LẬT TRANG KIỀU ĐỌC

tankan

lật trang Kiều đọc cuối năm
một mình nghe tiếng đàn cầm liêu trai
khán thư ẩn chuyện bi hài
câu thơ lục bát duỗi dài cuộc chơi
luận Kiều sách bút trông vời
lầu xanh son phấn là nơi ấy mà

TẤN KẬN

CÂU CHUYỆN KHỦNG BỐ ĐÁNH PHÁP

Leave_Me_Alone_by_SDJR

…Chắc chắn là Pháp sẽ phải suy nghĩ lại quan hệ với khối Hồi giáo…

Thế giới những ngày qua đã bị chấn động bởi cái mà báo Pháp gọi là “9/11 của Pháp”.

Đại cương thì một nhóm ba tên khủng bố đã mang AK đến tấn công trụ sở tuần báo trào phúng Charlie Hebdo tại trung tâm Paris, giết một tá nhân viên toà báo, kể cả một số nhà báo và hoạ sĩ, tác giả những bức tranh trào phúng của báo. Vừa bắn giết, vừa hô Allahu Akbar (Đấng Allah Vĩ Đại), cũng la lớn “đã trả thù cho Đấng Tiên Tri”. Vì tờ báo đó đã dám vẽ tranh hý hoạ Đấng Mohammed và lãnh tụ ISIS.

Một người mù cũng nhìn thấy đây là hành động của khủng bố Hồi giáo cuồng tín. Nhưng dường như toàn thể các chính quyền Pháp cũng như Mỹ, kể cả các TT Francois Hollande và Obama, và hầu hết truyền thông dòng chính của lề phải đều … mù hết. Họ chỉ xác nhận đó là hành động “khủng bố” nhưng không dám hé răng nói thêm về cái đuôi “Hồi giáo cuồng tín”. Đài TV Fox News là đài duy nhất dám dùng danh từ “khủng bố Hồi giáo”. Xem CNN sẽ không bao giờ nghe thấy tiếng “muslim”. “Phải đạo chính trị” chính là vậy.

Nói đến chữ “Hồi giáo” là sợ đụng chạm đến cả khối hơn một tỷ người Hồi giáo trên thế giới, được gọi là những tín đồ của một tôn giáo “yêu chuộng hoà bình” và “tình yêu nhân loại”.

Đây chỉ là loại lý luận méo mó, trốn tránh sự thật. Có thể Hồi giáo, cũng như tất cả các tôn giáo khác, chủ trương “yêu chuộng hoà bình”. Cũng có thể Hồi Giáo có quan điểm khắt khe hơn hơn với những người không tin theo Đấng Tiên Tri. Những chuyện này hoàn toàn là chuyện ngoài lề không liên quan gì đến câu chuyện khủng bố ta đang bàn.

Trong Hồi giáo, có những thành phần cuồng tín quá khích. Trong Thiên Chúa Giáo, hay ngay cả Phật Giáo cũng không khác, có nhiều thành phần cực đoan cuồng tín. Tại Nam Dương trước đây và Miến Điện ngày nay, hay Thái Lan cũng vậy, những Phật tử xách mã tấu đi chém người Hồi giáo là chuyện xẩy ra rất thường. Trong Thiên Chuá giáo, những cuộc tàn sát tại Trung Đông thời trung cổ, hay thảm sát dân da đỏ Mỹ Châu của vài thế kỷ trước đều đã đi vào lịch sử. Đạo nào cũng vậy, cũng đều có những thành phần cuồng tín, tàn ác, đi rất xa những lời rao rảng. Tại sao ta có thể nói đến những hành động đẫm máu của các chiến binh Thập Tự Giá, hay của những ông sư võ trang Thái, mà lại không dám mở miệng nói khủng bố Hồi giáo?

