Tên của nàng là Thuý, tuổi con mèo. Đặc biệt yêu màu đen. Từ áo quần giày dép mũ nón bao tay tuốt tuồn tuột một mầu huyền hoặc. Giang hồ gọi Hắc Thuý Miêu. Thuý đẹp lắm. Đẹp từ tóc tai môi má đến dáng người và ăn nói cực kỳ duyên. Theo đuổi Thuý toàn con nhà danh gia vọng tộc. Vậy mà tiên sư bố cái ông tơ bà nguyệt, sư cha cái tình yêu vô bổ. Nàng lại say đắm một anh đã không đẹp thì chớ còn làm việc trong trại hòm Ngũ Hành với chức năng thợ mộc. Giang hồ nghe qua mà tiếc hùi hụi. Chả hiểu thằng thợ mộc kia có ngón chi mà đạp đổ được một nhan sắc tầm cỡ thành trì. Bố mẹ anh chị em nhà nàng cực lực phản đối. Chả nói chả rằng Hắc Thuý Miêu cuốn áo cuốn quần đến trại hòm anh làm việc ở luôn mới gọi là tình yêu đích thực. Anh khố rách đến độ nhà chỉ là cái cấp bốn không tô kề bên trại hòm. Thêm một lần thiên hạ chửi sư bố cái tình yêu.
Ai cũng tưởng – nhất là gia đình Thuý – đời cô xem như thúi hẻo và bao nhiêu hy vọng về một nhan sắc có thể kéo cái gia đình nghèo tú mú tù mù ra khỏi kiếp khoai lang củ mì là kết thúc. Có ai ngờ chỉ sau một năm Cô Thuý xinh đẹp đập cái nhà cấp bốn không tô của chồng để lên một căn bề thế không kém ai trên ta bà hẻm nhỏ. Gia đình ruột của cô cũng hưởng sái cực ngon lành. Anh em trai nhà Hắc Thuý Miêu gọi Lãm- chồng Thuý – là sự phụ trong nghề cưa đục bào xẻ. Họ tham gia thi công làm hòm và ai cũng có chân trong ban đạo tỳ của trại. Đại khái là, nếu có đám tang thì họ cùng nhau o í e đờn ca sáo thổi, không đám thì nhào vô đóng hòm. Không có rể làm thuê của trại hòm thì dễ chi nhà cô thoát đói.
Cũng tình thiệt mà nói không có cô Thuý e là trại hòm Ngũ Hành bán xới mà kiếm nghiệp khác làm ăn. Chả là ông bà chủ Ngũ Hành tranh không lại đồng nghiệp. Bên trại Bát Quái những ba xe rồng ngày nào cũng đưa ra nghĩa địa hai ba nhân mạng về đất mẹ. Thân nhân người chết không phải thích Bát Quái ở chỗ đạo tỳ chơi nhạc lã lướt, thầy tụng ê a rất mê ly âm phủ, hay hòm hiếc ở Bát Quái tốt hơn Ngũ Hành. Ở xứ sở nầy rừng đâu có mà ra gỗ quý, tựu trung cũng chỉ ba cây bạch đàn hoặc tràm bông vàng là hết phép. Gỗ lạt thì xẻ ra mặt hai mươi là lớn, muốn năm mươi thì thợ mộc ra tay. Cái hòm nào cũng nhờ sự bóng loáng của vẹc ni để lừa nhân thế. Tất cả đều bằng nhau mà Bát Quái làm ăn được hơn Ngũ Hành là nhờ vào kiểu làm ăn đầu trâu mặt ngựa.
Có trong nghiệp nầy mới biết nghe, lơ mơ là bó tay chấm com. Bất kỳ một cái chết nào từ chết đường chết chợ chết xe cán chết bệnh vân vân và vân vân miễn cái chết ấy có thân nhân là không lọt tay Bát Quái. Người của Bát Quái đến ngay chỗ người chết và xem như cái chết ấy phải nằm trong hòm của họ. Thân nhân người chết phải nhất nhất nghe theo bọn ôn dịch nầy, không nghe nó quậy cho người sống điêu đứng luôn. Chúng còn dám mò đến tận nhà xác để dành nữa đó. Kỳ đó một người quen với Ngũ Hành có người thân bị chết ở bệnh viện. Ngũ Hành nói chỉ cần đưa cái xác về là Ngũ Hành kính tặng một cổ áo. Vậy mà cũng không được với Bát Quái. Người của quái nói rằng có cho thì quy ra tiền mà cho, còn cái xác nầy là của họ. Nghe mà tức ói mật ói gan. Nhưng ở cái thời quỷ lộng hành, ma quái lên làm cha, dân lương thiện phải im mẹ cho rồi. Kiện cáo lôi thôi đang đêm nó cho một cây vô đầu, chết chả nói làm chi, lỡ man man ai chịu? Mà với chính quyền thì có đơn kiện mới thụ lý, không nói thì ai biết đâu mà lần? Vậy nên Bát Quái ngày một lớn mạnh. Nghe đâu trong cái mớ chuyên đi lùng người chết để báo cho Bát Quái kiếm tiền xài vặt có thằng ghiền xi ke bị nhiễm hát có ết. Lơ mơ nó cho một mũi kim thì đời mình đi đứt. Thôi thì chết thì phải chôn, mà ai chôn thì cũng vậy.
Vậy mà tất cả xếp giáo trước Hắc Thuý Miêu thì quả là thần khấp quỷ khấp. Cứ Bát Quái làm sao thì chị Thuý làm vậy, có điều chị ra tay mạnh hơn. Với đôi mắt tinh đời và trí lự hơn người, nhìn qua Thuý biết bọn Bát Quái là một lũ bá đạo. Một cái hòm thành phẩm năm triệu là hết phép, vậy mà chúng tính hai chục chưa kể đạo tỳ, thầy tụng và xe rồng đưa đón. Hai mươi triệu là loại hàng chót bẹt dành cho nhà nghèo, còn dân có của thì ba chục triệu đi lên. Lời quá xá nên bất kỳ ai phôn cho Bát Quái một cái chết ở bất kỳ đâu là kẻ đó có trăm ngàn xài chơi đỡ buồn. Sau đó có ba anh thứ thiệt xì kè phi phân khối lớn đến canh cái xác. Đến nước đó thì ông cố nội ai dám vô tranh. Cả người nhà cũng chịu sầu. Dây với hủi còn có tình hơn dây với xì cọc hỡi người ơi.
Nhưng chị Thuý bản lĩnh lắm. Vì yêu chị dám bỏ cha bỏ mẹ bỏ anh em cuốn gói theo tình thì vừa chi? Chị suy tư và chờ cơ hội. Và cơ hội đến. Hôm đó một bà dì trong xóm ra đi ở bệnh viện. Nhà cũng hẻo nên họ sợ Bát Quái chặt đẹp. Hắc Thuý Miêu liền thân chinh đi đem xác về, tất nhiên bọn Bát Quái đã có mặt tại nhà xác. Chỉ cần người nhà đến là chúng sẽ thực thi nhiệm vụ. Nhìn Thuý Miêu đẹp, cằm chẻ môi trái tim má lúm đồng tiền thì ai cũng tin em hiền như ma sơ. Tóc dài ngang vai nữa mới là nên thơ. Một thằng ghẹo:
– Em đẹp quá em gái.
– Em cái bà nội mày. Cà chớn tao cho ăn guốc vô đầu bây giờ.
Văng tục liền:
– Cái con này… hổn mậy?
Trên tay Hắc Thuý Miêu xuất hiện chiếc guốc gót nhọn và gõ một cái cóc vô đầu thằng du côn. Mô Phật, nói láo cho bà bắn, máu xịt có vòi chứ chảy thì còn nhẹ lắm. Chị cầm chiếc guốc ngạo nghể nhìn hai thằng còn lại;
– Người chết là bà con của tao thằng nào dám lấy xác tao cho thằng đó ăn dao.
Ngay lập tức tay chị lo le thêm lưỡi dao Thái:
– Mày không yên với tao đâu. – Một trong hai thằng doạ.- Tao sẽ đến nhà mày xin miếng thịt làm mồi nhậu. Tao ăn luôn thịt người đó con đĩ.
– Khỏi. Tao đi với mày ngay bây giờ.
Sau đó chị lịnh cho người nhà vô nhận xác. Còn chị phi chiếc 78 cà là mèng đến trạm xăng mua một bình hai lít. Mười phút sau chị có mặt tại trại hòm Bát Quái:
– Ông Quới bà Bát đâu ra nói chuyện tí coi.
Thì ra chủ trại nầy chồng tên Quới vợ tên Bát nên ra Bát Quái chứ chẳng tàu phù chi:
– Có chuyện gì không cô?
– Thằng lính ông đòi làm thịt tôi thì chớ còn gọi tôi là con đĩ. Ông không biểu nó xin lỗi tôi đốt cái trại của ông ngay hôm nay. Con này nói là làm. Cùng lắm tù chục năm về tội đốt nhà là cùng. Sau tù là cả ba họ nhà ông tui cũng trảm.
Chủ trại xuống nước. Đời có câu tránh voi chả xấu mặt nào, cương lên nó quê độ đốt thiệt là chết ông bà cố tổ mình luôn:
– Thôi thì cô cho tôi xin lỗi…
– Ông đáng cha tôi, có lỗi gì mà xin? Thằng kêu tôi là đĩ phải xin lỗi.
Bị lâm thế triệt buộc giang hồ trại hòm phải cúi mặt. Nhận xin lỗi xong chị phán:
– Bắt đầu từ bữa nay thấy mặt tao là tụi mày biến gấp. Cà chớn có thứ thiệt xử tụi mày.
Lần đầu tiên giang hồ tuy vặt nhưng mặt cũng có máu gặp một nữ lưu không biết chết là chi, chúng vờ hèn cho qua chuyện. Âm mưu sẽ cho chị biết tay khi có cơ hội, nhưng chị luận việc nhanh như thần. Kết thân ngay với một thằng từng vào tù về tội chém người. Thằng này tự nguyện làm vệ sĩ không lương cho chị. Lý do nó là đệ tử ruột của anh chồng thợ mộc. Thì ra chồng chị cũng một thứ thiên lôi đả không chết. Dưới trướng thằng đệ nầy có mười ôn dịch dạng xem trời chỉ một phần tư hạt tiêu. Chúng nói với chị rằng thích xử ai cứ nói. Chiêu thức nầy làm rung động trại Bát Quái. Ông Quới phải đích thân đến gặp trại chủ Ngũ Hành thương lượng địa bàn hoạt động. Từ a đến m là của Bát Quái, từ n đến z là của Ngũ Hành. Ông bà Ngũ kêu con vợ thằng thợ mộc lên nói chuyện phải quấy, bởi ông bà thật thà như đếm… lộn, nào có biết chi.
