từ tâm

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

mỗi một bước nhấc chân
mỉm cười cùng giun dế
con sâu róm hôm nay
sao lại xin giọt lệ

đêm ra biển thắp hương
ăn xin mùi sóng vỗ
tiếng nước đập mạn thuyền
bờ xa chân bến đỗ

trăng mài kiếm từ đâu
hồn đày lưu biệt xứ
vó ngựa và bờm ngựa
thốc gió một trầm tư

₫ầu tư vào tiếng khóc
lời lãi từng vết nhăn
đêm từ tâm mở cửa
mời mọc nhánh sông hằng

NGÔ YÊN THÁI

Coi vậy chớ đâu phải vậy!

phamhoainhan

Ông Tư già rồi, mới được con cháu sắm cho cái smartphone. Mới đầu, ông cũng chỉ nhắn tin và gọi điện như bình thường thôi. Sau, tụi nhỏ nó bày cho ông xài Zalo, Viber để gọi điện, nhắn tin và làm nhiều thứ khác nữa mà không tốn tiền. Ờ, xài cũng dễ, ngoài nhắn tin, gọi điện qua các OTT như đã nói, ông còn coi tin trên web được nữa. Chỉ có điều, cái “nhiều thứ khác” nói trên thì tụi nó chưa có thời giờ hướng dẫn, nên ông phải lọ mọ tìm hiểu thôi.

Bữa nay, ông Tư đang cầm smartphone đọc tin trên mạng bỗng đọc được một bài hay quá. Nội dung bài này về cái gì thì vì lý do tế nhị, ta tạm chưa nói ở đây, chỉ biết là nó nói về một công dụng của Zalo. Ông Tư đọc xong thì khoái chí, bèn xài Zalo để thử ngay cái công dụng mà bài báo nêu lên.

Lần theo mô tả trong bài viết, ông Tư truy cập Zalo, vào phòng chat, chọn mục Tìm quanh đây. Sau đó, ông chọn “Chỉ hiện nữ”. Khi danh sách những bạn chat hiện lên, ông Tư coi lại bài báo để tìm hiểu cách chọn bạn. Rồi, thế là ông chọn được một người. Ông liền chat với bạn đó, nội dung chat là gì thì vì lý do tế nhị ta không kể ra đây, chỉ biết là sau đó ông Tư đã hẹn gặp bạn đó ở quán cà phê gần nhà. Ông hí ha hí hửng, khen thầm: Báo nói như thần, chỉ đâu đúng đó!

Ngồi ở quán cà phê chưa nóng đít, người hẹn chưa thấy xuất hiện thì thằng Cu Tí, con ông hàng xóm bỗng dáo dác chạy tới. Ông Tư than thầm: “Mình tới đây vì chuyện tế nhị mà tự nhiên thằng nhỏ này lại ló mặt, làm sao đây?” Cu Tí thấy ông Tư ngồi một mình thì sáp vô ngồi chung, vồn vã hỏi thăm: “Sao đi cà phê có một mình vậy bác Tư? Con ngồi chơi cho vui nhe!” Bất đắc dĩ, ông Tư phải cho nó ngồi chung nói chuyện.
Mười lăm phút trôi qua, người hẹn của ông Tư vẫn chưa thấy tới. Thấy ổng có vẻ sốt ruột, thằng cu Tí cười cười rồi hỏi:” Bác Tư chờ ai vậy? Em Kiều Diễm phải hông?”

Ông Tư giựt mình, sao thằng nhỏ này nó nói đúng chóc vậy ta? Ông cà lăm: “Sao, sao mầy biết?”

Cu Tí cười hì hì, giơ smartphone của nó ra cho ông Tư coi, nói:
“Thì con là Kiều Diễm nè, hồi nãy con chat với bác Tư chớ ai! Bác Tư ơi, bác tính làm dê già đi kiếm cỏ non hả?”
Ông Tư tức mình quá, thằng nhỏ hỉ mũi chưa sạch này dám giả bộ làm con gái để lừa ông. Ông lôi cái smartphone của mình ra, mở đến đúng bài báo mình mới đọc cho nó coi và cãi lại:
“Cha mầy! Tao từng tuổi này rồi mà còn mê gái hả? Tao vừa đọc bài này nè: Cạm bẫy gái gọi trên Zalo. Bác Tư mầy chỉ làm theo những gì bài báo này nói để kiểm chứng coi sự thiệt có đúng như vậy không thôi mà. Hiểu chưa đồ con nít ranh?”
Cu Tí cũng giơ smartphone của mình ra, nói:
“Thì con cũng vậy thôi, con cũng mới đọc bài báo đó và thử tạo ra một cái nick giả để kiểm chứng coi người ta có đi tìm gái gọi qua Zalo như bài báo ấy nói hay không thôi mà.”

Ra là vậy, ông Tư và cu Tí đều là những người đàng hoàng, có đâu làm chuyện bậy bạ, họ chỉ kiểm chứng nội dung bài báo thôi mà. Coi vậy chớ đâu phải vậy!

Còn bài báo kia, thoạt nhìn thì có vẻ như bài viết cảnh báo hiện tượng xấu trong xã hội, lợi dụng công cụ Zalo nhưng thực tế hình như là đang vẽ đường cho hươu chạy, đưa nội dung để câu view. Ai biết đâu nà, coi vậy chớ đâu phải vậy!

Phạm Hoài Nhân

HOÀNG SA HÀNH

nguyenanbinh

Cát vàng cát vàng đảo biên cương
Mênh mông sóng bạc ngất trùng dương
Phên giậu ngàn đời vùng đông trấn
Ngăn loài quỷ dữ gieo tai ương.

Biên ải mịt mù xa vạn dặm
Thuyền nan chèo mõi bao đêm trường
Vâng lệnh vua truyền đời nối tiếp
Khao lề thế lính giữ biên cương.

Giáo nóp lên thuyền theo mệnh nước
Gạo mắm chu toàn chẳng quân lương
Lính thú một đi không trở lại
Trông lại quê nhà mờ khói sương.

Ứa mắt vẫy tay người vợ trẻ
Mẹ già con dại nhờ em nương
Thân trai hề ngại chi sóng cả
Vẹn toàn trung hiếu với quê hương.

Sóng gào gió thét tràn cơn bấc
Tay chèo nghiêng mạn vỗ trùng dương
Thuyền đi muôn dặm theo tinh tú
Nào có tiếc gì chút máu xương.

