’est ne pas comprendre). Malraux có thói quen gài vào miệng những nhân vật militant của ông những câu phát biểu cực đoan, nhưng riêng câu này, tôi thấy đúng. Tôi thấy thông thường hễ lên tiếng phán xét ai khi chưa hiểu họ, thì sau này tôi thường thấy mình lầm lẫn, ngông cuồng. Tự đặt mình vào hoàn cảnh người mình định phán xét, giả định xem nếu mình là họ ở hoàn cảnh đó mình sẽ làm gì, thì lời phán xét sẽ chính xác hơn, công bình hơn. Chúng ta đừng quên rằng dưới chế độ độc tài Cộng sản, sinh mệnh chính trị chính là mạng sống của mỗi người. Một nhà văn nổi tiếng bốc đồng khinh bạc như Nguyễn Tuân mà lúc xế già còn thú nhận rằng mình sống còn đến lúc đó là nhờ còn biết sợ. Cái không khí khủng bố tinh thần phủ chụp lên đầu giới cầm bút suốt đời. Nếu một số người cầm bút ngoan ngoãn ở lúc này, rồi lại dũng cảm liều lĩnh ở lúc khác, hoặc nói như Nguyễn Minh Châu, khi trung khi nịnh, thì chúng ta phải tìm hiểu đâu là lòng thành của họ, đâu là cái nhục cơm áo.

Tìm cho ra đâu là lòng thành của người làm chính trị, hơi khó. Vì trò chơi chính trị chấp nhận cùng đích biện minh cho phương tiện, chấp nhận những thủ thuật có tính cách chiến thuật giai đoạn nhằm đoạt quyền lực để thực hiện những mục tiêu cao đẹp lý tưởng hơn. Ngay tại các nước dân chủ tiên tiến, ít ai trách cứ các ứng cử viên đã nói dối khi hứa hẹn, đề cao mình và hạ nhục đối phương. Trò nói dối được tạm chấp nhận trong thời gian tranh cử, nhưng không được tha thứ sau giai đoạn tranh cử đã xong.

Đối với văn chương, lòng thành của người viết dễ nhận ra hơn. Dù có dùng xảo ngữ che đậy cách mấy đi nữa, chữ nghĩa nằm yên trên mặt giấy từ đời này qua đời khác, cho thiên hạ xoi mói đo đếm, thì thế nào cái giả dối gượng gạo cũng bị phát hiện. Nghệ thuật không chỉ do tài năng của người sáng tạo, mà theo tôi, quan trọng hơn cả tài năng là cái tâm thành. Không có lòng thành, mọi thứ nghệ thuật giả hiệu sẽ bị thời gian đào thải. Bằng chứng ở ngay trước mắt. Bốn mươi lăm năm “văn học cách mạng” dưới chế độ Cộng sản Việt nam rốt cùng còn lại được bao nhiêu tác phẩm giá trị? Đã có những nhà phê bình được chế độ nuôi dưỡng giáo dục thành thực chép miệng lắc đầu. Rồi đây lớp trẻ sẽ làm gì với đống sách vở lý luận và sáng tác mô tả, giải thích chủ nghĩa Cộng sản như là một thứ kim chỉ nam đưa nhân loại tới thiên đường? Cho nên tôi nghĩ muốn phân biệt được câu trung giữa hàng nghìn câu nịnh, phân biệt văn chương nghệ thuật với những sản phẩm tuyên truyền giai đoạn dưới chế độ Cộng sản, việc đó không quá khó.

Tạm đồng ý với nhau vài điểm về cách nhìn như thế rồi, tôi mới đáp thẳng vào nội dung câu hỏi thứ hai được. Tôi thấy đối tượng phản kháng của dòng văn chương phản kháng trong nước có thay đổi theo thời gian, tùy tình hình chính trị, tùy theo mức độ kiểm soát của guồng máy cai trị. Khuôn khổ một bài phát biểu ngắn trên tạp chí Văn Học không cho phép tôi đi vào chi tiết, ở đây tôi chỉ trình bày qua các nét chính của sự thay đổi.