Hắc Thuý Miêu thi triển tinh thần vô độc bất trượng phu. Ông bà chủ Ngũ Hành giao cho chị toàn quyền định giá với khách hàng. Ông bà chỉ lấy như vậy, dôi ra Thuý hưởng. Chỉ hai năm sau ngày lấy chồng Thuý chạy mẹc xê đì màu đen vi vu trên mọi nẻo đường. Cô qua mặt Bát Quái khoản quen biết lớn. Có một ông kia con bị đưa vô nhà xác lúc mười giờ đêm. Vì bị giết nên phải chờ pháp y đến khám nghiệm tử thi mới được đem xác về. Hắc Thuý Miêu phôn một cú. Uy đến độ mà hai giờ sáng pháp y tỉnh phải đánh xe vào. Xong việc ông kia phải è cổ ra trả riêng cái hòm cho con là hai chục triệu, ba cái nhạc nhẽo và tụng tiếc chục ngoài nữa. Ông cha bất hạnh và nghèo túng văng tục:
– Tao nói thiệt con quỷ cái nầy ác hơn cả Tào Thị, nó còn gấp hai lần bọn bên Bát Quái. Trời không dung nó đâu.
Nhưng làm chi có trời. Bằng chứng là chị Thuý cũng như cha má chị lên như diều. Tha nhân chửi đến đá còn chảy nước mắt nếu có trời ổng đã phạt nặng chị rồi. Đó mới là phần của hàng họ hòm hiếc, vụ làm mả chị kiếm cũng bộn. Con ai đó bị xe đụng chết, sau khi nằm yên dưới đất chị môi giới luôn vụ mả, từ hoa cương đến gạch men. Mấy thằng làm dịch vụ nầy muốn có đơn hàng phải nhờ chị. Chao ơi khi thời vịn tiền sao mà vô như nước. Hắc Linh Miêu như một bà hoàng xứ cà ry cay vậy. Lòng tham của con người quả vô độ. Không cái chi trong chết chóc Thuý không ra tay. Giàu nghèo sang hèn chị không cần biết, vì trước cái chết mọi người đều bình đẳng. Có thật là vậy không?
Chắc là không, vì những người giầu va vô tay chị thì còn cho qua chứ nghèo thì hận lắm. Vì nghèo nên thấp cổ bé họng, kêu đâu cũng không đến. Kêu còn bị nó cho ăn cù loi nữa kìa. Nên tức thì tức vậy chứ dám làm chi. Và Thuý khoái nhất ăn của bọn nghèo. Nghèo luôn sợ quyền lực của chính phái lẫn tà đạo. Mấy thằng có tí chữ nghĩa còn dám cãi chính phái chứ sợ tà đạo hơn cọp. Nói bi nhiêu chúng chi bí nhiêu. Bọn giàu thì luôn đi chơi với quan quyền. Ăn của chúng đâu có ngon, chúng méc với anh hai anh ba chi đó thì mình cũng mệt. Nên chi Hắc Thuý Miêu nghe nói thằng tàn hoặc con tạ con nhà ông khố rách kia hay bà áo ôm nọ là chị có mặt trên từng cây số liền.
Vậy mà một hôm kia Hắc Linh Miêu ngoảnh mặt với một cái chết vì giao thông.
Bên Bát Quái cũng vậy.
***
Người chết ở khu nghĩa địa. Nghèo đến hẻo luôn. Với người khác thì Hắc Linh Miêu không bỏ qua. Nhưng dân nghĩa địa rành sáu câu và ba mươi hai bản nhỏ giá cả từ hàng họ đến tụng tiếc thì nuốt của chúng không vô. Mà đã ăn không vô thì giao cho hội Bảo thọ của xã muốn làm chi thì làm. Những cái chết bị xe tô phải hay trái không cần biết, nhà xe phải lo chôn cất cho mồ yên mả đẹp mới mong bên bị nạn làm cho cái bãi nại mà bớt được chút đỉnh trước toà. Mấy vụ nầy chủ trại hòm muốn hét giá bao nhiêu cũng qua. Khốn thay cho kẻ thọ nạn. Nửa đêm đi nhậu băng qua đường xe tô một phát nó chạy luôn. Chả có ai chứng kiến để biết là hai hay bốn bánh nữa mới là bí mật. Thân nhân người bị nạn khóc hết nước mắt đành lôi về lo hậu sự. Hội bảo thọ cho cái hàng cây da sơn màu đỏ. Trù trì Bảo Long Cổ Tự cùng tăng ni đến tụng từ thiện cho hương hồn người chết về tây phương Phật. Nói cho ngay cả hai Ngũ hành và Bát Quái cũng cho người đến thắp nén hương và cúng mỗi bên một phong bao một trăm ngàn.
Thiên hạ lắc đầu cho cái vô cảm của con người.
Ngày thứ tư sau lễ mở cửa mả. Cả nhà người chết chả biết moi đâu ra tiền để làm cái lễ thất nhật cho vong linh người chết đỡ tủi thì đùng một cái như sấm động. Người thân kẻ gây tai nạn mò đến xóm nghĩa địa và hỏi thăm nhà người chết.
Mẹ của tài xế kể rằng tô xong anh ta bỏ chạy luôn. Và vô cùng mừng rỡ khi chả ai biết gì về cú đâm xe định mệnh ấy. Nhưng khốn thay suốt cả ba hôm nay anh ta bất an. Gia đình và bè bạn nói kiểu gì cũng không nguôi nổi ám ảnh và tiếng động của xe khi va vô người. Cái xác của kẻ bị nạn phủ ngập tâm hồn khiến anh ta không ngủ được. Sáng nay tài xế quyết định ra đầu thú và yêu cầu gia đình đến để giải quyết hậu hoạn.
Nhưng có cái gì đâu mà giải quyết. Hàng họ thì của cho. Đám thì ba cái bánh ngọt vài can rượu đế chả đáng là bao. Thân nhân người gây tai nạn ngõ ý muốn xây một ngôi mộ có mái vòm yên ủi người chết để người gây tai nạn bớt cắn rứt lương tâm.
Bầy em của Hắc Thuý Miêu đánh hơi ra vị tiền liền thoại cho chị.
Hắc Thuý Miêu chốt giá một ngôi mộ đá hoa cương có mái vòm là năm mươi triệu.
Ta bà nói thẳng:
– Bà sống có lương tâm chút coi bà Thuý.
Hắc Linh Miêu hát một câu trong tuồng cải lương:
– Lương tâm hay lương tháng, tao cũng cóc cần…
Nguyễn Trí
Monthly Archives: Tháng Bảy 2015
Răng
Quanh sân gạch ai cùng ai đuổi bắt
Vấp ánh trăng tuổi thơ ngã lăn cù
Răng sún cười chân mây xa lắc
Hương ổi hoài thơm ngọt góc vườn thu
Xưa răng sữa dại khờ đau vú mẹ
Giọt ca dao nhỏ máu thắm nuôi hồn
Táo cành cao em gọi mời leo té
Vườn địa đàng nay gãy chiếc răng khôn
Thương nội quê nghèo móm mém nhai ngô
Ngày giáp hạt cháo cơm nhường con cháu
Ta lưu lạc xứ người gặm bánh mì khô
Cắn phải nỗi buồn chân răng rươm rướm máu
Rừng chưa kịp xanh mùa thu vội đến
Kỷ niệm hoá răng nanh hoang thú xé hồn ta
Hiên mưa xưa ai đứng cười răng khểnh
Cuối trời còn hiu hắt nắng môi hoa.
Nguyễn Vân Thiên
CÓ THỂ EM VỀ TÔI ĐÃ ĐI
Em này
có thể ngày mai em về
cũng là khi tôi đã đi xa
chỉ còn đó linh hồn phố cũ
và con gió nằm rên trên xác cỏ
đã từ rất lâu
một mình vâng chỉ một mình tôi
kiên trì đo chiều sâu từng giọt lệ
đêm nối tiếp đêm
len tàn tro nguội lạnh
khêu dậy trong tôi cô độc tận cùng
quá nhiều lần tôi tự hỏi
có gì buồn hơn ánh mắt mùa đông ?
có gì tàn phai hơn mái tóc những ngả đường lỡ hẹn ?
có gì gây tổn thương hơn lời kẻ mình yêu mến?
có gì mặn hơn năm tháng đợi chờ?
ngày mai có thể em sẽ về
cũng là khi tôi đã đi xa
và phố có lẽ sẽ gầy thêm một chút
nhưng chắc chẳng nghĩa lý gì
bởi em về đâu phải để tìm tôi.
Trương Đình Phượng
Ác mộng
Thấy đi giữa dòng người cuồn cuộn
Và bao nhiêu máu chảy đầu rơi
Rồi thảng thốt giật mình tỉnh lại
Một giấc trưa ngủ giữa ngậm ngùi…
Ngày tôi sống bao điều oan trái
Bao tang thương ẩn ức căm hờn
Nên giấc mộng nhuốm màu man dại
Dù lòng tôi chỉ muốn yêu thương
Đã xa quá mộng lành ngày cũ
Một bàn tay ánh mắt bờ vai
Một con sông một triền cỏ dại
Một tiếng chim về hót hiên nhà…
Bỗng thấy thương mình thương dân Việt
Hận thù kia cứ mãi chất chồng
Ngay cả ngủ cũng toàn ác mộng
Trong mơ mà máu chảy như sông!
Nguyễn Đình Bổn
CƯỠI NGỌN SẤM(11)
Chương 6: Các trinh sát của Ripley
Trận chiến tiếp tục mãnh liệt từ xế trưa đến tận chiều tối, vẫn là cận chiến và tàn bạo, thường là bằng lưỡi lê và trong tầm ném lựu đạn. Phi pháo yểm trợ cho TQLC Hoa Kỳ rất có hiệu quả và chận đứng được phần lớn quân Bắc Việt từ phía xa và làm nhụt nhuệ khí của bọn chúng tuy không hoàn toàn đánh tan được âm mưu của họ muốn tái chiếm các trang thiết bị bỏ rơi lại.
Lực lượng TQLC được tăng viện cho các Tiểu đội thuộc các Trung đội 1 và 2 mang theo đầy đủ đạn dược để sử dụng. Các trực thăng chỉ tản thương những thương binh nặng. Phần còn lại, hầu như tất cả mọi người đều ở lại chiến đấu.
