Khúc khơi khơi

truongdinhtuan
1-
gùi lên xuống mớ
kim dung
trường thiên nắng đổ rưng rưng
sân trường
mưa thời gian quái ác tuôn
trợt đâu không trợt
trợt buồn mắt ai
2-
vòng qua điệp khúc
về, đi
gọi chi mà gọi xanh rì
trùng khơi
buổi chiều anh rớt mùng tơi
giàn hoa giấy đỏ ối môi vẫy chào
3-
có xuống ruộng
mới lên bờ
xang bang xất bất
bất ngờ dung nhan
vòng qua điệp khúc
hợp, tan
cỏ cây xanh khói mây vàng
khơi khơi

Trương Đình Tuấn

Names

teresameichuc
T
ôi bất ngờ gặp cô bé này ở   40 Năm Thuyền Nhân Việt Nam Hội Ngộ  tổ chức tại Quận Cam ,Cali ( chủ nhật 28/6/2015). Khi thấy tôi cầm bức tranh của Họa Sĩ Ann Phong tặng để đấu giá gây quỹ , cô bé đưa cho tôi một quyển thơ của cô với bìa sách cũng là một tranh vẽ của họa sĩ Ann Phong.
Cô là một thuyền nhân bé nhỏ rời Việt Nam lúc mới 2 tuổi.
Cô không biết nhiều tiếng Việt. Cô làm thơ bằng tiếng Anh. Dễ thương , khiêm tốn và tài năng…Đó là cảm tưởng chung của chúng tôi về cô bé.
Một ngẫu nhĩ , một hạnh ngộ  hay một đồng thanh tương ứng ??? Tất cả.
Và cô hiện là thạc sĩ nghệ thuật và văn học sáng tạo, giáo sư dạy văn học tại Los Angeles (Hoa Kỳ)

DSC_2937

I am tired of having five different names;
Having to change them when I enter

A new country or take on a new life. My
First name is my truest, I suppose, but I

Never use it and nobody calls me by this Vietnamese
Name though it is on my birth certificate –

Tue My Chuc.  It makes the sound of a twang of a
String pulled. My parents tell me my name in Cantonese

is Chuc Mei Wai.  Three soft bird chirps and they call
me Ah Wai.  Shortly after I moved to the U.S., I became

Teresa My Chuc, then Teresa Mei Chuc.  “Teresa” is the sound
Water makes when one is washing one’s hands. After my first

Marriage, my name was Teresa Chuc Prokopiev.  After my second
Marriage, my name was Teresa Chuc Dowell.  Now I am back

To Teresa Mei Chuc, but I want to go way back .  Reclaim that name once
given and lost so quickly in its attempt to become someone that would

fit in.  Who is Tue My Chuc?  I don’t really know.  I was never really her
and her birthday on March 16, I never celebrate because it’s not

my real birthday though it is on my birth certificate.  My birthday is on
January 26, really, but I have to pretend that it’s on March 16 because my

Mother was late registering me after the war.  Or it’s in December, the date
Changing every year according to the lunar calendar – this is the one my

Parents celebrate because it’s my Chinese birthday.
All these names and birthdays make me dizzy.  Sometimes I just don’t feel like a

Teresa anymore; Tue (pronounced Twe) isn’t so embarrassing. A fruit learns to
Love its juice. Anyways, I’d like to be string…resonating. Pulled back tensely like a bow

Then reverberate in the arrow’s release straight for the heart.

By Teresa Mei Chuc

“Names” first appeared online in Babel Fruit and in print in New Poets of the American West anthology (Many Voices Press, 2010)

Những cái tên
By Teresa Mei Chuc

Thật mệt mỏi vì có năm cái tên;
Phải đổi tên mỗi khi nhập cảnh

Một nước mới hay bắt đầu một cuộc sống mới. Cái tên
Đầu Tiên, với tôi, là thực nhất, nhưng

Tôi không dùng, cũng không ai gọi tôi bằng cái Tên
Việt ấy, cho dù nó được ghi trong giấy khai sinh –

Tue My Chuc. Cái tên bập bùng giọng mũi
Tiếng sợi dây căng. Ba mẹ nói tên tôi trong tiếng Quảng Đông

là Chuc Mei Wai. Ba tiếng chim hót mềm, và Ah Wai
Là cái tên cha mẹ tôi thường gọi. Vừa đến Mỹ, tôi hóa thành

Teresa My Chuc, rồi Teresa Mei Chuc. “Teresa”
Là tiếng nước khi ai đó rửa tay. Sau đám cưới đầu

Tên tôi là Teresa Chuc Prokopiev. Sau đám cưới thứ hai
Tôi là Teresa Chuc Dowell. Bây giờ tôi trở lại

Là Teresa Mei Chuc, nhưng tôi muốn trở về. Đòi lại cái tên ngày nào
Tôi từng nhận rồi nhanh chóng mất vì cố trở thành một ai

phù hợp. Tue My Chuc là ai? Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ thực sự là cô,
Sinh nhật cô, ngày 16 tháng Ba, tôi chưa từng kỷ niệm

Đó không phải là ngày sinh thật của tôi dù giấy khai sinh ghi vậy. Thật ra tôi sinh
Ngày 26 tháng Giêng, nhưng tôi phải giả vờ rằng sinh ngày ấy, bởi vì

Sau chiến tranh mẹ tôi làm giấy chậm. Hoặc vào tháng Mười hai, còn ngày
Thay đổi hàng năm vì theo âm lịch – ngày hôm ấy

Cha mẹ tôi kỷ niệm vì đó mới là ngày sinh Trung Quốc của tôi.
Những cái tên và những ngày sinh ấy làm cho tôi chóng mặt. Đôi khi tôi không thấy mình

Là Teresa nữa; Tue (phát âm TWE) thì không đến nỗi quá rầy rà. Một  trái cây học cách
Yêu dòng nhựa chính mình. Dù sao, tôi muốn là sợi dây…cộng hưởng. Như chiếc cung co mạnh

Rồi dội lại bằng mũi tên bắn thẳng vào tim.

Translated into Vietnamese by Ngo Tu Lap

CƯỠI NGỌN SẤM

cuoingonsam

richardbotkin

Chương Hai

Bức Màn Tre Sụp Xuống

Từ 1946 cho đến giữa 1954, lực lượng Việt Minh và quân đội Pháp đánh nhau khắp các vùng Đông Dương nhưng hầu hết các trận đánh nghiêm trọng đều diễn ra tại Bắc Việt. Khi cuộc chiến kéo dài mà không có triển vọng sớm kết thúc và tình hình thương vong cao dần, lòng nhiệt huyết của người Pháp đã bị héo mòn. Trận đánh quyết định cuối cùng tại Điên Biên Phủ ở vùng Tây Bắc – Bắc Việt gần biên giới Lào là một chiến thắng vang dội cho Cộng quân. Mặc dù quân Pháp bị thất trận một cách nhục nhã nhưng sự chuyển tiếp từ chiến trường qua bàn hội nghị hòa bình đã không mang lại sự hài lòng cho bất kỳ phe nào có liên quan.

Hiệp định Genève bắt đầu từ tháng 5 năm 1954 có sự hiện diện của bốn quốc gia mới của Đông Dương thuộc Pháp trước đây, nước Pháp, Anh, Liên Sô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Khi các cuộc đàm phán kết thúc vào tháng bẩy thì một cuộc ngưng bắn đã được thỏa thuận. Vĩ tuyến 17 giữa Quảng Bình ở phía Bắc và Quảng Trị ở phía Nam có giòng sông Bến Hải chảy ngang ra Biển Đông được chọn làm đường chia cắt Đông Tây, tách rời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (phía Bắc, Cộng sản) và Việt Nam Cộng Hòa (phía Nam, không Cộng sản). Vùng ranh giới mà sau này thế giới biết đến như vùng phi-quân-sự trên thực tế chẳng có gì là “phi” quân sự cả.

Thỏa hiệp ngưng bắn dành một thời hạn 300 ngày để cho mọi người có thể tự do di chuyển giữa hai miền Nam và Bắc mà không bị giới hạn bởi các chính quyền mới. Đến giữa năm 1955 có hơn 1 triệu người dân, phần lớn là Công giáo, đã quyết định nhặt nhạnh những gì mang được, bỏ lại hết mồ mả tổ tiên và bao nhiêu thế hệ truyền thống làng xã để lìa bỏ miền Bắc còn hơn là chịu sống dưới chế độ Cộng sản. Trong khi có một số lượng nhỏ không xác định được gồm các cán bộ Cộng sản Mác-Xít tập kết ra ngoài Bắc thì không có người dân bình thường nào ra theo.

Người Bắc di cư vào Nam bằng đường hàng không, đường xe lửa, đường bộ nhưng hầu hết là bằng tầu vận chuyện đường biển. Rất ít người ngoại cuộc biết đến ảnh hưởng và hậu quả của nhóm cộng đồng di cư này đã tác động đến miền Nam như thế nào. Văn hóa và tính tình của người Bắc Kỳ thường nghiêm khắc và khó tính hơn bởi họ phải sinh nhai trên vùng đồng bằng sông Hồng khó nhọc. Với làn da nhạt hơn, cách phát âm hơi khác, cách ăn mặc và truyền thống tương đối khác biệt, họ gặp nhiều điều va chạm với người miền Nam vốn dễ tính và nhàn nhã hơn, bởi có thể sinh kế thoải mái từ một vùng mầu mỡ của đồng bằng sông Cửu Long. Vào năm 1955 có thể so sánh điều này với Mỹ nếu 12 triệu dân New York với lối sống hối hả nhộn nhịp đột nhiên được di chuyển vào vùng nông thôn Georgia hay Mississipi mà chỉ nhận được sự trợ giúp tối thiểu hoặc mạng lưới an toàn từ chính quyền trung ương.

Một điều khoản của Hiệp Định Genève vốn được tất cả các phe chấp thuận ngoại trừ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, là kêu gọi tổng tuyền cử khắp nước Việt Nam vào tháng 7 năm 1956. Với tương quan dân số vào khoảng 16 triệu ngoài Bắc và 14 triệu trong Nam, Hồ Chí Minh và lực lượng của hắn tin tưởng sẽ loại trừ hết các phe chống đối quan trọng và củng cố được miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở lên nên đã vui vẻ đồng ý với các viễn ảnh đó.

Từ giữa năm 1953, khi chiến tranh chưa kết thúc, cho đến tận năm 1956, bọn Cộng sản đã tiến hành hàng loạt những cuộc thanh trừng đẫm máu nhằm loại trừ tất cả những tàn tích của chế độ tư bản một cách tàn nhẫn. Trong những đợt cải cách ruộng đất vào thời kỳ bọn chúng cho rằng trong mỗi làng mạc có vào khoảng 5% dân chúng thuộc thành phần địa chủ và nhóm “nhà giàu” này đã bóc lột 95% số người còn lại. Do đó, tài sản của họ đã bị tước đoạt và phân phối lại cho những người còn lại này. Đồng thời những vụ giết hàng loạt người trong nhóm 5% có đồng ra đồng vào này được tiến hành một cách chính xác bởi những đội đặc biệt gọi là cán bộ cải cách ruộng đất.

Không có chi tiết chính xác nào về số lượng người đã bị trừ khử trong giai đoạn này, và cũng không có hồ sơ nào về những người bị mất mạng hay bị đe dọa trong các nỗ lực trốn về phía Nam. Báo chí thông tin rất ít và tin tức về những cuộc thanh trừng qui mô này chỉ đến tai người miền Nam bằng những lời kể lại nên không gây chú ý mấy trên các phương tiện truyền thông Tây phương.

Mặc dù rất phôi thai và còn xa mới gọi là hoàn hảo nhưng chính quyền mới thiết lập tại miền Nam còn tốt đẹp hơn nhiều đối với những người đã nếm mùi Cộng sản. Trong khi hoàng đế Bảo Đại đã lỗi thời chỉ còn đứng đầu quốc gia trên danh nghĩa thì thực quyền nằm trong tay Thủ tướng Ngô Đình Diệm và tay chân thân cận gồm các thành viên trong gia đình của ông. Quyền uy của ông đã phải trực diện với các thử thách mà nó còn lớn hơn ở bên phe đối thủ Bắc Việt, và thật là một điều kỳ diệu là, mặc dù với sự trợ giúp của chính quyền Eishenhower, chính phủ non yếu đó đã xoay sở để vượt qua được hết.