1. Thời kỳ Nhân văn Giai phẩm từ 1956 đến 1958:

Cuộc đấu tranh cho tự do tư tưởng và sáng tạo của văn nghệ sĩ miền Bắc xảy ra lần đầu ở Hà nội, và xảy ra giữa một thời kỳ có nhiều biến chuyển lớn trong thế giới Cộng sản. Ở Liên sô, Krushchev phát động chiến dịch hạ bệ thần tượng Stalin, và chủ trương xét lại đường lối cai trị sắt máu của người tiền nhiệm, làm cho những đảng Cộng sản độc tài đàn em vô cùng bối rối. Chính sách của Krushchev làm nẩy sinh cao trào đòi tự do dân chủ trong khối Cộng sản, bạo động ở Hungary, Nga – Hoa chống báng nhau gay gắt cả về ý thức hệ và quyền lợi. Tại miền Bắc Việt nam, cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu làm cho xã hội phân hóa, niềm tin của đảng viên và cán bộ lung lay, nhân tâm phẫn uất chán nản. Đảng và Nhà nước vội đưa ra chính sách sửa sai để tránh nguy cơ nổi loạn. Trong tình hình đó (rất giống với tình hình hiện nay), phong trào Nhân văn Giai phẩm thành hình và phát triển nhanh, ảnh hưởng lớn trong giới văn nghệ sĩ và sinh viên học sinh miền Bắc.

Hơn ba mươi năm đã qua, bây giờ đọc lại những bài viết đã phổ biến trên sách báo thời này, rồi so với những biện pháp đàn áp cùng luận điệu trấn áp dữ dằn của chính quyền Hà nội, chúng ta thấy đảng Cộng sản Việt nam đã thổi phồng vụ này để dằn mặt dân chúng, nhằm ngăn ngừa một vụ nổi loạn chống đối lớn rộng có thể bộc phát bất cứ lúc nào. Dù chính quyền có bắt Trần Dần, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang thú nhận công khai những âm mưu to lớn tới đâu, dù phóng đại những bài viết đòi hỏi quyền tự do tư tưởng chính đáng của văn nghệ sĩ lúc bấy giờ thành một âm mưu khuynh đảo quốc tế, nhưng chữ nghĩa vẫn còn đó làm bằng chứng. Đối tượng tranh đấu của Nhân văn Giai phẩm không nhiều, không lớn lao như nhà cầm quyền hô hoán. Nhóm Nhân văn Giai phẩm chỉ đòi hỏi quyền được tự do sáng tạo trong mối tương quan cởi mở thông cảm giữa chính trị và văn nghệ. Họ chưa dám, hoặc chưa có thì giờ đề cập đến những vấn đề cốt lõi như bản chất của chủ nghĩa xã hội, quyền làm người, vai trò của văn nghệ và vai trò của chính trị… Thế mà họ bị guồng máy công an và văn hóa của chính quyền miền Bắc tung hết sức ra đàn áp tàn nhẫn, những nhà văn dính líu bị cô lập về chính trị lẫn kinh tế, có người bị tù đày lâu dài. Cho tới nay, sau hơn ba mươi năm, vụ Nhân văn Giai phẩm vẫn còn là một ám ảnh lớn đe dọa thường trực văn nghệ sĩ Việt nam, làm ảnh hưởng tai hại tới các cuộc tranh đấu cho tự do tư tưởng, làm nhụt chí một số người cầm bút chưa đủ can đảm.

2. Khát vọng tự do của văn nghệ sĩ không bao giờ bị dập tắt, nhưng chiến tranh đã làm cho khát vọng đó trở thành thứ yếu. Cả miền Bắc dốc toàn lực cho chiến tranh, nên chỉ lâu lâu mới có một vài bài thơ, bài văn “có vấn đề”, còn nói chung, dòng văn chương phản kháng không có cơ hội phát lộ mạnh suốt thời kỳ từ 1959 đến 1975. Phải chờ đến khoảng 1978, mới lác đác thấy một số ý kiến “có vấn đề”.

