CON LUỐC

nguyentri

Mãi cho đến bây giờ, dân khai thác mây tre lá của chủ thầu Sáu Yến, những người còn lại, chọn bến phà lẻ bảy làm quê hương vẫn còn nhắc đến con chó Luốc của đại uý Thuận.
Tiếng đại uý chứ Thuận chả lính tráng chi. Thời chiến tranh là tài xế. Sau chiến tranh xe cộ bị sung công, chủ xe tơi như cái mền rách thì tài xế như Thuận có mà ăn cám hấp. May thay lúc phùng thời Thuận được bà Bảy Bầu Cua chọn làm con rể. Bà Bảy là cai của chủ thầu Sáu Yến. Thuận theo mẹ vợ vào rừng khai thác mây tre lá kiếm cơm. Thuận uống ngày lít rượu nên được anh em thợ phong đại uý. Thường gọi Đại Uý Thuận. Sáng Thuận làm hai xị gọi là súc miệng rồi cùng vợ kéo câu liêm vô rừng khai thác lồ ô. Ngày hai vợ chồng kiếm trăm cây là chuyện nhỏ. Chiều về trong lúc vợ nấu cơm Thuận lôi rượu ra làm tiếp. Có lẽ mê rượu hơn mê vợ nên, không phải một mà vài người trong bãi, cũng thức dậy sớm nấu cơm thấy Xuyến – vợ Thuận – từ chòi của Dũng Nhí rón rén mò về. Đêm hôm khuya khoắt mà thiếu phụ vô chòi trai là có vấn đề. Dân rừng thậm thụt lời ra tiếng vào. Và cả ta bà vô cùng lễ độ khi một hôm kia Dũng và Xuyến biến khỏi bãi.
Đại Uý ôm con chó Luốc khóc ròng. Thiếu tá Tư Đô La mới khuyên bằng âm nhạc rằng:
– Ôi đàn bà là những niềm đau… đàn bà là ngọc ngà… chông gai làm tim rĩ máu…
Thời cũ Nguyễn Tư chỉ binh đơ cán cuốc nhưng anh em phong thiếu tá cũng do rượu mà ra. Tư uống thua Thuận xa lắc nhưng cấp bậc hơn là vì tạp uống. Trong bãi có một bụi đời tên Hùng Tàn. Dân Bình định tha phương có tí đỉnh võ vẽ. Hùng có một chai rượu thuốc dùng để xoa bóp. Anh em thợ bị trặc tay bong gân cây đập là Hùng ra tay cứu giúp. Anh em khen thuốc hay quá. Hùng nói:
– Tao pha mã tiền với mật gấu nên tốt lắm.
Rượu vậy mà một hôm kia cai thầu Bảy Bầu Cua chưa tăng bo kịp lương thực vì xe cộ trục trặc, thèm quá, trong khi anh em đi làm Tư ở nhà chôm chai rượu của Hùng Tàn làm một ly. Chỉ một ly mà Tư sùi bọt mép. May mà trong cái đám con nít vào rừng cùng cha mẹ có thằng Bảy Xoáy – con trai Hai Trụi – thằng cu nầy có cái đầu kỳ dị nhất thế giới, tóc tai sừng lên như bờm ngựa. Ông Sáu Hải chồng bà chủ Sáu Yến nhìn nó nói:
– Mẹ ơi… thằng nầy ba bữa là kinh hồn giáo chủ chứ không chơi.
Bảy Xoáy phi một hơi lên chỗ làm thông báo tình hình. Mới một phần ba đường thì Hùng Tàn cùng anh em tuôn về, dẫn đầu là con Luốc. Hùng Tàn banh cái họng kẻ tham uống ra, đặt lên đó một cái phểu rồi cho nước suối vào. Đầy bụng là đè xuống cho ọc ra. Vậy mà Tư còn bị đi kiết hết tuần. Thiên hạ phong thiếu tá liền một khi. Hùng Tàn nói:
– Không nhờ con Luốc là ông chết chắc.
Thiếu tá ôm con Luốc vỗ về:
– Cám ơn mày Luốc ơi. Tao thương mày lắm.
Con chó liếm lên mặt lên râu Tư Đô La thân tình như với chủ. Toàn thể thợ rừng của vợ chồng ông bà Hải Yến không ai không yêu Luốc.
Nó khôn ngoan cực kỳ. Hùng Tàn nói khi có chén rượu trên tay:
– Tao đó đây cũng dữ mà chưa thấy đứa loài người nào khôn hơn và nghĩa tình như nó.
Chả ai cãi Hùng hết. Vì thật như vậy.
***
Luốc rất thân với Hùng Tàn.
Từ khi Xuyến bỏ theo tình Thuận buồn rầu nên rượu suốt. Cũng chả biết nên mừng hay không cho hoàn cảnh của Thuận. Không một hậu duệ nào để an ủi nên Thuận xem Luốc như con. Bắt đầu cuộc rượu Thuận vỗ về Luốc còn hơn Hai Trụi thương thằng Bảy Xoáy. Chả là Bảy Xoáy mồ côi mẹ. Phê phê Thuận chửi con đàn bà lăng loàn sau đó quay qua trách Luốc đã không giữ vợ cho mình. Nó gian dâm với Dũng Nhí mày biết phải không Luốc? Vậy sao mày không cho tao hay? Say lên Thuận đuổi:
– Mày đi theo con lăng loàn đó đi. Đi đi…
Những lúc đó Luốc bò qua chòi Hùng Tàn, Tàn ôm con Luốc bắt ve bắt vắt cho nó. Ở rừng, ve vắt là chuyện thường lắm. Tàn nói với Luốc:
– Chủ mày say khướt. Nó mần ăn ngay mũi còn không biết. Ở đó mà kêu với ca. Đừng buồn nghe Luốc, mấy thằng say mày chấp làm chi.
Luốc ư ư ra cái vẻ tui hiểu mà.
Thiên hạ chả hiểu sao luôn la đà trong rượu, Thuận đâu có dạy biểu gì mà cái nết ăn của con Luốc thật đáng để loài người nể phục. Sáng, Thuận bày bữa ra. Cá một nồi, thịt một nồi, cơm banh nắp. Ăn xong Thuận đi làm không cất dọn gì sất. Luốc nằm yên trông chừng, nó không nhúng mõm vô bất cứ thứ gì. Trong mớ thợ của bà Bảy có thằng Dũng Heo chuyên trộm thức ăn của anh em thợ. Nửa đêm canh giấc ngủ say Dũng đột kích vào chòi bạn dùng tay hốt mớ thịt, bốc vài con cá là chuyện thường. Ai cũng đôi lần bị Dũng chôm thức ăn mà đành chịu vì không quả tang. Nhưng biết là vì Dũng rất ít tốn tiền thực phẩm. Vậy nên có tên Dũng Heo. Cỡ vậy mà Dũng đừng hòng chôm được thức ăn của Đại uý. Con Luốc xù lông gáy nhe răng là Bảy Xoáy còn ớn lạnh nói chi ai. Luốc không ăn vụng. Cũng không ăn trong chén mẻ muỗng dừa. Tô ăn của Luốc phải lành lặn và sạch sẽ. Đại uý bê tha quá nên Hùng Tàn rửa luôn tô của Luốc. Ngoan trong ăn uống của Luốc là nhỏ. Cái tự ái của Luốc là cả ba quân phải kinh ngạc.
Lúc phùng thời quân của bà Sáu Yến trên ba trăm nhân mạng. Ba trăm nầy dưới sự điều hành của sáu cai thầu. Năm mươi quân một cụm. Cụm cách cụm vài cây số đường chim bay. Cõi nào cai ấy khai thác. Thợ làm cho cai Út Bình đừng mơ qua bãi Năm Hồng chơi bời hay uống rượu. Nghe nói hai ba cây số tưởng gần nhưng vòng vèo cả buổi chưa chắc đến. Nhưng Luốc thì có mặt ở tất cả các bãi. Thiên hạ rất ngạc nhiên khi Luốc chỉ là một con chó bình thường, mang từ đồng bằng lên, cha nó ở phố, mẹ là cẩu tiểu thư thì có dính chi tới rừng. Vậy mà Luốc sành rừng như sói vậy. Hôm đó nó qua chơi bên bãi của cai Châu Đèo.
Dưới trướng Châu có một cặp. Chồng tên Trọng vợ tên Thắm. Cặp nầy người dân tộc Tày. Trọng to cao, trắng trẻo đẹp trai. Cô vợ thì, nói thiệt, nhìn sơ mấy thằng có máu băm lăm mê nước da bông bưởi của em là nhỏ, nhan sắc của em mới thiệt là hết ý. Đẹp nên ai cũng ghẹo tí chút cho vui. Châu Đèo tuy vợ con nhưng ma bùn lắm. Miệng nói tay quơ nên dễ gây hiểu lầm. Trọng là thằng cả ghen. Thấy đàn ông ghẹo vợ bằng tay điên lắm nhưng nhát nên nhịn. Hắn ngồi lầm bầm như bị mắc đường dưới. Một lúc Trọng ngước lên thì thấy Luốc đang ngồi trong chòi. Vậy là giận cá chém thớt, gã văng tục chửi thề đuổi Luốc ra khỏi chòi.
Kể từ đó Luốc không xem Trọng là bạn.
Bằng chứng là sau giã từ Châu Đèo, làm với thằng nầy nghi bị mất vợ quá. Trọng qua đầu quân cho Bảy Bầu Cua. Là người mới Trọng đến chòi đại uý chào thân mật thì hết hồn khi thấy Luốc xù lông gáy nhe nanh trắng ởn sấn tới như muốn táp. Trọng hãi quá thối lui. Đại uý nói:
– Tao nghe thằng Đại nói mày chửi, đuổi nó ra khỏi chòi nên vậy đó.
Ở bãi hể gặp Trọng là Luốc gừ. Trọng sợ quá nên đem thịt heo thịt bò đến dụ nhưng Luốc không màng. Thân thiết như Hùng Tàn khuyên thôi bỏ đi Luốc ơi, Luốc vẫn không cho qua. Làm được một đợt Trọng xin Sáu Yến qua chỗ khác, ở lại không biết Luốc phập lúc nào. Ở tất cả các bãi chả thợ hoặc cai nào dám làm Luốc tự ái. Nó giúp đỡ cho nhiều người. Thiệt đó, không đùa một tí nào đâu.
Luốc khá thân với Thạch Giựt. Thằng Giựt nầy có một hoàn cảnh rất thảm thiết. Theo lời Sáu Râu – anh của Thạch – thì nó là con nuôi của cha má Râu. Chả biết ai đang tâm vứt con trước nhà, cha Sáu ôm về nuôi. Năm mười tuổi Thạch bị một cây sốt ác tính. Không chết nhưng từ đó bị giựt. Chả hiểu làm sao hể cứ giựt lên là Thạch toạc cái suy nghĩ của mình ra miệng. Mười sáu tuổi Thạch mê Thảo, con gái út cai Chín Nà. Gặp Thảo không kìm được Thạch giựt rằng yêu… yêu… yêu Thảo….muốn… muốn… muốn… hun… hun… Thảo… thảo quá… Vợ Dũng Giỏi mặc áo hở ngực cả gang, lộ cặp bưởi to sụ Thạch giựt rằng dzú… dzú… dzú… bự… bự… bự… quá… Một lần trên xe từ rừng về nhà. Bọn đi đười ươi lậu dấu cả chục bao dưới lồ ô. Lúc xe qua trạm bảo vệ rừng lên kiểm tra. Thạch giựt rằng ươi… ươi… ươi dấu… dấu… dấu ươi… vậy là sạch bách.
Vào rừng Thạch kiếm thịt bằng cách đặt bẫy cò ke. Những cheo, chồn, gà rừng Thạch có đến dư để bán cho anh em thợ. Tất cả nhờ vào Luốc. Thạch nói khi bắt đầu vót bẫy:
– Mày… mày… mày… coi chỗ… chỗ… nào thú… thú… nhiều dẫn tao đi đặt nghe Luốc… luốc… luốc…. Yên… yên… yên tâm đi, tao không lấy tiền đại… đại… đại… uý… đâu…
Con Luốc quả có một cái mũi tinh đời. Thạch cứ thế mà kiếm thêm. Chỉ một mình Thạch mà thôi, những tay khác dụ dỗ cách mấy cũng không được. Cơ hồ như Luốc biết ai là kẻ cần giúp vậy. Có một lần nó giúp Hùng Tàn bắt được một con Trút.
Đợt đó Hùng sống như vợ chồng với một nàng tên Thuỷ. Cha má nàng đúng khéo đặt tên. Nàng mềm và ẻo lả như nước vậy. Hùng giới thiệu vợ. Cô vợ nầy vào rừng để hái hoa là chính. Ở trong rừng được ba tháng, chơi không mà Thuỷ bị sốt mới chết. Công chúa Thuỷ xanh xao vàng vọt thấy tội lắm. Trời mưa tháng giá ai cũng khuyên Hùng ơi cho vợ mày về đi. Hùng nói với Luốc rằng:
– Phải chi bây giờ trời cho tao con Trút thì hay biết mấy há Luốc?
Nữa đêm hôm đó con Luốc sủa inh trời đất ngay trước chòi. Hùng bật đèn Pin thì phát giác ra một con Trút đang đeo trên gốc lồ ô. Hùng ôm chiến lợi phẩm bỏ vô bao. Nói với vợ Thuỷ:
– Mai em theo xe ra phà nhờ ai đó bán giúp. Ở đó chơi vài ngày, hết bệnh rồi vào nghe cưng.
– Dạ.
– Lúc vô em mua cho con Luốc hai lạng thịt bò nghe.
– Dạ.
Luốc ư ử rên.
Nhưng cả năm ngày sau không thấy Thuỷ vào. Hùng vác ba lô ra phà. Hôm sau vào tay xách can rượu mười lít. Trong giỏ có thịt bò cho Luốc như đã hứa. Lúc múc thịt ra tô cho Luốc, Hùng cũng bày phần của mình ra mâm. Nhưng con Luốc không màng mà ngước nhìn Hùng. Hùng uống hết một cái xây chừng;
– Ăn đi con. Thuỷ không vào nữa đâu. Cô ấy về với gia đình rồi.
Mày biết không Luốc – Hùng nói bằng một giọng buồn rầu – tao và cô ấy yêu nhau nhưng cha má cô ấy không chịu. Tao nghèo quá. Tương lai mờ mịt. Làm cái nghề nầy thì qua được ngày chứ không qua tháng. Chừng ấy thời gian sống với nhau chắc cô ấy thấy được rồi Luốc à. Tao buồn. Buồn quá Luốc. Mày ăn đi. Ăn một miếng cho tao vui. Đừng có nhìn tao như vậy. Đời tan hợp là chuyện bình thường. Giầu nghèo cũng vậy. Xưa kia tao là con quan đó Luốc. Giờ tàn vầy buồn lắm Luốc. Ăn đi. Tao làm một cốc cho quên sầu nhân thế. Rồi Hùng hát:
– Thà rót cho ta trăm nghìn chung rượu độc. Đừng một lời nào mai mĩa cho nhau. Cho ta đi, đi sâu vào cơn lốc… cho ta say đến tột đỉnh sầu…
Con Luốc không ăn mà đăm đắm nhìn Hùng. Về sau Hùng kể anh ta thấy có khói trong mắt Luốc. Thợ rừng cười kha khả mà rằng:
– Khói cái đầu mày. Mày có rượu nên thấy vậy.
***
Chuyện Luốc và cha con Hai Trụi Bảy Xoáy mới thiệt ly kỳ
Bảy Xoáy dốt đặc cán cuốc. Khi Hai Trụi náu mình dưới trướng Sáu Hải thì Bảy Xoáy mới lên sáu. Trụi đưa con trai vô rừng đóng đô dài hạn luôn. Chả là cái thời cơm đói áo rách, nghèo đến độ không có nhà như Trụi thì vô thiên lũng. Có nhà hẳn hoi mà còn vô rừng kiếm sống nữa kìa. Cả chục cặp vợ chồng chơi kiểu như Trụi. Vâỵ thì chuyện học hành xin hẹn chừng nào có rồi tính. Nếu cần xin hẹn lại kiếp sau luôn cũng chả chết thằng tây nào. Bảy Xoáy tủi thân nhất trong lũ con nít ở rừng bởi cu không có mẹ. Vụ không mẹ nầy được Trụi kể với bạn nghề nghiệp khi tưng tưng bởi rượu như vầy:
– Đàn bà lắm kẻ bạc tình bạn hiền ơi. Thằng Bảy Xoáy được một tuổi, nghèo quá nàng bỏ mình bỏ con một đi không trở lại. Quê mình đất cày lên sỏi đá, mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm nên tình nó cũng vá chằng vá đụp vậy đó.
– Tình gì mà vá víu thảm thê vậy bạn?
– Thì mình gặp cổ ở bên đường. Mình mua cô ấy bán. Cám cảnh nhau nên về với nhau. Ai ngờ… – Trụi thở dài não nuột – những kẻ quen đưa người cửa trước rước người cửa sau không chấp nhận khó nghèo nên thằng Bảy Xoáy không mẹ.
Nói xong Trụi nâng ly trút một hơi vô họng cho tan cái chán chường. Bạn bè thấy vậy liền khuyên vài câu chiếu lệ. Khuyên xong mới hỏi:
– Đàn bà khối mẹ gì sao không kiếm em khác?
– Tao chán đời quá, với lại nghèo đến đôi dép không có mà mang. Mày nghĩ có ai ngu mà bá vô để chết chùm?
Mà tình thiệt lúc mới vô rừng Trụi không có lấy đôi giày. Anh em tội nghiệp quá mới bố thí một đôi, tuy rách nhưng xài được. Trụi không thèm. Anh ta giơ hai bàn chân lên và ai nấy thất kinh. Da chân dày cộp, chai ngắt như da trâu. Đặc biệt chỗ gang bàn chân phải lõm vô sâu hoáy. Trụi nói:
– Hồi ở quê, tao đi buôn than bằng xe đạp, xuống dốc là thắng bằng cách thọc bàn chân vô bánh sau.
Không giày vậy mà Trụi không thua một anh em thợ nào mới là chì. Mùa mưa thiên hạ chẳng những giày, họ còn bó thân thể như bó giò để phòng ba con vắt. Trụi thì không. Vắt muốn bao nhiêu máu cứ hút tự nhiên. Vậy nên cuối mùa mưa Trụi bị một cây sốt tưởng đi đứt. Cám cảnh nên Sáu Hải mới cho tiền đi viện. Lúc này Bảy Xoáy mới thể hiện cái thông minh của nó. Cu lân la với tất cả các bệnh nhân và thân nhân của họ, cái đầu bảy xoáy là một, cái láu lĩnh khác người là hai. Ai nhờ vả, sai bảo cu không từ chối. Là vì sai bảo xong là người ta cho tiền. Hết sốt rét cha con trở lại thì Sáu Hải bàn với Trụi đại khái là không nên để Bảy Xoáy vào rừng nữa. Chả là một người quen thiết của chủ Sáu giàu có nhưng hiếm muộn. Trụi nên để con ở với người ta để được ăn học. Sáu nói rằng con nít không thiếu nhưng bảy cái xoáy quyến rũ bạn Sáu lắm. Học hành đến nơi đến chốn thằng nầy không này cũng kia. Nói chung người ta sẽ cho Trụi một khoản kha khá. Trụi nghe cũng có lý. Để con trong rừng tức là giỡn mặt tử thần. Vậy là Bảy Xoáy đi cùng Sáu Hải. Còn Trụi mua được cái nhà nho nhỏ để chui ra chui vô nhờ tiền tạm gọi là bán Bảy Xoáy.
Được một tuần thì bạn thiết của Sáu Hải thông báo rằng thằng bảy xoáy bị bắt cóc. Bà nội ơi. Thời buổi cơm không đủ ăn bắt cóc mà tế hay sao vậy kìa? Bạn của Sáu quen biết lớn lắm nên nhờ công quyền vào cuộc. Nhưng mà lạ chưa, bọn bắt cóc không thông báo chuộc chiếc chi ráo. Im luôn. Vậy nó bắt để làm cái gì? Chuyến nầy mới mệt với ông cha tên Trụi. Phải làm sao để cho ổng biết mà không nổi cơn khùng lên đây? Đang rối như canh hẹ thì một thợ rừng ra giải lao nói với Sáu:
– Tui thấy thằng Bảy Xoáy đang ở với cha Trụi trong rừng.
Thì ra ông con đã trốn khỏi nơi đã mua mà về với cha. Sáu Hải cùng bạn thiết vô rừng lôi cu về. Nhưng con Luốc có mặt đúng lúc. Nó xù gáy nhe nanh trông dữ như sói rừng. Vậy là kẻ mua coi như mất đứt cả tiền lẫn người. Trụi mua nhà mất rồi còn tiền đâu mà đòi. Thôi từ từ để nó làm có rồi nó trả.
Thiên hạ được một trận cười no. Và càng quý Luốc hơn.
Nhưng ở rừng cao và sâu luôn có nhiểu bí hiểm. Nó không đơn thuần heo rừng nai cheo chồn mển gà rừng. Ở gần rừng cấm thì chuyện ông ba mươi đi dạo đêm kiếm mồi là thường.
Đêm hôm đó bổng nhiên con Luốc rít lên đầy hãi sợ.
Nó rúc vô chòi Hùng Tàn.
Lúc đó con Hương vợ thằng Thành có bầu tháng thứ năm.
Nghe đồn ông bảy thích đàn bà tuổi hợi mang bầu lắm.
Má ơi. Con Hương tuổi Hợi mới là chết cha.
Phải không không biết nhưng phòng bị vẫn hơn. Toàn bộ các chòi vùng dậy cứ đủa gõ vào nắp xoong, thùng đựng nước can đựng rượu vỗ binh binh suốt cho đến sáng.
Sáng cả bọn túa ra đường be thì phát giác ra dấu chân hổ.
Rõ ràng con Luốc đánh ra được mùi ông Bảy. Đại uý ôm nó vào lòng hôn lên mũi nó khen:
– Mày mà không phát giác ra dám có đứa ở đây theo ông bảy quá.
Hùng vuốt đầu Luốc nói đùa:
– Bữa nào kiếm con nai nghe Luốc.
Vậy mà có nai mới là thần diệu.
***
Hôm ấy chừng khoảng mười giờ sáng. Hùng đang vác lồ ô tập trung thì Luốc phóng vô chân rít lên mừng cứ như đã lâu mới gặp bạn. Nó cắn ống quần Hùng lôi nhã chạy làm riết. Biết có chuyện Hùng gọi Thạch Giựt và Bảy Xoáy:
– Ê, chắc có thịt nên con Luốc kêu nè.
Không phải cả ba mà cả tốp thợ cùng chạy theo Luốc. Dân làm lồ ô vui kiểu ham vậy đó. Nghe động là xúm vô liền. Luốc dẫn đầu băng rừng, lôị suối, qua truông. Nó bốn chân nên lẹ lắm. May mà rừng nguyên sinh nên mát chứ mười giờ trưa mà chạy kiểu nầy có mà chết. Nơi đến là một trảng tranh rộng ngút ngàn. Thời chiến cụm rừng nầy bị trắng hoá bởi thuốc khai quang. Có một con nai nằm ngoài rìa đám cỏ tranh. Nó đã chết.
Cả bọn ồ lên mừng rỡ. Vậy là có thịt ăn rồi. Tất cả cùng la lên. Nhưng tiếng của thiếu tá Tư Đô La mới là chất lượng:
– Có nhung nè Hùng Tàn ơi.
Lúc nầy Bảy Bầu Cua và đại uý Thuận cũng kịp có mặt. Bà Bảy hào hển:
– Cha … cả tạ thịt à. Làm sao xẻ ra đây tụi bây? Hùng Tàn nghe nói mày trước có mổ bò hả? Biết thì ra thịt chia đều cho bà con coi.
Hùng buông con Luốc đứng lên:
– Đâu có đồ nghề mà ra hả má Bảy. Chỉ có rựa thì cứ ra đại cho mỗi người một miếng. Riêng cái đầu và bốn cái chân phải để lại cúng thần rừng.
– Còn cặp nhung bỏ hả mậy?
– Con nói vậy thôi. Công con Luốc là anh Thuận hưởng ảnh muốn làm gì thì làm.
– Rồi – Đại uý nói – để cái đầu cho tao, còn thịt bây chia sao đó mặc kệ, tao lấy một miếng đùi nhậu được rồi.
Thợ rừng Phú vung rựa lên và cái đầu lìa khỏi thân chú nai tội nghiệp. Hùng đứng yên chả biết vì sao con nai lại chết kỳ quặc thế. Nhưng câu trả lời có chỉ sau mười lăm phút.
Một tốp thợ săn người Tày xuất hiện với súng kíp trên tay. Ở vùng Lẻ Bảy nầy dân di cư tự do nhiều lắm. Người Nùng, người Hán-jìn, Thổ, Tày có đủ. Quen băng rừng sống đời săn thú nên họ xuất hiện không có chi là lạ. Một người lên tiếng:
– Con nai nầy của chúng tôi hầy. Tôi bắn trúng nó một phát súng kíp khi đang ăn tranh non ở bên kia đồi hầy… Mấy anh trả lại cho chúng tôi hầy…
Phú vung dao lên văng tục:
– Trả cho mày cái con… Nó chết ở đây, bọn tao thấy trước là của bọn tao.
– Ờ. Của bọn tao – Đám đông hùa theo.
– Mấy anh lấy thịt như còn cặp nhung trả cho chúng tôi… Chúng tôi rình con nầy cả tuần nay rồi. Chúng tôi cần cặp nhung để bồi dưỡng cho cha tôi…
Đại uý Thuận:
– Cần thì mua mà xài. Con Luốc tao dẫn đến đây, vậy cặp nhung là của tao.
Toán thợ săn biết không cự lại đám đông nên rút sau khi kết một câu:
– Người kinh mấy anh tham quá.
Có lẽ vì câu nầy nên Hùng Tàn bỏ về mà không lấy thịt chăng?