Ngay từ khởi đầu, chính quyền Diệm đã bị tràn ngập bởi các thử thách. Báo chí phương Tây vốn không ưa ông đã không khoan nhượng khi tường thuật những sự cố gắng của chế độ ông Diệm để giải quyết bằng quân sự đối với các sự đe dọa từ các nhóm Hòa Hảo, Cao Đài và các lực lượng Phật giáo khác. Họ hoàn toàn bất tín nhiệm khuynh hướng thiên Công giáo của Thủ tướng Diệm và nhóm những người di cư của ông. Thêm vào cuộc xung đột tôn giáo và văn hóa, và gánh nặng đầy ắp do việc thu hút quá nhiều công dân mới, chính phủ mới còn phải đối phó với ảnh hưởng về tài chính và chính trị của nhóm Bình Xuyên. Nhóm này thực chất là một nhóm thổ phỉ chuyên cướp bóc tàu bè di chuyển trên sông Sài Gòn vào những thập niên 1930 và 1940. Sau Thế Chiến Thứ Hai, Bình Xuyên được giao đặc quyền tổ chức cảnh sát và khu ăn chơi trong Chợ Lớn, một vùng của người Hoa tại Sài Gòn. Ông Diệm quan niệm Bình Xuyên, giống như Hòa Hảo và Cao Đài là một mối đe dọa đối với khả năng lãnh đạo đất nước của ông.

Sự thắng thế của Cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Á Châu, đã làm gia tăng mối quan tâm của người Mỹ tại Việt Nam. Ngay từ giữa những năm 1950, nhằm phản ứng lại cuộc xâm lăng của Bắc Hàn, Tổng thống Truman đã ra lệnh thành lập một Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự (Military Assistance Advisory Group MAAG) tại Đông Dương thuộc Pháp. Được sử dụng phần lớn như là một phương tiện tài trợ qua đó các viện trợ được chuyển qua cho người Pháp trong những nỗ lực chống lại Việt Minh, sự ra đời của Việt Nam Cộng Hòa đã mang lại cho tổ chức này một mục đích mới. Nhóm MAAG của Hoa Kỳ bắt đầu đưa vai chịu lấy gánh nặng trong cuộc chiến chống lại Cộng sản.

Một tổ chức được thành lập thông qua nỗ lực của một nhân viên MAAG chính là binh chủng phôi thai Thủy Quân Lục Chiến của nước Cộng Hòa mới.

Giới quân sự Hoa Kỳ đã trực tiếp đầu tư những khoản xương máu và tiền của khổng lồ khi tiến hành cuộc chiến tranh lạnh. Một trong những điều không được biết đến và trân trọng đúng mức là công việc huấn luyện và trợ giúp đã cung cấp cho các quốc gia đang chiến đấu có thể duy trì nền Tự Do của họ trong một thế giới ngày càng thù nghịch nhiều hơn. Trong những năm ngay sau Thế Chiến Thứ Hai, một món quà khác của binh chủng TQLC Hoa Kỳ cho Thế Giới Tự Do là sự tham gia vào việc hình thành bốn Quân đoàn TQLC tại Á Châu.

Đối với các nước Cộng hòa Đại Hàn, Trung Hoa Quốc Gia và Phi Luật Tân thì TQLC Hoa Kỳ đã rộng rãi gieo những hạt giống về chiến tranh viễn chinh cho các nhóm nhỏ lực lượng đặc biệt trong mỗi xứ sở tương ứng. Trong mỗi quốc gia, các đơn vị TQLC mới sẽ mang dấu ấn của người anh cả Hoa Kỳ. Một chuyện nhỏ nhặt nhất là, giống như ở Mỹ, danh xưng “TQLC” đã trở thành đồng nghĩa với tất cả những gì tốt đẹp nhất của tinh thần thượng võ và đức hạnh của người lính.

Trong bốn tập thể TQLC tân lập, mối liên hệ giữa TQLC Hoa Kỳ và TQLC Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành thân thiết nhất, mãnh liệt nhất và cũng tốn kém nhất. Đối với VNCH chỉ có Sư đoàn Nhẩy Dù mới được sánh như tương đương nhờ ở các thành tích chiến đấu và mức độ tin cậy cao của họ. Cái nhóm nhỏ các quân nhân làm nòng cốt cho TQLC Việt Nam từ 1954 trở về sau đã chứng tỏ niềm hăng say đặc biệt của tổ chức. Đặc điểm này hiển nhiên đã đưa binh chủng TQLC đứng riêng ra trong mọi nền văn hóa.

TQLC Việt Nam có nguồn gốc từ một tổ chức rất nhỏ gồm các đơn vị rải rác theo kiểu biệt kích được thành lập với sự trợ giúp của quân đội Pháp vào năm 1946. Những đại đội xung kích trên sông với biệt danh là “Ðoàn Thủy Binh Xung Phong” (Dinassauts), là một sự kết hợp của các đơn vị bộ binh đặc biệt có khả năng chiến đấu trên cạn lẫn dưới nước. Những hoạt động đầu tiên của họ là ở miền Bắc trong vùng đồng bằng sông Hồng Hà. Trong các đơn vị chiến đấu của Việt Nam được sự giúp đỡ của người Pháp thì những toán Dinassauts có uy tín đặc biệt nhờ ở khả năng chiến đấu và tinh thần đồng đội cao độ.

Sự chia cắt đất nước Việt Nam vào năm 1954 đã có hậu quả là nỗ lực phát triển đầy đủ một cơ cấu lực lượng quân sự quốc gia đủ sức để bảo vệ nền Cộng hòa mới thành lập đối với hiểm họa từ phương Bắc. Đồng thời với nhu cầu có một lực lượng Hải Lục Không quân tối tân là sự thừa nhận phải có những đơn vị đặc biệt có khả năng tiến hành các cuộc hành quân đổ bộ trên nhiều dặm dài của bờ biển và đường thủy lộ nội địa Việt Nam.

Tuy nhiên Việt Nam cũng không tránh khỏi sự cạnh tranh giữa các quân chủng trong tổ chức quân đội, một tình trạng khá phổ biến trong mọi quốc gia. Từ lúc khởi đầu thành lập, TQLC Việt Nam, giống như người anh em Hoa Kỳ đã phải đối phó với những chuyện nhỏ nhặt nhất như tranh đấu cho những nguồn tài lực. Hàng tháng trời bàn cãi giữa các nhóm lớn gồm các sĩ quan quân đội Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ vẫn không mang lại một sơ đồ tổ chức có thể chấp nhận được, hay phát triển được vai trò và nhiệm vụ mà lực lượng đổ bộ mới mẻ này sẽ đảm trách. Sau cùng đã phải cần đến sự quyết tâm tập thể, nhiệt tình và sức mạnh về ý chí của một Thiếu tá Việt Nam, một Đại úy quân đội Pháp và một Trung tá Hoa Kỳ để làm cho chuyện thành lập một tổ chức TQLC Việt Nam riêng biệt trở thành hiện thực.

Với cương vị là người con trưởng, công việc chính của Bình là đi học. Người cha và bà mẹ kế đồng lòng quyết tâm cho sự thành công của con và anh đã chăm chỉ để thực hiện điều này.

Nhập học mẫu giáo tại một trường nam sinh nhỏ tại Tân Định trong thời kỳ Nhật chiếm đóng, trạng thái bình thường của sự hỗn loạn vẫn tiếp tục không hề suy giảm qua sự kiện đầy tranh cãi về việc người Pháp trở lại Việt Nam, cuộc chiến với Việt Minh và sự thành lập đầy trắc trở của một đất nước mới.

Mặc dù những người miền Bắc chống cộng nhất đã di cư toàn bộ từ năm 1954, vẫn còn rất nhiều người trong Nam không nhiệt tình lắm với chế độ ông Diệm. Sự quyến rũ của chủ nghĩa Cộng sản đối với nhiều người là một sự lựa chọn tốt hơn là ách áp bức của thực dân Pháp, do đó đã được sự chấp nhận của một số người chuyển đổi thuộc thế hệ đầu tiên. Một số thì bị mê hoặc bởi Cộng sản ban cho họ cái quyền lực được giết các địa chủ hay tất cả những ai mà họ coi như đã bóc lột thành phần vô sản. Những thành phần cốt cán của bất cứ đảng phái nào đều sẵn sàng chấp nhận lời kêu gọi hy sinh của đảng  nhằm chống chủ nghĩa tư bản và ngoại xâm. Những gia đình giống như của Bình, đã từng sống và bị tác động xấu bởi Việt Minh cũng nóng lòng xóa bỏ vết tích của thực dân. Tuy nhiên họ không hề tán thành những điều dối trá trắng trợn của Cộng Sản hoặc những điều nửa vời mà họ biết được qua kinh nghiệm cay đắng từ trong gia đình.

Một số giáo sư tại trường trung học của Bình, có thể đã từng là những thành viên thuộc một nhóm nằm vùng cán bộ Cộng sản được gài lại phía sau vào lúc phân vùng đất nước. Họ có thể chỉ đơn giản thuộc vào một nhóm nhỏ nhưng rải rác ở miền Nam vốn là những người có cảm tình với Cộng sản. Bằng cách nào cũng vậy, họ không lo ngại bày tỏ những điều mà chàng thanh niên Bình cho là những lời tuyên truyền không hơn không kém. Khi có thể, cậu ta sẽ trân trọng thách thức quan điểm thế giới của họ về sự vĩ đại của Trung Quốc và Liên Xô. Trong khi các học sinh được học về chiến thắng của Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên và về sự vinh quang của chương trình không gian của Nga với việc phóng thành công phi thuyền Sputnik, Hoa Kỳ ít khi được nhắc đến và nếu có thì không bao giờ là tích cực cả. Khi cậu Bình chia sẻ điều này với cha của mình, ông cụ sẽ lấp vào đấy những điều gì ông biết về những sự kiện lịch sử mà các giáo viên đã tự tiện bỏ đi.

Bất kể chiến tranh, cùng sự bất ổn và các âm mưu không dứt về chính trị đã cấu tạo nên đời sống thường ngày tại Việt Nam, cuộc nhân sinh vẫn tiếp diễn như thường lệ. Người Nhật, người Pháp, Việt Minh và cả cuộc nổi loạn của nhóm Bình Xuyên chống lại chế độ Ngô Đình Diệm vào năm 1955 cũng không ngăn trở Bình hăng say trong việc học hành mà gia đình đã kỳ vọng rất nhiều vào anh. Mãi đến năm 1957, khi anh hoàn tất chương trình Trung học tại trường Petrus Ký thì những sự khủng hoảng không tên diễn ra gần như hằng ngày cuối cùng mới làm ảnh hưởng đến việc học của anh trong một thời gian ngắn. Thời gian Bình tốt nghiệp Tú Tài và bước vào Đại học, anh đã chán ứ đến cổ về mối đe dọa độc ác của Cộng sản qua các câu chuyện về cuộc sống tại Hà Đông trước khi Việt Minh cướp chính quyền, anh đã nghe kể hàng trăm lần về những cách đối xử hèn hạ của họ đối với bà nội, các chú bác và anh em họ của anh. Để làm một điều đúng, là trả lại danh dự cho gia đình, thực hiện một chuyện mà bất cứ một thanh niên chân chính đều phải hành động tương tự, anh tham gia vào nỗ lực nhằm giải phóng đất nước khỏi cái mà anh coi là căn bệnh ung thư quái ác của chủ nghĩa Cộng sản đang trên đà phát triển. Đến năm 1957 thì Bình biết rằng sự lựa chọn duy nhất là gia nhập quân đội để phục vụ đất nước.

Bình chỉ là một học sinh trung bình. Bất kể theo con đường nào, anh biết chắc là không một ai trong những đội ngũ mà anh sẽ dẫn dắt sẽ hỏi đến bằng cấp của anh.

Tuy việc theo đuổi học hành không hẳn là dễ dàng gì đối với anh nhưng chuyện anh tốt nghiệp ban Sử Ðịa vào năm 1961 đã là một thước đo khiêm tốn về sự bền bỉ trong trí tuệ và tính tự giữ mình trong kỷ luật mà không một vị giáo sư hay một kỳ thi nào có thể đánh giá được.

Trong thời kỳ hai nước Việt Nam bị tách riêng từ 1954 đến 1959, cả hai chính phủ đều tập trung nỗ lực vào việc củng cố chính trị nội bộ. Trong khi việc cưỡng bức tập thể hóa toàn bộ dân cư tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và việc giết hại hàng ngàn người mà nhà nước cho là thành phần phản động ít được giới truyền thông tường thuật thì các thách đố màchế độ Ngô Đình Diệm đang phải đối mặt cùng những khó khăn và thiếu sót của họ lại được phơi bày một cách hết sức rộng rãi.

Ngô Đình Diệm, kẻ ngoại cuộc dưới mắt nhiều người và là một tín đồ Công giáo của tòa thánh La Mã, đã từng sống một thời gian tại Hoa Kỳ, thoạt đầu được giới chống cộng Tây phương chú mục tới. Trong nước thì nhiều Phật tử và các giáo phái khác lại mất niềm tin trầm trọng vào phe đảng của Ngô Đình Diệm. Việc sử dụng quân đội để đè bẹp các nhóm đối kháng Hòa Hảo, Cao Đài và Bình Xuyên chỉ tạm thời dập tắt những mối nguy hại đối với quyền lực của chế độ.