Khởi đầu là ý kiến của Nguyễn Minh Châu, một nhà văn quân đội, đòi xét lại lối viết truyện về chiến tranh. Nguyễn Minh Châu cho rằng lâu nay chưa có tiểu thuyết thật sự về chiến tranh, vì tiểu thuyết về chiến tranh của miền Bắc trước 1975 và Việt nam sau 1975 đều bề bộn sự kiện, người lính nào cũng lý tưởng dũng cảm, tác giả không đi sâu vào tâm tình thực của họ, chưa dám đề cập đến những vấn đề xã hội liên quan tới chiến tranh. Tóm lại, Nguyễn Minh Châu cho rằng “văn học cách mạng” chỉ chuyên tô hồng một chiều, chỉ vẽ ra cái mẫu muốn có chứ không nói đến thực tại đang có của con người, cuộc đời. Ý kiến này được nhiều nhà văn trẻ trong quân đội hưởng ứng, sau đó, Hoàng Ngọc Hiến đưa vấn đề lên cao hơn, gây một cuộc tranh luận sôi nổi về lý luận văn nghệ, lý luận thẩm mỹ học, tức là tranh luận đến cái cốt tủy của tương quan chính trị – nghệ thuật.

Như vậy, về mặt đối tượng, lần này ý thức phản kháng có đi xa hơn Nhân văn Giai phẩm. Chính quyền Hà nội cũng vội vã tìm cách dập tắt, nhưng mức độ không ghê gớm như trước, có lẽ vì:

– Những người lên tiếng đòi xét lại chính sách văn nghệ đều là công thần, hầu hết là bộ đội, và được đào tạo ngay trong nền giáo dục Cộng sản, không thể dễ dàng truy chụp họ như đối với các nhà văn của nhóm Nhân văn Giai phẩm.

– Những bài viết có tính cách chống đối lần này thuộc thể loại lý luận, phê bình, chưa có sáng tác phẩm minh họa để ảnh hưởng sâu rộng lên quần chúng, do đó chính quyền dễ dàng khoanh vùng để giải quyết trong các tụ điểm văn hóa, trong khuôn viên đại học hoặc tòa soạn, nhà xuất bản.

– Đảng và Nhà nước tuy phải đối phó với một tình trạng bất an về xã hội do xung đột trầm trọng với Trung quốc và cao trào vượt biên, nhưng trong thế giới Cộng sản nói chung, không có những biến động lớn ảnh hưởng đến sự an nguy của chế độ như hồi 1958 và bây giờ, nên chính quyền không cần ra tay đàn áp bằng bạo lực hay các biện pháp hành chánh.

3. Giai đoạn từ 1986 đến nay.

Hiện nay thì dòng văn học nghệ thuật phản kháng lại chế độ Cộng sản (ở đây chỉ đề cập đến các hoạt động công khai, loại sách báo đã được in và phổ biến) đã vượt xa hai giai đoạn trước cả về chiều sâu lẫn chiều rộng.

Bối cảnh chính trị trong thế giới Cộng sản gần đây có nhiều biến động lớn lao gấp mười lần thời xét lại của Krushchev, đến nỗi ngay chủ nghĩa Cộng sản cũng bị phá sản, làm đổ vỡ cả hệ thống quyền lực xây dựng tỉ mỉ chặt chẽ từ bao nhiêu năm.

