TRĂNG SÀI GÒN NHỚ HẠC XƯA

tranbaodinh

cố xứ bao giờ em trở lại?
hạc chìm đáy nước ánh trăng tan
Sài Gòn run rẩy đêm hoang dại
tháng sáu rồi em, cánh hạc vàng!

Thủ Ngữ chiều phai quên hẹn ước
Bạch Đằng khói sóng ngỡ rằng mây
hạc về nào thấy người năm trước
tiếng khóc quê nhà, em có hay?

mùa mưa cánh hạc bay về xứ
em đã về chưa buổi tối nay
lẻ bạn bơ vơ trăng lữ thứ
Thủ Thiêm bến vắng đợi chờ ai?

trần bảo định

Cùng Chút Bụi Bên Đường

 

nguyenducbatngan

khi anh về vẫn những dòng chữ đó
vẫn là thơ xanh ngăn ngắt hoài mong
mù con mắt dõi vời phương hướng nọ
trên môi em còn đọng chút hương nồng

chừ có héo lòng em không, hở nhỏ
chờ trăm năm anh cũng chờ trăm năm
chừ có tủi lòng nhau không, hở nhỏ
anh hoang tàn còn xuôi ngược xa xăm

trong mỏi mệt có lần nào em thấy
vầng mây anh đà hóa nắng ban trưa
này ân ái tang bồng theo buổi ấy
dù bên người còn gợn ý hôm xưa

từ dạo nắng chìm sâu trong đáy mộ
nhánh hoa người là hương phấn vô chung
chừ anh đã xanh dần như huyết lộ
hồn an nhiên dù giữa dạ bi hùng

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

ĐỌC TÙY BÚT MAI THẢO…

nguyentruongtrunghuy

“ Đọc Mai Thảo, không phải là đọc những gì ông viết mà là đọc cái cách ông viết ra những gì ông đã viết. Một căn nhà vùng nước mặn. Một chuyến tàu trên sông Hồng. Một bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời. Ðó không phải là những cái truyện, những tên truyện. Ðó là mảnh vỡ của những cuộc đời, long lanh hạnh phúc, ràn rụa nước mắt. Không kể lại được. Phải đọc từng dòng, từng chữ của Mai Thảo, để thấy ông nghĩ, ông viết thế nào về những truyện đó, chứ không phải những gì chất chứa trong những truyện đó”(Nguyễn Đình Toàn)

Đọc Mai Thảo , đặc biệt là những tùy bút dạt dào “nội dung siêu hình cùng những tâm thức lãng mạn, đớn đau..”… là có thể đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc là mỗi lần va chạm vào một xao xuyến mới, tiệm cận với một rung động liền kề, hứng chịu một mê đắm từ những giọt mưa cường toan rát buốt sát thương hết những … phiền nhung gấm, mân mê một buốt tấy mê man từ vùng yêu thương còn tưởng như gần sát…

Mai Thảo đã thả cánh bướm Trang Tử trên những nhịp nhàng chữ nghĩa, trên những cuộn xoáy ảnh hình…tạo ra một cú sốc ngôn ngữ “mới” đối với người đọc (không những là trong 20 năm huy hoàng của văn học nghệ thuật miền Nam) mà còn là những độc giả “bây giờ”…để ta/ chúng ta…sửng sốt trước sự khai phóng đủ sức làm độc giả lạc lối trong một thế giới vừa thực vừa phi thực mà tác giả đã xây dựng…đọc Mai Thảo là đi tìm lại thời gian đã mất (hay cũng có thể..là chưa?!?), là ấp ủ một cái đẹp mong manh , là “để tưởng nhớ mùi hương”…

Là người của kỷ niệm, của dĩ vãng, của “căn nhà vùng nước mặn” chợ Cồn, Hải-hậu, Mai Thảo còn là người Hà-nội, người sông Hồng, người Sài-gòn… mà lại rất Paris, rất Camus, rất Sartre.

“Văn phong Mai Thảo dào dạt, mãnh liệt, đau đớn, thiết tha, đó là những chân dung: chân dung kỷ niệm, chân dung sao trời, chân dung Hà-nội, chân dung bạn văn, chân dung nụ hôn, chân dung ngọn cỏ, chân dung Cửu-long, chân dung sông Hồng, chân dung cuộc tình… Đó là những bức họa, ấn tượng, trừu tượng, siêu thực ẩn hiện trong những điệu nhạc jazz trầm uất..”

Ngay từ những ngày đầu “đọc Mai Thảo”, tôi đã bị cuốn hút vào “những rừng từ chương và những biển suy tưởng”, những khai phóng “mở đường” (có thể) gây sốc thưở ban đầu nhưng sau vụt thoát thành một lấp lánh văn phong thấy thấp thoáng đâu đấy trong cách viết một vài tác giả, một phong cách maithảo – với rốt ráo tận cùng ngữ nghĩa của từ này trên danh xưng của một – mỹ tính từ…

Đó, trước hết, đến từ cách dùng chữ MỘT – khi thì là trạng từ, khi thì động từ. Nhưng nhiều nhất là tính từ và động từ. Với cách viết này, Mai Thảo loại bỏ hẳn một số từ khác thường đứng trước chúng. Thay vì “một cuộc lưu đày” thì là “một lưu đày”; thay vì “một nỗi nhớ nhà” thì “một nhớ nhà”; thay vì “một sự khuấy động” thì “một khuấy động”, vân vân. Ta gặp dài dài cách dùng đó trong văn Mai Thảo: một tình cờ, một trao phó, một bùng cháy, một bất ngờ, một vượt thoát, một mê đắm, một yếu đuối….Nhiều. Đã quen với cách viết đó, mà thú thật, đôi khi tôi cũng ngỡ ngàng khi gặp chữ một của Mai Thảo, nhất là khi ông thêm vào sau đó một tính từ nào đó (có khi là một cụm từ) có tính cách diễn tả: một lưu đày dịu dàng vào cô đơn, một lạnh buồn vô tận, một gần gụi diễm lệ…khiến cho câu văn đột nhiên mang một vóc dáng khác lạ, thú vị…

Những “MỘT” chơ vơ và tưởng-chừng-đơn-giản…đã là một đằm thắm rõ nét, một tịch liêu vây phủ…trong lòng độc giả (hay ít ra là trong lòng tôi)…

“- Rồi thì một lạnh buồn vô tận đấy nhỉ? Rồi thì là một nhớ nhà vô chùng đấy nhỉ? Khi, giữa một đêm quê người, một đêm ở Mỹ như đêm qua…”
– Tiếng chuông vang lên, âm thanh mang hình ảnh một đường chỉ thẳng vút truyền đi, thật sâu và thật xa vào một phía bên trong thăm thẳm, ở đó là một im lặng lớn nằm giữa một lắng đọng đầy…”(Những tấm hình của chị Thời)
– …Chính ôm lấy người đàn bà. Người đàn bà của một gặp gỡ ngắn. Một tình cờ ngắn. Một hạnh phúc ngắn” (Hồng Kông ở dưới chân)
– Không có tiếng vang, không có một bùng cháy, một bất ngờ, một khuấy động nào nữa (Mười đêm ngà ngọc)
…”
Cái MỘT trơ trọi đó, phần nào, trong một thoáng nghĩ, tôi tin chắc đó là MỘT của một dáng hình, một trầm tư rất MAI THẢO mà trong những phác họa chân dung từ những văn hữu cùng thời, MAI THẢO là một hiển lộ của một cô đơn đến tận cùng … cũng như Mai Thảo đã từng viết “chết tận cùng đến điểm cuối cái chết”, “Tắt tới cái điểm le lói cuối cùng của lửa.”…

