Kẻ vô danh

tradoa

Lời giới thiệu: đây là một trong những truyện đầu tay, được viết cách đây 10 năm. Có một câu chuyện vui vui liên quan đến truyện này. Đó là khi truyện đăng được một thời gian, có lần tôi search google và thấy nó được đăng lại trên một diễn đàn của… GAY. Tò mò đọc hết mấy trang “bình lựng” mới thấy họ phân tách hay hơn gấp mấy lần cái truyện của mình. Họ cho rằng hai nhân vật nam trong truyện này là gay và yêu nhau. Lý giải của họ như vầy: khi một kẻ là đàn ông lại đi ganh ghét, tị hiềm “rát rạt” với một kẻ đàn ông khác, thì đó là “triệu chứng” của tình yêu đồng giới. Tôi nghĩ cũng có lý, vì đó cũng là mặt trái của thứ mà ta hay gọi là tình yêu.
Những chàng gay, những kẻ vì một lý do gì đó lại có lượng estrogen cao hơn mức bình thường, và nhờ vậy họ thường sở hữu một sự tinh tế và nhạy cảm hơn hẳn những đàn ông thuần khác. Và tôi đã học được ở họ một khía cạnh tâm lý sâu sắc mà tôi chưa bao giờ nghĩ tới.

Đến lúc sức chịu đựng của tôi cạn kiệt. Tôi không thể tưởng tượng mình có thể tiếp tục ngồi chung phòng với hắn ta được nữa. Mỗi buổi sáng cứ trông thấy gương mặt tươi cười của hắn, một cảm giác khó chịu dai dẳng chạy dọc từ dạ dày lên tận óc, gây ra một thứ triệu chứng vừa tưng tức vừa muốn tống khứ một cái gì đó ra khỏi người. Từ cái dáng đi điệu đàng, đến cách ăn nói nhỏ nhẹ, hay mọi thứ của hắn,… đều khiến người tôi như nổi gai ốc khắp nơi.
Và tôi bắt đầu nghĩ đến việc phải chơi hắn vài vố cho bỏ tức…
Nhưng tôi hiểu những cách chơi khăm lặt vặt sẽ chẳng khi nào xoá nổi nụ cười trên môi hắn chứ đừng nói đến chuyện triệt hạ được hắn. Dù sao cũng phải thừa nhận hắn là kẻ sở hữu một nội tâm vững vàng. Những thứ khen chê thói thường chẳng khi nào có thể làm hắn xao động. Tâm hồn hắn là một cõi kỳ bí mà tôi chẳng thể nào mường tượng ra.
Tôi biết để làm được cái việc triệt hạ hắn, tôi phải nghĩ ra một phương án hoàn hảo, một tầm nhìn dài hơi, phải chậm rãi và chắc chắn mới hy vọng dụ được hắn vào bẫy. Mục đích tối hậu mà tôi luôn nhủ thầm trong đầu là phải làm cho hắn ta không còn hiện diện nơi công sở ấy nữa, nếu biến mất thì càng tốt. Có khi nào hắn sẽ biến mất như chưa hề tồn tại? Cái ý nghĩ “biến mất như chưa hề tồn tại” nó ám ảnh tôi từ lúc xuất hiện. Nếu một kẻ tự dưng biến mất sẽ để lại những gì? Một gia đình, một vài người quen, một vài câu hỏi và một bộ hồ sơ nghi vấn ở trụ sở cơ quan điều tra. Nếu hắn vẫn cứ biến mất không tăm tích lâu ngày, những người quen cũ sẽ mau chóng quên hắn đi. Còn gia đình, qua thời gian lâu hơn cũng sẽ bắt đầu quen dần với sự vắng mặt của hắn và lấy ngày hắn mất tích để làm ngày giỗ. Còn bên cơ quan điều tra, họ sẽ xếp hồ sơ, vì chẳng hơi đâu phải theo dõi một kẻ tầm thường và chẳng có tăm hơi gì.
Lâu dần, sẽ chẳng còn ai mường tượng ra nụ cười của hắn nữa. Cái tên xưa kia của hắn cũng sẽ nhạt nhoà vào trong vô số những cái tên đến sau, hay ngập chìm trong mớ bòng bong thông tin mà một người phải tiếp nhận hằng ngày. Và hắn tan biến vào hư vô…
Tôi phải làm được điều này.
Từ đó, ngày đêm tôi lên kế hoạch và bắt đầu theo dõi hắn chặt chẽ để tìm cơ hội. Tôi tin rằng bất kỳ kẻ nào cũng có những thói quen xấu, hay những sơ hở cố hữu nào đó trong cách sống.
Điểm đầu tiên tôi nghĩ đến đó là đàn bà. Một kẻ dễ coi và hào hoa như hắn chắc sẽ có lắm đàn bà. Và để có thể ăn vụng hẳn phải lén lút. Vâng, tôi muốn được thấy hắn lén lút. Đó là khi tôi dễ hành động nhất. Và quả nhiên, có rất nhiều đàn bà bao quanh hắn (dĩ nhiên… không kể vợ hắn). Hắn hay đến quán karaoke nhỏ ở gần bờ kênh đen. Đây là vùng tụ tập gái làng chơi mạt hạng từ khắp nơi đổ về. Một vài giờ hát hò, cợt nhã bên một ả gái điếm hết thời nào đó sẽ không quá tốn kém. Nếu mức độ “ăn chơi” của hắn chỉ dừng lại ở đây thì quả là khó cho tôi. Nhưng thật may, đúng như tôi nghĩ, hắn rất hám gái. Cứ khoảng hơn 11 giờ khuya hắn lại chở một cô ả từ đó về. Tôi lặng lẽ bám theo. Họ vào một khu nhà trọ tồi tàn cách đó khoảng vài cây số. Cái khu ổ chuột này vô cùng chật chội. Con hẻm đi vào có đoạn chỉ dành cho một chiều xe máy. Tôi đành đứng ở một góc khuất bên ngoài để đợi hắn ra. Và khoảng nửa tiếng sau, hắn xuất hiện ra về một mình.
“Chỉ có vậy, có khi chỉ phí công” – tôi bực bội vì chẳng tìm thấy tí cơ may nào trong cái trò gái gú mạt hạng này của hắn.
Nhưng, một ý nghĩ chợt loé lên trong đầu tôi “tại sao không…?”. Chẳng hạn như bí mật báo cho vợ hắn biết, sau đó gia đình hắn sẽ tan nát vì ghen tuông. Rồi sau khi ly dị, hắn sẽ chuyển đến ở với ả gái bán bia ấy, và được một thời gian cái cặp kì quặc này chắc phải chia tay. Sau đó, điều tôi chờ đợi phải tới: hắn đâm ra chán đời, rượu chè bê tha và bắt đầu trượt dài. Đây chính là thời điểm mà tôi mong đợi…
Vào những đêm sau, tôi mang theo một máy chụp hình. Rồi những tấm hình ả đó đang ngồi ép sát phía sau và ôm eo hắn rất tình tứ, đã được tôi phóng to lên và gửi kèm một lá thư hướng dẫn chi tiết những điều tôi đã theo dõi được, dưới dạng nặc danh, đến địa chỉ mà nó phải đến.
Những ngày sau đó, tôi luôn đến chỗ làm thật sớm và ngồi đợi. Một lát, như thường lệ, hắn xuất hiện. Nhưng không như tôi mường tượng, hắn vẫn tươi cười chào hỏi mọi người. Cuối cùng hắn về chỗ của mình và nở nụ cười chào tôi. Và không như mọi khi, tôi không còn giữ bộ mặt lầm lì cố hữu nữa, mà ngước lên nhìn hắn và chào lại. “Sao hắn vẫn cười được nhỉ?”. Tôi cố phát hiện một điểm khả nghi nào đó trên gương mặt kia, nhưng chịu, nó vẫn như mọi khi, chẳng có biểu hiện gì khác lạ.
Được một thời gian, bỗng một hôm hắn không đi làm. Tôi bán tín bán nghi. Buổi tối, tôi phóng xe đến theo dõi ở quán karaoke đến nửa đêm, nhưng vẫn không thấy hắn đâu. Rồi liên tiếp nhiều hôm hắn không đi làm. Sau đó tôi mới được biết hắn đã làm đơn xin thôi việc. “Hay cái kế hoạch của mình đã thành công rồi?”. Cái ý nghĩ này nó làm tôi sướng rơn người.
Nhưng từ ngày hắn bỏ việc, tôi cũng đâm ra chán làm việc. Chỗ của hắn vẫn chưa có ai thay thế. Hàng ngày, tôi vẫn hay nhìn sang đấy vài lần. Tôi vẫn còn hay hình dung ra cái dáng ngồi ưỡn người của hắn trên cái ghế có trục xoay. Hắn vẫn còn ngồi đó, hay cười và luôn chào mọi người. Hắn thích nhìn sang phía tôi, và tôi có cảm giác hắn rất muốn làm thân. Nhưng mỗi lần hắn định có ý tiến tới, tôi lại càng cố tỏ ra khó chịu hơn nên hắn đành phải rút lui nhưng vẫn không mất nụ cười trên môi.
Hắn đã biến mất thật rồi, mọi người đã bắt đầu quên sự hiện diện trước đây của hắn. Công sở đôi lúc giống cái chùa, và người ra vào nơi này giống như đi viếng. Một vài nụ cười gượng, một câu nói hài hước,… rồi thôi. Gương mặt là thứ khó nhớ nhất. Thật khó để hình dung ra một gương mặt sau vài tuần không gặp. Cái gương mặt của hắn, một gương mặt mà tôi gọi là “đại chúng”, nó vừa mập vừa trắng trẻo dễ nhìn. Nó hay cười và rạng ngời khi đến công sở. Đây là điều khiến tôi khó chịu nhất. Tại sao có thể lúc nào cũng rạng ngời? Trước vô số cái nhàm chán, gương mặt nên lầm lì và khó coi. Điều này khiến bạn mất đi thiện cảm của một vài kẻ, nhưng bù lại nó thông báo cho những kẻ xung quanh một thông điêp rõ ràng rằng “Này, mọi thứ đang bốc mùi, đừng tỏ ra đạo đức giả như thế”.
Một buổi sáng nọ, khi tôi đến công sở, trên chiếc ghế của hắn đã có một thằng oắt trẻ tuổi đang ngồi. Nó nở nụ cười hơi ngượng ngùng chào tôi. Thằng oắt ngồi thẳng, mắt chăm chú vào màn hình máy tính. “Nó ta đang làm gì thế nhỉ?”. Có lẽ là một sự háo hức ban đầu, nơi công sở mới. Có thể nó đang sợ tôi theo dõi để đánh giá. Hay có khi nó đang cố tỏ ra một phong cách chuyên nghiệp khi làm việc? Thế đấy, lại một tên nữa lao vào. Những tay trẻ tuổi lại khiến tôi mau chán hơn. Bởi bọn chúng không cần hiểu, không cần biết, không cần đam mê. Nói quách ra là bọn trẻ bây giờ không biết mình cần gì. Nhưng sự xuất hiện của thằng oắt ấy là sự xoá sổ những dấu vết cuối cùng nơi đây của gã đại chúng.
Nhưng tôi biết, anh ta vẫn còn tồn tại cho đến khi nào tôi còn hiện diện ở đó…
Liên tiếp nhiều đêm, tôi ẩn mình theo dõi ở đầu con hẻm nơi khu ổ chuột phía tây. Rồi một đêm khuya, nhờ trời, hắn đã xuất hiện. Ôi, trước mặt tôi bây giờ là một tên say khướt đi đứng xiêu vẹo với quần áo dơ dáy lếch thếch. Gương mặt “đại chúng” của hắn trông gớm ghiếc và dị dạng. Hắn lần mò đi vào con hẻm nhỏ tăm tối. Tôi bám theo đến tận nơi. Một ả đen đúa gầy trơ xương ngồi trước căn gác gỗ tồi tàn rít lên một tràng ngôn ngữ lạ lùng với hắn.
Tôi nhủ thầm “hắn đã rơi xuống tận đáy thật rồi”. Chắc vợ con hắn đã từ hắn. Có ai lại có thể chấp nhận một tên bê tha như thế làm chồng làm cha. Tôi không ngờ hắn lại rơi xuống nhanh đến vậy. Cái kế hoạch “rơi xuống” của hắn mà tôi đã dày công mường tượng ra trước đó, và đã góp phần thúc đẩy, lại có thể thành công dễ dàng vậy sao? Và tôi biết, đây là thời điểm vàng mà tôi đã chờ đợi. Nó đã đến ấn tượng hơn tôi có thể tưởng. Nó đang hiện diện thật sự ở đó, nơi căn gác gỗ tồi tàn trong con hẻm tăm tối ở khu ổ chuột phía tây. Hắn đang nằm sẵn ở đó như cá trên thớt đợi tôi xuống tay những nhát chém cuối cùng.
Cho dù mọi thứ có vẻ đã sẵn sàng, nhưng tôi vẫn chưa nghĩ ra được ý tưởng khả dĩ để kết thúc cuộc chơi tăm tối này.
Hằng đêm, hắn vẫn cứ lếch thếch lê từng bước xiêu vẹo vào trong con hẻm nhỏ như để trêu ngươi tôi…
*
Rồi một đêm khuya, hắn xuất hiện trên chiếc xe máy chạy từ trong hẻm ra. Vẫn với bộ dạng gớm ghiếc thường ngày, hắn đang phóng xe chạy về phía tây, ra xa thành phố. Tôi bám theo. Đến những đoạn có ngả rẽ, hắn như cố ý chạy chậm lại chờ tôi. Hắn làm như sợ tôi bị lạc mất dấu vết hắn. Hắn vẫn cứ chạy mãi miết. Tôi kiên nhẫn bám theo. Bây giờ trời đã rất khuya. Màn đêm đen kịt bao phủ xuống con đường. Hắn vẫn cứ chạy.
Hắn đi đâu thế nhỉ?
Đã ra khá xa thành phố, xung quanh bây giờ là những khối núi cao dày đen kịt. Con đường mấp mô lên xuống với nhiều đèo dốc. Hắn định dẫn tôi đi đâu? Tôi hoàn toàn mù mờ nhưng khó cưỡng lại cái ý định bám theo. Phía trước là hắn, xung quanh là đồi núi và những hố sâu, tôi như đang trôi theo cái ý định điên khùng nào đó của hắn. Tôi không còn biết phải làm gì, ngoài việc phải bám theo hắn như ma lực. Bây giờ, trò chơi không còn do tôi điều khiển nữa. Hắn đã thực sự làm chủ, hắn đang là kẻ lèo lái cuộc chơi. Chiếc xe của hắn vẫn lao với tốc độ vừa phải. Cái ánh sáng nhỏ nhoi phía đuôi xe luôn nhấp nhô nhưng vừa đủ để cho tôi nhận thấy mà bám theo. Nhưng không lẽ hắn không dừng lại, hay hắn đang chạy vô mục đích? Có thể lắm chứ, một kẻ đã rơi xuống tận cùng như hắn thì làm gì còn có mục đích.
Bấy giờ trăng khuya đã lên cao, phủ xuống vùng núi hoang vắng một thứ ánh sáng mờ ảo ma quái. Chúng tôi đã lên đến đỉnh đèo. Bên phải là đỉnh núi đá cao vút, bên trái là vực sâu đen hun hút. Hắn dừng xe lại bên bờ vực, bước ra và đứng nhìn xuống. Cái bóng của hắn không còn xiêu vẹo nữa mà thẳng người và im lìm như bóng núi. Hắn hơi nghiêng người nhìn xuống vực sâu. Hắn đang tính chuyện điên khùng gì đây? Tôi thoáng nghi hoặc. Rồi bất ngờ hắn đẩy chiếc xe xuống hố. Tiếng nó va vào đá nghe khô khốc và sâu thẳm. Hắn vẫn đứng im. Tim tôi đập mạnh. Nhưng tôi chẳng muốn làm gì. Mà tôi có thể làm được gì? Chạy lại khuyên can hắn ư? Không đời nào. Hay ít nhất cũng kéo hắn ra xa miệng vực? Tôi không thể làm những điều đó với hắn, bởi một lý do đơn giản: hắn đang thực hiện theo đúng bài bản kế hoạch mà tôi đã mường tượng ra, trừ những chi tiết cuối cùng này. Hắn là diễn viên, còn tôi vừa là tác giả kịch bản vừa là đạo diễn. Nhưng giờ đây, hắn đang làm hết thảy, vừa đạo diễn vừa diễn xuất. Có thể hắn sẽ diễn cảnh cuối cùng này cho được hoành tráng và bi thương. Người như hắn thì có thể làm được gì trong cuộc đời, ngoài cái kiểu luôn làm vừa lòng người khác. Cho nên giờ đây, hắn có cơ hội để diễn thật bi thương cái thân phận người mà hắn đã trót mang, cái số phận run rủi đã khiến cho hắn rơi xuống tận cùng đáy. Và tôi biết hắn đang ý thức đầy đủ về điều đó. Hãy để yên cho hắn tự kết thúc. Và tôi sẽ làm người theo dõi tận tuỵ.
Nhưng hắn vẫn đứng im lìm như đá núi. Hắn còn tiếc nuối điều gì chăng? Hắn đang nhớ vợ con mình? Hay hắn vẫn chưa thỏa cơn thích xác thịt với ả gái hết thời kia? Hay tất cả những điều ấy?
Càng lúc hắn càng tiến sát miệng vực hơn. Hắn nhích từng chút một về nơi mà hắn đã chọn. Bây giờ thì tôi tin chắc rằng hắn đang muốn xoá dấu tích cuối cùng của mình trên thế gian. Sau hành động này, hắn sẽ hoàn toàn biết mất như chưa hề tồn tại.
Bây giờ hắn đã đứng sát miệng vực như không thể gần hơn. Một cơn gió nhẹ cũng đủ đẩy hắn xuống đó. Vâng, thật kỳ diệu như định mệnh, một cơn gió khuya lạnh lẽo chợt thổi đến. Nó ngang qua chỗ tôi, sau đó bay sang bên kia đường tới nơi hắn đang đứng. Hắn chao đảo liên hồi, hai tay chới với. Rồi một tiếng “soạt” nghe gọn gàng: hắn rơi xuống hố. Đất đá rơi theo va vào lá cây nghe lạo xạo. Hắn đã rơi xuống đó, nhẹ tênh, và gây ra tiếng động không đủ làm thức bọn côn trùng đang ngủ.
Tôi tiến qua đường và nhìn xuống. Đó là một vực sâu thăm thẳm tối đen. Bây giờ thi tôi tin không có cách nào để hắn quay trở lại được nữa.
Hắn đã thực sự biến mất không để lại dấu vết…
Tôi quay về nhà với lòng trống không. Một vài hôm sau tôi đi làm lại. Thằng trai trẻ vẫn đang ngồi đó, đọc đọc viết viết ra vẻ rất miệt mài. Chỉ có điểu kỳ lạ là chẳng ai buồn nhìn tôi hay hỏi vì sao tôi nghỉ làm lâu thế. Những gì tôi đã trải qua và những gì tôi đã chứng kiến, thật sự rất khốc liệt. Thỉnh thoảng tôi lại nhìn sang anh chàng trai trẻ. Hắn vẫn chẳng để ý gì đến tôi. Mà hắn trẻ thật, gương mặt còn đầy những nét ngây ngô của môt thằng học trò. Tôi đang ước ao được hắn nhìn sang tôi dù chỉ một lần. Được như thế, tôi sẽ nở nụ cười với hắn ngay lập tức…
Buổi chiều hôm ấy, khi trở về nhà, tôi nhận được một bưu kiện không đề tên người gửi. Khi mở ra, tôi thật sự bị sốc khi đó là những tấm hình mà tôi đã chụp lén gã “đại chúng”. Những tấm hình tôi đã gởi đi cùng với lá thư hướng dẫn chi tiết, bây giờ nó quay về đầy đủ cùng với một lá thư khác.
Tôi mở vội thư ra: đó là thư của hắn. Hắn đã viết thư này để gởi tôi ư?
“Chào anh,
Cám ơn anh vì đã kiên nhẫn chứng kiến những giây phút cuối cùng của đời tôi. Bây giờ chắc anh đã mãn nguyện rồi chứ? Tôi đã hoàn toàn biến mất không để lại dấu vết như anh mong muốn. Nhưng tôi vẫn chưa phải là kẻ vô danh, bởi vẫn còn ít nhất một người đã biết ít nhiều về cuộc đời tôi. Người đó là anh.
Một kẻ vô danh, theo như tôi nghĩ, phải là kẻ biến mất mà chỉ có trời biết, đất biết. Trong trò chơi của chúng ta, tôi chỉ trở nên vô danh nếu anh cũng là kẻ vô danh. Anh có dám làm cái điều mà tôi đã làm hay không?
Cái hố sâu ấy vẫn còn đủ chỗ cho nhiều người, và tôi đang đợi anh đến vào một ngày nào đó.
Nhân tiện đây, tôi xin gởi trả lại anh mấy tấm hình vì không còn ai giữ chúng nữa. Và anh cũng nên biết một điều: tôi chưa lập gia đình.
Chào anh, chúc anh khoẻ. Tôi vẫn luôn đợi anh đến”
Cho đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu làm cách nào hắn lại thực hiện trọn vẹn cái kế hoạch mà tôi chỉ mới tưởng tượng ra trong đầu.

