CƯỠI NGỌN SẤM(12)

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 7

Một thoáng thiên đường… và rồi quay thẳng về địa ngục

Nghỉ phép tại Hawaii
Mùa hè 1967

Các cuộc hành quân liên tục hằng ngày tại Việt Nam đã tạo nên một sự căng thẳng cùng cực trong 15% tổng lực lượng quân số tác chiến và 85% thuộc lực lượng yểm trợ về các mặt tiếp liệu, ẩm thực, doanh trại và y tế. Các đơn vị lãnh nhiệm vụ tại Đông Nam Châu Á một khi đã trú đóng rồi thì không rời khỏi nơi đó. Không phải chuyện luân chuyển toàn bộ các Tiểu đoàn hay Không đoàn nhằm giữ một mối liên kết thích hợp cho cả một tổ chức, mà quyết định ban đầu của cấp trên chỉ thuyên chuyển các cá nhân đã tạo ra nhiều tranh cãi nhất. Trong mỗi đơn vị tác chiến có những quân nhân mới từ trong nước sang, mặt mũi sáng sủa và được huấn luyện khá kỹ lưỡng nhưng chưa được thử lửa ngoài trận địa bao giờ. Trong khi đó thì có các chiến binh kỳ cựu, đa số chỉ nôn nóng được trở về nước và đang chờ đến phiên mình. Sự hỗn hợp giữa lính cũ và lính mới đã tạo ra một sự khó khăn lớn cho vấn đề chỉ huy ở mọi cấp đơn vị.

Một trong những quyền lợi của chu kỳ nhiệm vụ thường kỳ 12 hay 13 tháng tại Việt Nam là các quân nhân có cơ hội ít nhất là một lần, hoặc hai lần nếu người đó vô cùng may mắn, được năm ngày nghỉ phép tại các nơi xa vùng chiến trận. Theo qui định thì những khu nghỉ mát này không nằm trong các khu vực thuộc nội địa nước Mỹ. Do đó những địa điểm thông thường nhất là Hongkong, Bangkok, Taipei, Penang, Australia và Hawaii.

Các địa điểm vùng Á châu được những người độc thân ưa thích nhất nhờ mãnh lực của đồng đô-la và luôn sẵn có các kiều nữ để thỏa mãn các nhu cầu căn bản về thể xác của họ. Các huyền thoại về rượu chè và trụy lạc thì đầy dẫy và không thiếu gì các chàng trai trẻ nôn nóng muốn được trải qua kinh nghiệm này. Đối với những người đã có gia đình hay đã có người yêu thì Hawaii là nơi họ thích nhất.

Giống như Gibraltar của Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, Hawaii có một khí hậu gần như tuyệt vời nhất và mùa hè quanh năm tại đó là nơi lý tưởng để những người con của đất nước hồi phục lại sức khỏe bên cạnh các bà vợ hay người yêu đi theo.

Công tác chuẩn bị cho một chuyến dưỡng sức tại Hawaii là một giải pháp 50-50. Quân đội có nhiệm vụ đưa các quân nhân qua phía Đông và các phụ nữ tự sắp xếp để đi qua hướng Tây. Thông thường thì các phụ nữ đến trước người thân của họ.

Những bà vợ và bạn gái mới đến thường dễ nhận ra. Họ là những người duy nhất có kiểu tóc đúng mốt, da chưa sạm nắng và mặc những bộ đồ tân thời nhưng khá thường đối với tiêu chuẩn thời trang của Hawaii. Vẻ mặt họ tràn đầy hy vọng và phấn khởi, các cặp mắt đảo quanh mọi phía để cố tìm chàng chiến sĩ hay TQLC của họ với niềm hy vọng mong manh là anh đã đến sớm hơn và mang lại cho họ một sự bất ngờ thích thú. Họ hoàn toàn tương phản với những người vừa mới tiễn người thân ra đi.

120 giờ nghỉ phép bắt đầu và họ cương quyết sẽ sống từng giây phút một cách có ý nghĩa nhất, sẽ tạo dựng những kỷ niệm êm đềm nhất trong trường hợp chẳng may sau khi phải chia tay nhau lúc đồng hồ điểm 12 giờ đêm, sẽ không còn có một cuộc hội ngộ nào khác, hoặc giả đoạn kết của câu chuyện thần tiên của họ không phải là loại có hậu.

Trung tâm tiếp đón là trại DeRussy nằm trong lòng thành phố Honolulu, nơi vùng Ewa, đầu đại lộ Kalakaua và là đoạn đầu của vùng Waikiki. Nơi đây là trọng tâm, là điểm khởi đầu và chấm dứt của tất cả các kỳ nghỉ phép dưỡng sức. Thế giới xoay vòng trong vùng đất thiêng liêng một vài mẫu đất đó và khi mặt trời quay đủ năm vòng cho từng cặp nam nữ, họ đã sống qua những cảm xúc nồng nàn nhất cũng như các giây phút đau khổ nhất vì thời gian không đủ cho nhau.

Trong một khoảng khắc ngắn giữa hai buổi hoàng hôn, người chiến sĩ hay lính TQLC có thể được bốc ra khỏi mặt trận từ một cánh đồng ruộng hay khu rừng già, được tống lên máy bay và sau đó không lâu được nhâm nhi ly rượu pha mai-tai với vợ hay người yêu trong lúc thưởng thức giọng hát của ca sĩ Don Ho chính hiệu trong khu chợ quốc tế tại Waikiki. Khả năng của trí óc nhằm đáp ứng với sự chuyển tiếp bất ngờ này thường bị quá tải và làm họ không còn biết đâu là thực tế nữa.

Nếu người lính đó được đi phép thẳng từ một đơn vị đang chiến đấu thì rất khó cho họ lắng dịu lại tâm hồn, bớt thủ thế đi để trở thành một người chồng đáng yêu biết lắng nghe vợ. Điều này đòi hỏi họ phải có khả năng quyết liệt tách biệt những cảm xúc ra khỏi các sự kiện họ đã trải qua. Thật khó mà có thể bỏ qua hết mọi thứ đằng sau trong một thời gian ngắn như vậy và hành xử như thể đang thực hiện một công vụ kéo dài nào đó, nhất là khi biết chắc chẳng bao lâu nữa sẽ phải trở về lại cái lò xay thịt kia.

Đối với những bà vợ và người yêu, đặc biệt là các bà đã làm mẹ thì phải cố tạo ra một hình ảnh tươi vui nồng thắm, phải chứng tỏ mình là yếu tố giữ chặt mối tình cảm gia đình trong thời gian ngăn cách trầm trọng này. Những nỗ lực trong thời gian qua nhằm làm giảm thiểu các khó khăn của cuộc sống chiếc bóng nuôi con, những lời cầu nguyện hằng ngày xin sứ giả của Thần Chết hãy tránh xa ngưỡng cửa nhà phải được xếp qua một bên trong một vài ngày tới đây. Mọi thứ không được quá đáng, nhất là không được than vãn vì đây là lúc mọi chuyện phải tuyệt đối hoàn hảo. Đã đến được lúc này rồi. Lạy Chúa, phần còn lại của chu kỳ nhiệm vụ chỉ có thể xấu hơn nữa từ đây mà thôi.

Các phụ nữ đến lẻ tẻ từng người một từ miền Tây hay xa hơn là từ miền Đông nước Mỹ. Họ được hướng dẫn về các phương tiện di chuyển dưới sự dẫn dắt của các nhân viên liên lạc quân sự tại phi trường quốc tế Honolulu. Rốt cuộc rồi mọi người cũng tụ họp lại trong khu Waikiki. Thường thì họ có đủ thời giờ để lấy phòng, sửa soạn chương trình, giải quyết vài chuyện lặt vặt và sắp xếp để mọi chuyện sẽ diễn tiến như ý muốn một khi những chiếc xe buýt chở người thân của họ đến.

Trong khu tiếp tân là địa điểm của những chiếc xe buýt chở các quân nhân đến, mùi thơm của những tràng hoa tươi leis hòa chung với mùi hương của từng người phụ nữ đã cố ý xức các loại nước hoa tốt nhất mặc dù khí hậu ẩm ướt của vùng đảo Thái Bình Dương không quen thuộc lắm đối với mọi người. Nhạc nền Hawaii dập dình phía sau, nếu nghe kỹ thì thấy khá tươi vui, sôi động nhẹ nhàng như báo trước những điều tốt lành sắp xảy ra.

Các nhà kế hoạch quân sự đã tỏ ra sáng suốt trong công tác chuẩn bị cho các quân nhân đi nghỉ phép dưỡng sức. Những người nào bắt đầu thời gian sung sướng này được tách riêng ra về thời điểm cũng như khu vực đối với những người sắp sửa phải chịu đựng sự đau khổ của biệt ly. Tuy vậy, những phụ nữ mới đến cũng thoáng nhận ra họ trong lúc rời phi trường hoặc nếu họ còn nán lại ở Waikiki.

Họ là những người buồn rầu ủ rũ với các khuôn mặt chảy dài và cặp mắt sưng húp cho thấy họ vừa mới khóc như mưa. Bây giờ làn da họ đã rám nắng hơn và bắt đầu bị lột từng mảng vì không phải tất cả các cuộc nghỉ phép đều xảy ra trong bóng mát. Họ đã thay đổi y phục nội địa bằng trang phục Hawaii sau một chuyến viếng thăm Hilo Hattie hay Ala Moana Center. Đối với họ, chuông đã điểm 12 giờ đêm và câu chuyện cô bé lọ lem thần tiên đã chấm dứt, cỗ xe ngựa đã trở lại thành quả bí và các người hầu đã trở thành chuột cả rồi. Những gì còn lại chỉ là kỷ niệm và lời nguyện cầu cho niềm hi vọng là phần hai của chu kỳ nhiệm vụ sẽ mang lại người thân trở về, và mọi chuyện sẽ trở lại y như hồi anh mới ra đi.

Các chuyến bay đến Hawaii từ Việt Nam đa số là thuê của bên dân sự. Ngay khi vừa đáp xuống phi trường, các quân nhân được nhanh chóng đưa lên các chuyến xe buýt đang chờ sẵn để trực chỉ về trại Ft. DeRussy cho cuộc hội ngộ đầy mong đợi.

Cứ mỗi một chiếc xe buýt đậu lại là có một nhóm phụ nữ ùa đến đón chào. Sự mong đợi và háo hức cuối cùng được kiềm chế lại bằng những tiếng rên mừng rỡ và những nụ hôn dài say mê. Khi cuộc đón tiếp ban đầu lắng dịu dần thì mọi người bắt đầu ý thức một cách sâu sắc về yếu tố thời gian. Con “bồ tượng” vô hình đã bước vào phòng rồi và cho dù họ có làm gì đi chăng nữa trong vòng 120 tiếng đồng hồ tới đây, hoặc ít hơn thế nữa, nó sẽ vẫn nằm chình ình tại đó và sẽ hút đi từng khối dưỡng khí càng lúc càng mạnh dần từ những giây phút hạnh phúc còn sót lại mà các cặp tình nhân có thể san sẻ cho nhau.

Bên cạnh những điều hiển nhiên mà những cặp vợ chồng xa cách nhau lâu ngày cần phải trao đổi cho nhau còn có những tiết mục bắt buộc phải có đối với mọi du khách đến thăm viếng hải đảo. Hawaii tràn ngập các tiệm ăn ngon và các câu lạc bộ đẹp. Ngoài những lúc âu yếm hay ăn uống thì họ đến các nơi như Kodak Hula Show, Polynesian Cultural Center, lặn hụp xem cá tại Hanauma Bay, đi thăm vùng North Shore, hoặc mua sắm tại hàng trăm các cửa hiệu bán lẻ sẵn sàng đáp ứng cho những người mới tới này. Các quân nhân đi nghỉ phép thường rất dễ nhận ra đối với các du khách thường, đa số lớn tuổi hơn, không khỏe mạnh bằng và nếu họ còn tóc thì thường để dài hơn.

Dù cùng một điểm hẹn nhưng nếu cho rằng hai vợ chồng John Ripley đến từ hai hành tinh khác nhau cũng không ngoa chút nào. Cái thế giới mà mỗi người đang sống không còn cùng là một nữa.

