BAN MAI MÙA XUÂN

nguyenthikhanhminh

Vốc nắng rửa mặt. Nhựa mùa xuân tràn qua kẽ tay. Róc rách. Những hạt tháng Giêng. Rơi vào tôi. Mảnh vườn mầu mỡ. Mọc tôi mầm thời gian tơ nõn. Nở tôi những cánh hướng dương mang hơi hướm miền cao nguyên xa thẳm.

Hớp chút gió non. Thanh tân tôi dòng suối. Trôi đi. Trôi theo. Nơi tôi phiêu du màu nắng. Ánh mắt ai chớp khẽ bình minh. Lấp lánh những viên cuội trên tay niềm vui thơ dại. Nói với tôi một mùa xuân đang hé mở ban mai.

Hạt nắng nhỏ vừa tách khỏi bóng đêm dài. Ngày nhé xin chậm chậm. Tàng cây ơi đừng quấn quít vòng tay cho bước em đượm thêm mùi sương cỏ cho nụ hoa rất khẽ mùi hương…

Tình yêu năm tháng ơi. Xin đợi. Hạt thóc nhỏ vừa gieo. Cho em biết trái tim đang ươm mầm ấp ủ. Ngày mai kia là hoa quả trần gian. Lời thơ xin cứ hái…

Áo nắng phép mầu mở vườn cổ tích. Nơi chiếc đũa thần vừa gõ vai mùa xuân cả đồng hoa thức dậy. Biến trái đất thành cõi nồng nàn cho những kẻ yêu nhau. Biến tất cả những ước mơ bé con thành sự thật. Sự thật rực rỡ mỗi ngày hát khúc rạng đông. Tình yêu người hồng hào mở mắt. Biến tất cả thành thơ, dưới ánh nhìn mơ mộng của thi sĩ hồn nhiên.

Và anh ơi
Biến tất cả những lời thơ của em thành sợi tơ. Buộc anh dịu dàng trên từng con chữ. Thành con gió thổi chúng ta bay lên. Nơi xanh nhất của ánh sáng ban mai. Nơi anh nói lời yêu em…

Và mùa xuân đã tràn. Tôi đang là một nốt nhạc. Nhảy nhót theo ánh nhìn. Trong tán lá.

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Một phút tự do

elenapucillo

( Nguyên tác : Un istante di liberta’)
Bản dịch của Trương Văn Dân

“ Kính chào bà tiến sĩ De Rossi”
Tôi vừa bước ra thang máy thì một trong các cô thư ký đã mang đến tách cà phê đầu tiên trong ngày. Tôi nói đầu tiên vì sau đó hãy còn nhiều tách nữa, không biết là bao.
Một cô thư ký khác vội chạy đến giúp tôi cởi chiếc áo choàng, còn tôi, bó mình trong chiếc tailleur cực kỳ sang trọng, đi vòng qua phía sau vị trí điều hành, đặt chiếc cặp da có đựng notebook lên bàn làm việc.
Biết bao kẻ muốn được mó tay vào chiếc máy tính cá nhân này! Chỉ cần nhấn vài nút bấm là tất cả những áp phe quan trọng của các công ty lớn, những chuyển dịch hằng triệu đô la trên sàn chứng khoán sẽ tuần tự hiện lên bằng các mã số, để đảm bảo an toàn.
Một cú nhắp chuột… thế là tất cả những kế hoạch chi tiết và toàn bộ hồ sơ tuyệt mật của công ty Intracodex sẽ nằm gọn trong tay tôi. Định bật máy và liếc mắt vào công việc …nhưng mùi cà phê thơm phức đang kích động khứu giác làm tôi dừng lại.
Cầm tách cà phê nóng, tôi bước đến cạnh bức tường và nhìn xuống dòng đời từ tầng thứ 23! Ở trên đây không bao giờ nghe thấy tiếng ồn đô thị và dường như trong không gian luôn có một lớp sương mù nên quang cảnh trông có vẻ lãng đãng, giống như nhìn từ một giấc mơ.
Rồi trong lúc áp môi lên tách cà phê lên tôi bất chợt nhìn thấy bóng mình phản chiếu lên tấm kính.
Tôi đang đứng đối diện với tòa nhà bằng kính. Mái tóc đen và dài, chiếc tailleur trang nhã bó sát người, như thể người thợ may khéo léo ướm xấp vải vào thân mình trước khi đo cắt. Đôi chân khỏe và dài, còn được kéo dài thêm với đôi giày son cao gót. Chuyên nghiệp, quyền hành và nữ tính. Tất cả những vũ khí tối cần cho thế giới này. Thế giới của tôi.