Đó là cô đơn của..
“Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy”

hay
“Ngồi tượng hình riêng một góc quầy
Tiếng người: kia, uống cái gì đây?
Uống ư? một ngụm chiều rơi lệ
Và một bình đêm rót rất đầy”

Nguyễn Trường Trung Huy

BÊN MÌNH

khuatdau

Không ở nơi nào nhiều quán cà phê như ở Việt Nam. Cà phê cóc, cà phê võng, cà phê vườn, cà phê máy lạnh, cà phê cao ốc…

Không còn những căng tin với các mậu dịch viên mặt khó đăm đăm, khách phải sắp hàng lấy phiếu để mua một ly nước đen đen với hai điếu thuốc Tam Đảo. Cũng không còn cảnh các bà già Tàu ngồi chồm hổm trên ghế trụi, đổ cà phê ra đĩa ngồi húp như trước 75.

Cà phê bây giờ là nơi hò hẹn, chứ không phải những cây cầu. Trẻ, hẹn để được ngồi gần nhau, được ve vuốt hôn hít. Sồn sồn, đàn ông hẹn đi nhậu, hát karaoke. Đàn bà, hẹn khoe quần áo, xe cộ. Già như tôi, hẹn tán gẫu.

Nếu nhìn vào các quán cà phê và quán nhậu, thì quả thật kinh tế Việt Nam rất phát triển, không chừng là số một thế giới. Từ đó, thang điểm về mức độ hạnh phúc cũng không nước nào bằng.

Chúng tôi ngồi ở một quán cà phê vườn có tên là Gió Núi, cách thị trấn đến những 10 cây số. Nơi đây, trước kia là mật khu, sau đó là kinh tế mới, giờ là xã Ninh T. với trụ sở xã một tầng lầu bề thế như tòa hành chánh tỉnh trước 75. Quán cũng có cây cảnh, có đá, có nước nhểu tong tong từ một tượng nữ giả Chăm đang hờ hững lấy nước cố tình phơi bộ ngực bằng gốm tròn căng và cái rốn sâu thẳm. Ai đó cắc cớ đội lên đầu một chiếc mũ tai bèo, trông rất chi là cảm khái. Vì rằng nếu trước kia các cô du kích đi lấy nước kiểu này thì các cựu chiến binh hai miền chẳng việc gì mà phải vác súng bắn nhau.

Ông anh họ vợ tôi trầm ngâm nhớ tới những ngày vác gỗ rừng sâu trong trại cải tạo. Rồi những ngày đạp xe thồ sau khi được “tha”, những ngày hồi hộp chờ kết quả H.O. Vợ tôi nói cái buồn nhất của những bà mẹ kinh tế mới, là không thể cho các con xuống thị trấn học vì quá xa và đói. Cô em vợ bảo rằng về đây thấy đàn ông bụng ông nào cũng to kềnh, mặt thì xệ xuống, uống chi mà uống suốt ngày. Cô đập tay lên vai ông anh họ bảo: “bên mình, chỉ cần một lon thôi mà lái xe là bị phạt 15.000 đô, ở đó mà uống!”.

Nghe hai tiếng “bên mình”, tôi bỗng giật mình. Tôi nhìn cô em đã trên 50, vừa mới thi đậu quốc tịch Mỹ. Cô tuy trẻ hơn nhưng rất giống nhà tôi. Cô vẫn yêu chị mình, yêu họ hàng làng xóm, không hề xa cách bạn bè, nhưng trong bốn người ngồi chung bàn, cùng uống cà phê, cùng ngắm tượng nữ giả Chăm, cùng hít thở bầu không khí mát rượi của núi rừng ban mai, sao lại nói “bên mình” như kiểu “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc” vậy?

Đương nhiên, cô không có ý coi thường anh chị mình, nhưng điều gì khiến cô thấy gần hơn với ông anh họ bên Mỹ, mặc dù cô qua sau anh ấy đến hơn 15 năm? Hóa ra, cái điều khiến họ thấy gần nhau hơn, chính là luật pháp của Mỹ. Cô nói: “ Thằng T. (em chồng cô) hết dám về VN. Hồi mới qua, nó mang theo bánh mì kẹp thịt để ăn. Tới cổng ra, chó đánh hơi, tụi Mỹ bắt phải bỏ vào thùng rác, rồi chụp hình, lăn tay, lưu vào hồ sơ. Giờ nó đi đâu cũng bị kiểm tra tơi bời. Em định đem về một ít lọ mắm ruột, ngon quá, nhưng chồng em bảo tụi Mỹ nó tưởng là thuốc phiện thì khổ. Có con bạn mang bột sắn dây qua, nó nghi là heroin, tháo tung ra rồi xét nghiệm làm con nhỏ sợ hết hồn”.

Gần Tết, bộ thương mại và công an họp ngày đêm tìm cách chống hàng lậu nhập về từ các cửa khẩu miền Bắc. Nào chân giò, nào lòng heo đã thúi đen, chỉ cần rửa bằng một thứ nước gì đó là trắng tinh, ướp ngũ vị hương vào là thơm phức. Công an cấp tướng, hải quan cũng đầy sao, dưới trướng cả ngàn quân, tưởng một con ruồi cũng không chui qua lọt vậy mà mà mỗi ngày có hàng trăm tấn hàng lậu độc hại đi qua cứ như chỗ không người. Xét về luật thì VN không thiếu, còn qui định chi tiết và chặt chẽ hơn cả Mỹ, nhưng về con người thì, nói như một vị có thẩm quyền, không ai mua bom nguyên tử, chứ nếu có nhập vào cũng dễ ợt.

Một lần đi xe lên Thủ Dầu Một, anh tài xế sau khi “làm luật” với công an, nói lầm bầm gì đó trong miệng, hỏi, anh bảo xếp nói :” đù mẹ, nhiêu đây sao đủ chung, mậy?”

Thế đó! Từ anh công an đứng đường, đến anh hải quan cửa khẩu, anh nào cũng phải chung, chi. Cấp nhỏ chung cấp lớn. Rồi cấp lớn vừa chung cho cấp lớn hơn. Cứ thế chung lên cho tới đỉnh. Tham nhũng ở VN là một kim tự tháp. Một vài viên gạch có cạy ra vẫn trơ trơ.

Cái “bên ta” nó khác với cái “bên mình” là ở đó.

