THÁNG BẢY VÀNG ÚA

trananh

tháng Bảy đưa một nhát kéo
cắt phăng bức tranh kỷ niệm
em đã nằm ngoài khung ảnh
một nửa gương mặt màu
thủy tinh xanh

tháng Bảy chảy một dòng sâu
xác hoa khô gầy tan dưới gót
mùa hạ tròn như viên bi ve
lăn trên bàn tay nhói buốt

tháng Bảy nhổ mảnh – dằm – dĩ – vãng
quằn – quại – trong – xương
một nửa của Khổ đau
có lẽ đâu lại là
Hạnh phúc ?
bằng một nửa lòng thủy chung
vàng úa
em tưới anh
những tia nhìn
đằm đìa
phản trắc.

Trần Anh

GHI VỘI Ở ĐÀ NẴNG

trandzalu

Anh mãi là gió bên trời phiêu lãng
Chút tình nào cũng sắc sắc không không
Giữa vô biên treo phận người hữu hạn
Mà mắt nhìn tha thiết đến trăm năm…

Em nhỏ nhẹ nói cười nơi cố quận
Sao nao lòng đến cả nắng phương nam?
Anh cũng chết bên bến bờ mộng mị
Khi sông Hàn còn dậy sóng đa đoan!

Một hai bữa bên áo người xanh thẳm
Cũng đủ một đời sông suối trôi đi
Em thầm thì đến nghìn khuya thương nhớ
Để ai kia bóng lạnh quán kinh kỳ…

Anh mãi là gió bên trời phiêu lãng
Chút tình nào cũng sắc sắc không không
Mai ra đi chắc là sẽ rất buồn
Buồn lây cả mắt môi người ở lại…

Trần Dzạ Lữ

CƯỠI NGỌN SẤM (13)

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 8

Đoạn kết của một khởi đầu

Cuối hè 1967

Quyết định của Đại úy John Ripley để Trung sĩ mới thăng cấp Chuck Goggin tiếp tục làm Trung đội trưởng Trung đội 1 sau biến cố đầu tháng Tư, cái sự kiện đã làm thiệt mạng vị Trung đội trưởng cũ, cho đến hết nhiệm vụ tác chiến của anh không phải do muốn tiết kiệm tiền thuế hay do lòng thận trọng. Mặc dù người thọ thuế Mỹ, nhất là binh đoàn TQLC có thể tiết kiệm được khoản tiền lương sai biệt 109,50 đô-la mỗi tháng (thời giá năm 1967) giữa một Trung sĩ và một Thiếu úy trong vòng năm tháng trời, John Ripley đã quyết định điều này vì anh nhận ra tài năng của Chuck Goggin.

Trở về từ Hawaii

Mặc dù đã trải qua những thời gian hạnh phúc và lãng mạn trong khoảng thời gian 115 tiếng đồng hồ đầu của thời hạn 120 giờ, tạm xa vắng cái viễn ảnh khủng khiếp là John Ripley có thể bị thiệt mạng trong địa ngục của Vùng I Chiến Thuật, nhưng những giây phút cuối cùng tại Honolulu đã khiến cho cặp tình nhân trẻ trở về với cái thực tế không hay. Khi họ trở lại trung tâm tiếp đón của trại Ft. DeRussy để từ giã nhau, John và Moline Ripley, giống như các cặp khác, đều ý thức rằng vòng tay ôm cuối cùng có thể sẽ là một nụ hôn, một vòng tay ôm hay một lời nói “anh yêu em” cho một lần cuối. Trong giây phút cuối, nỗi đau khổ của biệt ly dường như đã xóa đi khoảng thời gian sung sướng và hạnh phúc ban đầu, hoặc lấn áp luôn cả chúng nữa.

Lúc này thì bề ngoài họ có vẻ săn dòn hơn lúc mới đến, da dẻ bị cháy nắng lẫn với những khoảng da bị sạm đen đi. Họ không còn ngượng ngùng trong những bộ đồ thời trang lòe loẹt aloha nữa và rất tự nhiên như ở nhà vậy. Tuy nhiên nỗi sầu biệt ly khá hiển nhiên ai cũng có thể nhận ra được. Những giọt lệ rơi và tiếng nức nở chỉ làm tạm nguôi ngoai cõi lòng đứt ruột của họ.

Theo qui lệ thì các chàng trai ra đi trước, cũng bằng những chiếc xe buýt tại trại Ft. DeRussy mà chẳng bao lâu trước đó mới đổ xuống bến những quân nhân và TQLC còn tươi tỉnh để họ bắt đầu một qui trình y hệt như những người kém hạnh phúc hơn vừa chấm dứt xong kỳ nghỉ phép của họ. Tại đúng cái chỗ mà năm ngày trước “aloha” có nghĩa là “chào mừng,” nơi mà mùi hương vòng hoa leis cùng với mùi nước hoa xức đặc biệt, cũng cái chốn mà nhạc Hawaii cùng hòa quyện với nhau để nói lên ý nghĩa chờ đợi những giây phút hạnh phúc, thì nay tất cả những sự kiện đó lại làm cho chữ “aloha” đổi nghĩa thành “tạm biệt.”

Từ Waikiki các quân nhân đi ngược về hướng phi trường. Chuyến xe đưa họ, lẻ bóng một mình, đi trở qua các địa điểm mà chỉ vài ngày trước họ đã xây dựng biết bao nhiêu là kỷ niệm trìu mến. Sau đó thì họ đáp các chuyến bay bao thuê dân sự mới đến vài giờ trước đó từ Việt Nam sang. Quang cảnh chung trên các chuyến bay về hướng Tây chẳng có gì là vui vẻ cả. Ít ra thì Đại úy Ripley còn có dịp tâm sự với vài người bạn mà anh mới quen trong chuyến bay từ Việt Nam qua Honolulu. Cùng với ba sĩ quan TQLC nữa, một Đại úy và hai Trung úy, họ tự mệnh danh là bốn chàng “Ngự Lâm Pháo Thủ.”

Moline Ripley ở lại một mình. Nàng không có sự lựa chọn nào khác và buộc lòng phải chịu đựng cho qua đi nỗi buồn. Sự cô đơn tại thiên đường là một trải nghiệm đau đớn nhưng là cái giá phải trả và nàng phải cắn răng trả cho xong. Giống như tất cả các phụ nữ khác đồng thuyền đồng hội, Moline cũng phải thực hiện những điều cần phải làm và chịu đựng những gì cần phải chịu đựng.

Nỗi biệt ly đau lòng mà những cặp vợ chồng trong nhóm “Ngự Lâm Pháo Thủ” của Ripley không hề là những cảm xúc có tính cách bông đùa hay trẻ con. Đối với hai trong số bốn người vợ thì rốt cuộc chuyến nghỉ phép của chồng đã trở thành là đoạn cuối của con đường đời họ. Trong vòng sáu tuần sau đó, hai trong số bốn sĩ quan TQLC kia đã bị tử trận.

Sự việc John Ripley trở lại mặt trận hoàn toàn không có gì trở ngại, ngoại trừ việc cố tạm quên đi một số kỷ niệm tuyệt vời của chuyến đi nghỉ phép nhằm tập trung vào nhiệm vụ trong suốt thời hạn nhiệm kỳ còn lại. Cường độ và sự tàn bạo của các trận đánh mà Đại đội Lima tham dự không hề thuyên giảm. Trận giao tranh trong cái ngày của tháng Ba mà Chuck Goggin trở thành Trung đội trưởng chỉ là một đoạn phim có thể cắt ra từ bất kỳ chỗ nào trong một cuốn phim hiện thực với những màn cường điệu được chiếu đi chiếu lại không có đoạn kết. Tất cả mọi người đều có cùng một sự suy nghĩ, từ viên chỉ huy cho đến người lính trơn, họ đều quyết tâm sống còn sau mọi cuộc đụng độ. Trừ phi người lính bị thiệt mạng hay bị trọng thương, anh ta chỉ biết chờ đợi những trận đánh kế tiếp cho đến khi nào hoàn tất chu kỳ nhiệm vụ của mình.

Tốc độ xoay vòng về nhân sự của các Đại đội với quân số hơn 50 người của 18 Tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 1 và 3 TQLC Hoa Kỳ tại Vùng I Chiến Thuật vào khoảng giữa năm 1967 thật chóng mặt. Cứ mỗi tuần trôi qua lại càng có nhiều TQLC bị thiệt mạng hay bị thương hơn. Sự khát máu của chiến tranh đối với cấp chỉ huy các đơn vị nhỏ không hề giảm cường độ. Tại vị trí chỉ huy các cấp Đại đội và Trung đội dường như có một cánh cửa mở xoành xoạch với những sĩ quan mới, khỏe mạnh đi vào và những người bị gãy đổ hoàn toàn hay từng phần loạng quạng bước ra.

Theo diễn tiến thường lệ của các biến cố, Đại đội Lima được bổ sung tương đối đầy đủ sĩ quan và hạ sĩ quan. Có một điều lạ là Đại úy Ripley luôn thuyên chuyển họ qua các Trung đội 2, Trung đội 3 và Trung đội Pháo binh. Trung sĩ Goggin tiếp tục làm Trung đội trưởng Trung đội 1 và không ai phàn nàn điều gì cả.

Nhiệm vụ của Trung sĩ Goggin với cương vị sĩ quan chỉ huy của Trung đội 1 không hề nhàn rỗi chút nào. Trong một ngày khi anh đã nắm Trung đội gần được sáu tuần thì toàn bộ Đại đội được lệnh thực hiện một cuộc di hành tuần tiễu và tảo thanh sâu trong khu vực phía Tây của con đường mòn Hồ Chí Minh. Cuộc hành quân được thực hiện bằng đường bộ vào khoảng 25 đến 30 dặm trong một ngày trời. Đại đội Lima đã đạt gần đến mục tiêu trong ngày 13 tháng Tư năm 1967, sâu trong vùng đất địch. Trung đội 1 đi tiên phong trong suốt buổi sáng và chẳng may một trinh sát đã bị trúng đạn mất mạng trong buổi sáng hôm đó. Cuộc hành quân lục soát con đường mòn vẫn tiến hành và thi thể anh được bốn đồng đội TQLC thay phiên nhau từng toán mang theo trong tấm poncho đưọc gấp đôi.

Tàng cây trong rừng già quá dày đặc để tản thương như thường lệ nên họ cố gắng mang xác bạn ngược về hướng cũ, vừa đi vừa hết sức nâng niu và trân trọng thân xác của đồng đội. Trong một lúc thay đổi người khiêng, không rõ vì nguyên nhân nào hay vì ai đạp phải, khi chuyển vị trí để đổi phiên, một trái mìn bên cạnh con đường mòn chợt phát nổ. Cả bốn TQLC lãnh đủ sức nổ và miểng của trái mìn trong đó Trung đội trưởng Chuck Goggin trúng phần nặng nhất. Địa điểm tải thương còn cách xa đến hàng dặm và vì đoàn quân còn dưới tàng cây nên trực thăng tản thương không thể đáp xuống được. Cách duy nhất cho Chuck Goggin là đành phải tiếp tục đi bộ mà thôi. Do đó anh buộc lòng phải bước đi trong sự đau đớn thêm ba hay bốn dặm nữa.

Phương cách tản thương vào thời kỳ đặc biệt đó không giống như các đoạn phim trên truyền hình mà dân chúng tại nhà vẫn thường được xem. Lúc đó chẳng hề có trực thăng chờ sẵn để bốc ngay Trung sĩ Goggin và các thương binh về hậu cứ cho các bác sĩ giải phẫu tài giỏi của Hải quân chữa trị cấp tốc.

Sau khi Đại đội Lima đi bộ nốt đoạn cuối dài ba bốn dặm về đến điểm hẹn thì người chết và các thương binh được mang lên xe vận tải chạy ngược về Cà Lũ theo quốc lộ 9. Những người không bị thương thì tiếp tục phải cuốc bộ.

Trung sĩ Goggin bị trúng tổng cộng 14 miểng mìn trên đôi chân, sau lưng và một mảng vai trái. Anh may mắn không bị tàn phế nhờ cái ba lô đã lãnh phần lớn của cú nổ. Chuyến xe vận tải về Cà Lũ còn được thay bằng một chuyến xe bầm dập nữa chạy tiếp trên quốc lộ 9 về hướng Đông cho đến Đông Hà. Tại đó anh được khiêng vào một trạm xá dã chiến tầm thường của Hải quân để được mổ và gắp miểng mìn ra khỏi cơ thể.

Từ trạm xá dã chiến đó, sau cùng Trung sĩ Goggin được bốc trực thăng về một bệnh viện Hải quân ở Đà Nẵng để được săn sóc về một vấn đề quan trọng hơn nữa là nguy cơ bị nhiễm trùng. Nhằm tránh chuyện này, các bác sĩ quyết định chưa khâu các vết thương của Goggin lại vội. Do đó mỗi ngày hai lần trong vòng một tuần lễ rưỡi, Chuck buộc lòng phải chịu đựng sự kỳ cọ , rửa ráy và sát trùng của từng vết thương một trong số 14 lỗ thủng trên thân thể. Cách chữa trị này còn tệ hại gấp mấy lần cơn đau của chấn thương ban đầu.