Vào năm 1958 sau khi hoàn tất việc củng cố quyền lực ngoài bắc, Hồ Chí Minh ra lệnh cho cán bộ trở lại miền Nam và năm sau đó, tập họp với đám người đã được cài lại phía sau cũng như những người mới tuyển mộ được sau này, bắt đầu cuộc chiến tranh “nhân dân” chống lại chính quyền Sài Gòn một cách hung hãn nhất.

Khoảng từ giữa năm 1954 đến cuối năm 1960, Việt Cộng đã ám sát gần 1.700 người và bắt cóc thêm 2.000 người ủng hộ chế độ Sài Gòn gồm các xã trưởng và những người có chức sắc trong xã. Từ năm 1961 trở đi các nỗ lực khủng bố của chúng có chiều hướng gia tăng. Nhu cầu gia tăng của Cộng sản về nhân sự và tiếp liệu đã khiến chúng khởi công con đường mà sau này toàn thế giới biết đến là đường mòn Hồ Chí Minh. Đến năm 1965 thì hệ thống đường mòn có khả năng vận chuyển được từ năm đến sáu ngàn người hàng tháng cộng với hàng tiếp liệu đuợc đưa xuống hầu “giải phóng” người “anh em ngoan cố.”

Những cuộc biểu tình lớn của Phật giáo bắt đầu vào năm 1961 sau cùng đã dẫn đến một loạt các những biến cố ngoạn mục được truyền thông rộng rãi vào năm 1963. Trong thời kỳ này có những vị sư nhân hậu và trông rất vô hại trong các tấm y màu vàng nghệ đã ngồi thiền và tẩm xăng tự thiêu nhằm thu hút sự chú ý đến nỗi bất công dưới chế độ Ngô Đình Diệm.

Từ lâu trước khi có sự kiện này, Cộng sản đã xâm nhập một cách có hiệu quả vào nhiều nhóm chống đối chính quyền Sài Gòn. Đối với nhiều người, cũng khó mà không cảm thông với phe đối lập khi mà nạn tham nhũng của chế độ Diệm rất dễ nhận ra, còn tập thể lãnh đạo Sài Gòn thì kém cỏi và thiếu kinh nghiệm thấy rõ thành thử đã làm mất lòng dân.

Trong khi người Mỹ có lẽ đang mong sự xuất hiện trở lại của một nhân vật tương tự như phu nhân tướng Tưởng Giới Thạch, một phụ nữ thanh nhã, dịu dàng, tốt nghiệp trường Wellesley thì bà Ngô Đình Nhu, em dâu của Tổng thống Ngô Đình Diệm, với biệt danh “Long Nữ” (Dragon Lady) đã ngang ngược báng bổ và tuyên bố công khai rằng họ đã chứng kiến một màn “nướng thịt” (barbecue) sau một vụ tự thiêu. Bất kể những người có thể không bằng lòng với quan điểm của bà sẽ có thái độ ra sao nhưng bà vẫn trả lời phỏng vấn rằng: “Cứ để cho họ bị thiêu và chúng ta sẽ vỗ tay hoan nghênh.”

Với vai trò lãnh đạo về chính trị trong các thập niên 1950 và 1960, nước Mỹ phải đối phó hàng ngày trước nguy cơ chiến tranh hạch nhân với Liên Bang Sô Viết cùng với nguy cơ được định nghĩa là “chiến tranh nhân dân” tại một loạt các quốc gia chư hầu ngày càng gia tăng tại Âu Châu và khắp Á Châu. Tuy vậy, nỗi ám ảnh bởi cái mà người Mỹ cho là một cuộc hiệp ước đình chiến mong manh tại Đại Hàn đã khiến cả hai siêu cường tìm cách giảm thiểu nguy cơ xung đột trực tiếp có thể nhanh chóng dẫn đến chiến tranh nguyên tử. Nỗi thất vọng trước sự bất lực trong việc đạt được một chiến thắng toàn diện đã được xoa dịu bằng niềm tin rằng sẽ khó có thể toàn thắng như lần 1945 nữa.

Kinh nghiệm tại Triều Tiên chứ không phải là Thế Chiến Thứ Hai đã hoạch định sự dính líu của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á trong bối cảnh Chiến Tranh Lạnh. Tình hình của Việt Nam Cộng Hòa có nhiều điểm tương đồng với với bán đảo Triều Tiên. Cả hai quốc gia Cộng sản Bắc Hàn và Bắc Việt đều có chung biên giới với Trung Cộng và được trợ giúp đáng kể từ họ. Cả hai cũng đều nhận được những khối lượng viện trợ khổng lồ từ Liên Sô. Đồng thời cả hai quốc gia cũng đã vừa trải qua kinh nghiệm ngoại xâm của thực dân mà đáng kể nhất là Nhật Bản là kẻ đàn áp tàn bạo nhất.

Chiến tranh Triều Tiên là một cuộc chiến hầu như qui ước diễn ra trên một lãnh thổ mà cả hai bên đều không đóng ở các vị trí cố định, do đó cho phép huy động các đại đơn vị chống lại một kẻ thù dễ nhận diện ra. Bắc và Nam Hàn đã bị chia cắt dọc theo vĩ tuyến 38 bởi cách lý luận tùy tiện tại Yalta vào năm 1945 giống như trường hợp của Việt Nam vậy. Vùng biên cương dài hơn 150 dặm này là khu vực duy nhất có thể xâm nhập được vào miền Nam hoặc rút ra khỏi đây. Bởi rừng cây thưa thớt, lực lượng địch quân rất khó ẩn tránh máy bay đồng minh bay tuần tiễu, việc cô lập chiến trường được thực hiện tương đối dễ dàng. Vì khả năng hải quân bị hạn hẹp nên cơ hội xâm nhập của Cộng sản bằng đường biển chỉ hạn chế ở các đơn vị nhỏ.

Những khác biệt so với Triều Tiên đã khiến cho việc bảo vệ miền Nam gặp nhiều khó khăn hơn đối với các cố vấn Mỹ và những người miền Nam đang tìm cách tránh sự thống trị của Cộng sản. Trong khi dân tộc Đại Hàn, cả Nam lẫn Bắc gần như là thuần nhất thì Việt Nam và các nước láng giềng phía tây có chung những đường biên giới lỏng lẻo không được xác định rõ ràng và là nơi trú ngụ của nhiều sắc tộc thiểu số khác nhau. Qua các qui định chiến tranh do họ tự đặt ra và với những sự hạn chế về địa dư,  các khu vực rừng rậm, núi non phía Đông Căm-Pu-Chia và Lào đã biến thành những mật khu ẩn núp của Cộng sản. Việc ngăn chặn sự xâm nhập vào Việt Nam hầu như không thể thực hiện được. Do các khó khăn về địa dư và chính trị này, thế chủ động trên chiến trường phần lớn đã phải nhường lại cho phía đối phương.

Bắt đầu bằng cuộc Khủng hoảng Kênh đào Suez vào đầu mùa hè năm 1956, một loạt các hành động gây hấn của phe Cộng sản được tung ra: sự đàn áp tàn bạo các chiến sĩ tranh đấu cho tự do Hungary bởi quân Liên Sô, cuộc xâm lược của Cộng sản Trung Hoa chống lại phe quốc gia trong cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai vào cuối năm 1958, sự kiện Cuba rơi vào tay du kích quân của Castro ngay tại “cửa sau” của Mỹ vào năm 1959, việc bắn hạ máy bay thám thính U-2 của Gary Power trên đất Nga, sự thất bại vùng vịnh Con Heo, sự kiện bức tường Bá Linh được dựng lên, và những thách thức đối với Tây phương ở Congo từ Patrice Lamumba và nhóm lâu la của ông.

Tình thế trên bộ tại Đông Nam Châu Á vào đầu năm 1960 cũng không khá hơn các nơi khác bao nhiêu. Cho dù cố vấn quân sự Hoa Kỳ đã hoạt động tích cực trên tất cả các nhiệm vụ không chiến đấu tại Việt Nam từ 1954, nhu cầu phải đưa người Mỹ ra tiền tuyến để mở rộng tầm quan sát và sự hỗ trợ trong việc phát triển khả năng chiến đấu của Việt Nam cuối cùng đã được chấp thuận vào năm 1960 trên một căn bản hạn chế. Các sĩ quan Hoa Kỳ không mấy phấn khởi trong các thời kỳ đầu tiên này.

Binh chủng TQLC Việt Nam, với quân số không bao giờ quá hai phần trăm của toàn bộ quân lực đã được cải thiện liên tục về khả năng tác chiến và binh đoàn nhỏ này đã được liệt vào hàng ưu tú trong Quân Lực VNCH. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa  có quân số lớn hơn rất nhiều và cũng không thiếu các chiến sĩ dũng cảm nhưng lại bị thất lợi bởi những vấn đề thường gặp trong các tổ chức quân sự mới được thành lập tại các quốc gia nghèo. Nguồn lực thì có giới hạn, huấn luyện thì thiếu sót và các sĩ quan chỉ huy, nhất là các cấp tư lệnh thường gồm những nhân vật được lựa chọn không phải do khả năng tác chiến hay chỉ huy mà chỉ vì lòng trung thành về chính trị và sự quen biết. Điều này đã khiến cho các đơn vị của chế độ Sài Gòn bị thất lợi rất nhiều so với các lực lượng Cộng sản nhiều khi lại còn được chỉ huy khá cũng như được động viên tốt hơn.

Các sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ được điều đến để giúp thành lập, hình thành và hướng dẫn thuộc thành phần quân nhân giỏi và sáng giá nhất. Với thành công tại Triều Tiên trong việc thiết lập quân đội non trẻ của nước đó, sự bổ nhiệm Trung tướng John “Iron Mike” (Mike sắt thép) O’Daniel vào cương vị tư lệnh cơ quan MAAG tượng trưng cho đỉnh cao kỳ vọng của giới lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ. Quá trình lâu dài và gian khổ nhằm xây dựng các đơn vị quân sự cần thiết và hỗ trợ tối thiểu cho hạ tầng cơ sở được giao phó cho hàng trăm sĩ quan Hoa Kỳ đầy lòng nhiệt huyết, một số sĩ quan người Pháp cùng chung lưng hiện đang giảm dần và hàng ngàn sĩ quan Việt Nam đồng một lòng muốn đất nước được phát triển.

Thành tích ban đầu của QLVNCH ngoài chiến trường chống du kích không được khả quan lắm.  Các chiến thắng của họ đối với Cộng sản, nay gọi là Việt Cộng thường chỉ là những biến cố tạm thời vì chính sách của chế độ Ngô Đình Diệm đã làm suy yếu hành động của họ ngoài mặt trận. Quyết định thay thế các chức sắc xã ấp được dân bầu bằng những cán bộ do chính quyền Sài Gòn bổ nhiệm đã làm mất lòng người dân địa phương. Chiến dịch đàn áp những người bị nghi ngờ là thân cộng dù vu vơ đã tiếp tay thêm cho sự tuyên truyền phổ biến do Hà Nội đề xướng.

Đồng thời những cán bộ được cài lại phía sau được lệnh hoạt động trở lại, công tác tuyển mộ cho lực lượng Việt Cộng tại chỗ được đẩy mạnh một cách hung hãn và sự xâm nhập của các đơn vị chủ lực Bắc Việt vào miền Nam đã làm dài thêm danh sách các khó khăn mà VNCH phải đối mặt. Từ năm 1961 đến 1962 ước tính trên thực tế Cộng sản đã kiểm soát được hơn một nửa miền Nam rồi.

Ở cấp cao nhất của giới lãnh đạo Hoa Kỳ tại Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn, các cuộc tranh cãi dữ dội đã xảy ra tập trung vào việc phải hành động ra sao và cách nào tốt nhất để đối phó với TT Ngô Đình Diệm mà hành động thường không phù hợp với ý định của người Mỹ. Đường lối cai trị của TT Diệm và nạn tham nhũng rõ rệt của chế độ là một sự bối rối và cản trở những điều mà người Mỹ tự cho là nỗ lực cao thượng nhằm ngăn chận Cộng sản. TT Diệm không được lòng dân chúng và uy tín của ông đối với quân đội làm càng bị lung lay nhiều hơn nữa.

