TÌNH KHÚC XUÂN

hoangvancham

Mưa lất phất bay.
Nỗi nhớ lặng lẽ trở về bằng những âm xưa câu hát
Vụng dại một thời làm duyên
Dang tay níu cả mùa xuân về trên tóc.
Có ta cầm giữ một mộng mị từng ngày
Em chưa kịp yêu vì dòng sông chưa biết nói
Ngày đó chớm mong từng bước theo nhau
Áo lụa tan trường
Ngẩn ngơ khờ khạo một nét thương

Vùi sâu giọng hát những nét vẽ xưa
Bất chợt lòng mong nhau từ độ ấy
Có tiếng đàn hòa theo nhịp xuân mà tưởng như lời ngỏ
Em vẫn hồn nhiên
Em không nhìn được chút bâng khuâng
Từ đó ta vẽ vời cơn mộng

Bể dâu và cuộc đời làm nên dấu cách
Ta lạc mất mùa xuân
Mất nhau một bước giữa đời
Khăn áo theo người em mở lối truân chuyên
Từng bước trầm luân xuôi đời trăn trở

Ai biết được lòng mà dò dẫm cái mong thương….
Nữa chừng qua đi ta mới gặp nhau trong từng tấc lòng
Chia đôi nỗi nhớ
Ngâm ngùi như tiếc nuối
Góc trời xa xăm em biền biệt cõi ta
Sương khói bên em như chăm chút ngày qua
Một bến củ bên ta mong chút hương xưa về lại
Vội vàng chi!
Tâm giao những không lời như chứa chan tự tình bên sông nước
Nụ hôn như cánh mỏng thao thiết mùa xuân
Dòng thơ buông dài vô tận
Như có những tìm nhau cho đời kề cận duyên tơ.

Cuối sau em một đợi chờ
Một mai gió cuốn đôi bờ có nhau!
Phôi pha em giữa ngàn lau
Tự tình thức dậy theo màu áo xưa.

HOÀNG CHẨM ( quãng Trị )

Chuyện về những lá thư.