Nhưng nét xanh xao tái nhợt trên khuôn mặt dường như tương phản với đường viền bằng son đỏ trên môi. Hai bờ môi thẳng nếp, mỏng manh mà sắc bén như một lưỡi lam, lạnh lùng như cái nhìn khinh mạn khi tôi quắc mắt. Bỗng dưng tôi không thể nhấm tiếp mùi vị cà phê. Hình như lúc này nó có vị chát của acit.
Phản chiếu trên tấm kính tôi nhìn thấy sau lưng mình cô ba cô thư ký tay cầm xấp hồ sơ đang chờ tôi ký. Cả ba căng thẳng đi qua đi lại sau lưng, hồi hộp chờ tôi quay mặt để trình bày công việc, báo cáo những cú điện thoại, nhắc nhở các cuộc hẹn và chờ tôi ra lệnh…nhưng tôi không thể tách đôi mắt đang nhìn bóng mình trên kính. Tôi không còn nhận ra mình nữa… sao mà tôi có thể biến thành một con người khô cứng và lạnh lùng đến thế?
Mười năm trôi qua như một ánh chớp… và bất thình lình tôi cảm thấy chúng đè nặng lên vai, một con mụ già cáu gắt. A! đúng rồi, đây chính là cái tôi đang nhìn thấy trên kính, một mụ đàn bà khô khốc, khó tính và cáu kỉnh.
Tất cả bắt đầu như một phản ứng.
“ Con sẽ không bao giờ giống mẹ! ” tôi nghe vọng lại tiếng mình hét vào mặt mẹ. Bà yếu đuối, vâng lời, cam chịu, thụ động và chấp nhận mọi thứ… không bao giờ dám phản ứng, ngay cả những lúc ba tôi đối xử với bà bằng bạo lực, trước khi ruồng bỏ. Thế mà bà vẫn nhẫn nhục và chịu đựng. Rồi, không thèm nói một lời, ông lặng lẽ bỏ đi. Bỏ lại bà một thân một mình với nhiều món nợ. Gồm cả giấy cầm cố căn nhà.
Và chỉ vài ngày sau đó mẹ con tôi phải dọn đi.
Và thế là tôi không thể sống giống mẹ mình. Tôi không cần trái tim. Tôi không còn tình cảm. Chỉ lao đầu vào việc học, làm mọi thứ để tích lũy kinh nghiệm, dẫm đạp lên mọi thứ và mọi người. Tôi là mẫu người đàn bà của sự nghiệp, hay đúng hơn là một gã đàn ông trong thân xác một con đàn bà. Bởi vì tôi không còn giới tính, không có tình yêu; dĩ nhiên tôi vẫn có đàn ông, nhưng họ chỉ là những công cụ để tôi sử dụng rồi quên ngay, vì họ không cho tôi được gì mà tôi cũng chẳng để lại cho họ chút gì.
Cho đến lúc ấy tôi chưa bao giờ dừng lại để nhìn thấy mình đã trở thành người như thế nào. Chắc rồi…tôi đang đứng trên đỉnh cao của danh vọng, vị trí cao ngất mà mọi người thèm muốn… nhưng đó thực ra là thứ danh vọng gì? Bao nhiêu người đang cho rằng tôi đang thành đạt.
Đúng rồi, mà “đạt” được gì? Đã bốn mươi tuổi mà tôi không có một mái gia đình, không có một đứa con, chẳng có một ai đó thỉnh thoảng hỏi tôi có khỏe không và quan tâm đến việc tôi có vui vì những công việc của mình không. Không ai cả. Gia đình, thậm chí một người bạn.
Chậm rãi, tôi xoay lưng lại, thật khó nhọc rời hình ảnh của mình trên kiếng. Bàn tay tôi run rẩy khi đặt tách cà phê lên bàn. Bỗng dưng tôi cảm thấy như có một cơn nôn mửa đang trồi lên từ phía dưới.
Tôi đã không muốn sống như mẹ mình, nhẫn nhục, cam chịu…nhưng vì thế mà tôi đã trở thành một bản sao của ba tôi. Tôi hận ông! Thế nhưng bây giờ tôi thấy mình giống ổng, tôi đã cư xử với mọi người giống ổng, có khi còn tệ hơn.
Đối với tôi không còn ai cả, không một người nào, chẳng chút tình cảm…và tiền bạc thực ra chỉ là một phương tiện để tiếp tục dẫm đạp lên người khác.
Lạnh lùng và minh mẫn, tôi mạnh mẽ bước đến chiếc ghế bành bọc da và chễm chệ thả người lên đó trong lúc ba đôi mắt đang hồi hộp nhìn tôi từ phía bên kia bàn giấy.
“Mấy cô nhìn cái gì? Đặt mọi thứ lên bàn đi. Một lát nữa tôi sẽ gọi!”
Tôi nói to, làm cả bọn giật mình.
Ngay lúc đó tôi cũng chẳng nhớ tên của bọn họ là gì. Tôi chỉ muốn ngồi lại, một mình. Tôi mệt mỏi lắm rồi! Trong lúc ấp đầu vào giữa hai tay, bàn tay áp chặt vào mắt để khỏi phải nhìn thấy sự thật đang phản chiếu từ khung kính. Hằng ngàn khuôn mặt, tất cả đều là những góc cạnh của chính mình. Tất cả để cuối cùng chỉ còn lại một mình. Cô độc. Cô độc trong công việc. Cô độc giữa đám đông. Hoàn toàn cô độc. Cố tình cô độc. Rồi, như bất thình lình, cơn nôn mửa vụt biến thành cơn giận dữ, và bằng tất cả sức mạnh, tôi cầm lấy chiếc tách cà phê, ném thẳng vào mặt kính.
Vô ích!
Mặt kính chỉ hơi rạn một chút chứ chẳng hề hấn gì. Đó chỉ là hành động vô ích nhằm giải thoát cơn giận. Thôi, đủ rồi! Tôi thấy mình ngạt thở. Tôi không thể nào tiếp tục ngồi đây.
Phủ vội chiếc áo khoác lên người, tôi cầm chiếc túi xách rồi chạy ào ra thang máy.
Bàn tay run rẩy, tôi nhấn nút đi xuống, im lặng chờ xuống mặt đất, luồn lách giữa dòng người vô danh mà chưa bao giờ tôi muốn thân quen. Ra ngoài thôi, hít chút không khí giữa đất trời mở rộng.
Ánh nắng ngoài đường làm tôi lóa mắt. Một tay che mắt, còn tay kia nắm chặt bâu áo khoác để che cơn gió lạnh vừa ập đến lúc bước ra khỏi cửa. Cho đến lúc đó, đối với tôi chưa bao giờ có nắng, có mưa, có ánh đỏ hoàng hôn hay tiếng cười, giọng khóc.
Máy bay, điện thoại di động, bàn giấy, máy tính…tất cả khô khan, vô cảm…tôi luôn luôn chạy đua với thời gian mà chẳng biết mình đi đâu, ngược lại, hình như chỉ để rời xa thêm cái cuộc đời mà tôi muốn có mà chỉ lúc này tôi mới biết là mình đã đánh mất. Tôi đã sinh ra mà chưa từng sống và lúc này mới đau đớn nhận ra là cả cuộc đời mình trống rỗng và vô ích.
Thiếu chút nữa là tôi bị một chiếc xe hơi đụng phải. Tôi ngơ ngác không biết mình đang làm gì và cứ băng qua đường mà không nhận biết. Nhưng không phải phản xạ đã giúp tôi tránh được tai nạn… mà có một bàn tay vừa nắm cánh tay tôi, giật mạnh. Tôi xoay người theo bản năng để nhìn xem đó là ai.
Một đôi mắt màu hạt dẻ là cái đầu tiên mà tôi nhìn thấy. Nhưng nó không xa lạ với tôi. Đó là đôi mắt của một trong ba cô thư ký…
Sao lại có thể như vậy được?
“ Tôi đây, Lidia đây mà, thưa bà tiến sĩ. Bà theo tôi… chúng ta đến chỗ kia ngồi một lát nhé!”
Như đứa bé, tôi để cô gái kéo mình đến một chiếc băng dài, tâm trạng gần như vui thích vì có một ai đó để ý và quan tâm đến mình.
“ Đây rồi, bà đã đỡ chưa? Có chút nắng nữa. Sau mấy ngày mưa mặt trời sẽ sưởi ấm chúng ta.” Có lẽ tôi chẳng nghe cô ấy nói gì nhưng tôi bắt đầu thấy mình bình tĩnh lại, giọng nói của cô gái làm tôi an tâm.
Cô ta tiếp tục mà dường như tôi không hiểu hết những gì cô ta nói. Điều bất ngờ là những giọt nước mắt bỗng dưng lăn dài xuống má, chảy xuống cằm và tôi phải dùng bàn tay để lau. Lidia vội lấy khăn giấy và nhẹ nhàng chặm mắt cho tôi. “ Bà cứ để tôi lau cho, còn mấy vết đen nằm dưới mắt nữa kìa!”. Lâu lắm rồi chẳng còn ai để ý và chăm sóc tôi. “ Bây giờ đỡ rồi đấy. Đi! Chúng ta phải về lại văn phòng …”
Tôi vùng vẫy, cố gỡ bàn tay của cô gái đang nắm chặt lấy cánh tay mình.
Cô ta giữ lại trong khi tôi cố vùng ra để trốn chạy, thật xa cái tòa tháp mạ vàng lâu nay cứ làm mình ngộp thở.
“ Mình đi lên nhé… còn bao nhiêu việc phải làm. Bao nhiêu hồ sơ đang chờ bà ký….Bà chưa thể bỏ đi được đâu…”
Bàn tay thép của cô gái như đang siết chặt hơn. Lidia kéo tôi, và từng bước chúng tôi bước vào cửa tháp, bên trong những bức tường bằng kính và tôi như không còn sinh lực, cứ để mặc cho cô ta kéo mình vào bên trong nhà ngục.

Elena Pucillo Truong

” CHỈ CÓ ANH VÀ EM, CÙNG TÌNH YÊU Ở LẠI”

thuyvi

Hai câu thơ của Xuân Quỳnh, tôi ngắt ra làm tựa cho bài viết này, thật đúng với hoàn cảnh của những cặp vợ chồng lớn tuổi như chúng ta, khi những đứa con đủ lông cánh đã bay đi…

Cũng sẽ có không ít người sẽ hứ… “Già tình yêu nỗi gì?!” Sao không? Hãy nghe nhà văn André Maurois nói :
“Tại sao chỉ vì tuổi tác mà ngăn cản tình cảm chân chính của con người? Người già yêu nhau là lố bịch sao? Chỉ lố bịch khi họ quên mất rằng họ là những người già? Đẹp lắm chứ, một đôi vợ chồng già yêu nhau chân tình. Mỗi người thấy lại như xưa những điều đẹp đẽ mà họ đã say mê ở nhau lúc trẻ. Hơn thế nữa, sau những cơn bão tố, tình già lại trở nên đằm thắm, trang nghiêm, mang một hương vị mộc mạc, chân chất. Bất đồng biến mất, dục vọng bồng bột không còn, lòng ghen tuông cũng hết. Cuộc đời lứa đôi như những dòng sông, đầu nguồn nhiều ghềnh thác, càng ra biển càng trở nên hiền hòa, trong trẻo… Tình yêu của người già có sự trong sáng của tình bạn, lại có sự chăm sóc nhau nồng ấm…”

Tận hưởng những giờ phút bên nhau có nghĩa là cùng đồng cảm, cùng bắt chung một nhịp điệu, là tri kỷ, hiểu thấu nhau mọi chuyện như Saint Exupery định nghĩa: là cùng nhìn về một hướng.
Theo tôi chúng ta đã quá dễ dãi với mình, quá hời hợt với những cảm xúc của người bạn đời, vì thế, giờ trong nhà, chỉ còn hai người mà oái ăm lại “đồng sàng dị mộng”….Không thể nào hiểu, vì cứ hễ mở miệng ra thì y như rằng ông nói gà, bà hiểu vịt…
Như người bạn của tôi, hai vợ chồng nghĩ rằng họ “khắc khẩu” cho nên người chồng ngoài giờ đi làm, thời gian còn lại thì hầu như ông nhốt mình dưới basement làm bạn với cái computer. Nếu bạn bè thắc mắc, ông lắc đầu nói như rên – vì ông chỉ muốn êm nhà, tránh cãi cọ thậm vô lý của vợ.
Người vợ thì nghĩ mình bị bỏ bê, cứ ấm ức, hễ có ai nhắc tới thì bà hằn học đắng cay “mê cái máy thiếu điều ôm nó luôn mà ngủ! ”
Tuy ông chưa ngủ chung với cái computer, nhưng ông khá thoải mái, có lần ông than “ mấy bà… càng già, càng nói nhiều, nói dai, cái gì cũng nói..”

Rõ ràng là cặp vợ chồng này rất thương nhau, nên đã sống với nhau tới ngày hôm nay. Nhưng vì họ không biết cách diễn đạt tình cảm của mình cho người hôn phối hiểu để được tương giao thông cảm, hoặc là họ không chịu hiểu đối phương muốn gì để chia sẻ và an ủi…
Vì thế, tuy chung nhà, hai người thường nhìn nhau với đôi mắt không gì vui lắm.