Trước áp lực của thế giới, và áp lực của một xã hội rối loạn vì kinh tế suy sụp, chính quyền phải đưa ra những chủ trương thay đổi, cởi mở hơn đôi chút về kinh tế và văn nghệ. Thế là những tiếng nói, những khát vọng bị vùi dập lâu nay được dịp cất lên, lan rộng ra. Văn nghệ phẩm đòi hỏi tự do, tố cáo bất công nẩy nở, phát triển trong mọi bộ môn từ kịch nghệ, điện ảnh, thơ, tiểu thuyết, báo chí. Những văn nghệ sĩ dám nói lên tâm nguyện của quần chúng được quần chúng đón nhận nồng nhiệt, họ có ảnh hưởng đến quần chúng nên bây giờ chính quyền không dễ dàng đàn áp họ như thời Nhân văn Giai phẩm. Sách báo viết theo đuôi chính quyền bị quần chúng thờ ơ, sách báo chống chế độ được hưởng ứng nồng nhiệt. Nhiều tên tuổi mới được quần chúng xác nhận giá trị (chứ không phải chính quyền) do ở chỗ họ đã dám nói thẳng, nói thật. Có thể kể tới kịch của Lưu Quang Vũ, thơ của Nguyễn Duy,Trần Mạnh Hảo, văn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm thị Hoài, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Dương Thu Hương, phim của Trần văn Thủy… Phần sáng tác phẩm, cả về lượng lẫn phẩm, đều hơn hẳn hai thời kỳ trước.

Đó là nói về chiều rộng. Về chiều sâu, lần này văn nghệ phản kháng cũng nhắm tới những đối tượng căn bản hơn. Những nhà lý luận phê bình lâu nay tuân thủ nghiêm túc căn bản lý luận Mác Lê, thì nay đã dám nói những điều chưa dám nói. Nhân các buổi tranh luận về truyện Nguyễn Huy Thiệp, những nhà phê bình như Trương Chính, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Đăng Mạnh, Lữ Phương đã dám công khai hỗ trợ cho các quan điểm của Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Minh Châu.

Tôi nghĩ dòng văn nghệ phản kháng giai đoạn này đã trở thành một tâm nguyện của quần chúng, nên dù, chính quyền có muốn buộc trói nó (như họ đã làm) chính quyền cũng không thể làm được. Không được cho phép, quần chúng sẽ có cách để phố biến nó. Mà thực tế ngay guồng máy chính quyền Việt nam hiện nay cũng đã rệu rã, lỏng lẻo, chưa chắc gì lệnh Hà nội các tỉnh đã nghe, lệnh cấp trên cấp dưới đã tuân hành. Dù muốn hay không, Việt nam đã trở thành một thị trường tự do theo luật cung cầu. Mà nhu cầu của quần chúng là tự do, cơm áo, quyền làm người. Chế độ Cộng sản Việt nam không cung cấp những món hàng đó được. Người dân phải ra chợ trời để mua những món hàng đó.

TB: Tôi xin để dành các câu hỏi 3 và 4 cho các cuộc thảo luận khác, không đề cập ở đây.

Nguyễn Mộng Giác

Khỉ Gió!

luuthy

Ngày xửa ngày xưa… Thuở ông trời khai thiên lập địa, tạo dựng muôn loài, đào sông nắn biển, cuốc đất trồng cây nuôi cỏ tạo nên rừng. Có rừng phải có rú, có muôn thú phải có muôn chim.

Rừng nào thú đó, rừng nào khỉ nọ, nên trong một khu rừng kia, ông Trời cũng cho sinh ra một bầy… khỉ.

Bầy khỉ sống theo đàn, sinh hoạt theo “cá thân,” con nào con nấy là cả một thế giới khỉ riêng. Có con khỉ buồn đời leo lên tuốt ngọn cây nhìn trời xanh mây trắng mà làm thơ. Có con khỉ rủ nhau chui vô bụi rậm mà làm trò… khỉ. Có con khỉ đít đỏ, có con khỉ đít vàng, có con khỉ đít nửa đỏ nửa xanh.

Rất đặc biệt, rất đậm đà bản sắc… khỉ!

Trong đàn khỉ có một con khỉ, cứ tạm gọi là Khỉ Gió, không thích làm thơ, không thích mần trò khỉ, không thích leo cây, mà chỉ thích đọc sách và làm lãnh tụ. Sách đâu mà đọc ở cái thời khai thiên lập địa! Sách đâu mà đọc ở cái thời cái bánh xe chưa quay quay! Khỉ Gió bỏ giấc mơ đọc sách mà xoay qua cái giấc mơ làm lãnh tụ.