Đảo chìm đảo nổi bao hải lý
Núi dựng trùng trùng mù mịt sương
Bão to bão nhỏ càn mấy lượt
Trắng trời mưa gió lạnh thê lương.

Lính thú muôn đời nơi trận địa
Ngày đội nắng lửa đêm nằm sương
Sinh tử mệnh trời sao tính được
Cũng đành dứt bỏ…chuyện yêu đương.

Mỗi năm chờ đến mùa gíó chướng
Thiếu phụ không màng đến lược gương
Bến đợi trông chồng như tượng đá
Nào thấy buồm neo về cố hương.

Mộ gió rì rào vang sóng biển
Mộ ở đây mà người biệt phương
Con hỏi mẹ ơi chờ chi biển ?
Chỉ thấy gió gào suốt hàng dương.

Ô hay Hoàng Sa quần đảo dữ
Thuồng luồng thủy quái vây tứ phương
Nanh tàn vuốt độc lòng lang sói
Pháo gảy tàu tan nát thịt xương.

Hải chiến Hoàng Sa sóng dị thường
Cát vàng chôn lấp bao cốt xương
Bảy tư hề linh hồn tử sĩ
Xác hòa vào đáy nước đại dương.

Ngàn năm thịt nát tan vào nước
Hồn còn quanh quẩn chốn hải cương
Chỉ thương đôi mắt người vợ trẻ
Mòn mõi hóa đá, tấy vết thương.

Một dãy san hô bừng sắc đỏ
Phải chăng thấm đỏ máu kiên cường
Dáng núi còn in hình cô phụ
Tử khí mù trời đất nhiễu nhương.

Thôi em quay mặt đi đừng khóc
Giọt lệ nào xóa hết tang thương
Từ xưa biên ải tràn mộ chí
Xá gì ta hề một nắm xương.

Một nén hương lòng thôi cũng đủ
Ngậm cười người lạc nẻo âm dương.
Chim nhạn từng bầy bay thảng thốt
Người không còn danh có lưu phương?

Biền biệt người đi vào vô định
Hải mộ quan soi ánh tà dương
Vách đá khắc ghi lời bất tử
Nước thẳm sâu mang đầy tai ương.

Biển đảo cha ông không giữ được
Giận quân thù gieo rắc tang thương
Em có nghe hờn vang trong gió
Cát vàng cát vàng hề đảo biên cương.

Nguyễn An Bình

LỤC BÁT KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

THỀ

Không có ai ở ngoài thềm
Chỉ nghe bóng lá đi tìm bóng khuya
Nhịp của ngày đi, tôi về
Những bước chân như rủ rê tôi rằng
Về đi, đêm có ánh trăng…

NGUYỀN

Không có ai ở ngoài thềm
Chỉ nghe bóng lá đi tìm bóng tôi
Chia nhau hai nỗi đơn côi
Xin dành riêng lại nụ cười, làm duyên
Đêm nay có cuộc thề nguyền…

HẸN

Cầm tay giây phút. Hẹn về
Rằng ra đi. Sẽ đi về giấc mơ
Nghe thân đá lạnh bao giờ
Mọc xanh bờ tóc để chờ thủy chung
Bóng reo, đá nhỏ lệ mừng

Nguyễn thị Khánh Minh

Người hùng của tuổi thơ tôi (James Jeffrey)

nguyetthuho

Bản dịch của HỒ NGUYỆT THU
( để tặng các bạn tôi)

Cách đây hai năm khi cha con tôi gặp măt nhau, không ngờ đó là lần cuối. Trong ánh sáng lờ mờ của phòng viếng tại nhà quàn , khuôn mặt của Ba trông kỳ quặc lạ lẫm . Hình như Thần Chết đã trao cho Ba cái mặt nạ để người có thề chuồn đi một cách lặng lẽ và không bị quấy rầy. Về một khía cạnh nào đó nhận xét này khá thích hợp với Ba .Về cuối đời, chúng tôi không còn nhận ra người cha quen thuộc nữa vì căn bệnh mất trí nhớ đã dần dần cướp đi hàng triệu mảnh nhỏ nhân cách của ông y hệt như đàn kiến nhẩn nha khiêng vác thức ăn bị bỏ quên ngoài trời.
Nhưng đôi tay Ba vẫn không hề thay đổi.Lúc này hai bàn tay của người nằm bất động trong tĩnh lặng vì chúng đã được giải thoát hoàn toàn khỏi những cơn run rẩy của chứng bệnh Parkinson- xảy ra cùng thời với chứng mất trí .

Như vẫn thuờng làm khi thăm Ba ở nhà dưỡng lão, tôi đan chặt tay mình với hai bàn tay của người . Tôi cố gắng không bị ảnh huởng bởi sự lạnh lẽo đến rợn người của chúng và nâng niu những ngón tay luôn mang vẻ thanh nhã của một cựu kỹ sư hầm mỏ đầy tự hào về khả năng chuyên môn của mình.

Tôi nhận ra từng đốm đồi mồi cùng từng cọng lông tay ;ngón trỏ thuờng hay chỉ chỏ về huớng tôi khi răn dạy ; cho dù mấy chục năm đã trôi qua nhưng ngón đeo nhẫn dường như vẩn thiêu thiếu một cái gì. Trong lần cải vã cuối cùng với Mẹ , Ba đã ném chiếc nhẫn cưới vào tường khiến nó lăn vòng vòng dọc theo hành lang .

Thời tôi mới lớn đôi bàn tay đó có vẻ rất mạnh mẽ ,thông minh và hơi tinh nghịch. Lúc tôi còn nhỏ, chúng đã tung tôi lên cao khi cha con đùa giỡn , hoặc treo tôi tòn ten trong khi Ba liên tục thổi phì phèo vào bụng để cù lét. Khi tôi đã quá cao lớn và đôi tay này không cách chi tung hứng tôi nữa, chúng thuờng xoa tóc và hay ôm lấy tôi .

Đóng vai con quỷ chuyên cù lét có tên là Mercatops Poo, Ba hay đặt hai tay ở hai bên đầu rồi vừa lắc tay vừa đảo mắt vòng vòng đồng thời miệng gầm gừ liên tục trong lúc rượt bắt tôi và cô em gái chung quanh nhà. Khi con quỷ bắt được chúng tôi – 2 con mồi tuy bất lực nhưng miệng luôn cười ha hả – đó là lúc chúng tôi bị cù lét. Mà chúng tôi không hề tè trong quần lần nào . Điều này mới thật lạ lùng .