Trong khi đó, Đại đội India tăng viện cho Lima vẫn tiếp tục hành quân vào trận địa ròng rã suốt ngày. Vào khoảng 5 giờ rưỡi hay sau đó một chút thì một Trung đội thuộc India đã bắt liên lạc được với tuyến phòng thủ của Lima. Thật là một điều vui mừng cho tất cả các chiến sĩ Lima khi biết rằng đoàn “kỵ mã,” mặc dù muộn màng nhưng rốt cuộc đã vào được trận chiến. Tất cả các TQLC Lima reo hò “Chúa ban phước cho India!”
Đại úy Ripley nghĩ rằng vị trí Đại đội anh đã được tăng cường và tái bố trí lại đầy đủ. Do đó, họ đủ sức để giữ lại toàn bộ các quân dụng của quân Bắc Việt không bị mất trở lại vì Đại đội anh đã trả một giá quá đắt cho mảnh rừng địa ngục tắm quá nhiều máu của đồng đội. Tuy nhiên anh vô cùng sửng sốt khi Thượng sĩ Mack, Trung đội trưởng của Đại đội India mới bắt được liên lạc, truyền lệnh của cấp trên là phải bỏ mục tiêu và lợi dụng bóng đêm rút về chỗ ngã ba đường mòn mà Trung đội 3 đang án binh bất động.
Đại úy Ripley tái cả mặt. Cho dù nếu Đại đội anh không phải trả cái giá cao như vậy để chiếm toàn bộ trang thiết bị của quân Bắc Việt, vị “đích thân” của Lima 6 không hề nghĩ đến chuyện phải bỏ hết chiến lợi phẩm để rồi lại phải tái chiếm trở lại lần nữa. Tuy nhiên, giả sử toàn bộ Đại đội Lima còn sức khỏe tối đa, hay đây không phải là một tình huống chiến thuật, hoặc giả đi mướn một công ty chuyển vận nào đó có đăng quảng cáo trên báo, Đại úy Ripley có lẽ sẽ cần cả một đội vận tải hoặc toàn bộ phương tiện chuyển vận của quân đoàn mới chở hết chiến lợi phẩm nổi.
Trên thực tế có lẽ không có phương cách hay điều nào trong sách quân sự hướng dẫn làm thế nào để ngưng chiến được. Cuộc chiến tự nó giảm dần cường độ khi bóng đêm phủ xuống vì cả hai phía đều kiệt sức về thể chất, tinh thần cũng như cạn hết thiết bị.
Trước khi tháo lui khỏi vị trí lúc này nhuộm đầy máu của chiến sĩ Đại đội Lima và bộ đội Bắc Việt, Đại úy Ripley và “Hoàng tử” Henry, cũng bị thương giống như xếp của mình, phối hợp gọi hỏa lực yểm trợ còn dữ dội hơn trước nhằm xóa trắng khu vực họ sắp rời bỏ. Tâm lý của những tay TQLC giống như những đứa trẻ ngoan cố và ích kỷ, nếu họ không giữ được vị trí thì đừng hòng quân Bắc Việt xớ rớ tới. Chẳng bao lâu các phi tuần không yểm thả xuống những trái bom “snakes” (Snake-Eye là những trái bom chứa hơn 500 cân Anh chất nổ cực mạnh) và “nape” (tức Napalm, một hóa chất dẻo có thể đốt cháy tất cả mọi thứ khi nó chạm vào). Hỏa lực pháo binh thì rót xuống hàng loạt đạn pháo cực mạnh. Đến khi cuộc không tập hoàn tất thì các đồ tiếp liệu chẳng còn lại thứ gì mà bộ đội Bắc Việt có thể sử dụng được nữa.
Trong khi giữ trật tự hàng quân để bảo đảm nắm vững được tất cả TQLC, Đại úy Ripley hỏi Thượng sĩ Đại đội để kiểm tra lại về tình hình quân số. Duyệt qua bản phân công bi thảm bị cắt xén của Đại đội Lima, với cách nói rặt theo kiểu TQLC, Thượng sĩ Đại đội báo cáo lại với anh một cách vắn tắt về kết quả khủng khiếp trong ngày: “Thưa xếp, chỉ còn 15 con là không bị chết hay bị thương trong ngày hôm nay… Đó là kể cả xếp nữa đấy.” Với quân số còn lại như vậy, Đại đội Lima đồng loạt rút ra khỏi trận địa hướng về phía con đường mòn.
Bóng dáng Lưỡi Hái Tử Thần
Cái mệnh lệnh hùng hồn, tuy không hợp pháp lắm theo quân kỷ của Đại úy Ripley cho thuộc hạ là “Dù có bị thương, không bao giờ được chuyển taovề hậu cứ!” đã được tuân hành một cách tuyệt đối. Đoạn điện đàm sai lạc “xếp gục rồi, xếp gục rồi!” của một tay truyền tin đại đội đã được loan truyền ngược về bản doanh Sư đoàn G-3, nơi theo dõi mọi cuộc trao đổi, và chắc chắn nó cũng bị phía truyền tin Bắc Việt nghe lén được.
Một nhân viên truyền tin vô danh của Sư đoàn biết Đại úy John Ripley có người anh tên là George Ripley hiện đang làm Thiếu tá, sĩ quan hành quân của Sư đoàn 3 TQLC, đơn vị chủ quản của 3/3. Do đó anh ta đã ghi lại đoạn tin này trên một trong các loại mẫu giấy đưa tin chính thức của chính phủ Hoa Kỳ, loại có ba mầu đệm giấy cạc-bon ở giữa. Thiếu tá George Ripley nhận được bản sao màu vàng chép cái tin bán chính thức và chưa kiểm chứng là: “Đại đội trưởng L 3/3 đã bị trọng thương. Vẫn còn thở…” Thiếu tá George Ripley chính là người đã trái lệnh thân phụ, cho đứa em mình mượn cuốn “Tiếng thét xung trận” của Leon Uris từ thuở nào. Chính sự kiện đó đã ghi sâu đậm vào tâm hồn non trẻ của đứa bé và đưa đẩy nó vào một cuộc sống có vẻ như sắp đến hồi cáo chung lần này. Lòng nặng trĩu vì hối hận chen lẫn bực tức, Thiếu tá George Ripley vò nhầu mảnh giấy vàng và bỏ vào túi.
Khi tin Đại úy Ripley bị thương, mặc dù chưa kiểm chứng được truyền ra thì cái thủ tục hết sức vô lý và bất di bất dịch là phải báo cho thân nhân biết ngay đã được khởi động lập tức. Vì còn ở ngoài mặt trận nên Đại úy Ripley không có cách nào để ngăn chận cái thủ tục đó được.
Trận đánh ngày 2 tháng Ba kết thúc đã lâu, để thay bằng nhiều cuộc đụng độ lẻ tẻ khác trong những ngày kế tiếp nhưng viên sĩ quan có nhiệm vụ báo tin dữ đã thông báo cho Moline, vợ của John Ripley rồi. Lúc đó Đại úy Ripley vẫn còn tả xung hữu đột ngoài trận địa chỉ huy binh lính nên không biết là vợ mình cùng gia đình đã được tin mình bị thương mà chẳng làm gì được.
Với tâm trạng khắc khoải chờ đợi tin dữ, Moline Ripley luôn chú ý đến các tin tức tường thuật có liên quan đến Việt Nam. Nàng có thể đang ở một phòng khác chăm sóc cho cậu bé Stephen hay đang lo việc nhà nhưng đôi tai lúc nào cũng lắng nghe những chữ như “TQLC” hay “thương vong” hoặc “Quân đoàn I…” Nếu không có tin gì, không có cuộc hành quân nào liên quan đến TQLC có nghĩa là tin vui.
Vào buổi chiều tối ngày 3 tháng Ba, 1967, Moline vừa đọc xong mẩu tin về đề nghị ba điểm của Thượng nghị sĩ Robert Kennedy nhằm chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Kế hoạch của ông bao gồm việc ngưng dội bom Bắc Việt, rút quân đội Hoa Kỳ và Quân Lực VNCH về phía Nam, và thay thế bởi một lực lượng quốc tế trung lập. Ý tốt của ông TNS chắc hẳn không tác động gì đến cả hai phía hiện còn đang mải mê đụng độ quyết tử tại Vùng I Chiến Thuật.
Cũng có nhiều tin tức liên quan đến phong trào phản chiến đang lan nhanh trong môi trường Đại học. Mới hai tuần trước đó, một cuộc biểu tình lớn đã xảy ra trong trường Đại học Wisconsin. Các sinh viên phản đối sự hiện diện của đại diện hãng Dow Chemical tại trường. Dow Chemical chính là hãng đã sản xuất loại bom napalm mà Đại úy Ripley và “hoàng tử” Henry mới chỉ vài tiếng đồng hồ trước đó đã điều khiển tài tình ném vào trận địa cứu các TQLC của Đại đội Lima và tiêu diệt kẻ thù. Họ đến trường đại học nhằm thu phục các nhà khoa học gia trẻ tuổi trong tương lai. Các cuộc biểu tình đã gây chú ý cho dư luận toàn quốc. Khi các cuộc biểu tình tàn lụi thì nhóm sinh viên, ngoại trừ những tay tổ chức, ai nấy trở về cuộc sống sinh viên trụy lạc muôn thuở của họ. Đối với các TQLC được sống sót nhờ tài nghệ khoa học của các kỹ sư hãng Dow thì cuộc sống và cái chết là tất cả những gì làm họ bận tâm nhất.
Moline và người chị dâu Maureen lớn hơn vài tuổi rất thân và qua lại thường xuyên với nhau. Chồng của Maureen là Thiếu tá George Ripley, người đầu tiên trong gia đình nhận được cái tin dữ. Hai bà vợ sống trong cùng một tòa chung cư tại Alexandria, Virginia trong khi các đấng phu quân đã tòng quân ra mặt trận. Họ thậm chí có thể gọi nhau ơi ới từ căn này qua căn kia. George và Maureen có ba đứa con gái đều lớn hơn Stephen cho nên hai bà mẹ có thể nhờ vả lẫn nhau những lúc cần thiết.
Cửa sổ căn bếp của Maureen nhìn ra khu đậu xe chính mà khách viếng khu vực chung cư bắt buộc phải đậu xe tại đó. Maureen là người đầu tiên phát hiện ra chiếc xe của viên sĩ quan đại diện TQLC Hoa Kỳ. Chẳng thà tay sĩ quan này là bộ xương tử thần cưỡi ngựa còn hơn. Vì Maureen và Moline là hai người vợ lính duy nhất trong khu vực này thành thử trừ phi tay TQLC bị lạc, sự kiện này đã làm hỏng ngay lập tức buổi sáng của nàng. Maureen nghĩ rằng hoặc là chồng mình hay người em rể đã ra đi.