nguyenhoangquy

Tôi không nhớ lần sau cùng ra bưu điện mua tem gửi thư cho ai, lúc nào và viết gì trong đó trừ một lần cách đây gần 3 năm ở Sài Gòn khi đi gửi chuyển phát nhanh một tập thơ của một người bạn nhờ gửi tặng cho một người bạn khác. Cũng là gửi thư nhưng không chính thức. Tôi nghĩ ra việc này nhân lúc nhìn lịch thấy chỉ còn 3 ngày nữa là hết năm, nhận email một cô cháu trước Giáng sinh rất lâu, chưa trả lời được dầu lòng vẫn nghĩ là nên viết xong trước năm mới 2015.
Nghĩ lại, chiều 30 hay 31 viết cũng không sao,chỉ cần một cái click chuột là thư đến, còn việc mở máy đọc lúc nào lại là việc của cháu. Với việc này, “con rùa bưu điện” không thể can thiệp vào chuyện cậu cháu tôi và với đà này, e rằng sẽ có một ngày không xa khái niệm “con rùa bưu điện” không còn được thế hệ trẻ biết đến như tem phiếu, sổ gạo… cũng như không biết gì về thời bao cấp! Tôi nghĩ đến số phận của những lá thư viết tay trên giấy gửi qua đường bưu điện trong thời đại IT này chắc sẽ có ngày bị lãng quên. Và bỗng nhớ về … ngày xưa!.
Học đệ lục (lớp 7) trường huyện, một thầy giáo tôi rất yêu thương đi quân dịch, thầy cho riêng tôi một tấm hình 6×9 của thầy, tôi vui và rất tự hào vì mình học hành không xuất sắc gì, thầy còn ghi cho tôi cái địa chỉ nhà “để em thích thì viết thư về đó cho thầy”. Tôi nhận, lí nhí nói lời cám ơn và sau vài tuần, tôi viết thư, nắn nót từng chữ từng hàng kể chuyện trường, chuyện phố huyện, chuyện học hành của mình. Hình như đó là thư đầu đời tôi đã viết và gửi qua bưu điện. Thầy không trả lời vì sau đó được về dạy lại do không đủ sức khỏe!
Việc viết thư, viết đơn được dạy trong môn Văn của trường trung học nhưng tôi chẳng học được gì nhiều. Do vậy, hiểu biết của mình về “món” này thật hạn chế, sau này đọc thấy người ta dùng nhiều tên: cánh thư, lá thư, bức thư, có chỗ còn dùng tờ thư. (1)
Kính, kính mến, thân mến, thương mến, mến thương, yêu dấu, dấu yêu, nhỏ… là những chữ đầu tiên kèm theo chữ dùng để xưng hô với người mình muốn viết, kính bác, kính anh chị, Kim Anh yêu dấu…, cũng có khi từ chỉ vị trí của người nhận đưa lên trước: Ba mạ kính mến, bạn thân mến, Nhỏ dấu yêu của anh…
Thư cũng như một bài tập làm văn, có đủ các phần nhập đề, thân bài, kết luận. Thư tỏ tình thì kết luận luôn là : “Anh yêu em nhiều lắm”; thư xin tiền học thì: “Mong ba mẹ gửi sớm cho con”; thư phân trần thì: “Xin chú thím hết sức cảm thông cho cháu!” hoặc : “Em phải tin rằng đó chỉ là hiểu lầm để tha thứ và thông cảm cho anh”.., Hihi! Nhưng cái nhập đề mới là thú vị, những người sống ở nông thôn, ít học, chân thật thường hay dùng chữ “Đầu thư” (cũng như khi kết luận hay dùng chữ “Cuối thư “ có khi thêm cả cụm từ “không gì hơn…”) và cũng thích nói văn hoa, ví dụ: mượn bút thay lời. Do vậy mới có chuyện vui là một anh đi bộ đội viết thư về nhà bắt đầu bằng câu Kg (kính gửi) bố mẹ yêu dấu, đầu thư, con mượn bút thay lời viết thư này thăm bố mẹ. Đứa em đọc tới đó, bà mẹ buộc đọc tiếp: mày đọc nhanh xem nó có gửi mì chính về được ít nhiều mà bảo là kilogram. Ông bố mới vừa nhả xong một hơi thuốc lào thì phán: Từ từ đã, mới mua cho một cây bút Hồng Hà trước khi đi mà lơ đễnh thế nào để mất giờ đã mượn bút (thay lời) của người ta rồi!!
Phần kết lá thư thường nhắc lại những vấn đề đã nói ở trước, nhấn mạnh thêm và nếu là với những người yêu nhau thì thường kết thúc bằng những câu : “Ngàn đời yêu em”, “yêu em mãi mãi” hoặc sến sến chút chút thì “Yêu em chết bỏ!”, với chuyện xin tiền thì “Đừng quên mẹ nhé”, “Quên thì chết con đấy nhé bố!” rồi còn chua thêm mấy chữ Tàu: “Thư bất tận ngôn”(2), chữ Việt hơi sến sến: “Giấy vắn tình dài!”