Chú bé Stephen Ripley hai mươi mốt tháng tuổi đã được bà ngoại yêu quý nhận chăm sóc tại tỉnh nhà Radford, Virginia cho nên Moline có thể yên tâm tập trung vào việc đi thăm chồng.

Moline Ripley diện một bộ đồ mới y chang như từ trong số cuối của tạp chí thời trang Ladies Home Journal hay Good Housekeeping bước ra thành thử người vợ TQLC này đã được mời lên ngồi ghế hạng nhất trong chuyến bay đầu tiên trong đời, một dấu hiệu báo trước điềm lành và là một cách tuyệt vời nhất để khởi đầu một chuyến đi lý tưởng.

Trong khi đó thì tại giao thông hào cuối phi đạo Đông Hà không có cả nóc che để bảo vệ hỏa tiễn và pháo kích thì làm sao có nổi các phương tiện để John Ripley sửa soạn qua loa trước chuyến bay nghỉ phép của mình? Co cụm cùng với nhiều chiến sĩ TQLC từ các đơn vị khác nhau đến, Đại úy Ripley chờ chuyến bay “Chim Tự Do” chở họ đến Hawaii. Họ nằm trong bùn ngóng chiếc C-130 đang hạ cánh từ phía đầu kia của phi đạo. Khi đáp được xuống đất rồi thì cái mục tiêu di động khổng lồ đó sẽ quay ngược lại chạy chầm chậm trên phi đạo với tấm bửng phía đuôi hạ xuống, vừa đủ để các hành khách phóng vội lên máy bay, vừa khấn là bọn quan sát Bắc Việt không có đủ thời giờ để pháo kích một vài quả đạn. Khi người chậm chân nhất lên được máy bay rồi và đưa ngón cái ra hiệu mọi chuyện tốt đẹp, trưởng phi hành đoàn đóng bửng lại và phi công tống ga tối đa cho máy bay cất cánh nhắm hướng Đà Nẵng để rồi chuyển tiếp sang các địa điểm khác nữa về hướng Đông. Thời gian máy bay ở mặt đất hiếm khi quá 60 giây đồng hồ. Thật là một kiểu kỳ lạ để điều hành một đường bay.

Chuỗi dài các vấn đề, các sự kiện đã xảy ra cùng với các cảm xúc và sự căng thẳng phải đối phó trong khoảng thời gian năm ngày trong nắm ấm Hawaii quá đủ để thử thách sự tỉnh táo và ổn định của bất cứ cuộc hôn nhân hay mối quan hệ thân thiết nào.

Đến thẳng từ vùng chiến sự Việt Nam, sự căng thẳng của người lính được cộng hưởng thêm bởi sự kiện họ không có thời gian định thần lại và nỗi ân hận đã tạm bỏ rơi các chiến hữu lại phía sau. Bây giờ lại đến thời hạn đau đớn của 120 giờ phép và sự khó khăn không biết phải phải kể lại hay dấu vợ những gì mà anh đã thực sự trải qua.

Đối với người phụ nữ thì tất cả những điều như không hiểu được chồng để thực sự thông cảm cho anh, sự dằn vặt có nên biết hay không về những gì đã xảy ra cho chồng và viễn ảnh phải biệt ly lần nữa, có thể là lần cuối cùng, đã làm cho cõi lòng họ tan nát. Vì họ thường là những người ra đi sau cùng thành thử họ giống như bị bỏ rơi lại, thường là cô đơn một mình trong cái cõi thiên đường để bắt đầu cuộc hành trình dài trở về lại nhà.

Buồn vui lẫn lộn, cuộc đoàn tụ chua chát chỉ có thể là niềm vui nếu ai đó có đủ sức mạnh để sống cái khoảng khắc hiện tại mà thôi. Các kỷ niệm chỉ có thể đẹp và dễ chịu nếu câu chuyện có hậu để có thể nhớ lại hai mươi năm sau.

Moline Ripley đã sống sót qua trận kinh hoàng khi nghe tin chồng bị thương lần đầu. Do đó mọi lo lắng của nàng dồn vào vấn đề sức khỏe của chồng, cả về thể xác lẫn tâm hồn. Khi anh bước xuống xe buýt, Moline nhận ra ngay những sự thay đổi của chồng. Nàng cảm thấy anh vẫn hào hùng và, mượn lời hát trong bài ca có tên anh trong đó: “Vai rộng hông hẹp…” Đại úy Ripley trông vẫn còn hết sức phong độ, gầy hơn một chút và làn da rám nắng hơn.

Khi Moline quàng tay ôm John lần đầu, nàng cảm thấy lưng chồng rộng và các bắp thịt rắn chắc hơn trước. Cảm giác giống như ôm một cái tủ lạnh với các sợi dây thừng và cáp sắt bọc chung quanh. Ngay cả nét mặt chàng cũng có nét sắc bén hơn, giống như được tạc một cách sắc sảo và chỉ một chút nữa là trở thành hốc hác. Nàng biết ngay mà không cần phải nghe kể nữa là chồng nàng đã trải qua quá nhiều rồi.

Năm ngày – 120 giờ phép đang cạn dần

Tận dụng khoản lương đại úy còm cõi, John và Moline cố gắng tận hưởng sự sang trọng và lãng mạn của khách sạn Princess Kaiulani. Nằm tại khu vực Diamond Head phía đoạn cuối của Waikiki, khách sạn Princess Kaiulani pha trộn sự quyến rũ cổ kính của Hawaii thời trước và tinh thần hiếu khách “Aloha,” tuy bớt cuồng nhiệt hơn tại đây. Điều này hoàn toàn phù hợp cho nhu cầu của hai người. Từ khách sạn, họ có thể thả bộ một cuốc ngắn rồi dùng cơm tối dưới ánh đèn cầy tại những tiệm ăn nổi tiếng thế giới nhất. Sau đó, khi đêm xuống, họ có thể tản bộ dọc theo bãi biển, tay trong tay và quên hết tất cả những gì đang xảy ra chung quanh họ.

Sự thích nghi lại với đời sống văn minh và cảm giác sạch sẽ là một thử thách lớn đối với Đại úy Ripley. Mặc dù anh đã có mặt tại Honolulu với một bộ quân phục tương đối tươm tất, dù các bộ khăn trải giường tại khách sạn đã được giặt giũ thật sạch, và dù cho đến ngày thứ hai anh đã tắm gội biết bao nhiêu lần, anh vẫn có cảm giác là bụi đất Việt Nam vẫn còn bám trong anh và trên thân thể anh. Anh biết chắc chắn chẳng có một tên lính Bắc Việt nào trên đảo Oahu cả nhưng sự vắng bóng hiểm nguy và đạn pháo kích vẫn mang lại cho anh một cảm giác gì đó không bình thường.

Moline chẳng màng đến những chuyện đó. Đối với cả hai, đó là năm ngày trời tuyệt vời. Xen kẽ giữa những lúc đi chơi ngoài bãi biển, đi thăm các nơi, đi ăn hoặc làm những chuyện gì khác họ vẫn còn thời gian để đi xem phim. Cuốn phim The Sand Pebbles do tài tử Steve McQueen đóng vai chính vừa mới được trình chiếu tại rạp Waikiki Theater nằm phía dưới khách sạn dọc theo bãi biển. Đây là một cái rạp xi-nê khá cũ và cổ kính nhưng rất lịch sự. John Ripley đã có dịp được đọc cuốn sách trong lúc công vụ trên biển rồi và nay vì đã là một người từng trải kinh nghiệm tại Á Châu cho nên anh rất thông cảm những vấn đề và trường hợp mà các thủy thủ chiến hạm đó phải đối phó, những điều mà cấp trên chưa bao giờ huấn luyện họ. Ngoài chuyện đó ra thì không khí mát lạnh của máy điều hòa nhiệt độ, được ngồi thoải mái trên những chiếc ghế bọc nhung êm ái, ăn bắp rang và nắm tay Moline thì quả thật là hết sức thú vị.

Đối với John Ripley thì chuyến đi nghỉ phép sẽ hoàn toàn lý tưởng nếu được gặp đứa con trai Stephen. Cơ thể anh ước ao được ôm ấp và nựng nịu thằng bé. Đến giờ này chắc nó cũng chẳng còn biết bố nó là ai nữa.

Moline đã cố gắng hết sức để bù đắp điều thiếu sót này trong cuộc đoàn tụ. Nàng đã mang theo trong giỏ hàng trăm tấm hình chụp Stephen. Nàng đã chụp tất cả những tình huống có thể mường tượng được, ngày cũng như đêm và các giai đoạn con đang lớn và kể lại cho John nghe các câu chuyện lý thú về nó. Họ nói chuyện với nhau bất tận về đứa bé.

Đối với một người có tâm hồn như John Ripley thì chuyến viếng thăm địa danh mà người dân Hawaii xưa gọi là Pu’owaina, còn tất cả mọi người khác đặt tên là Punchbowl là một điều tiền định không thể tránh khỏi. Đây là nghĩa trang quốc gia của vùng Thái Bình Dương nằm trong miệng núi lửa cũ tại Honolulu, giữa đường từ Diamond Head đến Pearl Harbor. Nơi này là đất thánh cho lòng quả cảm và thịt xương của quân đội Hoa Kỳ đã đổ ra trong các trận chiến chống lại kẻ thù của đất nước. Trong một cảm giác khá rùng rợn, với ý niệm nơi mà Đại úy Ripley sắp trở lại sau này có thể sẽ làm cho anh trở nên một “khách hàng” tương lai của cái nghĩa địa này đã bám vào tâm trí của cả hai người. Tuy vậy, điều này không làm John Ripley bận tâm. Anh và Moline chỉ đơn giản muốn nhìn thấy nó, muốn tỏ lòng trân quý, bàng hoàng trước các đền thờ và tranh ghép đá mosaic của các trận đánh Thái Bình Dương lừng danh, và cung kính tưởng niệm sự hy sinh tập thể của biết bao nhiêu thế hệ thanh niên. Lẫn lộn trong những giọt nước mắt của niềm tự hào và nỗi buồn cho các chiến sĩ vô danh đã ra đi từ lâu cũng có những giọt dành cho một số không nhỏ các đồng đội mà Ripley đã quen biết trong cuộc chiến vừa qua.

Lộ trình mà John Ripley đã trải qua đến Punchbowl, đến Việt Nam và bất cứ nơi nào mà anh phục vụ chắc chắn đã khởi đầu từ trạm ga xe lửa tại quê nhà Radford đâu đó vào khoảng thời kỳ cuối năm 1942 hay đầu năm 1943. Trong một buổi sáng điểm tâm ông cha Bud Ripley đã hỏi hai đứa con John và người anh Mike có muốn theo bố đến trạm ga xe lửa hay không? Một chuyến tàu hỏa đặc biệt sẽ chạy qua vào sáng hôm đó. Vui mừng vì có dịp được gần gũi với cha và cơ hội được ra chơi vùng ga xe lửa là điều mà cả hai không thể bỏ lỡ được.

Bud Ripley là một nhân vật có chức sắc trong ngành xe lửa. Dòng họ Ripley đã dành được sự kính trọng của dân trong cái tỉnh lẻ đó. Do đó John và Mike luôn được những người có quen biết với ông bà Bud và Verna đối xử một cách đặc biệt. Đến sớm hơn chuyến tàu, John và Mike được thả dàn chạy đi chơi quanh quất. Sân ga đầy những khách đến thăm, hầu hết ăn vận chỉnh tề giống như họ đi lễ nhà thờ vào ngày thường vậy.

Hai đứa trẻ chẳng bận tâm gì đến mọi thứ cho đến khi chuyến xe lửa hụ còi báo hiệu và từ từ tiến vào ga. Khi chuyến tàu xuất hiện, họ có thể thấy được các toa phụ treo cờ xí màu đỏ, trắng và xanh trải dài qua hết khúc cong của con đường sắt. Xe lửa không dừng lại mà chỉ chầm chậm tiến qua vùng Radford. Đám đông dân chúng hầu hết là đàn ông đều đứng thẳng trong tư thế trang nghiêm. Những người đội mũ thì dở xuống đặt vào ngực trái còn những người khác thì đặt tay phải vào tim. Mọi chuyện diễn tiến hết sức tự nhiên, thật trang trọng và hoàn toàn tự động trong niềm tôn kính sâu sắc. Nhiều người rớt lệ khi chuyến tàu từ từ vượt qua. Trong số hàng chục và hàng chục toa xe lửa là niềm tinh hoa của tuổi trẻ Hoa Kỳ đang lên đường đi chiến đấu. Hầu hết các thanh niên tỏ ra phấn khởi và chắc chắn đã kích thích sự ngưỡng mộ của đám đông. John và Mike là hai đứa bé duy nhất hiện diện, do đó đã thu hút được sự chú ý của các quân nhân, các thủy thủ, các phi công và TQLC.