Những người VN định cư ở Mỹ 3,4 chục năm vẫn đau đáu nỗi nhớ quê, vẫn thương cây chuối bụi tre, vì khi lìa bỏ quê hương họ chưa có hay ít có cái “may mắn” sống trong cái thiên đường hình tháp. Còn những người mới qua, họ ớn tận mạng cái ụ mối tham nhũng đó rồi. Cái mà cô thấy “bên mình” nó hơn “bên ta” chính là sống trong luật pháp, được nó bảo vệ chứ không phải bị nó vòi vĩnh, hành hạ. Cô không ghét VN, cũng không yêu nước Mỹ hơn, cô giờ chỉ biết có bản thân và gia đình, sao cho con cái học hành, có việc làm và đau bệnh có bảo hiểm y tế. Liệu như thế có ích kỷ chăng?

Tôi tự hỏi, giả dụ tôi ở Mỹ về, liệu tôi có nói “bên mình” như cô? Chắc là có. Một hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch chính là sự kết nối những người nhập cư trên đất Mỹ chứ không phải vì niềm hãnh diện được là công dân của Hiệp Chúng quốc giàu mạnh nhất thế giới.

1/2015

Khuất Đẩu

MƯA THÁNG SÁU

tranthoainguyen

Mưa Sài gòn như cô gái làm duyên
Anh xao xuyến hứng giọt mưa tháng sáu
Em bây giờ ở đâu hỡi em yêu dấu
Cơn mưa đầu mùa giăng nỗi nhớ ngoài hiên
Anh thấy trong từng hạt mưa lấp lánh khuôn mặt em
Anh hôn gió bờ môi em hồng ngọt mật
Trái tim anh đặt trên kẻ tay vạn vật
Dâng tặng em yêu theo từng hạt mưa bay
Cơn mưa đầu mùa mát lòng dạ mê say
Thơ anh ngân khúc cho em mưa tháng sáu!
Ô. Mưa trong nắng Sài gòn tóc em bay huyền ảo
Anh suốt đời là thi sĩ của hồn em!

Mưa Sài gòn như cô gái làm duyên
Mưa bất chợt mưa bóng mây mưa trong nắng
Em đến bên anh chăng mà nôn nao phố vắng
Cây lá lung linh đường xao xác hơi may?
Người yêu ơi! Lòng anh đẹp tựa cung điện lầu đài
Đón em về xanh lời thề mưa tháng sáu!
Hãy về bên anh hỡi em yêu dấu
Cơn mưa đầu mùa mát da thịt thơm tho
Giọt hạnh phúc lăn tròn trên gò má ngây thơ
Anh xin dâng trọn hồn vui mưa tháng sáu!
Ô. Mưa trong nắng Sài gòn tóc em bay huyền ảo
Anh suốt đời là thi sĩ của hồn em!

Mưa Sài gòn như cô gái làm duyên
Mưa nũng nịu! Ơi mưa giọt dài giọt vắn!
Mặt đất anh hoang tàn từ độ em xa vắng
Đời anh buồn như cây lá héo vàng khô
Em về bên anh gầy dựng lại giấc mơ
Tắm gội linh hồn cùng mưa tháng sáu!
Vườn Tình Yêu mãi xanh phép mầu,hỡi em yêu dấu!
Khoảnh khắc- Vĩnh hằng trong từng hạt mưa bay
Cơn mưa đầu mùa xin tay nắm chặt bàn tay
Anh dìu em vào mộng cùng mưa tháng sáu!
Ô. Mưa trong nắng Sài gòn tóc em bay huyền ảo
Anh suốt đời là thi sĩ của hồn em!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

MIMOZA – MÙA HOA CŨ.

vuhytrieu
một thời để nhớ…

lâu lắm không về thăm chốn xưa
màu hoa vàng lạnh lúc giao mùa
những ngày chủ nhật xưa ra phố
nắm bàn tay ấm dưới hiên mưa

lâu lắm đường xưa lạc lối về
lạc mùa trăng cũ đẫm cơn mê
lạc con dốc nhỏ vàng hoa nhớ
lạc cả đời nhau chuyện hẹn thề

lâu lắm đâu rồi bản tình ca?
áo em vàng mật mimoza
những chiều thứ bẩy em không đến
nỗi nhớ cũng vàng theo màu hoa

lâu lắm dường như đã thiên thu
những đồi thông ẩm ướt sương mù
những đêm khuya lạnh mòn con mắt
dấu bóng hình em dưới bóng thù
mimoza…mimoza… mùa hoa cũ
lạnh buốt đời ta tận thiên thu…

VŨ HY TRIỆU

THUYỀN…( tranh Ann Phong)

11403366_10153476572899456_4819038747940412432_n

Một bức tranh đẹp rơi nước mắt .
Họa sĩ Ann Phong dành tặng Chương Trình HIỂU MÀ THƯƠNG của ban Vận Động Trùng Tu Di Tích thuộc VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM.
Tôi không hiểu gì lắm về hội họa , nhìn bức tranh , tôi chỉ thấy tan tác đau buồn .Tại sao ???
Bức Tranh sẽ được bán đấu giá gây quỹ với giá khởi đầu là $ 300
Xin các bạn ủng hộ.

…Trong loạt tranh về biển của Ann Phong, những người từng vượt biên bằng thuyền có cái tên chung “thuyền nhân”, có thể nhìn lại chính mình trên bọt sóng đầy ám ảnh trong tranh của bà. Thuyền nhân cũng sẽ thấy trên những con thuyền vụn gãy là kỷ niệm không thể phai nhạt của chính họ. Thuyền nhân cũng khó thể quay đi che giọt nước mắt mà sau 40 năm vẫn còn lăn dài trong nỗi đau chia cắt trên đường vượt biển. Tất cả những câu chuyện viết lại bằng màu sắc của họa sĩ được rút ra từ chính chuyện thật đời mình. Bà vẽ như một cách kể chuyện, câu chuyện của người sống, kẻ chết. Bà dạo chơi trên biển ký ức của mình và sóng gió nổi lên trên canvas...(Trích từ phỏng vấn của MẶC LÂM -RFA , Đài Á Châu Tự Do.)