Có những khi thư viết đã xong, lại nhớ còn có việc quên chưa nói, phải viết thêm phần Tái bút. Nhiều người thấy rằng tái bút dài dòng viết ngay 2 mẫu tự liền nhau: PS dầu không biết đó là chữ viết tắt của một từ tiếng la tinh có cùng nghĩa: Post Scriptum.
Ngày xưa, thư tình thường được viết trên giấy có mùi thơm hoặc người viết tẩm nước hoa vào, nếu là loại đắt tiền thì hương thoang thoảng và chậm mất mùi, nếu là rẻ tiền thì mùi nặng, có người còn ép vào thư một bông hoa. Tôi không biết “Lá thư” trong nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn – Từ Linh thơm vì bỏ thứ gì vào mà ngào ngạt hương (Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương)? Dụng cụ đựng thư người ta gọi chung là bì thư nhưng cũng còn chữ dùng khác là bao thư, phong thư. Thời tôi đi học bì thư thường in hàng chữ: Par Avion hay Via Air Mail hiểu là thư chuyển bằng đường hàng không mà muốn được thế thì dán nhiều tem hơn. Bì thư thời VNCH rất đa dạng, sau này còn có hình phong cảnh đất nước, hình các loài hoa, góc trái trên In chữ Người gửi…., ở giữa in: Người nhận, lại có bì góc trái in From…, ở giữa in To … Bì thư nào không in thì người gửi thư tùy ý, thường với người có chút chữ nghĩa thường thấy ghi ở góc trái trên chữ Exp: …. Đó là chữ Expéditeur (tiếng Pháp) hoặc Expeditor (tiếng Anh) là người gửi. Giữa bì thư thì tùy quan hệ mà ghi: Kính gửi, thân gửi, mến gửi, thương gửi, gửi đến, thư đến, đôi lúc chỉ một chữ : Về hoặc: Thương gửi về… xập xí xập ngầu, đủ cả! Lâu rồi không dùng đến bì thư, không biết đã có thêm những đổi thay gì?
Ở trên, đã nói đến thư đầu tiên tôi viết, thư sau cùng (cho đến nay) tôi nhận được, có lẽ đây cũng là thư cuối cùng qua đường bưu điện, là thư một người bạn gửi từ Hà Nội đến Bangkok hai năm trước, cô bạn viết và gửi vì chìu tôi để anh biết nét chữ của em như anh yêu cầu. Trong thư cô than phiền là đã lâu không cầm bút, không viết thư trên giấy nên sau 3 lần viết, xé, cuối cùng thì hay dở gì cũng để y nguyên như vậy. Nhận được, tôi rất vui!
Có một thứ văn hóa không có sách vở nào dạy nhưng xã hội thừa nhận ngày ấy là Văn hóa thư tín . Thứ văn hóa này chi phối nhiều đối tượng: ngành bưu điện, bưu điện nơi đi, nơi đến, nhân viên phát thư, người nhận thư rồi chuyển giúp và cả người viết, người nhận… Ví dụ trả lời sớm một lá thư thăm hỏi của người lớn tuổi hơn, ngôn ngữ xưng hô với họ lễ phép là có văn hóa, thư tay nhờ chuyển mà dán bì, đọc trộm thư của người nhờ chuyển đều là những biểu hiện thiếu văn hóa. Luật pháp cũng bảo hộ sự an toàn thư tín với việc xử phạt những người cố tình xé thư người khác để đọc.
Ngày đi học, tôi sống ở cư xá, mỗi tuần vào thứ 3 và thứ 5 người phát thư bưu điện đến phát khoảng 10h30- 11h30 lúc sinh viên đã ở trường về, không khí những lúc đó đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố nhất là với những người trông giấy báo nhận tiền nhà gửi, mong thư người yêu mà lẽ ra đã đến từ tuần trước. Có người chờ hoài không có thư người yêu bỏ cơm trưa lên phòng đắp mền nằm, khi xuống mắt…đỏ hoe. Có người không bao giờ có thư lại thường ra phòng khách sớm chờ người phát thư đến, nhận hộ tất cả thư tình và thư thường, dùng thư làm vật trao đổi với café, thuốc lá, không thỏa thuận được, thế là đánh nhau!
Tôi thấy có người nhận thư, xé hoặc gỡ ngay phần keo dán, đọc vội đọc vàng rồi nhét vào túi. Tôi thì khác, nhận thư bất kể là gia đình, bạn bè hay người yêu, không đọc vội mà bình tĩnh (dầu rất nóng lòng muốn biết trong thư viết gì) quét phòng ở sạch sẻ, trải lại ra nệm trên giường cho phẳng phiu, xếp lại đống sách vở bừa bộn trên bàn học, đi rửa mặt rồi mới… ung dung đọc. Tuy cầu kỳ nhưng với tôi, là sự trân trọng người viết và cũng là một cái thú!