Người đàn ông, tâm sinh lý họ khác biệt với phụ nữ, ngoài ra cách làm việc của họ cũng khác phụ nữ. Bởi vì do sự cấu trúc bộ não của người nam và người nữ khác nhau, vì thế người phụ nữ có thể làm nhiều việc cùng một lúc như vừa nấu ăn, vừa trông con, vừa có thể… coi phim bộ. Nhưng người đàn ông thì không thể được như vậy, thường khi làm việc gì thì họ rất chăm chú tập trung vào công việc đó (có lẽ nhờ sự tập trung cao độ, cho nên thường thì người đàn ông thành công thì thành công lẫy lừng hơn người phụ nữ, thí dụ như những người đứng đầu trong kỹ thuật nấu ăn, thời trang…vẫn là đàn ông).
Vì lẽ đó, người đàn ông khi đang làm việc, họ rất khó chịu bị ai đó quấy rầy. Những lúc thế này, ta cứ mặc kệ họ, cứ lẳng lặng tránh xa ra, ý tứ dành cho họ một khoảng không gian êm ả và tôn trọng thế giới riêng ấy.
Chắc chắn người chồng sẽ biết ơn vợ, có khi họ không nói ra, nhưng ánh mắt đã cho chúng ta thấy ngoài tình yêu chồng vợ, trong đó còn có lòng tương cậy.

Chúng ta không phải chỉ nuôi ngọn lửa tịch mịch. Dĩ nhiên, chúng ta không sống với những chuỗi ngày vô vị trong đời sống chỉ có hai người. Người vợ chúng ta phải luôn tự đổi mới, chỉ cái mới, mới có sức thu hút, chỉ có cái mới làm ta hôm nay khác với hôm qua. Điều này không có gì bí hiểm, ai cũng có thể hiểu nhưng lại có quá ít người vợ chịu tự thay đổi. Đó là bi kịch, một bi kịch phải chịu đựng nhau.
Tôi cứ thắc mắc tại sao nhiều người vợ không chịu khơi động bằng cách rủ chồng cùng nhảy với nhau một bản nhạc vui. Hay cùng ê a hát với nhau bản tình ca kỷ niệm nào đó. Hay cùng nhau đi loanh quanh uống café – lúc này, sao không ôm tay của chồng, vợ chồng tay trong tay mà đi. Hay kể lại một chuyện vui, rồi cười như cách hồi trẻ thơ đùa giỡn. Hay khôi hài tếu táo với nhau và cười thật sảng khoái. Hay cùng nhau trong những chuyến viễn du, đến những chân trời mới. Nhớ, phải tận hưởng cho thỏa thích những cảnh đẹp đường xa xứ lạ. Hay cùng nhau bàn luận tin tức thời sự, những gì sự kiện gì đó trên TV. Hay cùng nhau tham gia với các tổ chức của hội đoàn, các đoàn thể tôn giáo. Hay cùng nhau làm việc với nhau trong những công tác xã hội, cộng đồng.. Chồng thích gì thì hãy để chồng hào hứng ….
… Hãy lợi dụng những dịp này, nắm lấy bàn tay của chồng, nói lời cám ơn, hoặc hôn trên trán ông, trên tóc ông, như ngầm nói rằng “chàng của ta” là số một !

Chúng ta hãy tận hưởng những thời khắc bên nhau, vì đây là thời khắc không còn áp lực của đời sống. Hãy tự tỏa sáng bằng cách riêng của mình,

Người vợ già của ông họa sư danh tiếng đời nhà Nguyên tên Trần Mạnh Phủ, khi thấy ông muốn cưới thiếp, bà bèn viết mấy câu thơ:

…Lấy một nắm đất sét,
Nặn thành hình anh,
Đắp thành hình em.
Rồi đập phá cả hai, nhào chung lại.
Lại nắn thành hình anh
Lại đắp thành hình em.
Trong chất đất của em có anh
Trong chất đất của anh có em…

thụyvi

KHÔNG CÓ GÌ…

tonphong

Ném mình
vào cuộc mênh mông
Trước mênh mông thấy
mình không là gì…

Gọi người
gió xóa tên đi
Tôi gọi tôi
với thầm thì tôi thôi…

Gọi trăng
trăng bận luân hồi
Thì tôi gọi núi
về ngồi bên sông.

Gọi trời tát cạn mênh mông
Để tôi ngồi lại…chờ không có gì…

TÔN PHONG

Sắp Tới Lễ Tình Yêu

 

tranvanle

Sắp tới Lễ Tình Yêu
Tôi hỏi nhỏ nắng chiều:
“Tại sao chiều nắng tím?”
Chiều làm thinh. Buồn hiu!

Rồi một ngày sắp hết
Hoàng hôn như khăn voan
Choàng trên vai ai đó
Tím nhạt rồi tím than…

Bắt đầu nghe tiếng dế
Trong bụi cỏ lùm cây
Nhớ thuở mình tuổi trẻ
Lễ Tình Yêu nhớ ai…

Thuở đó tôi đầu núi
Người ta thì đầu sông
Núi sông cờ quan ải
Gió bay chiều mênh mông…

Thuở đó hoa đào nở
Thì biết Xuân đã về
Lại nhớ mình có hứa
Về chải em tóc thề…

Valentine cài cửa
Bó hoa hồng chúc đầu
Những búp hoa héo úa
Thơ nghẹn ngào từng câu…

Nắng buổi chiều màu tím
Kỷ niệm bốn mươi năm
Ai cài em cái yếm?
Ai nói em là Trăng?

Trăng có đêm màu tím
Như nắng chiều hồi chiều
Tôi biết mình sắp nói:
“Sắp tới Lễ Tình Yêu!”

Trần Vấn Lệ

Ngày Valentine

tranthitrucha

Ngày 14/2 năm đó, chàng chở tôi và cô con gái cưng ngồi vắt trước thùng xăng trên chiếc xe 67, chiếc xe mà mẹ chàng đã cắc ca cắc củm mua cho con trai khi chàng đậu tú tài còn mới căng, nguyên thùng.
Ngôi nhà thời thơ ấu mấy anh em chung sống đã có thêm hai bà chị dâu, một ông rễ là chàng và một bầy con nít lau nhau…Là con gái, tôi biết thân biết phận nên lo…biến trước. Vậy là phải tìm mua một căn nhà nhỏ, bao nhiêu vòng vàng nhẩn cưới bán sạch vẫn không đủ nên đành phải bán chiếc xe.
Chàng đã rất buồn!…có lẽ đó là vật kỉ niệm đã gắn liền với tình yêu của mẹ chàng.
Bây giờ thấy ai đi chiếc xe 67 trên phố chàng cứ nhìn chăm chăm vào bảng số xe và lẩm bẩm: ” không biết chiếc xe của mình đã trôi dạt về đâu?”.
Lan man về chiếc xe tôi quên mất chuyện ngày Valentine đang kể cho các bạn nghe, thời gian này sao tôi bị bệnh lãng đãng giống y chang mẹ tôi.

Trời buổi chiều trong tháng giêng âm lịch thật dịu dàng, sương mênh mang trắng mờ bờ sông Hàn, những đôi trai gái đang tự tình bên nhau trong ngày lễ tình nhân trong gió xuân se sắt. Tự nhiên sao tôi lại nhớ thời con gái của mình da diết…Tôi nói nhỏ với chàng:
Anh à, mua cho em một bông hồng vàng được không?
Hôm nay hoa hồng chắc đắt lắm em….Thôi để tiền mai anh chở hai mẹ con đi ăn bún bò.

Trớt qướt!…Tôi nhớ lúc đó hình như tôi đã rất buồn chàng, người gì đâu mà khô như …rơm. Nhưng bây giờ nghĩ lại tôi thấy buồn cười. Thời bao cấp khó khăn, thức ăn trên mâm cơm nhà tôi chỉ có rau muống và cá nục, có khi chỉ có nước mắm, rau muống vừa luộc vừa xào, vừa làm canh, con gái tôi sinh thiếu tháng, thiếu sữa gầy như que kem. Thức ăn buổi sáng của chúng tôi là cơm nguội, khoai sắn, sang lắm là bún nước mắm ớt tỏi có chút dầu phụng khử hành…Những chiếc áo dài thời con gái, tôi tự cắt ra, chắp vá đủ kiểu thành những bộ áo đầm xinh xắn cho con gái bằng kim may tay…Ngoài giờ lên lớp, tôi nhận len về đan thuê kiếm thêm tiền, thấy người ta nuôi heo tôi cũng bắt chước nuôi heo bằng hai miếng tôn cong ngăn lại , tạm bợ, trời mưa lạnh heo kêu eng éc suốt đêm, tôi sợ khủng khiếp, không phải sợ …heo, mà sợ làm phiền hàng xóm mất ngủ.