Đến mùa hè 1963, Hoa Kỳ đã đổ công sức gần chín năm về chính trị nhằm đạt thắng lợi tại Việt Nam. Cùng với sự gia tăng về nỗ lực cố vấn và gần như là yểm trợ quân sự trực tiếp, danh sách thương vong của người Mỹ cũng tăng dần lên. Đánh đổi lại tài nguyên và xương máu đã đổ ra thì chưa có sự thành công nào đáng kể cả. Nhiều giới chức cao cấp Hoa Kỳ và một vài tướng lãnh hàng đầu Việt Nam tin rằng sự lãnh đạo của TT Diệm sẽ không mang lại hy vọng cho một chiến thắng của đất nước.

Đến nước này rồi vì đầu tư quá nhiều mà để Việt Nam bị thất bại vào tay kẻ thù phương Bắc thì có thể sẽ kích động sự sụp đổ theo thế cờ domino. Một nước Hoa Kỳ thiếu quyết tâm tại Đông Nam Á có thể sẽ khuyến khích sự bành trướng và xâm lược của Liên Sô trên toàn thế giới. Trong giới lãnh đạo quân sự Việt Nam, nhóm sĩ quan tin tưởng con đường duy nhất để cứu đất nước là loại bỏ TT Diệm đang dần tăng lên. Sự dính líu của nước Mỹ trong cuộc đảo chánh TT Diệm vẫn còn gây tranh cãi và là đề tài của nhiều cuộc tranh luận gay gắt. Tuy nhiên điều này ít nhất có thể tin được qua lời khuyên trước đó trong lá thư nổi tiếng của George Kennan gởi cho đồng nghiệp là Bộ trưởng Ngoại Giao Chip Bohlen năm 1948:

“Điều này không có nghĩa là tất cả các chính quyền mà chúng ta giúp chống lại áp lực của Liên Sô sẽ được soi sáng, sẽ là những chính quyền tự do, thực thi dân chủ theo những cách mà chúng ta có thể khen ngợi được. Rất nhiều trong số các chính phủ đó có thể sẽ trở thành những thể chế tham nhũng và độc tài. Tuy nhiên nếu đứng trên quan điểm lợi ích của nước Mỹ thì  điều này vẫn còn tốt hơn là những chế độ do Cộng sản kiểm soát vì họ sẽ không có tham vọng thống trị toàn cầu, cũng như không có đủ phương tiện để cho phép mơ tưởng đến các cuộc gây hấn ở qui mô lớn.”

Đối với các tư lệnh quân sự Việt Nam có khả năng thực hiện sự thay đổi thì điều hiển nhiên là TT Diệm phải ra đi cho VNCH có chút cơ may để sống còn.

Thành phần yêu nước của miền Nam Việt Nam có một niềm tin trực giác hợp lý rằng một khi tình hình đất nước khả quan hơn, nỗ lực về quân sự nhằm giải thoát gia đình họ khỏi ách nô lệ của con quái vật miền Bắc sẽ được tiến hành. Là một người quen thuộc với chiến lược quân sư, đặc biệt là chiến lược hải quân, ông Lê Bá Sách hiểu rằng đơn vị tiên phong chống trả một cuộc xâm lược sẽ phải là TQLC.

Ông rất thương yêu con cái nhưng ông cũng yêu đất nước, đồng thời mang một nỗi căm thù Cộng sản tận xương tủy, một mối thù sâu sắc đến nỗi ông sẵn sàng để đứa con trai yêu quý tòng quân nhằm vào mục đích đó. Ông đã cương quyết khuyên đứa con trai trưởng phục vụ trong binh chủng TQLC.

Sau khi tốt nghiệp Đại học, Lê Bá Bình lập tức được nhận vào trường sinh viên sĩ quan Thủ Đức ngay bên ngoài Sài Gòn nhằm tham dự một khóa học 10 tháng để trở thành sĩ quan. Do tầm mức tương đối nhỏ của các binh đoàn Việt Nam khác ở bên cạnh quân đội chủ lực, họ phải dùng chung cơ sở đào tạo sinh viên sĩ quan để tiết giảm chi phí và tận dụng các phương tiện huấn luyện còn thiếu thốn. Khóa học 10 tháng giúp các sĩ quan trẻ đầy nhiệt huyết tiếp xúc với đường lối chỉ huy quân sự, các tập tục, quân phong quân kỷ, cơ bản thao diễn và một số chiến thuật bộ binh căn bản vì đa số các khóa sinh nói cho cùng cũng sẽ được bổ sung vào quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Bình khi ấy nằm trong một nhóm riêng trong số vài trăm sinh viên sĩ quan, với 60 người đã được tuyển chọn vào binh chủng TQLC hiện đang thiếu trầm trọng các tân sĩ quan chỉ huy trẻ tuổi.

(Còn tiếp)

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

VỀ …

letrungtin

Rồi tôi sẽ về lại căn nhà xưa
Như con chó già mệt mỏi lê chân về ổ cũ
Thôi không nhớ nữa quá khứ buồn ủ rũ
Không mang theo mình Facebook, yahoo…

Khi tôi về, chắc lá cũ mùa thu
Đã bay mất, chẳng chờ tôi đến nhặt
Vết chân chim chắc đã hằn trên khóe mắt
Những người xưa, trên những lối đi xưa…

Tôi sẽ về, trồng lại cây khế chua
Bên gốc cũ, mảnh ngói nằm vương vãi
Bên gốc cũ, ngơ ngác cành hoa dại
Nấm mồ xưa chôn chú dế đâu rồi?

Chú dế đâu rồi?
Chú dế của tôi?
Chú bỏ tôi đi mấy mươi năm dài biền biệt
Chú bỏ tôi đi miệt mài, mải miết

Tôi già rồi, biết tìm chú ở đâu…
Tôi già rồi, biết tìm chú ở đâu…
Tôi già rồi, biết tìm chú ở đâu…
Tôi già rồi, biết tìm chú ở đâu…???