Khi mọi ồn ào náo nhiệt lắng đọng xuống, đôi bàn tay lại đắp mền cho chúng tôi trên giường ngủ trong lúc chúng tôi cùng nói với nhau ” vô số kể “, một câu nói tắt của gia đình để diễn đạt cho hằng tỷ tỷ nụ hôn , một số lượng quá lớn lao không cách chi đếm xuể.

Đôi tay này từng cuốc đất và thay vỏ xe . Chúng từng làm việc dưới lòng đất , và khi kỹ nghệ than đá xuống dốc , chúng cũng cầm chổi lau chùi và máy đánh bóng sàn nhà . Chúng từng xây chuồng chim và lái xe đi du ngoạn khắp năm châu . Chúng đã gõ hàng loạt các lá thư đầy bực dọc nhưng hài huớc đến các tờ báo địa phương và chịu trách nhiệm cho dòng chữ viết tay chằng ăn nhập gì đến 24 chữ cái , khiến bác sĩ gia đình cũng phải lắc đầu. Chúng từng vỗ về hết con chó này dến con chó nọ khiến chúng rất vui sướng và nhẹ nhàng vuốt ve những chú chim non chẳng may lọt ra khỏi tổ . Nhiều năm sau, khi tôi cùng Ba thăm viếng vùng đất thuộc trung tâm xứ Úc, trong reo vui kinh ngạc, đôi tay này cũng ịn lên những phiến đá màu cam đỏ và thân màu trắng bạc của cây khuynh diệp rất đặc trưng ở vùng này.
Rồi trong một lần Ba vẫn còn đủ minh mẫn để trò chuyện với tôi – mà cũng là lần chót- đôi tay này đã xiết chặc tay tôi trong lúc Ba chịu cháp nhận và buông xã hoàn toàn sự bực tức và nỗi sợ hãi về những gì căn bệnh mất trí nhớ sẽ gây ra .
Bây giờ chúng im lìm bất động, giống như phần còn lại của cơ thể người. Trong phòng đợi em gái tôi đang thút thít khóc . Ngoài sân mẹ đang nhả khói bập bùng . Nhìn thấy người chồng cũ nằm yên trong tĩnh lặng cuối cùng đã khiến nước mắt bà tuôn ào ạt từ dòng sông của nỗi đau bi thảm ; nhưng đó chỉ là lương nước của một nhánh sông nhỏ so với lưu lượng hùng mạnh của dòng suy tư về cái chết của chính mình sau khi bà được trợ sức bởi vài điếu thuốc nữa.
Giờ đây, chỉ cho mình tôi. Và Ba . Trong buổi lễ chôn cất vài ngày sắp tới , quan tài chỉ còn là một cái hộp , nhưng cốt lõi của Ba sẽ sinh động trở lại qua các tấm hình chiếu trên tường nhà nguyện , trong âm nhạc Ba đã chọn và trong những câu chuyện chúng tôi sẽ kể về người.
Tuy vậy vẫn còn một điều cuối cùng cần làm trong lúc này. Tôi mỉm cười khi nhìn thấy chiếc khăn choàng cổ màu mè đuọc xếp đặt cẩn thận trong quan tài . Đây là thành quả do nỗ lực từ hồi thơ ấu của chị tôi . Chị đan cho Ba chiếc khăn giống hệt như chiếc khăn choàng cổ của nam diễn viên Tom Baker( đóng vai The Dr) trong bộ phim tập Dr Who . Ba đã từng mê mẫn bộ phim này trong một thời gian dài. Nhưng còn môt chi tiết nhỏ nữa thì bộ dáng của Dr Who mới hoàn chỉnh . Từ trong túi, tôi lôi ra cái tuốc nơ vít chạy bằng âm thanh – dụng cụ đa năng của Dr Who chuyên giúp ông chạy thoát mọi hiểm nguy – rồi đặt nó trong bàn tay của ba. Tôi suýt bật cười về chi tiết oái ăm và ngược đời này . Chắc hẳn Ba sẽ vui thích lắm .

Tôi cúi xuống , đặt một nụ hôn lên vầng trán lạnh của Ba và khẽ nói: ” Không có con số . “. Những lần trò chuyện trong gia đình tôi rồi sẽ tiếp tục nhưng từ đây trở đi Ba chỉ còn là một ký ức đẹp. Tôi ngoái đầu nhìn lại một lần nữa người anh hùng của thời thơ ấu . Rồi khép cửa bước ra ngoài .

James Jeffrey

LỮ KHÁCH HÀNH

phudu

Kẻ lữ thứ đi dặm dài chưa mỏi
Nâng trái tim đau quặn vết chai lì
Người ngã gục, kẻ chôn tình trong mộ
Gục đầu và ôm ngực gọi vô tri

Kẻ đi xa không màng trông thấy đích
Đủ oan khiên nếm mùi vị cuộc đời
Dày phong độ để hành trình vạn lý
Ngã bao lần cũng ráng mỉm môi cười

Kẻ phong sương mấy lần đi trật nẻo
Cứ lần mò tìm giữa khói sương mù
Tay quờ quạng và chân dò miệng hố
Lòng bình nhiên như cây cỏ vô tư

Lứ khách hành, phương nao, xa tít tắp
Hữu và vô chen lấn bắc cùng nam
Lòng vô ngại hát trên giòng phù động
Đường ta đi, đi mãi cuộc trăm năm.

 

PHÙ DU

THÁNG SÁU, SÀI GÒN…

nguyenlienchau

(Gởi Phạm Thái Nhân)

Tháng sáu, Sài Gòn…
buồn như lời tình bị khước từ
những cơn mưa trở mình mộng du
phủ dụ người
ngập ngụa hỗn mang thời gian mở

Trắng giăng mờ vắng tanh đường phố
trắng từng hơi thở vuốt mặt mưa
trắng chùng lòng lẩm cẩm chuyện xưa
ảo ảnh phập phồng
gương mặt nhân gian nhòe nước

Thất thường và bất chợt
sự đùa cợt thăng hoa
những ai đã đi qua – những ai rồi sẽ tới
ai nghiêng dù da xanh
ai mỏng manh mắt đỏ
ai ngâm mình trong bể lo

Lạnh mưa xui người nép
lạnh buồn dục người dầm
lạnh buốt nhát dao đâm
dửng dưng mưa trút vào xa vắng

Tháng sáu, Sài Gòn…
buồn như niềm tin bị đánh cắp
những cơn mưa tăng tốc tận thu
vẫn không rửa trôi được bụi ám
vẫn không gột sạch được nhân tình
mưa vô sinh và phố vô minh