***
Năm ngày sau đó Luốc ở quyết bên chòi Hùng Tàn. Đại uý không quan tâm vì xưa nay vốn vậy. Thêm nữa, đại uý có tình mới. Một em cũng tha phương nghe Lẻ bảy làm ăn được nên ghé coi chơi. Con Đen vợ Dũng Heo đang bầu bì không phụ chồng được nên Dũng dẫn vào làm thuê công nhựt. Chả biết Dũng có xơ múi gì không mà Đen nổi máu hoạn thư đòi móc mắt nhỏ làm thuê. Dám có lắm. Vậy là Thuận mời em qua chòi mình võng ai nấy ngủ. Chả biết ngủ làm sao mà cả hai cùng rớt xuống sạp lồ ô mà ra một cặp. Thuận lấy cặp nhung ngâm rượu, đại uý cứ như trai tơ từ khi nốc rượu nầy. Thiếu tá Tư nói:
– Uống nhiều coi chừng bứt mạch máu Thuận ơi.
Thuận đang đắm tình. Con Luốc còn không màng nói chi lời khuyên ba láp. Luốc quẩn bên võng Hùng. Cả bốn ngày vật vờ bởi sốt Hùng chỉ còn Luốc là bạn. Một mình tội quá. Chiều, Thạch Giựt nấu cho nồi cháo, sáng hâm lại giúp cho. Ăn không được thì chết ráng chịu chứ ai mà lo được cho ai? Tha phương cầu thực bị phụ tình khổ lắm người hỡi. Đi làm Thạch nói:
– Mày… mày ở… ở ở ở… nhà ông Hùng có có có gì kêu tao nghe Luốc.
Luốc ư ư buồn thảm.
Vậy rồi sáng của ngày thứ tư Hùng trở mình ngồi dậy. Anh xoa đầu con Luốc. Nó cũng liếm tay anh ra chiều thương cảm. Anh múc cho nó miếng cháo nhưng con Luốc chỉ nhìn. Nó chạy qua đại uý vòng quanh các chòi rồi ra đường.
Cả ngày Hùng trông mãi mà không thấy Luốc. Đến chiều cũng không.
Và đó là một sự kiện đặc biệt. Xưa nay con luốc không bao giờ qua đêm bất kỳ đâu. Nó luôn ở cùng đại uý. Đêm ấy cả bọn những mười hai giờ mà không ai ngủ, ai cũng có ý chờ. Thằng Thạch cứ Luốc … luốc… luốc.. về… về…
Ngày hôm sau và hôm sau nữa Luốc vẫn bặt vô âm tín.
Mấy thằng vai u thịt bắp mồ hôi dầu không lòng dạ nào đi làm. Chia nhau qua các bãi hỏi thăm. Hùng Tàn bò qua Châu Đèo. Phú qua bãi Chín Nà, mỗi tay mỗi bãi hẹn chiều gặp lại. Nhưng Luốc không có mặt ở bãi nào hết.
Nó đi đâu?
Hôm sau Hùng khoác ba lô lên vai:
– Mày đâu đó Hùng? – Thiếu tá hỏi.
– Tôi ra phà. Nghe nói Dũng Nhí với con Xuyến về rồi, Không chừng con Luốc đi thăm con Xuyến.
– Tao đi với mày. – Đại uý nói.
– Mày đi làm gì vậy Thuận – Vợ mới của Thuận lên tiếng – Con nhân ngãi nầy lên chức bà từ khi được làm vợ. Nó hổn trời sợ – Có con chó mà này làm như mẹ mày không bằng. Tao biểu mày không đi đâu hết.
Bà con trong bãi nhìn Thuận mà tội nghiệp. Xưa nay con quỷ cái mày tao mà Thuận có dám nói chi. Thuận sợ Xuyến một, sợ vợ mới mười. Thiên hạ tưởng Thuận co vòi ai ngờ hắn nhào tới vung tay đấm một phát vô con mắt vợ mới. Trong khi nàng tối tăm mặt mũi thì đại uý phang tiếp từ bạt tai cú đấm cả đá bổng nữa mới ghê. Ngài văng cả một núi tục:
– Biến ngay khỏi bãi nầy. Mày biết con Luốc với tao như thế nào không mà láo. Con Luốc mà mất thì mày không có cửa ở trong chòi với tao đâu.
Và con Luốc biến mất.
Ngày nay ở bến phà Lẻ bảy còn được vài người biết con chó Luốc nầy. Nó mất rồi đại uý cũng chết theo. Rượu nhung nai nguyên chất mà Thuận uống như hủ chìm thì sống đặng sao? Có người nói con Luốc bị chết bởi súng kíp của mất tay thợ săn người Tày. Hùng Tàn không tin vậy. Tàn nói người thợ săn không bao giờ giết chó.
Vậy thì con Luốc đi đâu?
Rất tình cờ quen Hùng Tàn ở phố. Lôi hắn lên xe đến Đinh Bộ Lĩnh ghé cầy tơ Nam Định làm đĩa lòng tô rựa mận chai đế gò đen gọi chút tình tri âm. Tàn uống suông mà không ăn mồi. Hỏi. Tàn kể chuyện con Luốc. Nghe qua cũng chả muốn gắp. Tàn nói:
– Mày biết không? Chả ai có thể bắt được con Luốc nếu nó không tự nguyện. Dũng Nhí kể rằng Luốc về thăm đúng lúc con Xuyến hư thai bị băng huyết. Nó không có lấy một đồng đi xe đưa vợ lên bệnh viện huyện…
– Không mượn được à?
– Cái thứ đàn bà bỏ chồng đàn ông lấy vợ người khác thiên hạ bến phà không ngó, nói gì cho.
– Rồi sao?
– Con Luốc để yên cho Nhí trói đưa đi lò mổ…
– Trời ơi… thực vậy sao?
– Đời sống của chúng ta có lắm súc sinh đội lốt người. Nhưng con Luốc người lắm bạn ạ
– Bây giờ Dũng Nhí ra làm sao?
– Xuyến bán vé số dạo rồi sau đó đột ngột ra đi sau một giấc ngủ. Từ đó Dũng Nhí trở thành Độc Cô Cầu Bại xin một lần thất bại không ai cho. Sáng. Banh mắt ra là rượu, cày được xu nào cũng xào vào rượu. Uống cho đến chèm bẹp rồi bò lăn ra ngủ một mình. Tắm rữa với nó…chỉ còn là kỷ niệm! Những lời khuyên với nó chỉ là tiếng Ả rập! Trời khiến. Nó vẫn sống, ca hát nghêu ngao rồi lảm nhảm một mình! Dân bến

NGUYỄN TRÍ

RƯỢU 30 TẾT

tranthienthi

sáng ba mươi tết
một chai rượu của Trần Phương Kỳ
một gói chả giò của Phùng Nguyễn bỏ trong bao nilon
một nụ cười hiền lành của Lê Nguyên Vỹ
ngồi bên ngã ba mưa
mà tiễn ngày tiễn tháng

chuyển nối từ tây sang đông
chẳng sợ mất lòng chỉ cơn gió bấc
chiếc vé số bỏ trong túi quần
40 năm dò
lần nào cũng trật
ơn trời
30 tết vẫn có người mang cho rượu

muốn viết bài thơ tặng người
đệm thay chiếu mới
muốn trả ơn người
tình ngày lặn lội
chữ giao thừa vay mùa cỏ xanh non

Ta còn mỗi thơ để gởi làm quà
ba mươi tết gói vào trong tay áo
gió thì lạnh khó gởi lòng theo gió
làm cách nào
ta gởi ta cho em

nắng thì mới
chưa đủ vàng để ấm
tay chẳng đủ dài mà níu nhau
lòng cứ giục ràng xuân
ngồi nhớ ai mà uống rượu xoay chừng

Trần Thiên Thị

MẢNH VỠ CHIẾC GƯƠNG XUÂN

nguyenlienchau
Gởi Phù Hư

Xin được ngồi cùng em
Đốt thời gian qua tay mình nghiệt ngã
Yêu thương nhau bằng những vòng ôm giả
Nhưng rất thật nỗi buồn

Xin được chạm môi vào một làn hương
Mùi thánh nữ nguyên trinh trong đáy vực
Mọi nỗi niềm nhẫn nhục
Trong cuộc đời này đều đáng kính như nhau

Xin được hôn em bằng nụ hôn của mối tình đầu
Phút trai trẻ của người luống tuổi
Những cuộc tình đã qua, bao cuộc tình sẽ tới
Nỡ lòng nào so sánh cân đo

Xin được ngồi lặng thầm giữa nhận và cho
Nước mắt em chảy xuôi, nỗi buồn tôi thấm ngược
Những giọng cười trẻ con, những lời đùa xấc xược
Được buông ra hoen ố chiếc khăn bàn