Cái ông Howard Dean, trước đây là ngôi sao sáng của đảng Dân Chủ, xém chút nữa đã hạ được TNS John Kerry để làm đại diện cho đảng Dân Chủ ra tranh cử với đương kim TT Bush năm 2004, lớn tiếng khẳng định đám khủng bố đánh báo Charlie Hebdo không phải là Hồi giáo, vì Hồi giáo không chủ trương chuyện này. Không ai nói Hồi giáo chủ trương giết hết những người xúc phạm đến Đấng Tiên Tri của họ, nhưng những tên khủng bố đó là Hồi giáo, la lớn Allahu Akbar, muốn trở thành “thánh tử đạo” cho Allah, thì chúng là khủng bố cuồng tín Hồi giáo. Sự thật là vậy. Chấm hết.

Ta đối diện với một địch thủ cực kỳ nguy hiểm, tàn bạo. Nếu không dám nhìn thẳng vào mặt địch thủ, gọi cho đúng tên, nhận cho đúng mặt, thì làm sao đánh lại chúng? Đó là khủng bố Hồi Giáo cuồng tín, thì gọi đó là khủng bố Hồi giáo cuồng tín. Tại sao không? Dùng danh từ “khủng bố Hồi giáo cuồng tín” đâu có nghiã là đã kết án tất cả tỷ người Hồi giáo là khủng bố cuồng tín hết. Cũng như nói có mấy ông sư mang mã tấu đi chém người đâu có nghiã là nói tất cả các sư sãi Phật giáo đều sẵn sàng mang mã tấu đi chém người để bảo vệ Phật pháp.

Trước đây, tại Texas, một anh thiếu tá Hồi giáo quay súng qua giết một tá quân nhân đồng đội, miệng cũng la “Allahu Akbar”. Chính quyền Obama không dám gọi đó là hành động khủng bố, chứ đừng nói tới chuyện dùng danh từ “Hồi giáo”. Gọi đó là “biến cố bạo động văn phòng”, “office violence”, ai muốn hiểu sao thì hiểu, nhưng cùng loại với “tội ác” của một ông xếp bực mình tát tai một thư ký vậy.

Chuyện “phải đạo chính trị” để không mất lòng ai nó làm cho các chính trị gia ngày càng hèn yếu, chỉ giỏi núp né rồi diễn giải, để khỏi mất phiếu. Đó chính là mặt trái của chế độ dân chủ trong đó lá phiếu cử tri chi phối tất cả mọi lời nói và hành động của các chính khách.

Người Mỹ có câu rất hay: “nếu nó đi như vịt, kêu như vịt, thì đó là con vịt” (If it walks like a duck, quacks like a duck, it is a duck!). Nhưng câu nói này đã không được các chính khách áp dụng. Nếu nó đi như vịt và kêu như vịt, nhưng cử tri muốn đó là con mèo, thì nó đúng là con mèo.

Điều các chính khách không chịu nhìn nhận thì trước sau gì cũng sẽ xuất hiện như sự thật.

Đó là cái giá mà chính quyền Pháp phải trả cho chính sách của họ đối với khủng bố Hồi giáo cuồng tín nói riêng và dân Hồi giáo nói chung.

Pháp, cũng như nhiều nước Tây Âu như Anh, Hoà Lan, Bỉ và Đức, là những nước từ trước đến giờ đã có những chính sách di dân hết sức cởi mở, đón nhận thả giàn các di dân từ Trung Đông và Bắc Phi, nhân danh tính nhân đạo, muốn giúp những người dân khốn khổ này trốn khỏi cảnh cơ hàn trong các xứ gốc của họ, trong khuôn khổ một thứ chủ nghiã cấp tiến rất rộng lượng, khai phóng, và cởi mở. Trong chính sách đó, cũng có âm hưởng tàn dư của thời thực dân: nước Đại Pháp hay Đại Bỉ, Đại Anh gì đó, … dù sao cũng có ít nhiều trách nhiệm với dân các nước thuộc địa cũ, cần dang tay đón họ.

Chẳng những dang tay đón nhận, mà còn hồ hởi giúp đỡ, nuôi nấng, giúp nuôi dưỡng và phát triển những đặc tính văn hoá, tôn giáo của mỗi nhóm, thay vì tìm cách hoà nhập họ vào cộng đồng. Nhân danh tính đa dạng văn hoá, tôn giáo, chính trị của khối cấp tiến.