Khe suối nhỏ ban đầu đã trở thành một một dòng nước lũ khi các hành khách bắt đầu ném kẹo và tiền keng xuống cho hai anh em Ripley. Thật là vui nhộn khôn tả. Tuy vậy, hơn bao giờ hết, từ thời điểm đó, John Ripley luôn nhớ đến cha mình; cặp mắt đẫm lệ cùng niềm hãnh diện sâu sắc khi ông đứng nhìn các chàng trai trẻ lên đường ra ngoài mặt trận. Ngay cả sau này khi đã già dặn chiến trận, John Ripley luôn luôn tưởng nhớ lại cái buổi sáng hôm đó và bài học yêu nước của cha với lòng bồi hồi xúc động.

Trong lúc nắm tay vợ mà không nói nên lời, John Ripley mường tượng đến các trận chiến tại Guadalcanal, Tarawa, Peleliu, Guam, Iwo Jima, Okinawa… Anh hồi tưởng đến những người đó và lính TQLC của anh. Tất cả đã pha trộn với nhau trong một lòng hi sinh như nhau.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

LẶNG LẼ

nguyenhaithao

Lặng lẽ ly cà phê
Lặng lẽ khói thuốc
Lặng lẽ cơn mộng du giữa ngày
Lặng lẽ khóc…
Giọt nước mắt đàn ông
Lặng lẽ rơi
Giữa cõi đời
Hư- thực
Tôi và nỗi cô đơn
Xé lòng!!
Lặng lẽ đi
Lặng lẽ về
Một tôi
Một hình
Một bóng
Một niềm vui
Một nỗi buồn
Và một chút hy vọng
Lấp lánh
Sau đêm đen…

Nguyễn Hải Thảo

Lời Một Người Ở Rừng Lá Khô Gửi Về Loài Chim Vương Thái Khanh

linhphuong

Anh ví tình yêu như những viên đạn đồng
Viên đạn cho em
Viên đạn cho bạn bè
Viên đạn cho anh
Viên đạn cuối cùng

Và nếu mai này
Ở rừng lá khô đại bàng gẫy cánh
Dấu ngựa hồng gục chết trên quê hương
Thì viên đạn nào cưu mang
Viên đạn nào chia xa hai đứa
Viên đạn nào ngọt bùi hương lửa
Viên đạn nào mật đắng cay nồng
Thôi đừng thương anh nữa
Quên nhau em lấy chồng
Nghe loài chim thành phố mang huyền thoại Vương Thái Khanh

Và nếu mai này
Ở rừng lá khô
Tình cờ viên đạn xuyên phá lồng ngực
Cho máu đỏ hiền hòa thấm mạch đất chứa lưu lượng phù sa
Em hãy cúi đầu
Nhưng đừng bao giờ khóc cho người yêu
Vừa nằm xuống
Ôi ! Anh suốt đời thương em
Suốt đời say mê loài chim thần thánh chở sa mù về nuôi lớn tình yêu
Ôi ! Suốt đời lo sợ
Suốt đời kinh hoàng viên đạn đồng cách ngăn người ở rừng lá khô và loài chim cánh trắng

Xin một lần anh hoài hoài ăn năn
nụ hôn đầu trên má
nụ hôn thứ nhì trên môi
nụ hôn thứ ba tội lỗi
Nụ hôn thứ tư thay ngôn ngữ đầu đời

Thôi ! Đừng thương anh nữa
Dù những ngày xa em là những ngày nhớ em
Ôi ! Trái tim muộn phiền
Anh suốt đời tội nghiệp
Như lời một người ở rừng lá khô gửi về cho loài chim thành phố mang huyền thoại Vương Thái Khanh
Anh xin một lần cầu nguyện…