Xin được yếu lòng trân trọng những tay đan
Năm ngón thơ tôi lời yêu khô khốc
Năm ngón tình em sầu buồn bạch ngọc
Thèm khát những hờn ghen

Xin được ngồi với một thói quen
Chẳng bao giờ nói lời xin lỗi
Xuân ngoài kia đất trời đang đợi
Hãy tha thứ đời nhau bằng chính trái tim mình

Cảm ơn em gương mặt một người tình
Mảnh vỡ nhỏ của tháng ngày thơ dại
Mảnh vỡ nhỏ chiếc gương xuân còn sót lại
Cho tôi soi và tìm thấy lại mình…

NGUYỄN LIÊN CHÂU

XUÂN ĐÃ VỀ RỘN RÀNG TRÊN…

ledachoanghuu

Thân tặng Phạm Thị Thu An

Có hai thằng, một là chúa ở dơ đến nỗi thấy… chí trên đầu nên kêu là Chí. Một còn lại thì đỡ hơn chút đỉnh, phủ một lớp bên ngoài che chắn phần bốc mùi ở bên trong, gọi là Cốt. Hai thằng Chí Cốt cả hai nghĩa đen và bóng từ thuở còn để tóc chổm cho tới nay đã là “sanh ziên”, dù rằng Cốt chánh gốc Sài Gòn, Chí miệt quê xa lắc.
Cuối năm Cốt “oánh dây thép” reng reng…:
“Ê, mai Tất niên, ba đứa như mọi năm nhưng đổi chỗ, ở quán số 7, đường… nghen mậy, tao gọi nó rồi”.
Chí đáp:
“Ừa, được á, sớm sớm chút đặng dìa quê phụ tết với ba má, mơi (mai) gặp hén”.
Nó, con bé xinh xinh, bầu bĩnh dễ thương cùng xóm với Chí, nhập thành bộ ba không lâu sau với hai thằng. Chí Cốt có rồi, coi như có bên ngoài và sâu thẳm tận cùng bên trong, nên đành cho nó lưng lửng, kêu nó là xương, cho vô giữa, Chí Xương Cốt. Tới ngày tóc nó xõa ngang vai óng mượt, đi đứng dịu dàng ý tứ, thấy cũng kỳ kỳ thành thử hai thằng đổi chữ X ra S. Đọc thì Xương nào cũng là… Sương. Với bà con cô bác, bạn bè… thì nó là giọt sương long lanh long lanh, với ba đứa thì long lanh vẫn là xương. Tóc Sương óc mượt cũng có góp công kha khá của hai thằng. Cốt len lén gởi hoài hoài chai dầu gội mà bên ngoài nhãn ghi óng mượt như tơ thì Chí cũng dễ chi chịu thua, dấu dấu nhưng liên tục hái chùm bồ kết đưa tới. Bồ kết mà nấu nước gội đầu thì còn nói gì nữa…
Đúng hẹn tới quán. Long lanh giọt Sương tròn xoe đôi mắt ngạc nhiên một thì Chí ngạc nhiên mười:
“Ngộ dữ mậy, có nhỏ Sương tao thấy bao giờ mày cũng rủ vô quán ốc, sò, cua ghẹ… các loại khoái khẩu của các nàng, bữa nay cắc cớ gì lại quán bê thui?”.
Dấu hỏi bự tổ bố cũng ở trên mặt Sương. Cốt cười hehe:
“Thấy nắng vàng vàng hông?”.
Chí bạnh cầm, Sương thì gật đầu nhè nhẹ:
“Cũng có thấy… xíu xíu… hoe hoe đó anh”. Nói xong nó nhe răng cười khì.
Cốt hất đầu:
“Thì Sài Gòn mà, vậy là ngon lắm rồi. Nhiêu đó cũng đủ gợi nhớ “Ngày Tháng Nào”* đã qua (*Tựa truyện của Tôn Nữ Thu Dung). À, nói chớ cũng nhờ “Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh”* rần rần hổm rày (* Tựa truyện cũng là tựa phim chuyển thể từ truyện của Nguyễn Nhật Ánh).
Chí nhíu mày:
“Vàng vàng thì có liên quan vụ gì tới bê thui, tao chẳng nhớ mậy?”.
“Em có biết hôn?”. Sương dõng tai chờ đợi bởi Cốt thủng thẳng trộn bột thính, nặng chanh, gắp thịt bê, chuối chát, khế chua, dưa leo và ngắt từng cọng ngò, húng quế, húng lủi, tía tô… cho hai đứa. Rồi Cốt nói:
“Mần* miếng đi (*làm)”. Cốt cũng gắp một miếng, cắn thêm trái ớt hiểm, có hít hà nhưng nhai thấy ngon lành: “Chà chà, cay cay chát chát chua chua nhưng quá đã! Vô trăm phần trăm… trà đá cái coi rồi nói cho nghe”.
Ba đứa cụng ly lốp cốp. Cốt khà một tiếng sảng khoái y như mấy ông già uống rượu:
“Biết… hôn thì đỡ quá, hai thằng này đâu có… ế – hehehe – Nói chớ em là nhân vật chánh chớ còn ai vô đây mà hông biết. Mần nhà thơ mà hổng nhớ sao?”.
Chí càng nhíu mày, nó gõ gõ trán:
“Bán con chó… bó trán. Tao thua, hổng nhớ nổi”.
Sương càng long lanh bởi đồng tử nó giãn hết cỡ thợ mộc:
“Em mần nhà thơ hồi n…à….ooo?”.
“Hồi ở ngoài cánh đồng chớ đâu. Lúc ba đứa đang dựa gốc cây mơ màng nghe bài hát Xuân Đã Về vang vang tới. Mà rất ư là hợp, Xuân đã về có đủ hết ráo trọi, có chim hót trên cánh đồng, có bao tà áo khoe cùng bông tím vàng, có bác nông dân cày ruộng vui xuân sang, có ngàn cô gái quê tươi cười đón gió mới… Rồi trong ngàn cô đó có cô dựa gốc cây với hai thằng tui trở thành…”.
Chí chồm người đập tay cái bốp, cắt ngang lời Cốt tưởng như la:
“Nhớ rồi, thành thi sĩ… – hihi… hi hi… Mới đầu Chí hihi…hihi… rồi không nín được nó bật hì hì liên tục, hì hì liên tục chừng như không dừng được, cũng khá lâu sau nó mới nói tiếng được tiếng mất, chen lẫn trong tiếng hị hị: Câu thơ… hị hị… của… của thi… hị hị… thi sĩ đọc độc đáo lắm, xuân đã về… hị hị… xuân đã về rộn ràng trên… trên lưng con bò nhỏ… hị hị…”.
Đúng ý, Cốt vung mạnh tay trong không khí búng cái bóc:
“Ngay chóc, câu đó đó, có điệu trầm bổng thì hổng là thơ chớ là gì. Xuân đã về… xuân đã về rộn ràng trên lưng con bò nhỏ”.
Cô bé phụ bán quán nãy giờ nép mình phía sau lén nghe, dù đã bụm miệng nhưng vẫn không giữ được, bung ra cười hặc hặc, kéo theo hặc hặc ào ào từ ba đứa nó. Bây giờ thì có tới tám giọt sương long lanh long lanh bởi tuyến lệ phải hoạt động hết công suất. May có cô bé nên bà con cô bác xung quanh mới nghĩ chắc có chuyện gì vui lắm đây, chớ không sẽ nghĩ ngay ba đứa vô duyên khùng điên cán cuốc.
Thấm ướt đẫm cái khăn, Sương nói còn có phần mắc cỡ:
“Anh Cốt này nhớ dai ghê”.
Cốt đáp:
“Hay vậy sao hổng nhớ”.
Chí thắc mắc rồi tự trả lời, xong lại thắc mắc:
“Ở quê rành sáu câu vọng cổ, con trâu con kêu là nghé ọ, sao hổng là xuân về trên lưng con bê, con nghé? À, mất chỉ một từ mà nghe nó cụt ngủn hen. Với lại phải có nho nhỏ nhè nhẹ, cơn gió nhỏ, dòng sông nhỏ, con đường nhỏ… mới nên thơ hén. Nhưng sao lại là con bò, ngộ vậy ta?”.
“Thì lúc đó em nhìn thấy có mỗi con bê, bê con nhảy lưng tưng là rộn ràng, lưng nó mịn màng dải lông vàng như… bông vàng, nắng vàng chớ sao nữa”.
Cốt gục gật:
“Cái tuổi đó mà. Ngộ là mày đó. Lúc đó mày thấy lạ chớ có cãi đâu. Mày đồng tình hết mình hết mẩy luôn”.
Chí nhún vai, nghiêng đầu xòe ngửa hai bàn tay:
“Mày cũng có khác chi”.
Ừ, thì cả hai có khác gì. Ở cái tuổi như nụ chớm nở hoa, đã có cảm nhận những rung động đầu đời dù chẳng hiểu là mấy. Đã biết là… mếch (thích) nó thì ra sức mà “che chờ” chớ không như lúc còn con nít, chòng ghẹo cho tới phát khóc mà thôi. Và cả hai cũng có những cay cú lẫn nhau, nhưng cũng biết bỏ qua những sân si sì sượng mà giữ đủ bộ ba. Giữ cho tới tận bây giờ mà cái sự… mếch nó vẫn còn đầy đặn nếu không muốn nói là đã tràn ra và cái sự cay cú vẫn còn ngập đó. Một bộ ba như xuân với màu vàng phương Nam. Một bộ ba vượt lên cả tình bạn bè. Tình gia đình, tình anh em và cả tình yêu đã len lỏi trong da thịt. Đôi khi trong ý nghĩ ba đứa đó là một mối tình thiêng liêng, thần thánh lắm, không thể phá vỡ. Song, cái ý nghĩ này sẽ mau chóng bị phất phẩy cho qua. Suy nghĩ chi cao siêu cho mệt đầu mệt óc. Chỉ là những đứa bình thường, có thể gặp nhau, bắt đầu bằng một câu chuyện, một câu nói tào lao mía lao, rồi gợi nhớ những “Ngày Tháng Nào” đầy ắp kỷ niệm. Những chui rúc ụ rơm, ùm ùm nhảy sông, lặt lá mai vàng, canh mà ngủ gục bên bếp lửa nấu bánh nồi bánh tét…
“Chia tay hén”. Cốt nói.
Sương gật đầu:
“Hẹn gặp lợi hai anh ở Tân niên”
Chí cười behehe:
“Năm mới, ánh dương về trên lưng… con dê nhỏ – behehe – Gặp một anh thôi”.
“Oánh tù xì mày”.
Hai thằng một hai ba, oánh tù xì ra cái gì cả hai ra cái kéo, bốn năm sáu cùng ra cái búa, bảy tám chín… hai cái bao cùng ra. Thôi thì bao cả ba lại, Chí Sương Cốt, bao luôn cả xuân phương Nam, xuân giản dị lắm, thế thôi hén!.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

LẠI VỀ

phudu

tôi lại về đây, lại về
giữa phố đời thấy hồn quê dạt dào
dẫu cho thị tứ xôn xao
thâu đêm cũng có trăng sao trên trời
tôi về đây, lại về thôi
bao trang sử cũng lướt trôi mây ngàn
biển dâu mấy đoạn sang trang
cũng còn chỗ ghé để mang hồn về
tôi về đây, lại về quê
sông xanh vẫn biếc, bờ tre vẫn dày
tôi về qua quãng đường dài
đồng xanh phố đỏ vẫn đầy hiện sinh
tôi về nhưng cứ lặng thinh
bên sông nhìn ngắm lục bình lướt trôi
tôi về đây, lại về thôi
dẫu cho con tạo có thôi hỏi chào.