NGUYỄN LIÊN CHÂU

THỜI GIAN KHÔNG TRÔI ĐI…

lephuhai

Khi tôi lớn lên dì Hạnh vẫn còn trẻ lắm. Vết chân chim lờ mờ hai bên khóe mắt vẫn không làm xấu đi khuôn mặt tươi trẻ của dì. Dì sống tại khu phố cũ với đứa con trai bị lùng khùng từ nhỏ. Nhà của dì nằm lọt thỏm giữa một vườn cây đủ loại, từ các loại cây ăn trái như mít, xoài, ổi cho đến các thứ cây cảnh được trồng không theo một thứ tự nào. Và dường như tất cả được phủ lên bằng một lớp rêu xanh cũ kỹ cho phù hợp với mái ngói âm dương đang trân mình cố chịu dãi dầu với dòng thời gian không ngừng đi qua trước ngõ…
Nhà dì ở khá gần sông nhưng không khi nào dì đi ra bờ sông mặc dù mùa hè ở đây rất mát và cảnh trí không ngừng được công ty cây xanh tu tạo ngày càng thêm đẹp đẽ. Dì chỉ quanh quẩn với khu vườn, căn nhà và cái quán may nhỏ bé của mình nằm bên cạnh cổng. Hồi nhỏ tôi rất thích cái quán may của dì vì lúc nào nơi đây cũng tíu tít tiếng cười đùa của những cô gái học việc. Họ thường là những người ở quê ra với nguyên xi những chân chất thơ ngây, thậm chí thô vụng của mình. Và vì vậy dì tôi rất thương yêu họ.. Nhưng điều hấp dẫn tôi lúc đó ngoài tiếng máy may kêu xành xạch là mấy thẩu bánh kẹo to đùng và đủ loại mứt hoa quả do dì chế biến từ các nhóm cây trái trong vườn… Tôi thường đạp xe qua nhà dì, làm bộ lăng xăng lít xít để được dì cho ăn, nhưng ngại nhất là sợ bị phải trông coi thằng Tuấn – con dì. Nó thường hay lang thang đâu đó rồi đi lạc khiến mọi người phải cuống cuồng tìm kiếm. Những lúc ấy dì tôi trông lo lắng đến tội nghiệp… Lên khoảng sáu bảy tuổi thì thằng Tuấn bị bệnh rồi mất. Dì ở lại một mình trong căn nhà hai gian rộng và hoang vắng. Tôi lại càng hay qua lại với dì nhiều hơn, để dì đở buồn, má tôi vẫn thường nói như vậy.

Lớn hơn một chút tôi mới biết thêm về cuộc đời dì qua lời kể của má và bà ngoại. Hóa ra ngày xưa dì cũng là cô giáo. Dì tốt nghiệp Đại học cộng đồng duyên hải Nha Trang từ trước bảy lăm và về đây dạy học. Năm bảy ba dì lấy chú Khoa là bạn học cũ thời trung học. Năm ấy chú Khoa vừa tốt nghiệp trường Quốc gia hành chánh ở Đà Lạt và đi làm việc tại Phú Bổn. Dì Hạnh vừa mang bầu thì xảy ra biến cố bảy lăm, bắt đầu từ Tây nguyên. Chú Khoa mất tích trong đoàn người di tản tán loạn lúc đó. Tại thị xã dì Hạnh cũng bị cuốn đi trong cơn lũ tháo chạy. Dì bị chìm ghe trong lúc vượt qua sông. Rồi cũng chẳng biết nhờ đâu dì được cứu thoát và khi tỉnh dậy trên bờ cát, tiếng súng vẫn còn nổ ì ầm trong đêm. Dì thất thểu quay về nhà ngoại. Còn chú Khoa vẫn bặt vô âm tín.
Mãi tới khi mọi việc xong xuôi, chính quyền mới được thành lập, rồi được triệu tập đi dạy trở lại, dì vẫn cứ mãi ngóng trông vì nghĩ rằng chắc chú Khoa chỉ bị thất lạc đâu đó. Sau này có người nói đã thấy chú bị đạn chết trên đường dì cũng vẫn không tin, vẫn bình thản chờ đợi như thể chú vẫn còn đi làm xa đâu đó chưa về. Sau đó dì sinh thằng Tuấn. Không hiểu do bẩm sinh hay vì ảnh hưởng của đạn bom mà từ lúc sinh ra nó đã bị ngớ ngẩn. Dì Hạnh xin nghỉ việc ở nhà chăm sóc con từ đó… Điều đặc biệt là dì không hề tỏ ra khắc khổ hay ưu phiền quá độ. Dì vẫn cười nói, vẫn vô tư và vui vẻ. Chỉ có điều khái niệm thời gian của dì hình như dừng lại, và đối với dì như vậy là đủ. Mẹ tôi nói dì vô tâm vô tính. Nhưng tôi nghĩ khác, phải là một người hết sức yêu quí cuộc đời dì mới vượt qua được những khó khăn chồng chất, kể cả về tinh thần. Một vài người đàn ông đến với dì rồi lặng lẽ ra đi như thể không cách nào hòa nhập được vào cái thế giới nhỏ nhoi nhưng đầy ắp hoài niệm của dì. Chỉ có tôi, đứa cháu gái tong teo của dì là lần mò theo từng vùng ký ức của dì qua những lần trò chuyện bâng quơ cũng như có chủ đề…