LINH PHƯƠNG

Cám Ơn Thượng Đế

diemchaunguyen

– Riết rồi nhà nầy như cái Chùa!
Lời than thầm của Thúy thế mà đúng sự thật! Quanh đi quẩn lại chỉ thấy cái mặt của nàng thường xuyên hiện diện trong nhà, còn cha con nó thì hiếm khi gặp! Bíbo từ khi thân thiết với thằng Lucky, coi như ở nhà thằng kia thường xuyên hơn… vì từ trường đi về gặp nhà bạn trước! Cũng may là những khi Thuý hô lên một tiếng, thì tụi nhỏ lập tức có mặt ngay.
Từ nhỏ, Bíbo được mẹ cưng chiều, con một không cưng sao được! Nhưng dù sao thì Thúy cũng dạy dỗ con theo phương pháp của Mỹ, cùng với niềm hy vọng là mai sau, khi về già còn có con cháu quanh mình để hủ hỉ, chứ không cô độc như vài người bạn quen biết lớn tuổi.
Công nhận là lúc nhỏ thằng Bíbo nó quấn mẹ hơn những đứa trẻ khác, làm cho Thúy bằng lòng và hãnh diện, vì con người ta khi tụ lại chơi đùa có đứa nào nhớ đến cha mẹ đâu, chỉ có Bíbo cứ thỉnh thoảng chạy đến chỗ mẹ hôn một cái, rồi mới chạy chơi tiếp… và con nàng lại là một đứa đẹp trai, xinh xắn.
Trong lúc Thúy dành hết thì giờ cho công việc và chăm con, thì Văn luôn có các sinh hoạt riêng cho mình. Ngoài giờ đi làm, còn lại thì Văn dành cho họp hành thơ phú, lúc sinh hoạt cộng đồng, lúc đi văn nghệ nhảy đầm, ra mắt sách…
Vợ chồng hai xe, mạnh ai nấy đi. Văn cứ nghĩ con do vợ coi, thế nên ít khi kề cận bên thằng bé.
Sự suy nghĩ của Văn đối với gia đình là thế, Thúy cũng cho là đúng, vì nàng đã có thằng con làm điểm tựa tinh thần đủ rồi. Mỗi lần ở gần Văn, cứ đưa ra ý kiến ý cò gì, là hai vợ chồng lại hay tranh cãi, nên Thúy không thích lúc nào chồng cũng ở một bên.
Nhưng niềm vui nơi đứa con Thúy chỉ có được hoàn hảo khi Bíbo còn nhỏ. Đến năm thằng bé mười hai tuổi, nó bắt đầu không còn thích đi chung với mẹ như trước. Mỗi khi Thúy ôm âu yếm hôn con, nó lại mắc cỡ né tránh…
Lúc đầu Thúy chau mày bực bội. Khi vào sở nói chuyện, thì ra tâm trạng của mấy bà kia cũng thế! Bà Becky to mồm:
– Bà còn đỡ, con tôi khi mới mười tuổi, nó đã không cho ôm rồi!
– Tại con bà lớn xác hơn mấy đứa kia!
– Ừ… nó mới nhiêu đó mà trông như thiếu niên mười sáu, làm sao để mẹ nựng được nữa!
Mấy bà cười ha hả khi bà Rose thêm:
– Mẹ hun thì không cho, nhưng con gái ôm là Ok liền…
Biết vậy, nhưng Thúy cũng lo lắng trong thời gian đầu… rồi sau đó cũng quen.
– Mẹ nhớ đừng ôm hôn con chỗ có người!
Thằng Bíbo dặn dò, nó nói có lý, nó cũng có “sĩ diện” chứ giỡn sao!
– Con mình, mình thương mà cũng bị bắt bẻ!!!
Nghe giọng mẹ có vẽ giỗi hờn, Bíbo cười:
– À, con có đứa bạn, ba mẹ nó mất đã lâu, lúc nầy nó hay buồn vì không có ai ở gần… con giới thiệu cho mẹ nghe…
– Để làm gì?
– Thằng nầy nói với con nó thèm một vòng tay ấm áp của mẹ, một tình mẫu tử thiêng liêng mà nó đã mất… Nó tới đây mẹ được ôm đã đời luôn, hai người cùng thích!
Thúy lườm thằng Bíbo một cái đích đáng! Đúng là đùa vô duyên!
– Dẹp đi, dù sao hoàn cảnh nó cũng tội nghiệp! Con đừng có giỡn trên sự đau khổ của kẻ khác!
Tuy lẵng qua chuyện khác, nhưng Thúy vẫn thắc mắc về đứa trẻ mồ côi mà con vừa nói, định bụng hôm nào nhắc Bíbo đưa nó về đây để đãi ăn chả giò Việt Nam.
– Thằng bạn con nói nó tên gì?
– Lucky.
– Tên vậy mà đời chán thế!
– Chắc mẹ nuôi của nó đặt để lấy hên… Bà đó ít nói ít cười, con sợ lắm, bả lại mê đánh bài!
– Sao con biết?
– Nghe nó nói… khi nào buồn vì kiếm việc không ra, bả hay tới “parking” của chợ Von, nơi đó có xe bus của sòng bài đợi để chở miễn phí đến nơi chơi đánh bài trên núi.
– Bộ bả thắng hay sao mà đi hoài?
Bíbo cười lắc đầu:
– Mỗi lần chán là bả đi… mom có nghe ai cũng nói câu “đi đánh bài để góp tiền gắn bóng đèn” cho Casino không!
Thúy trợn mắt nhìn thằng con bé bỏng:
– Con còn nhỏ mà cũng biết câu nầy nữa à? Ở đâu ra mà học hay vậy?
– Thằng Lucky nó nói cho con nghe!
– Má nó hư vậy sao người ta lại cho bả nuôi nó?
– Hồi đó mới xin nó về bả cũng đàng hoàng lắm, như mom vậy đó…
– Rồi sao?
– Sau đó chồng bả mê người khác, lấy cớ không thích có con nuôi trong nhà, nhất định ly dị… nên bả thất tình, buồn mới đi chơi bài!
– Người ta buồn đi uống rượu cho quên, còn bà nầy thì đi đánh bài…
– Bả đánh bài hoài đến nỗi đi làm thất thường vì mất ngủ, sau đó bị xếp ghét, đuổi việc luôn…
– Nói vậy là mom biết chắc số thằng Lucky khổ rồi!!! Sao người ta không lấy lại nó?
– Chắc họ chưa biết…
Rồi thằng bé nhìn mẹ:
– Bộ mom muốn nuôi nó hả?
Thúy trố mắt nhìn con:
– Đâu có, sao con hỏi vậy?
– Tại con thấy mon hay thương người…
– Không phải… thương thì có thương… nhưng nuôi một đứa nhỏ không dễ đâu con, nhiều thủ tục rắc rối, trách nhiệm lắm… với lại mom có Bíbo rồi, đâu cần nuôi đứa khác chi nữa!
Thằng Bíbo có vẻ cảm động khi nghe mom của nó nói, nhưng nó vẫn ngồi im đó chứ không xà vào mẹ như xưa…
– Nó đã biết suy nghĩ rồi!
Câu chuyện giữa hai mẹ con có vậy mà làm cho Thúy vấn vương mãi trong đầu hình ảnh thằng Lucky mà nàng hình dung ra một đưá trẻ ốm o tội nghiệp. Trong lòng Thuý thầm nhủ phải làm một bữa chả giò tôm cua nổi tiếng trên thế giới của người Việt Nam, rồi kêu Bíbo rủ Lucky đến nhà ăn tối… không phải Thúy đặc biệt gì thằng bé, nhưng chính nàng và cả nhà lâu rồi không ăn cũng nhớ, vì thịt cua quá mắc mỏ!
Tính toán như vậy, nhưng bỗng dưng trong sở Thúy lại gia tăng số đơn đặt hàng, phải làm cho xong trước ngày lễ… thế là nhân viên cong lưng ra mà miệt mài với công việc, Thúy quên luôn vụ nấu đồ ăn để mời bạn của con đến ăn tối.
Cho đến một hôm Văn đi làm về tới nhà thấy tối om, ngạc nhiên vào bếp tìm tòi xem bà vợ và thằng con hôm nay làm gì, không thấy mở đèn như mọi hôm?
Muì chả giò chiên thơm phức vẫn bốc lên thơm lừng làm cho Văn đói bụng hơn. Trên bàn đã dọn sẵn một số thức ăn, nhìn hấp dẫn chịu không nổi. Văn đưa tay bốc một miếng chả giò bỏ vào miệng…
– Ngon quá, chả giò cua… bà nầy chịu chơi dám mua cua làm, mọi lần chỉ là chả giò tôm đâu có ngon bằng!
Gọi phôn cầm tay của Thúy hỏi, thì ra hai mẹ con đang đi đón thằng bạn của Bíbo đến nhà ăn tối…
– Về liền, về liền, em đang lái xe, sắp tới nhà rồi…
Vào phòng thay áo quần cho thoải mái, Văn nghĩ tối nay phải uống một chai bia thay thế cho ly rượu vang vì chả giò quá ngon.
– Hừm… Đi đón bạn thằng Bíbo? Thằng nào mà “quan trọng” thế? được ăn chả giò cua?
Trả lời cho sự thắc mắc của Văn, tiếng xe ngừng trước cửa nhà, rồi thì vợ con và một thằng nhóc xuất hiện.
– Chào bác.
Thằng nầy nhìn giống người Hawaii, mặt mũi xinh trai ra phết! Cao hơn Bíbo cả nửa gang tay.
– Thôi, các con đi rửa tay rồi mình vào bàn ăn không nguội…
Nói xong, Thúy vào bếp lấy rau bỏ ra đĩa. Những lá xà lách xanh tươi mơn mởn, những cây rau thơm đủ loại nằm im bên mớ đồ chua, gồm cà rốt và củ cải trắng hấp dẫn.
– Xong rồi, ngồi vào bàn đi anh.
Mọi người quây quần bên nhau. Văn đọc vài lời cám ơn Thượng Đế và cả nhà bắt đầu ăn… Gắp bún vào chén, Lucky ăn một miếng chả giò và bật miệng:
– Non… non…
Nghe nó nói, Thúy không hiểu, hỏi lại bằng tiếng Mỹ:
– Cháu nói cái gì? Non là gì hả Bíbo?
– Non là “good” phải không Lucky?
– Yes… Non…non…
Bíbo xác định lại lần nữa:
– Là ngon phải không?
Thằng bé gật gật cái đầu, giơ ngón tay cái lên. Thúy cười… thằng nầy mà cũng biết nói “ngon” nữa! “Ủa, mà sao nó biết”?
Thúy quay qua Bíbo:
– Con dạy Lucky nói tiếng Việt hả Bíbo?
– Không mẹ… Lucky, sao mày biết chữ ngon?
Lucky giải thích:
– “Boy friend” của má nuôi dạy nói…
– Ủa bộ ổng người Việt hả?
– Yes…
Vừa nghe nó nói “yes”, hai mẹ con ngạc nhiên, “phỏng vấn” thằng bé ngay lập tức:
– Ổng có thương cháu không?
Cái đầu thằng Lucky lắc nhè nhẹ, mặt xịu xuống!
– Ổng có đánh mày không?
– Có… uống rượu là đánh!
– Sao vậy? sao lại đánh?
– Khi nào uống say, ổng hay bắt nói tiếng của ổng, cháu không biết thì bị đánh…
– Thằng cha cà chớn! Đánh ở đâu?
– Tát vô mặt!
Văn “hừ” một tiếng, Thúy tiếp:
– Cháu biết chữ ngon và gì nữa?
– Có mấy chữ thôi à!
– Chữ gì?
– Cám ơn, bia, nhậu, cút đi…
Nghe thằng bé nói, vợ chồng Thúy vừa thương vừa tức cười… Thằng cha bồ mụ mẹ nuôi của nó chắc cũng thuộc loại giang hồ đây!
– Ở nhà cháu ăn bánh mì hay cơm?
– Khi nào bồ của má nuôi tới thì ăn cơm.
– Ăn cơm với gì?
– Dạ, gà chiên, cá chiên ổng mua ngoài chợ…
– Con thích không?
Thằng bé im re không trả lời. Chắc sợ Thúy mách lại với má nuôi nó!
Nhìn hai đứa con trai, đúng là ông Trời cho mỗi người một số phận! Thằng Lucky vừa tướng tá dễ thương, nó có da có thịt chứ không ốm o như Thúy nghĩ, mặt mũi lại phương phi hồng hào, bảnh trai… không nói thì ai cũng tưởng con nhà giàu có, bố mẹ cưng chiều!!! Ai ngờ lại đang sống bám vào một người không thân thích, thiếu trách nhiệm!
Đúng là Trời nuôi…
– Lúc ba má mất, con mấy tuổi?
– Con bảy tuổi.
– Con có nhớ tại sao ba mẹ chết không?
– Dạ, bị xe tông… con cũng có đi trên xe, nhưng bị văng xuống vũng bùn, thoát chết!
– Tội nghiệp con quá… Thôi từ nay biết nhà bác rồi, có chuyện gì cứ gọi nhé… nhất là khi ông ta đánh cháu…
– Cháu có kinh nghiệm rồi, khi nào say ổng mới đánh… thì cháu chạy!
– Bộ say là có quyền đánh người à!
Rồi Thúy đùa:
– Bác tới bác “xổ” tiếng Việt… là ổng sợ ngay!
Văn nhìn Thúy nghi ngờ:
– Em tính nói gì mà chả sợ?
– Nói… a… nói…. Mà chưa tới lúc, khi nào gặp chuyện em sẽ nghĩ ra ngay!
– Hay quá há! Coi chừng chả còn đục em luôn là khác!
– Còn khuya!
– Lucky à, nếu con muốn bác sẽ lên sở xã hội khiếu nại cho con.
– Thôi bác, con thương má nuôi…
– Thương cái gì! tối ngày mê bài bạc bỏ đói con là không được rồi!
– Má có mua bánh mì, sữa và bơ đậu phọng cho con mà bác…
– Đến bữa phải nấu ăn đàng hoàng chứ! Chẳng lẽ ngày nào con cũng ở nhà một mình ăn mấy thứ đó à!
– Con ăn cũng được… má con buồn mới bị vậy! Tội nghiệp má con lắm… bả cũng ăn như con vậy!
– Tội nghiệp cái gì! Đúng là cháu đa sầu đa cảm…
– Tại cháu mà má mới bị chồng bỏ! Nhiều khi má con cũng đi kiếm việc làm mà đâu có ai nhận! Con còn thấy ban đêm má khóc nữa đó bác!
– Thiệt hông đó nhóc?
– Dạ thiệt! Có lúc con nói “hay là trả con lại cho chính phủ” thì má không chịu, ôm chặt lấy con… má nói “sorry”!
Nghe thằng nhỏ nói, Thúy thấy hơi khó hiểu! Ngưòi đàn bà đó thật sự như thế nào? Khi ai nấy đều cảm thấy no, Thúy còn ép:
– Ăn cho no đi rồi còn có bánh cup cake nữa đó…
Lucky nhìn thức ăn trên bàn, rụt rè:
– Còn nhiều quá, cho con một ít đem về được không bác?
– Được chứ, con để dành mai ăn hả?
– Dạ không, con cho má nuôi…
Thúy tròn mắt:
– Cái gì, cho má nuôi?
– Dạ, được không bác… con thấy “non” lắm….
Thúy còn chần chừ thì Văn trả lời:
– Dĩ nhiên… nhà bác có hộp nhiều lắm.
Quay qua Thúy, Văn nói:
– Thằng bé nầy có hiếu, rất tốt.
Vào bếp, bưng đĩa bánh cho hai nhóc, Thúy lấy hai cái hộp, một đựng chả giò và bún, một đựng rau và chai nước mắm nhỏ. Bỏ vào cẩn thận trong bọc ny long, Thúy còn lấy thêm cho Lucky chục cái bánh cup-cake:
– Khi nào muốn ăn cái gì “non”, nhớ nói Bíbo, bác sẽ nấu cho cháu ăn. OK.
– Cám ơn bác.
Hai đứa trẻ ăn xong kéo nhau vào phòng chơi game. Thúy vừa thu dọn vừa ngẫm nghĩ, không hiểu sao thằng bé lại có vẻ binh vực cho má nuôi, chắc có lẽ nó ở với bà ta cũng lâu, nên quen rồi!
Buổi tối, lẽ ra Văn chở Lucky về nhà, nhưng Thúy lại muốn làm việc nầy, vì nàng muốn nhìn tận mắt xem bà ta ra sao… để còn can thiệp vào việc thằng bé.
Thấy trong nhà đèn sáng, Lucky reo lên:
– Má có nhà.
– Bác vô “say hi” với má cháu.
Mở cửa, Thúy thấy trước mắt mình là một người đàn bà mắt xanh tóc vàng dáng mảnh mai, vóc người nhỏ nhắn như phụ nữ Á Châu. Lucky nhìn bà:
– Má, đây là mẹ của Bíbo, bạn con…
– Chào bà…
– Hôm nay tôi làm chả giò cho cháu ăn, nhân tiện chở cháu về… xin phép bà cho cháu thỉnh thoảng đến nhà tôi chơi và ngủ lại một đêm với con tôi…
Trái với lời mô tả của Bíbo, bà má nuôi mau mắn:
– Được chứ, cám ơn bà đã lo cho cháu hôm nay…
Nhìn những bao bị cầm về với ánh mắt dò hỏi, nghe Lucky giải thích, bà nhìn Thúy với đôi mắt xanh cảm động, mời Thúy ngồi chơi uống nước.
Qua câu chuyện, Thúy mới biết bà thường hay đi xin việc nhưng đều bị khước từ vì thành tích “đi trễ” ghi từ chỗ làm cũ! Những lần như thế, bà buồn leo lên xe bus để tới sòng bài hy vọng kéo máy trúng, cũng như được phiếu bữa ăn “free” từ những cơ sở thương mại muốn quảng cáo cho hãng mình…
Bà đi để tìm quên và được ăn ngon, chứ chưa đánh bài đam mê như những tay chơi khác! Bà cảm thấy có lỗi đã để thằng con một mình trong thời gian nầy… Có Bíbo để chơi là bà rất cám ơn…
– “Boy friend” của tôi người Việt, anh ta uống rượu vào hay đánh thằng nhỏ… nên tôi đã chia tay rồi! Thú thực với bà là tôi thương Lucky như con ruột của tôi… tôi đang cố gắng tìm cho ra một việc làm để có tiền lo cho hai mẹ con… ngày xưa tôi nhận nuôi nó vì thấy mặt nó là tôi thương ngay…
Những lời má nuôi của Lucky nói rất chân tình. Bà ta cũng cố tìm việc làm chứ không phải là tối ngày cứ đi đánh bài như thiên hạ tưởng…
Chuyện mới đó mà giờ hai bên đã trở nên thân thiết. Hôm nay nhân dịp Lễ tạ Ơn, Thúy mời mẹ con Lucky đến ăn tiệc gia đình, và nhân tiện thông báo cho họ một tin vui, rất vui… Mọi việc nàng chuẩn bị cũng gần xong.
Có tiếng chuông cửa dồn dập và cha con nhà nó ló mặt vào:
– Anh biết em cần cha con anh ở nhà để phụ… nhưng anh phải đi dự buổi ra mắt sách chút xíu, rồi còn mua thêm nước đá cho em…
– Anh đi được rồi, lôi thằng Bíbo theo làm chi?
– Cho nó gặp đồng hương cho quen…
Thúy trề môi, “nhà thơ” nói cái gì nghe cũng có lý hết! Nàng cũng cần nước đá thiệt! Thôi không bực mình nữa cho đời nó vui.
Mẹ con Lucky đến với bó hoa trên tay. Hôm nay mẹ nó diện thật đẹp với mái tóc vàng óng ả buông xõa sau lưng, trông trẻ hơn nhiều so với lần trước Thúy gặp ở nhà. Cứ nhìn ánh mắt của chồng là Thúy thấy mình nghĩ không sai…
– “Kệ, cho ổng rửa mắt “địa gái” một chút cũng không sao… thế nào cũng có vô số ý thơ tuôn tràn rồi đây”!
Đàn bà đúng là “chỉ xấu khi không biết làm đẹp”! Mình mà xoã tóc chắc cũng làm “đắm đuối” đàn ông! Với ý nghĩ đó, Thúy cười cùng má Lucky:
– Chị ơi, tôi có hỏi xếp của tôi, ổng nói chị cứ đem “resume” tới, ổng sẽ nhận vì đang cần người…
Nghe Thúy nói, ai nấy đều cảm thấy phấn khởi, vui nhất là thằng Lucky. Nó lật đật đứng lên trịnh trọng, khoanh tay nhìn Thúy với ánh mắt chân thành:
– Cám ơn bác…
Mẹ Lucky cũng nói theo bằng tiếng Việt như thằng con:
– Cám ơn rất nhiều…
Trên bàn ăn, buổi tiệc tiếp tục diễn ra với sự hân hoan và nồng ấm của mọi người. Riêng Thúy, nàng cảm thấy mình đã làm một việc có lý, tâm hồn nàng cảm động xen lẫn vui vẻ và tâm tư bồi hồi… “Cám ơn Thượng Đế”…
Diễm Châu