Phù Du Vĩnh Hiền

vết thương

tonphong

Em vuốt vết thương
trên người anh
cho anh gọi mây về với tóc

Em xoa nỗi đau
trong lòng anh
cho anh gọi màu xanh về với mắt

Mười ngón tay em
luồn từng chân tóc
ngắn dài cũng bấy yêu thương

Sao nỗi oan khiên đời anh
cứ tấy lên dưới bàn tay em chăm chắt
vết sẹo dài đo bằng tháng năm
rạch nát con người
Anh đi giữa đời
mang vết thương không bao giờ kín miệng.

TÔN PHONG

Mùa Xuân trong ký ức

huongthuy

– Na, lấy cho ôn cái ghế đẩu cháu!
Đang làm dở bài toán đố, Na bỏ viết xuống, lật đật bưng ghế chạy ra. Đằng trước hòn non bộ, cạnh gốc mai già lão, ôn nội đang nhặt lá. Trên cái nền gạch tàu đỏ sẫm, những lá mai màu vàng nâu nằm rải rác.
– Ôn nội nhặt lá mai a?
– Ừ, hôm ni rằm tháng chạp rồi. Năm ni trời khô hanh, nhặt chừ mới hy vọng nở đúng tết cháu nờ. Khi mô cháu được nghỉ?
– Ngày ông Táo về trời ôn ơi. Cô giáo nói lớp của cháu phải học nhiều mới hy vọng đậu vô đệ thất trường công.
– Ừ, ráng vô được trường Thành Nội cho ba mi vui. Tội nghiệp, năm ni biết có về ăn Tết được không…Năm mô cũng hứa …hứa mà mô có thấy…
Ôn nội bỏ dỡ câu nói, đứng lên cái ghế thấp, vói tay bứt mấy nhánh lá trên cao. Cây mai có tuổi đời bằng ba Na. Ôn nội kể khi ba cất tiếng khóc đầu tiên trong tay bà mụ cũng là lúc ôn đặt bầu mai xuống hố. Qua thời gian, gốc cây sù sì như một con trăn lớn vươn lên năm cành mà ôn đã bỏ công uốn theo thế ngũ thường: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
Na biết trong đầu ôn nội đang nghĩ đến ba, người con trai trưởng của dòng họ Hà Thúc đóng quân tận đâu trên Dakley, Dakpao… “Cái tên chi mà đọc muốn trẹo quai hàm”. Ôn hay cằn nhằn mỗi khi nhận thư ba từ tay người bưu tá.
Na cũng nhớ ba lắm. Đứa con gái lên chín tuổi nhưng số lần gặp ba chỉ rải rác trên mười đầu ngón tay. Hai cha con gặp nhau qua thư từ nhiều hơn. Nhất là từ khi Na biết đọc, bao giờ ba cũng giành cho Na một đoạn trong những lá thư gởi về nhà. Mạ thường thở dài khi nghe o Hường bóng gió “Chị lo có con trai đi. Anh Nghĩa là trưởng tộc đó!”.
Thât sự, ba mạ Na cũng sống bên nhau liên tục được ba năm. Đó là thời gian mạ theo ba sau ngày cưới. Đơn vị ba thuộc Liên đoàn II Biệt động quân. Mạ lên tận tỉnh Pleiku xa xôi, thuê nhà ở, chờ ba về sau những cuộc hành quân. Khi đó ba đóng ở Suối Đôi. Mạ kể lúc bấy giờ Pleiku hoang sơ lắm, đàn ông người Thượng còn mang khố và cà răng căng tai. Những ngày cuối tuần , họ ra chợ với gùi măng sau lưng, tay cầm thêm những chú sóc hoặc chim két đủ màu bán lấy tiền mua gạo. Và Na được hoài thai ở xứ “nắng bụi mưa bùn” này.
Nhưng đơn vị ba di chuyển liên miên khắp vùng Cao nguyên Trung phần. Bà nội đau yếu và mất, o Hường đi lấy chồng dưới An Cựu, mạ về Huế sinh nở vừa để chăm sóc ôn nội và ổn định lâu dài. Hằng năm, những lần về phép của ba khi có khi không. Nhất là dịp tết nhất, bao giờ tiểu đoàn cũng trực chiến 100%. Biết chắc ba khó về nhưng Na vẫn chắp tay cầu khẩn “Lạy trời! Cho ba về với con.”

***
Ngày 27 tháng Chạp, Na ngồi coi mạ vớt những lát gừng mới luộc qua một cái rổ cho ráo nước. Trên lò than bên cạnh, thau mứt bí đang xên. Những thỏi bí bằng ngón tay út trong ngần sôi lục ục, mùi đường bốc lên thơm ngào ngạt. Năm nào mạ cũng làm nhiều mứt để ôn nội uống nước trà sáng và gởi cho ba ăn tết muộn.Thẩu dưa món đang bung dần những cánh hoa đu đủ, cà rốt mạ tỉ mỉ cắt tỉa hôm trước. Ở nhà trên, ôn nội lúi húi dọn bàn thờ. Ngoài cổng, có tiếng lao xao rồi giọng o Thơ nói vói qua hàng chè tàu cắt hình chim phượng:
– Mạ con Na ơi! Ba hắn về nì! Ui cha, cái thằng đen như củ súng…
Ba về? Hai mạ con lật đật chạy ra. Ba thiệt rồi! Ba đang đứng với chú Long hàng xóm, người bạn thời nhỏ cùng đá dế bắn chim. Chú làm bên Ty Cảnh sát Gia Hội. Chú nói:
-Thôi vô đi cho cả nhà mừng. Thong thả hai đứa mình nhậu nhẹt. Mồng một tau ra trực. Kỳ ni ráng kiếm một thằng cu cho vui cửa vui nhà.
Ba quay lại, bế xốc Na lên rồi một tay quàng lưng mạ đi vô. Ba cao to trong bộ quân phục da beo, ba lô cộm sau lưng, mũ nâu đội đầu, ba bông mai đen trên cổ áo. `Mạ nửa cười nửa khóc: “ Anh về thiệt a!”. Ôn nội đứng trên thềm, mặt tươi rói, chòm râu bạc phất phơ :
– Hèn chi sáng ni ôn nghe con chim kêu “Khách! Khách!”
Mạ hốt hoảng :- Ui trời! Cái thau mứt… rồi lật đật xuống bếp.
Chiều nớ, nhà Na vui như có hội. Cả cái xóm nhỏ kéo tới hỏi thăm “thằng Nghĩa Cọp đen về phép”. Mạ chạy vội ra chợ Xép mua thêm thức ăn. Ôn Nội châm trà liên tục. Lòng Na reo vang theo khúc nhạc Xuân trong Radio “Mừng Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…”
Từng làn mưa bụi rơi rơi. Na thiếp ngủ trong vòng tay mạnh mẽ của ba .