Trong lúc còn là thương binh trong bệnh viện Hải quân tại Đà Nẵng thì có một vị tướng TQLC đã đến thăm Chuck và gắn cho anh một Chiến Thương Bội Tinh. Chẳng may là lúc ông tướng đến thăm thì Chuck còn đang nửa tỉnh nửa mê và chỉ được hay về cuộc thăm viếng sau khi anh tỉnh dậy và thấy cái huy chương ghim trên tấm chăn.

Sau khi các bác sĩ đã hài lòng là nguy cơ nhiễm trùng đã qua, Chuck được khâu các vết thương lại và bốc bằng trực thăng ra tàu bệnh viện USS (AH-16) để dưỡng sức và hồi phục. Mặc dù anh rất trân trọng môi trường yên tĩnh, chăn nệm sạch sẽ và thức ăn ngon lành nhưng Chuck cảm thấy chán muốn chết. Trong khi anh đang nằm không chẳng phải làm gì thì anh chứng kiến nhiều đồng đội cùng Đại đội Lima đã bị đụng độ nặng nề hơn nữa trong lúc anh vắng mặt. Anh biết rằng anh phải trở về đơn vị mà thôi. Phải trở về ngay lập tức. Và anh xoay sở sao đó nên được trả về khá sớm.

Trong lúc Trung sĩ Goggin vắng mặt thì Đại đội Lima nhận được một Thiếu úy mới được thuyên chuyển đến Trung đội 1. Chuck không thấy có vấn đề gì cả. Lúc trở về anh tự động nhận lãnh vai trò Trung sĩ của Trung đội và vui vẻ giúp ý kiến cho vị chỉ huy mới.

Tuy nhiên viên Thiếu úy này chỉ kéo nổi non một tháng thì bị gục ngã bởi bệnh sốt rét. Vào cuối tháng 5 thì Trung sĩ Goggin một lần nữa lại trở thành Trung đội trưởng.

Đại úy Ripley không phải là người duy nhất nhận ra giá trị của Trung sĩ Goggin đối với binh đoàn TQLC. Ngay khi trở về nhiệm vụ, Chuck đã được mời làm sĩ quan. Mặc dù rất trân trọng niềm hãnh diện và lòng tin đã được đặt vào nơi mình, Chuck Goggin vẫn bám víu vào giấc mơ trở lại với bóng chày nếu anh không bị tử trận hay bị trọng thương. Anh từ chối lời mời một cách chân thành vì nếu nhận, anh sẽ phải ở lại phục vụ thêm một năm nữa, điều này giống như thiên thu trong ngành thể thao chuyên nghiệp.

Đoạn kết của các Trinh Sát Ripley

Hầu hết mọi chốn tại Việt Nam và chắc chắn là toàn bộ khu vực phía bắc Vùng I Chiến Thuật mà Đại đội Lima đã chiến đấu trong suốt thời kỳ Ripley làm chỉ huy, thuộc về loại các khu vực thường được gọi là “nằm giữa hoang vu.” Ngay cả cái huy hoàng tương đối của đồi Cà Lũ, bản doanh của Đại đội với các tiện nghi chưa bằng một xóm nghèo tại quê nhà nhưng đã là một ốc đảo đối với các TQLC của Lima rồi, cũng hoàn toàn đúng như sự nhìn nhận của mọi người; chỉ là “một cõi hoang vu…” mà thôi.

Trong khoảng thời gian từ 12 đến 13 tháng tại Việt Nam, John Ripley đã làm Đại đội trưởng Đại đội 6, làm “bố già” cho Đại đội Lima, Tiểu đoàn 3, Sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ. Cùng hoàn cảnh với anh bạn đồng đội trẻ Chuck Goggin, anh cũng muốn sống sót và rời khỏi Việt Nam. Hơn bao giờ hết, anh nhớ vợ vô cùng và muốn ôm đứa con trai vào lòng, đứa con giờ đây chắc không còn nhớ bố nó nữa. Nhưng cường độ thường nhật của chiến trận, nhu cầu chỉ huy đã đòi hỏi anh phải tập trung toàn bộ 100% tâm trí và thời gian đến mức anh không còn chút thời gian nào để suy nghĩ về vấn đề ra đi nữa. John Ripley phải dốc hết tất cả sức lực và khả năng để Đại đội Lima có thể sống sót được và còn phải chiến thắng nữa.

Nhiệm kỳ thông thường của một Đại úy Đại đội trưởng là tối đa sáu tháng trời, nếu anh ta không bị tử trận hay bị trọng thương trước thời hạn đó. Chiến tranh đã lấy đi mạng sống của các sĩ quan bộ binh trẻ, đặc biệt là cấp úy nhanh đến nỗi có quá nhiều đại đội để mà chọn lựa. Được chỉ huy một trong các đơn vị tác chiến đó là một đặc ân trong binh đoàn TQLC thành thử bộ tư lệnh đã có đủ sự sáng suốt để bổ nhiệm các đại úy có khả năng vào những vị trí đó.

Đại úy John Ripley thuộc vào một số nhỏ thành phần các sĩ quan trẻ được toàn quyền hành động vì đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc cho đến khi nào bắt buộc phải cho họ về vườn. Trong khoảng thời gian 12 tháng Ripley chỉ huy Đại đội Lima, đặc biệt từ đầu tháng Ba cho đến tháng Mười Một, cuộc chiến gần như không ngừng nghỉ. Rất ít người tại nhà, mặc dù khi số lượng thiệt hại về nhân mạng ngày càng tăng cao, có thể hiểu rõ và cảm nhận được sự tàn bạo và cường độ mà các TQLC và binh sĩ khác đã phải chạm trán thường xuyên, đặc biệt là tại Vùng I Chiến Thuật.

Cho đến đầu 1967 thì Đại úy Ripley bắt đầu quan sát thấy sự thành kiến của giới truyền thông phương Tây về những sự kiện đã xảy ra và những gì họ tường thuật cũng như không tường thuật lại. Họ quan niệm là những hành động thường xuyên khủng bố dân làng Việt Nam của Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt không có giá trị về thông tin. John Ripley đã nổi điên lên với các ký giả khi báo chí Mỹ từ chối không tường thuật sự vụ đã có vài TQLC bị kẻ thù bắt sống và đóng đinh họ như Chúa Giê-Su vào thân cây ngay bên ngoài vị trí phòng thủ gần Cồn Thiên để các binh sĩ Mỹ nghe thấy tiếng kêu la đau đớn cho đến chết của họ.

Trong thời hạn một năm mà John Ripley làm Đại đội trưởng, quân số Đại đội Lima 6 đã xoay vòng hơn ba lần. Đơn vị anh đã chịu thiệt hại hơn 300%. Hầu hết đều bị thương như bản thân anh và Chuck Goggin, những thương binh được gởi về hậu phương trong một thời gian và sau đó trở lại đơn vị để nhận nhiệm vụ mới. Nhiều TQLC của Lima đã trải qua hành trình này hơn một lần. Đại úy Ripley, được ân thưởng duy nhất một Chiến Thương Bội Tinh trong chu kỳ nhiệm vụ này, đã bị thương ba lần. Ngoài những thương vong trong giao chiến, Đại đội Lima đã mất sáu mươi người trong cùng thời kỳ đó, do sốt rét.

Từ lúc John Ripley làm Đại đội trưởng cho đến khi anh rời khỏi nhiệm vụ chiến đấu, cuộc chiến tại phía Bắc Vùng I Chiến Thuật đã từ mức độ nóng bỏng tăng lên cường độ cực nóng. Cứ mỗi lần hành quân là có đụng độ. Mỗi lần chạm trán với bộ đội Bắc Việt, TQLC đều chịu tổn thất nhưng mỗi lần đánh nhau họ đều thắng. Quân Bắc Việt là những chiến sĩ giỏi, không ai phủ nhận điều đó, nhưng họ không đủ sức cầm cự nổi với TQLC Hoa Kỳ. Lúc John Ripley từ giã Việt Nam để trở về nhà thì quân lực Hoa Kỳ đang chiến thắng kẻ thù.

Mặc dù rất khổ tâm khi phải trao quyền chỉ huy Đại đội Lima lại cho người khác nhưng John Ripley biết đấy là chuyện không thể tránh khỏi. Giấc mơ trở về với vợ con như trong mọi câu chuyện thần tiên có hậu chỉ có thể được thực hiện nếu anh chịu rời bỏ chiến trường.

Sau khi tháng nghỉ phép với gia đình chấm dứt và tình cha con với đứa con trai Stephen đã được kết nối lại mỹ mãn, John Ripley được phái đi học một khóa huấn luyện ngắn hạn sáu tháng về Hành Quân Đổ Bộ tại Quantico. Đây là một lớp học mà binh đoàn TQLC Hoa Kỳ gởi các Đại úy có triển vọng nhất đi thụ huấn. Sau đó anh được bổ nhiệm về Bộ Tư Lệnh binh đoàn TQLC tại Washington, DC. với tư cách giám sát viên cho các Thiếu úy bộ binh. Nhiệm vụ này trên thực tế là một quân vụ cố vấn và là gạch nối giữa các sĩ quan chuyên nghiệp và binh đoàn TQLC. Trách nhiệm của họ là điều hòa nhu cầu của binh đoàn và ước nguyện được phục vụ của các thành viên. Tuy nhiên trong thời kỳ Đại úy John Ripley làm giám sát viên, công việc của anh không có gì nhức đầu cả vì hầu hết tất cả các sĩ quan cần bổ nhiệm đều được phái đi Việt Nam.
Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

KHÚC RƠI…RƠI…

trantuan

Không có em sớm chiều khai sáng
Nên ta vương mắc triệu lỗi lầm
Qua vạn kiếp chưa cùng khổ nạn
Ta vô tâm hay em vô tâm?

Ngày nắng chát ta mơ về nguyệt
Mượn men nồng ta rọi đêm thâu
Ô…
sương khói cơ hồ lệ tuyết
Đường trần ai thăm thẳm…
về đâu?

Mặc trùng trùng mênh mông sóng biếc
Lênh đênh xin trôi giạt xứ người
Mai…
mai cuối…
đến giờ ly biệt
Vị mặn nào còn để
rơi…
rơi…?

Trần Tuấn

BỨC TRANH SÔNG NÚI

trantrungdao

Hỡi những nhà họa sĩ quê hương
Hãy vẽ dùm tôi đôi mắt mẹ
Hai mươi năm, mấy nghìn đêm lặng lẽ
Âm thầm nhỏ lệ xuống non sông

Hãy vẽ dùm tôi chiếc áo mùa đông
Ðắp trên xác cha già còn lạnh buốt
Ðể gian khổ không làm tôi chùn bước
Cuộc đấu tranh nầy vì nước Việt Tự Do

Hãy vẽ dùm tôi những nỗi âu lo
Trên khuôn mặt anh ngày đêm trong ngục tối
Ai rên siết sao lòng tôi nhức nhối
Tiếng căm hờn nghe buốt cả quê hương

Hãy vẽ dùm tôi một nén nhang thơm
Trên phần mộ những người vừa ngã xuống
Vẫn còn đây An Lộc, Trị Thiên, Bồng Sơn, Mộ Ðức . . .
Vẫn còn đây Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Khoa
Nam…

Hãy vẽ dùm tôi biển cả mênh mông
Nơi hải tặc bao lần ghi tội ác
Ðể thơ tôi được biến thành dao mác
Sẽ một ngày đòi nợ máu quân Xiêm

Hãy vẽ dùm tôi mái tóc của em
Chảy tha thướt trên bờ vai mơ mộng
Cho tôi dệt những vần thơ hy vọng
Khi nghĩ về đất nước tương lai

Hãy vẽ dùm tôi một nhánh hoa mai
Ðã nở rộ trên vườn nhà tôi dạo ấy
Dù hôm nay lửa bạo tàn còn ngút cháy
Tôi vẫn tin rằng sẽ có một mùa Xuân

Hãy vẽ dùm tôi hình chữ S thân thương
Không có những đường phân chia ngăn cách
Quê tôi đó từ địa đầu Việt Bắc
Vẫn nối dài đến tận Mũi Cà Mau.

Trần Trung Đạo

CHỢ TRỜI XE GẮN MÁY CŨ GIA LONG.

Lời nói đầu: Bài viết này được viết với dạng hồi ký. Nên những tên tuổi hay năm tháng không được chính xác. Xin quý vị vui lòng tha thứ. Rất hân hạnh khi được quý vị bổ sung thêm, để cho bài viết được phong phú hơn.
Trân trọng.

VŨ HỒNG TRUNG

10941831_788456594580689_4911785192387835305_n

PHẦN MỘT.

SỰ HÌNH THÀNH.

Theo lời Bác Mười Vũ ( Trần Vũ ), là cha ruột của anh em nhà anh Hai Rổ, Tỷ lùn, Sáu Lùn… Nhà Bác Mười ở trong hẻm đường Trần Hưng Đạo, gần đường Nguyễn Cảnh Chân, quận Nhì, Saigon. Bác kể lại: “ Khoảng giữa năm 1965. Bác thường ra nhà xuất nhập cảng xe gắn máy Thanh Tâm, (sau này bán lại cho nhà buôn Phi Hùng ) số 323, ở đầu đường Gia Long, Ngã Sáu đánh bài. Một hôm bác đang đứng trước cửa, thấy người ta đem chiếc xe Gobel bán lại ( xe đã mua của tiệm này, cách đó một tháng ). Nhưng ở đây, chủ tiệm từ chối. Vì họ không mua xe cũ.
Thế là Bác Mười bỏ tiền ra mua chiếc xe đó. Cùng với vài người bạn góp vốn. Bác là một trong những người tiền phong, sáng lập chợ trời mua bán xe gắn máy cũ, ở đường Gia Long từ đó.