VÔ ĐỊNH

trantuan

Có những lúc thấy quanh mình hiu quạnh
Rượu trong ly đắng nghét, chẳng thơm nồng
Nỗi ớn lạnh dụ xác thân thiền định
Hồn hoang đàng nghịch ngợm trốn đi rong

Rừng thay lá nên đang mùa đạo đức
Các triết gia cặm cụi cuộc bao đồng
Ngu ngơ quá nên hồn thơ bối rối
Dấn thân rồi đành chấp nhận lưu vong…

Đời trí trá mà thơ thì mông muội
Mãi loay hoay tím mấy lượt phong trần
Ngây thơ đoản đi hoài mà chưa tận
Ngược tìm về thân xác đã phù vân…

Không chỗ trú nên thơ buồn lây lất
Hoang hoải, dật dờ, quờ quạng kiếm tìm nhau
Như mình đã nguyện răng long, đầu bạc
Vẫn trẻ con để bục phát càu nhàu…

Rồi đến lúc nghe nguồn sinh lực cạn
Gom hết ăn năn thừa kế cho đời…
Khối di sản vẹn nguyên… vô định
Tình là gì mà khổ vậy ? Người ơi !

Trần Tuấn

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Chúng tôi là những cứu tinh”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

HAROLD J. MURPHY
(Thợ mộc, thủy thủ tàu Greenville Victory)
“Chúng tôi là những cứu tinh”

Vào năm 1975 tôi lại nghe biển cả thôi thúc. Tiếng réo gọi của biển đôi lúc vọng về. Ông ạ, nếu ông có thân quyến hoặc bạn bè đi biển, ông sẽ hiểu điều tôi muốn nói. Tôi đã nghe tiếng biển khơi réo gọi từ khi còn trẻ, cho nên chẳng bao giờ có thể ngừng đi. Có kẻ nào đi biển – khi đã lên đất liền – mà lại không nghĩ đến chuyện trở về với biển đâu?

Cho nên năm ấy, tôi đi Nữu ước. Ở đó, trên chiếc tàu Greenville Victory người ta đang thiếu một chân thợ mộc. Thế đấy. Tôi lại ra khơi trên chiếc tàu Greenville Victory với tư cách là một bác phó mộc. Chúng tôi sang bờ biển miền Tây, đến Port Chicago, chất một chuyến vũ khí
đạn dược, rồi vượt sóng đại dương đến vịnh Cam Ranh và Đà Nẵng.

Bấy giờ, người Việt Nam không hiểu rõ tình hình đã tệ hại đến mức nào. Tôi chắc chắn như vậy. Chúng tôi cũng không biết trời trăng gì hơn. Nói cho đúng, chúng tôi biết tình hình rất xấu, đất nước này chẳng tồn tại được lâu. Tuy nhiên tôi nghĩ là không có ai biết được việc đổ vỡ đã xảy ra nhanh chóng đến như thế.

Đầu tiên, chúng tôi cho tàu đến Vịnh Cam Ranh, rồi đến Đà Nẵng. Đà Nẵng lúc ấy căng thẳng. Người ta đã cảm thấy được có chuyện sắp xảy ra. Địch quân thường cho người nhái lội đến gài mìn, người ta phải để hàng thùng lựu đạn trên tàu. Cứ khoảng năm mươi bộ Anh lại để một thùng, thỉnh thoảng liệng xuống nước vài trái phòng ngừa.

Chúng tôi đến Thái Lan, chất một mớ hàng quân dụng, rồi quay về Mỹ. Nhưng vừa cập bến, mọi chuyện đã bùng ra. Người ta yêu cầu tàu quay lại Việt Nam. Bấy giờ nhằm ngày chủ nhật, lễ Phục Sinh, khoảng cuối tháng ba, chúng tôi được yêu cầu đi Đà Nẵng. Họ bảo đi giải cứu những người sống sót.

Lúc ấy, chúng tôi đã hiểu những gì đang xảy ra. Hiệp Chủng Quốc đã rút quân khỏi Việt Nam từ một, hai năm trước. Tôi hiểu người miền Nam Việt Nam đang lôi thôi to. Chúng ta đã gây nhiều tệ hại cho họ, tôi cảm thấy có mặc cảm phạm tội về chuyện này.

Địa điểm đầu tiên tàu vào lần này cũng là Cam Ranh. Chúng tôi bốc người tại bến tàu, nhưng việc bốc người trở nên hỗn loạn nên chúng tôi phải đưa tàu ra ngoài bỏ neo. Tại đây, người ta dùng thuyền nhỏ bơi ra, chúng tôi bốc họ lên. Những người ấy sinh sống trên những con thuyền, ông có hiểu không, nhiều người đã đem theo tất cả của cải. Nhưng tất nhiên làm sao chúng tôi có thể bốc lên tất cả mọi thứ, ngoại trừ người, một ít đồ ăn, và những chiếc xe Honda 50 phân khối be bé của họ. Những chiếc xe này, chúng tôi cho phép họ đem theo, cũng chẳng rõ đã chở đi tất cả bao nhiêu chiếc.

Thôi thì đủ loại người: thường dân, đàn bà, con trẻ, nhà binh, mấy người này hiển nhiên đang tháo chạy, chúng tôi phải cố mọi cách tước khí giới, không thể để cho họ giữ đủ các thứ vũ khí lung tung trên tàu được. Chúng tôi làm việc cật lực, nhưng ông phải có mặt ở đấy mới thấy, tình trạng hết sức hỗn loạn xô bồ. Chúng tôi sử dụng mọi phương tiện bốc họ vào tàu: nào trục từ bên thành tàu, nào câu họ vào bằng lưới bốc hàng. Chúng tôi bốc người như bốc hàng hoá, họ cứ đeo nhau, len lấn mà lên tàu.

Chúng tôi tìm cách tước khí giới họ bằng mọi giá – súng trường, súng lục, lựu đạn, đủ thứ vũ khí chất đầy một phòng, mà vẫn còn sót, không lấy được hết.

Trên chuyến tàu này, chúng tôi chở khoảng mười ngàn con người. Ông nhớ cho, đây là chiếc Victory, dài 500 bộ Anh. Tàu chở đạn trọng tải chín, mười ngàn tấn, với 5 năm khoang chở hàng. Cứ thế chúng tôi nhét họ vào như nhét hàng. Chỗ nào cũng là người. Ngay trên mấy tàu cấp cứu cũng đầy người.

Chúng tôi cố ngăn không cho họ vào khoang chính trong lòng tàu, là khu vực thủy thủ làm việc. Ấy thế mà người ta vẫn tràn vào. Mặt khác, chúng tôi cố lo cho họ đồ ăn thức uống, nhưng số người đông quá sức. Chúng tôi chỉ có thể lo liệu được trong khả năng thôi. Chúng tôi – ít nhất, chính bản thân tôi – đã cảm thấy cần phải chuộc lỗi chút đỉnh với họ về những chuyện tệ hại chúng ta đã gây ra. Đúng thế, chúng ta đã gây nhiều tệ hại cho họ. Đáng lẽ ngay từ đầu, chúng ta đừng nên đến đất nước ấy, có lẽ như thế, nhưng khi đã đến đấy rồi thì cần phải xử sự cho đúng đắn. Nhưng không, chúng ta đã bỏ rơi họ và nói rằng: “Đấy, bây giờ các anh tự làm lấy mọi thứ đi.” Và họ làm sao có khả năng làm chuyện ấy?

Trên tàu không thực phẩm, không nước uống, không cả tiện nghi vệ sinh. Xin ông bỏ lỗi, mười ngàn con người, ông thử tưởng tượng xem? Tàu không có đồ ăn, nhưng họ có mang gạo – với máy lọc nước, tàu chỉ có thể cung cấp chừng mười lăm tấn nước ngọt mỗi ngày, nhưng họ đã dùng đến ba mươi tấn.

Chúng tôi tìm cách bắt vòi rồng, chạy bơm nước cứu hỏa để ít ra người ta có thể tắm gội bằng nước biển, và để chùi dội những thứ họ bài tiết trên khoang tàu. Tình trạng hết sức tệ.

Những khoang chứa có lót ván gỗ để bảo vệ đạn dược, người ta phá vách tháo gỗ ra chụm lửa thổi cơm. Còn nói gì nữa, hỏa hoạn phải xảy ra thôi. Có nhiều vụ cháy chúng tôi bở hơi tai mới dập tắt được. Sau chúng tôi cho cắt đôi các thùng sắt đựng dầu loại 50 ga-lông, chúng tôi cho họ dụng cụ tháo gỗ và chẻ củi cho tử tế, rồi dùng các thùng sắt này làm bếp nấu cơm để tránh xảy ra hỏa hoạn.

Ông ạ, lối vào Vịnh Cam Ranh bao quanh bởi những vách đá cao có đặt đại liên 105 ly. Chúng tôi lo, chẳng biết các họng súng này có nhả đạn vào chúng tôi không. Nhưng may mắn, lúc bốc lên tàu đủ số người có thể chở được rồi, thì một trận mưa gió mù mịt nổi lên. Không ai còn có thể nhìn thấy gì nữa. Chính trận mưa gió mù mịt này đã che chở cho tàu ra khơi.

Bấy giờ hạm đội ở cả bên ngoài. Có lệnh không được vào gần bờ ba mươi hải lý, nên họ ở cả ngoài khơi, nhưng tất nhiên chúng tôi liên lạc với họ bằng vô tuyến để nhận lệnh chỉ huy từ hải quân. Thủy thủ đoàn chúng tôi đều là dân sự, nhưng tàu là của hải quân.

Họ bảo chúng tôi đưa người tỵ nạn đến một hòn đảo, tên là đảo “Phú Quốc,” hòn đảo này nằm ở ngoài khơi giữa biên giới Việt Nam và Cam Bốt. Tôi nhớ hải trình mất đến hai hay ba ngày. Khi đến đảo, chúng tôi thả neo, định cho người xuống, rồi trở lại xem có thể giúp thêm một số người khác chăng. Nhưng họ từ chối không ra khỏi tàu.

Mấy chiếc xuồng đổ bộ đáng lẽ phải ra đưa người vào, nhưng xuồng không thấy ra. Cho nên chúng tôi cứ bỏ neo chờ, chừng đâu một ngày thì phải. Người tỵ nạn trở nên bứt rứt bực bội. Sau cùng, họ đưa một phái đoàn đến tận phòng lái. Về chuyện này, tôi nhớ là vì về sau thuyền trưởng Ray Iacobacci cứ bảo ông ta may mắn lắm mới sống sót. Phái đoàn gồm có một ông cha Công giáo, một số đại diện những người trên tàu. Những đòi hỏi họ đưa ra là chúng tôi phải rời vùng ấy ngay tức khắc. Họ sẽ không lên bờ. Họ bảo, điều thứ nhất, Phú Quốc nguyên là chỗ đi đày, nghe như thế họ đã không thích rồi. Điều thứ hai, lỡ Cộng sản đến, họ mắc kẹt. Chẳng có lối nào thoát ra khỏi đảo, cứ ở đấy thì sẽ trở thành những cái tử thi thôi.

