Rượu cạn

dulehue

Say rồi? say chưa? Hay chưa say?
Mơ mơ nghe trống trận cờ bay
Vươn vai những muốn bình thiên hạ
Chợt nhớ rằng là ta hôm nay.

Say chưa? chưa say? Hay say rồi?
Trăng và mặt trời ai lẻ loi
Gác tay che trán tóc giờ rụng
Một giọt sương khuya đủ lạnh đời.

Say chưa? say rồi? Hay không say?
Hoa hồng nhọn hoắc những là gai
Vườn ai đâm trái cây hò hẹn
Thiếu phụ buồn trông mây trắng bay

Ngây ngất e rằng có hơi say
Ta yêu người thất thế tháng ngày
Ngà ngà kẻ sĩ điên lời hát
Rượu rót khùng khùng từng câu cay

Chưa say? mà sao lại ói nôn
Say rồi? sao còn buồn mênh mông
Nụ hôn nhẹ gió đêm đồng bóng
Níu lấy chiêm bao đỡ lạnh lòng

Chếnh choáng chắc chi đã là say
Chí hỏng tình hư lạ mặt mày
Hình như mưa vẫn trong hờn giận
Tôi nhớ em nào em có hay

Say lâu rồi say luôn ngày mai
Thơ ta mà cũng phải hoài thai
Xót xa ngọn gió thu hờ hững
Em có quên ngày xưa lá bay !

dulehue

THẢ NẮNG

daolam

ai thả nắng xuống lưng chừng tháng chạp
ta cầm về hong tóc rối xuân xưa
con chim hót sau vườn cây lá thấp
giọng thật buồn như mắt ướt trong mưa

ai thả nắng xuống chiều phơi lá biếc
tay ta cầm giọt mực tím lẻ loi
câu thơ viết tự thuở nào xa lắt
bỗng ùa về đau đáu mãi không thôi

ai thả nắng ngó tình về xứ khác
ta làm mưa bong bóng cuối hiên nhà
tay gõ nhịp theo từng vòng khói thuốc
chập choạng tìm hun hút bóng ai xa

ai thả nắng chiều cuối năm rất lạnh
ly cà phê giọt…giọt đắng tê lòng
phố của núi, núi của sương…ảo ảnh
ta nhặt về hơ ấm buổi tàn đông

ai thả nắng xuống lòng ta rất nhẹ
ấm hơi sương mộng mị đến xao lòng
ơi! Vạt nắng loang hồn ta thật khẽ
ta có nghìn năm chờ…đợi…ngóng…trông…

THẢ CHI VẠT NẮNG NHIÊU KHÊ
TRONG TA TÌNH ĐÃ SI MÊ KIẾP NÀO

DaoLam

TỪ HÌNH ẢNH EM BÉ SYRIA NGHĨ ĐẾN NHỮNG EM BÉ MIỀN NAM VIỆT NAM.

khuatdau

DSC_3398
(Ảnh: Independent.)

Một bức ảnh gây xúc động thế giới. Xúc dộng vì mái tóc đen mướt của em. Vì chiếc áo đỏ, quần xanh em mặc. Vì đôi giày em mang. Cứ như em vừa ăn mừng sinh nhật thứ ba cùng bố mẹ. Và nhất là cái dáng em nằm nghiêng nghiêng trên bờ cát. Nếu không có những ngọn sóng lừng lững đang tiến vào bờ, cứ tưởng như em đang nằm ngủ.
Mà em đang ngủ thật, một giấc ngủ dài không bao giờ thức dậy nữa.
Từ bức ảnh này, người ta ồn ào lên tiếng nguyền rủa bọn buôn người, kết án chính phủ các nước giàu có châu Âu đã không tìm cách giải quyết cuộc khủng hoảng di cư tồi tệ. Đài truyền hình Việt Nam cũng lớn tiếng, bảo phải tìm cho ra cội nguồn của cuộc khủng hoảng nói trên, truy tìm thủ phạm của những kẻ đã khiến hàng vạn người liều chết vượt biên.
Bọn buôn người thì đã rõ. Đó là hai tên Syria, chở đến 18 người trên chiếc thuyền chỉ vừa đủ chỗ cho 12 người. Khi sóng to gió lớn, chúng đã đeo áo phao nhảy khỏi thuyền bơi vào bờ, bỏ mặc cho thuyền chìm.
Còn thủ phạm chính là tổng thống Al- Assad của Syria, kẻ đã dùng quân đội, pháo binh, máy bay và cả vũ khí hóa học để đàn áp các cuộc biểu tình đòi phải hắn từ chức. Tòng phạm là Nga, chống lưng trong bao nhiêu năm và giờ đây đang lén lút gửi quân sang trợ giúp. Man rợ hơn nữa là phiến quân Hồi giáo IS với những cuộc thảm sát kinh hoàng.
Biết đi là chắc chết, nhưng không thể không đi. Cũng như những thuyền nhân Việt Nam 40 năm trước. Những năm ấy, trên các bãi biển Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippine… biết bao nhiêu xác những em bé miền nam Việt Nam đã phải trôi dạt như em bé Syria. Những xác trẻ thơ bụng ỏng xanh xao, áo quần rách rưới khiến người ta kinh hãi chứ không thương cảm.
Em bé Syria, dẫu sao em cũng được mặc quần áo đẹp, được mang giày chỉn chu chứ không đi chân đất. Em chết như nằm ngủ vì trước đó em không cùng cha mẹ trốn chui trốn nhủi, không phải nhịn đói nhịn khát, không kinh hoàng khi thấy bọn hải tặc hãm hiếp mẹ, cắt cổ cha trước khi ném em xuống biển.
Em bé Syria được ví như thiên thần, còn những em bé Việt Nam, giống như em bé châu Phi đói lã bên cạnh con diều hâu đang chờ xé xác.
Đài tuyền hình bảo cuộc di cư hiện tại là đông đảo nhất sau thế chiến thứ hai. Có thật vậy chăng? Hay đó chính là cuộc di cư của hai triệu người miền nam Việt Nam vượt biển sau mùa xuân đại thắng?
Những người Lybia, Syria, Liban và cả châu Phi nghèo đói chẳng ai phải trốn tránh công an, chẳng ai phải vào tù nếu đi không lọt, chẳng ai phải bị lấy mất nhà cửa ruộng đất, chẳng ai bị nguyền rủa là phản quốc. Họ ra đi giữa ban ngày ban mặt, mang theo tiền bạc mà không bị trấn lột. Khi may mắn dạt vào các đảo ở Hy Lạp, dù nước này suýt vỡ nợ, vẫn không cho quân đội và cảnh sát xua đuổi như ở các nước Malaysia, Thái Lan… Họ được tiếp tế lương thực, được cho tạm trú trước khi từng đoàn lũ lượt sang các nước Serbia, Croatia để vào các nước Áo, Đức.
Họ bỏ nước mà đi vì chiến tranh, trong khi những người miền nam Việt Nam lại ra đi vì hòa bình. Khác lạ là ở đó. Mà cũng cay đắng là từ đó.
Tôi không chối cãi họ là những kẻ khốn khổ. Nhưng được bỏ nước mà đi như họ, đi một cách tự do cùng vợ con, chắc miền nam chỉ còn lại những trụ đèn*.
Em bé Syria ơi, thật tội nghiệp cho em, nhưng dẫu sao em cũng đã được chết để lên nước Trời, ở đó em sẽ bay lượn giữa muôn ngàn vì sao. Nơi bãi cát em nằm sẽ có những bó hoa yêu thương để sóng mang đi. Tối đến sẽ có hàng trăm ngọn nến được thắp lên để sưởi ấm cho linh hồn em.Trong khi đó, những đứa bé miền nam Việt Nam, nếu không vào trong bụng cá tối tăm thì cũng thối rữa trong các hố rác dơ bẩn, không có được một nắm đất để yên nghỉ. Suốt 40 năm qua những linh hồn bé bỏng mong manh ấy vẫn lang thang giữa muôn ngàn sóng gió trùng khơi mịt mùng.
Không một cánh hoa!
Không một ngọn nến!
Ngay cả một bài kinh siêu độ cũng không, dù là đang rằm tháng bảy!
Thương thay!