SỰ PHÁT TRIỂN.

Thấy vậy, nhiều người làm việc ở Tổng nha Cảnh sát, ngành an ninh. Họ theo chân Bác Mười cũng ra mua bán xe cũ như: Chú Chánh lùn, Bác Chí Mập. Hay những anh được hoãn dịch vì lý do gia cảnh đông con ( 06 con trở lên) như Anh Hai Đẩu, Anh Hai Sao, Anh Năm Thà…
Cho đến tháng 04 năm 1975. Đã có hơn 20 người mua bán xe cũ.

XE MỚI.

Còn những tiệm bán xe gắn máy ở đây, như Thanh Tâm, Hòa Bình, Mỹ Tấn, hai anh em nhà Vinh Sơn, Kim Sơn… hay xa hơn qua khỏi rạp Long Phụng, có các nhà buôn Phi Hổ, Phi Long, Liên Chi… vẫn bán các loại xe nhập cảng của Pháp, Đức, Ý và Nhật như Velo Solex, Mobylette, Puchs, Lambretta, Honda, Suzuki, Yamaha…

Thử hình dung đoạn đầu đường Gia Long, từ Ngã Sáu chạy vô, vào thời điểm năm 1969.
Hai bên lề đường, trước những nhà buôn, là những thùng gỗ hình chữ nhật, chứa các xe gắn máy bên trong, chồng chất lên cao 5, 6 lớp.
Khách hàng tấp nập trước các cửa tiệm. Có người đang hỏi thăm về giá cả. Có người đang chờ thợ ráp xe…
Phần đông nhiều khách hàng thích mua xe còn nguyên trong thùng.
Mỗi thùng chứa 02 hoặc 03 xe Honda SS 50/ 1967, hay 03 xe Honda Dame C50.
Có những người chuyên môn khui thùng chứa xe. Họ liên lạc với cửa tiệm. Nếu có nhu cầu. Họ khui và mua lại những thùng cây này.
– Xe Honda SS 50 năm 1967 có hai màu đen và đỏ.
Vào thời gian này đã nhập qua xe Honda Nam SSM 50 còn gọi là xe 69. ( năm 1969 ). Xe thiết kế đồng hồ tốc độ rời. Bình xăng màu xám dẹp, yên ngắn, pô vắt. Có hai màu đen và đỏ. Hộp số có 6 =012345
Giá mỗi chiếc là: 36.500 đồng.
-Xe Honda Dame C50 cũng có hai màu xanh và đỏ.
Giá mỗi chiếc là 30.500 đồng .
Chánh phủ không có đánh thuế vào người tiêu thụ. Người mua chỉ có chịu thêm vài chục đồng tiền con niêm ( tiền tem ).
Nhà buôn cũng chỉ có đóng thuế môn bài buôn sĩ và lẻ mà thôi.

RÁP XE

Đôi khi quá đông khách hàng, thợ ráp xe ngay trên vĩa hè, trước cửa tiệm.
Mỗi xe có kèm theo một thùng đồ.
Thợ ráp vè, bánh xe trước, dây đồng hồ tốc độ, thắng trước, đèn trước, nối các dây điện, tay lái, kiếng chiếu hậu, yên xe… ( ráp bửng che gió cho xe nữ).Đổ nước acid vào bình ắc quy.
Tùy theo nhu cầu. Có người mua thêm borbagare, để bảo vệ đèn lái sau và đèn signal, bao yên xe, bao tay cầm, gắn hai hình Honda hai bên thùng xăng ( để chống ăn cắp hai miếng cao su ), khóa nắp xăng, hộp bao bọc bình carburatuer / bộ chế hòa khí xăng cho xe nam.
Riêng xe nữ, khách hàng còn mua thêm chiếc giỏ sắt đàng trước, để dựng thêm đồ khi đi chợ, hoặc thêm ghế nhỏ để chở trẻ con.
Phần đông, khách hàng ai ai cũng nhờ thợ chạy xe đi hàn thêm pát sắt vào chân chống để làm khóa đứng. Vì khóa cổ theo xe, chỉ cần gặt tay lái mạnh, thì ổ khóa bung ra, trở nên vô hiệu. Ở đây cũng có bán các loại khóa của Đức hay Mỹ. Nhưng mọi người lại thích khóa điện tử của Nhật mới nhập ( Khóa này hình chữ nhật, chìa khóa là một thanh kim loại cũng hình chữ nhật, bên hông ổ khóa có một nơi để đặt thanh chìa khóa vào để mở ra. ( Khóa này áp dụng lực đẩy của nam châm để mở khóa )

Quà tặng của hãng Honda dành cho khách hàng là:
Mỗi xe được một túi xách màu đỏ bằng simili, có dây kéo fermatuer, nhản hiệu Hm / Honda Motor, bên trong vòng tròn màu trắng và cánh chim lớn bên ngoài.
Một quyển sách cẩm nang hướng dẫn về những cơ bản khởi động máy xe bằng tiếng Việt, và một bộ đồ nghề bao gồm:
01 tuýp mở bu-gi, 01 khóa vòng 17 để mở ốc bánh xe, 01 cây kềm nhỏ, 01 chìa khóa miệng 10-14, 01 cán cây tuột nơ vít bằng nhựa cứng màu đỏ, cây vít có hai đầu bằng và tứ giác, và sau cùng là một lon sơn để dậm vá nếu sơn xe bị trầy xướt.

Trong khi chờ đợi vì người mua quá đông, thợ ráp xe không kịp, mà bụng lại đói. Khách mua xe chỉ băng qua bên kia đường đối diện. Thưởng thức một tô mì vịt tiềm hay mì bồ câu nổi tiếng của Kim Phụng mì gia. Bảo đảm sẽ trở lại lần sau. Vì mì ở đây, nổi tiếng ngon nhất ở khu vực Sàigòn.
Hay nếu khát nước. Khách có thể kêu sinh tố hay các loại nước ngọt như cocacola hay xá xị, ngay xe bán sinh tố ở bên kia đường đối diện.
Sau khi ráp xe xong, người mua xe thanh toán tiền cho cửa tiệm. Thợ nổ máy cho khách hàng xem. Theo nhu cầu của chủ xe, người thợ ráp chạy xe về hướng rạp Long Phụng, quẹo tay phải trên đường Nguyễn Phi, ghé tiệm hàn nằm ngay góc đường Lê Thánh Tôn, nhờ thọ hàn hai miếng bát vào chân chống. Sau đó ghé đổ đầy bình xăng ở cây xăng Shell hay Esso, tùy theo yêu cầu của khách hàng.
Nhiều người ở Trãng Bàng Tây Ninh không biết chạy xe. Họ đẩy bộ ra bến xe hành khách, ở đường Phan Văn Hùm, Ngã Sáu. Nhờ xe đò chở về nhà. Bến xe khách này chạy các tuyến đường:
SG – Bà Điểm – Hóc Môn.
SG – Củ Chi – Trảng Bàng.
SG – Long Hoa – Tây Ninh.
Đôi khi người mua không quen chạy xe trong thành phố, hoặc sợ chạy xe đường xa. Họ thuê thợ ráp xe, chạy về nhà dùm ở các tỉnh lân cận như Biên Hòa, Bình Dương…
Mỗi chiếc xe bán ra nhà buôn kiếm được 2.000 đồng, tương đương với ½ lượng vàng 24K của Kim Thành.
Thành phố với 04 triệu dân. Sự mua bán rộn rịp như vậy ở đây mỗi ngày. Ban đêm, xa xa bên ngoài thành phố… đâu đó tiếng nổ của bom đạn vọng về. Cuộc chiến đấu của quân đội VNCH, đang chống lại thảm họa xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt, vẫn đang tiếp diễn…
Xe Honda càng ngày càng chiếm lĩnh thị trường. Vì người dân chọn sự tiện lợi của nó. Không phải đổ xăng pha nhớt giống như các loại xe 2 thì khác như Kawasaki,Yamaha hay Suzuki. Và động cơ xe Honda 4 thì, máy xe chạy mạnh và bốc hơn.
Công việc kinh doanh mua bán thuận lợi. Ngoại trừ thời gian Tết Mậu Thân. Việt cộng đánh phá và chiếm đóng đồng loạt các thành phố lớn. Những nhà buôn phải bán lỗ, thấp hơn giá xe nhập cảng ( ví dụ nhập một chiếc xe tổng cộng luôn phí chuyên chở vận tải là 30.000 đồng. Bán chỉ được 28.000 đồng )
Sau năm 1972. Chánh phủ không cho nhập cảng xe nữa. Giá xe mới còn tồn kho, bán ra nhảy vọt lên đến 300.000 đồng một chiếc ( Theo lời Bà Tố Nga, chủ nhà buôn Vinh Sơn kể lại )

Tất cả các xe gắn máy được nhập cảnh theo các đại lý như sau:
Xe Brumi, Gobel, Ischia máy Sachs.
Xe Honda nhập qua hãng Vạn Tín.
Xe Lambretta & Lambro nhập qua hãng Vinaco.
Xe Puch nhập qua hãng Đặng Đình Đáng.
Xe Velo Solex, Mobylette nhập vào qua hãng Lucia đường Lê Lợi.
Sau này nhà buôn Vinh Sơn còn nhập xe Daihatsu bán.
Năm 1975, Chánh phủ dự định thay thế các loại xe chở hành khách công cộng Lambro, bằng loại xe Daihatsu của Nhật. Nhưng chưa kịp, thì Việt Nam Cộng Hòa mất nước.

ĐUA XE.
Nhộn nhịp nhất là những cuộc đua xe gắn máy, trong các dịp lễ như Quốc Khánh 26 tháng 10 của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, hay Ngày Quân Lực 19 tháng 6 của nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Được tổ chức ở sân Cộng Hòa hay sân Hoa Lư.
Các lò làm xe đua như lò Tám Giàu / Xóm Cũi, Thành Hưng quận Nhì…

Tay đua Trần Văn Hai, còn gọi là Hai Tịnh, là tay đua của lò Thành Hưng. Lò Thành Hưng nằm ở góc đường Phát Diệm và Võ Tánh, quận Nhì, là một trong những lò làm xe đua, đã đạt được nhiều giải Huy chương Vàng trước năm 1975 ( Bác Chín, chủ lò Thành Hưng là anh ruột của Bác Mười Vũ )

Vào những ngày trước cuộc đua xe xảy ra. Các tay đua của lò Thành Hưng hay các tay đua độc lập như Anh Năm Thà, số 35, thường đem xe ra chạy thử, ở khoảng từ đầu đường Gia Long đến ngã ba Nguyễn Phi. Tiếng máy xe gầm rú, phóng lướt đi với tốc độ rất cao, gây nhiều âm thanh náo nhiệt, ồn ào nơi đây!

XE ĐUA.