Tiếp theo, họ bảo họ có vũ khí, có chất nổ trong tay – đủ sức phá tung chiếc tàu. Nếu chúng tôi không chịu rời đi ngay, họ sẽ làm đúng y chang những lời họ nói. Họ mang theo một bản đồ hải hành. Chúng tôi hỏi thế họ muốn đi đâu. Họ chỉ “Vũng Tàu.” Đó là một cái cảng ở ngay cửa sông dẫn đến Sàigòn. Trong tình thế ấy, tất nhiên quyết định tối hậu phải là: “Khôn hồn đi quách khỏi nơi đây.”

Phải nói tôi có cảm tình với những người này. Tôi không trách họ, nếu ở hoàn cảnh ấy, tôi cũng làm thế thôi. Cho nên khi thuyền trưởng hỏi: “Phải làm gì bây giờ?” Tôi bảo: “Kệ xác. Nhổ neo đi quách khỏi nơi đây.” Thật giản dị. Tôi nghĩ mọi người đã hiểu rõ những gì họ nói. Ớ góc đảo ấy, lấy đâu ra lối thoát?

Bấy giờ, ông hiểu không, tôi biết họ nói là họ làm. Tôi không ngờ vực gì chuyện họ dọa nổ chìm tàu. Họ sẽ làm đúng điều họ nói. Thế mà, ông hiểu không, suốt lúc ấy tôi không hề cảm thấy một nỗi hiểm nguy nào cho tính mạng tôi cả.

Họ không hề dọa dẫm bất cứ một cá nhân nào trong thủy thủ đoàn. Ô, thưa ông không. Chúng tôi chính là những cứu tinh của họ.

Thế đấy, chúng tôi đã rời đảo Phú Quốc quay lại Vũng Tàu. Tôi quên mất tổng cộng số thời gian ở trên tàu bao lâu, nhưng ít nhất phải năm ngày trời. Năm ngày ròng rã không thức ăn nước uống gì trên tàu cả.

Cập đến Vũng Tàu, sau rốt chúng tôi thả hết được họ xuống. Xuồng đổ bộ chạy ra, đưa tất cả những người trên tàu vào đất liền. Chúng tôi bèn cho tàu ngược dòng sông, đến Sàigòn chùi rửa. Chuyện này thì hết chỗ nói.

Trong suốt tác vụ, chỉ thiệt một nhân mạng. Lúc bốc người từ thuyền vào tàu, một đứa bé rơi xuống biển, giữa khoảng cách của thuyền và tàu, không ngoi lên được nữa. Đó là thiệt hại nhân mạng duy nhất. Tuy nhiên trong thực tế, nhân số lại sinh sôi, bởi lẽ đã có hai đứa trẻ ra đời ở trên tàu.

Khi quốc gia này mất, chúng tôi vẫn còn ở Vũng Tàu. Tại đây, chúng tôi nhìn thấy trực thăng từ toà đại sứ bay qua, chúng tôi hiểu mọi sự đến lúc cáo chung rồi. Lúc ấy, sự rối loạn hỗn độn lại bục ra. Hàng ngàn chiếc tàu: tàu lớn, tàu nhỏ, ghe thuyền đủ thứ đủ loại chạy túa ra. Chúng tôi bốc người lên tàu đa số bằng cách thả lưới bốc hàng. Trước khi rời thuyền, họ đục lỗ ở thùng xăng, châm lửa để Cộng sản không lấy được thuyền của họ. Cả một khu vực trên mặt biển lúc ấy đầy những ghe thuyền tàu bè bốc cháy. Những ghe thuyền này đều là nhà của họ. Thật đáng buồn khi nhìn người ta tự thiêu đốt chính căn nhà của mình.

Với những gì đã xảy ra, với những gì tất cả những con người này phải trải qua, nếu là trường hợp người Mỹ, tôi nghĩ người ta đã hoá điên hết mất thôi. Họ châm lửa đốt nhà cửa của cải. Họ không thể đem đi theo bất cứ một thứ gì.

Tàu chúng tôi lúc ấy chốc chốc phải di chuyển, vì lẽ họ kéo đến đông quá. Với bấy nhiêu ngàn con người, chúng tôi còn có thể làm gì được. Thỉnh thoảng, chúng tôi cho tàu ra chừng một hải lý, rồi lại quay trở vào, cứ thế vài lần. Chúng tôi đánh chìm mất một thuyền tỵ nạn, vì chân vịt của tàu chặt xuống trong lúc lùi. Bấy giờ là một lúc hoàn toàn rối rắm. Chúng tôi tiếp tục bốc và chất người lên tàu trong tình trạng như thế cho đến tối mịt thì đầy. Chúng tôi chở số người ấy nhắm hướng đến Vịnh Subic ở Phi Luật Tân. Chúng tôi không gặp khó khăn nào. Chúng tôi đã cố tịch thu vũ khí càng nhiều càng tốt. Một số vũ khí được giữ lại trên tàu, hàng ngàn món vũ khí khác cứ thế liệng xuống lòng biển.

Vì người ta mong muốn ra đi, nên họ đã hết lòng cộng tác với chúng tôi – Tất cả những người trên tàu làm được gì, họ làm nấy – Bất kể việc gì cần, họ làm, từ bồng bế di chuyển trẻ qua những đường cầu tàu: Vô số trẻ con, trẻ sơ sinh đã phải chuyển dần từ người này qua người khác dọc theo đường từ mũi đến lái.

Toàn bộ thủy thủ đoàn nỗ lực tham dự mọi việc trăm phần trăm. Những việc này, tất nhiên mang nhiều ý nghĩa hơn là việc khiêng vác chuyên chở đạn dược. Những con người này đang gặp hoàn cảnh cực kỳ bi đát khốn cùng. Cuộc sống của họ treo trên chỉ mành, và chúng tôi là tất cả mối hy vọng duy nhất để giúp họ rời khỏi xứ. Trong nhãn quan của người miền Bắc, họ là những cảm tình viên của người Mỹ, họ là những người cộng tác với Mỹ, họ là “Ngụy”. Chúng ta là kẻ thù của Cộng sản, họ là những người đã cộng tác với chúng ta. Điều này đây chính là một bản án tử hình cho họ.

Suốt hải trình đi Subic, không nhân mạng nào mất mát. Chưa kể lại thêm một chú bé ra đời, tăng nhân số người tỵ nạn lên trong chuyến đi.

Chuyến này chúng tôi chuẩn bị chu đáo hơn chuyến trước. Khi ghé Sàigòn, nhiều cơ quan cứu trợ đã tiếp tế lên tàu hàng tấn thực phẩm. Chúng tôi đã chu đáo tổ chức những khu nấu cơm, cung cấp cho họ những cái bếp ba chân để chụm lửa. Chuyến thứ nhất, quả thực chúng tôi không hề rõ những gì sẽ xảy ra. Bấy giờ chỉ biết: Đi, đi xem có thể giải cứu gì một số người tỵ nạn chăng.

Những người tỵ nạn xét ra là những người rất thân thiện. Tương đối so với tất cả những gì đã xảy ra, những gì họ đã phải trải qua, họ là những con người tuyệt diệu – và quá sức là đông. Chỗ nào cũng là – người. Mỗi lần tôi đi từ giữa tàu đến mũi tàu là phải đi ngang đám người đông đảo ấy, họ đều dãn ra hai bên nhường lối cho tôi qua. Mỗi một phân vuông trên tàu đều chen chúc toàn người là người.

Tại Vịnh Subic, một hòn đảo được sử dụng làm khu tạm ngừng – Mọi người đều được đưa đến đảo ấy, tôi đoán mục đích để kiểm chứng tên tuổi, căn cước và thiết lập hồ sơ, nên tất cả đều phải chờ ở đây. Thủy thủ đoàn chúng tôi cũng đều phải ở lại Vịnh Subic một hoặc hai tháng dự phòng trường hợp chúng tôi cần đưa họ sang Guam, là khu vực tạm cư chính. Nhưng sau đó người ta không cần chúng tôi làm công tác ấy nữa. Đa số người tỵ nạn được đưa sang Guam bằng máy bay, nhưng chúng tôi vẫn cứ nán lại suốt thời gian ấy để dự phòng.

Tôi nghĩ chúng tôi đã thi hành công tác này một cách tốt đẹp. Chúng tôi đã đưa đi được mười tám ngàn người. Thật ra, ước chi chúng tôi có thể đưa đi được nhiều hơn nữa.

Sau khi rời Vịnh Subic, tàu chúng tôi vượt biển về Mỹ, đến thành phố Mobile ở tiểu bang Alabama. Tại thành phố này, người ta đã dành cho chúng tôi một cuộc tiếp đón hết sức trọng thể. Thị trưởng và tất cả dân chúng trong thành phố đã ùa ra nghênh đón với ban nhạc kèn đồng, và nhiều thứ tốt đẹp khác, chắc ông cũng biết. Mỗi chúng tôi đều nhận được một tấm giấy, họ nói cảm ơn chúng tôi đã làm việc tốt, cử chỉ này thực là khả ái.

Ông ạ, có nhiều việc sau khi làm rồi thì người ta mới kiếm cách giải thích, chứ thực ra trước đó có nghĩ gì đâu? Bấy giờ đối với chúng tôi mọi chuyện giản dị hết sức: “Đó, người ta đầy ra đó. Bốc họ đi khỏi chỗ ấy ngay!” Thế là xông vào làm thôi, những lúc ấy, kích thích tố trong cơ thể dâng lên làm cho người ta hăng hái, người ta xắn áo, bắt tay vào việc thôi. Bọn đi biển kỳ khôi lắm, ông biết đấy. Việc gì cần làm, họ làm gọn. Họ là những người rất tốt, những người tốt nhất đời mà tôi được biết. Họ luôn luôn làm tròn công việc của họ. Đây là tôi nói bọn đi biển chuyên nghiệp, chứ không nói về bọn nhà binh. Bọn đi biển chuyên nghiệp làm gấp mười bọn nhà binh. Ông thấy chiếc tàu Greenville Victory đấy, chiếc tàu trọng tải mười ngàn tấn mà thủy thủ đoàn chỉ cần có ba mươi tám mạng. Nếu là tàu hải quân, họ phải xài ba trăm năm mươi thủy thủ là ít. Bọn tôi là bọn đi biển chuyên nghiệp, nó khác, bao giờ tôi cũng hãnh diện mà nói như thế, thưa ông.

Từ sau những chuyến đi ấy đến nay, thật đáng tiếc là tôi chưa hề có dịp gặp lại một người tỵ nạn Việt Nam nào từng ở trên chiếc tàu chúng tôi đã đưa đi.

Tôi vẫn ao ước phải chi tôi có giữ được tên của một trong những người ấy mà gặp gỡ chuyện trò, bất cứ người Việt Nam nào đã đi trên chiếc tàu Greenville Victory năm ấy mà nay đã đến Mỹ định cư.

Cách đây chẳng lâu, tôi có dịp đọc nhật trình cũng thấy nói về cộng đồng Việt Nam bên miền Tây. Báo chí nói họ được thành công, nhiều người đã khá lắm. Họ là những người chăm chỉ, những người tốt đấy. Họ chịu khó làm việc cực nhọc chớ không chịu ăn trợ cấp, họ luôn luôn cố gắng làm việc để nuôi con cái ăn học. Gần đây, tôi còn nghe nói có một người Việt đã đỗ cả thủ khoa trường võ bị. Người Việt Nam là những người rất thông minh, chăm chỉ. Tôi đã ở Viễn Đông khá lâu, với những kinh nghiệm trải qua ở Việt Nam, tôi hiểu những người Việt Nam như thế nào.

Còn mấy đứa con tôi, đứa ba mươi bảy, đứa ba mươi lăm, đứa ba mươi ba, một thằng cháu nội đã mười lăm tuổi đầu. Khi tôi về, kể chuyện chúng ta đã bỏ rơi dân tộc ấy, chẳng đứa nào buồn hỏi câu gì. Không đứa nào hỏi một câu, ví dụ quan niệm tôi thế nào, chúng ta có nên rút đi và bỏ lại những người ấy hay không?