Dẫu lìa ngó ý…

huongthuy

Dẫu lìa ngó ý còn vuơng tơ lòng
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nhà thơ ngụ ngôn người Pháp La Fontaine đã nói một câu rất hay về tình bạn: “Tình yêu thật sự đã hiếm; tình bạn thật sự còn hiếm hơn ”.
Cát Đằng, tên một loài hoa leo có màu xanh pha tím, mỏng mảnh. Bạn tôi cũng dịu dàng, mềm mại, quý phái như hoa.
Chúng tôi thân nhau từ thuở nhỏ, lúc còn học trường tiểu học Đoàn Thị Điểm trong Thành Nội. Hai đứa cứ thế lớn dần lên, lần lượt qua bên kia sông Hương học Đồng Khánh rồi Văn Khoa…
Nhà Cát Đằng nằm ở một góc nhỏ trên đường Mai Thúc Loan. Căn nhà cổ xưa như cuộc sống quan cách của gia đình. Ba Cát Đằng làm công chức cao cấp của Ty Ngân khố Thành phố. Ông đặt cho con những cái tên thật đẹp của các loài hoa : Cát Đằng, Đỗ Quyên, Hoàng Lan…Mấy chị em sống khép kín như những con ốc trong bốn bức tường rêu.
Tôi, tên bình thường : An Nhiên, gia cảnh cũng “thường thường bậc trung”, tóc cắt kiểu Demi Garcon, tính tình đôi lúc ương bướng. Vậy mà chúng tôi thương nhau vô cùng. Chỉ có tôi dám bước qua hai cánh cổng sắt luôn khép kín trong tiếng sủa của con Berger để rủ Cát Đằng đi học. Cũng chỉ có tôi chiếm được lòng tin của ba mạ Cát Đằng. Hai bác nghiêm nghị nhưng coi tôi như con. Hình như hai bác xem tôi là một lá chắn bảo vệ cho cô con gái yếu ớt của mình.
Chúng tôi đã có một thời thơ ấu thật đẹp và hồn nhiên. Những chiều mùa hạ dắt nhau vô con đường bên hông Đại Nội gần cà phê mụ Tôn, nhặt bông phượng đỏ về làm bướm. Những sáng mùa đông sương mù lạnh buốt chở nhau qua cầu Phú Xuân, gió hung hăng như muốn quật hai đứa xuống sông. Những đêm cùng học bài thi, em gái Đỗ Quyên đem vào phòng cho hai chị chén chè hạt sen long nhãn mát rượi. Mạ Cát Đằng thường cười bảo tôi “Phải chi An Nhiên là con trai, bác gả Cát Đằng cho cháu.”
Tuổi dậy thì hồn nhiên và mơ mộng. Cát Đằng đẹp, nhiều người tán. Tan học về bao nhiêu cái đuôi theo, mãi cho đến cửa Hiển Nhơn mới chịu lui gót. Tôi như garde corps cho bạn. Những chàng sinh viên mê Cát Đằng, nhờ tôi làm chim xanh kèm theo nhiều món quà hậu hĩnh, trong số có cả con của một ông Trưởng Ty đang theo học trường Y. Nhưng tôi từ chối. Không ai hiểu bạn hơn tôi. Cát Đằng tâm sự : “Sao mình thấy ông nào cũng nhẵn nhụi như Mã Giám Sinh. Ngó phát ớn!”. Người hùng trong tâm tưởng Cát Đằng phải bụi bụi như tài tử Charles Bronson, đêu đểu với bộ ria giống nụ cười của Clark Gable hoặc chí ít cũng phải lãng tử như Gregogy Peck trên chiếc Vespa cổ chở nàng công chúa Audrey Hepburn chạy khắp thành Rome trong Vacances Romaines… Thâm tâm tôi thấy bạn mình quá lãng mạn. Biết tìm đâu ra người lý tưởng trong môi trường phố thị này?
Ấy thế mà một hôm thật bất ngờ, “người hùng” của bạn đã xuất hiện. Đó là một buổi sáng “đầy sương thu và gió lạnh” như trong văn Thanh Tịnh, đoàn Sinh Viên Sỹ Quan trường VBQGVN về Huế vào Đại Học Văn Khoa tuyển quân. Phải công nhận sự có mặt của họ như một hiện tượng trong sân trường xưa nay toàn áo dài, chemise , quần tây. Trong trang phục worsted thật đẹp, thật hào hùng mặt anh nào cũng sáng láng thông minh. Họ trình bày thật ấn tượng về ngôi trường quân sự ở Đà Lạt ngang ngửa với Saint Cyr của Pháp, West Point của Mỹ. Đứng bên những chàng trai Văn Khoa “trói gà không chặt”, trông các anh cao to và đường đường khí thế. Nhìn qua cạnh mình, tôi thấy Cát Đằng như trên mây. Nàng say sưa dán mắt vào anh SVSQ đang giới thiệu chương trình đào tạo. Anh nói giọng Bắc pha chút Huế. Khi chàng ta đi từng bàn phát những tờ ảnh về ngôi trường cho sinh viên nam, Cát Đằng cũng nhoài người qua xin một tờ. Một thoáng ngạc nhiên nhưng người SVSQ vẫn lịch sự trao tận tay nàng. Mắt hai người gặp nhau. Một cái gì đó thật lạ lần đầu tiên tôi thấy xuất hiện ở cô bạn mình. Má nàng ửng hồng , ánh mắt long lanh, môi mọng ướt mềm…Chuông reo giờ ra chơi, hai người còn trao đổi với nhau suốt cả mười lăm phút bên hành lang Morin.
Ra về, tôi bảo Cát Đằng “ Mình thấy hình như có Coup de Foudre”. Nàng yên lặng do dự một chút rồi bảo tôi : -“An Nhiên ơi, bạn có thương mình không?”. Tôi ngạc nhiên : – “Tui không thương bạn thì thương ai?” – “Vậy thì chiều ni bạn xin mạ cho tui qua chơi nhà bạn hí! ” “- Được thôi mà”
Buổi chiều , tôi ngồi chờ bạn trên chiếc xích đu dưới giàn bông giấy. Nàng xuất hiện trong chiếc áo mousseline màu xanh trứng sáo, quần tây đen. Trông Cát Đằng xinh xắn làm sao. Hèn gì con ông Trưởng Ty mê nàng như điếu đổ. Ngồi nói chuyện với tôi mà mắt nàng nhìn ra cổng như ngóng trông ai…Và bốn giờ chiều. Một bóng người xuất hiện trước cửa. Anh chàng Sinh viên Võ bị hồi sáng…Cô nàng thông minh thật, lấy địa chỉ nhà tôi làm nơi gặp gỡ.
Tôi không tin lắm vào duyên tiền định. Xưa nay, ba mạ vẫn hay nói tôi là kẻ cứng lòng. Nhưng với cô bạn thân Cát Đằng thì tôi nghĩ đó là một mối nhân duyên mà tôi là người góp phần dung túng, ủng hộ. Cô bạn tôi không phải là type người “ yêu cuồng sống vội”. Xưa nay nàng chưa hề cười với ai một nụ. Con nhà gia thế, kín cổng cao tường. Điều gì đã làm cho nàng dám vượt qua khuôn phép gia đình và xứ Huế vốn dễ tiếng tăm?
Chàng sinh viên sỹ quan ấy tên H. đang theo học năm thứ ba trường Võ bị. Anh gốc Bắc, di cư vào Nam năm 54, chọn Huế làm quê hương thứ hai. Anh sống cùng mẹ và chị gái bên Bến Ngự. Anh hơn chúng tôi năm tuổi, trước đây từng học MPC rồi mới quyết định tòng quân. Đợt tuyển quân này là một cơ hội cho anh về thăm mẹ và số phận đưa đẩy để hai người gặp nhau.
Anh H. hiền, tính điềm đạm. Tôi chắc bạn tôi không chọn nhầm. Hai người có một tuần để hiểu nhau. Tôi nhiều lần qua nhà Cát Đằng xin cho bạn đi học nhóm , đi thảo luận… để rồi sau đó chở nàng lên đồi Thiên An, chùa Từ Hiếu hẹn hò. Trong khi hai người trò chuyện, tôi lặng lẽ đi dạo dưới những hàng thông hoặc ngồi đọc sách bên hồ Thủy Tiên để rồi sung sướng ngắm nhìn bạn sáng ngời trong hạnh phúc. Tình yêu làm người ta đẹp ra. Anh H. đưa chúng tôi về thăm gia đình. Căn nhà nhỏ nép mình trong một khu vườn sum suê cây trái.Tiếng chim sâu kêu lách chách. Bà mẹ hiền lành mừng rỡ đón bạn của con; người chị gái tên Hương thương em vô hạn, chăm anh từng ly từng tý. Tôi mừng cho Cát Đằng.
Anh H. trở về Đà Lạt tiếp tục khóa huấn luyện. Nhà tôi trở thành địa chỉ cho hai người trao đổi thư từ. Những bức thư đều đặn hàng tuần. Cát Đằng có một cái hộp bánh CHOCOLATE hình chữ nhật .Đọc xong thư bạn cất vào đó và nhờ tôi giữ hộ. Cuộc tình vẫn nằm trong bí mật với gia đình và bạn bè. Không ai biết ngoài tôi.