Điều tôi sợ nhất thời đó là xếp hàng mua tem phiếu, tôi không biết mình bị bệnh gì mà cứ tới chỗ đông người chen lấn là không thở được và…ngất. Có lần trong lúc biết mình sắp ngất tôi giao hết tem phiếu cho một chị phụ nữ đứng gần và nói với chị ” Chị ơi, chị mua dùm em nghe, em không thở được, em ra ngoài kia ngồi chờ chị”. Và tôi ra một gốc cây ngồi gục mặt trên đầu gối chờ cho cơn khó thở đi qua…
Đến khi ngẩng mặt lên thì chị ấy đã biến đâu mất biệt…

Tôi lủi thủi đi về, vừa buồn vừa sợ chàng nên khóc lóc, kể lể thảm thiết, chờ chàng mắng cho một trận vì cái tội …ngu. Nhưng chàng chẳng trách móc gì, chỉ nói một câu gọn lỏn :
Thôi kệ, tháng này chấp nhận ăn rau muống …

Vậy đó…mà tôi đòi mua hoa hồng trong ngày valentine…thay vì hoa hồng là bún bò cho con gái tôi đỡ ăn cơm nguội một buổi sáng. Chàng đúng hay sai?!..Và Tôi lãng mạn hay hay lãng xẹt? !…..

Trần thị Trúc Hạ

LÁ THƯ TỪ QUÂN Y VIỆN

* Để tưởng nhớ Nguyễn Xích Hùng, bạn tôi.phamlehuy

Quân Y Viện… , ngày… tháng… năm 197…

Ngọc Lan thương nhớ,

Lần em ra thăm anh gần đây nhứt, tính đến nay đã hơn một tháng dài rồi. Ngày tháng nằm ở bệnh viện sao mà dài đằng đẵng quá em ơi. Vậy là trong bộ đồng phục xanh xám của Quân Y Viện, anh nằm ở đây đã bốn tháng rồi đó, khiếp thiệt ! Thế mà so với những ngày anh về phép với em thì nó lại qua cái vèo.

Nhớ lần đầu em đến thăm anh tại giường bệnh, em đã khóc ngất lên khi ôm đôi chân quấn đầy băng trắng của anh. Không biết nói sao, anh nằm yên mà nghe em khóc, và anh cũng khóc thầm theo. Tiếng khóc em như nói với anh là em yêu anh lắm, nhứt là vào lúc này. Qua tiếng khóc rấm rức, giọng em thiết tha “Mình sẽ là mãi mãi của nhau… của nhau… nghen anh !” – Anh nghẹn lời “Cám ơn em… Cám… cám ơn… em nhiều… nhiều lắm ! Anh yêu em lắm…Yêu em lắm…Ngọc Lan ơi… !”.

Thế rồi chúng mình im lặng bên nhau rất lâu, cái im lặng không nặng nề mà sâu lắng vô cùng, im lặng mà nói với nhau rất nhiều. Anh chợt nghĩ chúng mình đang có cùng một tâm một ý với nhau, phải vậy không em !?

Khi chia tay, anh thắt tặng em hai con hạc giấy bằng trang bìa nhiều màu xé ra từ cuốn báo Chiến Sĩ Cộng Hòa – con lớn là anh con nhỏ là em. Đôi hạc ấy có còn tươi tắn không em ? Ở cuối giường anh nằm, trên giá treo mùng, cũng có hai con hạc giấy giống như thế đang đong đưa trong làn gió thoảng từ cái quạt trần. Ngắm chúng đong đưa bay lượn anh thấy lòng mình vui vui thơ thới… Rồi anh lại nhớ tới em. À… Những lần hành quân qua làng anh vẫn thường hay thắt hạc giấy cho mấy em bé trong làng đó em.

* * *
Anh đã kể em nghe rồi đó. Đêm đó, anh bị vướng trái mìn claymore do địch gài trên lối vào sào huyệt của chúng. Thoạt đầu, tai anh nghe “Tưng… !” một tiếng thiệt khô và gọn do tiếng nổ quá gần nên màng nhĩ căng ra, anh thấy hằng ngàn hằng vạn ngôi sao bay chấp chới trước mặt. Anh cảm thấy hai chân mình âm ấm rồi nóng dần, anh khụy xuống, thiếp đi. Khi tỉnh dậy mới hay mình đang nằm ở Trạm Xá Trung Đoàn. Cặp chân đau nhức, gần như tê hẵn đi. Vết thương tương đối nặng nên quân y chuyển anh lên Bệnh Viện Sư Đoàn. Mặt trận ngày càng đánh lớn, thương binh chuyển về đây ngày càng nhiều nên họ lại chuyển tiếp anh về Quân Y Viện này. Kết quả chụp X – quang cho biết hai chân anh không bị gãy nát xương, chỉ toét phần thịt, bị nhiễm trùng nặng, sưng tấy lên và bọc nhiều mủ thôi.

Nghĩ lại, cũng may, nhờ đứng hơi gần trái mìn, góc tạt của nó thấp nên mấy chục viên bi sát thương đó chỉ găm từ bắp vế anh trở xuống thôi, nếu đứng xa hơn trong tầm góc tạt cao tới ngực tới đầu thì anh đã… ngủ yên với giun dế rồi. Còn Trung Úy Hòa – bạn học cũ của anh hồi ở Đại Học Khoa Học, lớp Toán Đại Cương – thì trước đó, ngay chiều hôm đó nó đạp trúng quả mìn con cóc nên bị cụt mất chân phải từ bắp đùi – “Thôi… Đừng kể nữa anh… Em sợ lắm ! ” – “Ừ… Thì thôi… Anh không kể nữa ! Mà em cũng đừng khóc nữa… Khóc nữa anh đau lòng lắm. Can đảm lên em !”.

Em biết không, cả tháng nay anh tập co duỗi đôi chân để khỏi bị cứng đơ rồi sẽ thành tật, không đi đứng được. Bác sĩ nói mỗi lần tập phải rán đau thêm một chút thì mới mau bình phục. Có lúc anh phải rướm nước mắt vì rán sức và đau quá đó em. Bây giờ thì anh đang tập đi bằng đôi nạng gỗ. Anh đã đi được một nửa chiều dài của căn phòng này rồi, mồ hôi trán vã ra, tim nhồi dồn dập vì mệt, nhưng anh mừng lắm, em à ! Thằng Hòa cụt chân nằm cạnh đó, thấy anh đi được nó mừng quá, khóc òa lên. Có lẽ nó cũng vừa chợt nhớ đến cái chân phải của nó bị bỏ lại ngoài chiến trường. Nó mếu máo cười to lên như điên, nói “Ha ha… ! Hùng ơi ! Tao bây giờ là bại tướng cụt chân rồi. Ha ha… ! Tao là bại tướng cụt chân rồi ! Hùng ơi !”. Rồi nó vịn thành giường lảo đảo gượng đứng dậy, hát

… Anh trở về nhìn nhau xa lạ,
anh trở về dang dở đời em.
Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen,
cố quên đi một lời trăn trối… Em ơi… !
(Kỷ Vật Cho Em – Linh Phương – Phạm Duy)

Em có cảm nhận được điều này không, khi một bại tướng cụt chân thứ thiệt cất tiếng hát bài này bằng chính con tim của mình thì sẽ xuất thần hơn và hay hơn bất cứ một danh ca nào khác trên trái đất này. Trung Úy Hòa bây giờ là thế đấy, em à ! Anh chợt rùng mình, quăng cặp nạng, nhào tới ôm chầm lấy nó, nói trong cơn xúc động “Hòa… Hòa… ! Tao đây… Hùng đây… ! Tao sẽ không tập… sẽ không tập… đi nữa!”. Nó tát vào mặt anh, mắng “Đồ ngu… Mày là thằng ngu… ! Thế còn Ngọc Lan của mày, mày bỏ cho… chó nó gặm à… !” — xin lỗi em, vì quá xúc động nên nó nói bậy như thế — “Hùng… Mày còn nước còn tát. Còn tao… Tao hết nước rồi… Tao hết nước rồi ! Đây nè… Mày thấy rõ chưa… !”.

Bên giường đối diện với anh, Thiếu Úy Bình Địa Phương Quân nằm đó với cánh tay phải cụt tới cùi chỏ. Có lẽ anh ta vô đây trước anh, quen rồi nên trông tỉnh lắm. Bình hay hát bài này mà anh nghe dường như nó đang nói với ai

Xếp áo thư sinh
vui bước đăng trình mười sáu tròn trăng
… … …
Nhưng em ơi…
Khi non nước đang còn mịt mờ bên phương nớ
chuyện đó đừng mơ…
(Mười Sáu Trăng Tròn – Trần Thiện Thanh)

Tuần qua, ông Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn cùng thuộc cấp và mấy em học sinh trong thị xã đến Quân Y Viện thăm và ủy lạo thương bệnh binh.