Ngày xưa, có người sưu tầm được nhiều bức thư tình viết hay và có ý nghĩa của những nhà văn, nhà thơ, danh nhân, tập hợp lại xuất bản thành sách tựa đề là “Những bức thư tình hay nhất thế giới”, tôi nhớ trong đó hình như có cả thư của hoàng đế Napoléon gửi người tình Joséphine của mình. Nhà toán học nổi tiếng Nguyễn Xuân Vinh cũng đã phát hành một quyển sách của ông, cuốn “Đời phi công” lấy tên tác giả là Toàn Phong, dưới dạng những bức thư của một phi công gửi cho người yêu của mình, quyển sách được rất nhiều người tìm đọc.
Khi viết lại những chuyện này tôi nhớ sau ngày đậu Tú Tài, đi Sài Gòn thi đại học, rồi lên học Đà Lạt, cô bạn gái ở gần nhà đang học đệ tam, quen biết chưa lâu, tôi lại học đệ nhị cấp xa nhà, chỉ về vào cuối tuần, ít gặp nhau nên giao tình chưa đậm xin địa chỉ tôi từ một đứa em họ, gửi qua bưu điện một lá thư viết rất ngắn gọn. Qua bao nhiêu dâu bể cuộc đời, không còn giữ được “thủ bút của tác giả” nhưng tôi vẫn nhớ như in những câu này: “Ở trường về thật buồn, chiều nay bỗng dưng nhìn về kỷ niệm nhiều hơn, niềm an ủi như có dịp vỗ cánh bay xa. Một lần nào đó, trong những ngày nắng hạ lên cao, nhìn dáng sắp đi xa và nghe nói sẽ viết nhiều. Tất cả giờ đây hiện về với khá nhiều mất mát. Nghe chừng như có một cái gì quý báu đang vuột khỏi tầm tay!” Khi nhận được thư này, tôi thấy lòng mình lâng lâng và tự hỏi: phải chăng đây là một thông điệp? Có phải đây là một lá thư tình? Và nếu đó là thư tỏ tình thật thì chính là thư đầu tiên tôi nhận được trong đời, tuổi mười chín!
Có một chuyện tiếu lâm tôi đọc được hồi nhỏ kể rằng, ngày xưa, lính tiền đồn thường rất mong nhận thư và siêng viết thư cho gia đình, cuối tuần, trong đơn vị có người gom hết thư đem về bỏ thùng thư bưu điện ở phố. Có anh lính nọ gặp hoàn cảnh mẹ ruột và vợ sống chung nhà nhưng không hòa thuận với nhau. Do vậy, anh luôn tìm cách dung hòa tình cảm giữa mẹ và vợ. Ngày cuối tuần kia, người nhận thư cho đơn vị đến nhận và đi gấp để kịp xe, anh luống cuống thế nào bỏ nhầm thư cho vợ vào bì của mẹ và thư cho mẹ vào bì của vợ. Khi thư đến nhà, người vợ đọc được có đoạn rằng: “Mẹ ơi, con biết rằng mẹ rất buồn khi phải sống với một con dâu hư thân mất nết và hỗn láo. Nó có gì không phải, mẹ nhớ lấy để ngày về phép, con đập một trận cho nó biết thân để mẹ vui mẹ nhé!”. Trong khi đó, người mẹ đọc được một đoạn rằng: “Em yêu dấu, thật bất hạnh cho em khi phải làm dâu vào một gia đình có mẹ chồng hắc ám như mẹ anh, anh cũng chẳng vui thú gì, chỉ biết ngày đêm cầu nguyện cho bà ấy sớm chết đi để vợ chồng mình sống hạnh phúc và thanh thản với nhau!”. Không nói tiếp thì người đọc cũng biết kết cục chuyện này khi người lính về phép.
Không hình dung được khi việc gửi thư qua đường bưu điện mất hẵn thì xã hội sẽ buồn thế nào? chỉ biết rằng ở bưu điện các tỉnh thành, “ngành viễn” đã phải nuôi “ngành bưu” từ nhiều năm nay. Việc in tem thư sẽ ít dần, khi phát hành các bộ tem mới không còn đóng dấu ngày phát hành đầu tiên cho những người sưu tầm và việc chơi tem, một thú vui tao nhã, bổ ích cũng sẽ không còn ai biết đến, nghề viết thư thuê mà ta thường thấy ở Bưu điện Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn trước đây không còn nữa. Con người không còn được sống với cảm giác lâng lâng khi nhìn thấy nét chữ người thân yêu mà hình dung ra khuôn mặt và tâm trạng của họ khi nắn nót viết cho mình, thay vào đó là những font chữ vô hồn của máy tính, Ipad, cell phone… Cho hay, để xã hội ngày càng đi lên, cần chấp nhận rằng để được cái này phải mất cái khác!