Các chính quyền Pháp tin rằng thái độ thân thiện này đã là một trong những yếu tố chấm dứt được những đe dọa khủng bố từ các nhóm quá khích Palestine thời thập niên 60 khi hãng máy bay Air France liên tiếp bị không tặc cướp, đổi con tin.

Dĩ nhiên tại Pháp, cũng như tại các nước Tây Âu khác, cũng có những nhóm phản đối chính sách cởi mở này, nhưng họ mau chóng bị liệt vào loại cực hữu theo chân Hitler ngay.

Trên căn bản, không thể nói chính sách này sai lầm, hay thất bại. Sự thật là tuyệt đại đa số những di dân này đã sống yên lành, trong kỷ luật quốc gia, ăn nên làm ra, đóng góp không nhỏ vào những phát triển cho văn hoá đa dạng của cả Tây Âu. Và nhất là đóng góp không ít cho việc phát triển kinh tế nữa.

Đúng vậy, còn một lý do kinh tế quan trọng hơn nhiều: đó là nguồn nhân lực rẻ tiền cho kinh tế Tây Âu. Dân Tây Âu, càng ngày càng rửng mỡ, có thể nói là lười biếng chẩy thây, đi làm một tuần 35 tiếng, mỗi năm nghỉ hè 6 tuần mà vẫn chưa thỏa mãn. Đã vậy, lại ham vui, không chịu có con cái. Khiến cho dân số các nước Tây Âu ngày càng giảm. Dân số giảm, giờ làm giảm, công hiệu giảm, làm sao giải quyết vấn đề tăng trưởng kinh tế? Làm sao cạnh tranh với Mỹ? Với Á Châu? Với các rồng con, cọp con? Di dân Trung Đông và Bắc Phi chính là đáp số.

Nhưng khu vườn hoa dù đẹp cách mấy, cũng không tránh khỏi những bụi cỏ dại. Nhìn hoa mà không thấy có cỏ dại phải diệt thì sẽ có ngày cỏ dại nhiều hơn hoa.

Biến cố Charlie Hebdo không có nghiã là cỏ dại đã nhiều hơn hoa, nhưng phải hiểu đó là bằng chứng cỏ dại là một đe dọa rất lớn và cụ thể.

Các chính quyền Tây Âu nhìn vào vườn hoa mà không chấp nhận có cỏ dại.

Người dân Âu Châu cho rằng Mỹ trở thành kẻ thù của khối Hồi giáo vì quan niệm quá cao bồi, đế quốc, bắt mọi người vào Mỹ là phải hoà nhập vào văn hoá Mỹ, trong khi đi ra ngoài nước thì bắt thiên hạ phải răm rắp phục vụ quyền lợi tư bản Mỹ và tuân theo tiêu chuẩn “giá trị” Mỹ. Tạo ra bất mãn, mâu thuẫn, tranh chấp, rồi khủng bố. Dân Âu Châu tự hào có ổn định hơn trong vấn đề này vì dân Hồi giáo được chấp nhận và tôn trọng hơn ở Mỹ. Do đó, không có chuyện đe doạ khủng bố Hồi giáo cuồng tín.

Chính sách đối ngoại của các nước Tây Âu cũng thể hiện quan điểm cởi mở, chấp nhận khác biệt ý thức hệ, “thông cảm” với các nước Hồi giáo cực đoan. Trong khi Mỹ cắt đứt mọi quan hệ với Iran, giữ quan hệ tượng trưng với Syria, thì cả khối Tây Âu vẫn có quan hệ ngoại giao khá mật thiết với những chế độ này. Thậm chí nhiều khi còn đóng vai trò trung gian giữa những xứ này và Mỹ.