Khỉ Gió bỏ đàn khỉ, bỏ rừng xanh, leo đèo, lội suối, đi tìm quân sư. Xin thì sẽ được, tìm thì sẽ gặp, gõ thì sẽ mở, nên Khỉ Gió rồi cuối cùng cũng gặp được quân sư.

Câu đầu tiên Khỉ Gió hỏi quân sư “Làm thế nào để trở thành lãnh tụ?”

Quân sư trả lời “Ai gõ ta sẽ mở, ai xin ta sẽ cho, ai hỏi ta sẽ trả lời!”

Câu thứ hai Khỉ Gió hỏi “Làm thế nào để trở thành lãnh tụ?”

Quân sư trả lời “Ngươi chỉ nên nghe những gì ta nói nhưng đừng làm theo những gì ta làm!”

Câu thứ ba Khỉ Gió hỏi “Làm thế nào để trở thành lãnh tụ?”

Quân sư trả lời câu thứ ba rất là dài, dài toàn tập, dài đến nổi Khỉ Gió phải hốt cả lá rừng viết lên lời thầy dạy.

Khỉ Gió nhai lá rừng nuốt lời thầy vô bụng, cho đến hết chiếc lá cuối cùng, mới lại chịu leo đèo, lội suối, lại băng rừng, xuống ruộng, mang cái bụng bầu chứa đầy lá rừng ghi lời thầy, về lại khu rừng xanh để làm lãnh tụ.

Về tới rừng, nhập lại đàn, Khỉ Gió ngó lại đám khỉ xưa, ngẫm theo lời thầy dạy, Khỉ Gió mới sáng mắt sáng lòng, mới thấy trong đám khỉ có con đít đỏ, có con đít vàng, có con đít nửa đỏ nửa xanh. Chỉ có mình Khỉ Gió là không đỏ không xanh cũng không vàng.

Đàn khỉ không còn “giản đơn” như Khỉ Gió lâu này thường nghĩ, nó ô hợp vô tổ chức, nó theo bè kết phái, con đít đỏ chỉ chơi với con đít đỏ, con đít vàng qua lại với con đít vàng, còn con đít nửa xanh nửa đỏ làm thân với con đít nửa đỏ nửa xanh.

Chỉ có con khỉ đui, mới khi thì đi theo nhóm này, khi thì đi theo nhóm nọ, khi thì ngồi lê đôi mách với nhóm kia. Khỉ Gió áp dụng ngay lời thầy dạy, kết nạp Khỉ Đui vào Ban Lãnh Đạo. Lời thầy vẫn còn như in mồn một trong bụng Khỉ Gió, “Muốn thành lãnh tụ cần phải làm cách mạng, cách mạng thành công phải cần người biết vận động quần chúng, biết len lỏi, biết khi thì chiều nhóm này khi thì theo nhóm kia.” Cho nên, có con khỉ nào mà hợp cho bằng con Khỉ Đui. Khỉ Gió kết nạp Khỉ Đui là vì vậy!

“Biết chiều chuộng, biết cuốn theo chiều gió, biết kết hợp vận động quần chúng khỉ, mà nhút nhác, sợ sệt, không dám làm dám chịu, thì cũng như không, cách mạng chết ngay từ trứng nước. Lãnh đạo cần phải có con khỉ có cá tính liều, điếc không sợ súng.” Lời thầy đã dạy như vậy sao Khỉ Gió lại không theo, Khỉ Gió chọn ngay trong đám khỉ đít đỏ một con khỉ điếc kết nạp ngay vào Ban Lãnh Đạo.

“Cách mạng cũng cần phải có kỷ luật, phải biết vâng lời, biết gật.” Ứng viên thứ ba và cuối cùng đưa vào Ban Lãnh Đạo là Khỉ Câm.