Maureen Ripley vội vã bồng ngay đứa con gái út, hai đứa kia thì còn trong trường học. Nàng chạy ra đón viên Đại úy TQLC trẻ tuổi ngay khi anh này mới đậu xong chiếc xe. Nhận ra từ xa nỗi sợ hãi cùng cực trong ánh mắt của người phụ nữ khi nàng đến gần, anh Đại úy nói ngay một tích tắc trước khi Maureen mở lời thành thử cả hai dường như cùng nói một lúc.
“Xin bà làm ơn cho biết gia đình Ripley ở đâu?”
“Đại úy muốn tìm Ripley nào?”
Khi Maureen hiểu ra là John chứ không phải George thì nàng có một thoáng biết ơn là chồng vẫn chưa sao cả. Sự mừng rỡ lập tức bị thay thế bởi niềm hối hận của người thoát nạn và nỗi buồn và cảm thông đối với Moline và cả bé Stephen nữa. “Để tôi dắt anh gặp vợ của Đại úy John Ripley…”
Maureen Ripley dẫn viên Đại úy đến căn chung cư của em dâu mình. Trong lúc đi, mặc dù cố gắng lễ độ và giữ thái độ hết sức chuyên nghiệp, tay sĩ quan không thể nào bắt chuyện thân mật với người phụ nữ được. Và đoạn đường dài tưởng chừng như vô tận. Khi họ đến trước cửa phòng Moline, anh Đại úy gõ nhẹ một cách lịch sự lên cánh cửa. Maureen thì đứng nép phía sau.
Moline Ripley trả lời ngay vì nàng không trông đợi ai sáng hôm đó và bà chị dâu thì chẳng bao giờ gõ cửa cả. Nhưng khi mở cửa ra thì thái độ của nàng chuyển nhanh như chớp, từ nụ cười tự nhiên thành nỗi kinh hoàng, sợ hãi và buồn bã cùng cực. Mặc dù chưa quen lắm với công tác này nhưng anh Đại úy trẻ đã trải qua nhiều kinh nghiệm với những phản ứng khác nhau khi anh hiện diện trong tình huống như thế. Chẳng có lần nào tốt đẹp cả, chỉ có lần này đỡ tồi tệ hơn lần khác mà thôi. Chẳng thà anh đối diện với quân thù như Đại úy Ripley còn hơn là phải làm các công việc sĩ quan đưa tin. Nhưng nhiệm vụ thì phải thi hành thôi.
Moline kêu lên, nói lớn: “Trời ơi, không…?” Gắng gượng giữ bình tĩnh và giữ một thái độ chững chạc, nàng kiếm lời mời viên Đại úy vào. Trong giây phút hoảng hốt, Moline quên cả người chị dâu và đóng sầm cửa lại.
Nhiệm vụ sĩ quan liên lạc báo tin thương vong hết sức kỳ dị và khủng khiếp. Trong những trường hợp liên quan đến TQLC bị tử trận không bao giờ có kết quả tốt đẹp hay niềm vui nào cả. Tuy nhiên đối với gia đình của các sĩ quan hay hạ sĩ quan TQLC chuyên nghiệp thì họ gần như mừng rỡ khi biết tin người thân “chỉ” bị thương mà thôi.
Khi viên sĩ quan liên lạc đã trấn an Moline rằng chồng nàng vẫn chưa mệnh hệ nào và có lẽ sẽ hồi phục, không khí chung thay đổi hẳn. Moline cảm ơn anh ta rối rít và ghi nhận lòng tốt bụng và tính chuyên nghiệp của anh. Moline được an ủi là chồng không bị nguy hiểm đến tính mạng. Ít nhất là chưa, trong lúc này.
Thủ tục báo cho người thân nhất, tức người vợ nếu người lính đã có gia đình hay cha mẹ khi người này còn độc thân thường mang tính cách trực tiếp cá nhân hơn là khi báo cho những người không phải là trực hệ. Trong trường hợp của Đại úy John Ripley thì cha mẹ anh nhận được bức điện tín vô hồn vô xúc đặc trưng vào thời kỳ đó. Cho đến năm 1967 điện tín được sử dụng càng lúc càng ít đi vì điện thoại viễn liên đã được phổ biến nhiều hơn, ngoại trừ thói quen liên lạc kỳ lạ của một cơ quan chính phủ nào đó có nhu cầu báo tin cho gia đình biết về cái chết của một người thân ngoài chiến trường.
Trong cái tỉnh lẻ Radford nằm về hướng Tây Nam, ông bà Bud và Verna được mọi người biết đến là cả ba người con của họ đang chiến đấu tại Việt Nam trong cùng một thời điểm. Dân chúng trong các tỉnh nhỏ toàn cõi nước Mỹ vào năm 1967 đều có quan niệm là người phát tín viên hãng Western Union, tuy trông vô hại trong bộ đồng phục kỳ cục nhưng chính là “lưỡi hái tử thần” trong thời kỳ chiến tranh đang lan rộng ra. Ngoại trừ trường hợp có ai đó gởi điện tín báo tin sanh con – một tình huống đáng tiền để gọi điện thoại đường dài – còn lúc này thì không có ai trong đại gia tộc của ông bà Ripley đang mang thai, do đó bất cứ điện tín nào cũng không thể là tin vui được.
Khi bức điện tín đến và trước khi nó được trao cho người nhận, ngay cả cũng chưa ai biết nội dung ra sao, thì tin ông bà Ripley có điện tín lan đi cấp kỳ khắp tỉnh Radford, lan nhanh đến nỗi có một số lớn người cho rằng đã biết tin dữ rồi, ngay cả khi ông bà Ripley chưa nhận được nó.
Bà Verna Ripley đã nhìn thấy nhân viên Western Union từ xa trước khi ông ta đến cửa nhà. Cho là chỉ có tin dữ mà thôi, bà chạy ngay về hướng khác khóc la thảm thiết, làm như chẳng thà không biết chính xác thì có thể chối bỏ được thực tại. Ông chồng Bud buộc phải ở lại để nhận cái tin còn khá mông lung nhưng nhờ Trời, điều chắc chắn là người con út vẫn còn sống.
Tin Đại úy John Ripley thật ra vẫn còn sống và còn đủ sức chỉ huy đơn vị là một liều thuốc bổ cho cô vợ trẻ xinh đẹp. Moline Ripley cố gắng tiếp nhận cái tin đó và bám víu vào hy vọng là chồng vẫn còn an toàn có lẽ là cách duy nhất để nàng chấp nhận cái thực tế là không có thêm chi tiết nào khác về tình trạng của chồng. Mà nếu biết thêm thì chắc sẽ làm Moline càng lo lắng hơn nữa. Thôi thì ít nhất là chồng vẫn còn sống sót. Điều này an ủi và khiến nàng tiếp tục tập trung vào việc chăm sóc thằng con cưng Stephen, một điều hoàn toàn trong tầm kiểm soát của nàng.
Tuy nhiên tình trạng Đại úy Ripley không hẳn là đã an toàn. Mặc dù anh không muốn người thân phải lo âu nhưng thực tế là các hoạt động tại Vùng I Chiến Thuật không bao giờ chấm dứt và không hề lắng dịu trở lại.
24 tiếng đồng hồ trôi qua sau trận đánh và khi kiểm điểm quân số còn lại thì cả hai Trung đội trưởng của Ripley đã cùng bị tử thương và tất cả các Tiểu đội trưởng của cả hai Trung đội 1 và 2 đều đã bị tử trận hoặc trọng thương. Thật là một điều oái oăm là cuộc đụng độ đã được phát động và chấm dứt bởi cái Tiểu đội có người đã phát hiện ra bộ chỉ huy của Trung đoàn Bắc Việt vào khoảng 12 tiếng đồng hồ trước đó.
Sau rốt thì Đại úy Ripley cùng với một ít quân số còn sống sót cộng thêm quân tiếp viện trong ngày đã bắt tay lại được với Trung đội 3 đang trấn giữ chỗ ngã ba con đường mòn. Cùng với đám hỗn tạp TQLC của Đại đội Lima là số lớn chiến sĩ của Đại đội India và một ít chiến sĩ của Tiểu đoàn.
Vừa đánh xong một trận quan trọng, bị thiệt hại và bổ sung thêm một số lớn binh sĩ nhưng các TQLC không hề được nghỉ ngơi. Đây không phải là một trận bóng chày thể thao. Thời gian không hề đừng lại mặc dù Đai đội Lima đã gần cạn nhân lực. Họ là TQLC Hoa Kỳ và nơi đây, tại Vùng I Chiến Thuật, cuộc chiến vẫn còn đang tiếp diễn.
Khi các đơn vị rời rạc đã kết hợp lại được với nhau trước khi đêm xuống thì các biện pháp chiến thuật thông lệ được thiết lập trở lại. Các chiến sĩ được lệnh sẵn sàng ứng chiến 50%, cứ mỗi hầm phòng thủ với hai người thì một người được ngủ trong khi người kia canh gác. Mỗi Trung đội phải cử ra một toán cảnh vệ hay phục binh để phòng thủ trung tâm hành quân. Mặc dù đã kiệt sức nhưng Đại úy Ripley vẫn dùng điện đàm điều động mọi người cùng với viên truyền tin. Hạ sĩ Hobbs được phái đi cùng với Tiểu đội anh đến một địa điểm do Đại đội trưởng chỉ định. Họ chọn một vị trí phục kích thuận lợi nhất để phòng ngừa nếu quân Bắc Việt có muốn tấn công, chúng bắt buộc phải đi qua địa điểm đó. Quả nhiên Hạ sĩ Hobbs và thuộc hạ của anh chẳng cần phải chờ đợi lâu lắc gì mấy.
Một cuộc tàn sát không hơn không kém đã xảy ra. Có lẽ bộ đội Bắc Việt nghĩ rằng quân Mỹ sẽ án binh bất động vì cho rằng kẻ thù đã bị tổn thất nặng nề gấp nhiều lần họ và cũng kiệt sức như họ. Cường độ hỏa lực xé nát bóng đêm. Vị trí phục kích khá xa nhưng cũng đủ gần để toàn bộ Đại đội nghe kẻ thù kêu thét lên, giống như đang van xin: “Chiêu hồi! Chiêu hồi!” TQLC trả lời: “Chiêu hồi cái con mẹ mày… Chiêu hồi là cái quái gì?…”
Về sau này họ mới biết là toán lính Bắc Việt bị trúng phục kích của Hạ sĩ Hobbs đã có ý định muốn đầu hàng. Họ nói “chiêu hồi” ám chỉ là muốn buông súng mà thôi. Tuy nhiên đêm hôm đó TQLC đã không tha một ai. Cho dù họ có hiểu ý định của toán lính Bắc Việt nhưng trải qua nỗi kinh hoàng của trận đánh trước đó, không thể biết liệu họ có chịu bắt tù binh hay không?