Dĩ nhiên, có nhiều lý do, vừa phản ánh một chính sách đối ngoại đa dạng, vừa khỏi mang tiếng lệ thuộc Mỹ, nhưng cũng bảo vệ được khá nhiều quyền lợi kinh tế cụ thể, nhất là bảo vệ được nguồn cung cấp dầu lửa và khí đốt. Ngay cả khi Mỹ đánh Iraq năm 2003, thì cả Pháp lẫn Đức đều đã công khai biểu quyết chống lại tại Liên Hiệp Quốc, chỉ vì các hợp đồng ngoại thương giữa Pháp, Đức và Iraq còn quá nhiều và quá lớn. Ngày hôm nay đây, khi bị Mỹ áp lực phải tham gia cuộc chiến chống ISIS, thì Pháp chỉ đồng ý cho máy bay thả bom tượng trưng tại phiá bắc Iraq, không cho thả bom tại các căn cứ bên kia biên giới Syria.

Cuộc tấn công báo Charlie Hebdo là một gáo nước lạnh tạt vào chính quyền Pháp, để nhắc nhở cho họ là chính sách tương đối dễ dãi, thân thiện của Nhà Nước Pháp vẫn chưa đủ thoả mãn họ. Điều những nhóm quá khích Hồi giáo muốn thấy là một sự đầu hàng vô điều kiện và một sự thuần phục cao hơn nưã. Những bài báo hỗn xược của Charlie Hebdo là những chuyện không tha thứ được, không cần biết xứ Pháp là xứ của Voltaire, là người đã phán ra câu đại khái “anh có thể nói những câu ngu nhất nhưng tôi đến chết vẫn bảo vệ cái quyền nói câu ngu của anh”.

Cuộc tấn công này cũng đánh dấu một khúc quanh mới trong cuộc chiến chống khủng bố. Nó đã lan qua Tây Âu rồi. Người dân Tây Âu bây giờ mới biết mùi đe dọa của khủng bố quá khích Hồi giáo. Dĩ nhiên, trước đây, khủng bố Hồi giáo cuồng tín cũng đã tấn công Anh Quốc rồi, nhưng dù sao, dân Tây Âu với dân Anh, dù là cùng lục địa Âu Châu, nhưng luôn luôn coi nhau như không có bà con gì với nhau hết. Anh Quốc là bà con với Mỹ chứ chẳng liên hệ máu mủ gì với Tây Âu. Khủng bố đánh Anh Quốc thì cũng chỉ giống như khủng bố đánh Mỹ thôi. Bây giờ mới là vấn đề mới: đánh Pháp.

Cái nguy cơ lớn nhất là cuộc chiến chống khủng bố đã thay đổi bộ mặt. Trước đây là các chính quyền đối phó với các tổ chức khủng bố quy mô, có tiền, có phương tiện, có nhân sự lớn, như Al Qaeda. Dù vậy địch thủ loại này cũng là loại có thể nhận diện và dễ đánh hơn.

Địch thủ khủng bố loại mới bây giờ đã biến dạng qua hình thức một vài nhóm cá nhân lẻ tẻ, tuy phương tiện yếu kém hơn, sức tàn phá yếu hơn, nhưng lại cực kỳ khó trị. Chỉ cần một hai anh chị liều mạng mang súng bom đi đánh thường dân vô tội tại bất cứ nơi nào có đông người như trường học, chợ buá, rạp hát, sân vận động,… biết đường nào mà đỡ. Như câu chuyện Charlie Hebdo, chỉ có ba anh mang súng vào một toà báo bắn loạn lên, làm sao cản?

Việc ngăn chặn khủng bố dĩ nhiên phải bắt đầu từ những biện pháp phỏng thủ có tính cách chiến thuật nhất thời thôi. Muốn hữu hiệu hơn thì phải nghĩ đến một chiến lược tổng thể lớn hơn và lâu dài hơn. Chắc chắn là Pháp sẽ phải suy nghĩ lại quan hệ với khối Hồi giáo. Và các nước khác như Đức, Bỉ, Hoà Lan cũng vậy. Đây đều là những nước với tỷ lệ dân Hồi giáo khá lớn, trung bình 5%-7%, nhưng rất tập trung theo từng khu. Ngoại ô Paris, có vùng có tới 60%-70% dân Hồi giáo bắc Phi. Tổng cộng 5 triệu tại Pháp, 4 triệu tại Đức, 4 triệu tại Anh, gần 1 triệu tại tiểu vương quốc Bỉ.