****
Bao năm đã trôi qua nhưng trong đầu Na vẫn nhớ như in những ngày Xuân Mậu Thân ấy.
Ngày 28 ba giúp ôn nội chà bộ lư đồng trên bàn thờ sáng bóng, tỉa lại hàng chè tàu trước ngỏ. Na lẩn quẩn bên cạnh cho ba sai vặt, lâu lâu lại rúc đầu vào để được hôn lên má, để tận hưởng “mùi ba” và để nghe ba huýt sáo bài ca muôn thuở “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…”
Ngày 29 ba chở Na ra Phu Văn Lâu coi chợ hoa và mua hai chậu cúc đại đóa về đặt hai bên bậc tam cấp. Buổi chiều, cả nhà ngồi gói bánh tét trên cái phản dưới nhà ngang. Ba không quên gói hai cái bánh ú nhỏ giành riêng cho con gái yêu.
Ngày 30 cả nhà lên núi Ngự Bình thắp nhang mộ bà nội rồi về nhà chuẩn bị cúng Tất niên. Bửa tiệc cuối năm thật ấm cúng. Có nhà o Hường bên An Cựu sang, có chú Long, bác Năm hàng xóm…Cả con đường Ông Ích Khiêm dưới chân cửa Thượng Tứ sực nức mùi nhang trầm. Chú Long nói: -“ Ngày mồng hai, mình rủ nhau chơi xì lát coi đứa nào hên…Nhớ hồi thằng Nghĩa chưa đi lính, hắn chơi bài ăn cả xóm rạt gáo…”.Câu chuyện kéo dài đến xế chiều. Đã nghe những tràng pháo nổ sớm. Ba cũng treo sẵn một dây pháo trước cửa. Không khí tết tràn ngập mọi nhà.Tiếng pháo nổ đì đùng.
Ngày mồng một, ba mạ thủ trại cho ôn nội đi thắp nhang nhà thờ họ Hà và thăm bà con. Ở Huế, con cháu ngày mồng hai mới được ra đường. Cây mai bắt đầu bung cánh. Ba đếm được mấy chục cái hoa có sáu cánh. Ba mừng tuổi cho Na những đồng bạc mới trong phong bao đỏ và cười, nói với mạ -“ Còn em lì xì cho anh một thằng cu”. Mạ đỏ mặt xấu hỗ…
Buổi trưa cả nhà ăn cơm chay. Ôn nội khen năm ni trời hửng, chắc mưa thuận gió hòa rồi ngâm nga sấm Trạng Trình “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”. Ba thưa với ôn ngày mai cho cả nhà đi chúc tết bên họ ngoại và bạn bè cũ vì ngày mồng năm hết phép. Ôn nói : – “Về ăn tết được là vui rồi. Đã là chỉ huy thì phải làm gương cho lính tráng.”
Đêm mồng một trời tối thui, mưa xuân rắc những hạt như bụi mỏng. Ôn nội thắp thêm nhang trên bàn thờ và giục cả nhà đi ngủ để ngày mai lấy sức đi chơi Xuân…Giấc ngủ đến với Na êm đềm, không mộng mị …
Na tỉnh dậy trong cái lay nhẹ của ba. Ba thì thầm: -“ Ôm cổ, ba cõng con!”
Trong cơn ngái ngủ, Na vẫn nhận ra ba đưa mình ra nằm trên chiếc chiếu dưới bộ ngựa gõ dày. Ba không quên trải cho con gái cái chăn ấm. Tiếng nổ ran, lâu lâu lại nghe những tiếng “ầm, ầm” vang dội. -“Ai đốt pháo dữ rứa ba?” – “Tiếng súng đó con”.
Căn nhà chìm ngập trong bóng tối. Trên bàn thờ vẫn còn chấm nhang đỏ le lói. Mạ lo lắng: – “Đánh nhau à anh? Hưu chiến mà?”. Ba không trả lời, lẩm bẩm: – “ Tiếng tiểu liên AK 47…Tiếng thượng liên…Chúng nó tấn công Huế rồi…”
Bấy giờ thì tiếng súng vang đâu mạn An Hòa và Hữu ngạn thành phố. Na nghe rõ cả tiếng rít của hỏa tiển 122 ly bay qua mái nhà. Qua cửa bức bàn, bầu trời lóe sáng bởi những tia đạn đan chéo. Căn nhà rung lên. Na nắm chặt tay ba. Ba nói với mạ: – “Chắc anh phải làm một cái hầm cho nhà mình trước khi trả phép”.
Trời tờ mờ sáng. Tiếng súng có ngớt hơn nhưng xóm nhỏ yên lặng một cách đáng sợ. Ngoài đường vắng ngắt. Nhà ai cũng kín cửa. Mạ nói: – “Để con xuống bếp nấu nước cho ôn cúng sớm”. Ôn gạt tay – “Để coi tình hình ra răng đã”. Mạ cắt những lát bánh tét cho cả nhà ăn với dưa món nhưng ai cũng quấy quá cho qua bữa. Ba chất thêm bộ bàn ghế chắn chung quanh cái hầm bất đắc dĩ. “Coi như hết tết!”. Na nghĩ thầm.
. Rồi bất chợt, xế chiều tiếng ầm ầm nổ vang bốn phía. Từ ngoài cửa Thượng Tứ, Đông Ba, trong Đại Nội, bên tê sông Hương…Mái ngói hàng xóm rơi sàn sạt. Ba nói với ôn nội: – “Ngó bộ đánh lớn rồi ôn…Đó là tiếng phóng lựu B40 của chúng nó…Sao nghe tiếng súng Carbin M1 của mình thưa thớt quá!…”. Điện tắt tối om. Không ai dám thắp đèn. Sau vườn nhà Na nghe tiếng chân chạy rầm rập, tiếng “ chóc…chóc” của loại súng gì nghe rất lạ…Ba ôm chặt Na trong bóng tối…Giấc ngủ của đứa bé mới lên mười tuổi được một ngày lâu lâu lại giật thột vì tiếng nổ…
Na tỉnh dậy vì tiếng thút thít của mạ : – “Làm răng bây chừ anh. Tụi hắn chạy ngoài đường. Đông lắm, em thấy rõ ràng”. Ôn thở dài lo lắng : – “Nhè Tết nhất mà đánh nhau. Đồ vô hậu!”. Ba nói : – “Chắc anh phải tìm cách vô trại Trần Cao Vân trong Mang Cá”. Mạ nói: – “Anh đừng đi. Nguy hiểm lắm. Em sợ…”. Một ngày dài lại trôi qua.
Sáng mồng bốn, ngoài đường ồn ào rồi tiếng loa vang lên : “ Đây là tiếng nói của Liên Minh Mặt trận Giải phóng Miền Nam…Quân ta đã hoàn toàn làm chủ thành phố Huế…Đồng bào ai ở nhà đó…Ôn thất thanh “Thôi rồi con ơi!”. Ba nghiến chặt răng.
Ba giờ chiều mồng năm, bên nhà chú Long nghe có tiếng khóc òa. Ôn nội dòm qua cái chấn song :- “Chúng hắn bắt thằng Long rồi. Chắc ai chỉ điểm…Con ơi! Trốn đi. Mãnh hổ nan địch quần hồ…”. Ba leo lên rầm thượng, tay cầm khẩu súng Colt. Mạ nói – “Em lạy anh, anh đưa cho em…”
Đêm xuống. Cả nhà hầu như không ai ăn uống gì. Mạ pha cho Na một ly sữa nhưng miệng Na đắng ngắt. Cô bé hình dung ra một cái gì đó nghiêm trọng đang diễn ra với nhà mình, với mọi người, với Huế.
Ba nhảy xuống, đưa tay phủi mạng nhện trên áo: – “ Con phải đi thôi ôn à! Ở đây thế nào cũng bị bắt. Một liều ba bảy cũng liều… Con đi tìm đồng đội chơi lại tụi nó”. Mạ nói – “Làm răng anh đi được. Chỗ mô cũng có tụi hắn”. – “Anh sẽ lần vô Ngã tư Âm Hồn, qua đường Nguyễn Hiệu, qua hồ Tịnh Tâm. Chắc chắn chúng nó không bao giờ chiếm được Mang Cá, đầu não của Sư đoàn I…”. Ôn thở dài – “Biết như thế ni thì chẳng mong con về ”. Ba mặc thêm một cái áo thun dài tay, áo khoác xanh bên ngoài. Mạ bịn rịn – “Thôi anh ơi, ở lại đây sống chết có nhau…”. Ba cương quyết – “ Anh không thể ngồi một chỗ để chúng bắt ”. Mạ nước mắt vòng quanh.
Ba hôn lên hai má Na hàng chục cái rồi ôm mạ nói – “ Đừng lo cho anh. Ở nhà chăm ôn và con. Chuẩn bị sẵn một số vật dụng cần thiết. Nếu thấy không an toàn thì chạy qua nhà o Thơ, bên nớ có cái hầm bao cát”. Ôn nội mở cửa nhà bếp, dòm quanh năm phút rồi vẫy ba. Bóng ba khuất vào đêm tối sau vườn…
Trưa mồng sáu, có tiếng kêu mở cổng. Năm người xuất hiện trước hiên nhà. Họ đều mặc đồ vải Tô Châu đen, đội mũ tai bèo, khoác súng, hai người đeo băng đỏ. Một người giọng Bắc lên tiếng: – “ Thằng đại úy Ngụy trốn đâu? Mau ra trình diện chính quyền Cách mạng”. Ôn nội bình tĩnh trả lời: – “ Dạ, mô có ai. Nhà chỉ có ông già con nít…”. – “Ngoan cố. Có người thấy hắn về phép mấy hôm nay”. – “Dạ, hắn có về. Nhưng đã đi cúng nhà thờ họ dưới La Chữ hôm mồng một”. Người cầm súng cắt ngang: – “Các đồng chí vô kiểm tra. Coi chừng. Lũ lính rằn ri này ngoan cố lắm!”.
Cà toán kéo vô nhà sục sạo. Mạ ôm Na đứng nép một góc nhà. Một tên leo lên tận trên rầm thượng kiểm tra. Hai tên kéo xuống nhà bếp, lui tận sau vườn dòm ngó.
Mười lăm phút sau họ kéo đi sau khi ném vào mặt ôn nội cái nhìn hăm dọa. Mạ thở ra: “Mô Phật!”.
Súng nổ dồn dập. Có tiếng máy bay trực thăng trên trời. Rồi những tràng rốc két bắn xuống dữ dội. Ôn nội nói: – “ Chạy qua nhà o Thơ thôi con!”. Mạ dắt tay Na, tay khác ôm một cái bao băng qua sân. O Thơ kéo hai mạ con vô hầm thì thào: – “Thằng Nghĩa thoát không? Chúng bắt nhiều người lắm. Túi qua, tau thấy buộc cả dây trước đường. Ai ngờ thằng thợ cúp là Việt cộng nằm vùng. Ghê thiệt”.
Cả mấy ngày trời hai gia đình toàn ăn bánh tét nóng cả ruột. Mạ làm liều ra khỏi hầm nấu cơm vắt thành từng nắm nhỏ. O Thơ lui sau vườn vơ vội mấy cây cải nấu canh. O chạy vô nói :- “Mạ cha ui! Hắn treo cờ trước cửa Ngọ Môn ngó rõ mồn một. Chắc còn đánh nhau dữ. Cơ chừng ni biết chạy đi mô trời!”
Na dòm lên cuốn lịch mấy ngày không ai xé tính nhẩm: Hôm ni là ngày mồng mười. Đáng lẽ hôm ni mình đã đi học, đã khoe cái kẹp tóc mới, khoe tiền mừng tuổi với tụi con Linh, con Chi…thì bỗng nghe tiếng “ầm ầm” vang dội. Mấy cái ly trên bàn lăn long lóc, thằng Tí con o Thơ khóc thét… Mười lăm phút sau bác Năm chạy vô – “ Cầu Trường Tiền bị giật sập rồi. Bên Quốc gia sắp phản công. Chạy mau . Ở đây bom thả chắc chết hết …” – “Chạy mô chừ?” – “Thì cứ chạy đi rồi tính…”
Cả hai gia đình kéo nhau ra đường. Mới có mười ngày mà khung cảnh đã tan tành, đổ nát. Những bóng người lếch thếch tay xách nách mang, những nét mặt thất thần…Trên con đường ra chợ Xép, xác người chết nằm la liệt, Na nhắm chặt mắt không dám nhìn. Tiệm vải đầu đường Mai Thúc Loan nghi ngút khói. Ra cửa Đông Ba, năm tay du kích ngăn lại nhưng o Thơ cứ đẩy mấy đứa nhỏ ra trước “ Cho tụi tui đi tránh đạn mấy chú nờ. Ba mấy đứa chết trong xóm rồi…”. Ngó lên đường Phan Bội Châu, dãy phố sang trọng đổ sụp. Bác Năm chụp cái nón xuống mặt, hai tay bồng hai đứa con dẫn mọi người chạy ra Hàng Bè đi xuống phía Bao Vinh…
Lại gần mười ngày ăn nhờ ở đậu trong nhà mạ o Thơ. Hai con mắt mạ trõm lơ vì lo cho ba không biết bây chừ ở đâu. Ôn ngoại cứ thở ra. Máy bay thả bom phía thành phố, khói lửa bốc lên nghi ngút. Na hình dung ra ba đang chiến đấu ở đó. Ngày 22 tháng giêng, phía An Hòa vòng vô Bao Vinh xuất hiện những toán lính da beo. Ôn nội nghẹn ngào: – “Quân ta…Quân ta…Sống rồi …Con ơi!…”
Những người lính cọp đen thuộc tiểu đoàn 21 Liên đoàn I Biệt Động Quân áo quần vương mùi thuốc súng. Họ cung cấp cho dân chúng những bịch gạo sấy, thịt hộp rồi kéo quân đi. Bác Năm thì thào: – “Lính ôn Võ Vàng đó. Lính ni đánh ác chiến lắm!”. Nghe nói sau đó mấy ngày, chính họ là những người tái chiếm Gia Hội và cắm những lá cờ VNCH đầu tiên lên phía Chi Lăng. Sau hơn hai mươi ngày, Na được ăn chén cơm có mùi thịt…Lá cờ VNCH phấp phới trên kỳ đài. Mạ thở ra – “Sắp được về nhà rồi!” Na nghe mừng húm.
Nhưng cũng phải mươi ngày sau đám người tản cư mới được trở vô thành phố. Mạ vừa đi vừa dòm xem thử trong những toán lính đang chốt ven đường có dáng ba không. Vạt chợ Xép gần như thành bình địa. Một đoạn thượng thành đổ sụp. Nhà bếp o Thơ tan nát, một quả bom rơi đúng sau vườn. Nhà ôn nội một mái sạt góc, hòn non bộ giữa sân bể tan, tượng ông tiên đánh cờ văng ra xa mất tiêu cái đầu. Ôi! Hòn non bộ , thế giới kỳ bí tuổi nhỏ của Na với những hang động, ngõ ngách. Cây lão mai bật gốc nhưng ở một nhánh nhỏ vẫn còn sót lại mươi bông hoa. Một màu vàng tàn tạ trên sự hoang tàn, đổ nát.
Vừa đặt cái bao xuống, mạ đã nói với ôn nội – “Để con vô Mang Cá tìm nhà con!”. Ôn nội trấn an : – “Đang lúc lộn xộn, đàn bà con gái biết chi việc quân sự. Thế mô hắn cũng ghé qua nhà coi ngó vợ con”. Cả nhà phụ nhau dọn dẹp tạm bợ cho gọn mắt. Mấy người hàng xóm cũng lần lượt trở về xúm lại hỏi thăm tin tức. Thím Long khóc òa: – “Tụi hắn bắt chồng con lúc chưa có một hột cơm vô bụng. Chừ không biết ở mô mà kiếm…Anh ôi là anh…”. Bác Năm nói có một gia đình xóm Âm Hồn chết trụm cả nhà, chó kéo từng miếng thịt đi khắp xóm. Ông Tăng Duyệt giàu nứt đố đổ vách bên đường Trần Hưng Đạo, chủ nhà xuất bản Tinh Hoa, cũng nằm phơi thây trước chợ Đông Ba. Chuyến ni Huế e “Mười người mất bảy còn ba”. Ôn nội chùi sơ trên bàn thờ rồi thắp bó nhang còn sót lại trong đống đổ nát. Mùi hương thơm làm buổi chiều thêm ảm đạm.
Hai ngày rồi ba ngày, bốn ngày… bóng ba vẫn mù tăm. Ôn nội không giấu nổi sự bồn chồn. Mạ đứng ngồi không yên, tất bật đi dò la tin tức. Mạ cứ lần theo con đường ba nói hôm trước. Từ Ông Ích Khiêm ra chợ Xép, vòng qua Mai Thúc Loan rẽ vào Đinh Bộ Lĩnh vô Cầu Kho…Mạ đi và đi, mòn đàng chết cỏ, lầm lụi sáng chiều rồi trở về cúi mặt khóc thầm. Đơn vị cử người ra hỏi thăm, ông Đại úy xử lý thường vụ nhìn cảnh nhà hoang vắng cũng chỉ biết thở dài… Mạ còn nghe lời người ta, dắt Na đi coi bói ở cô Thanh Ròon trong Thành Nội. Người đàn bà ốm nhom ốm nhách thắp hương khấn vái trước bàn thờ với những hình ảnh kỳ bí và mươi phút sau thở dài nhìn mạ con Na nói khẽ : – “Rồi sẽ có tin. Lành ít dữ nhiều”. Chiều đó mạ bỏ cơm, nằm bệt. Hai tuần sau, một anh thanh niên đường Hàn Thuyên ghé tới nói có thấy ba trong đám người bị lũ áo đen bắt giải đi. Anh ta nhận ra vì ba là bạn của ông chú lúc nhỏ hay qua leo cây nhãn nhà anh. Cả nhà nghe nhưng không ai muốn tin đó là sự thật…
Huế đổ nát tang thương. Công binh bắc cầu phao qua sông Hương. Cây cầu Trường Tiền gãy nhịp đập vào mắt mọi người nhức nhối. Na đi học. Trong lớp nhiều bạn chít khăn tang. Một số bạn giàu có theo gia đình bỏ Huế mà đi. Ngày đầu tiên, cô trò nhìn nhau ngơ ngẩn.
Những cái hố chôn người bắt đầu được phát hiện. Ở Phú Thứ, trên Cầu Lòn, bên sân trường Gia Hội…Mạ tất tưởi đi theo thím Long , người đầy mùi dầu khuynh diệp Bác sỹ Tín, lúc về không ăn nổi cơm, gầy rộc. Ôn nội trở mình với những tiếng thở dài trong đêm…Cả thành phố ngập trong màu trắng của những bộ đồ xô gai. Hương đèn,vàng bạc trở thành mặt hàng bán chạy. Nhà nào cũng có người chết, người mất tích…
Mới sáng sớm, o Thơ chạy vô nhà kêu hớt hãi : – “ Chạy xuống Bãi Dâu coi. Người ta mới đào lên mấy chục xác tề!”. Mạ lật đật xỏ tay vô áo dài chạy đi. Không hiếu sao Na cũng chạy sau mạ. Ôn nội đang cột lại cổng ngỏ cũng bỏ đó….
Cái trại dã chiến được dựng lên bằng những tấm bạt quân đội. Đám đông vây quanh. Tiếng khóc hờ thảm não của những người đàn bà vang thê thiết. Một dãy dài xác người được đưa từ chiếc hố sâu nằm trên đất, mặt phủ những tờ giấy trắng. Mùi tử khí bốc lên. Mấy ông phu đào huyệt đặt những di vật của người chết ở trên đầu cho thân nhân nhận dạng. Một chiếc bật lửa hiệu Zippo, một cây bút bic, một cái thẻ kiểm tra cáu bẩn…Mạ nhào vô, lật từng tờ giấy che mặt rồi lại lao ra. Mặt mạ trắng bệch nhưng lạnh căm. Những cái xác…rồi những cái xác…Tất cả đều bị trói thúc ké, bị đập sau gáy… chất chồng nhau trong hố.
Một ôn phu kêu lên: – “Có thẻ bài trên cổ xác áo xanh tề! Lấy ra coi.” Ôi! Cái áo khoác màu xanh ba mặc trong đêm ra khỏi nhà định chạy vô trại Trần Cao Vân, cái thẻ bài có tên ba và số quân cùng loại máu O Rh +. Ôn nội, mạ và Na ào tới.
Ba ứa máu. Dòng máu đen kịt từ mũi, miệng trào ra chảy xuống nền cát ẩm. Mọi người chung quanh thì thào: “Gặp đúng người thân rồi đó…” Mạ rú lên : “Anh ơi anh!” rồi ngã lăn ra, hai tay quơ quào vô thức trên cát. Nước mắt đứa con gái chảy quanh nhưng Na không khóc lớn tiếng. Na nhìn ôn nội mặt nhăn nhúm, lặng lẻ phụ những người phu tháo chiếc dây trói từ cổ tay, lau đất cát dính trên người ba, chuyển ba vô cái hòm vừa được đưa tới. Cô Nữ trợ tá quân đội dìu mạ ngồi dậy và cả nhà cùng ba được đưa đi trên một chiếc xe nhà binh…