TRÀ ĐÓA

GIỮA RỪNG GIÀ CÁT TIÊN

tranthoainguyen

Vào rừng sâu,lạc lối
Cây rừng già ngàn năm
Vạch lá tìm nguồn cội
Thấy mình vẻ vô tăm!

Rễ cắm lòng đất sâu
Chim ngàn năm về đậu.
Sụp lạy Ngài cổ thụ
Thương đời người phù du!

Giữa rừng già Cát Tiên
Trong lòng Mẹ Thiên Nhiên
Làm ngoan đồng Lão Tử
Cùng trăng chơi vạn miền.

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Thuyền Ai Trôi Trong Sương

tranvanle

Sắp Tết rồi là cũng sắp mùa Xuân,
trời vẫn lạnh, chắc mùa Đông lười biếng?
Ở nước Mỹ, mùa Xuân không én liệng,
chưa một điềm báo trước những ngày mai…

Tuyết đang rơi, gặp gió tuyết bay bay,
những chiếc khăn quàng cổ thêm bề dày thêm đẹp!
Không có nắng nên nhà nhà cửa khép,
không bàn tay nào không có bao tay!

Tôi không ở bên trong, không ở bên ngoài,
tôi đi giữa mùa Đông tuyết trắng,
tôi chắc giống ai kia mắt buồn sâu lắng,
ngó xa xôi, ai cũng tha hương?

Sắp Tết rồi…là sắp hết buồn,
tôi lại nhắc chữ Tha Hương, lại nghe buồn da diết.
Tại sao người Việt Nam mình cứ đi hoài đi miết…
không lẽ vì oan nghiệt tự ngày xưa?

Nếu Thủy Tinh đừng làm gió làm mưa…
Nếu Sơn Tinh đừng dựng cờ trên đỉnh núi…
Nếu Âu Cơ đừng dẫn năm mươi con tan đàn lầm lũi…
Nếu Lạc Long Quân đừng dẫn năm mươi con bơi lội đại dương…

Tôi chợt nhớ Vũ Hoàng Chương,
“Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa…”.
Tôi giận tôi, tại sao mình “chợt nhớ”,
sẽ “chợt quên” chăng? Lúc đó, lúc nào?

Sắp đến Tết rồi, sắp thấy hoa đào,
“khứ niên kim nhật”, tôi chờ đợi.
Mây trên đèo Ngoạn Mục kia, phải không, đang nổi?
Sóng trên dòng Hương Giang kia, phải không, thuyền ai trong sương?

Trần Vấn Lệ

Ôi Khỉ đột!…

tranthitrucha

Tôi ghét hắn như nhà nông ghét cỏ.
Bởi vì lúc nào hắn cũng cà khịa, sửa lưng tôi.
Tôi nói trái thì hắn nói phải, tôi nói đông thì hắn nói Tây, tôi nói nam thì hắn nói Bắc…
Hình như không cãi lại tôi thì hắn ăn không ngon ngủ không yên.
Chúa ơi!
Kiếp trước con có nợ nần gì hắn không?
Vậy mà có người nói với tôi rằng hắn thương tôi mà không dám nói nên nhờ nói lại dùm.
Haiza!… Tôi có cớ để trấn áp hắn rồi.
Phen này thì chết nghe con.

Nè, ông kia!
Gì?
Ông nói gì với người ta nhờ nhắn gởi lại cho tôi?
Nói gì là nói gì? Mà ai nói?
Thì bạn của ông nói là ông nhờ nhắn gởi . Ông có đủ dũng cảm thì nói trực tiếp với tôi, không thì nín nha, không có nhắn gởi lung tung.
Mà nói gì mới được chứ?
Thì… Ông nói ông thương tôi.
Ha… Ha… ha…
Ông cười gì mà cười lắm thế, qua núi Sơn Trà mà cười với mấy con khỉ đột.
Hắn vẫn gập người ôm bụng, đỏ mặt đỏ tai vì cười.
Quý nương ơi là quý nương! sao mà nàng dễ tin người đến vậy? Tôi hết người thương rồi hay sao mà lại đi thương nàng.
Tức như bò đá!
Nhưng tôi cũng cố lườm hắn một nhát
Tôi cấm ông từ rày không được đem tôi ra để làm trò đùa. Một lần nữa ông biết tay tôi.
Đa tạ quý nương! Tôi hứa từ rày về sau tôi sẽ né quý nương!