Khuất Đẩu
(4/9/2015)

* Trụ đèn đi không được, chứ đi được nó cũng đi (vượt biên). Trần Văn Trạch

từ ân

nguyenducbatngan

dù tóc biếc nhưng lòng đâu dám nhận
vì còn hoài một bóng giữa thiên thu
tình trổi dậy theo muôn nghìn tủi hận
mưa còn không trong giọt nắng oan thù

người đứng lại thời gian đâu có biết
mắt dõi nhìn thân cũng tự tương thân
ta đứng lại bến bờ nao đã chết
trên môi em hôn đọng biết bao lần

đôi tay ấy vỗ đưa lời mềm mại
em chạy dài tóc dựng vẫn còn nguyên
là tuệ-kiếm vút ngang tình thơ dại
em đành thân theo cọng gió ưu phiền

vẫn cây cỏ mừng ta từ diệu vợi
em thì xa, ta biết thuở nào gần
như suối quạnh ôm mòn quanh đá đợi
như bao giờ còn vọng buốt từ ân

Nguyễn Đức Bạt Ngàn

BẤT CHỢT, ĐI NGANG TRƯỜNG HỌC CŨ

tranvannghia

Bất chợt , đi ngang trường học cũ
Bốn mươi năm đó chẳng quay về
Thương những cây muồng vàng cuối hạ
Chập chờn trong gió , một tiếng ve…

Tiếng ve cũ rích từ thuở trước
Vẫn thấy nao lòng rớt góc sân
Em vén tóc thề nghiêng vai áo
Để tôi ngơ ngẩn đến bao lần

Để tôi gửi mộng về bên đó
Khù khờ ngủ muộn với lá thư
Biết có ai thầm len lén đọc
Mà giấc mơ về êm võng ru

Hình như tôi thấy em vừa đến
Gửi gắm hồn nhiên biếc nụ cười
Dẫu chỉ vô tình thôi cũng đủ
Thấy đời lúng liếng nhớ bẻ đôi

Bẻ đôi , em nửa , còn tôi nửa
Tìm ghép mà đâu chẳng được gì !
Thời gian mưa nắng , mưa rồi nắng
Bên đời , tôi cùng với mùa đi…

Mùa đi , đem nhớ tìm trở lại
Trường xưa , người cũ, vắng em về
Vẫn biết chút tình xa thơ dại
Sao lòng chấp chới… một tiếng ve !