Những ngày còn nhỏ tôi thường hay qua nhà ngủ với dì trong những đêm mưa lũ. Thích nhất là nằm nghe tiếng nước chảy ào ào ngoài sông, tiếng rả rích mưa rơi trên mái ngói và tiếng dì kể chuyện rì rầm. Dì hay kể cho tôi nghe về những chuyện tinh nghịch ngày xưa khi còn bé sống với các chị và ông bà ngoại, về những ngày tháng khi còn đi học, về những bạn bè của dì có những cái tên nghe lạ hoắc lạ huơ như trong một miền cổ tích nào xa lơ xa lắc… cho đến khi tôi chìm vào giấc ngủ êm đềm. Thường trong những lúc đêm khuya, tôi hay lén sờ vào vú dì, có khi ôm lấy bai bầu vú đầy đặn rắn chắc của dì, có khi lấy ngón tay nghịch lăn tăn cái đầu vú nhỏ như đầu mút đũa. Những lúc ấy dì thường đẩy tay tôi ra và nói: “Con bé này hư quá!” rồi ôm riết tôi vào lòng như muốn chuyền trọn vẹn cái ấm êm của thân thể lẫn tình cảm bị dồn nén của mình cho tôi. Những lúc như vậy tôi cảm thấy thật là hạnh phúc.
Rồi đến những ngày bước vào cấp ba, tôi được phép qua ở với dì Hạnh luôn để dì chăm lo và kềm kẹp việc học hành. Trong những ngày này, mùa nắng cũng như mùa mưa, dì Hạnh thường hay gọi tôi dậy vào lúc sáng sớm để đi lễ nhà thờ. Tôi không biết dì thật lòng tin vào Chúa hay đó là cái tính cách được hình thành từ những thói quen được lập đi lập lại nhiều lần. Tôi cũng theo dì và có được thói quen đó. Có lần tôi hỏi, dì có cầu nguyện không, dì trả lời có. Dì có xin được lấy chồng khác không, dì cốc đầu tôi nói cái con này, tào lao ghê!…
Ngoại tôi chỉ có ba người con. Má tôi, đến dì Đức và cuối cùng là dì Hạnh. Má tôi cũng có ba người con: chị hai, chị ba và tôi. Má tôi thường nói mày giống dì Hạnh y hệt, vô tâm và… lạc hậu. Tôi hỏi dì, tại sao má chê dì lạc hậu, dì nói bởi vì dì không “à la mốt”. Mà đúng thật như vậy, trong tủ áo của dì toàn là những trang phục được may từ những năm bảy mươi mấy. Hơn mười cái áo dài bông cổ thấp, không chít eo và ngắn củn cởn không còn hợp thời dì Hạnh vẫn vui vẻ mặc như thường. Tôi hỏi dì sao không may áo khác đúng mốt hơn, dì nói không cần, dì quen mặc như vậy từ thời đi dạy học. Tôi nói như vậy là quê lắm, dì chỉ cười nói chưa chắc ai quê hơn ai.
Tôi thường hay kể với dì về những buồn vui bắt gặp và những điều xảy ra ở trường, ở lớp. Có lần tôi suýt thất tình vì anh chàng lớp trưởng, buổi sáng nằm khóc vùi, dì kéo tung mền gối dựng tôi dậy và nói: “Sáng hôm nay cháu của dì buồn như một con chó ốm/ Như con mèo ngái ngủ trên tay anh/ Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình/ Để anh giận sao chả là nước biển…” Tôi la lên dì nói tầm bậy gì vậy? Sao tầm bậy, thơ tình đó cháu ơi. Tôi thút thít: Con buồn muốn chết đây mà dì còn nói con là chó, là mèo, là cá ươn… Ai biểu cháu thất tình làm gì. Thôi ngồi dậy rửa mặt dì cho cái này ăn ngon lắm…
Dì Hạnh cũng thường hay nói chuyện văn chương cho tôi nghe. Dì nói Chinh phụ ngâm hay hơn truyện Kiều. Tôi cãi: Ai cũng công nhận truyện Kiều là đệ nhất tác phẩm của Việt Nam. Dì nói: Truyện Kiều cũng hay nhưng buồn quá. Cái buồn của Chinh phụ ngâm dễ chịu hơn, ngôn ngữ mang nhiều hình ảnh và màu sắc hơn. Rồi dì đọc: Ngòi đầu cầu nước trong như lọc/ Đường bên cầu cỏ mọc còn non/ Đưa chàng lòng dặc dặc buồn/ Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền… Tôi chê: Tối nghĩa quá, dì lại đọc sai nữa: “ngoài đầu cầu” chớ sao lại “ngòi đầu cầu”? Rồi cái gì lại “dặc dặc”, phải là “dằng dặc” mới đúng. Còn “khôn” bằng ngựa “khôn” bằng thuyền là làm sao? Quá khó hiểu! Dì Hạnh cười: Đây là cổ văn nên cháu không hiểu. Ví dụ như “khôn” có nghĩa là “đi” đó cháu ơi. Cháu chả biết gì hết. Phải hiểu nghĩa của từ mới thấy được cái hay của câu, của đoạn. Mà thôi, dì đọc cho cháu nghe bốn câu này: Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió/ Hỏi ngày về chỉ độ đào bông/ Nay đào đã quyến gió đông/ Phù dung lại nở bên sông bơ thờ… Đó, cháu thấy hình ảnh có đẹp không? Hay cũng không hiểu nữa hả con… khỉ đột…

Còn nhớ năm đầu tiên ra trường đi dạy học ở một vùng xa tôi đã yêu một người. Mối tình đầu đối với tôi thật đậm sâu và trọn vẹn. Lòng yêu của tôi mạnh mẽ đến độ tôi đã một lần dạn dĩ trao thân cho anh ta mà không hề hối hận. Chỉ đến lúc bị nói lời từ biệt tôi mới thật sự hoảng loạn. Tôi đã chạy ngay về nhào vào đôi tay dì Hạnh khóc như mưa. Dì âu yếm ôm tôi vào lòng để nghe tôi kể cho dì tất cả nỗi niềm. Lặng đi một chút, dì hỏi: Cháu có thật lòng yêu người ấy không? Tôi trả lời có trong tiếng thổn thức. Không sao đâu, cháu của dì đừng buồn – dì áp đầu tôi vào ngực nói nhỏ nhẹ – miễn là cháu có yêu. Bà Nguyễn Thị Hoàng có nói “Cho không phí, chỉ có nhận mà không biết dùng mới phí”, nên người mất chính là anh ta chứ không phải là cháu. Cháu xinh đẹp và tốt bụng như vậy nhất định rồi sẽ hạnh phúc. Tôi không biết bà Nguyễn Thị Hoàng là ai nhưng quả thật những lời an ủi của dì đã mau chóng giúp tôi tìm lại được niềm vui tưởng chừng như không bao giờ trở lại.