Vào thời kỳ đầu các lò đua đều sử dụng xe máy Sachs, sườn Brumi. Xy- lanh 49cc xoáy hết cỡ cốt 4. Tôc độ chạy đường trường đạt đến 100 Km / giờ.
Chỉ riêng độc nhất tay đua Năm Thà, số 35 sử dụng xe Bridgestone.
Sau khi xe Honda nhập vào năm 1966. Lò Anh Tám Giàu ở Xóm Củi, đầu tiên làm xe Honda đưa vào sân đua cùng xe Sachs. Nhưng chạy không lại. Tay đua Trần Văn Hai chạy xe Brumi hảng Sachs vẫn đoạt giải Huy Chương Vàng.
Sau đó vào khoảng năm 1970. Các lò đua đã biết kỹ thuật, móc lổ xăng, vớt quyclas, thông pô… Và xe Honda đã làm mưa làm gió trong các đường đua.
Chính tay đua Hai Tịnh, cũng phải chia tay với chiếc xe Brumi của mình.
Ngoài những kỹ thuật về máy như xoáy lòng cy- lanh, khoét lổ xăng, lổ lửa, móc pô… Các xe đua phải tháo rời những gì không cần thiết, để cho xe nhẹ bớt đi trọng lượng. Họ còn phải thay nhông trước, dĩa sau cho xe đạt đến tốc độ tối đa.
Người viết bài cũng đã từng chạy xe lòng cy-lanh 50 móc 65 cc, nằm trên yên trên xa lộ Đại Hàn, xe đạt đến tốc độ 120- 125 Km/ giờ lúc đó. Nhưng khi vào đường đua sân Hoa Lư. Chạy thử chiếc xe đua, chỉ có một vòng tròn. Đã cảm thấy muốn rớt tim ra ngoài. Vì máy xe rất mạnh, mà đường đua toàn là đá nhỏ, quá trơn trợt. Như vậy mới cảm thấy bái phục những tay đua xe dũng cảm và gan lì.
Vì sau này các lò đua đã gắn nòng cy-lanh 89 cc xoáy lên đến 110 cc. Nên xe rất mạnh (lòng 89cc lấy ra từ các xe Honda S90, mua lại của người Mỹ).
Còn những cuộc đua xe bất hợp pháp, được tổ chức trên xa lộ Biên Hòa hay khu vực Bà Hom, vòng đai xa lộ Đại Hàn vào khoảng năm 1969 – 1970. Các tay đua được truyền miệng nhau, về địa điểm sẽ tranh tài. Rất đông những người đi theo xem, hay cá độ tiền.
Tham dự những cuộc tranh tài này thật thú vị, vô cùng hào hứng và thật là hồi hộp…
Thường khi phải có người canh chừng cảnh sát bố ráp. Cảnh sát mà bắt được, phải đóng phạt tiền rất nặng. Những cuộc đánh cá thường từ 500 ngàn hay bạc triệu.
Đoạn đường đua trên xa lộ thường không dài lắm, khoảng chừng 8- 10 Km. Sau khi đưa tiền cho trọng tài giữ. Hai tay đua đem xe chạy đến chỗ xuất phát.
Sau khi nhận được dấu hiệu xuất phát. Hai chiếc xe phóng đi như hai viên đạn pháo, bay lướt trên mặt đường nhựa nóng bỏng. Thường thì những người đi theo cá độ hay đi coi, thường thích chạy xe theo sau.
Vì xe đua chạy tốc độ cao, nên dĩ nhiên muốn chạy theo xem, thì máy xe của mình cũng phải có tốc độ mạnh.
Nếu đứng tại chổ gần mức đến, xem cuộc đua xe. Bạn sẽ nghe từ xa xa âm thanh thật dòn của hai chiếc xe vọng đến. Và rồi hai chiếc xe trông như không có người lái. Vì hai tay đua này, hai tay cầm tay lái, đang nằm dài, dẹp sát trên yên xe, hai chân duỗi thẳng đàng sau. Khi xe chạy ngang qua mức đến, âm thanh của nó gầm rú như tiếng nổ của máy bay phản lực…
Có khi cuộc đua bất phân thắng bại. Vì hai tay đua đã cùng bay xuống ruộng nước (khi gần đến mức đến ăn thua, một tay đua đã thấy mình thua, liền ép xe khác cùng lao xuống ruộng )
Hoặc bị cảnh sát rượt đuổi. Thiên hạ mạnh ai nấy chạy bung ra tứ phía. Có người bị bắt đem về đồn. Tạm giữ vài giờ, rồi đóng tiền phạt.
Trong các lò móc xe chạy trên xa lộ. Có anh gọi là Phì Lũ (người Tàu, to Mập) ở khu vực chợ Thị Nghè. Chuyên môn xoáy nòng xe và chỉnh bình xăng con ( Carburateur/ bộ chế hòa khí hổn hợp xăng ). Một người bạn thân, đã tốn không biết bao nhiêu tiền bao anh ta ăn uống, để nhờ làm xe độ. Vậy mà khi chạy trên đường ra Vũng Tàu chơi. Người bạn thì nằm trên yên xe chạy trên 120 – 130 Km / giờ. Mà Phì Lũ thì ngồi sõng lưng, xe vẫn chạy phom phom, qua mặt xe người bạn nhẹ nhàng. Người bạn rất buồn, vì Phì Lũ không thật lòng đối với anh ta. “ Vẫn còn dấu nghề ”!

CÁC LOẠI XE ĐÃ NHẬP CHÍNH THỨC VÀ CÓ MẶT TRÊN THỊ TRƯỜNG MIỀN NAM.
honda dame c 50

-Hãng BMW Đức quốc /Germany.
Sử dụng xăng pha nhớt.
Xe 250 cc, 350cc, 750 cc.
-Hãng Bridgestone. Nhật Bản. Japan.
Động cơ xăng pha nhớt.
Chỉ nhập có xe Nam 50cc màu đỏ và màu đen. Không có xe của nữ.
-Hãng Ducati. Đức quốc / Germany.
Động cơ xăng pha nhớt.
Nhập xe Nam loại 50 cc. Không có xe nữ.
Harley Davidson 600cc & 900cc, Sử dụng xăng Super. Xe viện trợ của Chánh phủ Hoa Kỳ dành riêng cho ngành Cảnh sát Công lộ sử dụng.
-Hãng Honda. Nhật bản / Japan.
Máy Honda dưới 50 cc / phân khối. Là một cuộc cách mạng cho các động cơ xe gắn máy nhỏ.
Sử dụng nguyên liệu xăng super, không pha nhớt. Động cơ bốn thì ( 04), rất mạnh và bền. Chạy đường xa máy lâu nóng hơn các máy loại xe hai thì( 02), chạy xăng pha nhớt ( Xe hai thì, chạy trên 100 Km, máy nóng, bu- gi / Spark – plus bị đóng chấu, phải ngừng lại nghỉ cho máy nguội, tháo và làm sạch chất dơ trên đầu bu gi (lửa không đốt cháy hết nhớt, nhớt trong hỗn hợp của xăng bị nóng khô lại,)
Xe Honda Nam S 50/1965, SS50/ 1966 – 1967, CL50/ 1968, SS50M/ 1969, CD 50/ 1970, SS50E/ 1971, SS50V/ 1972.
Honda Nữ C50 các đời số sườn C50 YA/ 1965 – C50 YK/1972
Honda Nam S 90/ 90cc, Honda CB + CD 90/ 90cc, CB + CD 250/ 250cc, CB 350/ 350cc, và CL 750/ 750cc, do người Mỹ đem vào.
Các loại Cub Nữ C 65, C90 do người Mỹ đem qua.
Vào năm 1970, Kiều bào sau khi bị người Miên cáp duồn, chạy về nước có đem theo xe Honda Nam S 90 màu đỏ rượu chát / Bordeau và xe hơi Peugeot 404 hay 505. ( cáp duồn= bị sát hại, giết chết vì kỳ thị dân Việt Nam )
Hãng Honda đầu tiên sản xuất xe Cub 50 năm 1958. Nhưng Miền Nam bắt đầu nhập xe từ năm 1965. Trong các dòng xe Nữ đầu tiên. Quỹ tiết kiệm Quân đội có bán xe trả góp cho quân nhân. Nên thường gọi là xe Dame đời Quân đội.
Xe Kawasaki, Nhật Bản.
Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt. Nhập cảng vào SG năm 1965. Độc nhất loại xe chỉ có loại xe nam 50 cc. Có hai màu đen và đỏ. Hộp số có 04 số = 1230 ( ba số đạp tới đàng trước). Máy chạy rất bền. Nhiều xe còn sử dụng đến ngày nay.
Xe Lambretta Ý quốc / Italy.
– Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
– Loại Mini Scooter 50 cc, loại 150 cc, loại 175cc.
– Xe Lambro. 450 & 550 cc. Dùng để chuyên chở hành khách và hàng hóa.
– Xe nhập qua đại lý Vinaco.
Xe Mobylette. Pháp quốc. France. Xe nhập qua hãng Lucia, đường Lê Lợi ngay Thương xá Tax.
– Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
– Xe Nam 50 cc Vàng & Xám ( sườn hai ống đũa)
– Xe Mobylette Xanh và Xám 50 cc, Và một loại Mobycane tên Cady 50 cc, rất dể thương dành cho các cô gái tuổi teen.
Xe cyclo máy ba bánh, do hãng Motobycane sử dụng động cơ 250 cc.
Hãng xe Puchs. Áo quốc . Austria. Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
Do ông Đặng Đình Đáng nhập vào VN. Xe Nam 50 cc, có hai kiểu đèn thường và ba đèn. Máy rất mạnh có 3 số 0123, chạy vọt hơn xe Gobel.
Bạn có thể thấy sức mạnh của nó khi người ta ráp máy vào xe ba gác. Sức kéo của nó trên một tấn vẫn chạy phom phom.
Hảng Sachs. Đức quốc. Germany. Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
Loại kiểu Ischia, Gobel, Brumi 50 cc. Sử dụng xăng pha nhớt. Chỉ có loại xe Nam. Hộp số có ba số 012.
Xe Brumi máy Sachs đã một thời làm mưa làm gió, trên các đường đua xe gắn máy trước năm 1970 trong sân vận động Cộng Hòa hay sân Hoa Lư.
Hãng xe Suzuki. Nhật Bản. Japan.
Sử dụng xăng pha nhớt.
Các loại xe Nam, Nữ 50 cc. Nhập vào Miền Nam từ năm 1965- 1968.
Các nhà buôn không nhập nữa. Vì không cạnh tranh nổi với hãng xe Honda.
Các lọai phân khối lớn hơn như Suzuki 250cc, 350cc… nhập khẩu theo đơn đặt hàng cá nhân.
Hãng xe Triump. Đức quốc. Germany.
Sử dụng xăng pha nhớt.
Các loại xe này máy phân khối lớn 250 – 350 cc.
Nhập vào Miền Nam khoảng năm 1950 – 1955.
Hảng xe Velo Solex. Pháp quốc .
Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt. Dung tích 50 cc kiểu 2200 năm 1958, kiểu 3300 năm 1964 và kiểu 3800 năm 1966. Không có số. Máy xe nằm đàng trước, có bánh đá nhám. Đạp xe chạy lấy đà. Tay trái bóp air. Tay phải kéo máy thả ra về đàng trước. Bánh đá nhám làm lăn bánh xe trước, khởi động máy xe. Khi muốn hãm tốc độ xe lại, chỉ cần bóp hai thắng tay. Ngày trước, phụ nữ mặc áo dài chạy xe này trông rất thanh lịch và duyên dáng.
Hãng xe Vespa. Ý quốc. Ytaly.
Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
Xe loại Mini 50 cc / 1965.
Xe Vespa Standard 150cc / 1960.
Xe Super 150 / 1965.
Xe Sprint 150 / 1968.
Và Vespa 175cc chở hành khách vào năm 1960.
Hãng xe Yamaha. Nhật Bản. Japan.
Sử dụng nhiên liệu xăng pha nhớt .
Loại xe 50 cc Nam & Nữ.
Yamaha 100 cc Nam.
1399262_545082535580239_1402384974_o

B. PHẦN HAI.

Sau khi hiệp định ngưng bắn được ký kết tại Paris vào ngày 27 tháng 3 năm 1973. Mỹ và các Quân đội đồng minh đã rút quân về nước. Cuộc chiến đấu cho Tự Do, và ngăn chận hiểm họa Cộng Sản, giờ chỉ còn lại một mình. Dân quân Miền Nam phải chiến đấu trong cô đơn và khó khăn. Vì Chánh phủ Mỹ đã bội ước, cúp viện trợ, cũng như ngưng cung cấp, thay thế chiến cụ…
Với sự viện trợ tối đa của Liên Xô và Trung Cộng. Cộng Sản Bắc Việt đã xé bỏ lời cam kết, xua quân tấn công vào các tỉnh thành Miền Nam. Quân Đội chỉ còn sử dụng hàng tồn kho, cung cấp cho chiến trường một cách nhỏ giọt. Phi cơ không xăng, súng không có đạn… Do vậy QLVNCH chỉ còn cầm cự, rút quân, di tản để bảo vệ người dân. Cuối cùng một mình không thể chống lại với ba bốn, mà họ lại được trang bị vũ khí tận răng.
Sau hai năm chiến đấu cầm cự. Ngày 30 tháng 4 năm. Tổng thống Dương Văn Minh, đã kêu gọi quân nhân các cấp buông súng đầu hàng vô điều kiện.
Không đánh mà thua. Quân đội VNCH bị bức tử. Miền Nam đã lọt vào tay của Cộng Sản.

1. SAU 30 THÁNG 4 NĂM 1975.

Sau khi CS cưỡng chiếm miền Nam, những nhà buôn nhập cảng xe đã bỏ đi hết, như anh em nhà Vinh Sơn, Kim Sơn, Hòa Bình, Phi Hùng, Phi Long, Liên Chi và các nhà nhập cảng len như Cự Hà Lê Tiến…
Quân Quản đã tiếp thu và đóng quân trong những nhà đó.

GIAI ĐOẠN. Tháng 4-1975 – 1980.

Thành phố Sài Gòn thanh lịch, với những chiếc xe gắn máy cùng tà áo dài thướt tha, đã biến mất sau ngày mất nước.
Bầu trời thật u ám, ảm đạm với những chiếc xe đạp uể oải, lang thang vô định trên đường phố. Những cô giáo không dám mặc áo bông, mà phải mặc áo bà ba màu màu đậm khi lên đứng lớp. Những sĩ quan và những người làm việc trong các cấp chánh quyền, bị gọi đi học tập cải tạo. Thân nhân của họ bị cưỡng bức hồi hương hay đi lên vùng Kinh tế mới. Đó là những vùng đất hoang vu, trước đây là những vùng đất trắng ( vùng được oanh kích tự do). Họ được cung cấp một mái nhà giống như cái chòi, không có vách. Một nơi ở không có căn bản tối thiểu về y tế. Những người ăn trắng mặc trơn, chưa bao giờ biết cầm cây cuốc, giờ phải học cuốc cày, trồng trọt để mưu sinh. Với sự khắc nghiệt của môi trường sống, bị sốt rét hay bị bệnh vì chướng khí. Dù đã tận lực lao động. Nhưng họ vẫn không có đủ thức ăn. Phần nhiều họ nhờ sự tiếp tế, giúp đở thực phẩm của thân nhân họ hàng ( hoặc nửa gia đình đi KTM, nửa ở lại TP mưu sinh, tiếp tế cho những người vùng KTM). Vì bị chết chóc, bệnh tật và không thích hợp môi trường, nên họ đã trốn về sống lây lất trên vĩa hè. Những người còn tiền vàng hay có thân nhân gởi chui về. Họ tìm đường ra đi, tìm cách để vượt thoát ra khỏi Thiên đường Cộng sản. Họ đã ra đi dù biết rằng trên đường đi, có thể sẽ bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp hoặc chết. Nhưng họ vẫn ra đi với sự hy vọng. Đi tìm cái sống trong cái chết. Cuối cùng một số người đã đặt chân đến bến bờ Tự Do.
Theo thống kê của Boat People / Hội Cứu Người Vượt Biển từ năm 1975 – 1990, có trên 600,000 người đã vùi thây trong rừng sâu, hay chôn vùi trong lòng đại dương. Những người dân ở vùng đảo Thổ Chu, Phú Quốc, đã chôn nhiều người con gái, đàn bà thân thể trần truồng, bị hãm hiếp rồi quăng xác xuống nước, trôi dạt vào bãi biển. Và từ đó, trong Tự điển quốc tế, có thêm một từ mới “ Boat People ”.