Gần cuối năm 1971, sau khi đọc xong lá thư có cái insigne rồng vàng ôm kiếm thiêng, Cát Đằng có vẻ suy tư. Bạn ngồi trầm ngâm trên chiếc xích đu trắng nhìn mông lung. Tôi mở lời : “Răng đó? Giận nhau hả?”. –“Không, có chi mô”. Lần này, bạn cầm lá thư về chắc để đêm nghiền ngẩm.
Con đường đến giảng đường sáng hôm sau như dài ra với sự yên lặng của Cát Đằng. Giờ English Grammar bạn dường như không nghe lời thầy John Schaffer giảng. Lúc ra chơi, đứng ở khung cửa sổ nhìn xuống đường Lê Lợi, Cát Đằng đưa bức thư cho tôi : “An Nhiên đọc đi !”.Tôi liếc nhanh qua bức thư với những lời yêu thương nồng thắm nhớ nhung chất ngất, hơi đỏ mặt vì thấy mình xâm phạm chuyện riêng tư của bạn. A, đây rồi. Cái lý do làm bạn tôi trăn trở hai ngày nay. Anh H. muốn bạn tôi có mặt trong đêm Lễ trao nhẫn truyền thống của SVSQ năm 3 trường Võ Bị. Là răng? Cát Đằng đi Đà Lạt ư ? Tôi không thể hình dung được chuyện này. Không được. Chuyện quá nghiêm trọng với con gái Huế, nhất là với bạn tôi, một người chưa hề bước chân qua đèo Hải Vân.
Ánh mắt của Cát Đằng tha thiết: “ An Nhiên giúp mình đi. Năn nỉ mà. Cam đoan không có chi xảy ra. Mình đi ba ngày. Chỉ bạn mới có thể giúp mình…”. Điều gì khiến một người con gái dịu dàng như Cát Đằng nẫy ra quyết định liều lĩnh thế ? Cái này gọi là sức mạnh của tình yêu đấy ư ? Xưa nay tôi vốn dị ứng với thứ tiểu thuyết lãng mạn của Quỳnh Dao và hoàn toàn không tin vào nhan đề một cuốn truyện của Lệ Hằng “ Chết cho tình yêu”. Không , không đựơc.
Hai đứa không nói chuyện với nhau suốt ba ngày. Nhưng cái vẻ ủ dột của Cát Đằng làm tôi thương xót. Anh H. cũng gởi cho tôi một bức thư ngắn. Anh bảo chính vì xem Cát Đằng là người trăm năm nên anh muốn nàng có mặt trong buổi lễ trang trọng và ý nghĩa này. Anh chịu trách nhiệm về chuyến đi. Lòng tôi mềm ra. Tình yêu xét cho cùng cũng có cái lý của nó. Tôi trở thành kẻ đồng lõa trong cuộc hành trình của bạn.
Vậy là tôi sang nhà xin ba mạ Cát Đằng cho hai đứa vào Đà Nẵng ăn cưới bà chị họ. Mạ bạn tỏ ra e ngại như tất cả những bà mẹ người Huế. Nhưng ba bạn thoáng hơn, hình như ông đang vui vì mới trúng một cú affaire. Hơn nữa, chơi với Cát Đằng hơn mười mấy năm, gia đình bạn tin tưởng tôi tuyệt đối.
Ba của bạn đích thân chở chúng tôi ra bến xe. Ông không thể ngờ rằng khi tới Đà Nẵng, việc đầu tiên của chúng tôi là đến ngay Air Việt Nam trên đường Độc Lập. Và chuyến bay DC six đưa Cát Đằng lên thành phố cao nguyên lúc hai giờ chiều để tôi ở lại với cõi lòng như lửa đốt.
Ba đêm tôi ăn không ngon , ngủ không yên ở nhà bà chị. Tôi chắp hai tay cầu nguyện Chúa, Phật và tất cả các đấng siêu nhiên cho chuyến đi thuận buồm xuôi gió. Tôi hơi ân hận vì đã lạc lòng trước những giọt nước mắt của bạn. Có chuyện gì xảy ra với Cát Đằng chắc tôi không sống nổi…
Và chiều thứ hai tôi đã oà khóc tức tưởi khi thấy bạn bước ra từ chiếc Bus của Hàng không Việt Nam.
Nhưng quả thật, chưa bao giờ tôi thấy bạn xinh như vậy. Mặt Cát Đằng hớn hở như trăng rằm, môi cười rất tươi. Nàng ôm choàng lấy tôi , hôn lên má : – “Cám ơn An Nhiên. Chúng mình cám ơn bạn vô cùng”. Những giận hờn trong tôi đều tan biến.
Trên chuyến xe ra Huế, Cát Đằng tíu tít kể cho tôi bao nhiêu chuyện . Thành phố hoa, những con dốc mù sương, chuyến xe ngựa vòng quanh bờ hồ Xuân Hương và một tấm ảnh đầy ấn tượng. Dưới ánh đèn huy hoàng có hàng chữ Lễ trao nhẫn với hai cái dấu như hai vương miện, bên một cái nhẫn to được trang trí cách điệu lộng lẫy, bạn tôi âu yếm lồng vào tay anh H. chiếc nhẫn Võ Bị. Họ như đôi tân lang và tân nương trong ngày cưới. Mãi mãi đây là một bí mật chỉ riêng ba người biết…
Thi thoảng chúng tôi qua Bến Ngự thăm nhà anh H. Mẹ anh coi Cát Đằng như con dâu tương lai. Bà kể về tuổi thơ vất vả của anh từ khi di cư vào Nam, về lúc cha anh mất , về người con trai cả tên Hùng phải lưu lạc vào Bình Dương kiếm sống. Có những đoạn xúc động, bà rươm rướm nước mắt. Cát Đằng ngồi kế bên bóp nhẹ tay bà. Một hình ảnh dễ thương làm sao. Bà còn dạy cho bạn tôi cách chế biến những món ăn mà con trai thích như canh cua rau đay, bún chả…
Cuối năm 1972 anh H. ra trường. Anh có mười ngày phép trước khi về trình diện tại Sư đoàn 9 Bộ binh có biệt danh “ Mũi tên thép”, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn đóng ở Vĩnh Long,Tư lệnh là Chuẩn Tướng Trần Bá Di. Chiến trường miền Trung đang sôi động với chiến dịch tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Đêm đêm tiếng đại bác ì ầm từ phía Bắc vọng về. Thành phố Huế tràn ngập màu áo lính rằn ri .Cát Đằng có vẻ yên tâm với sự chọn lựa này dù hai người có xa nhau về không gian. Mười ngày, tôi phải ra sức bao biện cho bạn để họ có những giây phút hạnh phúc.
Rồi cũng đến lúc chia ly. Chúng tôi tiễn anh vào Nam. Hình ảnh cuối cùng trong mắt tôi là cảnh chàng thiếu úy trẻ trai cầm chặt tay người yêu nói những lời từ biệt : “Em cười đi. Cát Đằng cười đi cho anh yên tâm. Anh sẽ về với em và sẽ thưa chuyện với ba mẹ”. Bạn tôi cười mà nước mắt hoen mi.
Như muốn làm Cát Đằng yên tâm, thư anh H. gởi về liên tục. Anh đóng quân ở Cao Lãnh. Anh làm Đại đội trưởng một đại đội trực thuộc Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 14. Anh nói về một vùng đất trù phú, những người dân miền Nam hồn nhiên, những đồng ruộng bạt ngàn, những cánh đồng chó ngáp… Anh ít kể chuyện chiến trường, chắc để người yêu bớt lo.
Nhà ông Trưởng Ty muốn dạm ngỏ Cát Đằng trước khi con trai đi du học. Cô bạn tôi nói với ba mạ “Con chưa muốn lấy chồng” nhưng sau đó cô gặp riêng chàng trai và bảo “Tôi có người yêu rồi. Anh đừng mất công” .Tội nghiệp anh chàng cứ đứng ngẩn tò te.
Cứ thế, những lá thư nối hai niềm vui. Cát Đằng mơ màng dự trù với tôi về tương lai. Một ngôi nhà với ngọn lửa ấm và những đứa con ngoan sẽ ra đời. Ước mơ trong tầm tay với. Tôi chia sẻ hạnh phúc với bạn bằng nụ cười bao dung.
Buổi chiều hai đứa ngồi trước sân hóng gió thì một cánh chim sâu sa xuống trước mặt. Bạn tôi nâng nó lên, âu yếm vuốt ve “Tội nghiệp mày chưa. Chị nuôi em nhé!”. Mạ Cát Đằng đi từ nhà sau lên hốt hoảng: “Chim sa cá nhảy. Ăn nói bậy bạ”. Rồi bà lấy một nắm gạo muối tung ra sân. Bạn tôi le lưỡi “Mạ sao mê tín dị đoan. Thả con chim thấy tội bắt chết!”