Giờ Ban Lãnh Đạo Cách Mạng Rừng Xanh đã có chủ tịch là Khỉ Gió, với ba cánh tay mặt, tay trái, tay nối dài là Khỉ Đui, Khỉ Điếc và Khỉ Câm.

Đêm ra mắt Ban Lãnh Đạo Cuộc Cách Mạng Rừng Xanh diễn ra đúng như dự liệu của Khỉ Gió. Trên bầu trời đêm hôm đó, bốn ngôi sao trong chòm sao Aries sáng rực. Khỉ Gió giơ tay chào đám khỉ bu chung quanh mình rồi bắt đầu khọt khẹt phát biểu. Mỗi một lời của Khỉ Gió phát ra, Khỉ Điếc lập lại lần thứ nhất, rồi Khỉ Câm lập lại lần thứ hai, nên nó echo vang dội khắp rừng xanh. Còn Khỉ Đui? Khỉ Đui đi qua đi lại, vừa lắng tai nghe lời chủ tịch, vừa nghe ngóng lời xầm xì của quần chúng, mắt láo liên theo dõi từng động tác, từng hành vi của những phần tử khỉ phản động.

Khỉ Gió thao thao bất tuyệt, mỗi lúc mỗi hăng, bao nhiêu lời vàng ngọc của thầy Khỉ Gió cứ vậy mà sao y bản chánh tuôn ra.

Đàn khỉ bu xung quanh bắt đầu mất tập trung, không còn trật tự lớp lang như lúc khởi đầu đại hội. Tiếng khọt khẹt ồn ào, nhốn nháo, la ó, bắt đầu xảy ra.

Lời Khỉ Gió vang vọng núi rừng đã động tới nỗi đau của nhóm khỉ đít vàng. Lời Khỉ Gió đã xúc phạm tới niềm kiêu hãnh của khỉ đít đỏ. Lời Khỉ Gió không làm rung động được tâm hồn của khỉ đít nửa đỏ nửa xanh. Cách mạng rừng xanh của Khỉ Gió làm tan nát thế giới riêng của từng con khỉ một. Con khỉ thích làm thơ không còn cơ hội leo tuốt ngọn cây cao nhìn trời xanh mây trắng. Con khỉ thích chui vô bụi rậm làm trò khỉ giờ sẽ phải lấm la lấm lét nhìn trước nhìn sau. Sẽ không còn cái chuyện đơn giản nhỏ nhặt nhất của một con khỉ bình thường, là được khọt khẹt, được vểnh tai nghe tiếng lá rơi xào xạc, được tận mắt tận tay cầm trái chuối chín vàng ửng lột vỏ bỏ vô miệng nhai. Giờ phải đi theo con đường Khỉ Đui dẫn đạo, thấy màu sắc tương lai qua con mắt của Khỉ Mù, nghe tiếng gầm hú, tiếng gà gáy ó o, tiếng sấm tiếng chớp, tiếng lá vàng rơi, theo cái tai của Khỉ Điếc, và chỉ được phép mở miệng khọt khẹt theo đúng giọng của Khỉ Câm.

Không được! Không được! Đàn khỉ chuyền tai nhau lời bất mãn, đàn khỉ chuyền tai nhau lời thật mất lòng Ban Lãnh Đạo Cách Mạng, rồi không cần rủ mà đồng lòng tất cả cùng bỏ đi.

Khỉ Gió mắt vẫn nhắm nghiền lim dim, miệng vẫn cứ thốt ra lời vàng ngọc, với bốn đại biểu cuối cùng còn lại là Khỉ Gió, Khỉ Câm, Khỉ Điếc và Khỉ Đui.

Đại hội cách mạng rừng xanh thất bại hoàn toàn, dù trên bầu trời đêm đêm ấy bốn ngôi sao trong chòm sao Aries vẫn còn sáng rực.