Những buồn tiếc không thể kể hết được, ông ạ. Khi tôi nhìn vào mắt những người Việt Nam lúc ấy, tôi cảm thấy một cách sâu xa cái câu hỏi chứa đựng trong lúc họ ngước nhìn: “Tại sao bỏ rơi chúng tôi? Tại sao người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi?” Các cặp mắt ấy không hề tỏ lộ oán thù. Những cặp mắt ấy chỉ như mắt đứa bé con ngước nhìn cha mà hỏi: “Bố ơi, tại sao bố lại đánh con?” (!)

Người Việt Nam là những người tuyệt diệu. Tôi yêu mến họ lắm. Tôi ước chi tôi có thể mang hết tất cả người Việt ra đi. Nhưng tất nhiên, tốt hơn nữa, tôi ước chi đã không để xảy ra những lý do làm cho họ cần phải ra đi. Đáng lẽ, họ không phải bỏ xứ ra đi.

CHO NGÀY NỖI NHỚ KHÔNG TRỞ LẠI

phuonguy

em nhặt mùa thu trên cánh lá
có gì ở đó không?
chỉ mùa qua trong lòng người rất thật
gió lùa qua lá nao lòng

em gọi mùa thu về rối tóc
ngày buồn như cánh chiêm bao
cơn mưa xanh non không chờ đợi
thản nhiên ngó trắng mùa rằm

đêm vỡ từng mảnh trong lòng tay
rưng rưng gió ngày áp thấp
phiến dương cầm loang dài
nụ cười buồn đẫm mưa mùa trước.

em vẽ mùa thu màu mực nước
nỗi đau lộng lẫy bàn tay
mảnh thời gian màu tàn thuốc
cuồng dại xóa trắng ngày

đêm tan từng sợi trên màu mắt
sáng nay rớt xuống hiên nhà
nỗi nhớ có hóa thành nhánh khói
về tạ tội với mùa qua?

Hoàng Phương Uy

Bóng Đổ Chiều Trôi

lephuhai

Mùa hè năm 2011 anh tôi gả chồng cho con gái. Vì nó là đứa con gái duy nhất của gia đình nên anh tôi muốn sự có mặt đầy đủ của hai bên họ hàng nội ngoại. Cẩn thận hơn anh tôi chọn ngày cưới rơi vào thứ bảy và chủ nhật, lại là ngày 30 tháng tư, sẽ không ai có cớ bận việc để chối từ. Nói đến ngày 30 tháng tư thì chắc ai cũng biết, ở VN đây là ngày lễ kỷ niệm trọng thể, mọi người đều được nghỉ làm việc trong ngày này. Nếu ngày lễ trúng vào thứ bảy hay chủ nhật thì sẽ được nghỉ bù vào ngày trước hoặc sau đó. Chị dâu tôi quê ở Sài Gòn nên phần lớn anh chị em sinh sống nơi đây. Họ bàn nhau hùn tiền thuê nguyên chiếc xe ca để về quê dự đám cưới. Đoạn đường từ Sài Gòn về Nha Trang khá xa, xe đi nhanh cũng phải mất gần mười tiếng đồng hồ, mọi người bàn nhau nên đi buổi tối để tiết kiệm thời gian. Mấy năm nay tôi sinh sống ở Sài Gòn nên cũng đóng tiền tham gia cùng đi cho tiện. Mọi người đi cả gia đình, riêng tôi chỉ đi mình ên…

Nói anh tôi ở Nha Trang là nói cho dễ hình dung hoặc cho “oai” chứ thật ra gia đình anh tôi ở tại xã Diên Xuân thuộc huyện Diên Khánh, cách thành phố Nha Trang gần ba mươi cây số về hướng tây, cách ngả ba Thành gần hai mươi cây số. Tên thường gọi nơi đây là Đất Sét, nguyên trước kia là vùng “kinh tế mới” mà năm 1976, sau khi “cải tạo” về anh tôi và vợ con bị cưỡng bức lên đây lập nghiệp. Dĩ nhiên ngày đó cảnh vật còn hoang vu nhưng giờ đây đã đông vui lắm rồi. Sinh hoạt bán buôn, quán xá cũng nhộn nhịp không khác gì một thị trấn nhỏ…

Sau đám cưới mọi người bàn nhau trên đường về sẽ ghé lại biển Nha Trang chơi trong khi chờ chiều tối đi về lại Sài Gòn cho mát mẽ. Tôi chẳng có ý kiến vì Nha Trang đối với tôi có xa lạ gì đâu. Tôi sinh ra, lớn lên và ăn học tại đây cho đến khi mười tám tuổi mà… Chiếc xe ca dừng lại chợ Đầm cho mọi người đi chợ trước khi chạy ra hướng biển. Biển cũng như xưa, đường cũng như xưa, chỉ khác là có thêm khá nhiều tòa nhà bê tông cốt thép và hè đường toàn lát gạch xi măng. Nhìn phía biển thấy lác đác mấy cây dừa, và hàng dương ngày xưa bây giờ già ngơ già ngắc, thân xù xì vặn vẹo như ông già hết gân. Chỉ có biển và mấy hòn đảo phía xa xa là hoàn toàn không thay đổi, lặng lẽ và im lặng… Xe chở chúng tôi ngừng ngay bờ biển cạnh đường Nguyễn Tri Phương. Mọi người vội vả chui vào mấy gốc dương tránh nắng và lần lượt bày biện thức ăn, đồ uống. Lũ trẻ con lâu ngày được nhìn thấy biển vui mừng chạy nhảy reo hò inh ỏi. Mà không chỉ chúng tôi, chung quanh còn có khá đông du khách. Nhìn để đoán thì thấy có kẻ ở thôn quê ra, người tỉnh xa mới đến. Ai cũng vui vẻ và hài lòng, vì lúc này đang là dịp cuối tuần và nghỉ lễ.

Đã ba giờ chiều mà trời vẫn còn rất nắng. Mặt trời ở đằng tây chiếu xiên qua các tòa nhà đổ bóng xuống đường Duy Tân dọc bờ biển. Từng nhóm người dưới mỗi gốc cây vẫn còn túm tụm nhau ăn uống chuyện trò rôm rả, giấy báo và bịch ny lông bay khắp chung quanh. Có cả những lon bia rỗng nằm lăn lốc. Loáng thoáng thấy có bóng áo xanh của mấy người đàn bà lao công đang quét dọn. Tôi đưa mắt nhìn ra phía biển, nắng nhuộm vàng cả bãi cát kéo dài. Tự nhiên tôi để ý đến mấy ki ốt lợp tranh lá mọc lên chênh chếch chỗ tôi ngồi. Có cả những chiếc giường gỗ be bé, trên có mấy người đang nằm đọc sách. Ủa, cảnh này thấy quen quen, giống như ở mấy cái resort trong Mũi Né mà tôi có qua lại mấy lần. Có cả mấy ông Tây bà Đầm đang ngồi phơi nắng. Thỉnh thoảng lại thấy có anh bồi đeo cà vạt cẩn thận dắt vài ba người khách ngoại quốc ở trần băng qua đường Duy Tân từ một tòa nhà lớn phía đối diện. Họ đang đến với khu vực “resort” mà tôi quan sát nảy giờ. Chuyển cái tò mò sang tòa cao ốc, tôi ngước nhìn lên cao. Hàng chữ hotel Sheraton thật to phía trên tòa nhà hiện ra mà khi mới đến tôi chưa kịp nhìn thấy. Cái tên cũng quen quen, có lẽ cái hotel này cũng có “bà con” gì đó với khách sạn Sheraton ở Sài Gòn thì phải? Toàn bộ khu vực tòa nhà nằm ngay góc đường Duy Tân và Nguyễn Tri Phương. Nhớ rồi! Khu vực này sau biến cố bảy lăm là cửa hàng ăn uống, còn trước đó hình như là một cơ quan gì đó của người Mỹ tôi không nhớ rõ. Nhưng có hề chi, dù là gì đi nữa miễn là nó phục vụ cho con người là tốt rồi. Điều ngạc nhiên ở đây là vấn đề “sở hữu”. Không biết có luật lệ nào qui định hay không nhưng có vẻ như hotel Sheraton sở hữu luôn cả khu vực bãi biển phía trước nó. Tuy không có một sợi dây nào giăng ra nhưng nhìn vào ai cũng thấy bờ biển ngay trước mặt tòa nhà là thuộc quyền riêng tư, không lấn thêm hay hẹp hơn dù chỉ một mét. Chỉ khác ở chỗ các khu resort Mũi Né nằm sát trên bờ cát, việc dành riêng bãi tắm tiếp nối ngay đó không làm mình ngạc nhiên hay thắc mắc, còn ở đây tòa nhà nằm bên kia đường Duy Tân hai chiều xe chạy, tưởng như không có mối liên quan nào tới bãi biển. Bởi vậy nên khi mới nhìn thấy tôi đã ngỡ ngàng tưởng như có cái resort be bé nào đó của Mũi Né rơi ngay xuống bãi biển Nha Trang này. Kể ra thì cũng hay hay, cũng sang trọng, nhưng nhìn tổng thể thấy giống cái mụt cóc trên mu bàn tay thật chướng.

Nhưng mà thôi! Đó là chuyện của thiên hạ. Nha Trang trong ký ức tôi vẫn là Nha Trang của tuổi học trò hồn nhiên thơ mộng. Tôi dự định đi bộ lòng vòng qua vài con đường quanh đó xem đổi khác có nhiều không. Cũng ngay góc đường Nguyễn Tri Phương và Duy Tân này là trường Lasan Bá Ninh. Tôi có học tại đây hai năm lớp tám và lớp chín. Trường có nhiều đổi khác. Các dãy lầu cũ phía bờ biển vẫn còn đó nhưng đã mọc thêm nhiều tòa nhà mới bên trong, khoảng sân trông như có vẻ bị thu hẹp lại. Khu vực phía tây thay đổi nhiều hơn, cổng trường cũng đổi khác và có thêm nhiều cổng phụ. Bây giờ nơi đây là trường cao đẳng của tỉnh nên có lẽ họ cần xây dựng thêm tối đa để khai thác. Chỉ tội cho cái sân trường. Nếu tôi nhớ không lầm thì ngày xưa cả Nha Trang chỉ có hai trường Lasan Bá Ninh và Khải Minh (trường Tàu) là có sân bóng rổ…
Từ trường Lasan Bá Ninh đi thẳng theo Nguyễn Tri Phương đến cuối đường rẻ trái là trường nữ trung học Huyền Trân, rẻ phải đến đường Bá Đa Lộc, nơi có trường nam Võ Tánh. Kế bên trường nữ trung học, qua bên kia đường Lê Thánh Tôn có trường trung học bán công Lê Quí Đôn, nằm trên đường Tô Hiến Thành. Tôi đã theo học ở đây hai năm lớp mười và mười một cho đến khi giải tán năm bảy lăm. Vì là địa điểm có nhiều trường trung học nên mỗi buổi tan trường ở khu vực này rất vui. Học sinh từ các con đường túa ra như hàng đàn bướm trắng mỗi độ vào mùa. Tôi và mấy thằng bạn đã từng đứng đó tập tễnh làm thơ. Và chắc chắn rằng đã có không ít người sẽ trở thành thi sĩ nhờ những buổi tan trường này. (Đó là chưa kể trường Hưng Đạo, Thánh Tâm và Vinh Sơn ở ngả Sáu, trường Hàn Thuyên và College của người Pháp ở gần đó).