Ngày tôi lấy chồng dì Hạnh vui mừng tíu tít. Dì lo lắng cho tôi từ chiếc khăn tay cho đến cái nịt ngực. Tôi đùa: Con lấy chồng chớ dì có lấy chồng đâu mà vui quá vậy? Dì nói, dì vui vì thấy lại hình ảnh của mình nhiều năm về trước. Trước buổi tiễn dâu, dì lén vào phòng đưa tôi một chiếc hộp vuông nhỏ. Dì nói: Dì nghèo quá không có gì cho cháu, tặng cháu cái này. Tôi mở ra. Trong hộp là chiếc nhẫn mặt ngọc bằng vàng tây đã cũ. Trên mặt đá có khắc hai chữ H và K lồng vào nhau theo kiểu cổ điển. Tôi không nhận, nói đây là vật kỷ niệm của vợ chồng dì. Dì không chịu, nói, thôi thì cứ coi như cháu giữ dùm cho dì vậy. Mắt tôi bất chợt cay cay. Dì vuốt má tôi: Đừng khóc, lấy chồng thì phải vui lên chứ. Tôi chỉ biết nghẹn ngào vì thương dì quá đỗi…
Cuộc sống gia đình tôi cũng rất bình thường. Chồng tôi là một người đàn ông tốt. Anh ấy cũng dạy học như tôi. Ngoài những giờ trên lớp anh ấy chỉ ở nhà chăm sóc tôi, con gái và nhà cửa. Không thể nói rằng tôi không hạnh phúc. Nhưng đó hình như là một thứ hạnh phúc hơi buồn. Tôi cũng chả nhớ gì về mối tình đầu của một thời dại dột. Có vẻ như thế hệ của chúng tôi bình yên quá. Mà cũng có thể bởi cuộc đời chẳng có một biến cố hay thay đổi kinh khủng nào nên những tháng ngày của tôi chỉ là những tháng ngày nhàn nhạt. Chỉ những lúc đến với dì Hạnh, hòa nhập vào cái thế giới nhỏ bé riêng tư của dì tôi mới thấy lòng mình như lắng lại, như mơ hồ có một khoảng không gian và thời gian không thật chập chờn đâu đó…

Bây giờ dì tôi không còn nữa. Dì mất vì bệnh ung thư lúc vừa bước sang tuổi năm mươi. Dì ra đi cũng bình yên và tĩnh tại. Căn nhà được khóa lại và vườn cây lá rụng um tùm. Chỉ có tôi những lúc nhớ dì lại chạy về quét dọn và đốt lên vài ngọn nến nhỏ trên bàn thờ. Thường những lúc ấy tôi tôi hay nằm trên chiếc võng treo ở nhà sau khe khẽ đong đưa mà nhớ thương dì đến chảy nước mắt. Bà ngoại và má tôi đòi bán căn nhà đi nhưng tôi nhất quyết không cho. Bởi lẽ ngoài dì ra chỉ có tôi là người duy nhất biết được rằng ngay tại căn nhà và khu vườn này thời gian không trôi đi. Nó cứ chậm rãi lượn lờ rồi quẩn quanh đâu đó. Một lát nữa thôi, bước ra ngoài đường kia sẽ là phố xá với nhịp sống hối hả. Còn trong ngôi nhà này, đã có dì, và chắc sau này sẽ là tôi với những hoài niệm về một thời đã qua ngọt ngào và cay đắng…

Lê Phú Hải

NGƯỜI MẸ CỦA BIÊN GIỚI SỐNG VÀ CHẾT

boatpeople

Đây là câu chuyện được cha Nguyễn Tầm Thường, Dòng Tên, thuật lại nhân kỷ niệm 5 năm ngày Mẹ Têrêsa Calcutta qua đời 1997 – 2002…
Năm 2000, tôi tới giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam ở Oakland, miền bắc California. Hôm ấy, cuối nhà thờ có người gọi tôi. Quay lại nhìn, ngờ ngợ, ai ngờ đâu tôi gặp lại người đàn ông tôi đang muốn tìm từ lâu…

Sáu năm làm việc tại trại tỵ nạn Palawan, Philippines 1989 – 1995, tôi gặp ông ở đấy. Một người đàn ông im lặng, ít nói. Ông lúc nào cũng như có chuyện khổ tâm. Ngày ngày ngồi tráng bánh ở một góc đường trong khu trại tỵ nạn. Ngâm gạo đêm trước, dậy tráng bánh từ hai giờ sáng bên vỉa đường. Mỗi ngày vài chục pesos. Ngày ấy,1 US dollar được 25 pesos tiền Philippines.

Hoàn cảnh tỵ nạn bấy giờ nhiều người túng cực. Ông phải đùm bọc hai người gốc Chàm không người quen với bốn em bé không thân nhân. Mấy người sống chung với nhau trong căn nhà tỵ nạn. Kẻ xách nước, người kiếm củi, ông tráng bánh. Khoảng ba tháng ông góp được hai chục đô la, lại nhờ cha Crawford, một cha già người Mỹ trước ở Việt Nam, sau qua trại tỵ nạn giúp đồng bào, gởi qua trại tỵ nạn Hongkong cho vợ.

Ông rời cửa biển Cam Ranh ngày 2.9.1988 vào đất Philippines. Một năm sau, tháng 9 năm 1989 ghe của vợ ông rời Vạn Ninh, Nha Trang được hai ngày bị bể máy. Ghe lênh đênh trên biển đông, rồi lâm nạn. Vợ ông đem theo ba con nhỏ. Hết lương thực, nhờ mưa gió có nước uống mới sống sót. Sau nhiều ngày bão táp, một chủ ghe đánh cá người Tầu ở đảo Hải Nam bắt gặp chiếc ghe lâm nạn này. Ông ta chỉ đồng ý tiếp tế gạo, cho nước và kéo ghe ra khỏi vùng lâm nạn san hô với điều kiện cho ông ta bé cháu trai trên ghe. Cháu bé chính là con của người đàn ông này.

Kể từ ngày rời bờ biển Vạn Ninh đến khi gặp chiếc ghe người Tầu rồi cập được vào đất liền là 25 ngày. Nước Tầu hạn chế sinh sản. Ông chủ ghe người Tầu mong một cháu trai mà không được. Cuộc mặc cả là xé ruột gan người mẹ. Trước biên giới sống và chết, họ phải chọn sống. Vấn đề ở đây là sự sống của toàn thể 44 người trên chiếc ghe. Nếu không mất đứa bé, toàn ghe có thể chết.

Chiếc ghe đánh cá người Tầu mang theo cháu bé rồ máy chạy vội vã biến mất hút về phía Trung Quốc. Rồi tin ấy đưa đến cho người đàn ông này ở Palawan. Mỗi ngày ông cứ lặng lẽ tráng bánh, kiếm ăn gởi qua cho vợ ở trại tỵ nạn Hongkong. Ðau thương vì mất con. Con tôi trôi giạt nơi đâu ? Vợ chồng mỗi người một ngả.. Ðứa con mất tích sẽ ra sao? Dáng ông buồn lắm. Cháu bé lúc đó mới hơn ba tuổi.