2. CHỢ TRỜI.

Hầu hết dân chúng ở SG phải đem đồ trong nhà ra bán để sống. Vì là thân nhân của công chức, hay quân nhân trong QĐVNCH, nên khó tìm việc làm. Ngoài trừ nhà nước cần lưu dụng những nhân viên cũ như y tá, bác sĩ, thầy cô giáo, một thời gian.
Vì vậy nhiều chợ trời mọc lên như nấm:
– Chợ bán bàn ghế, tủ thờ, giường nệm ở đường Trần Quý Cáp.
– Chợ đồng hồ Huỳnh Thúc Kháng.
– Chợ chén dĩa, sành sứ, đồ kiểu…trên đường Lê Công Kiều.
– Chợ quần áo cũ Hàm Nghi.
– Chợ sách cũ trên đường Hồ Văn Ngà.
– Chợ thuốc tây Nguyễn Phi.
– Chợ thuốc tây Tân Định.
– Chợ xe đạp Ngã Bảy.
– Chợ quần áo cũ ở đường Thoại Ngọc Hầu, Tân Bình.
– Chợ quần áo cũ khu vực Lăng Ông Bà Chiểu.
– Trong số các chợ trời. Chợ trời mua bán xe gắn máy cũ khu tam giác Gia Long + Phạm Hồng Thái + Nguyễn Phi là chợ trời lớn và đông người nhất ( thời điểm từ năm 1985- 1990, ước lượng khoảng trên 500 người vừa lái buôn vừa cò ).

XE ĐẠP

Vì xăng chỉ cung cấp cho cán bộ và công nhân viên làm việc trong các cơ quan. Dân thường không có phiếu mua xăng. Nên thiên hạ đành rủ nhau đi xe đạp. Những chiếc xe đạp treo trên gác xép mấy chục năm nay giờ lấy ra sử dụng.
Và vì nhu cầu, nên các hãng sản xuất xe đạp phải tăng tối đa năng xuất.
Xe đạp hãng Lucia. Mới đầu bán ra hơn 200.000 đồng một chiếc xe đạp Mini. Thiên hạ sắp hàng chen lấn nhau để mua. Vì xe làm bằng tube sắt tốt, ráp đồ của Pháp. Nhưng bán chưa được bao lâu thì phải đóng cửa đi về Pháp. Sau đó nhà nước tiếp thu, đổi tên thành nhà máy xe đạp Sài Gòn Giải phóng.
Các hãng xe đạp nhà nước khác cũng cho ra lò xe Chiến Thắng, xe Cửu Long…
Và từ đây người dân xài hàng nội hóa. Cũng như các mặt hàng khác tất cả do nhà nước quản lý như xăng dầu, thực phẩm, gạo thóc…
Vì nhu cầu quá thiếu thốn, mà nhà nước ngăn Sông cấm Chợ. Nên người dân tìm cách sinh tồn bằng đi buôn. Tất cả mọi mặt hàng nhu yếu phẩm đều là buôn lậu hết như gạo, thịt, đường dầu ăn…
Và mỗi tỉnh, nhiều trạm kiểm soát mọc lên để lục xét, đóng thuế, và tịch thu hàng hóa.
Vào thời gian tháng 3 năm 1979, xãy ra cuộc chiến biên giới phía Bắc. Tàu Cộng đã xua quân đánh chiếm Cao Bằng Lạng Sơn, chúng đốt phá, tàn sát, hãm hiếp phụ nữ…
Phong trào vượt biên nở rộ. Đến đâu cũng nghe thiên hạ bàn tính đường đi. Những người quen từ từ biến mất. Có người được tin đã đến đảo như Điệp, Vân, Quang em của Sỹ. Có người mất tích.
Sau đó nhà nước cho phép người Hoa đóng vàng, mua tàu đi bán chánh thức. Nhiều chuyến vượt biên đã làm mồi cho cá. Vì họ bị lũ người gian ác lường gạt, bán tàu đường sông lên be, làm mũi lại. Nên khi ra biển gặp sóng lớn đánh chìm!
Nhiều tàu vượt biên lênh đênh trên biễn 30, 40 ngày. Vì không ai biết lái và định hướng la bàn. Nhiều chiếc hết lương thực, người ta phải ăn thịt người chết để sống sót…

Khoảng 1980 – 1985.

Xe đạp Pháp / Peugeot.

Những chiếc xe đạp hiệu Peugeot, do thân nhân từ các nước Tư Bản, đặt hàng bên Pháp, đã nhập qua đường biển vào Cảng Sài Gòn.
Hàng này được dân miền Bắc có tiền ưa chuộng. Dân miền Nam chỉ biết bán ra để mà ăn.
Ngoài Bắc, những du học sinh đi học ở các nước như Tiệp Khắc, Hung ga ry, Bung ga ry. Khi về nước mua xe đạp. Xe của Tiệp Khắc được dân miền Nam ưa chuộng vì thép tốt, nhẹ và mẫu mã đẹp.

Xe đạp Mỹ.

Xe đạp Mỹ được thân nhân gởi về qua Cảng SG.
Trong số các lái buôn bán xe đạp có anh em Anh Tài Đen, ở Khánh Hội.
Lái ngoài Hà Nội vào mua xe đạp ngoại..

XE GẮN MÁY MỚI XHCN ANH EM.

• Những cán bộ đi công tác hay du sinh Miền Bắc, đi học ở các nước XHCN, khi trở về nước đã đem về các lọai xe gắn máy của Tiệp khắc như
Simson S50 cc, S 70 cc
Babetta cũng 50 cc,
Xe Jawa 50 cc.
Sau này đem về xe Jawa 350 cc
Tất cả các loại xe này đều chạy xăng pha nhớt.
Thời gian này ở SG, dân chúng đã có tiền mua xăng bán lậu ở ven đường; nên hàng xe Babetta bán chạy. Lái buôn Bắc như Dân ở đường Nguyễn Thị Nghĩa ( Phan Văn Hùm cũ ), hai vợ chồng Bắc kỳ ở nhà 301 bis… nhờ con buôn phía Bắc đem xe vào Nam, bằng tất cả mọi phương tiện tàu thủy, xe lửa, xe hàng …

XE NGHĨA ĐỊA 1984 – 1990.
TÀU VIỄN DƯƠNG

Những dòng xe cũ / Second hand, được thủy thủ tàu viễn dương đem về. Mỗi thủy thủ được mua đem về một chiếc xe. Khi về đến Cảng SG. Các anh thường đến đường Gia Long, kêu mối lái xuống tàu mua. Các anh chỉ lấy vàng 9 tuổi 6. Vào thời gian này có nhiều chỗ thử vàng kiếm tiền dễ dàng, chỉ cần mỏ hàn xì để khè và đá mài để định tuổi vàng.
Theo lời kể lại của các thủy thủ. Đầu tiên, họ vào nhà người Nhật gần bến cảng chơi. Thấy xe cũ để trong sân nhìn thèm thuồng. Người Nhật hỏi các anh có muốn không? Họ gật đầu muốn. Người Nhật không những cho, mà còn chất lên xe tải nhẹ, chở ra chỗ bến tàu đậu. Sau này các anh em vào bãi xe nghĩa địa. Chọn xe. Xe nào máy nổ trả 100 USD. Máy không nổ 80.
Những hàng xe hút nhất là xe cub 1981, đồng hồ báo tốc độ, nhún sau ba tầng, màu xanh rêu, có khi bán ra trên ba cây vàng!
Thỉnh thoảng anh em thủy thủ cũng đem về xe Honda Twin 100 hay Honda CB 125 màu bạc. Riêng loại xe CB này, gọi là hàng ” Chiến “, vì có chiếc trị giá đến 8 lượng vàng.

B. XE NGHĨA ĐỊA TỪ THÁI LAN.

Về bằng đường bộ nhập khẩu qua Tịnh Biên, An Giang.
Nhiều anh em bộ đội đóng quân gần cửa khẩuTịnh Biên, đã mua lại xe của các lái buôn Cambodia. Mà hàng này từ Thái Lan đem sang. Anh em lái buôn bộ đội này, sau khi mua xe xong, làm giấy Hải quan nhập khẩu. Và chạy xe từ An giang về bán ở Gia Long. Mỗi xe lời được vài chỉ vàng. Thời gian này hàng hút là xe cub cối 1978- 1980 (tay lái ngang, máy bền hơn. Khác tay lái cánh én, máy cánh)

C. XE MỚI.

Dream 100 / I & II hàng TháI Lan.
Nguồn hàng đầu tiên do các cán bộ đi công tác mua đem về. Giá ban đầu lên đến 7 cây vàng ( USD 2,400 ). Sau đó, dân buôn mua lại của các lái buôn Cambodia, nhập qua các cửa khẩu làm giấy Hải quan.
Sau khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ra lệnh mở cửa( 10 năm tự cô lập và bị cấm vận với các nước Tư bản. Nên quá nghèo đói ). Sau khi được lênh mở cửa. Thân nhân của người dân Miền nam từ các nước Canada, Mỹ, Nhật, Pháp … thay vì gởi hàng quà như trước đây. Đã ào ào gởi các loại xe cũ mới theo các ngã sau:

1. KHO NHẬN HÀNG NƯỚC NGOÀI CÔ GIANG.
Xe SPREE 50 cc màu đỏ tay ga/ Xe này khi nổ máy đèn trước cháy sáng. Bên Mỹ mua USD 1,000. Lúc đầu xe này lái mua vô được 18 chỉ. Bán ra được 20 hoặc 21 chỉ. ( hiện giờ năm 2014, thỉnh thoảng cũng còn thấy dân Mỹ chạy trên đường )
Xe mới Honda Z2DK, 50 cc gọi là xe Dame năm 1979. Giá mua 17- 18 chỉ vàng. Có hai màu đỏ và xanh dương.
Honda C70 DD màu đỏ, màu xanh ve chai, lái buôn mua với giá 23- 24 chỉ vàng 24K.
Ở đây, cũng cho nhận các hàng xe Honda cũ đời từ 1978 _ 1982

2. CẢNG SÀI GÒN.
Kho 5. Cảng Sài Gòn cũng cho nhận hàng xe cũ Honda / Second- hand từ năm 1978_ 1982.
Lái buôn xe liên lạc với anh em cò ở nơi đây, hay anh em chạy xe ba gác đạp, ba gác máy ( nếu người nhận hàng ở xa ). Phần đông, những người nhận xe về, đều bán để trang trãi chi tiêu, hay mua vàng để đóng tiền cho người nhà tìm đường vượt biên.
Theo như người quen cho biết. Thân nhân bên Mỹ mua mỗi chiếc xe Honda cũ đời từ 1978 – 1980 giá USD 400. Gía vàng dao động theo thời điểm từ 02 chỉ 02, 02 chỉ 03 # USD 100.

D. HÀNG DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU.
Sau này nhà nước thấy xe nghĩa địa mua về bán có lời. Nên cho quota, các công ty XNK được nhập xe về hàng loạt.

E. HẢI QUAN.
Thường thì xe nhập vào Cảng làm thủ tục Hải quan phải mất thời gian tử 15 này đến 3 tuần. Và lái buôn xe phải biết đường dây để cho nguồn hàng không tồn đọng lâu.

F. ĐĂNG KÝ XE.
Người dân bình thường khi đăng bộ xe mới, phải chờ chực và mất thời gian lâu mới có giấy đăng bộ xe. Và đôi khi người mua muốn số xe của mình mang số đẹp ( không bị số bù… ). Do vậy có những người chuyên lo dịch vụ giấy tờ đăng ký xe.

G. LÁI BUÔN ĐƯỜNG DÀI.
Lái buôn Miền Trung như Anh Lai râu, chuyên mua xe từ SG đem ra Đà Nẵng hay ngược lại. Có thời gian những loại xe như Honda SS 50 đời 1967 nước sơn còn origin rất hút hàng. Anh mua đem về Đà Nẵng bán.
CÁC LOẠI XE SAU NĂM 1990.
Xe nội địa Hàn Quốc.
Honda Citi 100.
Honda DH 88.