Suốt cả đêm Khỉ Gió ngủ không được, cứ trăn tới trở lui, gãi đầu gãi đuôi, lầm bầm khọt khẹt muốn tìm cho ra nguyên nhân cách mạng không thành công. Khỉ Gió đã làm theo rất “đúng quy trình,” cứ xong bước đầu là tiếp nối ngay bước hai, bước ba, bước bốn. Ngay cả ông trời cũng đồng hành cùng Khỉ Gió. Không phải bốn ngôi sao bổn mạng của Khỉ Gió Khỉ Câm Khỉ Điếc Khỉ Đui trong chòm sao Aries sáng rực đó sao. Ông trời cũng đi theo “đúng quy trình.” Thế thì tại vì sao? Bởi vì đâu và do ai? Mà ra nông nổi!

Đám gà bên khu rừng hàng xóm vừa mới ò ó o gáy tiếng đầu tiên, Khỉ Gió đã dựng đầu ba đồng chí Khỉ Điếc Khỉ Đui Khỉ Câm dậy, sửa soạn khăn gói quả mướp lên đường, leo đèo, lội suối, lên đồng, xuống ruộng đi gặp quân sư để hỏi cho ra lẽ.

Vừa tới nơi, không chờ quân sư mời ngồi, không chờ quân sư mời xơi nước ăn chuối, cả bốn đã ngồi vắt chân lên ghế bốc chuối ăn “vô tư”.

Quân sư kiên nhẫn chờ cả 4 ăn uống no nê xong mới hỏi:

“Bốn đứa tới đây có chuyện gì? Đã là lãnh tụ sao không ở nhà lo chuyện khỉ mà lại rủ nhau tới đây ăn với nhậu?”

Khỉ gió nhìn quân sư mặt mày buồn thiu, thiểu não, miệng lắp ba lắp bắp, nói không ra lời:

“Em làm đúng theo lời quân sư dạy, không sai chữ nào, không thêm bớt chữ mô, vậy mà… vậy mà… bọn chúng lại không đứa nào chịu nghe, càng mở miệng bọn nó càng bỏ đi. Rốt cuộc giờ chỉ còn lại bốn đứa em.”

Quân sư ngạc nhiên không khác gì Khỉ Gió, đi tới đi lui, đi qua đi lại, nhắm mắt, bịt tai, mím miệng, tay gõ gõ lên đầu, tham thiền nhập định. 5 phút, 10 phút rồi 20 phút trôi qua, quân sư vẫn không tìm ra lý do. Quân sư lắc lắc đầu thất vọng.

Khỉ Gió hỏi “Thầy đã kiếm ra chưa?”

Quân sư khịt khịt mũi nhíu mày! Quân sư lắc đầu!

Khỉ Câm ú ớ ý muốn nói “Thầy đã kiếm ra chưa?”

Quân sư lại nhíu mày khịt khịt mũi. Lại lắc đầu!

Khỉ Điếc hỏi “Thầy đã kiếm ra chưa?”

Quân sư lắc đầu, khịt khịt mũi, nhíu mày.

“Thầy đã kiếm ra chưa?” Khỉ Đui hỏi.

Lần này quân sư không những nhíu mày, khịt mũi, mà còn vỗ trán mừng rỡ.

Quân sư đã tìm ra nguyên nhân. Quân sư đã biết tại sao. Quân sư kéo cả đám Khỉ Gió, Khỉ Câm, Khỉ Điếc với Khỉ Đui ra đám mít sau nhà, đích thân leo lên một cây mít ngon nhất, tay vỗ bịch bịch, chọn trái mít thơm lừng đãi cả bọn cái món mít đặc sản của nhà: hột mít lùi tro.

Vừa ăn quân sư vừa dùng miệng vừa làm dấu, cầm hột mít lùi tro hỏi “Có thấy gì không?”

Khỉ Gió, Khỉ Câm, Khỉ Điếc gật đầu, Khỉ Đui nói không.

Quân sư khỏ khỏ hột mít lên mặt bàn, “Có nghe thấy gì không?”