LÊ TRUNG TÍN

Của nặng hơn người

nguyentri

Tuy người dưng nước lã, nhưng Ba Bướu và Năm Đầu Bạc tình thân hơn ruột thịt. Sở dĩ dùng chữ hơn là vì cô Lê Thị Trâm em gái Ba Bướu là vợ của Trần Văn Bảy mà Bảy là em ruột của Năm Đầu Bạc. Vậy thì cũng thường, có chi lạ mà hơn?
Là do đẹp lắm, nõn nường lắm cô Trâm bồ bịch yêu đương cũng lắm. Đến tay anh Bảy cô cũng qua mươi cuộc tình lớn nhỏ. Tư cách vậy làm sao mà Năm Đầu Bạc chấp nhận dù gia cảnh Đầu Bạc cũng chả ra ôn dịch gì. Tuy nhiên cả trấn ai cũng xầm xì con đó thế nầy thế nọ nghe cũng đau chớ. Đúng không? Nghe em mình đòi trăm năm với Trâm Võ Hậu là Đầu Bạc cực lực phản đối. Khốn thay, Trâm nói với Bảy rằng đứa nhỏ trong bụng là con anh, tuỳ anh định liệu. Bảy cha mẹ mất sớm ở với chị dâu ác hơn bà Tào Thị nên anh nói kệ anh tui muốn lấy ai kệ tui. Bảy tuy đẹp trai nhưng biếng lười là một, ăn nhậu là hai nên vớ được Trâm là may lắm. Cũng chỉ vì ông anh chồng coi không ra chi nên Trâm hận. Đặc biệt là sau khi sanh Trâm không tiền nên thằng chồng chán, nó nghe lời anh chị thoi cô. Bực bội cô ẳm con bỏ xứ ra đi, thằng chồng ở với anh và Tào thị được thời gian chịu cũng không xiết nên chạy theo ôm con cho vợ đi làm
Trâm giao con cho chồng còn mình đi kiếm ăn trong bãi vàng Suối Nho. Hôm đó đang đào đào móc móc ông trời gọi đúng tên Trâm. Cô nhận được một cục. Sau khi gia công cô được một mớ vàng. Bỏ bãi cô về xứ rừng làm mây tre lá. Độc quyền khai thác nên cô lên như diều. Dưới trướng có cả vài trăm công nhân, xe cộ để giao nhận hàng trên chục chiếc. Người làm thì dư nhưng người tin để giao những việc hệ trọng lại không có, vậy nên cô Trâm liền hú anh Ba Bướu và giao cho việc thu chi tài chánh, nói văn vẻ là thư ký kiêm kế toán. Bảy về thăm quê thấy anh khổ quá mới xin cô Trâm bỏ qua chuyện ngày ấy mà cho Đầu Bạc một cửa sống. Vì thiếu thợ máy để trông coi xe cộ nên cô Trâm vừa gật vừa bỉu môi vừa đe “- Liệu đó, thất thoát một cái bù long là đừng có trách đa nghe”.
Được cân đo đong đếm đồng bạc nên Ba Bướu luôn có xèng rủng rẻng. Đầu Bạc thì hẻo lắm, ba cái bù long con tán thì nuốt sao vô? Xe hư cái gì ghi ra giấy đã có người đi mua, muốn bỏ túi riêng vài đồng lẻ uống cà phê vặt còn không có. Đầu Bạc chỉ trông vô lương. Mà lương thì xưa nay mấy bà nội tướng nghèo thu sạch bách.
Ba Bướu đặc biệt mến Đầu Bạc. Cha mẹ mất sớm có một con em mà nó hư thôi là hư. Trai gái cả huyện chờn mặt, nay có người bốc đi không quý sao đặng? Em gái theo chồng Bướu trút được gánh ngàn cân. Thiếu cái chắp tay mà lạy cả họ nhà Năm Đầu Bạc. Nghe em nên và ra Bướu mừng lắm, đã vậy còn giúp mình có việc nhàn thân tiền nhiều. Thấy Đầu Bạc cơ khổ vì bị em gái đì, Bướu mới đem tình thương mến thương quy đổi thành tiền giúp bạn bè. Không có anh lời đàm tiếu của ba quân về đạo đức nếp nhà tui rửa sao cho sạch? Mà cũng chẳng nhiều nhặn chi. Điểm tâm sáng kèm nửa lít ba xi đế, trưa mua cho Đầu Bạc hộp cơm, đôi khi còn dúi vào tay bạn đôi đồng uống trà đá. Có một chuyện mà Đầu Bạc mang ơn lắm. Số là thằng con lớn đang đêm đau bụng không tiền đưa đi viện. Đầu Bạc chạy lên nhờ Bảy nhưng thằng em đã bị thần Lưu Linh rủ đi từ hồi đầu hôm. Mà có tỉnh cũng không nhờ chi được với cái thứ đàn ông bám chéo áo đàn bà. Không có chi viện của Bướu chắc thằng con chết vì viêm ruột thừa cấp. Vậy nên Đầu Bạc hứa ra miệng rằng:
– Tui mà trúng số sẽ chia ông một nửa. – Chả là sáng nào Bạc cũng một hai tờ cầu may.
Bướu nói:
– Ông ăn một mình đi. Tui không ham chi số với siếc.
Rồi sương sương bởi rượu:
– Hề hề hề… Vô độc đắc là chừng này triệu, mười phần trăm thuế thu nhập cá nhân còn nhiêu đây triệu. Cho thằng bán vé số và từ thiện hết một mớ triệu. Còn lại rất nhiều triệu tui cưa đôi với ông. Nói sai một tiếng cho sét đánh đen thùi lùi đi.
Cứ thế ngày này qua ngày nọ tháng nọ kế tháng kia. Mộng ước vô lô độc đắc của Đầu Bạc vời vợi ơi là vời vợi. Có người ghẹo rằng:
– Có trúng tui xin nhậu một bữa cho đã nghe chú ba.
– Yên tâm.
– Tui nữa nghe ông Ba?
– Yên tâm luôn.
Có câu đi đêm có ngày gặp ma, mua vé số thì phải trúng số không lẽ trúng gió hoài. Năm giờ chiều hôm ấy cả khu vực Bướu Bạc thường nhậu dậy sóng ba đào. Thằng cu bán vé số chạy hết tốc lực đến hào hển rằng:
– Chú Ba Bướu ơi ông Đầu Bạc vô rồi.
– Lô mấy – Bướu điềm tĩnh.
– Dạ vô độc đắc. Hai tờ luôn chú ơi.
– Chắc không?
– Như bắp luôn. Con tới báo cho ổng biết mong kiếm tí như lời ổng hứa.
Nhưng có tiếng ầm ỉ. Ba Bướu cùng thằng cu chưa kịp ngạc nhiên thì cả tốp từ phía nhà Năm Đầu Bạc chạy tán loạn. Bướu hỏi rằng:
– Gì vậy mấy đứa?
– Năm Đầu Bạc đang phá nhà.
– Sao phá?
– Ổng nói hai tờ vé số để trong túi áo mới mua hồi sáng không cánh mà bay. Vợ chồng con cái đang ì xèo về chuyện ai lấy cắp. Hề hề hề… thiệt là xạo quá chú Ba ơi. Bình thường không mất, nay vô độc đắc lại mất.
Tiếng la tiếc của lồng lộng trong trời chiều. Tiếc chứ, Cả một gia tài ai chẳng tiếc?
Cả bọn tuôn đi sau rất nhiều cái lắc đầu để Bướu lại một mình. Nhưng Bướu biết Đầu Bạc mất thật. Sáng nay sau khi sương sương thêm một xị Đầu Bạc về và bỏ quên hai tấm vé số trên bàn nhậu.
Bướu tính là trưa sẽ trả lại cho bạn già khi ăn cơm.
Nhưng trưa nay chả hiểu sao Đầu Bạc không đến.
***
Diễn biến kế tiếp của sự kiện lớn và nhanh đến độ cư dân tại và các ấp kề bên chấn động như khi nghe tin Ôsama Binlađen đánh sập tháp đôi. Người ta bu lại nhà Năm Đầu Bạc để xem, để nghe tiếng gào rú đến điên khùng của một kẻ mất của. Đầu bạc văng tục chửi thề với vợ và thằng con. Già rồi, vậy mà khi điên lên người ta cũng thô lỗ hết biết:
– Chỉ có mày – Bạc nói với vợ – ba con tứ sắc ám mày. Nợ nần quá nên mới lấy của tao. Trời ơi, hai tờ là cả một gia tài. Mày nhả ra đi. Tiền đó tao cũng đưa cho mày chớ tao giữ làm chi. Tao sẽ cho nhà mày một ít để thoát nghèo chớ tao ăn đâu có hết. Mày nhã ra đi con quỷ cái. Con quỷ truyền kiếp của đời tao….
Vợ Đầu Bạc sướt mướt khóc, hai đứa con gái cùng bù lu theo mẹ:
– Tui thề cho xe cán, sét đánh không toàn thây nếu tui lấy hai tờ vé số của ông. Trời ơi là trời tui lấy làm chi tui số tiền lớn vậy?
– Không mày thì thằng Tâm. Tâm – Đầu Bạc hét lớn – Chỉ có mày với con mẹ mày chớ không ai vô. Bây phá của tao nhiều quá rồi. Bây giờ là quá tay. Không nhả hai tờ vé số ra, bây đừng hòng yên ổn trong nhà nầy với tao.
Tâm – con trai lớn của Đầu Bạc – cái thằng bị ruột thừa. Nó có hơi hư hao một chút. Rượu chè là một, số đề là hai, lâu lâu có ghé vô sòng bạc binh bài hoặc tiến lên tí chút, thường thua chứ ít thắng. Nó cũng thường chà đồ nhôm ba cái vặt vảnh để phục vụ bản thân khi đi o mèo. Đầu Bạc vẫn thường than thở với bạn về thằng con ham chơi hơn ham làm. Tâm cãi lại khi cha gán tội cho mình:
– Ông – con mà kêu cha bằng ông kể cũng lỗi đạo – nhưng cũng nên thông cảm cho, nghèo quá, làm thuê làm mướn từ đời cha cho chí đời con đâu có học hành chi mà biết lễ – đừng có mà vu khống cho tui. Tui lấy số tiền lớn vậy làm chi? Tui thề với ông đó ông ba ơi.
– Vậy ai vô đây? Không mày với mẹ mày thì ai vô?
Thiên hạ bu quanh. Những kẻ nghi ngờ Đầu Bạc dấu để khỏi chung khỏi chi như lời hứa cũng thay đổi thái độ:
– Dám mất thiệt lắm à
– Dám gì nữa, thiệt chắc luôn, không thiệt thì ai mà sĩ nhục vợ con mình giữa ba quân thiên hạ như vầy ông ơi.
Một tha nhân vấn kế:
– Đi coi thầy là lòi ra hết chú Năm ơi.
– Đúng rồi, vô ông Sáu Trúc ở Ngã Ba Gái Tắc đi.
– Đúng rồi. Ông Sáu hay lắm.
Rồi người ta kể cho nhau về một mầu nhiệm rất hay ho của một quý ông Sáu Trúc. Ông nầy học đạo ở Núi Bà Đen hay Tà Lơn gì đó có tài sai khiến âm binh bắt ma trừ quỷ. Có một thằng bỏ vợ con theo gái, chỉ một đạo bùa mà kẻ bạc tình quay lại. Đại khái là hay lắm. Lắm lắm. Vô Sáu Trúc đi chú Năm ơi.
Vậy là hông đa ôm chạy đến để đưa Đầu Bạc đến thầy. Xe chạy qua chỗ Bướu và Bạc thường nhậu. Bạc xuống xe ôm lấy bạn hiền mà rằng:
– Tui thề với ông. Tui gian dối nửa lời cho bà bắt tui chết thảm. Mất thiệt anh Ba ơi, anh đừng nghĩ tui trúng rồi bây giờ tiếc của.
Ba Bướu vỗ vai bạn sui gia:
– Tui cũng có nói gì ông đâu. Mà có dzô thiệt không?
– Cả hai tấm vô độc đắc. Tui nhét trong túi áo treo trên vách nhà mà biến mất rồi anh Ba ơi. Mất là tôi hộc máu mà chết mất anh ơi.
Rồi như một gã điên Năm Đầu Bạc mếu máo leo lên xe để tầm sư truy căn kẻ trộm. Thiên hạ vô quán nhậu bàn chuyện thế thái. Chủ quán cứ cà phê đá nước đóng chai mà hầu. Ba vụ nầy thầy bàn thôi thì vô thiên vô lũng:
– Ê cha Sáu Trúc hay lắm nghe. Có biết vụ thằng Cường chôm cái khâu hai chỉ của con gái Ba Nhựt không?
– Có nghe nhưng không rõ. Đầu đuôi sao kể nghe chơi.
– Thằng Cường làm công trong tiệm uốn tóc của con Hằng con gái Ba Nhựt. Lúc gội đầu cho khách con Hằng tháo cái khâu để trên bàn. Con Hằng đi toilet ra thì cái khâu biến mất. Vậy là ầm ỉ lên cả tiệm. Ba Nhựt đích thân khám xét bọn đực rựa trong quán, con Hằng khám mấy con bươm bướm. Cuối cùng cấm tất cả ra khỏi tiệm Hằng phi vô Sáu Trúc. Nửa tiếng sau con Hằng về, nó đổ cái thùng rác tóc là lòi ra cái khâu.
– Mẹ ơi… biết thằng lấy không?
– Con Hằng nói thằng Cường.
– Sao khẳng định vậy?
– Con Hằng kể ông Sáu nói kẻ cắp chưa ra khỏi nhà. Cứ lục trong thùng rác là có. Và hể ai than đau bụng là người đó lấy. Quả nhiên sau khi tìm được cái khâu thì thằng Cường than đau bụng. Mày thấy linh không?
– Dữ vậy sao?
– Sáu Trúc hay lắm mày ơi. Ổng có âm binh theo phù trợ đó.
– Vậy là Năm Đầu Bạc có cơ hội tìm lại cái đã mất.
Ba Bướu kêu thêm xị rượu và lấy tay lau mồ hôi trán. Một thằng khác tiếp tục:
– Hay với linh cái con khẹc. Vụ đó hỏi tao nè. Con Hằng vô cha Trúc, nhưng mà có ngu cũng suy diễn ra chớ đừng nói gian manh như cái thằng chuyên sống bằng sự nhẹ dạ của kẻ khác như thằng Sáu. Tao hỏi mày. Ba Nhựt cấm tất cả không cho ai ra khỏi quán vậy thằng Sáu Trúc phải đoán vàng còn trong tiệm. Trong người không có thì kẻ cắp dấu vô thùng rác chớ vô đâu. Còn thằng Cường đau bụng là từ lúc sáng rồi. Tao chơi thân với nó nên tao biết. Thằng Sáu Trúc ăn ốc nói mò hên cho nó mà xui cho thằng Cường. Thằng Cường mang tiếng chôm cái khâu chớ thiệt ra biết ai lấy trong cái nhà cả chục mạng. Tao nghi là con Hằng ghét thằng Cường nên dàn cảnh để có cớ mà đuổi. Biết không? Thằng Sáu mà đoán ra ai chôm hai tờ vé số là tao đi đầu dưới đất cho mày coi.
Những tám giờ tối hông-đa ôm mới đưa Đầu Bạc về. Xe chạy qua quán nhậu mà không ghé. Cả bọn kêu chủ quán chế mì gói vừa ăn vừa lắng tai nghe. May quá thằng hông-đa trờ tới và chuyện gặp thầy bùa được tường thuật:
– Thầy Sáu thắp nhang, đầu quấn khăn đỏ múa may quay cuồng, hú hét một hồi. Ông nhập về ớn chết bà nội tao luôn.
– Ông nào?
– Ngài Quan Bình.
– Quan Bình là ông nào?
– Ai biết, biết chết liền.
– Ngài phán sao? Mày có nghe không?
– Nghe sao không mậy. Tao ngồi đó mà. Ngài nói hai tờ vé số hiện đang ở trong túi một người đàn ông, thân lắm.
– Rồi sao nữa.
– Hết.
– Hết lãng vậy?-
-Xí quên chung hai trăm tiền tổ nữa mới hết. Mà đzậy là quá rõ rồi. Người đàn ông mà thân lắm thì chỉ có thằng Tâm chớ ai vô. Mà ông Đầu Bạc nói với tao ổng nghi thằng Tâm trăm phần trăm. Giờ cha con ổng đang ỳ xèo ở nhà kìa… đó… đó… nghe không?
Cả bọn vểnh tai lên. Tiếng than trời trách đất dậy dậy lên. Rồi tiếng xô ghế, tiếng chân chạy rầm rập đi xem. Bên kia sông tay lái đò được một bữa kiếm tiền. Nghe thằng bán vé số kể đuôi đầu sự kiện người ta xúm nhau đi coi cho biết vậy mà. Chủ quán la bài hãi ê ê trả tiền mì gói nè mấy thằng ông cố nội.
Nghe động lớn quá công an và và xã đội cũng nhập cuộc để trị an. Ba cái linh tinh nầy không để mắt là lũ trời ơi làm bậy liền. Và trước mặt ba quân hình ảnh Năm Đầu Bạc tay cầm một bó nhang đỏ rừng rực, tay quơ làm loáng loáng màu lửa trong không gian đêm:
– Mày thề đi. Mày thề là không lấy cắp hai tấm vé số của tao đi. Mày thề trời đánh mày đi thằng quỷ dịch.
– Trời ơi là trời – Bà xã Đầu Bạc kêu lên – sao mà đau khổ quá ông trời ơi. Ông giết chết con đi ông ơi. Sao mà nhục nhã như vầy…
– Mày câm miệng lại. Tao giết mày chết bây giờ.
Nói xong Đầu Bạc chạy đến bên bà vợ cung tay lên như muốn cho cú đấm. Bà Năm sợ quá đâm đầu bỏ chạy, thằng Tâm rượt theo. Đúng là trẻ có khác, nó nhanh như sóc. Ngay lập tức bắt kịp và giữ cha lại. Nó kéo hơi mạnh tay nên hai cha con ngã sóng soài ra lộ. Tâm lồm cồm ngồi dậy. Nó đưa mắt nhìn cha và trời ạ – dưới ánh đèn đường – ba quân thấy máu hộc ra từ miệng Năm Đầu Bạc.
Rất vội vàng cả tốp bu lại đỡ Đầu Bạc lên. Mùi hèm và mùi máu hoà vào nhau nghe ra một vị khác thường. Thằng Tâm đứng như trời trồng. Mẹ ơi, cha nó mà chết thì nó phải chịu trách nhiệm à. Đúng lúc đó có tiếng la từ phía bờ sông. Tiếng của thằng Hưởng đò đạp:
– Bà Năm nhảy sông nè, lẹ lên, bà Năm nhảy sông nè các người ơi.
Thiên hạ lại quay đầu chạy, họ bỏ Năm Đầu Bạc lại cho toán cán bộ xã. Tâm dợm chân chạy theo nhưng Công an giữ lại:
– Mày ở đó không đi đâu hết.
Cũng đúng thôi. Nhỡ Đầu bạc chết nó trốn luôn thì sao? Còn bên ngoài sông thì có người ngoài đó lo. Nhưng ở bến sông không có điện. Thằng Hưởng kể nó đang ngồi trên đò thì thấy bà Năm nhảy xuống ùm một cái:
– Nước như vầy hà bá còn chết nói chi người.
Ở chỗ quán nhậu Ba Bướu vẫn ngồi tì tì rượu. Thằng Tâm bị điệu ra xã Bướu vẫn tì tì rượu. Lúc thằng em rể chồng cô Trâm đi ngang nói anh ba ơi anh Năm em chết rồi. Bướu nhìn nó rồi nâng ly làm một cái đầu gật gật. Nửa đêm bọn vớt xác bò lên quán làm mấy ly cho ấm người kể lại chuyện vớt xác:
– Chưa tới tám tiếng đồng hồ, từ lúc năm giờ chiều đến mười hai giờ đêm mà hai người chết một thằng có nguy cơ ngồi tù chỉ vì hai tờ vé số. Bà nội mẹ nó… thiệt là khó nghĩ hết sức à. Ai lấy hai tờ vé số của ổng vậy ta? Nếu là thằng Tâm thì chuyến nầy nó hỏng ăn rồi. Tạm giam một tháng là vé số hết giá trị. Mà tao nghĩ nó không lấy đâu?
– Nó không lấy. Tao cũng nghĩ vậy. Nhưng mà ai? Bà Năm thì tuyệt không rồi, lúc vớt xác bả lên hai con mắt trừng trừng tao sợ quá mày ơi. Là bả hận lắm đó. Thằng nào thó hai tấm vé số cũng không yên với bả đâu.
Quay sang Ba Bướu thằng vớt xác cất giọng đùa:
– Đúng là của nặng hơn người hả chú Ba?
Ba Bướu nhìn nhìn nhưng không trả lời. Rồi chả hiểu sao Bướu ư ử ừ ư
– Ba mươi tết ứ ư tết lại ba mươi ứ ư. Vợ chàng Ngô ứ ừ ư đốt tiền cho chú khách ứ ừ ư. Một tay em cầm cái dù rách ứ ư một tay em cầm cái chăn bông ứ ư… Một tay em cầm đồng tiền vàng ứ ư một tay em cầm thằng bù nhìn em ném xuống sông. Ứ ừ ư… tiền vàng nặng thì tiền vàng chìm, bù nhìn nhẹ thì bù nhìn nổi ứ ừ ư… ối ai ơi của nặng hơn người…
Cả bọn trố mắt nhìn Ba Bướu. Lúc đầu tưởng Bướu say, nhưng một lát Bướu cứ như bị ma nhập ư ừ ư suốt, rồi cười… cười… ha ha ha cười suốt. Cả bọn phải chạy lên cô Trâm:
– Anh Ba. Anh sao vậy?
Cô Trâm nhờ bọn vớt xác dìu Ba Bướu về nhà mình. Lúc để Bướu nằm lên giường cô lấy cái bóp trong tay Bướu cất đi. Tò mò cô mở ra xem thử. Trong đó ngoại trừ giấy tờ tuỳ thân còn có hai tờ vé số.
***
Nửa tháng sau thằng Tâm về, Nó chả có tội lệ gì trong cái chết của Năm Đầu Bạc. Huyết áp cao mà nốc rượu quá nên Năm bị tai biến vậy thôi. Thằng Tâm thân chinh đến nhà cô Trâm mà tạ ơn. Tôi nghiệp cô quá, đám ma ba má nó cô bỏ tiền ra lo chu toàn từ a đến â. Cô xây mã cho ba má nó đẹp tuyệt luôn. Cô tử tế đến vậy thì ơn nầy biết chừng nào trả cho xong? Cô nói với Tâm:
– Con lên đây làm việc với thím. Cứ cho hai đứa em mày đi học. Thím hứa sẽ lo cho em mày ăn học đến nơi đến chốn. Mày cần gì nói thím cho. Nghe không?
Tâm cảm động suýt khóc. Nó ra nhà sau nhìn Ba Bướu. Cô Trâm nhốt ông trong một cái củi. Bướu nằm và ư ừ ư ối ai ơi của nặng hơn người.
Người tử tế vậy mà bổng nhiên điên, tội quá thì thôi. – Thằng Tâm nghĩ thầm.
Nguyễn Trí