Tôi đứng ở ngả tư bâng khuâng tự hỏi không biết những người của ngày xưa nơi đây nay có còn ai không ta? Tự nhiên tôi thèm được nói chuyện với một ai đó, khơi gợi lại chút ký ức thuở học trò xa xưa. Một ai đó chỉ cần đã từng có mặt trong đám đông ngày ấy thôi cũng được, không cần phải là người quen biết…
Bên kia đường có một quán cóc, người bán là một phụ nữ trạc thế hệ tôi, to con và có khuôn mặt dễ cảm tình. Thật ra đó không phải là cái quán, chỉ là cái bàn nhỏ, trên để mấy chai nước ngọt và tủ thuốc lá, nằm sát bên trạm xe buýt. Cạnh đó là cái bàn nhựa và bốn cái ghế nhỏ dành cho khách. – Uống gì anh hai? Tôi đưa mắt nhìn vào mấy chai nước ngọt bày sẵn trên bàn. Nắng rọi trên mấy nhãn hiệu màu xanh màu đỏ của chai nước làm tôi thấy ngại ngùng. Tôi nói: – Sao để nước ngoài nắng vậy hả chị, hư hết còn gì? – Dạ để mấy chai làm mẫu thôi anh hai. Nước bán em để trong két phía trong đây nè. Anh uống gì không để em lấy? Tôi nghĩ ngợi chút xíu rồi chọn mua chai nước lọc. Người phụ nữ đặt chai nước và ly đá lạnh lên bàn nói bâng quơ: – Trời sắp chiều rồi mà cũng còn nắng ghê. Ra đường khát nước lắm đây. À, anh hai đi theo đoàn tham quan hả? – Tham quan gì đâu – Tôi cười – theo xe đi ăn đám cưới về ghé biển chơi chút rồi vô lại Sài Gòn. À, mùa này chắc khách du lịch đông lắm hả chị? – Dạ, cũng đông. – Sao bán buôn gì có mấy cái ghế vậy, lỡ khách vô nhiều chỗ đâu ngồi? – Bán lề đường mà anh hai. Phải gọn gàng để mỗi khi trật tự đô thị tới thì mình chạy cho nhanh chớ. Người ta đâu có cho buôn bán trên vĩa hè này, sợ mất thẩm mỹ. Tôi tỏ vẻ thông cảm: – Chà, cũng cực dữ ha. – Quen rồi anh ơi!
– Nhà chị có ở gần đây không? – Tôi hỏi.
– Dạ em ở trên Phương Sài, gần chợ Phường Cũi.
– Từ Phương Sài xuống đây bán cũng hơi xa à?
– Dạ, bán lâu nên cũng quen anh ạ. Ờ, mà anh hai người Sài Gòn hay ở đâu vậy?
– Sài Gòn gì, trước đây tôi cũng ở Nha Trang đó chớ.
– Vậy sao? Ờ, mà anh hai biết không, nói chắc không ai tin chớ từ nhỏ tới giờ em chưa vô tới Sài Gòn bao giờ cả.
Tôi ngạc nhiên: – Ủa, sao lạ vậy? Cũng đâu có xa xôi gì.
– Thì bởi vậy mới nói. Thiệt ra em cũng có một vài người bà con xa ở trong đó, và có mấy lần em tính vô Sài Gòn một chuyến cho biết, nhứt là ghé mấy cái chợ lớn coi người ta buôn bán ra sao. Nhưng lưỡng cước rồi không đi. Mà nghe nói trong đó người Sài Gòn hồi xưa không còn nữa, người ta đi hết trơn rồi.
– Ủa, người ta đi đâu?
– Thì đi di tản qua ngoại quốc chớ đâu. Bây giờ toàn là người mới tới không hà.
Tự nhiên tôi có cảm giác hơi giật mình. Người phụ nữ này có cái suy nghĩ thật lạ, mà nghĩ cho đến cùng cũng không sai. Ví như tôi đây cũng chỉ mới lưu lạc sinh kế trong đó chưa tới mười năm, chưa đủ sức dựng cho mình một mái che trú mưa trú nắng. Và những người tôi gặp trong bước đường bươn bả mỗi ngày cũng vậy, chẳng phải họ từ miền bắc, miền trung, hay miền tây về đó hay sao? Kể cả những căn nhà phố, nhà trệt, nhà lầu, chung cư hay biệt thự chẳng hạn, chắc gì chủ nhà là những người Sài Gòn trước kia còn lại? Chắc là không còn. Công việc của tôi đi lại tiếp xúc khá nhiều và cũng chưa hề gặp người nào.
Tôi chỉ tay qua bên phía trường cao đẳng: – Trước đây tôi có học trường này hai năm. Hồi đó là trường Lasan Bá Ninh. Còn chị trước có học trường nào gần đây không?
– Dạ không, em học ở Phương Sài.
– Ủa, Phương Sài có trường nào vậy ta?
– Là em nói trường tiểu học đó. Em đang học lớp sáu là “giải phóng”, sau đó có đi học thêm hai năm nữa nhưng nhà cực quá nên nghỉ luôn.
Tôi cảm thấy hơi chưng hửng. Cứ tưởng người phụ nữ này nếu không phải đồng trang lứa với tôi thì chí ít chỉ nhỏ hơn hai ba lớp là cùng. Ai dè! Tôi lén nhìn kỹ lại khuôn mặt của chị ta. Kể ra thì cũng chưa đến nỗi “già” như tôi nhưng có lẽ do vất vả và chả sửa soạn gì nên mới nhìn tưởng đã lớn tuổi. Có lẽ hiểu lầm vẻ mặt đang ngớ ra của tôi, cô ta nói tiếp, như là muốn phân bua. – Hồi đó đáng lẽ em cũng còn tiếp tục đi học nữa nhưng vì ba em chết năm bảy lăm nên gia đình cũng sa sút , đành phải nghỉ học để đi làm.
– Vậy năm bảy lăm gia đình chị có đi di tản hay chạy loạn gì không mà bác trai bị chết vậy?
– Dạ không. Ba em chết trận.
Tôi thoáng chút ngạc nhiên. Còn nhớ rất rõ ngày 10 tháng 3 thất thủ Ban Mê Thuộc, ba tôi bị mất liên lạc trong những ngày này. Sau đó đoàn người di tản đi theo tỉnh lộ 7 về Tuy Hòa. Ngày 1 tháng 4 mất Tuy Hòa, 2 tháng 4 mất Nha Trang.
Tôi nói: – Ngày 2 tháng 4 là “giải phóng” Nha Trang rồi. Vậy ba chị chết trận lúc nào.
– Dạ, đâu là sau tết. Em nhớ tết đó ba còn về ăn tết mà. Ba chết ở Qui Nhơn. Ba là lính của “sư đoàn bốn lăm”.
Tôi im lặng nghĩ thầm, năm bảy lăm người đàn bà này chừng mười hai tuổi, đâu có hiểu gì về chiến tranh, tội nghiệp! Có lẽ ba cô ta là lính của sư đoàn 22.
Tôi tò mò: – Hồi đó chị cũng còn nhỏ mà. Có còn nhớ gì về ba không?
– Sao lại không nhớ, hồi đó em cũng lớn rồi mà anh hai – Cô ta bỗng trở nên sôi nổi – Anh hai biết không, hồi trẻ ba em rất đẹp trai, ổng làm nghề sửa đồng hồ ở chợ Phương Sài ai cũng biết. Má em thương ổng nên dù cho phía ngoại không bằng lòng bả vẫn cứ đòi lấy ổng cho được. Cho tới lúc tới tuổi đi lính. Không thể sống xa được vợ con nên ổng trốn. Ổng dời tiệm đồng hồ ngoài chợ về nhà làm, khi nào có cảnh sát xét nhà thì ổng lánh mặt. Miết sau này ông trưởng ấp tới nói trốn hoài đâu có được, sớm muộn gì cũng bị bắt nên ba em mới đi đăng lính. Ổng nói đăng lính ở Qui Nhơn cũng không xa, có thể chạy về thăm vợ thăm con được. Bình yên được mấy năm ai dè qua năm bảy lăm thì ổng chết. Tội ghê. Ráng thêm mấy tháng nữa là qua được rồi.
Tôi nói theo kiểu xuôi xị: – Thì cũng là cái số thôi chị à, cái số phải chết trận.
– Thì đó! Ba bị đạn bắn chết khi hai bên đang đánh nhau.
– Rồi có đưa xác về được không?
– Có chớ. Má ra Qui Nhơn nhận xác ba. Xe nhà binh chở về trong này. Nghe má kể lại trên xe không phải chỉ có ba, còn có nhiều xác lính khác nữa. Mà trên đường về cũng rất nguy hiểm, bị chận đánh và pháo kích dữ lắm, nghe đâu là chỗ cái đèo gì ngoài đó em cũng chẳng nhớ nữa. Cực lắm mới đưa được về tới Nha Trang.
Tôi hình dung có lẽ người lính này chết trong những ngày tháng ba năm bảy lăm, ở một trong những trận đánh cuối cùng nào đó của quân đội miền Nam, vì sau đó không lâu thì cả miền trung bị thất thủ. Cô ta kể tiếp: – Đám tang của ba cũng trọng thể lắm anh hai ạ. Hòm của ba có phủ cờ và có lính khiêng đàng hoàng. Có súng bắn tiễn đưa nữa đó. Bây giờ nhắc lại thấy thương ba quá chừng.
Chà! không biết cô bạn này có “nổ” không vậy ta? Lính lác chớ có phải sĩ quan đâu mà súng bắn tiễn đưa? Tôi nhìn qua người phụ nữ, thấy cô ta đang rơm rớm nước mắt. Và tôi nghĩ chắc cô ta không khoác lác. Lúc đó cô ta chỉ là đứa bé con còn bây giờ thì đâu có lý do hay vinh dự gì để nói khoác. Cô ta chỉ đang nhớ ba mình và kể lại những hồi ức chập chờn còn mất. Nhà tôi ở sát bên nghĩa trang núi Sạn nên tôi đã từng nhiều lần chứng kiến người ta chôn cất những người lính chết trận. Có người chôn trong hòm kẽm, có người chôn bằng hòm gỗ, luôn có một lá cờ vàng sọc đỏ phủ lên trên. Tôi còn biết những người nằm trong hòm kẽm là xác đã chết lâu ngày và chuyển từ mặt trận ở xa về. Thường trước khi lấp đất người ta phải dùng xà beng đâm thủng một lổ trên nắp hòm, để thông hơi cho xác chết mau tiêu. Những lúc ấy mùi hôi thối bốc lên thật là kinh khủng. Ba của người phụ nữ này chết trong những ngày tháng cuối cùng của một chế độ, còn kịp đón nhận loạt súng tiễn đưa, xét ra cho cùng vẫn còn may mắn hơn hàng vạn người chết vất vưởng bụi bờ sau đó…

Một cái đám cưới, một ngày 30 tháng tư, một chuyến đi và một chút hồi ức về thời học sinh tự nhiên lại dẫn tôi quay về với nỗi ngậm ngùi của những mất mát qua câu chuyện riêng tư của người phụ nữ bán nước ven đường. Tôi trả tiền nước rồi quay về theo hướng biển. Trời đã chiều, ánh nắng chiếu cái bóng tôi dài ngoằng đang bước đi trên hè đường. Cái bóng có vẻ buồn và cô độc.

Lê Phú Hải

SỢI TÓC

tuketuong

Em cách tôi đủ dài sợi tóc
Để mùi hương bay mất vai mình
Ngày lấy chồng em cười, mà khóc
Thơ tôi buồn câu chữ long lanh

Sài Gòn xa, Sài Gòn nhạt nắng
Cỏ bên đường xanh đến vô tư
Tôi nằm ngắm mây trời yên lặng
Theo giấc mơ vào cõi xa mù

Nếu nhắm mắt bây giờ, và chết
Sợi tóc em vẫn cột lòng tôi
Nơi xa thẳm một mình tưởng tiếc
Nụ cười xưa đã khép môi rồi?

Tôi cách em nghìn trùng cơn gió
Thổi nghiêng chiều vàng lá thu xưa
Cầm hạt bụi gửi về nơi đó
Chút tàn phai trong lúc giao mùa.

TỪ KẾ TƯỜNG

QUA ĐÈO MANG YANG

tranbaodinh

gửi Trần Viết Dũng, Phú Phong.

sương giăng mờ phố núi
mây mù ôm Mang Yang
chiều mùa đông mưa bụi
rét mướt giữa đại ngàn

Trường sơn xòe cánh quạt
sông bỏ dọc, chảy ngang
vượt qua muôn ghềnh thác
trôi về biển gian nan

hoa rừng khoe sắc nở
độ dốc đứng cổng trời
gió sóng đùa tranh cỏ
rượt đuổi nhau sườn đồi

dòng Ayun huyễn hoặc
chở nổi nhớ Tây Nguyên
lửa bập bùng khuya khoắt
hòa nhịp trống, cồng chiêng!

làng K’Tu thấp thoáng
núi Kông Tần xa xa
hương cà phê thoang thoảng
đường sơn cước chiều tà

đèo Mang Yang cửa ngõ
vào núi rừng Tây Nguyên!

Trần Bảo Định