Chú thích
(1).Dân quê các tỉnh Nam Ngãi Bình Phú hay dùng chữ lá thơ. Lúc nhỏ tôi nghe câu hát ru con này: “Buồn tình cha chả buồn tình/ Không ai đi Huế cho mình gởi thơ/ Gởi thơ ra thăm cha ngoài Huế/ Gởi thơ về thăm mệ Quảng Nam” (gởi thơ = gửi thư, mệ = mẹ) hoặc “Thương chi cho bõ công trình/ Nẫu về xứ nẫu bỏ mình bơ vơ/ Bơ vơ thì mặc bơ vơ/ Nẫu về xứ nẫu viết thơ cho mình” (nẫu = họ, người khác, từ địa phương Phú Yên)
(2). Có lẽ người ta dùng nhầm, chữ “thư” trong câu này là sách (thư viện) hơn là lá thư.

NGUYỄN HOÀNG QUÝ

LỜI NGỌN CỎ

chuthuynguyen

1. hôm nay tôi đang ở
ngoài rìa vực của gió
chống cằm nghĩ về thinh không
nơi hoài niệm dậy lên mùi đất cũ

2. có một điều mãi tận bây giờ
tôi chưa hề thú nhận cùng bạn
thật ra
tôi chỉ là ngọn cỏ

3. có một lần
tấm da dê cố băng qua dòng sông trong một cuộc tỉ thí
lúc trở về
nó phất phới, đen nhẻm, sũng nước
dừng lại trước mặt tôi
cười rung
rỏ nước cam lồ xuống thân tôi
lúc tôi sắp cháy vèo cọng cỏ khô

4. hương ân ái một đôi khi thoảng bay từ cánh đồng
cùng những nốt dương cầm trác tuyệt
bỗng nhớ mùi môi em
hoàng lan chiều trinh tiết

5. dặn lòng mình
đừng bao giờ làm gã khờ hào phóng
đu dây qua cuộc đời người đàn bà láng giềng
dù truyền thuyết về nàng ( nghe được lúc nửa đêm )
chừng như quá bi thương

6. thì thôi
thà quay về làm ngọn cỏ
dù gió có đùa
dù tuyết có dập vùi chôn lấp

7. lúc làm thân ngọn cỏ
ta dại tình yêu em hồn nhiên
ôi người đàn bà sở hữu những giọt lệ
luôn là những hạt sương ân sũng
nên trong ngút hận lửa đời
thật may ta chưa hóa tro than …

Chu Thụy Nguyên

LÀM SAO EM BIẾT

Hovietkhue

Giấu mình đêm tối ba mươi
Anh không dám thở , đợi người đi ngang
Đi ngang
Đi ngang
Đi ngang…
Em đi qua
nện
vang vang gót giày
Anh gom góp thoáng hương lay
Ươm vào giấc ngủ tràn đầy mơ em…

HỒ VIỆT KHUÊ

Con Quan Thì Được Làm Quan

luuthy

Khi xưa ở vùng Tây Sơn Hạ có một ngôi chùa nhỏ. Trong ngôi chùa nhỏ có một ông thầy và một chú tiểu quét lá đa.

Chú tiểu ngày ngày quét lá đa hay cắc cớ nhón chân nhìn qua hàng rào nhà hàng xóm. Nhà hàng xóm có một công tử con nhà quan tối ngày không mần thơ cũng ka ra ô kê với ôm bia.

Chú tiểu thắc mắc mới hỏi thầy:

-Thưa thầy, tại sao con tối ngày chỉ được ăn đậu hủ với xì dầu còn thằng con nhà quan bên cạnh lại được thịt thà, seafood, ca hát với bia ôm? Con với nó khác nhau ở chỗ nào?

Ông thầy vừa gõ mõ vừa trả lời:

-Con quan thì được làm quan con sãi ở chùa thì quét lá đa.

Chú tiểu không đồng ý mới cãi lại thầy:

-Hắn đúng là con quan… nhưng con đây đâu phải là con thầy chùa mà con lại bị quét lá đa?

Nói xong chú ném áo, trả kinh cho thầy, chắp tay vái thầy lần cuối rồi bỏ chùa ra đi.

Rời chùa, chú lần theo đường 19 nhắm hướng tây mà lên vùng Tây Sơn Thượng.
Trên đường đi chú gặp một vị đạo sĩ đang luyện tập pháp thuật. Đạo sĩ tay phải cầm búa thợ rèn, tay trái cầm câu liêm, miệng hô thần chú, biến trắng thành đen biến đen thành trắng.

Chú tiểu chắp tay vái chào đạo sĩ, đạo sĩ gật đầu hỏi:

-Tại sao ngươi đường đường là chú tiểu ở chùa, không lo chuyện quét lá đa tụng kinh gõ mõ mà lại tính chuyện bôn tẩu giang hồ.

Chú tiểu mới tình thực mà kể hết ngọn nguồn cho vị đạo sĩ hay. Đạo sĩ nghe xong mới hỏi:

-Vậy ngươi có muốn đổi đời, ngày ngày thịt cá tôm cua lobster, bia rượu với gái ghiết. Muốn hay không một tiếng trả lời ngay, không suy nghĩ với suy tư, ta không có thì giờ, có hay không? Có thì đi theo ta ta sẽ dạy!