TT Obama ngay khi mới lên nắm quyền đã nhìn vấn đề dưới con mắt chiến lược này. Ông coi thường các biện pháp có tính chiến thuật vá víu của TT Bush, và nghĩ đến giải pháp tổng thể lớn hơn. Đi lòng vòng các nước Á Rập và Hồi giáo lớn như Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập, đọc diễn văn ca ngợi Hồi giáo, xin lỗi bốn phương tám hướng, chìa tay ra với các giáo sĩ Iran, Iraq,… Nhưng kết quả dường như vẫn không có gì khả quan.

Ông muốn nhìn vào cả cái khối hơn một tỷ người Hồi giáo, tìm cách biến họ thành đồng minh tích cực ngăn chặn các nhóm thiểu số cực đoan. Câu hỏi là trong khối này, bao nhiêu sẽ ủng hộ các nhóm khủng bố, bao nhiêu sẽ chống? Không ai có câu trả lời rõ rệt. Khối dân Hồi giáo nói chung dĩ nhiên không tán thành những hành động khủng bố tàn ác đối với dân lành, nhưng dù muốn dù không, các nhóm khủng bố này cũng là dân đồng chủng, đồng đạo, chết vì đạo. Một triệu chứng đáng suy nghĩ: trong khi cả thế giới lớn tiếng lên án cuộc tấn công báo Charlie Hebdo thì người ta đã thấy một sự im lặng thật đáng lo ngại trong khối dân Hồi giáo. Chỉ lác đác một vài tiếng nói chỉ trích hay than phiền còn không có một phong trào quy mô nào chống đối cuộc tàn sát này. Nói đây là một sự im lặng đồng loã thì hơi quá đáng, nhưng dù sao cũng là một sự im lặng đáng lo ngại.

Về phiá dân Tây Âu, hiện nay đã bắt đầu có nhiều phong trào quốc gia quá khích, chống chính sách di dân quá cởi mở hiện hữu. Các nước như Thụy Sỹ hay Đan Mạch đã có trưng cầu dân ý về vài chuyện liên quan đến chính sách này và kết quả đều bất lợi. Bên Đức hiện đang có một phong trào quần chúng chống lại sự bành trướng của Hồi giáo. Bên Pháp, đảng cực hữu của bố con ông Le Pen càng ngày có tiếng nói lớn.

Trong những ngày tháng tới, với dư âm cuộc tấn công Charlie Hebdo vang vọng, bảo đảm nhóm Le Pen sẽ ồn ào hơn bao giờ hết và sẽ đạt được nhiều thành quả chính trị lớn.

Làm như mâu thuẫn giữa dân điạ phương với khối di dân sẽ ngày một lớn mạnh chứ không có cơ giảm cường độ.

Cuộc tấn công báo Charlie Hebdo đưa cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo cuồng tín vào một trang sử mới, sẽ buộc tất cả mọi người, các chính quyền Mỹ, Tây Âu, ngay cả người dân Mỹ và Tây Âu, và cả khối Hồi giáo toàn cầu phải nhìn lại vấn đề, sắp xếp lại bàn cờ. (11-01-15)

VŨ LINH

NHÁY MẮT

nguyentancu

Nháy mắt em cười nheo lá răm
trái tim tôi muốn rụng qua đời
nháy mắt em làm tôi chờ đợi
tính tháng năm bằng… mắt lá răm

Nháy mắt em treo mộng nửa chừng
một lần tôi xé tuổi thanh xuân
nháy mắt em làm tôi… lờ lững
say suốt đêm dài – em biết không?

Nháy mắt – em làm tôi… ngất ngư
ngóng theo – không biết… khóc hay cười
cuối năm tôi biết mình tư lự
hồn cứ bâng khuâng mộng đến người

Nháy mắt em cười rất… tiểu thơ
ngó nghiêng là cái dáng em cười
ngó xiên là cái… đuôi con mắt
mắt khép – ơ kìa – môi ái khanh

Ồ mắt – có là – khanh – của anh
xoay lưng em ngoảnh mặt sao đành
mỉm cười – con mắt – nheo – nheo – nháy!
có thật – em là… khanh… của anh?!?