***
Huế tháng chín. Mùa thu. Những trái thanh trà da đã rám vàng. Tôi chở Cát Đằng lên Nguyệt Biều chọn những trái thật ngon về cúng Rằm tháng Tám. Bạn không quên lựa một cặp thật đẹp để biếu mẹ anh H. chưng bàn thờ. Hai đứa ngồi thòng chân xuống dòng nước sông Hương trên bến đò Giã Viên. Trời thật đẹp. Nắng vàng như mật . Gió hiu hiu. Cát Đằng thở dài “Phải chi có anh H ”. Tôi nguẩy vai “Rồi sẽ có ”.
Rẽ vào căn nhà dốc Bến Ngự. Cô bạn nhanh nhẹn nhảy chân sáo trên lối đi quen thuộc. Nhà vắng ngắt. Mùi hương trầm thoang thoảng trên bàn thờ . Chị Hương ngồi lặng trên ghế, nước mắt chảy quanh. Bạn tôi hốt hoảng: “Có chuyện chi rứa chị ? Mẹ mô rồi? ”. Chị Hương òa khóc: “ Mẹ với anh Hùng đi Vĩnh Long. Em ơi, thằng H.”…. Cát Đằng quỵ xuống đất.Tôi và chị Hương đỡ vội lên. Mặt bạn tái xanh, hơi thở ngắn như không còn sức sống. Tôi rót cho bạn một ly nước lọc rồi hỏi han chi tiết. Chị Hương kể cho tôi nghe trong tiếng sụt sịt. Anh Hùng từ Bình Dương gọi ra báo tin anh H. bị thương nặng trong cuộc hành quân vào mật khu ở quận Mỹ An, vùng Đồng Tháp Mười . Mẹ chị đang trên đường vào, chưa biết chi thêm.Trong bóng chiều chạng vạng, ba chị em ngồi yên lặng. Không ai đủ sức đưa tay bật ngọn đèn điện. Chao ôi! Tuần trước tôi vừa đưa thư cho bạn. Anh đang đóng quân ở Đồng Tháp. Anh kể cho bạn nghe về Gò Công – quê hương của bà Từ Dũ mẹ vua Tự Đức; về cam Cái Bè; về mận Trung Lương …Thượng đế ác nghiệt vậy sao? Anh vừa tròn 24 tuổi, ra trường mới chín tháng…
Không biết bằng cách nào tôi đã đưa Cát Đằng về đến nhà. Bạn ngồi sau tôi xiêu vẹo như một cái xác không hồn. Tôi nói với bác gái bạn bị trúng gió rồi đưa bạn vào phòng. Chân tay bạn lạnh ngắt. Đêm ấy tôi xin ở lại, thi thoảng lắng nghe tiếng rên rỉ đau đớn của Cát Đằng. Mọi ngôn ngữ trong giây phút này đều bất lực!
Nhưng nỗi bất hạnh không chỉ ngang chừng đó.Trong khi Cát Đằng định thưa thật với ba mạ để xin phép vào Vĩnh Long thì mươi hôm sau, mẹ anh H. nhắn ra anh H. không chỉ bị thương nặng mà còn mất tích. Cầm bằng như anh đã chết.Thôi còn mong chi nữa. Lần này thì bạn tôi quỵ ngã hoàn toàn. Nỗi đau ẩn giấu tận trong tim biến bạn thành một bóng ma câm lặng. Bác gái cứ căn vặn tôi hai đứa có chuyện chi không. Làm sao tôi dám trả lời. Thôi cứ đế bác tối tối thắp nhang ngoài cổng ngõ cầu cho con gái yêu đừng mắc “bệnh đàng dưới ”.
Phải sau ba tháng mẹ anh H. mới ra Huế. Bà sút gần bốn kí và hốc hác hẳn đi. Bà ôm lấy Cát Đằng khóc nghẹn “Con ơi! Bác không có duyên làm mẹ con rồi !”. Cát Đằng òa lên nức nở. Thôi cứ để bạn khóc cho nhẹ lòng.Tôi thật đau xót khi thấy đêm đêm bạn lôi tấm ảnh hai người trao nhẫn ra ngắm nghía.
Không hiểu sao nhà anh H. không lập bàn thờ. Có lẽ niềm tin của người mẹ cho rằng con mình chưa chết. Vâng, mất tích chưa hẳn là chết. Mắt anh sáng, tai anh to vậy mà. Chắc bác vẫn hy vọng một phép mầu nào đó chăng? Căn nhà đóng kín cửa. Mẹ anh H. vắng nhà luôn. Chị Hương bảo bà vào Bình Dương chơi với cháu nội cho đỡ buồn. Khu vườn rộng thui thủi một mình chị. Mỗi lần ghé thăm, nhìn Cát Đằng, chị lại bệu bạo “ Số em sao khổ thế H. ơi !”
Những đợt trao trả tù binh hai bên ở Lộc Ninh, Quảng Trị làm cho Cát Đằng hi vọng. Biết đâu anh sẽ trở về. Anh chỉ bị thương thôi mà. Bạn chăm chú theo dõi trên những tờ báo Tiền Tuyến, Sóng Thần… Nhưng tháng ngày qua. Niềm hi vọng hầu như đã thành tuyệt vọng. Bất chấp hiệp định Paris, chiến sự ngày càng ác liệt. Máy bay cứu thương liên tục hạ xuống bệnh viện Mang Cá trong Thành Nội…
Rồi Huế nháo nhác, tan tác…Rồi đất nước tang thương…
Ba Cát Đằng đi “cải tạo” vì bị xếp vào loại “ Ngụy quyền”. Bạn tôi bước xuống cuộc đời.
Trải một tấm nilon ở góc chân cầu Trường Tiền, Cát Đằng đi bán chợ trời. Cô tiểu thư con nhà quyền quý ấy bây giờ phải bươn chải với gánh nặng áo cơm của cả gia đình. Bạn bán từng cái áo nhà binh cho người đi lao động, vài cái loon Guigoz tiện cho người đi thăm nuôi, những chiếc áo dài cũ của vợ các sỹ quan một thuở huy hoàng, gói thuốc lá Tam Đảo nặng mùi khét lẹt cho đến cái chén kiểu, ly tách sang trọng một thời vang bóng…Nhìn bạn đếm từng hào tiền Bắc sau buổi chợ , tôi chảy nước mắt. Nhưng một nửa đất nước đều như thế, biết làm sao.
Thi thoảng nhờ em gái Hoàng Lan coi hàng, chúng tôi lên Thiên An quét lá thông về làm chất đốt. Củi cũng phải mua bằng tem phiếu mà gia đình chúng tôi làm gì có đặc quyền đặc lợi ấy. Sau khi nhét đầy lá vào hai bao tải, chúng tôi ngồi dựa gốc cây nghỉ mệt. Cát Đằng âu sầu đưa mắt nhìn chung quanh.Tôi biết trong đầu bạn đang nghĩ về những kỷ niệm xưa. Cũng nơi này, ngày ấy có một cặp tình nhân thật đẹp đang nắm tay nhau đi dưới rặng thông. Cảnh đấy người đây nhưng một người đà khuất bóng. Tôi không dám gợi lên điều gì với bạn. Mọi chuyện cứ như là một giấc mơ nhưng mỗi sáng mai thức dậy lại phải đối mặt với sự thật kinh hoàng.
Thành phố tăm tối hẳn đi. Mới 8 giờ tối điện đã cúp. Những chiếc Honda đổi chỗ cho giai cấp cán bộ. Huế xuất hiện xe đạp thồ. Những khuôn mặt đau khổ nhếch nhác. Những câu ca dao hiện đại được thầm thì chuyền miệng. Những bài hát được chế biến bi hài. Người ta nhắc lại câu nói mười bốn chữ bất hủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. “Rồi cứ thế ni mãi răng???” Mạ tôi ngữa mặt than trời rồi chặt hết những cây mai vàng thay vào mấy luống khoai lang cứu đói!
Bốn năm sau, ba Cát Đằng chết trong tù vì sức tàn lực kiệt. Mạ bạn khô nước mắt đi thăm mộ chồng ngoài Thanh Hóa. Một mô đất trơ trọi trong rừng được đánh dấu bằng viên đá xanh lớn. Còn đâu người đàn ông khả kính trụ cột gia đình . Tóc bà bạc trắng. Cái lúm đồng tiền xưa kia đã trở thành ngoặc đơn rồi ngoặc kép.
Từ nước ngoài người con trai yêu Cát Đằng ngày đó xuất hiện như một vị cứu tinh. Anh ta gởi về giúp gia đình bạn những xấp vải, những gói thuốc tây, những đồng đô la được khéo léo nhét trong hộp sữa… Tất cả chỉ nhằm một mục đích chinh phục tình yêu của người con gái Huế mà anh ta say đắm. Mạ bạn tha thiết khẩn nài “Con ơi! Thằng đó nó tốt, lại hiền lành, con nhà trí thức. Lấy hắn con cũng sướng mà các em cũng đỡ khổ. Với lý lịch này thì nhà mình không ngóc đầu lên được . Con chỉ có nước lấy anh xe thồ hoặc ông nông dân mà thôi” . Bạn tôi gục mặt vào hai bàn tay khóc nghẹn. Phải chăng bạn đang nghĩ đến một Thúy Kiều hiện đại?
Tôi khuyên Cát Đằng : Mọi chuyện đã trở thành quá khứ. Anh H. mất rồi. Đã gần 7 năm. Bạn đâu phải là kẻ phụ tình. Trong hoàn cảnh này đôi khi phải thực tế. Bạn yên lặng gật đầu.
Mọi chuyện được thu xếp nhanh chóng. Bà mẹ chú rể từ nước ngoài trở về. Một vài lễ nghi cần thiết trong buổi giao thời. Và xúc tiến giấy tờ bảo lãnh.
Tôi đưa Cát Đằng lên thăm chị Hương lần cuối. May sao lại gặp mẹ anh H. từ Bình Dương trở về. Bác bảo có thể bác sẽ vào trong đó ở hẳn. Bác ôm vai bạn tôi: “Bác mừng cho con. Biết tin này ở đâu đó chắc H. vui lắm”. Trên bàn thờ vẫn chưa có ảnh của anh. Ghê gớm thay lòng tin của người mẹ. Bạn tôi xin phép được lạy trước bàn thờ ba lạy và nhét vào túi mẹ anh H. chút vốn liếng còm cỏi. Nước mắt người mẹ ứa ra tràn trề. Bà khẽ kêu “ H. ơi! ”.
Trước khi xuất cảnh, Cát Đằng đến nhà tôi ngủ lại một đêm. Bạn đem theo cái hộp bánh CHOCOLATE chứa những bức thư của hai người, tấm ảnh trao nhẫn được đặt lên trên. Cát Đằng bảo tôi “An Nhiên là một chứng nhân quan trọng trong mối tình lớn của mình. Mình không thể mang theo kỉ vật quý giá này. Bạn giữ giúp mình cho đến lúc nào còn có thể ”. Tôi cất vào tủ sách, lòng ngậm ngùi thương bạn.
Thời gian qua, Cát Đằng đã có một gia đình êm ấm. Ông chồng thành đạt, hai con một trai một gái xinh xắn. Cả hai đang định cư ở thành phố Denver, tiểu bang Colorado. Tôi mừng cho bạn. Cuối cùng, một cô gái ngoan hiền như bạn tôi nhất định phải được sung sướng. Qua những cuộc trò chuyện từ nước ngoài, tôi tránh gợi chuyện ngày xưa.
Tôi cũng đã có gia đình. Một ông chồng do bàn tay số mệnh sắp đặt. Một ông chồng yêu vợ thương con nhưng vô tâm. Tôi cũng chẳng bao giờ hé môi về chuyện bạn mình…