Các cuộc giao tranh vào ngày 3 tháng Ba cũng chẳng khác ngày hôm trước bao nhiêu. Ngày 4, 5 và 6 cũng vậy. Đại đội Lima vẫn trấn giữ trận địa, tả xung hữu đột từ địa điểm này qua vị trí khác và đụng độ mỗi ngày. Sự nhận xét của Machete Eddie khá chí lý, John Ripley dường như là cái nam châm thu hút mọi hoạt động vào anh. Đại đội Lima đã phải nằm lại tuyến đầu cho đến hết tháng Ba. Chuck Goggin vẫn chỉ huy Trung đội 1 và được Đại úy Ripley phong lên cấp bậc Trung sĩ mặc dù anh không có thẩm quyền để làm chuyện đó. Tướng Ryan vài ngày sau đó đã thị sát mặt trận và thăng cấp chính thức cho Goggin.
Mỗi một ngày đều giống như ngày hôm trước, và ngày trước đó. Toán TQLC chỉ biết là Chủ nhật đã đến vì đó là ngày mà nhân viên thường vụ phát thuốc ngừa sốt rét. Các cuộc giao tranh và đụng độ với kẻ thù liên tục không ngừng nghỉ. Hàng ngày, binh lính bị tử trận và thương vong cũng không giảm.
Cuộc hành quân liên quan đến Lima 3/3 vào đầu tháng 3 năm 1967 không phải là duy nhất trong Vùng I Chiến Thuật. Tại các vùng còn lại của Quân đoàn I và khắp miền Nam Việt Nam, trong tuần đầu của tháng 3, quân đội Hoa Kỳ đã chịu các sự thiệt hại nặng nề nhất từ trước đến nay. Tổng cộng có 1.617 quân Mỹ đã bị thiệt mạng, bị thương hay mất tích.
Cho dù bị đánh tơi bời và kiệt sức lực nhưng các binh sĩ TQLC còn lại rất tin tưởng vào khả năng của các cấp chỉ huy họ. Các TQLC Lima còn sống sót rất đáng được tự hào. Trong mỗi cuộc đụng độ họ đều bị thiệt hại nhưng vẫn luôn luôn chiến thắng kẻ thù.
Vào khoảng hai tuần sau trận giao tranh đầu tiên ngày 2 tháng Ba thì một chiến sĩ Đại đội Lima nhận được trong thư tín của mình một mảnh tin cắt ra từ báo Boston Globe hay một tờ báo nào đó vùng Đông Hoa Kỳ mô tả về thành tích của toán quân mệnh danh là “Các Trinh Sát của Ripley.”
Điều lạ lùng đã xảy ra là trong cái ngày tưởng chừng như vô tận đó, trong một lần tiếp tế và tản thương cho vị trí của Đại đội Lima đã chiếm lĩnh được và đang phòng thủ trong ngày 2 tháng Ba, một nhóm thông tin báo chí đã được người ta chở đến để quan sát cái “tổ ong vò vẽ” mà Lima đã đụng phải. Trong lúc Đại úy Ripley và mỗi một TQLC còn bận chiến đấu thì các toán quay phim và ghi âm đã tùy tiện quay các vị trí của Đại đội Lima, làm như là họ đứng ngoài và không can dự vào cuộc chiến đang diễn ra chung quanh. Đối với các TQLC đang thi hành nhiệm vụ thì chuyện này rất bực mình và làm xao nhãng tinh thần họ. Một nhóm phóng viên với thái độ bàng quan trước các sự việc đang xảy ra chung quanh còn quay cảnh một toán TQLC khiêng thương binh trên tấm poncho dùng làm cáng ra trực thăng tản thương đang chờ ngoài bãi đáp. Một loạt bích kích pháo nổ rền làm các TQLC nhào xuống núp và đánh rớt đồng đội xuống đất. Nhóm quay phim lập tức chụp được cảnh này. Cha mẹ của người thương binh đã xem được cảnh bi đát của con mình như vậy trong bản tin chiến sự buổi chiều tại Hoa Kỳ. Điều này đã tạo cho họ một nỗi buồn sâu đậm không ngơi.
Từ lâu, trước khi sự việc này xảy ra, cảm tình của các TQLC đang lâm trận đối với giới truyền thông chẳng khá gì hơn tình cảm của họ đối với quân Bắc Việt chút nào. Khi trận đánh tiến triển và tăng dần cường độ, chính các phóng viên báo chí cũng bị lâm vào tình thế hiểm nghèo. Phản xạ bảo toàn tính mạng đã làm cho một anh ký giả chạy bổ về phía một chiếc trực thăng CH-46 đang sắp sửa bay lên với cái bửng đã bắt đầu rời khỏi mặt đất. Anh chàng này chạy thục mạng với tốc độ ngang với lực sĩ Jesse Owens và ném đồ nghề vào trong trực thăng. Chúng rơi đè lên cả một số thương binh TQLC đang được tản thương. Sau đó thì hắn cố trèo lên cái bửng đang đóng lại phía sau của chiếc Chinook. Các TQLC chứng kiến được cảnh hèn nhát này hầu hết ngán ngẩm và nổi giận. Một người của Đại đội Lima còn có ý định muốn cho hắn một phát đạn cho rồi.
Trong nhóm phóng viên thoát ra được và viết tường thuật lại thì ít ra cũng có một người rất ngưỡng mộ sự can trường và lòng quyết tâm của các chiến sĩ Đại đội Lima. Khi kể lại những gì mà anh đã chứng kiến và học hỏi từ các TQLC lúc đụng độ với kẻ thù, anh đã mệnh danh nhóm kiêu hùng này là “Các Trinh Sát của Ripley.” Họ đã chiến đấu anh dũng với quân số bị thu hẹp lại dần theo từng giờ đồng hồ.
Không rõ quân Bắc Việt có đọc tờ Boston Globe hay không, nhưng chuyện này cũng chẳng mấy quan trọng. Họ đổ vào trận chiến những đơn vị tinh nhuệ nhất càng lúc càng nhiều để quần thảo với các TQLC Hoa Kỳ khắp Vùng I Chiến Thuật. Các cuộc đụng độ đã xảy ra liên tục với cường độ tăng dần đối với các đơn vị Hoa Kỳ từ cuối tháng Hai 1967 trở đi là một thực tế mà ít người ở nhà có thể thấu hiểu nổi.
Đối với bất cứ đơn vị quân đội nào khác mà bị đóng quân tại Cà Lũ thì được mô tả là một nhiệm vụ khó khăn cùng cực. Nhưng so với trận tuyến mà Đại đội Lima vừa mới trải qua bốn tuần lễ trước đó, so với các trận giao tranh rùng rợn mà họ phải đối mặt hàng ngày với các đơn vị Bắc Việt tại vùng đất nhỏ bé phía Bắc Vùng I Chiến Thuật thì sự trở về Cà Lũ – bản doanh của Đại đội, một bản doanh kiên cố như Thành Apache giữa vùng hoang dã – lại là một điều tương đương với chuyện được lên thiên đàng nếu không bị sát hại vào đầu tháng Tư năm 1967.
Nằm trên một vị trí chiến lược dọc theo quốc lộ 9 bên cạnh giòng sông Thạch Hãn, Cà Lũ là một tiền đồn kiên cố do TQLC Hoa Kỳ trấn giữ nằm về hướng Tây trước khi đến Khe Sanh và chỉ cách biên giới Lào vào khoảng hai mươi cây số.
Nhằm giúp cho Đại đội Lima được tạm nghỉ ngơi dưỡng quân, một Đại đội khác được trực thăng vận xuống phòng thủ vòng đai căn cứ Cà Lũ. Khi người lính cuối cùng của Đại đội Lima đã vào được trong căn cứ vào khoảng 5 giờ rưỡi chiều, các TQLC được chiêu đãi theo đúng điệu của Binh chủng TQLC Hoa Kỳ. Thịt bít-tết được mang ra ăn thả giàn và bia rẻ tiền như từ trên trời rơi xuống cho mọi người. Lúc này họ trông giống như vừa tham gia vào một cuộc thử nghiệm điên khùng hàng loạt về sự mất ngủ, sự căng thẳng và thiếu thốn nhiều hơn là các chiến sĩ đã dày dạn chiến trường. Cho đến 10 giờ đêm khi một số lớn bụng đã no nê vì ăn quá nhiều thịt steak và uống say mèm bia thì lệnh trên báo xuống là một Tiểu đoàn của Sư đoàn 9 đang đụng độ lớn. Cần tăng viện gấp. Nửa tiếng đồng hồ sau, các “Trinh Sát của Ripley” đã sắp sẵn và lên đường hành quân. Họ đã trở lại trận địa… một cách nhiệt tình… thêm một lần nữa
CỤNG LY VỚI MA NỮ
Em bảo, em chưa bao giờ uống rượu
Nhưng hôm nay sẽ say quắt cần câu
Càng uống, em càng hận thằng chồng cũ
Vì cớ sao vội rút ván qua cầu
Mười lon chia đôi – mới qua tăng nhất
Còn tăng hai với chai rượu tắc kè
Ta lợi dụng ngồi gần em chút nữa
Thích hay không mà em ngồi im re
Chẳng biết xỉn chưa mà má em hồng quá
Tóc bay bay – quyến rũ cực kỳ
Ta ngây ngất nhìn không hề chớp mắt
Em mỉm cười- uống một phát, cạn ly
Trời đất ơi – đúng là hồng nhan tri kỷ
Mấy chục năm ta lặn lội kiếm tìm
Gã kia bây giờ biết mình mất viên ngọc quý
Nên sống mà như nửa tỉnh nửa điên
Em yêu quý- đời trăm ngàn lối rẽ
Hạnh phúc không tự nhiên rớt xuống đời mình
Hạnh phúc không bao giờ trong tay những kẻ
Vò nát đời nhau- không biết nhục, vinh
Ta lãng tử – giang hồ – hay đạo tặc
Ta chẳng cần – chỉ biết mãi yêu em
Ta bất sá – giàu nghèo là chuyện vặt
Ngủ đi em- ta sẽ thổi tắt đèn…
hochibuu
Lãng Đãng
ĐÈN KHUYA
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Hy vọng luôn bừng nở”
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
LACY WRIGHT
(Nhân viên ngoại giao. Trưởng phòng chính trị)
“Hy vọng luôn bừng nở”
Tôi sinh trưởng ở Springfield, Illinois thuộc miền Trung Tây nước Mỹ. Xong đại học, sang La Mã thụ giáo linh mục hai năm rưỡi. Rồi bỏ dở. Về lại Mỹ dạy trung học tại Chicago một năm. Thời gian ấy tôi dự một kỳ thi tuyển nhân viên ngoại giao và theo học chương trình cử nhân Bang giao quốc tế tại đại học Chicago một năm. Tôi cũng không theo hết chương trình, vì đã được nhận làm nhân viên ngoại giao từ đầu năm 1968. Lúc ấy, ai vào ngoại giao mà chân còn cất bước và mồm còn bỏm bẻm nhai kẹo cao su được là được gửi đi Việt Nam.