Mùa thu thời tiết thất thường, đỏng đảnh y chang… Tôi. Buổi sáng trời đang vời vợi ngát xanh bổng dưng chiều xuống thấp lè tè một màu mây xám xịt.
Tôi đau!
Vừa sụt sịt cảm sốt do thời tiết, vừa uất ức vì thua hắn một ván đậm.
Tưởng đâu nắm chắc phần thắng trong tay, hắn sẽ cúi đầu nhận tội, ai dè …
Tôi nằm ở nhà không đến lớp.
Hắn là lớp trưởng và là một tên phát xít chính thống.
Kệ hắn, cóc sợ!

Cô bạn thân ôm cặp bước vào:
Đau ốm gì không đi học nhỏ?
Cảm sốt .
Cảm gì, cảm mạo thương chàng hở?
Thương con khỉ đột .
Hi…hi… khỉ đột hỏi thăm nhỏ đó?
Hỏi gì?
Hỏi đau ốm ra sao? Có cần hắn tới chăm sóc hông?

A! Nghĩ ra rồi, phen này sẽ không thua nữa nghe con.
Nhỏ nè, ta nhờ nhỏ một chút nha !
Nhờ gì?
Bạn bè ta nói thật, ta ốm tương tư con khỉ đột đó. Nhỏ giúp ta đưa cho khỉ đột một bức tâm thư. Nhỏ thương ta, giúp ta thì mới hết bịnh mà đi học, nếu không ta buồn, héo hắt mà chết mất..
Thật không đó? Ta nghi lắm, nhỏ với hắn như chó với mèo , làm sao mà nhỏ “si” hắn đến vậy ?
Không biết. Chắc kiếp trước ta mượn tiền hắn rồi xù không trả nên kiếp này hắn theo ám ta.
Thôi được, ta nhận lời, thư đâu đưa đây ?
Chờ ta năm phút nha!
Thư tình gì mà mỏng tang vậy trời?
Ý ít tình nhiều mà! Nhỏ phải nói với con khỉ đột thật lâm li bi đát nha, nói ta ốm nặng lắm, chắc không qua khỏi.

Vẫn còn choáng váng trong sốt nhưng cũng cố lết tới trường xem vở bi hài kịch hạ màn như thế nào. Giờ ra chơi, tôi núp ở góc nhà xe chờ hắn đi ra. Hắn thường trốn ra đây hút thuốc mà.
A!…Hắn kia rồi .
Có vẻ vội vã và căng thẳng. Nhỏ bạn chắc chắn hát bài ca con cá hay.
Đúng y chang như dự đoán của đạo diễn.
Hắn cẩn thận xé phong bì thơ.
Tờ giấy pơ luya xanh rơi ra mỏng như chiếc lá.
Lật qua
Lật lại …
Mặt hắn đỏ như mặt trời …
Bức thư chỉ có bốn chữ, trang bên này có hai chữ “lật qua”, trang bên kia có hai chữ “lật lại”
Ha…ha…ha…
Bức thư tình hay nhất thế giới phải không ông?
Hắn giận tím mặt.
Rảnh dữ ha? Quí nương bịnh mà chết thì chỉ có xuống địa ngục thôi, không lên thiên đường nổi đâu.
Ôi, thiên đường dành cho ông đó, tôi ở trên đó xuống đây, buồn hiu hà.

Mùa đông trở về thật u ám, hắt hiu như khuôn mặt của hắn.
Hắn chẳng cười, chẳng trò chuyện cùng ai, chỉ nghe giọng hắn dõng dạc ra lệnh những thông tin thông báo của trường, của khoa.
Tôi vẫn ngồi bên cửa sổ của hội trường lơ đểnh nghe lời giảng của thầy và thỉnh thoảng len lén nhìn hắn. Hắn chăm chú ghi chép, sinh viên gương mẫu mà. Thầy cô tin tưởng hắn, bạn bè quí mến hắn… Nghe loáng thoáng hình như hắn được giữ lại để làm giảng viên. Năm cuối rồi, ai cũng lo lắng cho con đường phía trước.
Các bạn nghe thông báo của khoa. Tuần sau lớp chúng ta sẽ thi phần văn học Nga, sau đó các bạn được nghỉ ba ngày để về nhà chuẩn bị cho đợt lao động một tháng ở nông trường dứa.
Ôi mẹ ơi, nông trường dứa trong mùa đông này ! chắc con chết mất !
Mưa gió, rét buốt của nông trường trên đỉnh núi heo hút đó và những vết cắt của gai dứa từ năm ngoái đến năm nay vẫn chưa lành sẹo.
Tôi ghét hắn, ghét những tin tức mà hắn thông báo. Nhưng biết làm gì ?!…

Hắn cuốc đất giỏi như nông dân, những luống đất hắn đánh vồng đẹp, thẳng tắp không méo mó xiên xẹo như những chàng công tử thành phố. Tôi theo sau hắn, áo mưa bê bết bùn nước, lầm lụi cúi mặt trồng những cây dứa cho đúng khoảng cách cự ly. Lạnh, đói, mệt… Phải chi người ta đừng ăn dứa! Đã thế thỉnh thoảng hắn còn quay lại nạt nộ:
Nhanh lên, làm gì mà như rùa bò, chưa đúng cự ly kìa, nhổ lên trồng lại đi.
Mệt lắm, ổng giỏi thì trồng đi!
Nước mắt hoà trong nước mưa thật thảm hại. Hắn dịu giọng:
Thôi nghỉ đi, để đó trồng cho.
Vậy thì nghỉ, hắn vừa cuốc đất vừa trồng, sao hắn làm gì cũng giỏi hơn người khác vậy hở trời? Thấy hắn tội tội làm sao !

Mùa xuân sương trắng long lanh trên cây lá khu vườn trường, những cơn gió heo may se sắt đi qua mơn man những mầm non nhú lên từ cành bàng trơ trụi. Khu nội trú xôn xao, náo nức lạ thường.
Tiếng đàn tiếng trống vang vang một góc hội trường của ban văn nghệ đang tập tành múa hát chuẩn hội diễn mùa xuân.
Hắn cùng tôi và hai tướng viết chữ đẹp phụ trách báo tập. Hắn chịu trách nhiệm vẽ trang trí bìa, ghi nhan đề, hai ông tướng kia viết bài, còn tôi chịu trách nhiệm đọc, chọn, chỉnh sửa và viết lời ngỏ…
Những bài viết của sinh viên khoa văn thì ôi thôi quá đa dạng, thật sự tôi không dám thò tay vào sửa bài của các “tướng”, đụng vào ổ kiến lửa sợ lắm. Tôi đọc bài của hắn… Hắn viết về ngôi nhà nhỏ dựa lưng vào vách núi, ở đó có một người mẹ ốm nặng không đi lại được, một người bố nhọc nhằn cày bừa trên mảnh đất đầy đá sỏi, đứa em trai vừa học vừa thay anh chăm sóc mẹ… Hắn đã ra đi từ đó, từ những chiều tắt nắng đứng sau nương rẫy chống cuốc chờ đoàn tàu đi qua, mơ ước một lần trèo lên con tàu để đi về thành phố, được ngồi vào giảng đường đại học… Rồi khi đạt được điều mơ ước hắn lại trăn trở thương ba vất vả gánh gồng, thương mẹ bịnh tật đớn đau, thương em thiệt thòi ở quê nhà…

Tôi lặng lẽ bước ra ghế đá ngồi bó gối, nước mắt ứa ra.
Tự nhiên ra đây ngồi khóc, ai đánh mà khóc?
Không ai đánh hết
Vậy sao khóc?
Không biết. Tại đọc bài ông viết.

Ông nhớ nhà lắm hở?
Hắn chớp mắt nói nhỏ:
Nhớ!
Lâu nay tôi trêu đùa chọc ghẹo ông có ghét tôi hông?
Hỏi lãng xẹt. Thôi vào làm cho xong tập báo. Đúng là ngớ ngẩn!

Mùa hè nóng rát với màu đỏ chói chang đến nhức mắt của phượng vỹ và tiếng râm ran muốn điếc tai điếc óc của lũ ve sầu.
Tôi ở ngoại trú phải chạy đi chạy về đoạn đường từ nhà đến trường nên da nâu đen như thỏi kẹo chocola. Vào thư viện tìm tư liệu rồi tìm thầy hướng dẫn, tất bật với luận văn tốt nghiệp. Hắn bảo:
Quí nương chịu khó vào ở nội trú đi, các bạn ở được thì mình ở được, có gì tôi còn hổ trợ.
Lần đầu tiên tôi ngoan ngoãn nghe theo lời hắn.
Chúi đầu vào luận văn tôi chẳng để ý đến lời xầm xì của bọn con gái .
Anh như con chó, em như con mèo hai con cắn nhau
Xì… Cắn đâu mà cắn …đang hít nhau như nam châm kìa.
Hắn phớt ăng lê. Tôi cũng vậy.
Ngày bảo vệ tốt nghiệp kết quả đẹp như mơ. Thầy chủ nhiệm khoa nhìn tôi và hắn cười:
Cô cậu giỏi lắm !
Văn phòng khoa những ngày này sinh viên ra vào tấp nập. Khuôn mặt ai cũng căng thẳng đầy lo âu, không biết rồi số phận mỗi người sẽ đi đâu về đâu?!
Tôi thản nhiên. Về đâu cũng được! miễn ra trường đi dạy là vui rồi. Hắn nhìn tôi tủm tỉm cười khó hiểu.
Ngày công bố quyết định bổ nhiệm đứa cười, đứa khóc.
Mỗi người đi về mỗi ngã.
Kẻ lên núi, người về quê, đứa may mắn về những thị trấn ven ngoại ô thành phố… Hắn về lại quê nhà của hắn. Chỉ có tôi … về trường chuyên thành phố. Tôi ngỡ ngàng không tin vào mắt mình, chạy đi tìm hắn hỏi có phải người ta đưa nhầm quyết định bổ nhiệm. Hắn cốc đầu tôi mắng:
Ngố ạ! Quí nương về trường chuyên là đúng rồi, nhầm cái gì.
Chẳng có liên hoan, chẳng có tiễn đưa, chẳng còn ai có tâm trạng mà vui đùa, cuộc chia tay diễn ra trong lặng lẽ, không có tiếng cười, chỉ có những giọt nước.
Tôi đưa hắn ra sân ga, tiếng còi tàu não ruột. Hắn leo lên con tàu và đuổi tôi như đuổi tà.
Về đi, đứng đây làm gì cho nắng nôi.
Tôi lửng thửng đi về trong cái nắng chênh chao tháng bảy.

Thời gian đi qua như một con người vô cảm thờ ơ.
Tôi trở về trong ngày hội Thành lập trường với nỗi ao ước mong manh được gặp lại hắn.
Bạn bè lớp tôi mỗi đứa mỗi nơi trở về lác đác.
Thầy chủ nhiệm khoa hỏi :
Em có liên lạc với lớp trưởng không?
Dạ, Thưa thầy không !… Ra trường rồi như lạc mất nhau luôn. Công việc, gia đình … Cứ như cuốn mình đi.
Thầy chép miệng lắc đầu:
Có một điều thầy đã hứa với hắn là sẽ không bao giờ kể lại cho em nghe. Nhưng bây giờ thì tất cả đã được số phận sắp xếp đâu vào đấy rồi, thầy không muốn giấu em làm gì.
Chuyện gì nghiêm trọng lắm hở thầy?
Ngày đó, chỉ có một chỉ tiêu duy nhất được về trường chuyên thành phố dành cho thủ khoa. Đó là hắn chứ không phải em. Điểm luận văn tốt nghiệp của em đứng sau hắn, hơn nữa hắn là lớp trưởng năng nổ nhiệt tình, có nhiều đóng góp cho lớp cho khoa. Hội đồng sư phạm khoa đã quyết định chọn hắn. Vậy mà hắn đã gặp thầy để trình bày nguyện vọng muốn về quê vì lí do gia đình neo đơn, ba mẹ già yếu, em trai chuẩn bị vào đại học nhà không có ai bên cạnh cha mẹ… Và hắn đã năn nỉ thầy hãy dành tiêu chuẩn đó cho em. Hắn đã thuyết phục thầy bằng cách đưa ra nhiều ưu điểm của em , hắn nói một cô giáo như em sẽ đào tạo được nhiều học sinh giỏi ở trường chuyên…
Tôi nghe mắt mình cay xè.
Thầy ơi, từ ngày đó đến bây giờ lớp trưởng có về lại trường không?
Hè năm nào hắn cũng về thăm thầy, lần cuối cùng hắn buồn lắm khi biết em sắp lập gia đình. Rồi không thấy về nữa.
Trời ơi!
Sao hắn cứ nói dùm cho người khác mà chẳng bao giờ đủ can đảm để nói cho chính hắn?
Hắn muốn biến tôi thành kẻ vô tâm vô tình.
Hắn muốn tôi phải nợ hắn đời đời kiếp kiếp?!…

Trần thị Trúc Hạ

Thơm mùi rơm rạ

tranngochuong

Bếp lửa chiều lên khói,
Thơm mùi rơm rạ quê.
Cả mùi cơm gạo mới,
Như rủ rê tôi về.