*
Ngày mai, gia đình tôi sẽ vào Nam lập nghiệp. Mở tủ sách, tôi cầm cái hộp bánh cũ. Những bức thư nhuốm màu thời gian nhưng tấm ảnh vẫn còn rất rõ. Ôi! Nụ cười hạnh phúc của cả hai người.
Tôi không thể đem chúng theo. Đốt thì tôi không nỡ. Suy đi tính lại, tôi quyết định đem lên nhà chị Hương, nhờ chị đặt trên bàn thờ anh H. Không còn gì để hy vọng về anh nữa rồi.
Căn nhà vẫn như xưa dù thời gian có làm nó già và cũ kỹ hơn. Tiếng chim sâu vẫn kêu lách chách trên những vòm cây xanh. Tôi dựng chiếc xe vào gốc ngọc lan, lòng bùi ngùi. Kỷ niệm ngày xưa ùa về trong ký ức. Một chiếc xe lăn trên hàng hiên. Tôi trách mình đã lâu không thăm mẹ anh. Cuộc sống bận rộn với cơm áo, gạo tiền làm mình trở thành người có lỗi.
Tôi tự nhiên đẩy cửa vào phòng khách khép hờ. Một người đàn ông nằm trên ghế sofa, tay cầm cuốn sách, chiếc chăn mỏng đắp ngang thân, phía bên dưới là một… khoảng trống. Anh ngước nhìn lên. Có phải tôi đang mơ? Đôi mắt ấy , gương mặt ấy… Đúng là anh H. Anh cất tiếng “An Nhiên đấy ư em? ”. Tôi bàng hoàng , ngơ ngẩn.
Vâng, anh H. Anh bị thương nặng nhưng không chết. Trong cuộc hành quân của Tiếu đoàn vào mật khu Đồng Tháp Mười, đại đội của anh sa vào ổ phục kích. Môt mảnh B40 đã bay vào lưng anh, chạm ngay cột sống. Anh được đưa về quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Bác sỹ cho biết mảnh đạn đã làm đứt dây thần kinh tủy sống dẫn đến khả năng bại liệt suốt đời. Trong cái đau đớn tận cùng của thể xác, anh vẫn nghĩ đến Cát Đằng. Không thể gắn số phận bất hạnh của mình đối với người yêu, anh cắn chặt răng bảo mẹ báo tin với Cát Đằng là mình bị mất tích. Và người mẹ đã làm theo lời anh…
Từ Cần Thơ, anh được chuyển vể Tổng y viện Cộng Hòa. Các bác sỹ và y tá tận tâm chăm sóc anh. Vết thương bên ngoài tạm ổn, anh sang Trung tâm phục hồi chức năng. Mẹ già theo sát anh từng bước. Đó là lý do khiến bà bảo với Cát Đằng mình vào Nam sống với người anh cả.
Sau ngày 30 tháng 4, tất cả thương binh nặng nhẹ đều bị tống ra đường. Anh về Bình Dương nương tựa nhà anh Hùng. Vết thương không còn được quân y viện chăm sóc, lâu ngày bị hoại tử và hai chân anh bị tháo khớp tới háng. Mẹ già mất, Cát Đằng đã đi xa, anh quyết định về Huế sống phần đời còn lại bên người chị gái thương yêu. Gần mười mấy năm nay anh sống nhờ vào sự cưu mang, đùm bọc của các khóa Võ Bị ở nước ngoài, những chiến hữu cùng đơn vị và một số anh em còn kẹt lại ở quê nhà… Cao quý thay tình nghĩa đồng môn của những chàng trai cùng trường Mẹ! Anh cũng tự ôn kiến thức để dịch thuật, để luyện thi cho các học sinh nghèo vào Đại học. Cụôc sống không đến nỗi thấy mình là người vô dụng.
Cầm xấp thư và tấm hình, anh H. trầm ngâm bảo tôi: “Anh cám ơn An Nhiên. Cố vật đã tìm về cố chủ. Cứ để cho Cát Đằng nghĩ rằng anh đã chết. Đó chính là tình yêu của anh giành cho cô ấy”.
Anh nâng chiếc nhẫn có viên hồng ngọc trên ngón tay áp út, âu yếm hôn vào nó. Chiếc nhẫn năm xưa, Cát Đằng đã lồng vào tay anh trong đêm Lễ trao nhẫn trước phạn xá trường VBQGVN.
Một cơn gió lạnh thoảng qua. Mùa Đông đã về trên thành phố.