***

. Từ đó Na vĩnh viễn mất ba. Không còn những dòng thư ngọt ngào, không còn ai để ngóng đợi. Mạ cầm trong tay cuốn sổ quả phụ, ba tháng một lần đi qua Ty Ngân khố lãnh tiền tử tuất. Ôn nội thỉnh thoảng vuốt tóc Na : – “Tội nghiệp cháu tui, mồ côi mồ cút…”
Mạ xin làm thư ký bên Tòa Hành chính Tỉnh, ngày ngày đi xe đạp qua cầu phao, chiếc khăn tang phất phơ trong gió. Cuối năm, Na thi đậu đệ thất trường Thành Nội nhưng không cảm thấy vui. Ôn nội thắp nhang trên bàn thờ : “Con có linh thiêng, phù hộ cho cháu”.
Những mùa Xuân tiếp tục đến rồi đi. Cả thành phố ngào ngạt hương khói trên bàn thờ đặt ở trước nhà, ngoài đường. Có lẽ không có nơi nào trên đất nước buồn như Tết Huế. Nhà mô cũng cúng, nhà mô cũng có tang. Cây cầu Trường Tiền được sửa lại nhưng không còn nguyên vẻ đẹp cũ. Xác chú Long vẫn chưa tìm ra… Nhìn ảnh ba trong bộ quân phục, nhìn dáng vẻ buồn bã của mạ, Na quyết tâm học thật giỏi. Năm nào Na cũng được lãnh phần thưởng danh dự toàn trường. Cô Hiệu trưởng Tôn Nữ Tiểu Bích tuyên dương em học sinh mồ côi học giỏi dưới cột cờ. Ba có biết để mừng cho Na?
Sức khỏe ôn nội ngày càng sa sút. Thỉnh thoảng o Hường từ An Cựu lên thăm ôn rồi ghé tai thì thào chi đó. Na không nghe rõ nhưng ôn nội có vẻ cáu giận: – “ Trai hay gái thì cũng là cháu tau, giọt máu của thằng Nghĩa. Đừng nhiều chuyện…” O Hường sầm mặt xuống, háy mắt nhìn Na rồi bỏ đi. “Còn cha gót đỏ như son. Một mai cha chết gót con đen sì ”. Chưa bao giờ Na thấm thía câu ca dao đến thế.
Một buổi tối, ôn nội kêu hai mẹ con lại gần bộ ván ngựa nơi ôn nằm rồi nói khẽ:- “Dạo ni ôn thấy trong người không được khỏe…Ôn cũng trên bảy mươi. Chết được rồi nhưng nghĩ thương dâu hiền cháu thảo… không đành”. Mạ òa khóc : – “ Ôn đừng nghĩ bậy. Ôn phải sống với mạ con con…” Ôn rút trong túi áo ra một gói nhỏ dúi vào tay mạ: – “Có chút ni con giữ lại cho cháu, cố gắng nuôi con ăn học nên người…” Na ứa nước mắt thương ôn.
Rồi ôn nằm liệt như một cành cây khô hết nhựa. Na ngồi bên ôn đút từng muỗng sâm nhỏ. Ôn thở những làn hơi nhẹ như gió thoảng. O Hường và chồng lên thăm, lấy chìa khóa trong túi ôn mở tủ lục lọi, tìm tòi… Và một buổi sáng ôn nhẹ nhàng ra đi trong những cơn mưa lê thê tháng mười, trên khóe còn vương hai giọt nước mắt.
Đám tang ôn hầu như cả xóm đều có mặt. Ôn nằm cạnh bà nội trên vạt đất đã được chọn sẵn từ trước trên Ngự Bình. Còn mộ ba Na lại ở Nghĩa trang Ba Tầng dành riêng cho những nạn nhân Tết Mậu Thân. O Hường khóc ơi là khóc, kể lể : – “ Cha ui! Cha mất rồi lấy ai hương khói thờ tự khổ lắm cha ui!…”. Bác Năm nạt : – “Mi có cho ôn nằm yên không? Đám tang mà còn cạnh khóe…”. Mạ lặng lẽ lau những giọt nước mắt.
Những buổi tối hai mạ con nằm ôm nhau trong căn nhà rộng.Tiếng thằn lằn chắc lưỡi trên trần nhà. Mạ thì thầm : – “ Gia tài của ba mạ là con gái. Mạ bây chừ chỉ còn con…” rồi khấn thầm với ôn, với ba phù hộ cho hai mạ con mạnh khỏe, chân cứng đá mềm…Những nén nhang lóe sáng trên bàn thờ như chứng giám.
Thời gian nhanh như một cái chớp mắt. Na lớn lên, qua bên kia sông Hương học đệ nhị cấp trường Đồng Khánh. Mái tóc bum bê đã được để xõa ngang vai. O Thơ trầm trồ: – “Mi giống hệt mạ mi thời con gái. Gắng học cho mạ nhờ. Có nhiều mụ chồng chết ba bảy hăm mốt đã đi lấy chồng. Không phải như mạ mi mô đó”. Na biết mạ còn đẹp. Bạn bè hay khen cái dáng nhẹ nhàng, thanh thoát của mạ. Tóc mạ vẫn đen nhánh, đi ngoài đường có người tưởng hai chị em. Những ngày tết nhất, kị quảy, o Hường lên thắp nhang hay nói bâng quơ: – “Khi mô chị có chi vui, nhớ báo cho tui sắp xếp công việc nhà. Tui nghe người ta nói có ôn ni ôn tê theo chị tề. Chị nhớ giữ ý tứ. Chó đâu chó sủa lỗ không…” Na ghét cay ghét đắng những câu châm chích của o Hường nhưng mạ cứ lặng yên.
Những lúc rảnh rỗi, mạ thường kể cho Na nghe chuyện ba mạ gặp nhau, yêu nhau như thế nào. Ba lúc nhỏ nghịch thấu trời.Từng bơi bên ni qua bên tê sông Hương trước Phu Vân Lâu, từng leo trộm nhãn dọc hai bên đường trong Tử Cấm Thành, từng lấy áo dài của mệ nội mặc nhát ma mấy o đi gánh nước đêm…nhưng ba cũng nổi tiếng học giỏi nhất xóm. Ba trốn ôn mệ tình nguyện đi Sỹ quan Đà Lạt khi thi đậu tú tài. Ra trường có mười ngày phép về gặp mệ, bị mệ đấm thùm thụp vào lưng còn ba nhấc bổng mệ nội trên hai tay đi một vòng xóm trong tiếng cười của bà con. Ba chững chạc hẳn lên. Nhiều cô ưng ba nhưng ba chỉ để ý đến mạ, người con gái nhà ở bên hồ Tịnh Tâm, có mái tóc dài ngang thắt lưng. Câu tỏ tình của ba với mạ là : “Lấy lính cực lắm, em có chịu thì tui về thưa với ba mạ đi dạm?”. Na cười hỏi “Rồi mạ nói răng?”. Bây chừ kể lại mà mạ còn đỏ mặt: – “Nói chi được mà nói!…”. Trong lòng Na ước mơ rồi tương lai cũng có một chàng trai tuấn tú, kiêu hùng như ba sẽ đến với mình…Nhưng trước mắt là phải học cho giỏi như ước nguyện của ba mạ. Mỗi lần được cô Tường Loan, cô Giáng Châu, thầy Châu Trọng Ngô… khen là Na lại nhớ đến lời căn dặn của ôn ngày còn sống.
Nhưng có ai học được chữ ngờ! Ngày Na mười bảy tuổi, ngày Na má đỏ môi hồng, ngày Na học lớp 12 tràn đầy sức sống…là ngày thiên đường đổ sụp. Chỉ hai tháng trời mà đất nước đổi chủ thay ngôi…
Cả thành phố tràn ngập một màu đỏ gắt, những câu khẩu hiệu sắt máu được viết đầy trên bờ tường, những tay cán bộ nhà quê hò hét…
Ngôi trường Đồng Khánh cổ kính yêu dấu của Na cũng đi xuống một cách tàn tạ. Không còn vẻ quý phái của cô Hiệu trưởng Bích Đào mỗi sáng thứ hai trên cột cờ, không còn dáng dấp mô phạm của thầy Phạm Kiêm Âu dọc hành lang với những tràng tiếng Pháp bay như gió khi vào lớp…Thay vào đó là những khuôn mặt lưỡi cày, ăn mặc nhếch nhác, mở mồm ra là “chủ nghĩa tư bản giãy chết, phồn vinh giả tạo…”
Thầy cô và học trò ngưng học hành, xách cuốc đi lao động, tăng gia sản xuất. Ngày đi trồng sắn trên núi Thiên Thai, cô Diệu Vân còn cắm lộn đầu và đuôi hom sắn bị một bà răng vẫu mắng là “tàn dư Mỹ Ngụy”…Buổi chiều chủ nhật trồng bạch đàn trước trường Đại học sư phạm, nhìn từng đoàn xe phủ bạt chở “chiến lợi phẩm” Honda, xe đạp chất chồng như núi ra phía Bắc, thầy Lê Quân Thụy nói bâng quơ “Ngoài ta thiếu gì!”… Ngày bắt buộc đi theo Đoàn Thanh Niên bài trừ “nền văn hóa phản động ”, Na ứa nước mắt nhìn những tác phẩm văn học lớn bị cháy bùng trong tiếng vỗ tay của bọn Cách Mạng theo đuôi…
Mạ mất việc, nấu một nồi cháo trắng cá kho khô ngồi bán dưới gốc cây trước cổng Đại Nội. Khách hàng là những chú đạp xích lô, anh kéo xe bốn bánh, cô thợ may… nhưng không khó để nhận ra vẻ trí thức một thời trên gương mặt đăm chiêu của họ. Nhìn mạ với gánh hàng trên vai mỗi sáng, Na muốn bỏ học nhưng mạ nói mạ làm tất cả miễn sao con vô được Đại học đi làm bác sỹ chữa bệnh cho mạ khi trái gió trở trời… Cuối năm Na đậu trường Y với số điểm Lý, Hóa, Sinh cao ngất ngưỡng.
Nhưng – lại một chữ “nhưng” ác nghiệt- lý lịch của Na khi đi chứng trên Phường bị tay Chủ tịch xuất thân lái heo “Xát nhận: Con của Ngụy có nhiều nợ máu bị Cách mạng trừng trị trong tết Mậu Thân, không đủ tiêu chuẩn vào Đại học ”. Na về vùi mặt vào gối khóc hết ba ngày. Ba ngày mạ bỏ gánh cháo ngồi bên cạnh Na, mạ sợ con gái thất vọng làm điều dại dột.
Ngày thứ tư Na ngồi dậy tỉnh táo nói : – “ Không học được nữa, thôi thì mạ cho con theo o Thơ đi buôn. Con không muốn làm cái gánh nặng của mạ”. Mạ thảng thốt: – “Hiền lành như con đi buôn răng được!”. Na cả quyết: – “ Mạ cứ để con đi.”
Na theo o Thơ đi buôn chuyến từ Huế ra Đông Hà và ngược lại. Hàng đi ra là bột ngọt,vải vóc; hàng đi vô là thuốc lá Samith buôn lậu từ bên Lào về. Hàng họ phải thu giấu kỹ lưỡng, có khi phải buộc trong người để qua mắt bọn thuế vụ. Thoát được thì lời, bị bắt thì khóc lóc van xin, mất nhiều lần thì cụt vốn, thậm chí phải chịu những hành động sàm sỡ…Các trạm thuế như cái chợ, mấy tay quản lý thị trường mặt hất lên trời hống hách. Người đi buôn đa số là phụ nữ, một số có chồng đi “cải tạo” phải bươn chải để bới xách và nuôi con. Phần nhiều các chị đều tận tình giúp đỡ, che chở cho nhau khi qua trạm. Mỗi người đều có chung bi kịch của thời đại. Nhưng đi được ba chuyến thì o Thơ nói mạ cấm không cho Na đi nữa, “nhìn cảnh chướng tai gai mắt nó hư người đi”. Na nhờ bác Năm làm cái tủ thuốc lá ngồi cạnh mạ, kiếm mấy hào bạc Bắc qua ngày.
O Hường bán nhà dưới An Cựu, mang chồng và ba đứa con lên nhập hộ khẩu. O nói : – “ Nhà rộng, hai người ở phí. Con Na mai mốt theo chồng thì có hai thằng cháu trai hương khói cho ôn. Cháu ngoại mà là cháu trai thì cũng tốt hơn là cháu nội gái ”. O Thơ xí một cái dài : – “ Nói rứa mà cũng nói. Tụi nớ mô phải họ Hà…”.Mạ cắn môi coi bộ suy tính hung lắm.
Nghĩa trang Ba Tầng nhà nước bắt di dời.Tấm bảng đá khắc lịch sử nghĩa trang bị đập bỏ. Bọn họ phủ nhận tội ác đã gây ra trong Tết Mậu Thân cho người dân Huế. Mạ hốt cốt ba đem thiêu và xin sư thầy trụ trì cho thờ trong chùa Vạn Phước, nơi ngày xưa ba đã qui y. Mạ thầm thì với ba lâu lắm, hai dòng nước mắt chảy dài trên má.
Một chiều tháng ba năm bảy tám, mạ xách chiếc túi nhỏ dắt tay Na nói với o Hường đi về chợ Mai mua gạo ruộng lên nấu cháo cho rẻ. Hai mạ con xuống bến đò ở sau chợ Đông Ba. Nhưng đò không dừng ở làng Chuồn, ở Mậu Tài mà đi thẳng tuốt dưới Thuận An. Đêm hôm đó, hai mạ con ra khơi trên một chiếc gọ, đánh cược tính mạng mình với số phận…