Bao tháng ngày tất bật,
Chộn rộn giữa phố người
Giây phút nào day trở
Thao thức giữa lòng tôi

Bóng dáng xưa cha mẹ,
Đơn sơ mái lá nghèo
Mà thiết tha nồng ấm
Hạnh phúc biết bao nhiêu

Dẫu lúc này ở đó
Người thân chẳng còn ai
Mà bao hình bóng cũ
Vẫn vấn vương tôi hoài

Bươn chải vì sinh kế,
Chèo chống mỏi mê rồi
Bìm bịp kêu nước lớn
Nào ta đỗ bến thôi*

Bếp phù sa lên khói,
Thúc giục gọi tôi về
Gần một đời lưu lạc,
Sao chưa trở lại quê?

Trần Ngọc Hưởng

Cơn gió mang hồn tuổi thơ (TT)

ledachoanghuu

Ba nó và chú Ba Mạnh đắp bờ cuốc lật được mỗi người hai sào ruộng là có cơn mưa đầu mùa. Cơn mưa đầu mùa đổ xuống như trút nước, hơn mười mấy phuy nước. Ba nó nói với chú Ba Mạnh:
“Hổng chừng năm nay mưa dữ à”.
Chú ba Mạnh cũng nghĩ vậy:
“Chắc vậy đó anh, mưa cho lúa tốt”.
Xuống giống bắp rẫy xong là xới mấy luống đất gieo mạ, chờ đủ nước bang đất thì cấy. Gieo mạ là giống lúa Ba Thóc, ngắn ngày hơn Nàng Yếu, Nàng Thơm, Nàng Sậu, chỉ bốn tháng, gạo tuy không ngon bằng, năng suất thì kém xa lúa ngắn ngày cao sản 3A, hột rất thưa nên kêu ba thóc nhưng bà con nói xưa giờ chưa thấy rày riết gì khi trồng lúa Ba Thóc, vậy là Ba nó và chú Ba Mạnh làm cho chắc ăn chớ tiền đâu mua thuốc rày và cũng đang khan hiếm, chợ đen còn khó kiếm.
Trời mưa mấy cây nữa, khoảng hơn nửa tháng sau thì ngưng bặt, im hơi lặng tiếng gần cả tháng. Nắng hạn nhiều ruộng gò đất bắt đầu nức nẻ, bắp chực chờ muốn héo. Bà con lo lắng trăm bề nay càng lo lắng hơn. Cầu mưa suốt mà chẳng thấy đâu, gặp nhau chỉ biết rầu rỉ. Dì Tư Thể gặp má nó:
“Bà con mình làm gì nên tội mà như bị trả báo vậy chị Hai?”.
Má nó lắc đầu:
“Chẳng hiểu dì Tư ơi, như no dồn đói dập vậy, cái khó cái khổ sao cứ ập tới liên miên”.
Dì Tư thể mệt mỏi:
“Kéo dài vài bữa nữa điệu này chết quá”.
Mạ già, không thể khác được, ba nó kêu nhổ cấy khô, cấy trong cái đất deo dẻo sền sệt, có chỗ cứng quá phải lấy cây vạt nhọn đầu chọt lỗ mà cắm xuống, như người dân tộc vùng cao trồng tỉa. Vừa làm vừa ngó trời. Có những buổi chiều mây ầm ầm đen nghịt kéo tới, ai nấy khấp khởi mừng thầm, miệng lầm rầm khấn vái ông Trời mưa xuống, mưa xuống cho bà con nhờ, rồi mây quần quần cả buổi sau kéo đi và tan rã, những cái lắc thẩn thờ lại ở trên đầu bà con.
Mỗi nhà cấy được một sào rưỡi, nửa sao còn lại đất quánh lại, không cách gì chọt được. Gần ruộng còn cái búng nước còn đầy, ba nó và chú Ba Mạnh quyết đào con mương đưa nước vô, được chút nước nào hay chút đó, chỉ mong đất được mềm cấy hết mạ rồi trông chờ mưa. Đào mương hai ngày, nước chảy tàm tạm để đủ cấy cho hết. Buổi chiều anh em nó chạy ra tát cho hết nước trong búng qua mương, cạn sạch nước thì, Trời! cá con lóc nhóc, nhảy búng quá chừng, lấy rổ xúc lấy xúc để, cá lóc và cá trê con bằng ngón út được cả thùng, cá rô nhỏ xíu như hột bí được cả rổ rá lớn, gần cả chục ký hông chừng. Anh em nó mừng rơn. Ba nó cũng mừng nhưng có phần buồn buồn:
“Cá con này kho tiêu hay kho lá gừng là khỏi chê, nhưng nay mai thì cá hông biết có sanh ra hông”.
Chú Ba Mạnh trấn an:
“Chắc có mưa có sanh anh Hai ơi”.
Hai anh em nó dù trời gần sụp tối cũng xách một nửa chạy về, biết ở nhà cũng sẽ mừng lắm. Hai anh em đi một đoạn rồi chạy lúp xúp một đoạn, mệt lại đi, về tới xóm trong trời tối mịt, anh nó gõ cửa nhà thím Ba Mạnh. Tiếng thím ba trong nhà vọng ra hỏi:
“Ai đó, có việc gì đêm khuya đêm hôm?”.
Anh nó trả lời:
“Dạ, tụi con đây thím, tụi con trong rẫy về”.
Nghe vậy thím ba ra mở cửa vẻ mặt lo lắng:
“Có gì vậy hông tụi con?”.
“Dạ, hông có gì, trong đó bắt được mớ cá con, tụi con tranh thủ đem về một ít” – anh nó lấy cá đưa thím ba.
Thím Ba thờ phào:
“Thím cứ sợ có chuyện gì trong rẫy, cảm ơn tụi con nghe, trong đó sao rồi”.
“Dạ, có ít nước búng nên cấy gần xong”.
Hai anh em về tới nhà, má nó giựt mình:
“Trời đất! tụi con đi chi tối tui vậy, nguy hiểm lắm”.
Anh nó cười:
“Dạ, cũng đi nhiều lần rồi nên quen, hông có sao đâu má, tụi con thủ sẵn mấy cây gậy, phòng rắn rít rồi”.
Má nó cầm bọc cá mà rưng rưng, nói giống ba nó:
“Để má làm bây giờ luôn cho nó tươi, cá này kho tiêu là nhứt”.

***

Ruộng lúa hợp tác xã làm ngày càng ẩu nay gặp nắng hạn vàng úa lẫn trong cỏ. Đất hoa màu gần một nửa bị bỏ hoang bởi cỏ ống ngập tràn, một nửa năm nay trồng bắp cũng vàng như lúa, không còn trồng bo bo. Anh Hải tặc kêu anh Ngạo:
“Mấy cái giếng nước cạn queo hết nước xài, xuống bưng đường khó đi quá, mày chạy thử lên đập coi có nước hông mậy”.
Anh Ngạo gật đầu:
“Ờ, để chiều xách xe lên coi sao, sẵn coi ông cụ già hổm nói luôn”.
Chiều anh Ngạo chạy đi rồi về, vừa đi vừa ngêu ngao:
“Nước ơi nước, thuyền ơi thuyền, mây ơi mây…”.
Anh Hải la:
“Tình thế này mà còn hát với hò mậy”.
Anh Ngạo trợn mắt:
“Hông lẽ khóc cha nội, khóc được gì hông… – Quay qua chú Năm Ngạn anh Ngạo tiếp – Mà tui hát đàng hoàng nghen, hông có hát bậy rồi kêu làm này làm nọ à”.
Chú Năm chặc lưỡi:
“Mày lúc nào cũng cà rửng, cà khịa, sao nói đi”.
Anh Ngạo chề môi:
“Thì đó, tui kêu nước ơi nước, mày đâu rồi đó, có giọt nào đâu, khô queo như đồng này chớ hơn gì”.
Bà con thở dài, anh Hải chặc lưỡi:
“Rồi, phải xuống bưng lấy nước về xài rồi bà con, à đập còn hông mậy”.
“Còn… mà còn có một nửa, bay mẹ nó một nửa rồi, ông cụ già nói hay ác ghê, cơn mưa đầu mùa nó thấm đất, vài cơn mưa sau nhỏ xíu mà nó đi một nửa, vài bữa mưa lớn đi hết cái chắc, phải chi nghe ổng đỡ cực công…”.
Anh Hải chặn lại:
“Thôi vậy đủ rồi mày ơi, chuyện đó có người khác lo, mày nói nhiều coi chừng mang họa vào thân”.
Chú Năm Ngàn đồng tình:
“Thằng Hải nói đúng đó mậy, thôi bữa nay nghỉ sớm, bà con tranh thủ đi lấy nước”.
Anh Ngạo nói thêm câu nữa:
“Phải chi ai làm cán bộ ai cũng như ông Năm thì đỡ khổ”.
Dì Tư Thể vừa đi về vừa nói:
“Có người này người kia mày ơi, ở đâu cũng có anh hùng ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên”.

***

Cuối cùng vài ngày sau mưa cũng chịu tới. Bà con mừng phát khóc. Cơn mưa cứu tinh, cứu những đám bắp sắp sửa quỵ ngã, lá đã héo. Mấy sào lúa trong rẫy nhà nó và chú Ba Mạnh vừa cấy xong, úa vàng còn kịp nức lá lại chưa cháy khô. Mưa xuống không chỉ cảnh vật háo hức, hừng hực đâm chồi nảy lá vươn lên, bà con cũng như được tiếp sức sống. Nhưng rồi nhìn đi nhìn lại, nhà cửa đã trống huơ trống hoát, thức ăn dự trữ cạn queo, đồ đạc quý giá đã dần dần “đội nón” ra đi về phương trời nao. Chưa tới mùa gì cả, kể cả những dãi khoai lang…
Đói! Làm sao? Uốn nước mưa trừ cơm à?
Câu hỏi của kẻ ở gần cuối đường hầm, không chút ánh sáng. Rồi đến cuối đường chợt may mắn đến, một ánh đèn dầu leo lét lóe lên, ông cụ già xuất hiện:
“Vô rừng đào củ mài củ nần” – Chỉ vậy thôi rồi ông đi.
Bà con ào ào vai cuốc vai xẻng, vai giống vai gánh xông vô rừng, quên cả cảm ơn cụ già, quên cả hỏi ông ở đâu, anh Hải đất vừa đi vừa thật thà:
“Ông già giống ông bụt quá!”.
Anh Hải tặc cười:
“Ờ, giống thiệt nhưng ổng hông phải là ông bụt, ổng ở dưới bưng”.
Anh Ngạo gật đầu:
“Nghe nói ổng ở ẩn, có việc cần kíp ổng mới ra khỏi nhà, căn nhà của ổng cũng khó tìm, nằm trong rừng cây tán lá”.
Dì Tư Thể xen vô:
“Ổng hay thiệt chớ, bà con ai nấy quên bén, tui chỉ nhớ măng rừng nhưng chưa tới mùa, mài nần thì đâu ai đào bới còn từ mùa năm ngoái, năm trước nữa năm nay lớn thêm”.
Chị nó cũng theo đoàn người, chị nó cười:
“Con thì hông biết mấy loại này”.
Chú Tám phèn quay qua chị nó:
“Bây ở Sài Gòn mới về làm sao biết hết”.
Đoàn người tới rừng, khoai nần nhiều lắm đây mọc trải dài có gai nhỏ, lá tròn củ tròn to như khoai sọ, khoai mỡ u u nần nần, dây khoai mài ít hơn lá dài, củ dài thòn, ba bốn năm tất, nhỏ hơn cùm tay. Ai nấy vui mừng đào lấy đào để, gồng gánh về như đi hội. Dì Tư Thể nó:
“Khoai mài là ngon số một, ngọt bùi ngon còn hơn khoai mỡ”.
Anh Hải gật đầu:
“Chị Tư nói đúng, về luột khoai mài liền”.
Đem về nhà, đúng là khoai mài rất ngon, bà con làm tới tới, ngày hai bữa ăn không ngán, bữa cơm độn khoai lang hay bo bo thành bữa dặm. Hết khoai mài xoay qua củ nần, sáng luột củ nần ăn chưa tới trưa thì… lâng lâng, ra đồng anh Ngạo xà quầng như người say rượu, anh Hải tặc thấy lạ hỏi:
“Ủa, mày làm gì như gà mắc tóc vậy mậy, tối hôm qua xỉn lắm hả?”.
Anh Ngạo giọng uể oải”
“Tối qua có uống gì đâu, cơm hông có ăn lấy đâu rượu ông”.
Dì Tư Thệ thấy chị Thu Ba cũng lạ nên hỏi:
“Ủa mày làm gì như con gà quáng vậy Thu Ba?”.
Chị Thu Ba đáp giọng khọt khẹt:
“Dạ, con cũng hông biết nữa, sao sáng giờ người chóng mặt, say xẩm, như say rượu”.
Chú Tám phèn chợt la lớn:
“Tụi bây sáng nay ăn củ nần luột tươi phải hông?”.
Anh Ngạo và chị Thu Ba gật đầu. Dì Tư Thệ đập tay cái bốp:
“Trời! hèn chi, bây hông có biết gì hết, móc họng lẹ ra đi, để nó ngấm càng lâu càng khổ”.
Anh Ngạo và chị Thu Ba phải móc họng cho ói ra hết, vô bụi cây nằm phè, dì Tư Thể tiếp:
“Thằng Hải mày chạy về chỗ bà Bảy Hớn bán quán xin đỡ trái chanh với miếng đường quậy cho tụi nó uống giải độc, tao về nhà kiếm thêm miếng gừng”.
Có nước chanh và củ gừng, dần hồi anh Ngạo và chị Thu Ba đỡ ra, dì Tư Thệ chặc lưỡi:
“Tao tưởng bây biết chớ cái thằng miệng lưỡi bô bô này, xẻ củ nần ra coi, thịt thì vàng để chút xíu là có nhựa đóng liền, mùi ngai ngái hăng hắc”.
Chú Tám Phèn chỉ cách:
“Nần độc lắm, ăn luột liền kiểu này say chết người, trước tiên phải gọt vỏ, xắt lát rồi ngâm nước năm lần bảy lượt mới nấu ăn, phơi khô để dành cũng được”.
Chị nó trợn tráo mắt:
“Nhà con cũng đâu có biết, may quá là chưa có ăn”.
Chú Tám Phèn cười:
“Giờ thì biết rồ nghen, người ta còn nói đói nhăn răng mới ăn củ nần đó con”.
Nhà nó không dám giữ củ nần, sợ quá đem đổ bỏ hết, mà cũng do cái ăn còn chút chút tàm tạm dự trữ. Nói là sợ vậy chớ nần mài củ của rừng tuy ăn được phải rưng rưng nước mắt đã cứu đói không biết bao nhiêu nhà, qua cơn bĩ cực đến giữa mưa, có bắp có khoai lang.