HƯƠNG THỦY

truongdinhphuong

Và tôi
và gió
và mưa
và năm
và tháng
và thưa
và dày
và trưa
và tối
và ngày
và sông
và biển
và đầy
và vơi !
Chiêm bao một giấc cõi đời
Tỉnh ra  sao chỉ  một trời cỏ hoang ?

Trương Đình Phượng

Xóa Một Bài Thơ Rồi Viết Lại

tranvanle

Xóa một bài thơ tự thấy buồn
Lỗi mình không cặn kẽ nhiều hơn!
Hỏi thăm chuyện một người xa lắm
Nghe nói nhiều điều rất dễ thương…

Nghe nói hình như có ít điều
Chắc rằng có chút dệt hay thêu
Người ta tô vẽ cho thêm chuyện
Để thấy lòng mình có thật yêu?

Mình biết người ta không phải xấu
Thương mình nên mới nói mênh mông
Dĩ nhiên ai đó là sông biển
Mình chỉ là mây qua biển sông!

Mình nhớ ai nên mình kiếm tìm
Nhiều khi mình ngó mãi theo chim
Nhiều khi mình hỏi hoa dò cỏ
Mong tiếng vọng về một tiếng Em!

Mình nhớ người xa ôi quá xa
Hỏi thăm bè bạn thấy chan hòa
Dẫu nghe bạn nói “tôi không rõ”
Thì biết chút nào cũng thiết tha!

Bạn nói nữa đi hay hết nói
Người xa mình nhớ quá, làm sao?
Gió trăng có sẵn mà ăn được
Thì nhớ bao nhiêu cũng ngọt ngào!

Làm một bài thơ…không chính xác
Xóa rồi không trách bạn gì đâu
Người xa, mình biết thừa khiêm tốn
Mình nhủ lòng “thà thiếu một câu”!

Một câu “thà thiếu” là ân hận
Để một mai chiều thơ thật hay
Người ở rất xa khi đón nhận
Thấy lòng mình hiện ở bàn tay…

Bàn tay năm ngón, bàn tay ngọc
Em của anh ơi, nhớ lạ lùng!
Nếu được là chim bay tới đó
Tha về em cả ánh trăng trong…

Trần Vấn Lệ