H. TÂN TRANG.
ĐỒNG.

Nếu xe bị hư sườn hay cần phải làm đồng. Có rất nhiều thợ đồng không xa khu vực ngã sáu như Năm thợ đồng ở đường Ngô tùng Châu, hay Tư chín ngón bên đường Nguyễn Du.
Nhưng không ai làm đồng qua mặt được tiệm người tàu Hùng Thăng, gần góc đường Lê Hồng Phong và Hùng Vương.
SƠN.
Những lái buôn bán xe cũ, phải biết tìm những nơi nào giá phải chăng để sơn xe. Và các anh thợ sơn họ thường tập trung, chung quanh không xa gần khu vực Ngã sáu.
Sau ngày 30 tháng 4 có gia đình ông Tư Nổi, anh Tư Tiện, sơn xe bên vĩa hè.
Đôi khi những chiếc xe xịn quá, cần dậm vá sơn chút ít, thì cần kiếm mấy người có tay nghề cao. Và anh Hai, biệt danh Hai Lưỡi Lam, ở đường Hồng thâp Tự, gần sân vận động Hoa lư, là cao thủ nổi tiếng trong giới thợ sơn ở SG. Và cũng đúng như biệt danh, giá sắc như lưỡi lam. Nhưng không ưu phiền về sau. Bảo đảm sơn không mau phai, đổi màu.
MÁY.
Tay nghề thợ máy xe giỏi nhất ở đây rất nhiều.
Và, Anh Hai Rổ là một trong những thợ máy nổi tiếng.
ĐÁNH BÓNG ĐỒ NHỰA.
Đồ nhựa xài lâu bị ngã màu, bị trầy, bễ… Cần đem đến những tay thợ hàn, cạo đánh bóng lại để tăng thêm giá trị của chiếc xe.
YÊN NỆM.
Trên đường Lê Văn Duyệt và Ngô Tùng Châu có nhiều tiệm chuyên bao bọc các loại yên nệm xe gắn máy và xe hơi.
XI MẠ.
Những gì có liên quan đến đồ xi mạ. Thì đã có người nhà của Ông Ba Thầy Xi. Nhận và trả hàng tận tay với giá phải chăng. Gia đình Ông ở Trung Chánh, Quang Trung, đã làm nghề này mấy chục năm nay trước năm 1975.
SỦI VỎ XE.
Một nghề xuất hiện sau ngày 30 tháng 4. Vì vỏ xe mới mắc và chưa được nhập sang. Gia đình anh Năm có mấy người con chuyên Xũi vỏ xe. Những chiếc vỏ cũ được vẽ lên bằng bút mực các đường rãnh. Sau đó họ dùng các công cụ đặc biệt, chế tạo bằng thép cong như các mũi thép của đồ nghề thợ mộc để vét các đường rãnh sâu xuống gần các lớp bố ( Không được chạm lớp gai bố ). Khi tác phẩm hoàn tất. Các đường gai nhô cao lên. Sử dụng thêm được một thời gian khoảng vài tháng.
Vào những thời gian này có GĐ Bác Chí, nhà ở đường Lương Hữu Khánh, quận 1, cạnh đường rầy xe lửa cũ, gần nhà thương Từ Dũ, bán các loại vỏ xe nhập mới. Nguồn hàng có lẽ do những nhà buôn trước tháng 4/1975 còn tồn trữ lại cung cấp. Về sau này vỏ ruột xe hàng Thái về nhiều. Bác Chí chuyển nghề lái buôn xe.
DỌN XE.
Là một công việc quan trọng nhất trong dịch vụ mua bán xe cũ. Và nhiều người làm công việc này trở nên chuyên nghiệp thành một “ Nghề ”gọi là Dọn Xe mướn.
Trước khi tháo rời xe ra để dọn, người nhóm trưởng này phải có nhiều kinh nghiệm, nghe được tiếng máy nổ của xe, để định bệnh và báo cho lái buôn xe, biết được tình trạng máy cần phải sửa chữa bộ phận nào… Đôi khi những người này kiêm luôn sửa chữa máy.

Nếu xe không cần phải sửa chữa các bộ phận liên quan đến máy. Thì chiếc xe được tháo rời ra. Tất cả các chi tiết tháo ra, như một chiếc xe sắp đem sơn lại nguyên chiếc vậy.

Máy xe phải được hạ xuống. Và dùng dầu hôi cùng bàn chải cước nhuyển làm sạch các lớp dơ.

Tất cả những đồ nào có si mạ, được ngâm vào một thùng hay thau nhôm có chứa dầu hôi. Người thợ dọn này, dùng bàn chải đánh răng nhỏ, chà rửa các lớp dơ như khói hay mở bò khô bám dính. Những lò- so nhún trước nào bạc thau bị mòn, phải đem thay đóng lại. Sau đó cần phải vô mở bò mới ở những chỗ cần thiết. Nếu bố thắng mòn cần phải thay mới.

Sau khi đã chà rửa bằng dầu hôi rồi. Chiếc xe được lắp ráp trở lại và được rửa lại bằng nước sạch. Phải cho máy nổ nóng lên. Và dùng savon bột chà sẽ làm sạch bóng những đồ cấu tạo bằng nhôm.

Nếu xe cần phải dậm vá về phần sơn. Thì đem đi đến thợ sơn.

Bên cạnh đó các món đồ mủ đã được đánh bóng. Hay yên nệm đã được bao bọc xong rồi.

Sau đó, đến phần đánh bóng xe. Tay nghề đánh bóng cao, khi dùng bông gòn và dầu bóng, đánh cho đến khi nghe được âm thanh “ chét.. chét ” ( Ruồi đậu vào chắc không được, vì quá trơn trợt )

Mỗi xe tiền công dọn tương đương hơn một chỉ vàng.

Anh em Đạt và Tuấn chín ngón là những nhóm dọn xe có uy tín nhất ở đây.

CÒ, BẮT MỐI, MÔI GIỚI.

Cò, từ này có nguồn gốc từ tiếng Pháp La commission: người hưởng hoa hồng ( còn có nghĩa khác là người bắt mối, người trung gian, người ăn huê hồng ).Nhưng ở chợ trời thường được gọi nôm na là Cò.
Có nhiều loại Cò:
Cò đậu. Là cò chỉ đón bắt được mối xe bán, rồi bàn giao cho những cò khác.
Cò bay. Là cò trả giá, thương lượng gần đến đích giá, và kêu lái đến và đi về nhà chung với lái để mua xe đem về. ( Phải biết nắm vững giá thị trường. Trả giá chừa lại một khoảng cách vài chỉ. Để cho lái mua còn được trả giá. Như vậy người mua mới hài lòng)
Cò Vịn: Là người khác đón xe được. Cò này chỉ cần đến lấy ngón tay nhịp vào yên xe ( hàm ý tui cũng có phần). Ai thương lượng trả giá, đi theo mua xe đem về không cần biết. Như vậy cũng được chia phần trăm.
Siêu Cò. Cao nhất là loại cò nắm vững giá cả mua bán thị trường. Có khi nhiều người khách không đem xe ra bán. Chỉ ra đây thăm dò giá cả thị trường, hoặc muốn bán xe với giá cao.
Người cò này luôn có sẳn vài chỉ vàng đem theo. Vô đến nhà, xem xe và giấy tờ hợp lệ. Trả giá xong, đặt tiền cọc. Về chợ, biết lái nào ưa thích mua xe loại nào. Miêu tả lại cho lái nghe. Ra giá tiền cò. Đưa lái đến nhà chồng tiền lấy xe. Loại cò này nhiều khi ăn tiền cò đến 2, 3 chỉ vàng. Tùy theo tình trạng loại xe đang hút khách trên thị trường.
Có khoảng thời gian cực thịnh, cò ở đây mỗi ngày kiếm hơn 01 chỉ vàng.

BỐ RÁP. DẸP LÒNG LỀ ĐƯỜNG.

Thời gian từ năm 1977 – 1980, là những năm đen tối nhất của dân mua bán xe và làm cò. Thành phố theo chính sách dãn dân, dẹp lòng lề đường… Công an và TP và Phường đội thường xuyên phối hợp mở chiến dịch càn quét. Nhiều anh em làm cò bị bắt đi cải tạo. Những người còn bám trụ được là nhờ thân thế quen biết với Cán bộ hay có hợp tác với Công an…

CÔNG TY KINH DOANH TỔNG HỢP MUA BÁN XE GẮN MÁY QUẬN 1.

Nhà nước muốn kiểm soát tất cả mọi kinh doanh. Giống như trước đây những Hợp tác xã Nông nghiệp, HTX Thương Nghiệp …
Và UBNDQ 1 đã thành lập Công Ty Kinh Doanh Tổng Hợp Mua Bán Xe Gắn Máy, để kiểm soát và thu tiền của tất cả các cửa hàng buôn bán xe ở chợ này.
Nhưng công ty này chỉ hoạt động một thời gian không lâu.

PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN.
Anh Hai Đẩu và anh Ba Thàng là hai anh em ruột, sau năm 1975 chạy xe cylco máy. Khi nhu cầu chuyên chở các xe cũ mới, từ chổ lãnh hàng nước ngoài ở Cô Giang, hay Cảng SG. Hai anh đã nhanh chóng đem xe ra đậu ở lề đường Gia Long. Các lái buôn đã kêu hai anh đi chở xe về tiệm, hay giao hàng cho khách mua. Sau này các công ty Thương Nghiệp Dịch Vụ XNK, nhập xe cũ về nhiều hàng loạt. Một số anh em trẻ mua xe vận tải nhẹ Daewoo, hay Huyndai cũ để chuyên chở mướn.

ĂN UỐNG.
Một phần quan trọng quên nhắc ở đây là Ăn uống. Cơm trưa mỗi ngày đã có Dì Tư, Chị Sáu, chung quanh rạp Long Phụng. Họ nấu đồ ăn rất ngon. Lâu lâu có món mắm và rau là món khoái khẩu nhất của dân Gia Long.
Cà phê lề đường mọc lên như nấm phục vụ cho anh em ở đây. Chị Yến, có người em tên Hà, đã tốt nghiệp Cử nhân Pháp. Bán cà phê cho đến khi nhà văn hóa Pháp mời làm thông dịch.
Bên cạnh đó, mỗi chiều có gánh hủ tiếu bò viên của một chị người Hoa. Chị này ăn chay trường, nhưng nấu ăn thật tuyệt vời. Hay còn có chị người Bắc gánh bún mắm, thường bán ghi sổ cho những anh em cò nghèo.

KINH DOANH THẤT BẠI.
Rất nhiều người có tiền vàng mà không biết buôn bán. Đem vốn ra chợ trời này. Kiếm người hùn hạp làm ăn. Bị lừa gạt, bị ăn chận với đủ mánh khóe. Hay có người bị xúi dục mua xe giá cao. Sau đó phải bán lổ vì ngâm vốn quá lâu. Bị ăn chận khi mua và lúc bán xe. Nên bị mất vốn, giải nghệ…

THÀNH CÔNG.
Phần đông nhiều lái buôn bán xe ở chợ này đều thành công.
Tỷ phú từ tay trắng.
TRẦN CHÍN, có lẽ sanh khoảng sau năm 1960. Là con thứ 8 của Bác Mười Vũ, em trai của anh Hai Rổ.
Xuất thân từ tay trắng ra chợ này làm cò, bước theo chân của các anh lớn như Tỷ và Sáu Lùn…
Sau thời gian cùng nhóm Trung râu, Sơn cụt chuyên chạy kiếm mua xe ở Cảng SG hay Cô Giang. Ba anh em cùng Thu Vân làm ăn ( Thu Vân là một trong những lái buôn nữ ở Gia Long ). Nhóm này làm ăn cũng khấm khá được một thời gian.
Sau đó T. Chín có được một số vốn nho nhỏ. Nhờ những lúc vàng xuống bỏ tiền ra mua, và vàng lên bán ra đúng thời cơ. Nên chẳng bao lâu T. Chín phát tài. Với bản chất lanh lợi cộng thêm sự may mắn. Và nhờ năm 1990 – 1992 trúng những lô hàng Dream mới của Thái.
Và, sau này T. Chín cộng tác với Anh Tường, Anh Mạnh nhập về những lô hàng xe vận tải nhẹ second- hand nhản hiệu Daewoo, Huyndai nên rất phát tài trở thành tỷ phú.
Vào khoảng năm 2000. T. Chí đã mua được căn nhà nằm ngang rạp Long Phụng. Khai trương riêng cửa hàng mua bán xe gắn máy.

LONG MẬP. Long mập có lẽ sanh năm 1955, nhà ở Chánh Hưng Q 8, cũng xuất thân làm cò như mọi người. Sau đó đầu quân làm ăn với Anh Hiệp, em của Chị Năm Hòa Bình.

Long Mập và Anh Hiệp rất hợp, và thủy chung nhau cộng tác nhau trên 40 năm . Anh Hiệp nhờ Long phát tài, ngược lại Long cũng nhờ Anh Hiệp mà trở nên tỷ phú.

Long Mập làm rất nhiều điều thiện. Trong đó phải nói đến sự trợ giúp ma chay ở khu vực phường nhà. Nhà nào có người chết. Long Mập bỏ tiền ra để cho thân nhân mua quan tài và các chi phí khác. Sau khi chôn cất hay hỏa thiêu xong. Người nhà hoàn trả tiền lại cho Long. Tùy theo gia cảnh. Có khi Long chỉ lấy lại chút đỉnh.

KẾT LUẬN.
Chợ trời thường mang nghĩa không được tốt dẹp. Buôn bán giành giựt, lươn lẹo không chân thật…
Những người nào học hỏi, am hiểu về Định luật Nhân Quả. Chắc chắn áp dụng trong kinh doanh phải luôn luôn đặt “ Sự Chân Thật ” lên hàng đầu.
Trên đây dưới cái nhìn hạn hẹp của một cá nhân. Nên có rất nhiều thiếu sót. Chẳng qua là muốn đóng góp một phần nhỏ, nói về sự hình thành của chợ trời xe gắn máy cũ Gia Long. Là một nét văn hóa của dân Miền Nam trước năm 1975.
Kính mong quý vị lượng thứ cho.