Có thể nói lúc ấy đối với đa số người làm ngoại giao, bị đưa sang Việt Nam là một điều cay đắng. Ngành ngoại giao thời ấy, ít hay nhiều, đều có khuynh hướng chống chiến tranh. Chưa kể người ta sợ, chẳng ai muốn mất mạng giữa thời son trẻ. Nhưng phần lớn chúng tôi đều đã được đưa sang Việt Nam.
Sang bên ấy, có điều kỳ lạ làm chúng tôi thay đổi: đa số đâm ra thích Việt Nam. Nhiều người, kể cả tôi, sau khi về, lại tình nguyện xin trở lại.
Trước khi đi, chúng tôi được học mười tháng tiếng Việt tại học viện ngoại giao ở Hoa Thịnh Đốn. Dù không giỏi bằng nhiều người khác, nhưng khả năng Việt ngữ của tôi cũng không đến nỗi nào. Trái với điều người ta thường bảo người Mỹ không hiểu biết gì về xứ sở này, kể ra cũng có phần đúng, nhưng phần lớn nhân viên ngoại giao và nhân viên các ngành đều nói được tiếng Việt, nói rất giỏi. Tất nhiên không sánh được với người Pháp và vài nhóm người ngoại quốc khác tại Việt Nam.
Học viện ngoại giao không phải chỉ gồm có nhân viên ngoại giao. Dù nhân viên ngoại giao chiếm đa số, nhưng còn có cả các sĩ quan quân đội, thường là cấp thiếu tá, trung tá, và nhiều người thuộc các cơ quan khác. Nói chung, sĩ quan quân đội hơi lớn tuổi đối với việc học Việt ngữ, vốn là một ngôn ngữ khó. Trung bình họ ngoài bốn mươi, và cũng không có ai cố theo học. Còn nhân viên ngoại giao đa số đều học tiếng Việt, nhiều người sau khi sang Việt Nam ra ngoài sinh hoạt, làm việc ở các tỉnh, đã trau dồi thêm và nói tiếng Việt rất giỏi.
Sau một năm học Việt ngữ rồi tham dự những lớp thuyết trình chuẩn bị, tôi đã đến Việt Nam vào tháng 3, 1969.
Có vài điều tôi muốn nói. Điều thứ nhất: Dân Việt không phải ai cũng như ai, có người thế này người thế khác, có người khá có người không. Những nhân viên sang bên ấy trước vẫn không có cảm tình với chính phủ Nam Việt Nam, nhưng sau khi tiếp xúc với người Việt, làm việc với người Việt, sinh hoạt với các viên chức địa phương, dần dà nảy sinh nhiều tình cảm. Những người này bắt đầu đứng bên họ, mong cho họ những điều tốt đẹp, hy vọng họ sẽ thắng. Và mặc dầu tất cả chúng tôi đều thấy chế độ Nam Việt Nam có nhiều thiếu sót, nhưng sau khi quen thuộc với chiến thuật đối phương, thấy rõ sự khác biệt của phía Cộng sản và phía bên này, chúng tôi đều nảy sinh nhiều tình cảm đối với Nam Việt Nam. Điều thứ hai: Ở Việt Nam người ta có thể sống một cuộc đời phiêu lưu, với một giá sinh hoạt rẻ. Phần lớn nhân viên dân sự chúng tôi sống tiện nghi thoải mái, tương đối an toàn. Tất nhiên nhiều người phải về những vùng nguy hiểm, nhất là những người đi các tỉnh lẻ. Nhưng với đa số chúng tôi, những hiểm nguy đó chỉ vừa đủ cho cuộc đời thêm thích thú. Nó là cảm giác sôi nổi của cuộc sống thú vị giữa những hoạt động đầy tranh cãi của thời đại chúng ta. Và đàn bà thì vô số! Người ta ở vào một thời gian và không gian mà mọi kiềm chế bình thường được tung hê tháo bỏ, chẳng phải giữ gìn gì. Tất nhiên, đó là một hấp dẫn không ngừng.
Thế đấy. Nơi ấy đã có những cái tốt, những cái xấu, có những điều cao quí và cũng có nhiều thứ kém cao quí như vậy.
Một trong những chuyện tôi thích kể là vào năm 1973 sau khi đã ký hiệp định Paris, Bộ Ngoại giao quyết định gửi nhiều nhân viên về lại
Việt Nam. Đưa người sang Việt Nam là bật rễ họ khỏi cuộc sống, gây nhiều trở ngại và thay đổi. Để thu hút chúng tôi, họ tìm cách tạo khích lệ: Trước hết, chỉ cần đi trong vòng sáu tháng để theo dõi việc thi hành hiệp định. Lương được tăng đến 25 phần trăm. Trong thời hạn có sáu tháng, lại được về thăm nhà một chuyến, hoặc tùy ý du lịch bất cứ chỗ nào vói phí tổn tương đương. Và Mỹ ở tận bên kia địa cầu, như thế nghĩa là có thể đi du lịch bất cứ chỗ nào trên thế giới tùy thích.
Sau khi đặt ra đủ thứ khích lệ hấp dẫn như thế, Bộ Ngoại giao lại cho biết nếu được chỉ định là phải đi, không có quyền lựa chọn. Tuy nhiên sau khi công bố, ai cũng muốn đi. Có người gọi cả điện thoại đến sở nhân viên hỏi: “Này, sao không thấy tên tôi trong danh sách trở lại Việt Nam.”
Chuyến đầu tiên tôi sang Việt Nam một năm rưỡi. Vào thời gian ấy chương trình Bình định đạt nhiều kết quả. Chương trình này có hai diện: một là loại bỏ Cộng sản, hai là cải thiện đời sống dân chúng. Nhiều tiến bộ đạt được trong cả hai lãnh vực. Nói chung những tiến bộ ấy bắt đầu kể từ sau vụ tổng công kích Mậu Thân thất bại và tiếp tục được vài năm. Những kết quả này làm cho phần lớn vùng đồng bằng Cửu Long trở nên yên ổn.
Vùng đồng bằng gồm 16 tỉnh, tôi đã làm việc tại một trong 16 tỉnh ấy. Không hề có hoạt động của đối phương. Phần lớn vùng đồng bằng đều như vậy, an ninh rất tiến triển. Vì thế khi trở lại, tôi có một thái độ lạc quan khá ngây thơ. Mọi người đều phấn khởi là chiến tranh đã chấm dứt, hoặc ít nhất, có một triển vọng mới cho hoà bình: Bất kể sự kiện hiển nhiên là hiệp định hoà bình này không thực hoàn hảo gì. Có lẽ vì hy vọng luôn bừng nở? Chúng tôi đã hy vọng: dẫu có thế nào, biết chừng đâu hiệp định này sẽ mang nhiều kết quả!
Vào thời điểm ấy, vẫn còn nhiều người Mỹ ở tại Việt Nam, nhờ đó đời sống vẫn thịnh vượng. Nhưng đến khi chúng ta rút đi một con số lớn người Mỹ, xứ sở này bắt đầu xuống dốc. Họ bắt đầu đối mặt với những khó khăn kinh tế trầm trọng, thiếu tiếp vận cho quân đội, và họ mất tinh thần.
Đầu năm 73 tôi được gửi đi Chương Thiện khoảng một, hai tháng. Rồi tôi lên Cần Thơ, thủ phủ vùng đồng bằng, cũng là thủ phủ quân khu 4. Lúc ấy chúng tôi thiết lập tại đây một lãnh sự quán cũng như các lãnh sự ở các quân khu khác. Tôi trở thành một trong 16 nhân viên ngoại giao làm việc dưới quyền lãnh sự Mỹ ở Cần Thơ.
Tình hình đồng bằng Cửu Long thực ra mỗi lúc một xấu. Đầu năm 74, lãnh sự quán làm một bản phân tích chiến sự rất dài, rất bi quan. Chúng tôi nắm rõ những dữ kiện xảy ra: lính đào ngũ gia tăng, quân vận thiếu hụt, tinh thần xuống thấp. Những dấu hiệu cho thấy sau một thời gian khả quan ở vùng đồng bằng vào năm 73, tình hình tuột dốc kể từ mùa Xuân 74.
Vào lúc này, Cam Bốt sắp bị Khmer Đỏ nuốt trọn. Chúng tôi đang đứng ở lằn ranh của diễn trình này. Một sự hiện đáng kể – ít ai biết – là bấy giờ có một số dân tỵ nạn chiến tranh chạy trốn Khmer Đỏ, sang Việt Nam, đến tỉnh Kiên Giang. Một nhân viên lãnh sự quán của chúng tôi đã thẩm vấn họ, đúc kết nhiều bản báo cáo dài. Sau này Khmer Đỏ chiếm đóng toàn bộ Cam Bốt, tạo ra những cuộc tắm máu, thảm sát hàng triệu con người, nhưng thật ra các hành động tàn bạo nổi tiếng ấy đã xẩy từ trước. Các cuộc thẩm vấn cho thấy Khmer Đỏ đã giết chóc dã man tại những vùng họ chiếm trước rồi, chúng tôi đã ghi nhận những sự kiện ấy vào tài liệu rất sớm, ngay từ 1974.
Nhưng việc ấy không được công bố rộng rãi. Thật ra, chúng tôi có công bố các tài liệu này tại Hoa Thịnh đốn trên một vài mức độ, tôi nhớ những người như Sidney Schanberg của tờ New York Time hồi ấy đã gạt đi, coi các báo cáo này chỉ là tài liệu tuyên truyền của Mỹ. Nhưng tôi nghĩ, nói chung, dân Mỹ không hoàn toàn xem những vụ chiếm đóng ấy bằng nhãn quan được gọi là tuyên truyền Mỹ, hay Mỹ bóp méo sự thật.