TRẦN VĂN NGHĨA

Nguỵ tín

nguyentri

Chàng tên Quốc Đỉnh. Từng là con nhà giàu. Ngoại trừ tên đẹp và cái gọi từng con nhà giàu chàng chả có chi sất. Chiều cao, dáng dấp, vẻ mặt đều trung bình. Đỉnh như cả triệu thằng người tầm thường khác có mặt trên trần gian. Mà khoan, kể cũng có tí tài vặt như chơi đàn guitar tàm tạm được. Bằng chứng là trong đội văn nghệ thị trấn X Đỉnh ôm đàn dìu các cô các cậu hát cho vững nhịp hoặc không “ọt” tông. Còn là nhạc công chơi trống của đội. Tuy tầm thường nhưng múa may quay cuồng trên dàn trống trông cũng có nét.
Tài vậy đúng là vặt rồi. Bởi, trong tuyển văn nghệ tuyền trai đẹp và gái xinh. Một thằng nhạc công dìu đàn cho em hát thì ra cái ôn dịch gì? Nam ranh ca Hương Gà Đá – tên Hương chuyên gia đá gà độ nên gọi vậy – Vừa đẹp trai vừa hát hay ơi là hay, hoặc Châu Mắm Mòi- tuy ốm nhách nhưng ca cổ nhạc là Giang Châu phải bái làm sư phụ cái khoản hơi dài… các em trong đội văn nghệ khoái hai anh nầy lắm. Em nào cũng ao ước hát cặp với hai anh mỗi khi có trình diễn. Kẹt cái trong tất cả xinh mơ ấy hai anh cùng thích một em tên Thanh. Tên thiệt thọ của nàng là Trương Thanh Thanh, nghệ danh Thanh Thanh. Em gái nàng trong ban múa tên gọi Trương Phối Phối. Thanh Thanh và Phối Phối là con của hạ sĩ cộng hoà bại trận tên Pháp.
Ông Pháp mũi cao da trắng, đẹp cứ như là hậu duệ của viễn chinh Pháp rơi rớt trên Việt nam. Bà xã người Tam Quan Bình Định. Cả nước đảm bảo không ai không biết câu ca dao công đâu công uổng công thừa, công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan. Con gái xứ nầy ăn cơm dừa ngủ dưới dừa tắm nước dừa cô nào cô nấy trắng như bông bưởi và đẹp ôi thôi đẹp. Đẹp mê. Thanh Thanh và Phối Phối đẹp là phải rồi. Đừng nói đến hai anh ca sĩ vườn đắm đuối, ngay cả trưởng đoàn còn chết mệt. Nói chung, cả đoàn, trừ bọn giống cái chuyên ganh ghét. Còn lại, cả bảo vệ, nếu cần chết vì hai em cũng đặng.
Mà sao hai nàng một mười bảy một mới lên mười nầy có cái tên bay bướm vậy kìa? Để kể cho nghe. Là do xưa kia cha mẹ nàng mê lắm cái phim võ hiệp kỳ tình hồng công. Có hai nữ minh tinh rất nổi tiếng thời đó là Trương Thanh Thanh và Trịnh Phối Phối, cha nội Trương Văn Pháp mê quá nên đặt tên cho con gái luôn, còn có thằng út tên Trương Vương Vũ mới là ác văn liệt kìa. Tên đẹp, người đẹp, chả biết làm sao để diễn tả nhan sắc hai nàng, bọn si tình bắt chước ông vua kiếm hiệp Kim Dung gọi hai nàng là vưu vật hiếm có của võ lâm. Cả bọn đeo theo hai nàng dài cả cây số. Thời mới thống nhất, ông Pháp sống nhờ vào rẫy nương, bọn dại gái nhào vô cuốc đất trồng mì nhổ củ mì giúp dùm đến cái độ ông Pháp… thất nghiệp.
Than ôi nàng rất đẹp Thanh Thanh chả yêu ai trong các anh. Nàng yêu Quốc Đỉnh.
Thế có kỳ cục không?
***
Có gì đâu mà kỳ cục? Chuyện tình yêu xưa nay vốn vậy, một người đẹp yêu một thằng khố rách xấu ình hay một anh đẹp con nhà thế gia bá một nàng Thị Nở có chi đâu lạ. Có câu nó xấu nhưng kết cấu nó đẹp. Vụ kết cấu cấu kết nầy đa dạng lắm ai muốn hiểu sao thì hiểu. Việc Thanh Thanh yêu Quốc Đỉnh bọn thất vọng vì tình kháo rằng:
– Yêu đương cái con khẹc gì – Nam ranh ca Hương Gà Đá cay cú – thằng đó làm sao xứng với ẻm. Chả qua nhà thằng Đỉnh có của chìm.
Châu Mắm Mòi cú theo một kiểu khác:
– Chìm nổi gì mày ơi. Nhà nó cũng cơm hấp mì độn khoai lang chết mẹ chớ hơn chó gì bọn mình – Chả là sau thống nhất nhà nào cũng thèm cơm trắng hột vịt chiên lắm -. Nếu nói em yêu thằng Đỉnh vì tiền thì khối cha gì thằng có của bám theo mà em không duyệt.
– Chớ theo mày thì vì cái củ cải gì?
Hai thằng nầy trước tưởng giết nhau vì Thanh Thanh nay hoá một hội thân lắm.
– Mày tin đi. Thằng Đỉnh có bùa Yêu. Trước giải phóng nó xì ke chúa mà nay bỏ cái rụp là nhờ nó chơi ba mươi sáu chư vị bùa lỗ ban.
– Khặc khặc khặc… bây giờ tao biết vì sao con Thanh không thèm mày.
– Sao?
– Vì mày ngu quá… Mà nè, trước nó xì cọc hả?
– Chắc trăm phần luôn… Trước tao với nó học chung khối lớp mười ở trung học Tăng Bạt Hổ. Bữa đó nó chơi quá liều hay sao đó tao không rành, chỉ nghe tụi bạn nói nó đang phê. Ông con té ngay cổng trường, bọn tao phải khênh vô phòng tổng giám thị… Cả trường ai chả biết nó xì ke. Con nhà giàu mà. Mày hiểu không? Nhà nó lúc đó bảnh lắm. Giàu nhứt thị trấn nầy như chủ tiệm vàng Ngọc Tuệ chả ra cà ram gì so với nhà nó.
– Vậy tao nói em Thanh yêu nó vì tiền có gì sai đâu?
– Mày ngu quá. Tao đã nói nếu vì tiền khối cha chi thằng đẹp.
Không riêng hai thằng ca sĩ cấp xã nầy mà trăm khối tình si khác cũng não nùng buông kiếm, ngồi bên suối không thèm mài luôn nói gì múa may. Chúng cũng luận không thua chi hai anh. Thực ra thế nhân bàn về Đỉnh thì mười trúng hết chín. Nhà giàu. Đúng. Chơi xì ke. Đúng luôn. Thời chế độ cũ hạ sĩ quan tiếp tế như cha Đỉnh ai chả giàu. Nói mà chả sợ một ai cho là cường điệu thì mười ông quan của lính cộng hoà chí ít cũng tám ông tham nhũng. Hạ sĩ quan mà tiếp tế hay tiếp liệu ăn còn dễ hơn cả quan. Ông nào chả nhà cao của rộng vợ đẹp con ngoan. Chỉ ông Đạc cha Đỉnh không nhà cao là có cái nguyên cớ của nó.
Ông Đạc dân bên kia vĩ tuyến mười bảy. Một tay chống cộng nòi. Khi quyền lực chuyển từ tay thực dân sang đế quốc ông tin rằng còn khuya việt cộng mới tại vị trên đất nước nầy. Nhất là cái đận Việt nam hoá chiến tranh. Miền nam với một triệu binh lính và sĩ quan trang bị đến tận răng. Tin vậy nên ông chờ một ngày cộng hoà sẽ bình định đất Bắc lúc đó về quê mua nhà cũng không hề muộn. Bao nhiêu tiền ông gửi vào ngân khố quốc gia. Ngờ đâu sự thể là cộng hoà thua cháy. Thua rạt gáo. Của tích luỹ sau hai mươi năm chiến tranh sạch bách. Thời may là bà Đạc còn ít tư trang nên mới có tí chút mà sắm căn nhà ở thị trấn. Với cái trung sĩ và thằng con cán cuốc binh đơ. Hai cha con đi cải tạo chỉ ba tháng là trở thành công dân. Tình thiệt mà nói nhà ông Đạc sạch sẽ rồi, Nhưng sau thống nhất mà có tiền mua nhà và có tí chút mua đám rẫy vài sào trên núi thì cũng bảnh. Vì thế cho nên thiên hạ hiểu nhầm nhà Đỉnh có của chìm cũng có lý.
Nhưng nói ẹm Thanh Thanh yêu chàng vì của chìm là ba láp.
Nàng yêu anh rất thật thà thiếu nữ. Anh tuy không đẹp trai như các anh khác nhưng anh có ưu điểm là không bô lô ba la ra cái vẻ dưới gầm trời nầy mình là số một. Anh Hương Gà Đá có giọng ca giống Duy Khánh thì vênh mặt lên cứ như mình là sư phụ của danh ca. Anh Châu Mắm Mòi khoe khoang mình từng uống rượu với Giang Châu – sư bố nó – thiên hạ chửi đổng – dân thị trấn, một năm lên thị xã được ba lần mà biết Giang Châu. Xạo không chừa chỗ cho ai ký tên hết. Tán tỉnh Thanh mà hai anh huyên thuyên về mình hết buổi. Anh Đỉnh thì khác. Anh êm trầm và ít nói. Chỉ cười. Anh rất ân cần khi dìu đàn cho Thanh hát. Một đôi khi lỗi nhịp anh hát cho Thanh theo. Trời ạ. Giọng ca anh nghe trữ tình làm sao. Dịu dàng và êm như mơ. Thời mới thống nhất ai cũng nhạc đỏ mà hát. Đỉnh lại một mình ri rĩ tình ca. Anh lại chả màng chi đến Thanh. Cứ như trong mắt anh Thanh chỉ là một sinh vật giống cái không hơn không kém. Cô gái mười bảy tuổi, học đến mười một rồi chứ không ít. Cô đọc tiểu thuyết cũng hơi nhiều nhiều. Thời của cô những Nguyễn Thị Hoàng với Vòng tay học trò. Tuý Hồng với Biển Điên. Nhã Ca với Cổng trường vôi tím cả cái bà Quỳnh Dao của một Mùa thu lá bay là thần tượng. Yêu một anh giai phong trần như Đỉnh kể cũng đáng. Bằng chứng là cha má cô chả la rầy chi khi cô giả vờ đến nhà Đỉnh chơi với em gái Đỉnh, tình thật là đến để nghe anh hát bài Đưa em tìm động hoa vàng và bài Ngày xưa Hoàng thị. Đỉnh vừa đàn vừa hát con ki ki còn ư ử rên nói chi Thanh Thanh.
Vưu vật đến tận nhà mà Đỉnh lơ là sao? Có lý do hết. Chả là mấy thằng từng dính vô xì ke luôn mang trong máu cái tâm trạng âu lo và mất mát. Luôn cảm thấy một mối bất an toả ngập tâm hồn. Ngập đến hốt hoảng, và để lấy lại thăng bằng người chơi phải sử dụng, ma tuý khiến kẻ nghiện bằng an lại tâm hồn. Khi là con nhà giàu Đỉnh vô tư chơi. Ông Đạc có của nên kệ mẹ mày muốn chết ông cho chết. Đồ vô dụng, đồ đua đòi… Khi tất cả tiêu tan vì cuộc chiến. Đỉnh đâu có thuốc mà phục vụ cho bản thân. Hú hồn. Không có cuộc giải phóng Đỉnh vong mạng là cái chắc. Có điều Đỉnh nhớ lắm. Cũng phải thôi, một người tình trong mộng đeo suốt hai năm. Nàng cho Đỉnh tuyệt thống khoái và tận khổ đau. Không nhớ làm sao được? Những ngày mà mít tờ Thiệu gọi là rút lui chiến lược chiến thuật khỉ mẹ gì đó, rồi mít giao cái tổng thống lại cho già gân Hương gãi háng(1). Ông Đạc và cả nhà cũng chạy. Không chạy để cộng quân họ bêu đầu như lời đồn hay sao? Với lại chạy theo vì tiền trong ngân khố Việt nam cộng hoà không bỏ được. Đỉnh không chạy vì vật vã bởi thiếu thuốc. Cả nhà cũng kệ mày luôn. Cho mày ăn học để xì ke thì ráng chịu. Đỉnh ở lại nhà tàn tệ như con dòi. Mười ngày sau ông Đạc về lại thì Đỉnh cũng qua cơn.