((Viết xong tại Portland , Oregon ngày 22 tháng 01 năm 2015.)

PHỤ LỤC.
-Anh Hai Rổ.Là con trai lớn nhất của Bác Mười, anh chuyên sửa các loại xe gắn máy như Honda, Suzuki…
Anh sửa xe bên lề đường. Vợ anh, Chi Hai chuyên đi mua đồ phụ tùng. Anh Chị, thỉnh thoảng cũng mua bán những xe hàng chiến.
-Bác sĩ Đặng Văn Chiếu. Có lẽ ông là người giàu nhất khu vực này. Trước năm 1963, ông có dưỡng đường ngay mặt tiền đường Gia Long. Sau đó ông phá bỏ. Xây building cho người Mỹ thuê. Ông còn có một căn biệt thự tọa lạc trên đường Đặng Trần Côn, bên hông rạp Long Phụng.
-Bến Xe Khách đường Phan Văn Hùm. Chuyên chở hành khách đi các tuyến đường Sài gòn_ Hốc Môn. SG_ Trãng Bàng. SG_ Tây Ninh. Sau năm 1976 bến xe dời về bến xe buýt Bà Quẹo.
-Chợ ăn đêm Ngã sáu Phù Đổng. Ban đêm ở đây bán đủ thứ các món ăn chơi như: Bột chiên, Chè Xâm bổ lượng, Cơm, Mì xào… Trước năm 1975, buổi chiều khoảng 3- 4 giờ. Những người Tàu đẩy các xe bán hàng ra đây. Bán cho thực khách đi chơi đêm cho đến 3, 4 giờ sáng. Sau đó họ dọn dẹp vệ sinh và đẩy xe về nhà. Sau năm 1975, họ chiếm luôn chỗ và không còn đẩy xe về nhà nữa.
-Ciné Aristo. Nằm ngay góc đường Lê Lai và Phan Văn Hùm. Rạp xây cất theo kiểu Pháp, có hai hàng bancony hai bên. Những trang trí hoa văn theo kiểu Gothic rất đẹp. Sau đó phá bỏ xây building cho người Mỹ thuê. Sau 1975 làm nhà hàng khách sạn Lê lai. Là một phần nơi xây khách sạn New World bây giờ.
-Cự Hà Lê Tiến và những nhà nhập cảng Len…Chuyên nhập cảng các loại len từ Pháp và các nước Châu âu. Cung cấp cho toàn miền Nam.
-Cự Thất. Ông người Bắc di cư năm 1954, là thầy thuốc Đông y. Chuyên trị những người bị bong, trật gân, gãy xương… Ông nổi tiếng ở vùng SG, giống như ông Trương Quốc Cường ở đường Hậu Giang vùng Chợ lớn.
-Dì Tư bán cơm, bên cạnh rạp Long Phụng. Chuyên bán cơm trưa, cơm phần… Hơn 10 năm, đã mua được căn nhà mặt tiền đường Gia Long.
-Đức Thịnh. Ông bà gốc bắc di cư vào Nam 1954. Là chủ nhà máy sản xuất giây thun luồn quần độc nhất khu SG. Ông có thêm mấy căn nhà bán đồ len trên đường Gia Long, nhà máy sản xuất Hộp quẹt bằng nhôm, ở trong hẻm đường Phạm Hồng Thái. Vợ và các con của ông đã đi Pháp trước ngày 30/4/1975. Ông tiếc của nên ở lại, ông đã hiến mấy nhà máy cho Cách mạng…
-GĐ Hai anh em Th.và Ch. làm cò. Hợp tác với Công an chìm SBC như Dương Minh Ngọc hay Lê Văn Chiến, đã bắt rất nhiều vụ bán xe gian, có khi bắt được kẻ gây án, bán cả vũ khí.
-GĐ Hai Tây,Tư Búa. Năm Hương… Anh em rất đông. Gần chục người làm cò. Giống như tên gọi. Họ là những người tay bằng miệng, miệng bằng tay.
-GĐ Mỹ Nương. Chị Mỹ Nương người gốc Huế, rất xinh đẹp. Có chồng lính Không quân. Là một trong những người đàn bà giỏi về ngành mua bán xe gắn máy. Hiện giờ Mỹ Nương đã mua lại nhà số 307 đường Gia Long xây khách sạn.
-Kim Phụng mì gia, đường Gia Long. Đặc biệt mì Vịt tiềm, Mì bồ câu. Là một tiệm mì nổi tiếng vùng SG, giống như Mì Cây Nhãn, nổi tiếng trong vùng Gia định.
-Năm Đen. Là đội trưởng đội bài trừ du đảng thời chánh phủ Ngô Đình Diệm. Ông nổi tiếng có nhiều vợ, nhà nằm trong hẻm, sau lưng rạp Long Phụng. ( trong đó có nghệ sĩ H.N)
-Lộc và vợ tên Lan, nhà số 217. Đầu tiên hai người mở lớp dạy vẽ chân dung bằng bột than. Đã thu hút đông đảo học viên. Họ đã kiếm được nhiều tiền. Hai năm sau chuyển sang nghề mua bán xe cũ.
-Rạp Long Phụng. Chuyên chiếu phim ca nhạc, thần thoại cổ tích của Ấn độ. Lồng tiếng VN, có thêm những đoạn vọng cổ do Út Bạnh Lan hát.
-Trung tá Năng, ngành Cảnh Sát Quốc Gia, quận trưởng quận 5. Tù cải tạo 10 năm. Là người làm cò cấp bậc quân đội lớn nhất ở đây. Đi Mỹ theo diện HO 01năm 1990. Và còn nhiều anh cấp bậc nhỏ hơn như Đại úy, Trung úy.
-Trường trung học tư thục Tân Thanh, nằm trên góc đường Phạm Hồng Thái và Phan Văn Hùm, ngay chổ cà-phê Starbuck, khách sạn New Word bây giờ.

Trong thời gian đầu khi Cộng Sản chiếm SG. Nạn cướp giựt trên đường phố đã giảm rất nhiều. Vì lúc đó Quân quản ra lịnh bắn bỏ. Có rất nhiều tay anh chị, đã bị bộ đội bắn rơi đài trên đường tẩu thoát.
Hai thanh niên chạy xe 67 cướp giật ở chọ Bến Thành, chạy qua Ngã sáu Phù đổng, hướng về phía Hòa Hưng. Đã bị bộ đội đứng gác ở góc đường Gia lo Lê văn Duyệt bắn chết cả hai trước Công đoàn Lao động.
Hai thanh niên khác chạy xe 67, giựt dây chuyền trước chợ Thái Bình, chạy trên đường Vỏ Tánh hướng về phía Ngã sáu. Bị bộ đội đóng ở góc đường Bùi Chu Võ Tánh bắn hạ. Một chết tại chỗ. Một bị thương nặng.
-Tượng Phù Đổng Thiên Vương hay còn gọi là Thánh Gióng. Là biểu tượng cho Thánh Tổ Binh Chủng Thiết Giáp của QĐVNCH. Do Công Binh VNCH xây dựng vào năm 1970.

1511853_565556250199534_1801503001_o

VŨ HỒNG TRUNG

KHÚC THU XƯA.

tonnuthudung

1.
Tôi về chạm ngõ mùa thu
Rêu vườn xưa
đã phù du thuở nào
Ngại ngùng
chiếc lá nghiêng chao
Cọng tơ trời
khẽ
thả vào mắt ai
Em còn tóc xõa ngang vai
Trong tôi hoài niệm vàng phai nghìn trùng…

2.
Vàng thu lối cũ mịt mờ
Thôi,
em ngoảnh mặt
đừng vờ xót xa
Một mình tôi
giấc mơ qua
Một mình tôi
với xác hoa
rơi buồn
Con chim nhặt hạt ngô đồng
Còn tôi lơ đãng
nhặt
hồn cỏ hoa
Một ngày qua
một người xa
Một ngàn thu khóc
chiều tà rưng rưng…

Tôn Nữ Thu Dung

BỐN ĐOẢN KHÚC SÔNG

nguyendangtrinh

1.
dòng sông bén ngót nhát đao
rạch đôi mặt đất bờ nào không đau?
khi trong veo lúc đục ngầu
ít nhiều mặt nước cũng cau có buồn!…
2.
đôi bờ có mấy bến thương
là mấy bến nhớ bình thường xưa sau
bao nhiêu vui bấy nhiêu sầu
người hí hửng kẻ lòng nâu nẫu lòng!…
3.
đầu nguồn thẳng cuối nguồn cong
quanh năm mưa nắng cũng ròng rã… trôi
cái lần em lật lọng tôi
là ngày cả giấc mơ đời… sang trang!…
4.
tôi địa ngục em thiên đàng
cớ sao bên ấy nhóng sang bên này
lưng chừng giữa rủi và may
dòng sông kẹt cứng quẫy hoài chưa xong!…