Cha Crawford kể cho tôi câu chuyện này. Không biết người đàn ông đã nhờ cha già gởi tiền cho vợ như thế bao lâu rồi. Theo ông kể lại, vì không là người Công Giáo, ông đâu có tới nhà thờ. Một hôm có mấy người vào cha xin tiền mua tem gởi thư. Ông cũng đi theo. Rồi một linh cảm nào đó xui khiến ông gặp cha. Ông kể cho cha già nghe chuyện ông mất con.

Một trong những ý định qua trại tỵ nạn làm việc của tôi là thu lượm những mẩu đời thương đau của người tỵ nạn. Tôi tìm gặp ông ta để hỏi chuyện.

Câu chuyện bắt đầu.

Sau khi chiếc ghe được kéo vào đảo Trung Quốc, một nửa số người quá sợ hãi, đi đường bộ trở về Việt Nam. Số còn lại kết hợp với ít người đã trôi dạt vào đảo trước đó, sửa ghe tìm đường qua Hongkong. Người đàn ông tưởng chừng vợ đã chết trên biển vì hơn ba tháng sau mới nhận được mấy lời nhắn tin viết vội bằng bút chì từ trại tỵ nạn Hongkong. Ông đưa miếng giấy nhàu với nét bút chì mờ cho tôi. Sau khi ông rời trại tỵ nạn, mất liên lạc, tôi chỉ còn giữ tấm giấy như một kỷ niệm quý hơn chục năm nay.

Ðó là lá thư thứ nhất ông nhận được. Những lần giảng trong Thánh Lễ về tình nghĩa vợ chồng, tôi lại nghĩ đến ông.. Một người đàn ông cặm cụi tráng bánh để rồi ba tháng trời dành được 20 đô la gởi tiếp tế cho vợ.

Ông tâm sự với tôi là ông dự tính một ngày nào đó được đi định cư, dành dụm tiền rồi đi Trung Quốc dò hỏi tin con. Nghe ông nói vậy, tôi thấy ngao ngán cho ông. Bao giờ ông mới được định cư ? Rồi định cư xong, biết bao giờ ông mới thực hiện được mơ ước? Tình trạng tỵ nạn lúc này quá bi đát. Mười người vào phỏng vấn may ra đậu được ba. Ðất Trung Quốc rộng mênh mông như thế biết đâu tìm ? Bao nhiêu khó khăn như tuyệt vọng hiện ra trước mặt. Tôi thấy ý nghĩ mơ ước đi tìm con của ông như cây kim lặng lờ chìm xuống lòng đại dương.

– Tại sao không nhờ Cao Ủy Tỵ Nạn, nhờ Hội Chữ Thập Ðỏ Hongkong?

Người đàn ông này sợ lên tiếng như thế gia đình Tầu kia biết tin sẽ trốn mất. Chi bằng cứ âm thầm tìm kiếm. Tôi thấy dự tính của ông khó khăn quá. Những năm làm việc bên cha già, tôi biết một đặc tính của ngài là thương kẻ nghèo. Ngài thương họ vô cùng, ngài sẽ làm bất cứ gì có thể. Tôi đề nghị cha già cứ viết thư khắp nơi, kêu cầu tứ chiếng.

Các thư được viết đi. Ngài cầu cứu Cao Ủy Ti Nạn, Hội Hồng Thập Tự, cơ quan từ thiện dịch vụ tỵ nạn Công Giáo, từ Manila đến Bangkok, Thailand. Ðợi chờ mãi mà năm tháng cứ bặt tin. Tôi vẫn thấy người đàn ông cứ dáng điệu buồn bã ngồi bên đường tráng bánh. Trời nhiệt đới nắng và nóng, mỗi khi xe chạy qua, bụi đường bay mờ người. Hàng ngày lên Nhà Thờ, tôi lại hình dung bóng hình ông. Chỗ ông ngồi không xa tháp chuông Nhà Thờ bạc vôi sơn và tiếng chuông mỗi chiều là bao.

Mỗi chiều dâng lễ, tôi lại nhìn thấy cây Thánh Giá trên nóc Nhà Thờ đã nghiêng vì gỗ bị mục. Cây thánh giá trải qua nhiều mùa mưa nắng quá rồi. Bức hình Mẹ Maria bế Chúa Hài Nhi trên tấm ván ép dưới cây Thánh Giá cũng bạc nước sơn. Những người tỵ nạn đã bỏ một vùng đất rất xa. Quê hương của họ bên kia bờ biển mặn. Nhiều người cứ chiều chiều ra biển ngồi. Ðêm về sóng vỗ ì ầm. Biết bao người đã không tới bến.. Họ đến đây tìm an ủi trong câu kinh.

Giữa tháng ngày cằn cỗi ấy, rồi một chiều bất ngờ tin vui đến.. Hội Hồng Thập Tự Hongkong báo tin về Manila. Manila điện xuống báo cho cha Crawford biết người ta đã tìm được cháu bé.

Lúc bắt cháu bé, người Tầu trên ghe đánh cá kia đã lanh trí che tất cả số ghe. Không ngờ trời xui khiến, trong lúc thương lượng bắt cháu, trên chuyến ghe tỵ nạn Việt Nam có kẻ lại ghi được mấy chữ Tầu ở đầu ghe bên kia vào một chiếc áo. Không ngờ chiếc áo này lại là chính chiếc áo của cháu bé bỏ lại. Quả thật là chiếc áo định mệnh. Nguồn gốc nhờ mấy số ghe đó mà sau này người ta mới phanh phui ra được gốc tích chiếc ghe. Ðó là một thuyền đánh cá ở đảo Hải Nam.

Tìm được cháu rồi, bây giờ lại đến phần gia đình người Tầu đau khổ. Cháu không còn nói được tiếng Việt, vì hơn một năm liền mọi sinh hoạt trong gia đình kia là của cháu. Hồi bị bắt cháu còn bé quá, mới hơn ba tuổi. Bà mẹ người Tầu cũng khóc, biết mình sẽ mất đứa con mà họ đã nuôi. Họ nhất định không trả. Cao Ủy phải can thiệp nhiều lắm. Gia đình ở đảo Hải Nam kia dựa lý do là cháu đang được nuôi nấng tử tế, còn ở trại tỵ nạn cháu thiếu thốn đủ thứ, họ không chịu mất con. Nhưng Cao Ủy bắt phải trả cháu về cho bố mẹ ruột.