Tôi rời đồng bằng vào tháng 9,1974, nhận nhiệm vụ phụ tá đơn vị Nội chính trong ngành chính trị tại toà đại sứ. Công việc chúng tôi là theo dõi nội tình chính trị Việt Nam.
Khi phái đoàn quốc hội đến vào đầu 1975, tôi đã thuyết trình cho phái đoàn này trong lãnh vực chuyên biệt của tôi. Họ không hề đặt với tôi những câu hỏi như ông Thiệu thế nào, có nên duy trì quyền lực cho ông Thiệu hay không, hay bất kỳ câu hỏi nào khác như vậy. Họ chỉ thích nói về vai trò các đảng phái chính trị, vai trò các nhân vật chính trị khác, ví dụ về ông linh mục nổi tiếng, ông cha Thanh lãnh đạo phong trào chống tham nhũng.
Vấn đề đàn áp đối lập và vấn đề tù nhân chính trị không phải là một vấn đề mới. Nó hiện hữu và đã được quan tâm. Song le điều tôi muốn nói là vào lúc này chẳng nên xoáy vào vấn đề tù chính trị mà trọng điểm của vấn đề phải là sự sống còn của quốc gia này. Đó mới là vấn đề chính đáng. Trong mấy chuyện nhân quyền, vấn đề này cũng quan trọng thiệt, đặc biệt là quan trọng đối với mấy cha ngồi tù. Nhưng trong chuyện chính trị thì trọng điểm lúc ấy của phái đoàn quốc hội là phải đến để thực hiện một phán đoán khó khăn về chế độ Thiệu, phải cân nhắc xem Hoa Kỳ có nên tiếp tục hỗ trợ chế độ này nữa hay là thôi.
Người như Don Fraser là loại người có cái tình cảm của phái Tự Do, họ cố tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy chính phủ Thiệu tham nhũng hay không tham nhũng. Tôi nghĩ những người như thế đã vấp phải cùng một cái lầm lẫn của dân Mỹ nói chung thường có khuynh hướng mắc phải, đó là cứ xoáy chặt vào những tội lỗi của chế độ Thiệu. Chế độ này quả có những tội lỗi. Nhưng nếu không cân nhắc xác đáng để thấy tội lỗi của đối phương còn ghê tởm gấp bội, và nếu không suy nghĩ rốt ráo để hiểu việc gì có thể xảy ra nếu đối phương chiến thắng – thì chuyện ấy không thể tha thứ hay bào chữa được.
Trong thời gian đại sứ Martin ở Mỹ, việc tan rã cao nguyên đã xảy ra lúc ông đang vắng mặt. Theo sự hiểu biết của tôi, ông đã lạc quan một cách thiếu bảo đảm lúc về lại Hoa Thịnh Đốn có thể vì ông không ở tại trung ương, ông không nắm vững những gì xảy ra. Vai trò của đại sứ Martin và phương cách làm việc của ông tất nhiên cũng là một đề tài đáng lưu ý.
Khỏi cần nói, nếu quý bạn ở địa vị ông, quý bạn cũng sẽ phải cực kỳ thận trọng mỗi khi tuyên bố, hay mỗi khi mở lời nói một điều gì. Đại sứ Martin cũng vậy. Ông được xem là con cừu đầu đàn. Những gì ông làm đều có giá trị tượng trưng. Khi phân tích phê bình ông, người ta phải nhìn các hoạt động của ông trong bối cảnh ấy, với ánh sáng ấy. Nhìn như thế, người ta sẽ thấy ông bắt buộc phải lạc quan. Một khi đại sứ Martin bắt đầu biểu lộ bi quan, ấy là mọi sự đổ vỡ hết.
Người ta cũng nói đến đại sứ Martin và những lý luận của ông trình bày về sự can dự của chúng ta vào Việt Nam. Ông giải thích tại sao chúng ta ở đây, để làm gì, tại sao cần tiếp tục. Những luận giải của ông hay hơn, vững chắc hơn rất nhiều người khác. Tôi nghe ông nói vài lần và ông đã gây nhiều ấn tượng sâu sắc với tôi.
Nhưng có một điều tôi nghĩ ông đại sứ có thể làm, và nên làm – mà ông đã không chịu làm là đối với giới truyền thông, báo chí. Tôi không bảo rằng truyền thông, báo chí không bao giờ lầm lẫn, thật ra họ lầm lẫn khá nhiều, nhưng đại sứ Martin đã gây ra nhiều đối kháng nơi họ. Ông làm cho những người vốn đối kháng cá nhân ông, đối kháng sự can dự của chúng ta ở Việt Nam trở nên đối kháng mạnh mẽ hơn. Tôi nghĩ việc này có thể đối phó cách khác. Nhưng tôi không hiểu nếu như thế liệu có ảnh hưởng gì đến cái kết quả cuối cùng không? Có lẽ không, chắc chắn cũng chẳng có gì tốt hơn. Thường người ta khó biết bên trong con người Martin, ông thực sự nghĩ gì, tin tưởng gì khi nói chuyện với công chúng và ông phải phủ trên những chuyện ấy một bộ mặt đẹp đẽ.
Tôi không dám chắc có ai biết. Nhưng bây giờ, chúng ta đã biết được một điều. Đó là trong trí ông, ông có cái hy vọng sẽ thương thảo như một giải pháp cứu vãn danh dự. Mặc dù giải pháp này chẳng hơn gì một cuộc thất trận được che đậy, nhưng như thế ít nhất còn có thể cho phép thực hiện di tản, giúp những người cần ra khỏi nước có thể đi thoát. Chúng ta cũng biết cái hy vọng ấy chỉ là hy vọng hão huyền, nhưng chính hy vọng ấy đã từng ở trong trí ông lúc ông nỗ lực đối phó tình hình.
Đầu tháng Tư, nhiều chiến dịch nhỏ được thiết trí để đưa một số người ra khỏi xứ một cách lặng lẽ, không bị lưu ý. Đại sứ Martin giao cho tôi việc giúp đỡ những người Việt thân thích của người Mỹ ra đi. Có một số nhân viên ngoại giao kết hôn với người Việt, gia đình ở tại Sàigòn và khắp nơi trong xứ. Các nhân viên này đến ăn vạ ở Bộ Ngoại giao, nằng nặc yêu cầu giúp đỡ gia đình họ. Khỏi nói chúng ta đều biết gia đình họ quả sẽ là những người phải chịu nhiều nguy hiểm.
Chúng tôi thực hiện tác vụ này qua các căn nhà an toàn ở những địa điểm khác nhau. Trong mười ngày cuối cùng chúng tôi bận rộn bù đầu, ngày nào cũng nửa đêm mới về đến nhà như cái xác chết. Sau này tôi tiếc lúc ấy tôi đã không viết được gì để ghi lại, nhưng thật ra cũng không thể làm gì, vì sau mỗi ngày làm việc là kiệt sức, cứ thế cho đến ngày cuối.
Sáng 29 tháng Tư tôi choàng dậy từ sớm vì bom nổ ở phi trường. Lúc ấy tôi ở cách toà đại sứ có nửa khu nhà, tôi thức giấc đi ngay đến toà đại sứ mà không biết ngày hôm nay chính là ngày cuối cùng. Nhưng khi đến, tôi hiểu rõ và chúng tôi cố rút người từ tất cả các trạm ra đi.
Sáng hôm ấy chúng tôi liên lạc gọi tất cả những người Việt thuộc đường dây chúng tôi trách nhiệm đến toà đại sứ hoặc đến một trong các căn nhà an toàn được thiết lập làm trạm di tản. Mọi thứ trên đường phố đều tuyệt đối im lìm vì có giới nghiêm 24/24, không một bóng người lai vãng. Tôi rời toà đại sứ bằng xe hơi đến một căn nhà an toàn mà hôm trước tôi đã bỏ lại một danh sách gồm các tên người – vì tôi tưởng hôm sau tôi sẽ trở lại. Tôi cần phải lấy lại danh sách ấy, tôi không muốn nó rơi vào tay đối phương. Tôi đã đi về an toàn, không trở ngại gì.
Sau đấy tại văn phòng đại sứ, Alan Carter cứ lo lắng suy nghĩ: có vài người Mỹ và một số người Việt vẫn còn đang ở tại trụ sở phòng thông tin Hoa Kỳ. Ông không biết cách nào mang họ đi, ít nhất là mang hai người Mỹ đi. Tôi bảo ông ta để tôi lo, tôi lái xe đến đấy, bốc họ về. Vẫn không có trở ngại. Đường phố vắng tanh. Chúng tôi cứ loay hoay, suốt buổi như thế. Chừng tám giờ sáng, có một Mục sư Tin Lành người Anh lò dò bước đến cổng toà đại sứ, dòm vào. Ông ta hỏi: “Thưa quý ông, chẳng hay tình hình hiện nay như thế nào?” Tôi nói: “Tình hình xấu lắm, mục sư nên vào trong này. Sắp sửa phải di tản. Nơi này sắp rối beng đến nơi.” Ông mục sư bảo: “Ô, chúng tôi nào dám làm phiền quý ông! ” Tôi nói lại lần nữa: “Tốt hơn hết, Mục sư nên vào trong này.” Lúc ấy ông mục sư mới chịu bước vào, sau đó đã được trực thăng bốc đi. Có những người khiêm tốn đến thế! Giữa cơn phong ba bão tố, họ vẫn cứ một mực cung kính mà thưa rằng: “Chúng tôi nào dám làm phiền quý ông!”
Chừng buổi trưa, chúng tôi bắt đầu đi đón người. Vào lúc đó, chúng tôi tiến đến một ý tưởng tuyệt vời. Phải nói ý tưởng ấy là quà của Chúa gửi cho chiến dịch di tản: Đó là sử dụng xà lan để đưa người Việt đi bằng đường sông. Thật ra đây là đề nghị của vài người, trong ấy có Mel Chatman đã đưa ra một hai tuần trước nhưng lúc ấy ai cũng cho ý kiến này là “óc thỏ,” nghĩa là: nông nỗi và liều lĩnh. Nay trong tình trạng khẩn cấp, cần đến các hành động quyết đoán, họ đã mang ý tưởng ấy ra sử dụng và cho xà lan chuẩn bị, chờ dưới bến.