Cũng như các thương binh khác, anh được Tướng Tư Lệnh thay mặt Chính Phủ và Quân Đội gắn lên ngực mình tấm huy chương Chiến Thương Bội Tinh. Tay nâng niu tấm huy chương anh nghe mặt mình nóng rang lên.

Các em học sinh đến tận từng giường bọn anh mà thăm hỏi an ủi cám ơn tặng quà và hát cho bọn anh nghe.

Phái đoàn ủy lạo đã khóc khi Trung Úy Hòa cất tiếng hát bài Kỷ Vật Cho Em, một bài hát đã nói lên hết tâm sự của nó.

Đến bên giường anh là một nữ sinh có nét hao hao giống em – cũng có mái tóc dài dợn sóng như em, cũng thắt bando màu xanh lá cây như em – là màu xanh của hy vọng và của thanh bình như em thường nói với anh đó. Anh yêu cầu cô ấy hát bài này mà có lần anh đã hát cho em nghe

Rồi có một ngày,
sẽ một ngày chinh chiến tàn
Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi
ngoài con tim héo em ơi !
… … …
Anh xúc động hát theo

Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm
Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn
Bạn anh đó đang say ngủ yên
Xin cám ơn ! Xin cám ơn ! Người nằm xuống
… … …
(Một Mai Giã Từ Vũ Khí – Ngân Khánh)

Ở cạnh giường bên kia, giữa hai học sinh một nam một nữ, Thiếu Úy Bình đứng nghiêm, áp sát cùi chỏ của cánh tay cụt vào màng tang mình trong tư thế chào Quốc Kỳ, rồi hát, giọng hát nó nghe thiệt hùng tráng

Này công dân ơi… Quốc Gia đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống
… … …
Công dân ơi… Mau hiến thân dưới cờ
Công dân ơi…

Rồi nó nghẹn lời, giọng lạc đi, từ hai hốc mắt trủng sâu của nó hai hàng nước mắt chảy dài xuống trên đôi má hóp của mình. Mọi người lại rơi nước mắt theo.

Em nè… Anh sẽ tập đi nhiều cho thiệt vững mà không thấy mệt. Khi ấy anh sẽ nhắn em vô, rồi mình sẽ đi dạo biển với nhau bên đôi nạng gỗ của anh. Biển ở đây đẹp lắm em ơi… Có nắng vàng cát trắng… Có sóng xanh gió mát thổi vi vu qua rặng dương liễu xanh rì… Và còn có nhiều thứ lắm cho mình vui vầy hạnh phúc bên nhau đó em.

Thôi nha, lâu ngày cầm lại cây viết anh mỏi tay lắm rồi.

Vẫn là lời chúc em luôn vui vẻ bình an.

Anh của em,
Xích Hùng

PHẠM LÊ HUY

CÓ GÌ TRONG CÕI HƯ KHÔNG ?

hochibuu

Hương nào trong gió thoáng bay
Ngất ngây một chút mà say đắng lòng
Có gì trong cõi hư không ?
Mùa Xuân một chút nắng hồng nhạt phai

Ta còn đây chén rượu cay
Cạn cho quên hết một ngày..lẻ loi
Nắng chiều, một vệt vàng soi
Hoàng hôn chưa đến đã đòi bình minh

Thương ta- Cái gã chung tình
Yêu chi mà để một mình. Nỗi đau,
Thấm sâu trong những tế bào
Thấm trong vô tận – Thấm vào thiên thu

Cõi người- Một giấc phù du
Cõi đời – Ta sống mà cưu mang tình
Nhủ thầm- Thôi, kiếp phù sinh
Thoáng qua, nhưng đọng chút tình ngàn năm.

Và rồi..nỗi nhớ xa xăm
Trở về khuấy động gọi thầm tên ai
Đã từng xây một lâu đài
Đã từng ân ái những ngày vàng son

Tỉnh ra- tình chết héo hon
Tỉnh ra mới biết mình còn dỡ dang
Tình ru một chút muộn màng
Dù cho cuối nẻo ngày tàn lặng rơi

Vỗ về – Tôi ơi- tôi ơi
Cười lên một chút cho đời thêm vui
Cạn rồi- một chén ngậm ngùi
Đập tan đại mộng- Ngủ vùi trăm năm…

HỒ CHÍ BỬU

MILANO – SÀI GÒN: ĐANG VỀ HAY SANG?

truongvandan

1-
Mới chỉ 6 giờ mà may bay đã hạ cánh! Theo hành trình, tôi sẽ đến phi trường Malpensa vào lúc 6h35 sáng. Qatar là một hãng máy bay mà từ nhiều năm nay lúc nào cũng đến sớm hơn giờ ấn định. Elena đã có mặt. Nàng đã về Ý truớc tôi hai tuần, để có thể có thời gian quây quần với người thân lâu hơn; sáng đó nàng đã thức từ 4h để chuẩn bị đón tôi từ VN sang.
Tối hôm trước tôi đã nói với các cháu ra tiễn ở sân bay Tân sơn Nhất: Chú (cậu) là người đàn ông may mắn, đi người đưa, đến người đón. Người khổ nhất là Elena, lúc nào cũng cô độc, thui thủi, việc gì cũng phải tự lo, thế mà luôn ân cần và vui vẻ, lúc nào cũng muốn mọi người xung quanh được chăm sóc một cách chu đáo.
Niềm vui của Elena là cho đi chứ không phải nhận lại.
Nhiều lúc tôi nghĩ là cô ta còn “nợ” tôi từ tiền kiếp. Và kiếp này “phải” trả.
Và cô ta đang sẵn lòng “trả nợ”.
Tự chấp nhận và biến mình thành “con nợ truyền kiếp”. Với niềm vui.
2-
Trên con đường từ sân bay về thành phố Milano, những hàng cây bên đường lá xanh mơn mởn: Elena cho biết là mấy ngày trước có vài cơn mưa, rửa sạch bụi. Nhờ thế nên màu xanh của lá còn xanh hơn, thật khác với những tán lá vàng nâu của thành phố Sài Gòn, lúc nào cũng đầy khói, bụi vì xây dựng và đào bới.
Có lẽ nhờ cơn mưa bất chợt mấy ngày trước đó nên cuối tháng 5 mà trời vẫn còn mát mẻ như mùa Xuân.
Con đường 3 làn rộng rãi, quang đãng, xe chạy bon bon hoàn toàn khác với cảnh hỗn loạn, chen lấn từng thước đất, tranh nhau nửa vành bánh xe ở nơi tôi vừa bỏ lại.

3-
Con đường thẳng tắp. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã rời xa lộ. Xe rẽ vào đường làng. Thành phố chưa thức giấc nên có ít người qua lại. Sự xô bồ của đời sống Tây phương vẫn còn đang ngái ngủ, làm tôi cảm thấy như mình đang hòa vào một dòng sống khác.
Chỉ ít phút nữa là tôi sẽ về đến nhà. Nhà. Nhưng đây là đâu? Là Milano, nơi tôi đã từng sống 40 năm, sao mà xa lạ, chỉ sau một năm xa cách. Liệu đây có phải là lần cuối cùng tôi quay lại thành phố này, trước quyết định sẽ không, hay còn rất ít lần quay lại?