***

Rẫy phát đốt mùa đầu tiên nên không có cỏ, ruộng lúa cuốc lật ủ mấy tháng cũng vậy, cỏ mục tan thành bùn, cho đất tốt. Không mất công làm cỏ ba nó và chú Ba Mạnh tiếp tục đốn cây làm than. Nghỉ hè, anh nó ở nhà phụ má còn nó ở lại trong rẫy phụ chuyện vặt, đưổi chim, đuổi khỉ, heo rừng đêm bằng cái bò cạp và lo cơm nước với ba. Chú Ba Mạnh lượm đâu được chiếc xe kéo ao đó bỏ lại gần đường rày xe lửa kéo về. Ba nó hỏi:
“Của ai vậy chú?”.
Chú Ba đáp:
“Hông biết của ai nữa anh, thấy bỏ ở bãi cỏ, bỏ lâu rồi, tui để ý hổm giờ, chắc là bỏ thiệt chớ hông phải để đó, để đó chi giữa rừng, hư chút đỉnh, sửa lại chắc kéo tạm được”.
Ba nó và chú ba mạnh lục đục cả buổi sửa xong chiếc xe kéo, kéo ngon lành, kéo cây về hầm than đỡ phải vác nặng nhọc. Vài bữa sau ba nó nói:
“Tối nay tui với chú kéo than về”.
“Vậy đi anh chớ cũng lâu rồi chưa đem về, với lại cũng thăm nhà chút, kiếm miếng tiếp tế nữa”.
Chiều ba nó và chú Ba Mạnh chất than lên xe, chú Ba Mạnh lừng khừng:
“Mà có mình thằng nhỏ ngủ lại tui thấy tội quá”.
Ba nó nhăn mặt:
“Nhưng biết làm sao, xe than này tui với chú mới đẩy mới kéo nổi”.
Đứng phụ phụ nãy giờ và ngủ lại cũng lâu lắm rồi nên thấy đâu có gì, nó lên tiếng:
“Dạ, hổng sao đâu, con quen rồi mà, có một đêm chớ bi nhiêu”.
Ba nó hỏi lại:
“Con chắc hông?”.
Nó cười hề:
“Dạ, chắc chớ, hơn cả tháng ngủ trong này rồi mà”.
Chú Ba còn nghi ngại:
“Chắc chắn nghe”.
Nó gật đầu dứt khoát:
“Dạ, ngon lành”.
Trời chập choạng ba nó và chú Ba đẩy xe rời rẫy, còn dặn thêm lần nữa cẩn thận củi lửa, lâu lâu thức oánh bọ cạp như hổm rày.
Đêm xuống, nó – thằng con nít mười bốn tuổi đầu bỗng chợt thấy rùng mình, trống trải giữa màn đêm u tịch, giữa rừng rú xa xăm, giữa đêm tối mịt như đêm ba mươi giơ bàn tay trước mặt còn khó thấy, không tưởng tượng được lúc ở một mình lại như thế này, bấy lâu nay điểm tựa ba nó và chú Ba mạnh mà đâu có nhận ra. Gió rừng lùa thổi qua ào ào nghe như tiếng ác quỷ hay phù thủy trong truyện cổ tích rồi ngừng im bặt, trong cái khoảng thời gian im ắng lâu lâu lại vang lên tiếng động, nó chỉ dám nghĩ có lẽ của cành cây rơi rụng, của con vật nào đó nhảy nhót trong đêm làm giựt mình thôi, nghĩ vậy mà tiếng động còn như hù dọa trêu ngươi rồi. Cứ vậy hết im ắng thì lại tiếp cơn gió ùa qua…
Nó đang quen dần với những tình huống này chợt giựt bắn người, một tiếng động lớn vang vọng tới, đúng hơn là tiếng hú chói tai ập vào, tai nó ong ong lên cả buổi lâu, định thần trở lại thì ra là tiếng còi tàu kèm theo những tiếng xành xạch đi theo, những tiếng lúc bình thường nó vui mừng đón chờ, mong xóa bớt nỗi cô đơn giữa rừng rú cô liêu, thậm chí có những lúc cố lắng nghe từ xa để nhanh chưn chạy ra mà nhìn ngắm chuyến tàu băng băng qua dù chỉ được chốc lát.
Nó chỉ có hai chỗ dám đi, một rón rén bước xuống sạp tới bên bếp lửa cơi cho nó cháy lên và cho thêm củi, hai là nhích người trở về sạp ngồi thu lu, nép sát vào vách, bây giờ vách chòi là điểm tựa cho nó mặc dù đôi khi cũng bị lạnh sống lưng bởi cơn gió len lỏi qua những tấm ván bìa chui vào bên trong chòi.
Phải hơn một tiếng đồng hồ ngồi thu lu như vậy mới vơi dần đi nỗi sợ hãi, nó muốn bước chân ra khỏi chòi chỉ cách đó chừng ba bốn chục bước thôi để oánh bò cạp, phải gióng lên tiếng báo động cho đàn thú rừng biết nơi đây vẫn có người, bắp đã ra trái đâu có thể giỡn chơi được, ấy vậy mà chân nó không nhích, cứng đờ ra như gỗ đá, trong đầu thì mồm một hiện về những câu chuyện kể mà nó nghe được rất nhiều, chuyện con heo độc chiếc dữ dằn, dù bị bắn trọng thương nó có thể quay đầu rượt người đi săn húc lòi cả ruột ra, chuyện cọp về làng bắt trâu bắt bò, còn chuyện khỉ thì chính nó đã từng bị, những con khỉ có biết sợ là gì, những con khỉ quậy tưng sẵn sàng bay vào dành giựt đồ ăn người cầm trên tay chớ đừng nói là chỉ trêu ghẹo…
Nhưng những chuyện này đối với nó cũng không bằng những chuyện về ma quỷ, ma quỷ dẫn người dấu trong bụi tre, dẫn người đi lang thang trong rừng bỏ đói, rồi những người lớn kể với nhau đêm đêm ở ngay làng nhìn ra thấy hàng hàng những người bồng súng cầm đuốc đi như diễu binh, đó là những oan hồn chết trong chiến trận, phải lẩn quẩn không thoát ra được… Những câu chuyện cho nó những nỗi sợ mơ hồ, hư hư thực thực, lạnh ót lạnh sống lưng hơn cả những cơn gió rít qua khe vách.
Nó muốn chống lại nỗi sợ hãi để bước ra với cái bò cạp. Nó tự hỏi bằng cách nào để đè bẹp? Nó nghĩ tới ba, ba một mình giữa rừng là chuyện thường tình đó thôi, nhưng rồi trong đầu lại vang lên cái câu ba lớn rồi, ba lại dạn dĩ, ma quỷ hay thú rừng sợ người lớn, trừ phi bất đắc dĩ mới chống trả. Nó tìm cách khác, hồi sau nó à ra, nghĩ tới cái đói, nghĩ tới củ nần, nghĩ tới bo bo, nghĩ tới nồi cá kho bằng đầu cá cho heo của má nó, nghĩ tới công sức biết bao nhiêu của ba đã phát lao tre làm rẫy, có cả máu đổ và công của nhiều người phụ nữa, trong đó có cả nó, đâu thể để sự sợ hãi làm tan nát được.
Nó thấy hay bởi cách này trấn được bớt được sự sợ hãi. Bước xuống khỏi sạp, chân run run, với lấy cây củi lửa cháy rực nhứt, nó bước ra, vừa rón rén vừa nghĩ, những suy nghĩ ở trên cho đầy ắp trong đầu che lấp hết mọi thứ để mà bước. Không bước thẳng, nó xoay vòng vòng đi tới vì dù sao sau lưng vẫn còn ớn lạnh. Cuối cùng cũng tới được cái bò cạp, kéo dây tới tấp, bình thường chỉ kéo năm bảy cái, lúc này nó kéo lia lịa mười mấy cái, tiếng rầm rầm của cái bò cạp làm yên tâm hơn, xé tan bớt cái đêm như tận cùng này. Oánh bò cạp xong, nó quay đầu chạy một mạch vào bên trong chòi.
Vậy là nó đã tìm ra cách chế ngự bớt cơn sợ hãi. Mệt mỏi, ngã lưng xuống sạp, vẫn nằm sát vách, thiu thiu ngủ, chợt phải bật ngồi dậy, lỡ ngủ quên thì sao? lại nghĩ ra cách nào để thức tỉnh giữa giấc, không còn cách nào hay hơn, nói với chính mình, “lấy dây cột vô cẳng rồi cột vô cây cột, ngủ cách gì không lăn, chưn không vùng vẫy”, vậy là làm theo.
Đêm đó cho tới tờ mờ sáng nó thức dậy năm lần, mỗi lần dậy lại ngồi chập lâu để nghĩ đủ thứ hầm bà lằng để quên nỗi sợ rồi đi vòng với cây củi lửa ra oánh bọ cạp. Lần cuối nó thức thì ba nó và chú Ba Mạnh đã trở vô tới, thấy chân nó cột dây là hiểu liền, xoa đầu nó và khen:
“Giỏi lắm con trai, biết lo vậy là tốt”
Ba nó lấy trong giỏ ra một nồi đậy kín bưng cột thêm dây chằn chịt. Chú Ba Mạnh hỏi:
“Chà cái gì trỏng mà kỹ dữ vậy anh?”.
Ba nó cười:
“Bà xã sợ đổ, bả đổ bánh căn* (*Bánh khọt), mấy mẹ con thức cả đêm xay bột đổ bánh”.
Bắt lên bếp hâm lại nồi nước cá kho, lấy rau lấy bánh ra bỏ vô tô, nước sôi, ba nó chan vô, cùng nó và chú Ba Mạnh hì hụp húp. Ba nó ăn một tô rồi buông đũa:
“Chú và cháu nó cứ tiếp tục, tui hồi nãy mần một tô ở nhà rồi”.
Chú Ba khen nức nở:
“Ngon quá trời, chị Hai khéo tay, nấu món nào cũng ngon khỏi chê”.
Nó cũng ăn thêm tô nữa, lâu lắm rồi, nó không nhớ nổi là bao lâu mới lại được ăn những món ngon, vừa ăn vừa nghĩ giống như phần thưởng cho đêm giữ rẫy vậy, nhưng chủ yếu là cho sự vượt qua sợ hãi. Ăn xong còn buồn ngủ, no nê và sảng khoái, chẳng lo nghĩ gì nữa nó ngả lưng oánh một giấc tới trưa trừa trưa trật mới dậy.