KHÚC TRĂNG CHẢY MÁU

linhphuong

Bông hoa rồi cũng héo tàn
Tình yêu chân thật chưa chắc gì vĩnh cửu
Khúc trăng chảy máu vừa nhu nhú
Ướt đẫm người đàn bà-ướt đẫm bầu trời đêm

Ngôn từ ngang qua trái tim
Vô cảm tận cùng tâm thức
Vô cảm tận cùng thể xác
Sợ ngày mai đối diện mặt trời

Người đàn ông làm xiếc chạy trên sợi dây thừng treo cổ cuộc đời
Bàng hoàng nhận ra cơn mộng du trong giấc ngủ
Bão số 1 kéo băng băng theo cơn mưa lũ
Mùa hạ thảng thốt rơi xuống khuôn mặt đá lạnh lùng

Ai tạc hình bóng người đàn ông
Tượng đài sống chưa chết
Tượng đài sống không thể hóa kiếp
Gió cấp 8 giật cấp 9 -10 không thể cuốn phăng ra biển Đông xa hút muôn trùng

Người đàn bà không quen sáng nay lững thững đến nghĩa trang
Thăm mộ thân nhân đã mất
Tay cầm điện thoại nhắn tin cho người đàn ông nào đó và rưng rưng khóc
“ Thôi ! Em đi một mình không ngóng đợi anh “

Đứng bên lề đường cạnh cây hạnh phúc bị chặt trụi cành
Người đàn ông mặc áo mưa nhìn vết thương mũ non ràn rụa
Hốc mắt âu lo bốn mươi năm buồn lệ ứa.
Khúc trăng chảy máu-mùa ly tan chớm bạc mái đầu

LINH PHƯƠNG

NẾU MAI… KHÔNG CÒN

trantuan

Nếu mai mình… chẳng còn yêu.
Gặp nhau xin hãy như…chiều mới quen.
Để em vẫn mãi là…em.
Và tôi mãi nợ…lời nguyền trăm năm.
Nếu mai người có… thay lòng.
Thì xin nhớ mãi…dư âm thuở nào.
Nếu mình…không phải của nhau.
Đừng đem quá khứ…nhuộm sầu tương lai.
Nếu tôi lỗi hẹn… với ai.
Thì bao tha thiết vẫn…hoài trong tôi.
Nếu mai tình lỡ…phai rồi.
Đường xa…lỡ gặp, xin người…ngó lơ.
Nếu mai…là cuộc tình hờ.
Tôi về gom hết trang thơ…tặng người.
Cầu mong người chớ…ngậm ngùi.
Để tôi…còn lại tiếng cười…ngây ngô.
Để tôi mãi trách… vu vơ…
Nếu xưa mình chẳng…tình cờ gặp nhau!

Trần Tuấn

Tháng Năm, nghe Phượng hoàng gãy cánh…

tuankhanh

(Kỷ niệm 12 năm, ngày mất của nhạc sĩ Lê Hựu Hà)

Có một tượng đài Phượng hoàng gãy cánh tại Sài Gòn, đặc biệt trong lòng người yêu nhạc trẻ miền Nam. Tượng đài nằm im lặng trong trái tim mỗi người, nhưng luôn ngân vang với những câu hát trở thành lịch sử âm nhạc hiện đại của Việt Nam – vốn từng mở màn cho một giai đoạn cách tân âm nhạc độc nhất vô nhị.

Thật khó biết là nhạc sĩ Lê Hựu Hà qua đời vào lúc nào. Theo báo cáo pháp y, người ta chỉ tìm thấy ông vào ngày 11 tháng 5, 2003, nhưng dự đoán thời gian qua đời có thể từ 5 ngày trước. Lê Hựu Hà là một người cô đơn. Và những ngày cuối đời của ông lại càng cô đơn hơn khi đi về chỉ một mình, đóng cửa lặng lẽ đọc sách, nghe nhạc, mở ti vi cho có tiếng người chung quanh mình. Chính vì ti vi vẫn mở suốt nhiều ngày liền, nên chung quanh hàng xóm không ai ngờ rằng ông đã qua đời. Chỉ đến khi vài người bạn đến tìm, gọi chuông không được thì sau đó mọi người mới phát hiện rằng ông đã đi rất xa rồi.

Những ngày bạn bè đến thăm nhạc sĩ Lê Hựu Hà lần cuối, Lúc ấy, trời lất phất mưa, mây trĩu xám. Đám tang vừa phải và khiêm tốn, không khác gì tính cách của ông lúc sinh thời. Nhạc sĩ Minh Châu tay cắp giỏ, ánh mắt bàng hoàng “lẽ nào vậy sao?”. Minh Châu vốn là một người yêu say đắm dòng nhạc Phượng Hoàng với những bài hát mà nhạc sĩ Lê Hựu Hà khai sinh. Anh ghé qua thắp nén nhang với chiếc áo sơ-mi bó, quần ống hơi loe, không khác gì thập niên 60, thì thầm “chừng nào chúng ta lại có một Lê Hựu Hà hay Nguyễn Trung Cang?”.

Câu hỏi đó thật khó trả lời. Phượng Hoàng sinh ra từ lửa và hóa kiếp trong lửa, tuần hoàn vô lượng. Nhưng để nhận biết là điều bất khả. Thật khó hình dung nền nhạc trẻ Việt Nam thập niên 60-70 nếu không Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Elvis Phương… thì hôm nay sẽ là gì? Ban nhạc Phượng Hoàng của Lê Hựu Hà thành lập năm 1963, với chủ trương dứt khoát của Lê Hựu Hà là “người Việt phải chơi nhạc Việt”, nhằm tạo một khuynh hướng khác biệt với hàng loạt các nhóm nhạc trẻ lúc đó, phần lớn đang cover lại các bài hát ngoại quốc, và lấy tên tiếng nước ngoài như The Enterprise, CBC, The Dreammers, Les Vampires… nhạc trẻ thuần Việt được coi như khai sinh từ đó. Nếu lịch sử âm nhạc Anh Quốc có cột mốc vĩ đại từ cuộc nói chuyện vô tình trên tàu điện giữa Paul McCartney và John Lennon, thì ở Việt Nam cũng có chương lịch sử âm nhạc kỳ thú từ sự kết nối giữa Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang.

Là một ban nhạc rất trẻ, nhưng các sáng tác của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang làm không ít người sửng sốt về tính triết lý sâu đậm trong ca từ. Nếu Nguyễn Trung Cang vung vẩy tung tóe màu sắc hiện sinh với Mặt Trời Đen, Sống Cho Qua Hôm Nay… thì Lê Hựu Hà dàn trãi từ khuynh hướng yêu tha nhân vô kiện của Kant cho đến tâm trạng hippy phản chiến, kêu gọi yêu thương. Trong các phẩm của Lê Hựu Hà, là niềm yêu tha nhân dù khổ đau vẫn phải gìn giữ như một định mệnh “Hãy cứ yêu thương người – dù người không yêu ta”. Từ cảm giác đó, Lê Hựu Hà bước theo lộ trình nhận thức thế giới không khác gì John Lennon từ việc viết về tình yêu cho đến hát về người nghèo khó, về một cuộc sống đầy súng đạn và hận thù. Hãy Nhìn Xuống Chân hay Lời Người Điên… là một dòng phát triển rất đặc biệt của nhạc sĩ Lê Hựu Hà bên cạnh những bài tình ca nhạc trẻ độc đáo của ông. Chỉ tiếc là sau 1975, chế độ kiểm duyệt của Nhà nước Cộng sản đã bóp chết không ít niểm cảm hứng và sự phát triển của nhiều văn nghệ sĩ, trong đó có nhạc sĩ Lê Hựu Hà.

Nhạc sĩ Phạm Duy, lúc sinh thời không phải là người dễ tính, cũng đã phải thốt lên rằng âm nhạc của Phượng Hoàng đầy chất tâm hoặc (psychedelic culture) và phản ánh một tâm thức của thế hệ trẻ không lối thoát trong một xã hội chiến tranh, bất an không hồi kết. Sau tháng 4/1975, khi bị buộc phải đi học tập cải tạo tư duy với các cán bộ cách mạng, nhạc sĩ Lê Hựu Hà cũng phải viết tự kiểm, nhận định rằng âm nhạc của ông là thứ suy đồi và tiểu tư sản thối nát. Nhưng Lịch sử âm nhạc Việt Nam đã may mắn biết mấy khi có được dòng nhạc “thối nát” đó làm nền tảng cho mọi phát triển hiện đại sau này. Lê Hựu Hà cũng như nhiều nhạc sĩ miền Nam tự do khác, cũng được khuyến cáo viết những tác phẩm cho nền “văn hóa mới” – một nền văn hóa mà không ít người vẫn tự hỏi nó sinh ra từ đâu, để làm gì?