Mất sạch của cải ông Đạc sinh ra bất đắc. Ông cùng bầy con – ngoại trừ Đỉnh – lên rừng kiếm cái ăn. Xì ke Đỉnh sau cai nghiện bất đắc dĩ yếu như sên làm chi được. Ăn bám nên ngày nào cũng bị ông bất đắc chửi. Tổ cha mày, tao già vầy mà phải nuôi một thanh niên, mày ngó được không vân vân và vân vân. Buồn và nhớ nên Đỉnh mới êm trầm ít nói, chứ có xì ke cho chàng độp một mũi là nói như sáo sậu liền.
Xì ke vậy mà ông Pháp còn bắc thang cho khỉ leo mà ngó được sao? Thằng Mắm Mòi đến nhà mong gọi ông là bố vợ chả kể cho ông nghe vụ Đỉnh phê xì ke đến té ngoài cổng trường à? Thì có, nhưng ông Pháp đâu có tin, chẳng qua bọn mê gái chơi trò tiểu nhân triệt tình địch đây chớ chi. Mà giả dụ nó có xì cọc thì nay cũng sạch bách rồi. Các đoàn thể từ thanh niên, nông dân, phụ nữ, thiếu nhi mọc lên, đố thằng tiêu cực nào lọt sổ. Nhưng khối cha chi thằng ngon lành vừa đẹp trai vừa tài tuấn lại con cái thế gia không chọn lại chọn nó là sao vậy ông Pháp?
Ông Pháp rành lắm. Lũ thế gia kia ở cái thời mới nầy không luận được đâu là bến bờ. Bọn con nhà tư sản lẫn tư sản mại bản đâu có thuộc câu lao động là vinh quang. Ngoài miệng chúng nheo nhẽo đoàn kết tốt lao động tốt nhưng trong thâm tâm chúng mong ông cộng hoà quay lại. Họp hành thì chúng đồng ca bài Bác cùng chúng cháu hành quân, về nhà chúng giờ nầy anh ở đâu? Giặc tan trên đất hạ lào… Anh ở đâu ớ ơ ờ anh ở đâu? Lũ nầy còn khuya mới phục ông cách mạng. Ông Pháp sống theo quan điểm gió chiều nào ngã chiều đó. Cho con gái quen với bọn nầy hiu lắm, nói chi đến gã bán. Với lại chúng có nhiệt tình khỉ mẹ gì. Dân quen ăn chơi, nay thấy hoa đẹp chúng lượn lờ nhắm bẻ được thì bẻ, không thì thôi đâu có ý lâu dài chi cho cam. Thấy con gái rượu thích Đỉnh ông cũng thích.
Là vì xưa kia ông là lính dưới quyền ông Đạc. Không có ông Đạc dìu vô trường ông chết mất xác ngoài chiến trận lâu rồi. Thuở ông Đạc là hạ sĩ quan tiếp tế, chuyên cấp phát lương thực và thực phẩm phụ trội cho vợ con lính. Ai cầm cái bông có chữ ký của trung sĩ nhất Đạc là Pháp xuất kho. Người lớn hai mươi mốt ký gạo cho một tháng, trẻ em mười lăm ký. Cái ca sắt bọc ngoài bình tong nhôm dùng để đong gạo. Cài bình chỉ một lít, vậy cái ca bọc ngoài đầy gạo bảy trăm cà ram là tối đa, vậy mà trung sĩ nhất Đạc lệnh cho Pháp tính một ký. Một đại đội một trăm hai mươi chú lính thì số thặng dư là kếch văn xù. Ông Đạc cho về nhà và bà Đạc đem ra đại lý. Lính đào ngũ ông Đạc có nhiệm vụ báo cáo. Nhưng ba tháng sau ông mới báo, và ba tháng ấy lương của những thằng đào ngũ ông chia đôi với Đại đội trưởng. Ông Đạc giàu cỡ nào ông Pháp rành lắm, nên nghe nói bữa cơm nhà Đỉnh toàn khoai lang củ mì. Pháp cười:
– Nhưng mà đêm đến nhà thằng Đỉnh ăn gà luộc chấm muối tiêu chanh.
Con gái ông làm dâu ông bà Đạc là hết sức có lý. E là nó không để mắt tới mới là đáng ngại. Chả phải nó không ghé nhà ông đó sao? Vậy nên cô Thanh xinh đẹp đến nhà Đỉnh ông không can. Ông mong hai đứa nó vô một cặp thì hay ho lắm lắm.
Nhưng mà ông không phải lo, cu Đỉnh là người chứ đâu phải cây củi mà không động lòng trước nhan sắc. Sau ba tháng chia tay Cô Ba ma tuý. Sự hoảng loạn, trống vắng dần lui vào bóng tối. Đỉnh nghe cô đơn lụi dần khi nhìn đôi mắt của Thanh Thanh. Đỉnh ôm đàn và hát: Kìa đôi mắt sáng mắt đen người thiếu nữ. Toả sáng như ánh sao, đen láy hơn đêm đông. Hỡi người thiếu nữ có đôi màu mắt đen, ta trao cô nàng nhé trái tim và linh hồn…
Nghe hát Thanh Thanh ngã đầu vào vai anh cái rụp.
Đầu tháng bảy năm thống nhất đất nước Quốc Đỉnh Thanh Thanh nên một cặp.
Cuối tháng chín họ chia tay.
Một cuộc tình nhanh hơn sao đổi ngôi gấp tám lần, và nó ly kỳ không tưởng được.
***
Hai mươi tháng chín năm một chín bẩy lăm một cái lệnh đưa ra làm choáng váng một số kẻ trong đó có gia đình ông Đạc. Một số khác trong từ “kẻ” vỗ bụng cười.
Lệnh đơn giản lắm. Rằng thì là đồng bạc của chế độ cộng hoà đang lưu hành sẽ được đổi đồng tiền mới. Mỗi hộ gia đình được đổi một trăm nghìn, với mệnh giá năm trăm cộng hoà đổi lấy một đồng giải phóng, nghĩa là một trăm nghìn đổi được hai trăm đồng. Rất giản đơn như ta đang giỡn vậy. Ai có hơn một triệu chỉ được đổi một triệu mà thôi, nhưng nhận tiền mặt hai trăm đồng còn bao nhiêu phải gửi vào ngân hàng. Ai bất tuân hay làm trái sẽ đủ thứ chi chi đó với pháp luật. Thật là choáng váng. Uy lực của lệnh cực kỳ ghê gớm. Trước đổi tiền một ngày, đồng bạc cộng hoà trong tay đã hoàn toàn vô giá trị. Chỉ những ai sống vào thời ấy mới biết được uy vũ của lệnh. Và biết được sự vô nghĩa của bạc tiền trước lệnh.
Hầu hết dân thị trấn nơi Đỉnh cư ngụ đều khố rách áo ôm. Năm tháng sau thống nhất, nạn thất nghiệp cực trầm trọng. Người người rừng, nhà nhà rừng. Ai cũng búa rựa trên vai kiếm ăn trên non cao. Cái ăn kiếm đến chảy máu mắt lấy đâu ra tiền mà đổi. Bọn tư bản, tư sản, tư sản mại bản chạy như gà mắc tóc. Dân nghèo thị trấn được dịp làm ăn. Họ đổi dùm tiền cho nhà giàu với tỷ lệ bốn sáu. Kẻ có của sáu, người đổi bốn.
Bây giờ mới ra mặt chuột. Nhà ông Đạc nhờ chín hộ khác đổi giúp. Mẹ cha ơi ngày nay ta nghe nói một triệu bạc nó chả là cái ôn gì. Hai tờ năm trăm ngàn nhẹ hẩng. Năm tờ hai trăm, mười tờ một trăm hay hai mươi tờ năm chục đếm cái xoẹt là hết. Một triệu của bốn mươi năm về trước nó kinh lắm. Mệnh giá cao nhất là tờ một ngàn đồng có hình con voi. Tờ năm trăm thì hình con cọp. Mười tờ một nghìn thì chỉ mới mười nghìn. Một xấp trăm nghìn phải một trăm tờ. Giấy năm trăm phải hai trăm tờ mới ra trăm nghìn. Đằng nầy va ly tiền của ông Đạc còn có giấy hai trăm và một trăm nữa. Cha con chồng vợ tha hồ đếm và tha hồ cột giây thun. Ông Đạc nhờ hai gã bạn thân đổi giúp hai xuất. Bằng – anh trai Đỉnh – nhờ bạn bè giúp bốn xuất, bà Đạc nhờ bạn hai xuất. Vị chi tám, nhà một xuất là chín. Còn lại một.
Cả nhà chưa biết nhờ ai thì Thanh Thanh đến. Và nhân danh tình yêu Đỉnh nhờ nàng đem về nói bố mẹ đổi giúp. Nàng nói với tình rằng chuyện nhỏ.
Và như ông Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dạy trong Thói đời rằng: Thế gian biến cải vũng nên đồi.
Một trong hai ông bạn già cùng quê cùng kiểng của ông Đạc đánh bài lờ. Ông còn lại tứ lục rất đàng hoàng nhưng tứ thuộc về ông Đạc. Bốn thằng bạn của Bằng thì đỡ hơn chúng giao năm năm. Thôi thì của đổ mà hốt được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Ông Đạc thở dài mà nói vậy. Riêng bà Đạc thì đúng là bạn của bà rất tốt. Họ trả đủ theo tinh thần ăn chia.
Còn duy nhất Thanh Thanh.
Những hai ngày sau không tăm dạng ba hồn của nàng nên Đỉnh phải đích thân đến nhà. Cô gái không có nhà mà tiếp Đỉnh là má nàng. Bà trả lại Đỉnh đúng một trăm ngàn tiền cộng hoà. Hai trăm tờ năm trăm đồng có hình con cọp đỏ chói. Bà ta nói trên uỷ ban không cho đổi bởi đăng ký trể.
Đỉnh choáng váng.
Vì rằng. Sau đổi tiền ba cái giấy lộn ấy bọn nhà giàu vất chớ để làm chi. Và chắc chắn là cha má của Thanh Thanh đã trở bàn tay với Đỉnh. Họ đã lấy cái bỏ đi ấy mà trả lại cho chàng. Đỉnh bây giờ không chẩu chàng cũng là chàng ràng chứ không là đại từ rất chi lãng mạn kia nữa. Anh Bằng của Đỉnh đã đích thân hỏi mấy người gọi là bạn trong ban bệ thu đổi tiền, và họ xác nhận cha của Thanh có đổi một trăm ngàn.
Trời ạ. Sao mà tệ rứa Thanh Thanh ơi? Đỉnh hoang mang. Cậu chàng chả biết phải trách ai. Muốn gặp Thanh để hỏi vì sao? Nhưng nàng trốn biệt. Cha má Đỉnh, cả anh Bằng và cô em gái thiếu cái bỉu môi. Trong đôi mắt của tất cả hiện lên câu ca dao bắc thang lên hỏi ông trời…
Đùng một cái như sấm động. Cái tin Thanh Thanh được đưa lên trạm xá thị trấn vì tự tử làm Đỉnh choáng tợn. Đỉnh tin rằng nàng không bội phản. Không bao giờ nàng vì trăm ngàn bạc ấy, chẳng qua cha má nàng mà thôi. Nghĩ vậy nên Đỉnh ba chân bốn cẳng chạy ù lên trạm xá. Trạm xá báo đã chuyển lên tuyến trên tức là bệnh viện huyện rồi. Nguy quá, sao em dại dột thế Thanh Thanh ơi. Anh nào có trách chi em.
Một thằng bạn xách xe đạp chở Đỉnh chạy hộc xì dầu lên huyện.
Ở huyện mọi chuyện đã xong rồi. Kẻ ngu dại được cứu sống.
Ở phòng chờ Đỉnh nghe hai tay bờ lu trắng nói chuyện với nhau:
– Sư cha con quỷ cái. Tự tử bằng Xuyên tâm liên(2) thì có uống cả tạ cũng bằng nhau với không uống.
Tình yêu Đỉnh vỡ cái bụp. Một cuộc chia tay toàn tiếng chửi thề.