***

Mùa thu hoạch của hợp tác xã gần như mất trắng. Bông cỏ nhiều hơn bông lúa. Bắp trái tong teo. Bắp bà con được chia về luộc chắc được một bữa cho gia đình nhiều người. Lúa không đủ đóng cho hợp tác xã, thiếu chỉ tiêu.
Mùa kế tiếp chẳng ai buồn ra đồng mặc cho tiếng kẻng gõ tới gõ lui nhiều lần. Dì Tư Thệ là người bung phát pháo đầu tiên:
“Nhà tui đói lấy gì ăn mà làm, lo cho tui cái ăn đi tui sẵn sàng, còn bây giờ hông có tui phải tự lo, tui tự kiếm ăn, bắt tui thì tui chịu”.
Anh Ngạo như được mở lòng:
“Tui cũng vậy, hông chừng bắt tui còn khoái, tui khỏi lo đói đỡ mệt óc”.
Người này kéo theo người kia, hiền khô như anh Hải đất cũng lắc đầu với tiếng kẻng ra đồng:
“Mấy ông oánh mấy ông tự làm đi”.
Đất ruộng, đất hoa màu trở thành đất hoang.
Bỏ lao động hợp tác xã, giữa mùa mưa, mùa măng mọc rộ, bà con kéo nhau vác câu liêm vào rừng xắn măng. Xắn măng không nghe cấm, không bị bắt nhưng măng khô chở nhiều đi bán vẫn bị quy vào buôn lậu, phải lén lút. Măng rất được giá, bán tươi liền cũng được, phơi khô được giá hơn. Măng đầu mùa còn măng gốc, đặc ruột chỉ tám chín ký tươi có được một ký khô, giữa mùa phải mười ký, còn cuối mùa măng lên cao rất nhanh, măng lên vùn vụt, một ngày vươn lên mấy thước, măng rỗng phải mười một mười hai ký mới được một ký khô. Măng là cái phao cứu sinh cho không biết bao nhiêu gia đình cứu đói, một mùa măng nhà vài người cần mẫn kiếm chừng hai tạ khô, sống gần được nửa năm chớ khống ít. Nhưng cũng như củ nần, lấy của rừng phải rưng rưng nước mắt, đi xắn măng là cùng cực. Đi sớm lội cỏ le lút đầu còn đọng sương tới được lao tre là ước như chuột lột. Những lao tre già xấp lớp lá mục dày cộp sanh muỗi mồng lũ lũ nhưng măng mới nhiều, tre già thì gai tua tủa, chuyện bị cào xé rướm máu da dẻ mặt mũi là bình thường, áo quần phải vá chằng vá đụp. Dép thì ai dám mang đôi dép Lào, sa bô, bởi đây là những đôi dép vía, mắc mỏ vô cùng chỉ để dành cho dịp quan trọng, tụi nhỏ thì để dành đi học nên dép xài chủ yếu là đôi dép râu, đế dép như vỏ xe, quai chéo, quai hậu xỏ xuống đế giống cắt từ ruột xe, mang dép này trong túi lúc nào cũng kè kè nan tre chẻ giữa để dép có xổ quai mà đút vào lỗ đế kẹp quai kéo qua. Dép cao su đi gặp nước trơn nhớt, bước tới tuột quai ngày một, tuột dép chân trần đạp gai đầy cũng là chuyện thường tình, có những gai lớn đâm xuyên lòng bàn chưn. Một nỗi nơm nớp sợ là những đàn ong, ong chích vài phát sưng vù mặt mũi đau nhứt vẫn còn cầm cự là ong thường, vết chích dù chỉ một của con ong vò vẽ dễ lên cơn sốt, phát bịnh mê man và rắn rít nữa, có người bỏ mạng vì rắn độc giữa rừng…
Má nó cũng bao bị đi xắn măng gần nhà, xắn mắng với đàn bà con gái còn cực gấp bội phần đàn ông con trai. Anh nó hết việc rảnh rỗi cùng vào rẫy theo ba nó vác câu liêm, nó thì chủ yếu đi lột vỏ.
Một buổi chiều gánh măng về đi dọc theo đường ray cách rẫy vài cây số thì gặp một lán trại làm sơ xài cạnh ngay dòng suối, có vài người ngồi trong lán, một người đàn bà chạy tới hỏi:
“Xắn măng về hả anh?”.
Ba nó gật đầu và ghi ngại nhưng không dấu được phải trả lời:
“Dạ phải”.
Người đàn bà chừng hiểu sự lo lắng của ba nó, bà nhoẻn miệng cười:
“Tui hỏi có bán hông chớ hổng có gì đâu”.
Chú Ba Mạnh thấy lạ:
“Chị nói thiệt nói chơi, mua bán gì ở đây, đừng giỡn tụi tui nghe, muốn báo bắt hả?”.
Người đàn bà phẩy tay:
“Cái chú này, ai giỡn kỳ cục giữa rừng rú, nhìn tui ác lắm sao kêu bắt?”.
Ba nó bỏ gánh măng xuống:
“Chị nói hông giỡn giữa rừng vậy là sao?”.
Người đàn bà tiếp, giọng nhỏ đi:
“Mấy chú hông biết gì thiệt hả, thôi để tui nói luôn, vậy nè, chỗ này cái cầu bắt qua suối nó yếu lắm, mấy ổng sửa tới sửa lui cũng vậy, xe lửa qua đây phải chạy chậm lại, chạy rề rề hà, nên bà con thảy đồ lên xuống được, đi buôn đó, tui mua đi buôn”.
Ba nó và chú Ba Mạnh hiểu ra, ba nó hỏi tiếp:
“Chị mua sao?”.
Người đàn bà đon đả:
“Nói thiệt với mấy chú tui đi buôn thiệt, nhưng tui quen biết mấy ông trên tàu đi thẳng Sài Gòn mà hông có mất mát, nên tui mua bán đàng hoàng, giá chợ sao tui mua vậy, mấy chú khỏi mất công gánh về lại khỏi lo cân thiếu đủ”.
Ba nó và chú Ba Mạnh thấy có lý, kêu cân thử, thấy cũng đúng như dự đoán và giá cả nên đồng ý bán. Ngồi nghỉ một hồi ba nó hỏi:
“Chị có mua than hông?”.
Người đàn bà gật đầu:
“Mua chớ, có nhiêu mua bấy nhiêu”.
Ba nó gục gật:
“Tụi tui còn một mớ bữa nào gánh lên chị”.
Vừa lúc này thì có tiếng còi xe lửa tới, đúng như người đàn bà nói, xe lửa xình xịch chầm chậm lại, chạy cà nhích cà nhích qua cầu, ngay chỗ lán bốn năm người đàn ông mình trần trục trục khuân vác bao bao thảy ào ào lên, có mấy người trên xe lửa tóm lấy kéo vào bên trong. Xe lửa người ngồi trên thành cửa sổ, người đu bên hông đầy kịt, người ngồi cả trên nóc toa, có người còn chạy rần rần trên nóc. Nhiều người kể lại nhiều tai nạn thương tâm xảy ra, có cả cái chết vì nhảy vì đu theo tàu như thế này.
Một người trên xe lửa thảy xuống một bao. Người đàn bà cười:
“Cái này ở ngoài Trung đưa vô?”.
Ba nó hỏi:
“Chắc chị cũng lấy hàng từ Sài Gòn ra?”.
Người đàn bà gật đầu:
“Có chớ, chủ yếu là gạo, đường với bột ngọt”.
Ba nó sáng mắt lên:
“Vậy bữa nào tui có măng với than đem đổi chị hén?”.
Người đàn bà cười cười:
“Ừa, được chứ sao hông”.
Trên đường về ba nó nói với chú ba mạnh:
“Vậy được đó chú Ba”.
Chú Ba bập bập điếu thuốc rê:
“Khỏe hơn đó anh, với lại coi bộ bà này cân đúng, buôn bán bây giờ người ta bắt đầu sanh tật rồi, hông như hồi xưa nữa, gian lận thấy ớn rồi”.
Ba nó cũng đang ngậm điếu thuốc, lấy điếu thuốc ra, ba nó đáp:
“Đúng đó chú, với lại mình có thể mua gạo, đường, bột ngọt về bán rẻ cho bà con coi như kiếm chút công, buôn bán giờ sợ quá, đong bằng cái lon sữa bò họ đập móp đít cho nó nu lên, cân mua thì kéo cái rẹt cho đòn cân trì xuống, cân bán thì đè đầu cân cho nhổng, cân đồng hồ thì chỉnh lò xo, khó lường hết được”.
Chú Ba mạnh thở dài:
“Thời buổi gì kỳ cục”.
Nó cũng thấy thêm nhiều điều kỳ cục.
Xóm làng đã bị ăn trộm, ăn cắp. Nhiều người nói ở đâu tới chớ hồi nào giờ dù đói dù nghèo cũng có ai làm vậy. Có những nhà đi làm xa cửa khép hờ, không ai coi vậy là giữa ban ngày cũng bị dọn sạch. Tối đến thì gà vịt rũ cánh ngủ trong chuồn sáng ra lại “vỗ cánh xổ lồng” mất tiêu, đến cả trâu bò còn bị dắt trộm. Đêm đêm bây giờ nhà nhà cửa đóng then cài, thêm chốt chặn chớ không dám khơi khơi như trước nữa.
Rồi thêm “đội quân” đi ăn xin ào ạt xuất hiện. Già có trẻ con có. Tàn tật bình thường có. Mỗi ngày hai ba người ghé xin, ban đầu bà con dù đói vẫn thấy tội chia sẽ cho một ít, sau nhiều quá làm sao? thì làm lơ. Nhưng ngặt nỗi những người ăn xin cứ ù lỳ, đứng nằn nì mãi, nằn nì không xong thì ăn vạ. Tức mình anh Ngạo tìm hiểu vụ này, một bữa anh Ngạo dõng dạc tuyên bố:
“Hông có cho ăn xin nữa, tui nhứt định hông cho, ai chửi tui ác tui chịu”.
Dì Tư Thể hỏi:
“Sao vậy mậy?”.
Anh Ngạo đáp:
“Tui biết rồi, người ta nói có nhiều làng bỏ vào đây đi ăn xin, sao hông chịu đi làm, họ vô nhà xin thì giả lù đù, ra ngoài mạnh khù khỏe ru đó, còn có người bệnh tật gì đâu, băng bó bôi thuốc đỏ chớ đi đứng ào ào, xạo xự hông thôi, xin xong gom lại bao bao còn nhiều hơn nhà minh, đón xe họ chở đi bán, nghe nói về còn xây được nhà cửa”.
Anh Hải đất lắc đầu:
“Người gì kỳ cục, vậy đi xí gạt chớ đi xin gì”.
Dì Tư Thể buồn buồn:
“Tội cho mấy người già, bịnh tật thiệt tình, đi xin giờ khó có người tin”.
Có thêm những người chuyên đi xí gạt nữa. Hai ba người giả vô nhà lúc hỏi xin nước, lúc hỏi nhà người này người kia, người hỏi tứ lung tung, lơ là chút là bị mất ngay đồ quý giá, có người còn bị bỏ thuốc mê, bị ém bùa ém ngãi tự động lấy của cất kỹ trong nhà ra mà đưa…