Có một điều không may cho nhạc sĩ Lê Hựu Hà là sau 1975, có một trung tâm sản xuất băng nhạc chống Cộng lấy tên Phượng Hoàng, cho ra chương trình và gửi vào trong nước. Trong thời buổi còn chưa đủ sức phân biệt được trắng đen, công an đã coi nhạc sĩ Lê Hựu Hà như là một trong những thành phần sản xuất chương trình đó. Đã vậy, có lúc ông còn bị Sở VHTT Cộng sản những ngày đầu kiểm soát miền Nam nhầm lẫn tên ban nhạc của Lê Hựu Hà và hệ thống tình báo Phượng Hoàng của VNCH. Hai điều đó hoàn toàn không liên quan. Ủy ban tình báo Phượng Hoàng, vốn là tên gọi khác của Intelligence and Operations Coordinating Centre, do giám đốc CIA thời đó là William Colby dựng nên, hoạt động từ 1967 và chấm dứt vào 1973. Vốn đã bất đắc chí vì thời cuộc, việc bị truy vấn bởi công an mật vụ liên tục trong thời gian đó đã khiến nhạc sĩ Lê Hựu Hà trở nên trầm uất, và luôn lo sợ. Thậm chí, khi đi đường, nghe tiếng còi của cảnh sát giao thông cũng làm ông kinh hoảng, dừng xe, dù đó không phải là chuyện của ông. Đã vậy, sau năm 1968, bị gọi nhập ngũ, nhạc sĩ Lê Hựu Hà đến học tại trường Bộ Binh Thủ Đức, rồi làm việc ở Cục Quân Nhu, và dù không cầm súng bắn phát nào, nhưng do mang lý lịch là “ngụy quân” nên sự nghiệp của ông không bao giờ có thể nối tiếp trọn vẹn được nữa.

Những khó khăn từ vật chất cho đến đời sống tinh thần vẫn đeo đuổi đến tận ngày nhạc sĩ Lê Hựu Hà qua đời, dù tài năng của ông vẫn chinh phục mọi giới. Những tác phẩm mới sáng tác sau 1975 như Vào Hạ, Ngỡ Đâu Tình Đã Quên Mình, Vị Ngọt Đôi Môi… luôn gây nên những cơn sốt trong thính giả. Nhưng cũng ít ai biết rằng các bài hát như Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào là bài hát viết cho phim Vết Chân Hoang (chuyển thể từ tiểu thuyết Tuổi Choai Choai của Trường Kỳ), được sửa lời và chút ít giai điệu. Bài Lời Trái Tim Muốn Nói cũng là một ca khúc viết lại một văn bản cũ, trong đó ông lặng lẽ để vào chút tâm tư của mình,qua những câu chữ như “những tháng năm không có ngày vui”.

Năm 1999, khi đang là thành viên trong ban nhạc Phiêu Bồng của nhạc sĩ, tôi cầm lấy những bài hát của ông và đi đến nhiều hãng băng đĩa, đề nghị làm album tác giả, nhưng mọi nơi đều lắc đầu, nói khéo. Chân thật nhất là một biên tập viên của Xí nghiệp băng đĩa nhạc Sài Gòn Audio, Hãng phim Bông Sen, đã nói thẳng thừng “Lê Hựu Hà là một người nhân thân có vấn đề”. Sau này, khi nhạc sĩ Lê Hựu Hà căn vặn hỏi mãi, tôi đành phải kể lại. Ông mỉm cười nhã nhặn và buồn. Sau đó, ngay khi tập bài cho các buổi diễn, tôi đề nghị chơi lại những bài hát nhẹ nhàng, không bị soi mói về quan điểm chính trị như Tôi Muốn, Yêu Em… ông chỉ lắc đầu, cười nhẹ. Khó biết được đằng sau cặp kính của người nhạc sĩ hết sức uyên bác đó là những suy nghĩ gì về cuộc sống khốn khó này. Về sau, nhạc sĩ Bảo Thu “luồn lách” bằng cách nào đó, cũng in ra được một băng cassette pha trộn các tác phẩm của Lê Hựu Hà cùng các bài hát dịch lời Việt của ông, nhưng cũng không dám quảng cáo hay tổ chức ra mắt công khai như các ca sĩ, nhạc sĩ bây giờ.

Giờ đây khi tìm kiếm trên internet, thấy những tấm ảnh sau 1975 của ông, lòng tôi chợt chùng lại. Để mừng một ngày sinh nhật của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, tôi “dỗ” ông cho chụp vài tấm ảnh, tự mình design bìa CD cho ông, gom những bài hát làm thành một đĩa master rồi đi tìm Tuấn – biệt danh là Tuấn Chó (do có logo thương hiệu bầy chó đốm), một trong những ông trùm sản xuất CD lậu thời đó ở Sài Gòn, nhờ chép ra phát hành giùm. Thật buồn cười và mỉa mai, khi người nhạc sĩ cầm lấy những bài hát của mình được lén lút phát hành bất hợp pháp ngay trong đất nước của mình, và cười như một hạnh phúc. Tôi vẫn còn nhớ.

Có lần, trong một buổi tập ở nhà, nhạc sĩ Lê Hựu Hà cao hứng đàn và hát cho tôi nghe vài bản nhạc chưa ra mắt công chúng của ông. Những bài hát mang đầy niềm cảm hứng mãnh liệt của một thời Phượng Hoàng trai trẻ nhưng đầy sự buồn chán muốn rời xa cõi nhân thế quá trớ trêu. Hát xong,ông quay qua nhìn tôi, cười trầm “Đừng hỏi, anh biết tỏng em muốn hỏi gì. Anh không muốn đưa những bài hát này ra nữa đâu. Không còn để làm gì”. Im lặng. Tôi vẫn tự hỏi là có bao nhiêu con người tài năng trên đất nước này đã chối từ đại lộ và nói với bạn bè, con cháu mình khi quay về ngõ nhỏ, rằng “không còn để làm gì”.

Cuộc sống của nhạc sĩ Lê Hựu Hà sau năm 1975 hết sức khó khăn, đã vậy ông còn mang nhiều mặc cảm khi người vợ của mình, ca sĩ Nhã Phương, phải đi hát, đi làm tất bật để trang trãi cho cả gia đình. Ông chọn quay lại sân khấu một phần vì yêu âm nhạc, một phần khác vì đó là cách kiếm sống duy nhất của ông. Lê Hựu Hà đã thử làm nhiều thứ như hùn mở quán cà phê, cho thuê băng video… nhưng rồi không có gì tồn tại lâu. Tài sản lớn nhất, và có lẽ vĩ đại nhất đất nước, là bộ sưu tập đĩa nhựa âm nhạc của ông. Tất cả những đĩa quý nhất của thế giới, những ấn bản hạn chế của Rolling Stones, Beatles… ông đều có đủ và luôn làm bạn bè kinh ngạc ngưỡng mộ. Thế nhưng một ngày mùa hè cách mạng, các nhân viên Sở Văn hóa Thông tin đã ập đến lục soát và tịch thu, theo “tố giác của quần chúng nhân dân”. Nhìn từng chiếc xe ba gác chồng chất các bản đĩa mà ông nâng niu, chở ra đi, là một trong những điều suy sụp lớn của đời ông. Nhạc sĩ Bảo Chấn kể rằng đời ông chưa bao giờ hoảng sợ bằng nhìn thấy hình ảnh nhạc sĩ Lê Hựu Hà ngồi gọi rượu đế ra uống một mình, trầm ngâm và khóc. Đó là lần uống rượu duy nhất trong đời của người nhạc sĩ chơi rock, Phật tử và không biết thuốc lá, rượu bia.

Trong một lần đi diễn ở Đông Âu và Nga, sau khi hệ thống Cộng sản ở đây sụp đổ. Lê Hựu Hà mang về những viên đá, lấy ra từ những mảnh vỡ của bức tường ô nhục Berlin, để tặng cho bạn bè. Đêm đó, ngồi hát ở một quán bar nhỏ Old Friends với Phước, tay cao bồi già yêu nhạc rock, nhà thơ hippy Đỗ Trung Quân, Lê Hựu Hà đưa cho mọi người, ông cười, thì thầm với tôi “đây là tự do”. Sau cặp mắt kính cận ấy, là ánh mắt thông minh, ẩn chứa biết bao nỗi niềm và dường như không còn niềm vui nữa, dù miệng vẫn cười.

Lê Hựu Hà đến Nga, ứa nước mắt khi nhìn thấy tự do trở lại trên đất nước tuyết trắng, nghĩ đến phận mình. Ông ra phố Arbat ở Moscow, nơi lừng danh của giới nghệ sĩ. Khi đang đi dạo thì Lê Hựu Hà nhìn thấy một người ngồi bệt dưới đất, đánh đàn và hát tiếng Anh ở phố, dưới chân có hộp đàn mở ra cho khách qua lại bỏ tiền vào. Nhìn thấy cây đàn đẹp và quý, ông dè dặt hỏi xem đàn có bán không. Người nghệ sĩ Nga lạnh lùng nhìn và nói “Anh không mua nổi đâu, vì trên đàn đã có dấu tay của tôi”. Sau này ông được giới thiệu cho biết đó là một nghệ sĩ rất nổi tiếng ở Nga về tài năng cũng như độ kiêu hãnh. Ghé vào một cửa hàng gần đó, nhạc sĩ Lê Hựu Hà đổi một ít tiền lẻ và đến ngồi kế bên. Những bài hát tiếng Anh thời thập niên 60 – 70 mà người nghệ sĩ Nga ấy hát, đã là thứ thuộc nằm lòng của Lê Hựu Hà nên ông vừa nghe, vừa hát bè theo. Cứ mỗi bài hát kết thúc, ông lại bỏ vào hộp đàn một chút tiền lẻ. Người nghệ sĩ Nga từ thái độ lạ lùng, tò mò, dần dần chuyển sang cảm mến. Cho đến khi hết tiền bỏ vào, Lê Hựu Hà đứng lên chào và đi. Người nghệ sĩ Nga bất chợt gọi lại “Anh là ai?”. Lê Hựu Hà cười “Tôi là một người thích nhạc”. “Nếu anh quá thích cây đàn, tôi có thể bán cho anh, vì anh rất thú vị”, người nghệ sĩ Nga nói. “Cám ơn, tôi đã có thứ tôi muốn rồi”, Lê Hựu Hà nói, “hát với anh, tôi đã có lại tất cả những kỷ niệm đẹp nhất mà tôi đã mất”.

Trong đánh giá của giới phê bình âm nhạc, vẫn hay có hiện tượng bất toàn về overrated và underrated. Tức có những nhạc sĩ mà công lao hay khả năng chỉ vừa phải thôi, nhưng vì lý do gì đó luôn được tung hô. Ngược lại, có những người vô cùng quan trọng với lịch sử âm nhạc nhưng lại bị coi nhẹ hay lãng quên. Nhạc Nguyễn Trung Cang hay sĩ Lê Hựu Hà là một trong những trường hợp underrated của Việt Nam, khi giá trị tiền phong của họ xuất hiện ở mọi nẻo của âm nhạc hiện đại, nhưng lại bị phủ lấp bởi truyền thông, quan điểm chính trị hay sự cố tình chôn lấp quá khứ văn hóa vàng son của một miền Nam VNCH.

Tháng Năm, nghe vua nhạc Blues B.B.King qua đời. Tháng Năm nhớ Chuck Brown, tay guitar có biệt danh là “Godfather of Go-Go”. Tháng Năm rồi cũng góp vào ký ức nhân loại một tượng đài Phượng hoàng Việt Nam gãy cánh, với đường bay chưa trọn. Tượng đài của Lê Hựu Hà, một người tài hoa, khiêm tốn và nhã nhặn, chưa bao giờ dám mong ai dựng tượng mình, nhưng lại đứng trên quê hương mình, trong trái tim của những người yêu âm nhạc, của một nền văn hóa vàng son của miền Nam mãi lấp lánh trong ký ức con người…

Tuấn Khanh ‘s Blog

(Kỷ niệm 12 năm, ngày mất của nhạc sĩ Lê Hựu Hà)

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Chúng ta thắng trận phải không? Xin làm ơn nói thật”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

DENNIS CHAMBERS
(Phi công Tù bỉnh)
“Chúng ta thắng trận phải không? Xin làm ơn nói thật”

Tháng Tám năm 1967 trong lần thực hiện phi vụ thứ một trăm lẻ một, tôi đã bị bắn hạ tại Đồng Hới, ngay phía Bắc vùng phi quân sự. Tôi là phi công phụ của chiếc máy bay F-4C. Phi công chính và tôi thoát chết, nhưng sau đó đã bị giam suốt năm năm rưỡi tại nhà tù Cộng sản, Hỏa Lò, nơi người ta vẫn gọi là “Khách sạn Hilton Hà Nội.”

Trước khi xảy ra vụ này, trong tôi đã tan vỡ nhiều ảo tưởng về cuộc chiến. Vì sao? Mục đích cuộc chiến tuyệt đối đúng, nhưng phương thức chúng ta chiến đấu, cách chúng ta muốn đạt đến mục đích thật hết sức sai lầm.