NGUYỄN TRÍ

1. Hương gãi háng. Thời trước 75 ông Trần văn Hương giữ chuyên mục gãi háng trên báo Con Ong. Câu chủ của mục là ngồi buồn gãi háng dái lăn tăn
2. Xuyên tâm liên: Một loại thuốc bổ dưỡng tăng lực.

NGƯỜI BẠN GIÀ VÀ CÔ GÁI HUẾ

nguyenbacson

Vũ trụ chẳng qua chỉ là gian nhà mênh mông ấm cúng
Nên ta mời nhau chén rượu trường xuân
Các dân tộc giống như mấy mụ đàn bà hay cãi cọ
Đông phong, tín nguyệt biết bao lần

Trái đất bụi hồng, chiếc xe luân lạc
Chở muôn mùa bao viễn khách truân chuyên
Thi sĩ, người ngây thơ ngó thấy
Cuối trời chiều, một bến đậu vô biên

Tôi đến rồi đi rồi lãng đãng
Anh nằm đau nặng chiếc giường con
“Một chút mặt trời rơi vào ly nước lạnh”
Có gì đâu chuyện mất hay còn

Tôi ra quán cà phê, chuyện trò cùng cô gái Huế
Giọng nói Hương Giang, giọng nói ân tình
Ta mà cũng có người yêu mến nhỉ?
Tóc mây bên trời, mái tóc em xanh

Ta đã sống những ngày ngây ngất
Anh vẽ tranh, còn tôi làm thơ
Chúng ta giống những hài nhi vô nhiễm
Chơi đùa trên sóng nước hư vô

Sáng nay anh đã qua đời rồi
Tôi vào quán nhạc ngó mưa rơi
Cô gái mỉm cười, tôi ứa lệ
Phải cuộc đời như một trò chơi?

NGUYỄN BẮC SƠN

Phù Dung

phamngoclu

Phải em là khách chiêm bao ?
Từ đêm thiên cổ lạc vào đêm nay
Xiêm vàng áo giấy lay bay
Mơn man nét khói đường mây đa tình

Em từ quê quán Vô Minh
Thoát thai cát bụi tái sinh đào hồng
Khuya nay mở quán Phù Dung
Mời ta khai vị sắc lòng phấn hương

Đêm xưa tao ngộ Tầm Dương
Nhận ra dòng dõi đoạn trường với nhau
Khóc cười chung một bể dâu
Tài hoa đồng hội khổ đau đồng thuyền
Phong trần xé áo rách xiêm
Ba đào đắm mộng truân chuyên hớp hồn
Ta chơi vơi giữa sinh tồn
Em chưa thoát nợ phấn son kiếp nào
Đêm nay rượu gởi tình trao
Đề thơ lên cửa chiêm bao, chạnh lòng…

Lạnh dần một quán hư không
Khép dần một đóa phù dung vô hình
Em chìm xuống đáy Vô Minh
Bỏ ta trên bến nhân sinh bàng hoàng
Sương rơi, đêm cạn, quán tàn
Cô đơn vòi või trần gian ta ngồi
Chung quanh vẫn vậy: cuộc đời !

PHẠM NGỌC LƯ

THỦY TINH TAN VỠ (tt)

tonnuthudung

CHƯƠNG 14 :