Nguyễn Đăng Trình

VỀ NƠI ẤM ÁP

truongdinhphuong
Chiều.
Những chiếc lá vàng lặng lẽ chao xuống vệ đường nằm trơ tấm thân da bọc xương, những bàn chân ngang qua dẫm tan tành xác lá. Một con chó ghẻ lê la đi tìm miếng ăn. Đã ba hôm rồi nó không có cái gì vào bụng. Tai nó vểnh lên chừng như nghe ngóng, hai chiếc mũi hểnh lên hít hít.
Nó mon men vào quán phở. Buổi chiều khá thưa khách.Nó len dưới những gầm bàn mong tìm thấy chút thức ăn thừa. Một lão nhà giàu đang sì soạp húp nước lèo trông thấy con chó ghẻ lão vội ngừng ăn xì xằng:
– Chó ghẻ… kinh quá!
Mụ chủ quán béo phúng phính vội vã chạy tới xin lỗi rối rít và xách gậy xua đuổi con chó. Con chó ghẻ hốt hoảng cong chiếc đuôi nhớp nháp chạy chối chết…
Khi cảm thấy đã an toàn nó dừng lại thở dốc. Một đám trẻ con đi học về trông thấy con chó liền hùa nhau lấy đá ném. Chưa kịp thở xong con chó lại một phen chạy thục mạng.
Một thằng bé cười hềnh hệch nói:
– Nhà tớ chả bao giờ nuôi chó. Cái giống ấy bố mẹ tớ bảo là chúa bẩn thỉu.
Một thằng khác nói:
– Nhà tớ thì có nuôi nhưng chỉ nuôi chó Nhật thôi. Chứ chó nội thì không ,mà loại chó ghẻ lở thì cứ phải là “xử đẹp” bố tớ bảo thế…
Con chó cứ cắm đầu chạy cho tới khi lạc vào một con hẻm nhỏ. Trời càng lúc càng thấp xuống.Chiều mùa thu u uất như bãi đời hoang lạnh. Một lão ăn mày gầy guộc ngồi nép trong xó tường đang chuẩn bị ăn chiều. Bữa ăn của lão chỉ là bát cơm nguội xin được từ lúc trưa và hai con cá trích. Trông thấy con chó lão vội gọi “cúc cúc”, con chó ngước lên nhìn lão bằng ánh mắt dò xét.Không thấy có sự nguy hiểm nó chầm chậm tiến lại gần. Lão ăn mày xén nửa “khẩu phần” của mình cho con chó. Nó dúi mõm ăn không kịp nhai. Nhìn nó ăn lão lắc đầu ái ngại, hai hạt lệ ứa ra khóe mi lão. Trước đây khi còn ở đỡ ăn nhờ thằng con trai lão cũng đã từng trải qua những lần đói rệu rã nên lão hiểu cái khổ của sự đói khát mà con chó phải chịu đựng. Bây giờ đi ăn xin tuy không còn đến nỗi không có cái ăn nhưng nếu lão lại đèo bòng thêm con chó này nữa thì sao? Lão lắc đầu, khẽ thở dài. Con chó đã xơi sạch phần thức ăn. Lão dành luôn phần mình cho nó. Con chó không khách sáo ăn tuốt…
Đêm.
Thành phố ngập trong muôn ánh đèn và nhịp sống sầm uất. Con chó lần mò vào khu ổ chuột. Nó chỉ dám quẩn quanh ở khu này chứ chả dám léng phéng ra ngoài kia. Nó sợ những con người giàu có. Trước đây nó là con thú cưng của một vị đại gia nhưng từ khi nó bị ghẻ thì người ta đã đánh đập vứt bỏ nó.
Lúc chiều nó quấn quýt quanh lão ăn mày ý như xin ở lại nhưng lão đã đuổi nó đi.Tuy là chó nhưng chừng như nó hiểu”lão nghèo khổ “quá nuôi cái thân lão chưa đủ nói gì nuôi cả nó…
Trời bắt đầu gieo mưa.Thứ mưa nhè nhẹ nhưng buồn não nùng.
Có mấy gã thanh niên đi nhậu về. Đang phóng xe máy vù vù thoáng thấy con chó chúng liền phanh gấp. Một thằng nhìn lũ bạn cười toe toét:
– Sao tụi mày? Kiếm tiền mai nhậu chứ?
Một thằng khác lắc đầu:
– Chó ghẻ thế này ai thèm mua?
Thằng kia xì một tiếng:
– Ôí dào, bọn “khoái món MỘC TỒN ” chỉ biết cắm đầu ăn chứ làm quái gì biết chó ghẻ hay chó chết. Mâý tay nhà hàng cũng chỉ biết thu lợi chứ đâu thèm quan tâm tới an với chả toàn.
Bọn thanh niên vội vàng mở cốp xe lấy đồ hành nghề ra. Con chó bất ngờ bị thít thòng lỏng vào cổ, hoảng vía nó cố giằng co mong thoát ra nhưng vô ích. Càng giằng càng bị thắt chặt. Bọn thanh niên lên xe. Con chó ghẻ bị kéo lê đi. Tiếng rên uất nghẹn của nó bị chặn ngang nơi cổ. Mưa ào xuống như trút. Sấm chớp đình đoàng như muốn rạch nát màn trời… Tiếng rên thảm thiết của con chó và những tiếng cười man dại của bọn thanh niên nhỏ dần nhỏ dần rồi chìm hẳn vào vào màn mưa gió vô tình. Ngoài kia nhịp sống thành phố vẫn diễn ra như thường nhật chẳng ai hay biết phía sau “cuộc sống sa hoa sầm uất” có một “sinh linh vô tội” vừa bị chính con người cướp đi sự sống…
Đang thiu thiu ngủ trong tiếng mưa đêm ảo não lão ăn mày bất ngờ bị đánh thức bởi tiếng xe máy gầm rú .Lão ngồi hẳn dậy.Đập vào ánh mắt lờ mờ của lão là hình ảnh mấy tên thanh niên ngồi trên những chiếc xe “bụi” hả hê văng tục.
Con chó ghẻ nhìn thấy lão.Nó đưa ánh mắt thảm đạm hướng về phía lão,chừng như muốn gửi lời biết ơn về bữa cơm cuối cùng trong cuộc đời bé nhỏ của mình tới lão.Như một linh tính lão ăn mày cũng đã nhìn thấy nó.Con chó đáng thương như số phận của lão.Một sức mạnh tiềm tàng từ đâu trỗi dậy,lão tung chăn lao ra giữa đường chặn ngang bọn thanh niên.Một thằng hét toáng lên:
-Á .Lão già chết dẫm này,lão chán sống à.
Cả bọn dừng xe lại.Một thằng khác xấn tới nắm cổ áo lão :
_Này mắt mũi để đâu lão già.Chán đời cũng phải biết tìm nơi chốn nhé.
Lão ăn mày bình tĩnh nói:
_Các anh thả con chó đó ra.
Một tên thanh niên xì mũi:
_Tại sao chúng tôi phải thả nó ra?
_Vì đây là con chó của lão.Xin các anh đừng bắt nó.Bây giờ tôi chỉ có mình nó bầu bạn thôi.Lão hạ giọng.
Một gã khác chen vào:
_Kệ xác lão.Chó của lão cũng đâu liên quan gì tới bọn này.Bèo bọt cũng bán được ba bốn trăm ngàn thả nó ra mất mẹ bữa nhậu à.
Lúc này con chó đã hơi hoàn hồn.Nó ngước đôi mắt u buồn nhìn lão ăn mày miệng ư ử như muốn nói gì đó.Nếu biết tiếng người hẳn nó sẽ nói “Cảm tạ lòng tốt của ông.Nhưng cái phận tôi sống đã khốn nạn lắm rồi chết đi có khi lại là sự giải thoát.Xin ông đừng đôi co với bọn bất lương này nữa kẻo gánh vạ vào thân”
Lão ăn mày quay sang nhìn con chó,ánh mắt buồn rượi của nó rọi vào trái tim già nua của lão .Hai hạt lệ ứa qua khóe mi gầy.Trong phút chốc một quyết định lóe lên trong tâm trí ,lão lần lưng quần lấy ra một bọc nhỏ trao cho bọn thanh niên, nói:
_Đây là toàn bộ số tiền dành dụm của lão,xin các anh nhận lấy và tha cho con chó tội nghiệp của lão.
Một tên chừng như là thủ lãnh của cả bọn “chộp”lấy túi tiền cười hỉ hả:
__Xem như lão biết điều.Rồi quay qua tên cầm thòng lọng gã bảo :
“giải phóng cho nó mày”
Đám thanh niên rồ máy và phóng vào màn đêm tăm tối.Con chó thoát khỏi tay lũ tự thần gắng gượng vẫy chiếc đuôi cáu bẩn lê về phía lão ăn mày.Lão ôm nó vào lòng và òa khóc như một đứa trẻ.Trời đã dứt mưa,chỉ còn vài sợi gió buồn buồn bỡn cợt những tàng cây.Khu phố nghèo chìm trong giấc khuya bình thản.
Từ hôm đó con chó và lão ăn mày trở thành tri kỷ của nhau.Ngày nó cùng lão lê la qua khắp thành phố xin ăn.Đêm nó nằm cạnh canh giấc ngủ cho lão.Bất kể mưa nắng ,nóng lạnh,sáng tinh mơ người ta đã thấy một người một chó dìu dắt nhau đi,tối mịt người ta mới thấy họ trở về căn nhà bé nhỏ của mình “một góc tường lở loác “.Dẫu sống trong cảnh cơ hàn tăm tối ấy nhưng đêm nào người ta cũng nghe vẳng từ chốn “nghèo hèn ấy”tiếng hát của lão ăn mày và tiếng con chó ử ử phụ họa.Những bài hát của lão chẳng ra một hệ thống nào nhưng thảy đều chung một chủ đề đó là “sự tráo trở bạc đen của thói đời,sự ghẻ lạnh của tình người,sự bất hiếu vô ơn của con cháu đối với ông bà cha mẹ”.Chẳng biết con chó có hiểu gì không nhưng sau khi lão ngừng tiếng hát nó lại thoáng “thở dài “,rồi như muốn an ủi lão nó dụi dụi cái móm trụi lơ vì ghẻ lở của mình vào tay lão .Lão vuốt ve thân thể gầy rược của nó thầm thì :
_Kiếp động vật như mày lại có tình hơn kiếp người như chúng tao .
Lão khóc.Tiếng khóc nghẹn lại nơi cổ.Lão ngước nhìn bầu trời đêm.Những ánh sao nhấp nháy nhìn lại lão.Lão nhớ có lần hồi lão còn trẻ lão đọc được ở đâu đó đại thể :Một sinh linh trên thế gian này khi chết đi sẽ hóa thành một vì sao.Những kẻ ác thì thành những vì sao u ám và những ai có trái tim nhận ái sẽ thành những vì sao sáng chói trên bầu trời.Không biết sau này khi lão từ bỏ cõi trần bụi bặm này linh hồn lão có hóa thành những vì tinh tú xa xăm kia không?Và mày nữa,lão thầm nói với con chó,hi vọng mày cũng trở thành một vì sao sáng .”Lão cười.Lão thấy mình thật ngớ ngẩn.Thực tại kiếm miếng ăn còn chưa ra ngồi đó mà mơ tưởng chuyện “huyễn hoặc”.Lão nằm xuống ôm con chó vào lòng ,cả người và chó chầm chậm đi vào giấc ngủ.Lão mơ thấy mình và con chó bình yên rảo bước trong một vườn hoa rực rỡ ,trên đầu đội một chiếc vòng chói ngời những vì tinh tú…
Lão ốm.Toàn thân nóng hầm hập như vôi nung.Suốt ba hôm liền lão không gượng dậy nổi.Con chó lang thang vào phía trong khu phố sầm uất.Nó sục sạo từ sáng tới tối mới kiếm được chút thức ăn,khi thì mẩu bánh ,lúc cục xôi của những nhà giàu bỏ đi trong đám rác thải.Không ít lần nó bị người ta mang gậy đuổi chối chết vì cái tội lùng xục vây bẩn.Từ lâu giữa lão ăn mày và con chó ghẻ đã không còn sự phận biệt tầng lớp cấp cao hay hạ đẳng ,người và chó như hai kẻ đồng cam cộng khổ nên những gì nó đưa về lão đều sẵn sàng ăn.
Vì không biết nói như người nên không thể mở miệng xin sự bố thí của người đời và thức ăn thừa người ta quẳng đi cũng có giới hạn nên có hôm con chó chả kiếm được gì,những buổi như thế chó và người phải nhịn đói.Lão ăn mày ngày càng ốm nặng thêm.Mọi bận lão chỉ ốm vài ba hôm không hiểu sao lần này đã mười ngày trôi qua bênh của lão không hề có dấu hiệu khả quan.Số tiền dành dụm cả đời ăn xin của lão đã bỏ ra “chuộc mạng cho con chó”nếu không lão đã gắng đi tìm hiệu thuốc mua thuốc uống.
Đêm nay lão ăn mày đã chìm sâu vào giấc ngủ sau một cơn ho sặc sụa.Con chó ghẻ gối đầu lên chân nghếch mõm nhìn sao trời.Tiếng gió mùa thu luồn qua những mái nhà tồi tàn tạo ra những âm thanh rặc rượi buồn.Những chiếc lá vàng lìa cành buông xuống con ngõ dài hun hút không một ánh đèn,chốc chốc bị gió đùa bật ra những cung âm như tiếng thở dài những mảnh đời quèn.
_Chó !chó !!! Bắt lấy con chó.Cha mẹ nó đồ chó mất dạy.
Mụ bán thịt lợn be be kêu lên như rống.Mọi người vội vàng đổ dồn ánh mắt về phía mụ.Một con chó ghẻ miệng ngoạm miếng thịt đang luồn qua những chân bàn tìm đường tẩu thoát.Một mụ đàn bà ăn mặc ra dáng sang trọng chạy lại hỏi giọng quan tâm :
-Chuyện gì vậy chị ?
Mụ bán thịt nhấm nhặng :
_Tổ cha đứa nào nhà vô nhân thất đức bày dạy cho cả chó đi ăn cướp.Đó đó con chó ấy đó,nó vừa ngoạm mất gần kilogam thịt của tôi.
Mụ nhà giàu nhìn nhanh theo con chó :
_Aí dà thời này còn rảy nòi ra cái giống này nữa hả.
Dứt lời mụ ta đuổi theo cầm chiếc làn giáng luôn mấy phát vào đầu con chó miệng la bài hãi :”Bà con giúp tôi chặn lại giết quách con chó khốn nạn này cái”
Những người xung quanh thấy không phải chuyện của mình nên chả ai thèm chen vào.Mụ nhà giàu và con chó ghẻ vờn nhau một lát ,cuối cùng con chó cũng luồn ra khỏi những dãy chân bàn nhắm thẳng hướng cổng chợ chạy bán sống bán chết.Về tới “nhà”con chó buông miệng thịt xuống thở dốc.Hồn nhập lại xác nó tiến về phía lão ăn mày.Chừng như lão đang ngủ,Nó ghé mình nằm xuống cạnh lão.Lát lão dậy nó và lão sẽ “dùng bữa”.Lạnh lẽo.Nhịp thở của lão ăn mày hình như không còn nữa.Con chó vùng dậy.Nó ngoàm áo lão day day.Im lặng.Nó liếm mắt lão,miệng ưng ửng kêu .Im lặng…Tất thảy lúc này chỉ còn sự im lặng đáng sợ bao trùm …
Lão ăn mày đã chết .Lão chết vì viêm phổi cấp.Khi lão sống không ai thèm ngó ngàng tới lão nhưng khi lão chết “người ta không thể để xác lão nằm đó bốc mùi” khu phố nghèo hùn nhau tích góp mua cỗ áo quan và đưa lão đi chôn ngoài khu nghĩa trang dành cho tầng lớp bình dân.Không kèn không trống.Không lời phúng điếu,không một tiếng khóc gọi là sự sưởi ấm linh hồn kẻ xấu số.Người ta chôn lão như chôn một con chó con mèo ,chỉ sang trong hơn nhờ có cỗ quan tài rẻ tiền.
Ba ngày liền người ta thấy một con chó ghẻ nằm trước mộ lão ăn mày,cạnh nó là một miếng thịt đã bốc mùi hôi thối.Trước lúc lão ra đi về nơi cuối cùng của niềm đau nó và lão chưa kịp ăn với nhau bữa ăn cuối cùng.
Sang ngày thứ tư.Ngày thứ năm…Hơn mười ngày tiếp theo sau một đêm mưa gió tơi bời ,sáng sớm ra người ta nhìn thấy xác con chó nằm co quắp bên ngôi mộ.Nó đã chết vì mưa và giá lạnh .Cái giá lạnh u buồn cuối mùa thu.Nó từ giã sự băng giá của cõi người để tìm về sự ấm áp bên cạnh con người khốn khổ đã cưu mang và xem nó là bạn,đã đối xử với nó bằng tình yêu thương…
Ngày mai đã là mùa đông.Cả thành phố lại rợp màu sắc sặc sỡ của hàng trăm loại áo khoác người ta khoác lên người để chắn che cái khắc nghiệt của thời tiết.Nhưng phía sau những tấm áo lòe loẹt kia nơi sâu thẳm trái tim mỗi con người có thật sự ấm chăng?

Trương Đình Phượng

một ngày

npphan

chút lãng đãng xanh điên đảo hoàng hôn
góc trời thong dong bắc đẩu
tinh tú về thăm
ngày cổ mộ

có em về tỉnh thức
hiu hắt giọt sương mù lòa
một ngày nghiệm thu đêm
trăm năm đầu tư lộng lẫy
hóa xác phàm

nông nổi thơ
phiền lụy dòng sông hấp hối
ngả trên vai gầy
đỏng đảnh một bờ tinh mơ

NP phan