***

Ba nó và chú Ba Mạnh đổi hết than, thêm măng được kha khá gạo, năm bao năm chục ký, thêm bao đường, bao bột ngọt nhỏ. Chất đầy xe kéo, đêm kéo về, ba nó nói:
“Ngày mai nghỉ một ngày”.
Anh nó năm tới lên lớp mười, phải về tới thị xã mới có trường cấp III. Đường xa hơn hai chục cây số cần xe đạp tốt hơn, chiếc xe đạp mini anh em đang đi đạp bao giờ cho tới. Nhưng mua một chiếc xe đâu có dễ, cách hay nhứt là gom góp từ từ từng món từng món, đủ rồi ráp. Anh em tiếc một ngày nghỉ, xách câu liêm đi luôn, kiếm được món nào hay món đó cho chiếc xe chớ.
Anh nó nói:
“Mình tiếp đi Dốc Lớn đi, xa chút nhưng còn măng nhiều, ngày hôm qua mới xắn có nửa lao”.
Nó đồng tình:
“Được đó anh”.
Từ rẫy tới Dốc Lớn độ chừng sáu bảy cây số. Hai anh em thức sớm như mọi khi nấu cơm ép ghi gô dở theo, bữa nay có khô cá đù ngon, mấy bữa khô cá trích hơi khô, có bữa còn phải ăn với muối ớt muối mè. Tờ mờ là lên đường.
Lao tre hôm qua măng còn nhiều hai anh em miệt mài xắn, anh nó hỏi:
“Em gánh nổi ba chục ký hông?”.
Bình thường nó chỉ phụ gánh mười lăm hai chục ký là nhiều, nó suy nghĩ một chập sau trả lời:
“Ráng chắc được, có gì đi từ từ, vừa đi vừa nghỉ chớ măng còn nhiều quá hông lấy uổng”.
Anh nó gật đầu:
“Ráng đi, anh gánh bốn chục ký”.
Hai anh em xắn tới trưa là đủ. Nghỉ ăn cơm xong là lột vỏ, xế chiều về là vừa. Lột vỏ nửa chừng một cơn mưa lớn đổ xuống, đang ngồi dưới gốc cây to có bóng mát, phải quáng quàng hốt măng chạy tìm gốc cây nhỏ, cách xa cây lớn này, đâu dám ngồi đây, sét rừng rú kinh thiên động địa, oánh một phát gãy luôn cái cây hai ba người ôm như chơi. Cơn mưa dai ẳng, lột và đóng bao đóng gánh xong vẫn chưa dứt, hai anh em quyết đội mưa gánh về, gánh đi còn đỡ lạnh hơn ngồi một chỗ người đã ướt đâu còn chỗ nào để ướt nữa.
Gánh tới ngay Dốc Lớn, con đường băng qua suối, một cảnh tượng khinh hoàng hiện ra trong mắt hai anh em nó, mới sáng khi đi qua, nước suối chảy rỉ rả mấp mé dưới gót chân, hai anh em còn ngừng lại khoát con nước mát trong vắt chảy qua những vùng sỏi rửa mặt mà bây giờ đã biến thành một dòng nước đục ngầu, cuồn cuộn chảy, chảy tràn lên cả trên bờ, cuốn xác lá cỏ khô ầm ập vào những gốc tre nghe rào rạt, nước đập vào những tảng đá rầm rầm bắn nước trắng văng tung toét như những ngọn thác, cỏ hai bên bờ bị cuốn nằm rạp xuống hết. Anh nó nhăn mặt:
“Anh quên mất, mê măng hông hà, nước đầu nguồn hỗn lắm, mưa xuống là đổ ầm ầm liền, mà cơn mưa này lại lớn và dai nữa”.
Nó gãi đầu:
“Bây giờ sao ta?”.
Anh nó bậm môi:
“Chỉ còn cách chờ thôi”.
Nó chắc lưỡi như người lớn:
“Hông biết bao giờ nó mới rút, còn mưa nữa chớ”.
Hai anh em kiếm bụi rậm gần dốc ngồi chờ, mưa từ từ nhỏ dần rồi ngưng. Cởi áo vắt nước và hông gió cho khô, bây giờ mới thấy thấm lạnh, hai thân thể ốm o co ro lo lắng trong khi trời tối dần. Lát sau nó thấy có dáng người đang đi nhanh tới, tới gần thì ra là thằng Cu anh, thằng Cu anh bất ngờ hỏi:
“Ủa anh với thằng này làm gì ở đây?”.
Anh nó đáp:
“Tụi tao đi xắn măng – chỉ con suối anh nó tiếp: Nước đầy tràn hết qua được”.
Thằng Cu anh lắc đầu:
“Biết ngay mà, chạy từ nãy giờ mà hông kịp, chịu thua rồi phải chờ thôi”.
Nó hỏi:
“Ê, mày biết chừng nào nó chảy hết hông?”.
Thằng Cu anh chề môi:
“Mưa lớn này còn lâu à, chắc đêm nay ngủ đây, phải chờ tới sáng”.
Nó trợn mắt:
“Tới sáng hả, chết chắc quá?”.
Anh nó thở ra:
“Phải chịu chớ sau giờ, mà mày đi đâu về đây?”.
Thằng Cu anh nghe hỏi mặt buồn xo:
“Em về kiếm thuốc, cũng đi phụ xắn măng theo đoàn gần chục người, ở trong Núi Lớn, dựng chòi ở lại luôn trong đó nguyên mùa”.
Nó hỏi:
“Núi Lớn xa hông?”.
Cu anh trả lời:
“Xa, đây vô trong đó phải chục cây”.
Anh nó lẩm nhẩm:
“Từ đây về làng hơn chục cây nữa, cũng xa dữ hén, mà nghe nói trong đó măng nhiều lắm phải hông?”.
Cu anh gật đầu:
“Nhiều lắm, măng to hông hà có mụt bằng bắp vế, cỡ bắp chưn mới lấy, nhỏ nhỏ bỏ qua”.
Nó nghe phát thèm:
“Đã quá ta”.
Thằng Cu anh chề môi lắc đầu:
“Đã thì đã mà bịnh cũng đã”.
Anh nó ngạc nhiên:
“Bịnh là sao?”.
Thằng Cu anh tiếp:
“Bịnh dữ lắm, trong đó muỗi kinh, uốn nước nữa, làm biếng nấu nên ai nấy sốt rét, bị dính bịnh tới cữ thường một ngày một cữ là lên cơn run cả tiếng, có khi như giựt kinh phong, bên ngoài nóng hổi đổ mồ hôi còn bên trong lạnh cầm cập, quấn hai ba cái mền còn run, hai ba người đè cũng run bần bật, nắng lên là đem người ra phơi”.
Anh nó than:
“Đúng là rừng thiên nước độc, muỗi mồng với nước, hèn gì ba tao hông cho uốn nước suối bắt phải đem theo nước nấu mà uốn, làm siêng một chút cho đỡ, ba tao còn nói để lỡ bịnh tiền thuốc hông đủ coi như công không”.
Thằng Cu anh gục gật:
“Đúng lắm, mà hổm giờ ỷ y, giờ mới thấy cảnh, may là em lẩn quẩn ở chòi lo nấu cơm, luột măng”.
Anh nó kiếm mớ củi và bùi nhùi nhóm lửa. Củi ướt ba đứa chụm đầu phù mỏ thổi cả buổi mới cháy nổi, rồi bứt thêm lá xanh phủ lên tạo khói đuổi muỗi. Đêm xuống, rừng yên ắng, chỉ nghe tiếng nước chảy dưới suối. Sau cơn mưa lớn bầu trời quang đãng, có anh nó và thằng Cu anh nó không thấy sợ chút nào, ba anh em ngã người trên đám cỏ nhìn bầu trời đếm sao cho qua cơn đói, quên đi cái bịnh sốt rét kinh hoàng mà thằng Cu anh kể, người bịnh da vàng khè ra, mắt hủm sâu chỉ thấy cái hốc… rồi dần dần chìm vào giấc ngủ giữa trời.
Gần nửa đêm ba đứa thức giất bởi tiếng gọi của ba nó và chú Ba Mạnh. Nó ngồi dậy nhìn ánh đuốc chói lòa mà không hiểu chuyện gì xảy, lát sau mới nhớ lại khi nghe ba nó nói:
“Tụi con làm ba hết hồn, may quá cứ sợ liều mình băng qua dòng nước”.
Chú Ba Mạnh hỏi:
“Thằng Cu anh cũng ở đây hả?”.
“Dạ, con từ Núi Lớn về”.
Anh nó hỏi:
“Sao ba biết tụi con ở đây?”.
Ba nó lấy ra mấy trái bắp nướng đưa tụi nó:
“Ba với chú Ba Mạnh trở lại rẫy hông thấy câu liêm biết hai anh em bây đã đi xắn măng chớ đi đâu, chờ tối không thấy về đoán chắc bị kẹt dòng suối, nên đi mà tìm”.
Ba đứa cầm mấy trái bắp ngoặm tới tấp thấy ngon quá chừng. Dòng nước còn lút đầu tụi nó nhưng đã bớt hung hãn. Ba nó và chú Ba Mạnh đưa qua suối rồi về luôn trong đêm.

***
Ba tháng hè, mỗi tuần nó phải về nhà một ngày.
Bữa chiều đi về gần làng gặp thằng Cọt, thằng Cọt hỏi nó:
“Mày trong rẫy về phải hông?”.
Nó gật đầu:
“Ừ, tao từ rẫy về”.
Thằng Cọt hỏi tiếp:
“Tao thấy xa thấy mồ mà sao thấy mày về hoài vậy, hông mỏi chân hả mậy?”.
Nó nhăn mặt:
“Sao hổng mỏi mậy, tại tao phải về một ngày trong tuần để sinh hoạt hè”.
Thằng Cọt ạ một tiếng dài:
“Thì ra là vậy, sinh hoạt hè vui hen mậy?.”
Nó còn nhăn mặt bây giờ thêm lè lưỡi ra:
“Sướng cái con khỉ, cực chẳng đã, còn đi học phải vậy, nghỉ học như mày cho khỏe”.
Thằng Cọt chẳng hiểu:
“Gì kỳ mậy, sinh hoạt phải vui, ca hát rần trời chớ sao lại cực?”.
“Ca hát chi đâu mày ơi, toàn đi lao động dãy cỏ trồng cây, hết dãy cỏ trồng cây tới làm kế hoạch nhỏ, đi lượm bịch ni lông, ve chai, lông vịt, giấy vụn đó mày”.
Thằng Cọt trố mắt:
“Vậy à, tao cứ tưởng…”.
“Cứ tưởng… ờ nghe sinh hoạt tưởng hay lắm chớ gì, bây giờ sân trường thành sân bãi phơi mấy loại này rồi mày ơi”.
Hai thằng đi sóng đôi nghĩ ngợi, hồi sau nó nói thêm:
“Đi lượm thì ve chai bể có, bịch ni lông bay ngoài đường ngoài đồng cũng có, giấy cũng có, nếu có thiếu giấy thì tìm ở nhà mà đem nộp cho đủ chỉ tiêu, chỉ có lông vịt là thiệt khổ, có vịt ai dám ăn, để bán kếm chút đồng chớ, có ăn nhân dịp giỗ quảy cũng dễ gì đổ bỏ, tụi con nít như mình chờ chực vừa nhổ là xin liền, rồi khư khư phơi chẳng để bay một cọng, lông vịt có giá bán kiếm kha khá mà”.
Thằng Cọt nói buồn buồn:
“Tao nghĩ học cũng có lý”.
Nó nghe giọng thằng này biết nghỉ học cũng cực chẳng đã, nó cũng vậy đi học thấy mệt mỏi nhưng thực sự thì cũng không muốn nghỉ, nó an ủi thằng Cọt:
“Tao cũng muốn nghỉ cho rồi mà ba má hông cho”.
Hai đứa tiếp tục sóng đôi, chợt nó nhớ lại nó hỏi:
“Mày nhớ cô Oanh hông?”.
Thằng Cọt sốt sắng:
“Nhớ sao hông mậy, cô dễ thương ghê”.
Giọng nó lắng xuống:
“Cô bị chuyển đi mấy tháng trước rồi mày, tội cô quá”.
Thằng Cọt thảng thốt:
“Cô bị chuyển rồi hả, đi đâu mà tội, mà tại sao?”.
Nó chầm chậm nói tiếp:
“Cô bị kỷ luật, chuyển lên vùng núi”.
Thằng Cọt than vãn:
“Trời đất! đi tuốt lên núi, khổ dữ ta”.
Cô Oanh dạy văn tụi nó. Cô dạy rất hay, cô hiền và sống rất tình cảm, tụi nó thấy ẩn hiện trong cô chất lãng mạn, học trò rất thương quý cô. Cô ở lại nhà tập thể, dãy nhà được cất gần trường cho thầy cô ở. Phía sau có miếng đất chừng hai sào thầy cô trồng thêm rau củ phụ cho bữa ăn, có cả nuôi heo gà…
Đùng một bữa tới lớp tiết văn không còn cô dạy, thay bằng cô khác, cô mới nói cô bị thuyên chuyển lên vùng núi. Tụi nó ngỡ ngàng, mới ngày hôm kia còn gặp cô đây mà. Hết giờ mấy đứa chạy tới nhà cô, cô chưa đi nhưng đang đóng gói đồ đạc, chẳng có gì nhiều, vài ba thùng cạc tông, quần áo mùng mền, sách vở… Thằng Chí khoái môn văn nhứt, nó không hiểu chuyện gì xảy ra, nó nhào vô hỏi cô liền:
“Sao cô bỏ lên vùng núi vậy, tụi em làm gì cô buồn phải hông?”.
Cô lắc đầu, mắt cô rưng rưng:
“Hông phải đâu các em, cô… cô… bị kỷ luật”.
Cả đám trố mắt, nhỏ Nga càng thấy lạ:
“Cô bị kỷ luật? cô mà bị kỷ luật mà kỷ luật gì vậy cô?”.
Cô chậm rãi:
“Các em còn nhỏ chưa hiểu gì đâu, sau này các em hiểu sẽ thông cảm cho cô”.
Tụi nó đứa nào đứa nấy nhăn mặt, thằng Chí nói tiếp:
“Em có thấy cô làm gì sai đâu, cô hiền thấy mồ mà”.
Mắt cô ngấn nước:
“Cô cảm ơn các em, cô bị kỷ luật thiệt, thôi bỏ qua chuyện này đi, ngày mai cô đi rồi, hay chiều nay các em tới cùng ăn với cô bữa cơm tối, cô trò mình chia tay, hông biết có còn gặp lại hông nữa”.
Mấy đứa con gái sụt sịt, con trai còn phải chớp chớp chặn cho nước mắt khỏi rơi kia mà.
Sau này tụi nó biết cô bị kỷ luật vì bị cho là mất tư cách đạo đức. Cô và anh Thái ở đội hai yêu nhau nhưng bị nhiều người ngăn cản và nói ra nói vào. Anh Thái học hành ít, chỉ đâu lớp bốn lớp năm. Nhiều người cho rằng không xứng không hợp, đường đường là một cô giáo lại đi yêu tay nông dân cù lần, nhà quê. Cô lại xinh đẹp nên rất nhiều người theo đuổi, nhiều người có chức có quyền. Bất chấp cô vẫn bỏ ngoài tai tất cả. Sau này tụi nó nhận được thư cô giải thích rằng cô nhận được ở anh Thái sự chân thành, sự bao dung, anh không học hành đến nơi đến chốn là do hoàn cảnh khó khăn chớ trong anh còn có sự hiểu biết còn hơn những người có ăn có học. Tụi nó không bao giờ trách cô, tại sao lại không đấu tranh tới cuối cùng, để vượt qua bởi không dễ, khó vượt qua rào cản lắm, hết rào cản này lại gặp rào cản khác. Cô bị bắt tại trận vào một ngày tối trời, người ta rình mò như đặc công bắt được khi cô và anh Thái ngồi tâm sự phía sau nhà, biên bản ghi rõ đây là tình yêu không trong sáng, không báo cáo tổ chức, dẫn nhau trong bóng tối làm chuyện đồi trụy, quần áo hớ hên, nút áo không cài để làm gì không phải để làm bậy, cô giáo mà không thuộc cái câu từ xưa à: “Nam nữ thọ thọ bất thân”. Anh Hải tặc ví von mà nghe mỉa mải: “Tình yên hoa nở bình minh, Đêm về khép lá giữ mình nữ trinh”. Nữ trinh anh Hải nói ngược của hoa trinh nữ còn gọi là loài hoa mắc cỡ, lá mắc cỡ ai động vào hay chiều chiều xuống là bắt đầu khép ngủ qua cả đêm…
Cô ra đi, anh Thái mãi về sau cho tới lúc nó còn biết được không nghe nói đã có vợ con.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

dăm khúc rời rơi

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

ta đã gặp nường…
và nói
nường gặp ta rồi…
rồi thôi
hoa lá mỉm cười
không nói
đời cũng như là
sông trôi.