Ðể thỏa mãn điều kiện kia, Sở Di Trú Mỹ liền cho bà mẹ bị bắt con quyền định cư tại Mỹ, dù đã đến trại sau ngày thanh lọc. Trong lúc đó người đàn ông này đã bị Mỹ từ chối tại Philippines. Ông buồn lắm. Cha Crawford bảo tôi rằng vợ người đàn ông đã được vào Mỹ, nên cơ quan Cao Ủy Tỵ Nạn tại Philippines yêu cầu cho ông cũng được vào Mỹ theo. Vì nhân đạo, sở di trú Hoa Kỳ đồng ý. Tin vui như vậy mà ông cứ đứng như trời trồng không tin chuyện có thể xảy ra như thế.

Ngày trao trả cháu bé, báo chí Hongkong đăng hình cháu khóc thảm thiết. Cháu đẩy mẹ ruột ra, đòi về với mẹ nuôi. Người mẹ nuôi khóc vì thương nhớ cháu. Mẹ ruột cũng khóc vì thấy lại con mà con không biết mình. Tất cả ai cũng khóc. Cao Ủy Tỵ Nạn bồi thường lại phí tổn nuôi nấng cháu bé cho gia đình người Tầu kia. Chuyến bay rời Hongkong mang theo bao tình cảm nhân loại của con người với con người.

Thời điểm bấy giờ không biết bao chuyện thương tâm xảy ra. Hàng trăm ngàn người chết trên biển, ăn thịt nhau vì chết đói. Hải tặc Thái Lan tung hoành bắt người nhốt ngoài đảo, hãm hiếp, chặt răng vàng, giết. Ðối với thế giới chuyện cháu bị bắt cóc chỉ là chuyện nhỏ. Vậy vì đâu họ ra sức đi tìm?

Ðây là lý do:

Câu chuyện thương tâm của người mẹ mất con đến tai Mẹ Têrêsa Calcutta. Ấn Ðộ là thuộc địa cũ của người Anh. Mẹ Têrêsa viết cho chính phủ Anh xin can thiệp chuyện này. Từ London, chính phủ Anh xin Bộ Ngoại giao Bắc Kinh điều tra tìm chiếc ghe mang số như thế.

Bên ngôi mộ Mẹ Têrêsa ở Calcutta, ngày 14.5.2001 tôi kể chuyện này cho Sơ Bề Trên Dòng. Sơ yêu cầu tôi viết lại cho sơ làm tài liệu. Trong những ngày này, nhân viên Tòa Thánh đang ở Calcutta điều tra để xúc tiến hồ sơ phong thánh cho Mẹ Têrêsa. Một Linh Mục ngồi nghe chuyện tôi kể, ngài nói:

– Tâm hồn Mẹ Têrêsa rất bao dung. Mẹ thương người nghèo. Mẹ là người của biên giới giữa sống và chết.

Nghe câu nói đó của cha, tôi hiểu ý là Mẹ luôn đứng bên lề sự sống kéo kẻ chết về phía mình. Chính vì thế tôi đặt tên cho bài viết này là: Người Mẹ của biên giới sống và chết.

Nghe tiếng người đàn ông gọi, quay lại nhìn, không ngờ chính người đàn ông mất con, ngồi tráng bánh ở trại Palawan ngày xưa, tôi mừng lắm. Sau lễ chiều, tôi tới nhà ông dùng cơm. Ông rời trại tỵ nạn Palawan tháng 6, lên Bataan rồi vào Mỹ tháng 12 năm 1990. Không ngờ mười năm sau tôi gặp lại.

Cháu bé bây giờ lớn rồi. Chuyện đã hơn cả chục năm qua. Cháu chẳng nhớ gì. Riêng cha mẹ thì nhớ lắm, nhất là những gì đau thương vì con cái thì trong trái tim cha mẹ không bao giờ quên. Còn tôi, đấy là một kỷ niệm đẹp trong những ngày làm việc bên trại tỵ nạn.

Không ngờ có ngày tôi gặp lại người đàn ông này. Không ngờ có ngày tôi ngồi bên mộ Mẹ Têrêsa trên đất Ấn. Một vùng đất rất xa với chỗ ngồi tráng bánh của người đàn ông mất con. Không ngờ tôi lại là kẻ chứng kiến những chuyện tình này, để rồi nối kết khung trời này với khung trời kia. Không ngờ vào ngày Lễ Phục Sinh năm 1999 ông đã nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội, nếu ông không đi lễ ở Nhà Thờ Oakland hôm đó, làm sao tôi gặp lại.

Tại vùng đất Vạn Ninh, chỉ có một ngôi Nhà Thờ nhỏ miền quê độc nhất. Ðêm Noel năm 1985 sau khi đến Nhà Thờ về, em bé chào đời đúng ngày 25 tháng 12 năm 1985. Người đàn ông kể cho tôi ngày sinh nhật của em thật đặc biệt. Còn tôi, tôi thấy ngày em mới hơn ba tuổi phải hy sinh để cứu chuyến ghe là hình ảnh thế mạng sống chuộc thay cho người khác.

Trong câu chuyện này, cả ba người đàn bà đều có những tấm lòng rất đỗi đáng yêu. Người mẹ sinh cháu bé, bao yêu thương và xót xa. Mẹ Têrêsa với tấm lòng hiểu nỗi thương đau của những người mẹ. Bà mẹ nuôi người Tầu đã săn sóc em khi ông chồng đánh cá đem cháu về. Tất cả là tấm lòng bao dung của những bà mẹ.

Tôi viết dòng này, cha già Crawford đã chết rồi. Mẹ Têrêsa cũng chết rồi.

Ngày mai, giữa biên giới của sự sống và chết ,còn những chuyện không ngờ nào sẽ xảy đến nhỉ ?

Lm. NGUYỄN TẦM THƯỜNG, Dòng Tên

(Trích trong sách “Những Trang Nhật Ký Của Một Linh Mục”.)

CHIỀU

maithanhvinh

Em vẫn đứng
đợi chiều không gió
và mây
cứ trắng cuối thung buồn
sầu đã rớt triền sông một thuở
trăng mười ba
xanh tựa lá thu non….

Em vẫn nhớ
con đường xưa cát nõn
lún bàn chân
theo nhịp bước xuân về
ngày có nắng
như ru mùa đã cũ
thì thôi…
nhớ cũng đủ vừa…

MAI THANH VINH