Chú tiểu gật đầu ưng thuận, rồi gập đầu bái lạy đạo sĩ làm sư phụ.

Ngày qua ngày, đêm qua đêm, sáng học kinh sách, đêm luyện công phu, phút chốc cũng đã hơn 2 năm, chú tiểu ngày xưa giờ đã thành một tiểu đạo sĩ thứ thiệt. Tiểu đạo sĩ nhìn đống lá đa trước nhà lại nhớ đống lá đa trước sân chùa xưa, nhớ thằng công tử con nhà quan cạnh chùa, mới chắp tay xin sư phụ đạo sĩ cho mình về quê.

Đạo sĩ gật đầu.

Tiểu đạo sĩ chào thầy, tay câu liêm tay búa xuống núi lại theo đường 19 hướng về đông mà về Tây Sơn Hạ.

Thầy trụ trì ngưng gõ mõ, ngước mặt nhìn ra ngoài. Ngoài sân quạ không biết từ đâu bay tới bu đậu kín cây đa già. Bầu trời sau cơn mưa trời lại tối che kín nửa bầu trời, cầu vồng đứt đoạn bóng chệch về hướng tây. Thầy giật mình nhớ lại lời sư phụ lúc lâm chung “Bốn ngàn năm mới có một lần, cầu vồng đứt đoạn, bầy quạ đen bu kín cây đa chùa”. Thầy thở dài, tay khẽ một hồi chuông…

Phía bên kia nhà hàng xóm, tiểu đạo sĩ tay búa tay câu liêm đứng trước cổng nhà quan, mặt lạnh như tiền, nghiêng đầu liếc nhìn ngọn đa già, tiếng chuông chùa vừa “boong” lên một tiếng, tiểu đạo sĩ chân đạp mạnh cổng nhà quan, phi thân phóng thẳng vào nhà trong, vung búa đập bể đầu quan ông, vuốt câu liêm chém đứt đầu công tử, quan bà chỉ kịp hét lên hai tiếng “Ông…Con…” là trợn trừng mắt đứng tim ngã rạp người xuống đất.

Tiếng hét của quan bà đánh thức đứa con vừa tròn tháng. Tiểu đạo sĩ nhíu mày phóng nhanh về hướng gian sau nhà, nơi có tiếng khóc trẻ thơ, không ngần ngừ nâng cây búa thợ rèn…

-A di đà Phật! Tiểu đạo sĩ hãy đừng tay, xin nể tình thầy xưa ngôi chùa cũ, hạ tay búa nới câu liêm, giao đứa nhỏ cho bần tăng nuôi nấng.

Tiểu đạo sĩ hạ cây búa thợ rèn, nhìn thầy hỏi:

-Thầy thật sự muốn nhận thằng nhỏ này đem về chùa nuôi nấng? Thầy có sẵn sàng đồng ý làm những điều con nói?

Nói xong tiểu đạo sĩ đến gần nói nhỏ vào tai ông thầy cũ.

-A di đà Phật! Phật dạy phải hạ đao thì mới thành Phật, còn ta nay muốn thành Phật lại phải cầm dao! Bần tăng sẽ làm theo lời tiểu đạo sĩ.

Thầy trụ trì nói xong đến bế thằng bé con mang về chùa.

Đứa bé con còn đỏ hỏn ngồi trong lòng thầy trụ trì đang tham thiền nhập định, nín khóc, miệng mỉm cười nghe tiếng mõ lời kinh. Thầy trụ trì đọc kinh mà tâm thần bất định, thỉnh thoảng buông hai tiếng “oan nghiệt” giữa lời kinh. Dứt tràng kinh, thầy dùng kéo xuống tóc cho thằng tiểu đồ đệ mới, đặt cho hắn cái pháp danh là Thôi Kệ.

Hôm sau, thầy cho đốn ngay cây đa già, xây bức tường gạch cao quá đầu người, rồi dựng chuồng gà và ra chợ mua về đám gà con.

Ngày qua ngày, đêm qua đêm, xuân qua hạ tới thu về rồi đông đến, năm nào sân chùa cũng vắng vẻ không một chiếc lá vàng rơi.