4-
Lúc Elena đậu xe, tôi nhìn thấy những chú sóc nhanh lẹ nhảy nhót trên thảm cỏ trong vườn. Chợt nhớ những buổi sáng mùa Xuân ngồi uống cà phê ở ban công trên tầng 3, tầng cao nhất ở căn nhà Cassina de Pecchi này. Bầu trời rộng mở. Không có những cao ốc che mất tầm nhìn. Những hàng cây xanh lá mướt. Chim chóc bay lượn, ca hát líu lo. Tôi thường nhìn những cụm mây trắng trên nền trời xanh. Thỉnh thoảng có vài cánh chim lao vút ra vườn. Và tiếng quạ kêu quang quác trong không gian yên tĩnh. Các chú quạ hay làm tổ trên cây thông thật cao gần đó nên nhiều khi đáp xuống trục antene trên nóc nhà đối diện làm chúng rung rinh.
Cây betulla (bouleau) trước nhà lúc này cành lá rất xanh. Đỉnh của nó chỉ cao hơn sàn nhà tôi chừng hơn 1 mét, cành xa bờ chưa đầy 2 mét, nên những buổi sáng mùa đông, cầm tách cà phê nóng trên tay, tôi thường đứng trên ban công nhìn tuyết đang tan hay những bụi sương theo cành trụi lá chạy xuống, nhưng đến cuối ngọn thì dừng lại, đọng thành giọt mà chưa đủ sức nặng để rơi; đong đưa treo mình như hạt ngọc. Nó kiên nhẫn chờ đợi, lung linh phản chiếu tia nắng như một lăng kính, mãi đến khi những bụi nước li ti khác hoà nhập, hạt nặng hơn, lúc đó mới gieo mình rơi xuống, hòa với lớp tuyết đang tan nằm dưới gốc cây.
Bước vào nhà, Elena thao thao nói chuyện mà tôi chỉ nghe tiếng được tiếng không. Đầu óc tôi đang “tơ tưởng” về mấy quyển sách đang nằm trong túi xách. Đó là 3 quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, bản thảo vi tính mà anh Nguyên Minh đã in ở VN để tôi đem qua đây tặng bạn. Sách in thử mà rất đẹp. Tôi sẽ dành riêng cho: Thiện (Paris), Vũ (Milano) và chị Huỳnh Ngọc Nga (Torino), chị bạn văn duy nhất của tôi ở Ý…
Đầu óc tôi còn đang mơ mơ màng màng về hành trình văn học của mình, về “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, tiểu thuyết đầu tay mà đã được công ty văn hoá Phương Nam ký hợp đồng để mua tác quyền 5 năm và sẽ in trong năm nay (nxb Hội nhà văn-2011).
Khi còn ở Ý và viết “Hành trang ngày trở lại” ( nxb trẻ, 2007) tôi đã xem Việt nam là nơi trú ẩn an toàn sau những bon chen của xã hội Tây Phương.
Còn khi đi về để viết “Bàn tay nhỏ dưới mưa”… thì xã hội Việt Nam đã như xã hội Tây Phương. Đã và đang bị Tây Phương hoá.
Thời gian chẳng bao lâu mà thay đổi quá nhiều.
Tôi đã mệt mỏi với những xô bồ. Cần sống chậm lại. Đó có thể là cách kìm hãm sự thao túng của kỹ thuật lên văn hoá, văn minh và thiên nhiên. Những chiêm nghiệm và bức xúc đó, phần nào đã tuôn trào, rơi trên mặt giấy và biến thành những con chữ.
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” vì thế đã được lồng trong bối cảnh xã hội mà tôi chứng kiến và đối chiếu, từ bên này hay bên kia trong các chuyến đi về. Thế nhưng câu chuyện của người đàn bà tuổi bốn mươi mới gặp được “một nửa” của mình có điểm xuất phát từ đâu? Vì sao chỉ sau 3 năm hạnh phúc nàng đã phải đối diện với căn bệnh nan y và nhìn lại toàn bộ đời mình, rồi cuối cùng tự hỏi, ta là ai?
Vậy Gấm là ai?
Hai năm trước, khi đọc bản thảo đầu tiên trong lần họp mặt ở Thân Trọng điền trang – (Đà Lạt), nhà văn Lữ Kiều (bác sĩ Thân Trọng Minh) và nhà văn Khuất Đẩu, cũng đều hỏi tôi câu hỏi đó.
Nhưng tôi im lặng. Không hiểu vì sao mình lại “thai nghén” nó !

5-
Nghỉ một hôm vì chênh lệch giờ giấc, sáng hôm sau chúng tôi đi thăm ba của Elena bị bệnh. Sau trận tai biến, gần một năm ông phải ngồi xe lăn và nói chuyện rất khó khăn. Elena rất buồn vì có lúc phải áp sát tai mà vẫn rất khó hiểu những lời phì phào của ông. May có bà dì Fiore chăm sóc và một nữ y tá đến theo dõi tình hình và chích thuốc vào mỗi sáng.
Buổi chiều, khi chúng tôi đang trên đường về nhà thì Giuseppe gọi điện mời đến nhà. Tôi hẹn bạn sáng hôm sau.
Chúng tôi ngồi với nhau dưới mái hiên nhà bạn. Cũng hơn năm rồi rồi tôi và Giuseppe mới gặp lại nhau, kẻ thì bận áo cơm, người ngược xuôi lăn lộn. Chuyện cũ, chuyện mới cứ tự nhiên ộc ra như suối. Giuseppe từng là một kẻ rất… rất giang hồ. Nhưng ở anh, có tấm lòng với anh em huynh đệ thật chí nghĩa chí tình.Từng hoạt động trong phong trào thiên tả, rồi về sau hụt hẫng. Quen nhau từ khi tôi mới qua Ý và học cùng phân khoa Hoá và Công Nghệ Dược. Lúc đó anh hoạt động trong phong trào sinh viên.Tôi còn nhớ có lần đi biểu tình chống Mỹ can thiệp ở Việt nam, khi về ngang qua khu San Babila, tay anh cầm cờ mặt trận nên bị bọn phát xít nơi đây vây đánh đến chảy máu mũi rồi bỏ chạy trước khi cảnh sát ập đến.
Năm tháng đi qua, lý tưởng ngày xưa chỉ còn là kỷ niệm. Sau bao chìm nổi, giờ anh là một quan chức cấp cao của tập đoàn dược phẩm Bayer (Đức). Lên cao, lại chán trò đấu đá tranh giành quyền lợi trong công ty, anh thu mình, tìm lối thoát và trở thành chủ tịch một câu lạc bộ đọc sách. Biết tôi viết và dịch, anh ân cần mời tôi một tối đến tham dự một buổi họp mặt của các thành viên trong nhóm.Tôi và Elena vui vẻ nhận lời.

6-
Buổi sáng, trời mát mẻ. Tôi và Elena đến nghĩa trang thăm mộ mẹ nàng. Gọi là “mộ” nhưng thực ra đây là một hộc nhỏ trên tường, trong đó lưu giữ tro than của bà. Cuộc đời thật lạ. Chúng tôi sống với nhau những ngày đáng nhớ và từ “lúc ấy” không còn gặp nhau lần nữa. Sống chết là quy luật nhưng đây đó vẫn còn có bao người đang sống như mình sẽ không bao giờ chết.
Elena cẩn thận lau bụi trước khung ảnh của bà rồi thắp một nén nhang. Chấp tay đứng gần bên, tôi nhìn vợ mình đã bị “Việt hoá” như thế nào. Tàn nhang, chúng tôi dạo bước ra về.
Nghĩa trang vắng vẻ.
Vài chiếc lá rơi, lìa cành nhánh khẳng khiu, buồn đến ngậm ngùi…
Khi bước vào xe, đột ngột Elena bảo : Mình về và bắt đầu dọn nhà là vừa. Phải chuẩn bị nhà trống để cho thuê và có thể lần tới quay về Ý mình không còn được ở căn nhà này nữa.
Tôi bàng hoàng. Dù đã chuẩn bị tinh thần từ trước khi về lại Ý trong chuyến đi này… nhưng tôi vẫn không tránh khỏi bất ngờ.
Thế là bắt đầu một cuộc ném đồ đạc. Băng cassette. Video phim ảnh. Báo chí.Tài liệu. Các vật dụng… mỗi lần vứt bỏ là một nhát dao cắt vào da thịt.
Bốn mươi năm tôi đã sống ở đây, đã thay đổi chỗ ở nhiều lần và những vật dụng thân thiết ấy đã theo tôi. Giờ thì phải đành bỏ lại… vì không thể nào mang theo được. Sách vở là điều làm tôi khó nghĩ. Bỏ đi, tiếc. Đành phải chia bớt môt ít cho bạn bè, hy vọng họ có thời gian để đọc, còn những sách “quí”, phải gói ghém cẩn thận để đem về VN trong những chuyến đi về.
Bốn mươi năm. Tôi đã gắn bó với đất nước này thật mật thiết, bạn bè Ý rất đông, lấy vợ người Ý, học, làm việc, kinh nghiệm tích lũy nhờ học hỏi với các nhà khoa học rất giỏi và khiêm tốn.
Tôi chợt nghĩ đến nhưng người tôi đã mang ơn. Nhiều lắm. Những bạn sinh viên Franco, Guido, Giuseppe… lúc nào cũng sẵn lòng chia sẻ cùng những lời khích lệ lúc ngã lòng. Những đồng nghiệp chí tình Umberto, Loris, Marco, Enrica, Anna, Sandra… những vị thầy đáng kính và tận tâm Berti, Villa, Trabucchi.
Sống đời sống ở phương Tây mọi việc đều rõ ràng, sòng phẳng, thế nhưng lòng tôi luôn luôn canh cánh một món nợ. Nợ nước Ý. Nợ tình yêu của Elena, người con gái bốn mươi năm trước đã quen và yêu tôi hơn mọi thứ quý giá nhất trên đời. Một tình yêu hoàn toàn trong sáng, vô vụ lợi, không toan tính nhỏ nhen. Nàng chấp nhận đến với tôi từ khi còn là một “công tử” ngu ngơ du học, đến những năm tháng khó khăn, sau 75, ở căn nhà không lò sưởi, mùa đông bên trong nhà còn lạnh hơn bên ngoài; Nàng chẳng rời tôi thời không tiền ăn sáng… nhịn đói ôm sách ra thư viện để được ấm thân, vừa học vừa mong đến giờ ăn ở quán cơm sinh viên (mensa). Nàng động viên, khuyến khích và cho tôi sức mạnh để vượt qua bao nỗi khó khăn, từ khi tốt nghiệp, việc làm tạm bợ bị bóc lột đến xương tuỷ vì không có quốc tịch, lương ba cọc ba đồng, cho đến lúc vươn lên, trở thành giám đốc kỷ thuật và trưởng phòng nghiên cứu phát triển dược thú y cho một công ty thuộc tập đoàn lớn nhất nước Ý (Ferruzzi group).
Bốn mươi năm, tôi đã đi theo sự chọn lựa mà nhiều khi cũng không có quyền chọn lựa. Nhiều lúc tôi đã phải cắn răng chịu đựng nhưng có lúc cũng mỉm cười, nhìn chướng ngại như môt cuộc thử sức rồi ngẩng đầu để đi lên. Rất nhiều năm, thân mình chưa lo nổi còn tự gánh lấy trọng trách cưu mang cả gia đình. Mười ba năm quen nhau mà chưa dám làm đám cưới… thế mà Elena vẫn chờ cho đến lúc gánh nặng trên vai tôi nhẹ bớt. Giờ thì tôi hiểu ra, khó khăn còn là một thứ xúc tác để những bông hoa trong khu vườn tình người nở rộ. Thăng trầm, vinh nhục… tất cả đều đã trải, đều đã vô thường, thay đổi, và chỉ có hằng số Elena là còn ở lại. Nàng luôn ở bên tôi. Lúc nào cũng ở bên tôi. Dù có khi chúng tôi cách xa nhau hơn 10.000 km.
Là người luôn chấp nhận hy sinh, Elena yêu tôi bằng một tình yêu mãnh liệt. Tình yêu ấy như hai trái tim nằm giữa lằn ranh, vừa Hoà vừa Nhập, thách thức mọi khác biệt của hai nền văn hoá. Mới đây nàng còn từ bỏ tất cả những gì thân thương để tiếp tục theo tôi trong một hành trình mới, về sống ở Việt nam, một đất nước còn bao khó khăn và ngổn ngang những vấn đề.
Tất cả những hồi tưởng này, lướt qua đầu tôi như một cơn gió nhẹ nhưng mơ hồ làm bật ra một vài ý tưởng. Lời giải đáp cho những câu hỏi còn loé sáng hơn khi tôi có cơ hội trình bày tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” trong buổi họp mặt tại câu lạc bộ người yêu sách.