Tôi không muốn nhớ tới Cao, coi như anh đã đi xa tới một nơi nào khác nhưng tôi vẫn cứ gặp anh hoài vì cái thành phố này nhỏ bé như một bàn tay. Những lần gặp nhau ngoài đường anh hay ngừng xe lại, nheo mắt nhìn tôi(không phải vì“nhìn Diệp phải nheo mắt cho khỏi chói“ mà đó là thói quen của anh từ lúc anh khám phá ra chân lý là: nhìn tôi bao giờ cũng phải nheo mắt!)… cái nhìn ngụ ý mỉa mai hay trách móc tôi không biết(và cũng không cần biết) nhưng làm tôi khó chịu. Tôi chưa nói chuyện với Cao lần nào từ lúc tôi thấy mối giao du của anh và tụi Lộc Thọ ngày càng mật thiết… Tôi cũng không thể giải thích thái độ của mình khi có ai hỏi tới. Tôi cao ngạo hơn sự cần thiết nhiều! Nếu có ai nói tôi hẹp hòi ích kỷ, tôi sẵn sàng đồng ý… Tôi không muốn chia sẻ với ai tình cảm của mình… Tôi không yêu Cao nhưng sự ràng buột giữa biên giới tử sinh còn mãnh liệt hơn tình yêu nhiều lắm… Sự ràng buột của kỷ niệm chẳng tác động gì đến Cao hay sao??? Anh đã quên hết… quên đêm âm u trên bãi Xuân Ninh… quên ngày lo âu chập chờn ám ảnh…quên chiếc quạt máy chạy moteur vang động suốt một ấu thời… quên những phím đàn lạnh lẽo trong đêm và những thoáng dạ hương êm ả từ khu vườn bên cạnh… Anh đã quên và đã có những nguồn an ủi mới… mong anh yên vui và hạnh phúc.
Tôi cũng có thể quên dù lòng tôi đau đớn, tôi có thể dửng dưng, lạnh lùng như chưa hề quen biết với Cao… Tôi tự nhủ tôi có có dư kiêu hãnh để đối phó với mọi người … nhưng với Cao thì sao? Tôi không biết mình đã làm điều gì xúc phạm đến Cao? Trong những điều tiếng của dư luận, miệng lưỡi độc ác của những tin đồn thì điều gì làm Cao giận giữ nhất?(tôi muốn nói: Làm Cao đau đớn nhất?) để Cao có thái độ đó với tôi .
Có một lần tôi đi cà phê Chiều Tím với Phi và các“học trò“ thì gặp Cao và anh em nhà Lộc Thọ, Cao xin lỗi mọi người để ngồi riêng với tôi… Phi vờ như vô tình kéo chiếc ghế mây xoay lưng ngồi sát lại, sau này Phi chọc: nhỡ Diệp có ra đòn PHỤC HỔ, Phi còn đỡ giúp anh Cao kịp lúc.
-Diệp vẫn cứ mignone như thường nhỉ .
-Dĩ nhiên, Diệp không muốn mình trở nên xấu xí tàn tạ khi thiên hạ đang đồn ầm lên là anh bỏ Diệp.
Cao tái mặt vì câu nói thản nhiên của tôi :
– Ăn nói như con nít. Anh có những việc riêng chứ .
Tôi hất mặt về phía bon Lộc Thọ :
– Việc riêng đó chứ gì ?
Lệ Chi, cô bé mà mọi người đồn rằng Cao đang tán tỉnh nhìn chúng tôi bực tức. Ngày xưa đi học,Lệ Chi vẫn ganh ghét tôi vì cái tội học giỏi và bất cần thiên hạ sự. Tôi hầu như chẳng quan tâm đến Lệ Chi, một con bé nhà giàu, vô tích sự, thế thôi… nhưng bây giờ cái giàu của nó trở nên đầy ưu thế và quyến rũ được Cao.
Tôi tự nhủ mình phải hết sức coi thường và dịu dàng với Cao… để dù có thương yêu ai đi nữa, Cao vẫn đau đớn khi nhớ tới một người đã khắc vào hồn anh một nỗi tổn thương, dù nhớ tới chỉ để hận thù. Phi nhiều lần đứng lên muốn can thiệp nhưng rồi lại thôi vì thấy không khí vẫn còn yên tĩnh quá
– Nghe nói Diệp kèm anh văn
Tôi chỉ về phía các học trò
-Cậu nào đòi làm hôn thú để đem Diệp đi ?
Tôi ngạc nhiên :
-Anh nghe nói hơi nhiều nhỉ. Nhưng nhà Diệp Thế Bảo đông người quá , không đủ cây đóng vô
-Sao không cuỗm một anh nào giàu có, cỡ Vĩnh Thành An
-Cũng định vậy nhưng nghĩ lại không nên. Diệp không thể mánh mung kiểu hạ cấp đó .
-Diệp lại quá lời rồi, đã mánh mung thì kiểu nào chẳng hạ cấp?
Tôi biết, không bao giờ tôi lộ ra cái vẻ giận giữ với ai, nhưng những lúc giận dữ, lời nói của tôi độc ác và mỉa mai kinh khủng :
-Đúng, anh có thể làm được mọi thứ, nhưng còn Diệp thì không.
Cao quắt mắt, bạn bè vẫn gọi đôi mắt Cao là tấm kính chiếu yêu, không ai dám nhìn vào mắt anh khi anh giận giữ. Đôi mắt soi thấu lòng người :
-Anh làm gì ? Anh chỉ làm những việc như Diệp thôi chứ có hơn gì đâu?
Cao giận dữ, còn tôi thì ác độc, lời nói của tôi rất nhẹ nhàng nhưng đâm thốn như dao… tôi biết thế,tôi chỉ muốn làm Cao đau đớn, nhưng điều đó liệu có cần thiết nữa không? Tôi nhìn thẳng vào mắt Cao :
– Không đúng, Diệp đi dạy để có tiền giúp mẹ, vài anh chàng có ngỏ ý giúp đỡ chút ít nhưng Diệp thấy không cần thiết phải bán rẻ phẩm giá của mình, Diệp không hề có ý định tán tỉnh ai để đạt mục đích của mình bất cần phương tiện!!!
Tôi thản nhiên đứng lên, về bàn mình… Ước chi Cao níu tôi quay lại, tôi không có ý định làm tổn thương Cao đến vậy, nhưng một lời đã nói ra rồi thì sao có thể bảo là không!!! Tôi không quay nhìn nhưng vẫn thấy điếu thuốc Cao giận dữ ném xuống đất, tiếng xe 67 gào như con thú bị thương của Cao mất hút… Tôi ngồi xuống cạnh Phi, thử nhắm mắt lại coi mình có còn chút nào tuyến lệ, nhưng không, không gì cả… Tôi bình thản lạ lùng, tiếng nhạc Tout les Filles et les garcon lúc nào cũng là nhạc nền cho quán, rất êm … Tiếng Trâm nhỏ nhẹ :
-Diệp nói gì mà anh Cao giận quá vậy.
Tôi mỉm cười, Phi đưa ly đá chanh qua tôi:
-Diệp cũng nên hạ hỏa chút đi!!
Đến lúc này tôi mới nghe từng cảm giác rã rời… Điều tôi làm, lời tôi nói có khi nào đã khó lòng cứu vãn??? nhưng cứu vãn cái gì mới được chứ ???

CHƯƠNG 15 :

Ngày hôm sau Phi đến tìm tôi, đưa thư Cao:” Diệp, tất cả chỉ là những hiểu lầm , sao em không xóa đi những con sóng đang giao động trong anh ?
Phi nói, vô thưởng vô phạt nhưng tôi biết rằng Phi là người hiểu tôi hơn ai cả:
-Anh Cao có những cơn điên, tối qua anh uống rượu say mèm đến đập cửa nhà Phi.
-Ai cũng ngụy biện cho hành động của mình bằng những cơn điên, nhưng anh Cao điên khôn lắm, điên mà biết chọn mỏ vàng để nhào tới!
Phi nhăn mặt:
-Diệp coi thường anh Cao đến vậy ?
Tôi cười:
-Diệp đâu muốn cãi nhau với Phi, mà Phi cũng chẳng nên bênh vực anh Cao làm gì khi Phi cũng thấy những việc làm của ảnh là chướng mắt .
– Này Diệp, Diệp ngây thơ quá hoặc là Diệp trong sáng quá đi!
– Cảm ơn lời khen, nhưng mà Phi đừng làm Diệp nổi giận chứ, Phi nhập đề đi
-Anh ấy thất bại nhiều lần nên nhụt chí quá rồi, anh ấy muốn đăng ký bán chính thức cho yên thân .
-Chuyện ấy có gì lạ, gia đình anh ấy dư sức làm điều đó mà
-Không lẽ ảnh đem tất cả tài sản gia đình ra đặt cược mà không biết có an toàn 100% không?
-Cho nên ảnh lợi dụng tụi Lộc Thọ?
Một lần nữa Phi nhăn mặt:
-Lại dùng từ quá đáng rồi. Không phải lợi dụng mà là níu lấy một cơ hội, bắt trúng một cơ may… Diệp rất dở mới khư khư giữ những ý nghĩ như vậy!
Tôi nhìn thẳng vào mặt Phi, cũng thế Phi nhìn tôi không chớp… Giây phút, tôi bỗng thấy một nỗi buồn thất thế, tất cả những đau đớn mà tôi im lìm chịu đựng bấy lâu dấy lên ray rứt… Có thể tôi không cảm thấy gì hết nếu tôi chỉ là một con bé vô danh. Tôi không đau vì tự ái tổn thương, tôi chỉ đau vì niềm tin biệt dạng… Tôi đã đặt vào Cao một niềm tin tuyệt đối, anh là chỗ nương tựa, là nơi trú ẩn, là quá khứ, là tương lai, là định mệnh… Chúng tôi cùng chung một mơ ước, cùng chung một hy vọng, cùng chia sẻ những ngày hạnh phúc và những giây phút nguy nan… Thế mà cuối cùng tôi cũng không thể đặt niềm tin vào anh được nữa… Không một lý do nào biện hộ cho hành động của anh… tôi cũng không muốn nghe lời anh phân giải… tôi nhận thức mọi việc bằng tánh linh trực giác của mình… Nhưng trên hết, tôi mang nặng trong người giòng máu tự hào… và Cao cũng thế, dòng máu tự hào cũng chảy tràn trong huyết quản anh, để bây giờ trong cơn điên(cứ gọi là như thế để còn cảm thức được chút sáng láng của hồn người):
-Diệp tưởng rằng tôi phải quỳ xuống để nói tôi yêu Diệp sao ?
Không, tôi không tưởng gì hết… Nhưng như tôi đã nói: tôi kềm chế rất khá nỗi giận dữ của mình qua thái độ , nhưng ngôn ngữ của tôi là một thứ độc dược, khiêu khích làm đau đớn :
-Đúng, tình yêu là một thứ lễ vật, cần phải quỳ xuống mà nhận lãnh.
Lần này Cao lại đúng. Cao thường chỉ trích tôi:“Diệp chỉ có khả năng ra đòn mà thiếu hẵn bản lĩnh nhận đòn“. Tôi không hề có bản lĩnh nhận đòn, nên bất cứ ngón đòn nào,từ đâu cũng làm tôi đau buốt nhưng rất may tôi còn biết tạo cho mình một cái vỏ dửng dưng… Tôi chỉ muốn sống giản dị, trọn vẹn , nhiệt thành, lãng quên và tha thứ… nhưng tôi cũng hiểu đời sống có nhiều khuôn mặt… nếu tôi dừng lại bên giòng đời quay tròn thì tôi vẫn bị cuốn theo một định mệnh nào đó chẳng thể nào cưỡng lại
Tôi đang sống , và muốn sống tôi sẽ phải tranh đấu đến tận cùng…