ta sẽ làm gì
với gió
nường sẽ làm gì
với mưa
hoa lá cứ đùa với nắng
ta với nường thì… vẫn chưa.

con đường đưa chân ra suối
ta lăn từ núi đi theo
nường thả dung nhan trên nước
trên bờ ta rất hiểm nghèo.

giá như làm liều chìm xuống
bên nường bất chợt ngoi lên
sẽ lấy chút mầu đỏ mặt
vẽ ra hồng phúc vô biên.

lúc đôi tay ta dính mực
vì bài thơ viết kiếp xưa
nường bỗng nói ta tội nghiệp
nắng chợt ùa kín rừng thưa.

nường gập ta rồi
xuống kiệu
ta quì
dâng hiến chân thang
rồi hương xoã lên mặt đất
thế thôi
mà hoá địa đàng…

Ngô Yên Thái

đổ thừa

trantuan

Tại em giấu bình minh
trong màu mắt
nên khiến cả đời ta
u uẩn buồn
hôm mình gặp
một chiều thu thưa nắng
lá úa vàng
xao xác cuốn muôn phương.

Tại em ướp màu môi
mùa hoa trái
nên suốt kiếp này ta ngậm đắng nuốt cay
tánh ương bướng
ta chẳng thèm xin xỏ
nên câu thơ lúy túy mãi bao ngày…

Trần Tuấn

NHỮNG VÒNG TRÒN XIẾC (TT)

khuatdau

Một năm sau, giờ Đông Nhi đã là một đứa bé đánh giày. Nó cũng chỉ làm thuê cho một tiểu đại ca thôi. Không phải không sắm nổi đồ nghề, vì có nhiều nhõi gì đâu, chỉ vài cái bót, vài hộp xi thêm mấy miếng vải nhung là đủ, nhưng cái khó là không phải muốn ngồi đâu mà đánh cũng được. Công viên, vỉa hè và nhất là trước các nhà hàng khách sạn, ngó vậy mà đều có chủ cả. Không được phép đánh, mà xách thùng tới là bị đánh cho bầm mặt.
Sau những ngày lê la ở phố chợ gần như ăn xin, một gã thấy thương tình, dạy cho nó nghề, mua sắm xi bót, chỉ chỗ ngồi làm ăn chia, nó 7 gã 3. Thế cũng được, có đủ ngày hai bữa tối lại có chỗ ngủ, mà cái được nhất là tự do không bị ai sai bảo đánh mắng. Càng tự do thoải mái hơn khi không phải ăn chia nữa mà là nộp khoán. Kiếm đủ tiền nộp xong, muốn làm là làm, muốn chơi là chơi, muốn ngủ là cứ dảnh cẳng ra mà ngủ.
Như chiều hôm nay, kiếm được ít chục, nó xách thùng đồ nghề leo lên coi mô tô bay. Nó khoái cái trò này tợn. Cũng là ống mà là một cái ống khổng lồ, ghép lại bằng những thanh gỗ lớn, ngoài nịt đai sắt như tang trống. Đúng là một cái trống chưa bịt da, to như cái trống ngày xưa nó nghe kể, kêu to đến nỗi bên Tàu cũng nghe! Trong cái ống đó mà cưỡi mô tô bay lên là sướng mê tơi, có đâu như cái ống thiếc, đã mấy lần nó suýt chết vì bị kẹt .
Đây cũng là xiếc, nhưng tân kỳ hấp dẫn hơn những đoàn xiếc chó xiếc khỉ. Những người lái mô tô đẹp như tài tử xi nê ma. Trai áo giả da, quần đỏ nẹp vàng, giày cao tới gối. Nữ nếu không áo đỏ quần trắng thì váy hồng váy xanh bay phấp phới, cứ như tiên giáng trần. Lại thêm tiếng mô tô gầm gừ nghe mới giục giã làm sao. Chỉ có 5 đồng mà coi thật đã con mắt.
Khi nó mua được vé leo lên, xuất diễn đã bắt đầu. Hai đứa nhỏ như nó đạp xe chạy trong ống, trông từ trên xuống như hai con chuột nhắt. Rồi một cặp lớn hơn, dám thả hai tay ra mà đạp tỉnh bơ như đi dạo trên đường làng. Và rồi: rịn rịn! cái thùng to thế mà cũng rung lên. Một chiếc mô tô đen mạnh mẽ như con bò rừng lao ra, chạy một vòng trên sàn để lấy đà rồi xoay tít như chong chóng. Theo sau không chỉ một mà hai, cả ba lồng lộn gầm rú trong cái chuồng chật hẹp, muốn phá tung ra mà bay vút lên trời. Đoàn xe lên cao, bay vèo vèo ngang qua mặt khiến có lúc nó hoảng quá nhắm tít mắt lại. Khi mở mắt ra, đoàn xe đang đi xuống, nó thoáng thấy có ai đó ngồi trên xe trông như chị Mị Lan.
Chị Mị Lan ơi! Nó kêu to lên. Nhưng đứng trên này cao quá, dưới đó chẳng ai nghe được. Nó quyết định mua thêm vé để coi một xuất nữa.
Đúng là chị Mị Lan! Ôi chị đẹp làm sao! Cái dáng chị ngồi thật hiên ngang mạnh mẽ, chứ đâu có co ro tội nghiệp như khi bị nhốt trong cái bình. Chị không mặc áo, chỉ mặc xú chiêng có riềm vàng và quần đỏ nẹp trắng. Chị như con hươu sao chạy trên hoang mạc. Khi chị làm nữ Tarzan, trông cũng đẹp nhưng rừng rú thế nào ấy. Giờ chẳng những chị đẹp mà còn oai như một nữ hiệp sĩ. Khi nhận ra cậu em, mắt chị cười như thắp lửa.
Sau xuất diễn, chính Mị Lan đã chạy đi tìm Đông Nhi. Hai chị em ôm nhau khóc nức nở. Một lúc cô buông ra, ngó cậu em từ đầu đến chân, như vẫn chưa tin là thật.
Cô nói:
– “em đấy à? mới một năm mà lớn quá chị không nhận ra!”
– “Còn em,” cậu nói, “em nhận ra chị ngay từ đầu, có biết vì sao không?”.
– “Sao?”.
– “Vì chị đẹp quá!”
– “Xạo hoài!”
– “Thiệt mà!”
– “Em giỏi đấy, mới đó mà đã học được cái tài nịnh!”.
Cả hai cùng cười. Cô rủ cậu đi ăn mừng. Lần đầu tiên cậu được cô đãi bia. Cụng ly chứ không dám cạn, cậu nói:
– “Đến giờ em vẫn còn sợ. Nhiều đêm em khóc đấy, em tưởng ông ta giết chị rồi ném xuống sông!”
– “Chị thì có thể,” cô cười, “nhưng giết làm gì con người ấy, chỉ để lại thẹo chơi thôi”.
Cô nâng ly bia lên định uống cạn, nhưng mắc cười quá, phải đặt ly xuống bàn. Rồi chị cười đến đỏ cả mặt.
– “Sao chị cười nhiều vậy?”
– “Lớn lên rồi em sẽ biết, ông ấy chắc hận chị lắm, thà chết sướng hơn!”
Từ bữa ấy, chiều nào Đông Nhi cũng đi coi mô tô bay để được nhìn chị Mị Lan. Cô cũng thích được gặp cậu nhưng chủ không muốn cô ra ngoài nhiều.
Rồi cũng đến lúc khách thưa dần, đoàn sắp phải chuyển tới một thành phố khác. Thấy cậu buồn, cô an ủi: – “Chị sẽ về lại mà! Xiếc ở đâu bằng xiếc tại Sài Gòn”
– “Ước gì em lái được mô tô như chị”
– “Rồi chị sẽ xin cho em vào học nghề, trước mắt là tập đi xe đạp”.
– “Đạp trên cái thùng dựng đứng ấy chắc khó lắm!”
– “Đâu khó bằng em chui qua cái thùng thiếc!”
– “Ờ, nhớ lại em vẫn còn sợ!”
– “Ông chủ này rất tốt, đúng là ổng coi chị như con”
– “Ổng sẽ cho em ở chung với chị chứ?”
– “Ừ, trong một đoàn mà. Chiều nay, diễn xong chị đưa em đi xi nê, đi không?”
– “Dạ, đi chứ!”
Cậu vui lắm, liền đi mua một cái áo mới, vì không thể ăn mặc xập xụi mà ngồi bên cạnh một người xinh đẹp như chị, nhất là được ngồi trong rạp hát.
Xuất diễn cuối cùng, dù là vét, vẫn rất đông khách. Để tạm biệt, đoàn xiếc sẽ mang hoa lên để tặng khách vì trước đó nhiều khách hào phóng đem tiền ra treo thưởng. Những tờ bạc là cách thử tài các hiệp sĩ mô tô vì chỉ có những người rất giỏi và gan dạ mới dám lên cao. Mị Lan là người được thưởng nhiều nhất. Vì vậy, hôm nay chính cô mang hoa lên tặng.
Cô vẫn xinh đẹp như mọi ngày nếu không muốn nói đẹp hơn. Cô không đội mũ mà để đầu trần, khiến tóc cô bay bay càng đẹp. Tiếng mô tô gầm rú vẫn không át được tiếng reo hò của những người ái mộ. Cô từ từ lên cao, lượn một vòng, rồi hai vòng, chẳng những để chào tạm biệt mà còn có vẻ như muốn chọn người để tặng. Và đúng như vậy, cô cười rất tươi khi lượn qua một chàng sĩ quan mới tốt nghiệp. Chàng chưa ra trận, mũ áo hãy con thẳng nếp tinh tươm như lúc còn đang ở trong quân trường. Mọi chuyện sẽ đẹp biết bao nếu chàng nhận được hoa, biết đâu sẽ có một chuyện tình.
Nhưng khi cánh hoa chưa đến tay chàng thì một người đàn ông đeo kính đen đã vươn cánh tay dài ngoằng ra, không phải để nhận hoa mà để chộp lấy tay cô, cho dù chỉ nửa giây, nhưng cũng đủ làm cho chiếc xe rơi xuống.
Cô cũng rơi xuống theo khi ông ta buông tay.(còn tiếp)

KHUẤT ĐẨU

Chiêm bao

tranngochuong

Mịt mờ núi biếc mưa xuân,
Mơ màng đá dựng động thần thăng hoa
Tóc râu Từ Thức nhạt nhòa,
Trán nhăn đá gợn phong ba kiếp người

Giáng Hương vút cánh cuối trời,
Đá dằn xiêm áo ủ hơi men nồng.
Cho nhau còn một chút lòng,
Hoa tiên đọng mãi mấy dòng thơ say.

Buồn buồn lời nói chia tay,
Giật mình đêm lại nhớ ngày tiễn nhau
Em đi trời đất say nhầu,
Anh về day trở gối đầu chiêm bao.

Gió heo may thổi hanh hao,
Trở trăn tình đã phút nào trọn ngôi.
Đổ hồi tu hú gọi đôi,
Sườn non tượng đá trông vời về đâu?

Gà quê gáy giục đêm sâu,
Thềm xưa gió lộng mái đầu sương sa.
Thôi anh trở lại quê nhà,
Chiêm bao rồi cũng chỉ là chiêm bao

Trần Ngọc Hưởng