Sinh nhật thứ mười sáu, tiểu Thôi Kệ cảm ơn lời thầy chúc, xong chỉ tay sang phía bên kia hàng rào gạch hỏi thầy:

-Dạ thưa thầy, nhà bên ấy nhà ai sao lúc nào cũng có tiếng đờn ca múa hát?

Thầy trụ trì trả lời:

-Nhà đạo sĩ.

Tiểu Thôi Kệ hỏi tiếp:

-Sao thầy làm thịt gà cho con ăn mà thầy chỉ ăn tương với chao và đậu hủ?

-Người tu hành không ăn thịt.

-Thầy tu hành sao lại dùng dao cắt cổ gà làm thịt?

-A di đà Phật! Do nghiệp thầy quá nặng, Phật dạy phải hạ đao thì mới thành Phật còn ta muốn thành Phật lại phải cầm dao!

-Thầy tu hành không ăn thịt chỉ ăn chay, còn con đã quy y sao không ăn chay lại phải ăn mặn?

-A di đà Phật! Chay cũng là không mà mặn cũng là không! Bức tường gạch cũng là không, cây đa già cũng là không! Chỉ có cái này là phải có, Thôi Kệ, con đã làm xong bài thơ tình thứ 1000 với vẽ xong bức tranh tố nữ thứ 200 chưa?

Thôi Kệ lắc đầu nhìn thầy rồi ngập ngừng hỏi:

-Dạ thưa thầy…

-Con còn điều gì muốn hỏi ta?

-Thưa thầy, con tình cờ thấy được tờ giấy xé ngang có bài thơ với nét chữ của thầy ép trong cuốn kinh Phật. Bài thơ lục bát chỉ có một câu đầu “Con quan thì được làm quan”…còn những câu sau thầy xé bỏ, những câu đó là câu gì?

Thầy trụ trì tay lần tràng hạt, thở dài, im lặng không nói, tay đổ một hồi chuông…

Lưu Thy

không đề

npphan

ngọn cờ
bay lả bay la
đêm nằm trắng mộng
con cà con kê
em ơi
tàn cuộc thì về
bận lòng bến lú sông mê làm gì

chỉ cần
một chút cuồng si
bước chân mò mẫm
đường đi nhiệm mầu
nhẩn nha tằm ăn lá dâu
sá chi nhân thế
nỗi sầu thất kinh

hỡi ôi
nào chuột nào bình
cái tâm vô cảm hiện hình yêu ma
tội thì gần
nợ thì xa
múa may trong cõi ta bà
u minh

NP phan

Con Chữ

truongdinhtuan

những con chữ
lăn dị cuồng
tôi con thú đã bị thương góc rừng
những con chữ
quay bão bùng
tôi nguyên vị bữa não nùng nguyên sơ
những con chữ
lạc bơ vơ
tôi sa mạc đứng chết khô chờ người
những con chữ
khóc rồi cười
tôi điên đão trước lẽ lời như ru
những con chữ
bước thiên thu
tôi bia đá cũng ngục tù theo nhau