Tôi đóng ở Cam Ranh. Tôi đến đấy vào tháng 3 năm 1967. Ngay sau phi vụ đầu tiên, tôi đã phải viết thư cho dân biểu của tôi mà hỏi: “Chúng ta đang làm gì ở đây?” Chúng ta đang làm một lỗi lầm lớn, ai cũng có thể thấy rõ như vậy!

Ngay lúc mới đến Cam Ranh, người ta đã căn dặn chúng tôi đừng ai ra phố. Không được vượt qua cây cầu vào thị xã. Lý do, họ bảo là vì dân chúng bất thân thiện. Lạy chúa, bất thân thiện! Ngay tại Cam Ranh này mà dân chúng không đối xử thân thiện với chúng tôi. Họ là bạn, họ là đồng minh kia mà? Vậy nếu họ không thân thiện với chúng tôi thì việc gì đang xảy ra ở đây. Hoàn cảnh này là hoàn cảnh nào?

Về việc dội bom: chúng tôi đã dội bom dã man lên tất cả mọi thứ. Không bao giờ lại phí bom thả xuống biển. Sau mỗi phi vụ khi bay về, nếu còn dư bom, chúng tôi luôn luôn cố kiếm ra một cái gì mà dộng xuống. Bọn phi công sẽ kiếm một thứ gì, bất cứ cái gì để dội lên với số bom còn lại. Tôi cũng đã nghe kể nhiều chuyện về lính bộ binh thường nhả đạn giết dân bừa bãi chỉ vì lý do không ưa cái bộ dạng của người ta! Không ưa cách người ta nhìn, họ bóp cò. Tình trạng có vẻ thực vô kiểm soát. Bấy giờ là năm 1967. Sau này tình trạng lại còn tệ hại hơn. Sĩ quan không kiểm soát nổi lính tráng. Chúng ta có rất đông quân, mà chúng ta lại không hề bao giờ chính thức tuyên bố chiến tranh. Chúng tôi cứ bay, cứ dộng bom, và nếu tôi hỏi “Chúng ta đi đâu, chúng ta làm gì đây” thì câu trả lời luôn luôn vẫn là “không biết!”

Ấy thế rồi họ trói tay chúng tôi lại. Họ bảo chúng tôi là có một số việc chúng tôi không được phép làm. Ví dụ nếu tìm ra được các chiến đấu cơ MIG, chúng tôi phải làm các thủ tục nhận diện cho chắc chắn là MIG, rồi mới được phép bắn. Trong tình trạng ấy quý ông có biết cơ may sống sót của chúng tôi mỏng manh đến đâu? Một chiếc MIG có khả năng làm lắm chuyện hơn cả mấy chiếc F-4C, F-105, hoặc là F-111. Với những chiếc máy bay nguy hiểm như thế mà chúng tôi lại còn phải cố nhận diện đã, thì sinh mạng của chúng tôi chịu biết bao may rủi? Rồi chúng tôi lại bị cấm không được phép bắn những chiếc tàu dài hơn 50 bộ Anh, hoặc ngắn hơn 20 bộ Anh. Như vậy tất nhiên Việt Cộng cứ cho chở hết mọi thứ trong những chiếc tàu nhỏ là tha hồ an toàn xuôi ngược trên sông! Tôi cảm thấy thực cay đắng với tất cả những chuyện như thế.

Ngoài ra ở đấy người ta đã lừa bịp dối trá như điên. Con số máy bay được đếm là chỉ bằng nửa con số chúng tôi báo cáo. Số máy bay chúng ta mất xảy ra rất đều đặn: Chỉ trong năm tháng tôi ở đấy, chiếc máy bay của tôi đã là chiếc thứ 13 tại Cam Ranh bị mất. Và người ta chỉ ghi vào thống kê những chiếc máy bay mất nếu có người nào nhìn thấy tận mắt. Không nhìn thấy máy bay bị hạ kể như không mất. Thật là khùng!

Trong Hỏa Lò Hà Nội, các tù binh Mỹ còn sống sót được nhờ những lý do khác nhau. Tinh thần bác ái và tinh thần Thiên Chúa giáo đã giúp một số người sống còn. Riêng tôi, chính hận thù giúp tôi sống còn! Tôi hận thù Lyndon Johnson. Tôi hận thù Richard Nixon. Tôi hận thù chiến tranh. Tôi hận thù người Việt miền Bắc. Tôi hun đúc tất cả những hận thù ấy để sống còn.

Những hận thù ấy cũng tạo nên cho tôi một tinh thần hoài nghi sâu đậm. Khi được thả vào năm 1973, họ đưa chúng tôi vào chiếc máy bay C-141 từ Hà Nội đến Phi Luật Tân, lúc ấy tôi không còn một niềm tin vào bất cứ gì nữa. Đặc biệt tôi đã không tin được một lời nói nào của Cộng sản. Tôi cứ nghĩ chúng sẽ không bao giờ thả chúng tôi ra. Cho nên khi máy bay rời Hà Nội, tôi chắc mẩm là chúng sẽ bắn hạ chiếc máy bay này. Tôi đinh ninh chờ đợi một chuyện xảy ra: Có lẽ chúng đã đặt bom. Có lẽ một chiếc chiến đấu cơ MIG, hay một hỏa tiễn SAM sẽ phóng theo. Tôi tự bảo: “Không thể tin được! Chuyện này không thể xảy ra được! Đấy là mơ chứ không thể là thực.”

Thế rồi khi máy bay rời Hà Nội, một nhóm bác sĩ, y tá và những người trợ tá đến săn sóc chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều nắm lấy họ mà cùng hỏi một câu: “Chúng ta thắng trận phải không? Xin làm ơn nói thật.” Và một sĩ quan Mỹ trên máy bay bảo: “Chắc chán là thế. Trên căn bản chúng ta đã thắng. Địch đã bại – Nhờ máy bay B-52, chúng ta đã thắng!” Khi nghe như thế, chúng tôi ngây ngất. Những năm tháng tù đầy của chúng tôi nhờ vậy mà xứng đáng. Không còn chữ nào ngọt ngào hơn mấy chữ “Chúng ta đã kết thúc xong.” Họ nói với chúng tôi như thế.

Rồi khi về nhà chúng tôi khám phá ra cuộc chiến chưa kết thúc. Chúng ta chưa thắng. Chúng tôi lại bị dối trá. Người ta không cho biết sự thật.

Khi Sàigòn sụp đổ, tôi đang sống tại căn nhà ở vùng núi Santa Cruz tại tiểu bang California. Tôi không coi truyền hình nhưng mỗi ngày đều đọc báo và nghe tin trên máy phát thanh. Khi đọc và nghe những chuyện xảy ra bên ấy, tôi có thái độ bi thảm của cái kiểu như là: “Đó, tôi đã bảo mà, thấy chưa.”

Tất cả những gì xảy ra thực sự chỉ là kết quả của hàng chuỗi lỗi lầm nghiêm trọng mà chúng ta đã tạo nên sau nhiều năm tháng.
Vào cuối tháng Tư, khi bắt đầu nghe tin về cuộc tỵ nạn và những con người đáng thương bên ấy đang cố ra khỏi xứ, tôi cảm thấy muốn phát bịnh. Bao nhiêu người đã từng làm việc cho chúng ta ở bên ấy giờ đây bị đối xử cạn tầu ráo máng. Chúng ta bỏ lại rất nhiều người. Lời hứa của Mỹ chẳng còn một giá trị gì. Bây giờ, ở Á Châu, lời hứa của người Mỹ không còn đáng một cục cứt!

Những gì đáng lẽ chúng ta phải thực hiện, đó là phải bảo đảm an ninh cho bạn hữu của chúng ta. Nhưng chính dư luận công chúng đã chống lại Việt Nam. Chính khách đã chống lại Việt Nam. Mỉa mai quá! Nếu trước đó họ chống vấn đề Việt Nam sớm hơn, thì mọi việc chẳng xảy ra như vậy. Tôi quy trách nhiệm cho toàn thể nước Mỹ về việc bỏ rơi những bạn hữu của chúng ta ở lại Việt Nam. Không một ai đứng dậy mà phản đối việc chúng ta bỏ rơi bạn, những người đã cật lực làm việc cho chúng ta. Bây giờ chúng ta thản nhiên bỏ rơi họ.

Những gì đáng lẽ chúng ta phải làm, thực giản dị. Đáng lẽ chúng ta phải thiết lập một khu vực “Không người” và bảo bọn Cộng sản rằng: “Nếu các anh vượt ranh giới này, chúng tôi giết.” Chúng sẽ hiểu điều ấy. Như thế, chúng ta sẽ mang tất cả những người bạn ra. Và chúng ta đáng lẽ phải nói: “Nga Sô, tránh ra! Trung Cộng tránh ra! Chúng tôi sẽ rời khỏi xứ trong 6 tháng – Nếu Bắc Việt can thiệp, chúng tôi sẽ xoá Hà Nội khỏi bản đồ tức khắc!”

Đáng lẽ chúng ta phải thiết lập tình trạng khẩn cấp, tuyên bố rõ rệt những gì sẽ thực hiện, yêu cầu quan sát viên Nga Sô và Trung Quốc đến để chứng tỏ chúng ta sẽ không quay trở lại. Chúng ta sẽ ra đi, và chúng ta sẽ mang theo các bạn hữu của chúng ta. Chúng ta cần mở những trại định cư tại Mỹ với các tiện nghi tạm cư cho các bạn của chúng ta. Vào thời đệ nhị thế chiến khi xảy ra vụ Nhật-Mỹ, họ dựng trại nhanh lắm. Thế thì chắc chắn họ cũng có thể dựng trại tạm cư rất nhanh cho các bạn của chúng ta vào năm 1975. Nhưng chúng ta đã không làm như vậy. Không ai còn có can đảm quyết định. Không ai muốn chấp nhận trách nhiệm.
Chúng ta đã chờ đợi quá lâu. Đáng lẽ chúng ta không nên để kết cuộc phải xảy ra trên cái nóc nhà khốn nạn của toà Đại sứ Mỹ ở Sàigòn. Đáng lẽ chúng ta có thể chấm dứt tình trạng rối loạn với một vài lời đoan quyết. Nhưng không ai đã nói một lời nào. Và bọn Cộng sản khốn kiếp cười vào mặt chúng ta. Chúng ta đã bị một bọn lùn xủn bu lấy đá vào mắt cá chân. Hy vọng là chúng ta có thể học được đôi điều trong chuyện này.

Tôi đã mất cái khả năng yêu thương tại Việt Nam. Tôi không còn yêu thương, tôi cũng không còn sát sinh được. Tôi không săn bắn, tôi không câu cá, mà tôi cũng không còn sức yêu thương. Khi trở về, họ gọi tôi là anh hùng. Không, tôi không phải là anh hùng. Tôi đâu có tự ý tình nguyện xin ngồi tù cho đến năm năm rưỡi? Tôi chỉ tình nguyện chiến đấu cho xứ sở. Tôi chỉ tình nguyện chiến đấu cho tự do. Tôi đã tình nguyện lái một chiếc máy bay.

Khi mọi sự tan vỡ vào năm 1975, tôi cảm thấy thời gian phục vụ của tôi ở Việt Nam thực là uổng phí. Ngày nay tôi chẳng nằm mộng hay thấy ác mộng gì về chuyện ấy. Tôi không nghĩ gì về Việt Nam nữa. Không, tôi hoàn toàn không nghĩ gì về những chuyện ấy nữa. Mọi phương tiện đối với người Mỹ này đều đã được tận dụng, kể cả việc làm giấy tờ giả mạo.

Độc thoại

caovantam

Tuổi thơ ta một góc vườn Vĩnh Lộc
Bẹ chuối hiên nhà võng nhỏ đu đưa
Bông bụt đỏ xôn xao con dồng dộc
Cánh chuồn bay cao tít những ban trưa
.
Tuổi thơ ta trong khu rừng Cấm nhỏ
Cánh phượng hồng khao khát tiếng ve ran
Chú dế nhỏ ngủ yên trong bờ cỏ
Gió nồm lên con sáo vội sang ngang
.
Ta lớn lên cũng đua đòi chữ nghĩa
Đi làm Thầy dạy học ở Thuận Ninh
Xa lắc xa lơ mái đình Nhơn Nghĩa
Quê mẹ nghèo thao thức gọi bình minh
.
Đã có lúc không nghe lời tường tận
Cũng thị thành ,cũng yêu ghét áo cơm…
Rất này nọ và nhiều khi lỡ vận
Mỏng cánh chuồn – ta mặc áo hình rơm
.
Ta có lúc muốn say mà chẳng được
Bởi em yêu không có ở nơi này
Nâng cốc rượu ta là người say trước
Đợi em về đâu chỉ một đêm nay…

Cao văn tam