****

Mạ ơi! Rứa là mạ đã xa con vỉnh viễn. Cho đến trước lúc nhắm mắt xuôi tay, trong đầu mạ con vẫn là đứa con gái bé nhỏ của gần ba mươi năm trước. Ngày bỏ nhà, bỏ nước ra đi, trong túi nhỏ mạ xách trên tay chỉ có cái thẻ bài của ba, tấm hình ba đội mũ nâu Biệt Động Quân, tấm ảnh ba mạ ngày cưới và cái chứng chỉ học trình của con. Nhưng nó là động lực để hai mạ con vươn lên trên đất khách quê người. Con không quên hai bàn tay nổi gân xanh của mạ khi hàng ngày phải clean sàn nhà; cũng bàn tay ấy đêm khuya đã tỉ mẩn làm từng thau bánh bột lọc, bánh nậm bỏ mối cho nhà hàng Việt Nam. Con nhớ mãi ánh mắt mừng rỡ của mạ khi con được vào Đại học Berkeley danh giá; nhớ món cá kho thơm phức của mạ khi con không hợp cái bánh Pizza béo ngậy…Con nhớ lắm mạ ơi!
Nhờ ba lượng vàng của ôn nội, nhờ sự liều lĩnh của mạ, mạ con ta đã thoát khỏi cái nhà tù lớn ấy và con đã thực hiện được nguyện ước của ôn, của ba mạ, của riêng mình. Con đã có một gia đình hạnh phúc, một nghề nghiệp vững vàng. Các cháu của mạ đã lớn lên trên một đất nước tự do, không phải trải qua những vất vả về vật chất và khổ nhục về tinh thần như mạ con ta thuở ấy. Tóc trên đầu con đã nhiều sợi bạc nhưng mỗi lần thức giấc nửa đêm con vẫn thèm được dúi đầu vào ngưc mạ, nghe mạ kể chuyện về ba, người cha thân yêu đã bị giết vào mùa Xuân Mậu Thân.
Làm sao quên được khi mỗi lần Tết đến Xuân về bàn thờ nhà ta lại nghi ngút khói nhang và hình ảnh ba nằm trên nền cát ẩm, miệng ứa máu là một nỗi ám ảnh trong con. Ngày ấy đã có lúc con thề sẽ không bao giờ về Việt Nam, về xứ Huế thương đau, về căn nhà xưa dưới chân Thượng thành đã cho con hạnh phúc và nhiều đau khổ.
Nhưng mạ ơi, con sẽ về theo lời trăn trối của mạ lúc lâm chung. Con sẽ đem theo bình tro cốt của mạ. Con sẽ vào chùa Vạn Phước cúng ba, xin sư thầy cho nhận bình tro mạ gởi ngày ấy. Con sẽ thuê một chiếc đò chèo ra giữa dòng Hương giang trước chùa Linh Mụ. Và ở đó, con sẽ nhập hai bình tro cốt làm một rải xuống con sông quê hương để ba mạ mãi mãi bên nhau trong cõi vĩnh hằng…

Hương Thủy

Di ngôn

tanhoaidavu

Rồi anh sẽ gối đầu lên giấc mộng
Ngủ quên đời trong giường mộ bình yên
Em hãy khuấy hai tay làm biển động
Che giùm anh tiếng đại bác vang rền.

Xin em hãy liệm anh bằng tiếng hát
Đắp mặt anh bằng mái tóc em buồn
Cho anh quên những xác người tan nát
Những kẽm gai còn rào kín tâm hồn.

Em có nhớ, thắp hương bằng nước mắt
Ngọt vô cùng anh sẽ uống no say
Để anh quên chuyện trần gian đói khát
Chén cơm đen muối mặn nuốt qua ngày.

Và em hãy viết thư bằng cổ tích
Đừng nhắc chuyện quê hương chinh chiến hận thù
Anh sẽ tưởng hồn anh không xiềng xích
Bay tìm em dù gió cát, sương mù.

Anh sẽ dựng nhà với chân tay làm cột
Giăng mùng cỏ xanh ngồi đợi em về
Hai chúng mình sẽ bắt đầu hạnh phúc
Tủi nhục nầy rồi con cháu quên đi.

Tần Hoài Dạ Vũ
1965

SƯƠNG KHÓI TRÊN ĐỒI…

tonnuthudung

Anh vẫn nhớ cuối con đường ra biển
Quán cà phê, cành phượng vỹ nghiêng buồn
Bài hát cũ còn nguyên màu ly biệt
Còn nguyên màu thăm thẳm tím hoàng hôn.

Bởi kỷ niệm hãy còn xanh như lá
Bặm môi thề không được nói yêu ai
Và tóc ngắn cột đời nhau cũng khó
Nên giận hờn: “Anh là gió”- buông tay!

Anh vẫn nhớ một ngày trong ký ức
“Quên em đi” con nhóc hét trên đồi:
“Anh là gió mà em là sương khói
Nên suốt đời anh chỉ đẩy em- trôi!”.

Tôn Nữ Thu Dung