7-
Ở thư viện Albairate, sau khi chào hỏi Giuseppe đặt lên bàn 3 quyển bản thảo vi tính BTNDM rồi yêu cầu tôi tóm tắt câu chuyện cho các bạn. Qua vài lời giới thiệu ngắn ngủi tôi kể chuyện về người đàn bà bất hạnh, tuổi bốn mươi mới gặp được “một nửa” của mình, là tri âm thể xác và tri kỉ tâm hồn. Đến lúc ấy Gấm mới nhận biết được tình yêu, say đắm “như yêu lần đầu” và hiểu ra là “hạnh phúc thật ra ở ngay trong những điều nhỏ nhặt”. Gặp “Anh”, kiến thức Gấm được mở mang và học được nhiều điều quan trọng. Nhưng số phận éo le, đúng khi tưởng nắm giữ được hạnh phúc với người đàn ông của đời mình thì Gấm lại bị ung thư.
Từ căn bệnh thời đại này tôi đã lồng câu chuyện tình yêu vào một bối cảnh xã hội rộng lớn, trong đó lòng tham của con người đang làm trái đất cạn kiệt, xã hội rối loạn, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm… và con người càng ngày càng sống phản lại tự nhiên.
Còn Gấm, đứng trước cái chết được báo trước, nàng trăn trở, hoảng loạn, suy tư, ý thức “lẽ sống còn quan trọng hơn sự sống”… và cuối cùng tự hỏi “Ta là ai”.
Tôi bất ngờ và thú vị vì thấy có nhiều người đồng tình. Một cuộc thảo luận về nhịp sống hối hả làm thời gian bị đo lường, chắt bóp. Có người nói hiện nay tuy phương tiện giải trí có nhiều mà niềm vui dường như rất hiếm.Tâm trí của mọi người đều bị động. Có người nhắc đến các công nhân lắp ráp làm việc theo nhịp máy trong dây chuyền sản xuất, các động tác phải tuân theo các công đoạn trong một thời lượng quy định. Xong việc, về nhà, vội vàng, căng thẳng vì đường phố đông đúc. Cái gì cũng “express”, cũng “fast”… từ ăn uống đến mua sắm.
Giuseppe nói “Thế giới thay đổi quá nhanh trong những năm gần đây làm con người không kịp thích nghi và do đó đánh mất thăng bằng tâm lý. Có các phương tiện để liên lạc mà trong xã hội chẳng ai biết nhau. Sự gia tăng các phương tiện truyền thông hình như tỉ lệ nghịch với sự giao tiếp giữa các cá nhân, con người sống Bên nhau nhưng không sống Với nhau. Tiếp xúc qua không gian ảo, nhìn nhau qua màn hình.”
Tôi dịch một vài trích đoạn cho các bạn, từ tình yêu ngút ngàn của Gấm dành cho “anh” đến nỗi hốt hoảng của Gấm khi biết mình sắp chết, đoạn phân tích tâm lý lúc nàng chạy về phía Bình Quới nhìn mây trắng hợp tan rồi nghĩ về lẽ tử sinh làm mọi người rất thích.
Một thành viên câu lạc bộ hỏi tôi, viết xúc động vậy sao không dịch ra tiếng Ý? Trước đó tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc này. Nhưng tại sao không? Có thể lược bỏ bớt những phần không thiết yếu..

Mọi người xôn xao bàn tán nhưng lúc đó đầu óc tôi chỉ nghĩ đến quyển tiểu thuyết đang chờ in ở Việt nam. Giuseppe nói: “Mới đây mà đã bốn mươi năm!” Bốn mươi năm! Bốn mươi năm! Tôi giật mình. Chợt tỉnh. Bốn mươi năm chẳng phải là số tuổi của Gấm đó sao? Cớ sao số tuổi của Gấm trùng với 40 năm tôi từng sống ở đây? Vì sao nàng chỉ hưởng hạnh phút có 3 năm rồi bị ung thư? Những trùng hợp này chỉ là ngẫu nhiên hay là tiếng gọi của tiềm thức, về một tình yêu cuồn cuộn của một thời tuổi trẻ, si mê, đầy nhiệt huyết và mộng mơ ở trời Âu và giờ đây như những đám mây bay qua bầu trời và sắp biến mất? Những thăng trầm, khổ đau, hạnh phúc của Gấm có khác gì đời sống của tôi mấy mươi năm qua? Thương yêu hờn giận, gắn bó đến thế, làm sao lòng không vương vấn, không đau như cắt ruột khi phải chia xa, dù được quay về nơi mình cất tiếng chào đời? Thế thì 40 năm sống ở trời Âu có khác gì 40 năm cuộc đời của Gấm? Rồi ba năm hạnh phúc, cũng chính là 3 năm mà tôi đã trở về quê hương. Tôi đã bình an biết bao. Nhưng khi ánh hào quang của cuộc trùng phùng chấm dứt, những biến đổi xã hội Á đông đang thay da đổi thịt, hoà theo nhịp sống cuồng loạn của toàn cầu hoá… đã xoá mất nếp bình thản cũ xưa, xuất hiện nhiều mâu thuẫn trong thời hội nhập. Những bất an thực phẩm, ô nhiễm môi trường, trái đất cạn kiệt… tạo ra bao căn bệnh ung thư.
Gấm chết. Như chết một ước mơ, chết một đời sống bình yên.
Ba năm, thời gian đủ để tôi nhận ra là đời sống như tôi nghĩ đã không còn. Con người, gia đình con cái ít quây quần bên nhau. Người già cô đơn. Các căn bệnh thời đại xuất hiện: lo âu, buồn rầu vô cớ rồi sinh ra trầm cảm. Rồi tự sát. Sức khoẻ cơ thể có thể tốt nhờ tiến bộ y học mà sức khoẻ tâm thần và sức khoẻ xã hội ngày càng kém sút. Chúng ta sống thọ hơn mà cuộc sống lại ít ý nghĩa hơn. Có khác gì những điều đang xảy ra ở trời Tây?
Ba năm, ngồi cà phê quán cóc ở vệ đường, tôi cũng nhìn thấy nhiều người lái xe bằng một tay, tay kia bấm phiếm nhắn tin, nghe điện thoại. Những bà mẹ chở con đi học thêm, đứa bé ngồi phía sau tranh thủ ăn, tranh thủ uống. Những người khác luồn lách, chạy xe với tốc độ kinh khiếp như đi vào chỗ không người. Có lần, trên chuyến xe đò về miền Trung ăn Tết, tôi kinh hồn thấy tài xế vừa chạy xe vừa dụi mắt chống cơn buồn ngủ. Chiếc xe chao đảo, suýt lao đầu xuống vực…
Nhịp sống đã thay đổi từng ngày, nếp sống văn hoá quay cuồng theo.Tình người đảo lộn. Ngay trong gia đình, cũng chẳng thiếu cảnh anh em vác dao chém nhau, chuyện con chửi mẹ, đánh cha, thậm chí giết cha mẹ cũng chỉ vì cơn sốt đất. Người người đang sôi lên vì kiếm tiền, kiếm việc làm thêm và mua sắm tất bật.