Do đó từ trưa cho đến 3 giờ 30 là lúc tôi ngừng, tôi cùng với một người bạn là Joe Mc Bride liên tục chở người ra xà lan bằng chiếc xe thùng. Không bao giờ tôi quên chuyến đầu tiên, nó chật ních hơn cá mòi đóng hộp. Lại thêm không kiếm ra xà lan đậu ở chỗ nào. Mọi thứ không dễ dàng đến thế! Chúng tôi phải qua một cây cầu, lúc ấy dân chúng bắt đầu tràn ra, cả thành phố đã trở nên điên cuồng. Tôi lo không cách gì qua cầu nổi vì đường đã bắt đầu kẹt xe. Tôi tính nếu có đi thoát được thì đây chắc phải là chuyến cuối cùng.
Trời ngó lại! Phép lạ xảy ra là có một người ở toà đại sứ mang theo một nắm tiền. Anh ta biếu hết cho cảnh sát, yêu cầu cứ đứng đấy chỉ chỏ cho xe chạy. Nhờ thế chẳng mấy chốc chúng tôi tiếp tục di chuyển, rồi còn trở đi trở lại căn nhà bốc thêm mấy chuyến nữa.
Hôm ấy tại căn nhà này người ta đến rất đông. Cảnh tượng ấy thực não lòng: Ai nấy đều tuyệt vọng mong đi, ai nấy đều biết thế là hết. Thế là xong. Trên đầu chúng tôi trực thăng bay sành sạch, rõ ràng số người quá đông, Joe và tôi không thể nào mang đi xuể. Tôi sẽ không bao giờ quên chuyến xe chót. Mọi người tuyệt vọng chen lấn lọt vào, tôi đã gần như phải dùng đến vũ lực để giữ trật tự. Tôi sẽ không bao giờ quên một người đàn ông, một ông già đã tự động đứng sang một bên giúp tôi sắp xếp mọi người. Ông không tìm cách len vào xe. Ông bảo mọi người “Đừng lo, anh ta sẽ trở lại.” Lúc ấy tôi biết rất rõ là tôi sẽ không bao giờ trở lại nữa. Toà đại sứ đã bảo tôi: đấy là chuyến cuối.
Sau đó, buổi tối ở toà đại sứ tôi nhận cú điện thoại của một ông đang ở đâu đó trên đường phố. Ông này nói với tôi rằng người ta đã dặn ông đến chỗ này chỗ kia ở một địa điểm nào đó, nhưng chẳng ai đến cả. Ông ta đang ở trên đường, không ở trong trạm an toàn. Điều duy nhất tôi có thể làm là bảo ông tự kiếm cách đi xuống xà lan. Nhưng lúc đó mọi người đều sợ phải đi ra ngoài. Đây cũng là câu chuyện rũ rích: hễ cứ đi với người Mỹ thì người ta mới thấy an toàn, và cảm thấy là có thể đi lọt. Còn tự đi một mình thì người ta sợ! Biết chuyện gì sẽ xảy ra đây? Nhưng tôi đã cố thuyết phục ông này rằng ông phải tự đi lấy, hãy tự bắt lấy cơ hội, và đó là một cơ hội nhiều triển vọng!
Tôi rời Việt Nam từ toà đại sứ Hoa Kỳ vào lúc chín, mười giờ tối ngày 29 tháng Tư. Nếu muốn, tôi có thể đi sớm hơn vì hễ trực thăng đến mà người nào muốn đi và đã sẵn sàng đi là cứ lên sân thượng mà đi. Vì vậy lúc 9 giờ tôi thầm nghĩ: tại sao không đi lúc này? Tôi không còn lý do gì để ở lại lâu hơn nữa. Khi ra đi, có một việc tôi sẽ không bao giờ quên, đó là lúc trực thăng quần một vòng trên thành phố, người ta nhìn thấy ở hướng tây, căn cứ Long Bình đang bốc cháy. Một đám cháy vĩ đại. Long Bình là một trong những căn cứ lớn nhất của chúng ta ở Việt Nam. Nhìn ngọn lửa, tôi nghĩ nó đang thiêu đốt tất cả. Mọi công trình của chúng ta ở đấy đang thiêu đốt ra tro. Và tất nhiên cũng phải nghĩ đến những con người chúng ta đã bỏ lại, một con số to lớn những người chúng ta đã rời bỏ mà đi.
Hôm nay tôi lại nhớ đến những người ấy. Tôi cũng nghĩ đến các oán thù bên phía đối phương. Họ đã không tạo ra các cuộc tắm máu như ở Cam Bốt, vâng, có vẻ như thế. Nhưng họ cũng đã giết biết bao người, và đến nay sau bao năm tháng trôi qua, vẫn còn những người bị giam giữ mỏi mòn trong các trại cải tạo. Suốt thời chiến tranh Việt Nam không một người nào dùng thuyền rời nước. Ngay cả vào những năm khi chiến cuộc đến mức khủng khiếp nhất, vẫn không hề có một người Việt nào bỏ nước ra đi. Nhưng từ 1975, một triệu rưỡi con người đã đi, bây giờ vẫn ra đi. Hai mươi lăm ngàn con người mỗi năm tiếp tục rời nước bằng thuyền, chưa kể ba ngàn người mỗi năm vượt thoát bằng đường bộ băng qua ngả Cao Miên.
Từ khi chiến tranh chấm dứt, nhìn những gì Cộng sản đã làm ở Việt Nam và ở Cam Bốt, nhiều người mới hiểu: Khi chính phủ chúng ta nói rằng Hoa Kỳ đang chiến đấu chống lại một bọn người hung ác, thì đây là trường hợp lời nói đã được xác nhận đúng như thế…
…
Sherlock Holmes đã mất tích như thế nào?
Sherlock Holmes đang ngồi nghiên cứu vụ án thì vị khách bước vào xin gặp. Đây là một vị khách bình thường, bình thường đến mức bằng tài năng nhận xét và phân tích thiên tài của mình, Holmes vẫn không rút ra kết luận gì cả.
Vậy ông ta là ai? Đến đây làm gì?
Vị khách lạ niềm nở chào Sherlock Holmes:
- Thưa Ngài Sherlock Holmes, tôi biết Ngài là một thám tử lẫy lừng nhất nước Anh, đã, đang và sẽ nắm trong tay những bí mật của những vụ án ly kỳ nhất.
Holmes dè dặt đáp lời: Cảm ơn ông. Xin ông đi thẳng vào vấn đề.
- Vâng, thưa Ngài, tôi muốn nói về những điều bí ẩn ly kỳ mà Ngài đang nắm trong tay.
Holmes khẽ nhếch mép: Thế ra ông định mua chuộc tôi để dấu nhẹm những bí ẩn à? Có phải chăng những bí ẩn ấy có liên quan đến tội ác của ông?
Khách lạ vẫn giữ bình tĩnh: Ồ, thưa Ngài Sherlock Holmes, Ngài nói đúng một phần. Tôi định mua những bí ẩn của Ngài, nhưng không phải để dấu nhẹm, mà là để công khai!
Holmes nhíu mày: Thế là thế nào? Ông là người của một thám tử cạnh tranh với tôi, muốn mua những thông tin tôi đã có để tiến thêm trong vụ án? Nếu thế, tôi sẽ không bao giờ bán. Hay ông là người thân của nạn nhân, đang rất nóng lòng muốn biết thêm thông tin? Nếu thế tôi cũng sẽ không bán ông à. Tôi sẵn sàng cung cấp thông tin cho ông miễn phí, nếu nó không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, bằng không thì ông cũng không thể nào moi được thông tin.
Khách mỉm cười, kiên trì giải thích: Thưa Ngài, tất cả các giả định của Ngài đều SAI! Tôi không cạnh tranh với Ngài, thậm chí tôi còn muốn Ngài tìm ra manh mối của càng nhiều vụ án càng tốt. Tôi cũng chẳng phải thân nhân của nạn nhân nào trong các vụ án của Ngài cả. Tôi chỉ là nhà biên tập báo thôi à.
Holmes ngạc nhiên: Nhà báo? Nhà báo thì liên can gì ở đây? À, nếu để đăng tin thì xin ông chờ đến khi kết thúc vụ án.
- Ngài nói phải, tuy nhiên xin lưu ý Ngài là quá trình phá một vụ án rất dài, cho dù người phá án là một thám tử lừng danh cỡ Sherlock Holmes. Các vụ án mà Ngài thụ lý thế nào cũng có liên quan đếncướp, giết, đốt, hiếp, đó là những thứ rất hấp dẫn bạn đọc. Vậy thì khi có những thông tin rùng rợn, gay cấn, hay chụp được những bức ảnh ly kỳ, xin Ngài hãy cung cấp ngay cho chúng tôi. Độc giả sẽ say mê theo dõi những thứ đó, và Ngài sẽ được trả nhuận bút rất hậu. Ngài viết những lời bình thống thiết cho những vụ án bi thảm, mô tả thật khủng khiếp những cảnh thảm sát, tự vẫn… là độc giả sẽ đọc say sưa, và báo tôi sẽ bán rất chạy, Chuyện bé xé ra to, kéo dài càng nhiều kỳ càng tốt, Ngài ạ.
Sherlock Holmes trầm ngâm suy nghĩ. Vụ án có kết thúc thành công thì thu nhập của Holmes cũng chẳng đáng bao nhiêu, mà công sức bỏ ra rất nhiều, có khi nguy đến tính mạng. Còn ở đây, Holmes chỉ cần ngoáy những chi tiết đắt giá nhất (bi thảm nhất, rùng rợn nhất) để đưa lên báo nhằm thu hút độc giả là có tiền nhuận bút ngay(mà những chi tiết ấy vụ án nào lại không có!). Viết tào lao thôi chứ chả cần điều tra chi cho cực! Vị khách lạ lại gợi ý một mức nhuận bút cao đến mức Holmes phải xiêu lòng.
Thế là Sherlock Holmes đồng ý. Thay vì dùng dữ kiện để điều tra, Holmes cứ đưa bứa bừa lên báo để thu hút độc giả, bất kể đã được kiểm chứng hay chưa, bất kể có ảnh hưởng gì đến quá trình điều tra hay không. Những cuộc điều tra đầy tính suy luận của thám tử Sherlock Holmes biến mất, thay vào đó là các bài báo lá cải (với bút danh khác, không phải Sherlock Holmes).
À, còn bác sĩ Watson, người bạn của Sherlock Holmes thì ra sao? Khi thám tử Sherlock Holmes biến mất, Watson cũng giã từ nghề bác sĩ. Ông về vườn trồng cải, loại cải có lá thật to. Nghe nói lá cải này được cung cấp cho Sherlock Holmes để viết báo!
Phạm Hoài Nhân ( nguồn PHNHAN.VNCGARDEN.COM)
