Khỉ Gió, Khỉ Câm, Khỉ Đui gật, chỉ có Khỉ Điếc là lắc đầu.

Quân sư ngồi im, không cầm hột mít, không khỏ khỏ mặt bàn, nín thở, lấy hơi, vận khí xuống đan điền, xì ra một tiếng, xong mới hỏi “Có ngửi thấy gì không?”

Không gian im lặng như tờ, cả bốn con khỉ ngồi yên không nhúc nhích, nhắm mắt, bịt tai, mím miệng, tay gõ gõ lên đầu, không nói, không gật, không lắc, cũng không gật gù ú ớ…

Khỉ Gió, Khỉ Câm, Khỉ Điếc, Khỉ Đui cùng có chung một khả năng thiên phú trời cho! Cả bốn đều không biết ngửi!

Quân sư tiễn bốn con khỉ về lại rừng xanh, bắt đuôi từng con một, và chúc cho bốn con, Khỉ Gió, Khỉ Câm, Khỉ Điếc, Khỉ Đui được thượng lộ bình an, sau khi ban bố lời huấn từ “Mặc dù bốn đứa ngươi cùng có chung một khả năng rất đặc biệt, rất trời cho, không biết ngửi, nhưng ta khuyên, bốn đứa ngươi, hãy nên về lại rừng xanh, hãy sống lại cuộc sống bình thường, bình thường như mọi con khỉ bình thường khác, và chớ nên mở miệng hay làm cái gì khiến nó bốc mùi mà quần chúng khỉ bỏ chạy!”


Lưu Thy

bóng 6. dụ ngôn 2

phuonguy

bóng 6

chỉ là khi muốn lặng im
trên đồi đầy gió
cơn đau vỡ xước bóng mình
loang tràn mặt cỏ
đêm giấu hình nhân mặt nạ
nỗi đau giấu trong lặng im
cô đơn trên bệ cửa
đốt cháy tàn tro chính mình
khi cơn đau kèn cựa
chỉ còn cái bóng sẻ chia
một ngày bên vách trắng
tỵ hiềm ở phía bên kia

dụ ngôn 2
úp mặt bàn tay héo
bờ đêm ánh sáng gầy
cố gắng giải mã một ám tượng đỏ
vàng khói thuốc đầu ngón tay

con sóng ngủ mê
thế kỉ chạy loạn những hư hao
chân lạc bờ tưởng tượng
đoá hồng mân côi tháng Mười
vừa tắt
Người không là vua của binh đao

cầu cho kẻ sống và kẻ chết
là từ vực sâu
lời trầm thống
câu kinh đổ bóng lên mầu

tiếng gió tràn qua đồi cao
” nay là chúng tôi”
dụ ngôn về ngày sau cuối
còn lưu dấu trên môi

Phương Uy

CHIẾC XƯƠNG LÁ

quanduong

Con gió thốc. Cuối năm. Sông gờn lạnh
nhấp nhô buồn. Sóng gợn lăn tăn
Ta đuối sức ngược dòng bơi không kịp
Chưa loay hoay. Quá khứ đã thăng trầm

Đông sắp tận. Cành xuân đang chờ mọc
Lá cũng chờ mòn mõi sau nhiều năm
Ta không thể vượt biên theo ngày tháng
nên trôi theo những chiếc lá ngả vàng

Chiếc xương lá mỏng manh cùng tuyệt vọng
phơi giữa trời lẫn lộn vàng thau
nghe tiếng rụng như nghe từng tiếng bước
dẩm vô hình vào lồng ngực ta đau

Đường ranh giới thời gian dừng lại
Đường tha hương khoảng cách rộng thêm cùng
Chuyện cổ tích đã qua thời linh nghiệm
Bụt bỏ đi không thèm hiện xuống trần

Bụt không hiện nên ta đành chịu thảm
đóa phong lan biệt ẩn trầm hương
Nơi chỗ trũng vết sầu còn đọng lại
Ta thấy ta ở đó. Chỉ một mình

Quan Dương