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Bí quyết để nổi tiếng

phamhoainhan

Facebook là nơi dễ khiến người ta nổi lên lòng ham muốn. Khi post một hình hay một status thái lên thì muốn người ta thích và bấm like cho nhiều, muốn người ta comment cho lắm. Khi mình comment hay like ở nhà người khác, thì trong lòng cũng kỳ vọng rằng người ta sẽ đáp lễ bằng cách comment hay like ở nhà mình, hoặc nhấn like cái comment của mình. Trạng thái mong muốn có thể cực đoan đến mức: không cần phải khen, ném đá cũng được miễn là comment càng nhiều càng tốt, để chứng tỏ ta đây được nhiều người quan tâm.
Ba Trợn cũng không ra ngoài cái ngoại lệ đó. Mỗi lần vô Facebook, nó đều ngó số lượng like, comment trên nhà mình, so sánh với số lượng tương ứng của người khác mà mủi lòng. Không cầm lòng được, Ba Trợn tìm đến quân sư Hai Ẩu để hỏi han:
– Anh Hai ơi! Làm sao để trang Facebook của em có nhiều người like, nhiều người comment?
– Dễ ẹc! Viết những câu status thật hay hoặc thật buồn cười.
– Hic, em không nghĩ ra được cái gì hay hoặc buồn cười hết anh Hai ơi!
– Vậy thì post lên những tấm hình thật đẹp hoặc thật độc.
– Hu hu, em chỉ có hình xấu òm và chẳng có gì đặc biệt hết.
– Hừ, gì cũng hổng có hết thì lấy chi để người ta thích. Hay là đi chôm hình, chôm status của người khác đưa lên nhà của mình đi.
– Đâu được anh Hai. Của người ta hay thì thiên hạ đã coi trước rồi, đâu đợi coi ở nhà mình. Mà nếu họ có coi ở nhà mình và like thì cũng hổng sướng, vì đâu phải của mình đâu.
Ba Trợn tỉ tê:
– Anh Hai thông cảm cho thằng em bất tài này. Em chẳng có gì hay ho hết mà vẫn muốn người ta like mình, comment cho mình. Nếu em tài giỏi thì đã tự mình thu hút mọi người, đâu cần nhờ tới anh Hai làm gì. Ráng giúp dùm thằng em đi anh Hai!
Hai Ẩu được nâng bi, khoái lắm, nói:
– Chú mầy ra cho anh đề bài khó quá: không biết gì, không giỏi gì mà muốn mọi người thích. Thế nhưng anh đây vẫn có cách giúp chú.
– Dạ, anh cứ dạy bảo. Em xin nghe.
– Chú mầy hãy vô trang Facebook của một người nổi tiếng nào đó, giáo sư Ngô Bảo Châu chẳng hạn. Rồi comment vô đó một câu đại khái như thế này: Tay này cũng khá đấy!
– Hả? Làm vậy có du côn và hỗn quá không? Em là cái thá gì mà dám nói với giáo sư Ngô Bảo Châu Tay này cũng khá đấy! theo cái kiểu dạy đời vậy.
– Ấy, vậy mới sốc hàng chứ! Nói giọng đó thì chỉ có thể là một trong hai trường hợp. Một là một thằng mất dạy, hỗn láo không biết thế nào là lễ độ. Hai là một bậc sư phụ, giỏi hơn hẳn người được comment (ở đây là GS Ngô Bảo Châu). Cả hai trường hợp đều khiến người xem quan tâm đến kẻ vừa comment xem đó là ai mà mất dạy (hay tài giỏi) như vậy? Họ cũng sẽ vào trang nhà của chú mầy để coi lai lịch, mặt mũi chú mầy ra sao. Tha hồ mà nhận comment chửi rủa nhé!
Ba Trợn nghe lời, làm thử. Nó vô trang của mấy tay nhà báo nổi tiếng, còm vô đó câu: Viết thế cũng được đấy! Vô trang của người mẫu xinh đẹp, nó còm: Ngó tướng cũng được đấy! Vô trang của ca sĩ lừng danh, nó còm: Hát vậy nghe cũng khá đấy! Vì các trang ấy có nhiều người xem, nên nhiều người thấy cái câu bố láo của Ba Trợn, và họ chửi tới tấp. Thế là Ba Trợn nhận được nhiều comment dù rằng nó chẳng sáng tạo ra được cái giống gì hay ho cả.
Hai Ẩu khoái chí, nhìn Ba Trợn, cười hỏi:
– Sao? Chú mầy thấy sáng kiến của anh hiệu quả không?
Ba Trợn cũng ngó Hai Ẩu, cười trả lời:
– Tay này cũng khá đấy!!!

PHẠM HOÀI NHÂN

CHO JOSÉPHINE SAMY

hochibuu

Thấy rồi – một chút heo may
Thổi lên tóc rối cho dài bóng tôi
Thấy rồi- một nửa hồn côi
Bay theo ngọn gió cuối đời đợi mong

Thấy rồi- có một mùa đông
Đến trong nỗi nhớ chờ mong một người
Em bên đó với cuộc chơi
Nửa vui, nửa khóc, nửa vời vợi xa

Vui trong tiếng hát người ta
Khóc trong tiếng vỡ nhạt nhoà bóng đêm
Nỗi buồn cứ thế nhân lên
Cuối đời vào mộng buồn tênh kiếp người

Em còn – nhưng tôi đã rơi
Rơi theo nỗi nhớ của thời lãng du
Rơi trong xa tít sương mù
Rơi rơi sót lại thiên thu tình nồng..

Sắp rồi- qua một mùa đông
Mùa Xuân sẽ đến – thuyền trông, bến chờ
Hình như- có gã làm thơ
Tương tư cho lắm- rồi ngơ ngẩn…buồn..
30.12.14
HỒ CHÍ BỬU