Tôn Nữ Thu Dung

Quê ngoại

tradoa

Về quê ngoại là ao ước cháy bỏng khi tôi còn nhỏ. Hồi ấy, hằng năm mẹ đều về vào ngày chạp mả, đâu chừng đầu tháng mười hai âm lịch. Trước khi đi ít ngày, mẹ đã chuẩn bị vài thứ để đem về cúng ông bà. Thường thì chẳng có gì nhiều, vài lon nếp, mấy nải chuối, khá hơn thì có một con gà, nhưng rất hiếm. Ngày ấy, cái nghèo kiệt đeo đuổi hầu hết mọi nhà, đến tận hang cùng ngõ hẻm. Đó là thời đọng lại trong ký ức tôi sâu sắc, không phải vì điều gì lớn lao mà vì nỗi thèm khát được ăn những bữa cơm không độn sắn.
Từ rất khuya, lúc tôi đang ngủ say, mẹ đã dậy đi rồi. Khi tôi quờ tay không thấy mẹ thì khóc thét lên không ai dỗ nín được. Hồi đó, tôi vẫn thắc mắc mãi với câu hỏi:”Tại sao mẹ không dẫn tôi cùng về quê ngoại, dù chỉ một lần?”…
Thường vào những buổi chiều, lúc đứng chơi với lũ bạn, tôi hay chỉ tay về phía dãy núi xa xa lẫn trong mây mù mà nói rằng: “Quê ngoại tau ở phía kia kìa!”. Tôi luôn cố hình dung quê hương của mẹ: “Có giống như rừng không mẹ?” – ý tôi muốn nói đến rừng cát thấp lè tè với cây bụi ở gần nhà. Nhưng mẹ nói: “Không, ở đó núi cao lắm, ngọn này tiếp ngọn kia không biết đâu mà dừng”. Từ đó, quê ngoại đối với tôi là núi cao trùng điệp và xa thẳm…
Khi về nhà chồng, mẹ chỉ mang theo một tấm hình ông ngoại. Mẹ thường lấy hình cho tôi xem, rồi nói: “Ông mất rồi, vào năm 67”. Tôi hỏi: “Thế bà ngoại đâu?”, mẹ nói: “Bà mất trước năm năm mươi, lúc mẹ chỉ mới ba tuổi”. Từ đó, tôi biết rằng mình sẽ không bao giờ được sà vào lòng ông bà ngoại như bao đứa trẻ khác nữa.
Vì bà ngoại mất sớm, nên trong ký ức của mẹ chỉ có hình ảnh ông ngoại. Mẹ nói ông hát rất hay, hồi còn trẻ ông theo nhóm hát “nhân ngãi” đi hát nhiều nơi ở vùng miền núi. Mẹ còn nói, trước mẹ đã có hơn ba lần bà ngoại sẩy thai vì vậy mẹ là con một, ông ngoại rất cưng chiều. Sau khi bà ngoại mất, ông có thêm một đời vợ nữa và nghe nói được một đứa con trai. Nhưng mẹ con bà ngoại kế đã dẫn nhau về vùng biển quê bà, hình như ở Kỳ Hà, mẹ nhớ không chính xác…
Từ Quán Rường đi lên, qua Eo Gió, lội thêm mấy ki lô mét đường núi nữa là đến quê mẹ. Hồi ấy, đường đi trơn trượt, núi đá nhấp nhô, chỉ mấy chục cây số mà như xa vạn dặm.
Quê ngoại như tiếng gọi từ núi ngàn xa xôi, tôi ao ước ngày đêm, lẫn vào trong những giấc mơ, ngày trở về nơi mà lẽ ra tôi đã quen thuộc như bao đứa trẻ khác, từ thuở mới lọt lòng.
Tôi đã mang một nửa dòng máu xuất phát từ nơi mà tôi chỉ mới nghe nói đến. Dòng máu của tôi ngày đêm chảy trong huyết quản, nóng rực, cuồn cuộn. Nó thôi thúc, giận hờn không lúc nào nguôi. Tôi phải trở về nơi ấy, nhất định như thế. Trở về để thắp nhang lên mộ ông bà ngoại, thăm lại ngôi nhà cũ trong một khu vườn rộng với nhiều cây mít già cỗi. Tôi đã khóc bao đêm, xót xa cho mẹ, cho tôi, cho quê ngoại tít mù. Tôi tự hứa với lòng một ngày nào đó sẽ tìm về, dù cho nơi đó chỉ còn là một nấm đất hoang sơ, hay khu vườn cũ đã trở thành vườn hoang mặc cho cây dại mọc đầy…
Tôi sẽ trở về để thực hiện di chúc của sự tưởng tượng – di chúc của mẹ – dù mẹ không nói gì và nhắm mắt khi tôi đang ở rất xa…

*

Tôi vẫn hay tưởng tượng ra những vách núi đá cheo leo. Tôi cố bám vào để leo lên. Tôi vô vọng nhìn lên đỉnh xa vời, và phía dưới là hố sâu thăm thẳm. Con đường mòn xuyên qua núi đầy những đá tai mèo. Những bước đi cẩn trọng, những con vắt sẵn sàng xông ra bám đầy vào những vùng da màu mỡ để hút máu. Tôi đang cố, người tôi toát mồ hôi, thần kinh căng thẳng. Tôi không dám ngước mắt nhìn lên trên, bởi những mỏm đá nhọn hoắc đâm ra trơ trọi như một lời hăm doạ lạnh người.
Mẹ thường gánh hai đầu đầy mắm cá cơm. Mỗi lần đi, mẹ chuẩn bị mắm cá cơm để lên bán kiếm lời. Đòn gánh trĩu nặng, bước chân mẹ nặng nhọc lê từng bước trên con đường núi. Mẹ cố từng bước một qua Eo Gió. Cứ vậy, hằng năm, mẹ trở về nơi chôn nhau cắt rốn của mình một cách nặng nhọc. Gió núi hú trên vách đá, mây ngàn giăng mù đón mẹ về.