Những trăn trở ấy, không biết tự lúc nào đã đưa đẩy những ngón tay lên bàn phím, và từ tiềm thức, “Bàn tay nhỏ ” đã biến thành những con chữ.
Cầm trên tay, thấy sách được chia thành từng nhiều đoạn nhỏ, Giuseppe tò mò hỏi tôi đã lấy nguyên mẫu và cảm hứng từ đâu?
“Nguyên mẫu lấy từ nhiều nhân vật. Tôi đem gộp lại chuyện đời, hạnh phúc và khổ đau của nhiều người và viết thêm nỗi băn khoăn và tâm sự riêng của chính mình. Theo đó, tôi đã viết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” như nhiều mảnh gương, mỗi mảnh phản chiếu theo một góc. Có mảnh quay vào trong, soi nội tâm nhân vật, có mảnh hướng ra ngoài để nhìn ra thế giới. Qua các trang viết đều có phản chiếu một chút người, một chút ta, một chút bạn bè và những cảm nhận về những vấn đề mang tính bản thể: sự sống và cái chết, nhân phẩm và sự sa ngã, khát vọng vô cùng của con người và những hữu hạn của tồn tại…” Il trauma che stiamo vivendo in questo momento assomiglia al trauma che abbiamo vissuto 80 anni fa, durante la Grande Depressione, ed è stato causato da una serie di circostanze analoghe. Allora, come oggi, abbiamo affrontato un crollo del sistema bancario. Ma allora, come oggi, il crollo del sistema bancario era in parte una conseguenza di problemi più profondi. Anche se risponde correttamente al trauma (i fallimenti del settore finanziario) ci vorrà un decennio o più per raggiungere il pieno recupero. Se noi rispondessimo in modo inappropriato o con gli stessi strumenti neoliberisti che hanno favorito la crisi, questa durerà ancora a lungo e il parallelo con la Grande Depressione assumerà una nuova dimensione tragica. [ I macro-economisti mainstream sostengono che il vero spauracchio in una recessione non è caduta dei salari, ma la loro rigidità: se i salari fossero più flessibili (cioè bassi), la disoccupazione si sarebbe ridotta, auto- correggendo il problema! Ma questo non è stato vero durante la Depressione, e non è vero oggi. Al contrario, bassi salari e redditi portano semplicemente a una riduzione della domanda, indebolendo ulteriormente l’economia.]
Secondo la vulgata tradizionale, la politica restrittiva della FED ha causato la crisi del 1929, oppure il crollo (autunnale) di Wall Street ha provocato la recessione (che inizia in estate!!!) dell’economia americana. Il problema oggi, come allora, è un’altra cosa: la cosiddetta economia reale.
I paralleli tra la storia delle origini della Grande Depressione e quella della nostra crisi sono forti. Allora ci stavamo muovendo dall’agricoltura alla industria. Oggi ci stiamo muovendo dalla manifattura ad un’economia di servizi. Negli USA si calcola che il calo dei posti di lavoro nel settore industriale è stato drammatico, da circa un terzo della forza lavoro 60 anni fa a meno di un decimo di oggi. Il ritmo si è accelerato notevolmente nell’ultimo decennio. Ci sono due ragioni per il declino. Uno è una maggiore produttività, la stessa dinamica che ha rivoluzionato l’industria e costretto la maggioranza degli operai americani a cercare lavoro altrove. L’altro è la globalizzazione, che ha inviato milioni di posti di lavoro all’estero, a paesi a basso salario o quelli che hanno investito di più nelle infrastrutture o nella tecnologia. Qualunque sia la causa specifica, il risultato inevitabile è esattamente lo stesso di 80 anni fa: un calo del reddito e posti di lavoro. Per un certo tempo, la bolla immobiliare ha nascosto il problema creando una domanda artificiale, che a sua volta ha creato posti di lavoro nel settore finanziario e nella costruzione e altrove.
Giuseppe vỗ vỗ lên vai tôi: “Tác phẩm này giống như cuộc hành trình của con người đi tìm tình yêu, hạnh phúc và sự bình an trong một thế giới hỗn độn và điên loạn. Hãy cố dành thời gian để dịch ra tiếng Ý!”
Tôi gật đầu. Còn một điều nữa cũng vừa lóe lên trong trí nhưng tôi không nói với bạn. Đó là về cái chết của Gấm? Tại sao nàng đi trước mà không phải là anh? Bởi đó là nỗi khắc khoải, nỗi lo sợ, ước muốn và cũng là trách nhiệm của người chồng… Anh không thể “đi” trước, bỏ lại vợ mình trong một đất nước xa lạ… Uớc muốn này mới đầu tôi tưởng chỉ của riêng tôi, nhưng thời gian sau, khi Elena viết truyện ngắn đầu tay “Bàn tay trong một bàn tay”1 thì tôi chợt hiểu đó cũng chính là những ám ảnh và ước muốn thầm kín của nàng.

8-
“Nền kinh tế hiện nay giống như một chiếc xe đạp. Nó buộc chúng ta phải làm việc và đạp liên tục thì mới chạy được, dừng lại là té ngã”. Anh bạn Franco đã từng nói với tôi như thế. Và hôm nay hình như mọi người đang kiệt sức, không đạp nổi. Nền kinh tế rất mạnh của Ý và Âu châu đã suy thoái từ vài năm qua. Nhiều hãng xưởng đóng cửa hay làm việc cầm chừng. Bạn bè nhiều người lo lắng.
Buổi sáng, Elena cầm tờ báo và gọi tôi đến xem. Một cửa tiệm nợ lương 5 tháng không trả. Một thanh niên Phi Châu đến hối thúc lương tháng. Chủ và thợ sinh ra cãi vả. Ông chủ vào nhà lấy tiền và ném vào mặt người làm công. Lúc anh ta cúi nhặt, ông rút súng bắn mấy phát vào lưng. Một phát trúng gần tim và anh ta chết trên đường cấp cứu. Cô gái Ý đi cùng anh ta cũng bị thương. Cô là nhân viên tư vấn của một tổ chức thiện nguyện. Cô đến giúp vì anh bạn ngoại quốc không nói rành tiếng Ý.

“Ở mọi nơi trên thế giới, sự tàn ác đều như nhau. Lòng tốt có giới hạn. Mà cái ác thì không cùng.” Tôi đắng họng. Không biết bình phẩm ra sao. Mãi sau Elena mới nói: “Cuộc đời này là gì? Chẳng qua chỉ là một hơi thở! Tại sao chúng ta không sống cho cái Tâm mình đẹp? Chỉ vì Tham mà người ta ganh ghét và chém giết nhau. Thế mới biết Phật giáo thật thâm diệu: Ai biết xem thường danh lợi thì đời sẽ bình an và lúc nào cũng cũng có thể mở lòng chào đón mọi người, với tình thân ái.”
Tôi nhìn vợ mình. Một tình yêu vô bờ bến đang dâng trào. Và bỗng dưng tôi nhớ là khi viết về cái chết của Gấm, chẳng có trang nào mang theo niềm tuyệt vọng. Sức sống của tình yêu luôn có phong cách khác thường, dù biết sắp đi đến đoạn cuối cuộc đời nhưng đôi mắt tình yêu vẫn nhìn đời sống ngời ngời khát vọng, bao dung.

9-
Mới đến Milano “hôm qua” thế mà nay đã sắp về lại Việt nam rồi. Một tháng trôi qua trong nháy mắt. Tôi xuống phố Cassina dé Pecchi để mua sắm vài món đồ. Đang bước, tôi bỗng nghĩ là mấy mươi năm trước những con đường này hoàn toàn xa lạ với tôi, thế rồi trở nên quen, đã đi qua đi lại bao nhiêu lần và bây giờ lại sắp hóa ra xa lạ.
Sự vật biến đổi. Còn duyên thì hợp, hết duyên thì tàn.
Milano-Sài Gòn.
Sài Gòn-Milano.
Hai ngày nữa là có chuyến bay rồi!
Nhắc nhở đó làm loé lên trong trí tôi mấy câu thơ của người bạn vong niên ở Hà Nội mà tôi rất quý:
Cùng chung một chuyến đò ngang
Kẻ thì sang bến người đang trở về
Lái đò lái mãi thành mê
Sang về chẳng biết mình về hay sang.

TRƯƠNG VĂN DÂN