*

Khu vườn nằm trên nách đồi, mặt hướng ra một thung lũng hẹp. Trong vườn âm u, hàng chục cây mít già cỗi ra trái trĩu nặng. Không ai đủ sức để hái nên chúng chín rục trên cây rồi rụng xuống, vỡ ra nhòe nhoẹt trên mặt đất cứng làm mồi cho lũ ruồi xanh bâu đen kịt. Ở phía trên cùng của khu vườn, một ngôi nhà năm gian vách gỗ mít, mái tranh thấp khuất dưới lùm cây.
Một buổi sáng không biết là vào mùa nào, mây mù sà xuống che kín cả thung lũng, hơi núi hắt ra lạnh ngắt: mẹ đã được ra đời. Vào buổi sáng mà không có một chút ánh sáng nào đón mẹ ; lúc đó, ông ngoại vẫn còn đang đi hát “nhân ngãi” ở tận đâu chưa về. Rồi cùng với gió núi, với tiếng vọng của đại ngàn, mẹ hiện diện như một phần của sự âm u nơi này.
Rồi tuần sau, ông ngoại về. Ông bế mẹ lên ngắm nghía, rồi đi ra khu vườn. Ông đi thong thả qua từng gốc mít, cuối cùng ông dừng ở triền đồi. Đôi mắt tròn xoe của mẹ nhìn ra phía trước, nơi thung lũng hiu hắt vàng vọt những ruộng lúa bậc thang nhỏ bé xen kẽ nhau không theo một trật tự nào. Từ ngày ấy, ông ngoại bỏ luôn chuyện đi hát để ở nhà trông mẹ. Ông chăm sóc mẹ từng chút một. Đôi bàn tay thô ráp của ông tắm cho mẹ hàng ngày. Bà ngoại từ lúc sinh xong thì bịnh liên miên. Bà chỉ nằm yên một chỗ, nên mọi chuyện trong nhà một tay ông ngoại lo liệu.
Ngày tháng chậm chạp trôi qua như những đám mây xám nặng nề trên đỉnh núi Chúa…
*

Vào một ngày nào đó không có trong ký ức của mẹ, một ngày đặc biệt, trời mưa tầm tã, nước từ trên núi đổ xuống thung lũng như thác lũ. Lúa và hoa màu bị nước cuốn trôi đi. Những người không kịp chạy lên đồi cũng bỏ mạng theo dòng nước dữ. Cái tang tóc khủng khiếp phủ lên khắp làng. Hàng đêm, ngoài tiếng gió hú vọng về từ đại ngàn, lại thêm tiếng than khóc ai oán của những người mất người thân. Những tiếng khóc theo gió dội vào vách đá, lao xuống vực sâu, men theo triền núi, lẩn vào từng tán lá rậm rạp hay phiêu diêu qua những cánh đồng bậc thang…rồi chảy về xuôi.
Và vào những ngày tang tóc ấy, bà ngoại lên cơn bệnh nặng. Trước lúc lâm chung, ông ngoại bế mẹ đến trước mặt bà, đôi mắt khô khốc của bà nhìn mẹ tuyệt vọng. Mẹ chưa đủ lớn để nhận ra được điều khủng khiếp sắp xảy đến. Mẹ vẫn mở đôi mắt tròn to đen láy nhìn hồn nhiên ra xung quanh.
Đám tang bà ngoại được tổ chức rất đơn sơ. Mộ bà ngoại nằm ở chân núi Chúa, hướng ra thung lũng. Ngày ấy mẹ vẫn chưa đủ lớn để cảm nhận đau thương…
Nhưng đau thương có bao giờ mất đi, nó ngưng đọng lại bên rìa dòng thời gian, lẩn trốn vào đời thường, và theo từng bước chân mẹ. Để một ngày, nó hằn lên trán mẹ thành những nếp nhăn hay lẫn vào nỗi buồn thành những giọt lệ nhỏ long lanh, mỗi khi nhớ về chuyện cũ. Những lúc đó, tiếng mẹ thở dài nghe thật sầu não. Còn đôi mắt của mẹ, nó vẫn tròn và to đen láy như khi còn trẻ, nhìn ra xa xăm. Những lúc như thế, tôi liền phóng ra sân và nhìn về phía tây, nơi có những dãy núi trập trùng lẫn khuất trong mây mù…

*

Trước khi những cơn mưa dầm dai dẳng mùa đông đổ về, bầu trời đen kịt những mây. Ngoài đồng mọi người đang hối hả gặt nốt những thửa lúa cuối cùng trước khi bị dìm trong nước lụt.
Mùa đông đến…
Mẹ thường ngồi trong bếp một mình, ít khi mẹ lên nhà trên, nơi có gian thờ chính. Mẹ ngồi im lặng hàng giờ, tay thỉnh thoảng thêm củi vào bếp. Những lúc như thế, tôi hay sà vào ngồi bên cạnh. Lúc đó tôi cũng chẳng hiểu được gì, nhưng nhìn ánh mắt buồn của mẹ, tôi biết mình phải yên lặng.
Bây giờ đã sắp đến ngày ấy, nhưng tôi thấy mẹ chẳng có ý gì là chuẩn bị hay sửa soạn. Tôi vội hỏi: “Bữa mô mẹ về ngoại”. Mẹ chỉ lắc đầu: “Năm nay chắc chẳng còn ai nữa mà về. Mồ mả để dòng họ lo”.
Năm ngoái khi lên ngoại về, mẹ nói rằng ông ngoại Mười – người cuối cùng của gia đình ông cố ngoại đã mất. Ông ngoại Mười, cũng giống như ông ngoại của tôi, chỉ có được một người con gái và cũng đã về theo quê chồng.
Rồi mẹ bắt đầu rủ rỉ kể chuyện dòng họ của mẹ cho tôi nghe.
…Dòng họ lê của mẹ cũng đông đúc và chia làm nhiều phe. Có người bỏ vào núi theo Việt cộng, và cũng có người là sĩ quan, công chức của Miền Nam. Còn lại đa số đều là dân nông. Mẹ kể, vào những ngày cúng tộc, thường họ chẳng nhìn mặt nhau. Ai làm phận nấy rồi về.
Riêng gia đình ông cố ngoại có cả thảy 10 người con, vừa trai vừa gái. Những người con gái (tôi gọi bằng bà ngoại cô) đã lấy chồng. Có đến năm người con trai, nhưng đến lớn chỉ còn 3 người. Và chỉ duy nhất ông ngoại thứ ba có một người con trai.
Mộ ông cố ngoại nằm trên một sườn đồi đầy đá. Mẹ nghe kể lại rằng, có một ông thầy địa lý đi ngang qua đã nói: “Mộ này chôn ở đất tuyệt tự, phải mau dời đi”. Nhưng không hiểu sao, cả ba người con trai không ai chịu nghe theo.
Những người con gái lần lượt lấy chồng xa. Những ông ngoại đều lần lượt theo tổ tiên. Lời ông thầy địa lý năm xưa đã thành sự thật…
Người con trai duy nhất của ông ngoại thứ ba (tôi gọi bằng cậu) trước bảy lăm là trung uý hải quân, sau bảy lăm cũng bỏ đi đâu mất dạng. Nghe đồn cậu đã đi Mỹ, nhưng chẳng có tin tức gì.
Đôi mắt mẹ trở nên u sầu hơn. Càng ngày mẹ càng ít cười.
Rồi cũng từ đó, rất ít khi tôi được nghe mẹ kể về quê ngoại nữa. Tôi cũng thôi không còn giữ thói quen nhìn về dãy núi xa xa phía tây mỗi khi chiều xuống. Và dần dần, tôi cũng quên lãng quê ngoại và nỗi ước ao cháy bỏng được về nơi đó…

*
Ngày mẹ mất, tôi đang học ở Sài Gòn. Tin đến như một vết dao đâm ngang ngực. Tôi ngồi oà khóc ngay hành lang giảng đường…Thế là hết. Tôi nghĩ mọi thứ đã gần hết rồi, khi mẹ tôi ra đi.
Nhưng đó cũng là lúc, một lần nữa, và cũng là lần sau cùng, những ước ao cháy bỏng của thời thơ dại lại hiện về thôi thúc dữ dội. Để sau đó, trong nỗi đau nhớ mẹ, những ký ức cóp nhặt về quê ngoại lại hiện lên trong tôi.
Nhưng ngay khi cơn xúc động vừa lắng xuống, một vực thẳm cũng kịp hình thành, xé tan bức màn đen của nỗi buồn chất chứa bao lâu, để tôi chợt nhận ra rằng, nơi mà tôi gọi là quê ngoại ấy cũng chẳng còn gì. Chưa bao giờ tôi được chạm tay vào đó, không bóng dáng người, không niềm an ủi và mãi mãi không có chút ký ức nào.
Mẹ tôi đã mang theo vĩnh viễn.

Sau này, thỉnh thoảng khi đi xe ngang Tam Kỳ, tôi vẫn thường cảm thấy bồi hồi mỗi khi nhìn về hướng núi. Ở đâu đó, lẫn trong trùng điệp xanh thẳm của dãy Trường Sơn, là quê ngoại của tôi, hiện diện như là một huyễn tượng buồn đau của một kiếp người.

TRÀ ĐÓA