NGUYỄN TẤN CỨ

MÙA XUÂN HOA TRẮNG

nguyenanbinh

Nhớ Đà Lạt mùa xuân đầy hoa ban trắng nở.

Ai đem hoa ban giữa rừng Tây Bắc
Về điểm trang cho thành phố mù sương
Thiếu tiếng khèn giao duyên tình đôi lứa
Vẫn nồng nàn hơi thở đất phương Nam.

Em đem cả mùa xuân về phố núi
Nghe lòng mình xao xuyến gịọt sương mai
Từng sợi nắng vàng tươi màu áo lụa
Thả bên đồi đàn bướm ngất ngây bay.

Tôi trở lại ngày cuối năm phố núi
Ngỡ lòng mình lạc giữa chốn đào nguyên
Hoa ban nở trắng trong tình sơn nữ
Mắt mơ màng nghe tiếng hót chim quyên.

Tiếng suối chảy gởi tình tôi theo gió
Sợi tóc mềm em trói cả hồn tôi
Dáng ai nghiêng đợi bên hàng liễu rũ
Sóng ven hồ lất phất phấn thông rơi.

Lũ chim bay về gọi mùa xuân tới
Tôi lang thang tìm em trong giấc mơ
Em ơi có nghe đâu đây nhạc ngựa
Nhịp kiệu khua giòn một góc phố xa.

Đà Lạt xuân ngập tràn hoa ban trắng
Đường Quang Trung em về dưới cơn mưa
Tôi nhớ thương em qua mùa mê hoặc
Sao lòng còn thao thức những mùa xưa.

NGUYỄN AN BÌNH

Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi

trantrungdao

Đà Nẵng của tôi, một thời được xem như là một Lebanon của Châu Á, thành phố chiến tranh, xô bồ, tang tóc. Nơi đó, tháng 3 năm 1965, bước chân của những người lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ để làm đầu cầu cho cuộc chiến tranh tốn kém nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Địa danh Đà Nẵng xuất hiện nhiều lần trong quân sử Mỹ, nhiều hơn cả những mặt trận lừng danh trong thế chiến thứ hai như Bulge, Ardennes, Midway v.v. Đà Nẵng với những doanh trại, bãi biển được gọi bằng tiếng Mỹ: China Beach, TienSa Camp, Monkey Mountain.

Đà Nẵng của tôi, nơi những buổi chiều của tuổi mười ba, tôi vẫn thường đứng nhìn những đoàn xe mang nhãn hiệu Sealand, RMK, GMC nối đuôi nhau mỗi ngày trên chiếc cầu màu đen mang tên của một viên tướng Thực Dân. Những chiếc chiến xa nặng nề, những khẩu đại pháo nòng dài được cất lên từ chiếc tàu lớn neo ngoài cửa biển Sơn Chà. Tiếng gầm thét của những đoàn phi cơ chiến đấu đang đáp xuống phi trường quân sự ngoài ngã ba Duy Tân. Tiếng nhạc, tiếng cười, tiếng chọc ghẹo, okie, hello, goodbye của những người lính Mỹ và những cô gái Việt Nam vào tuổi chị tôi, vọng lại từ những hộp đêm dọc bờ sông Bạch Đằng. Tất cả đã khơi dậy trong lòng tôi nhiều câu hỏi, nhiều băn khoăn và cả những tủi thẹn đầu đời của một đứa bé Việt Nam, xót xa cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành cây chùm gởi. Tại sao? Tại sao lại là Đà Nẵng? Tại sao là Việt Nam quê hương tôi mà lại không phải một nơi nào khác?

Đà Nẵng của tôi, như định mệnh an bài, cũng là nơi an nghỉ của người lính Mỹ đầu tiên thuộc chiến hạm lừng danh Hoa Kỳ, USS Constitution. Không phải đợi đến 1965, khi các chiến hạm thuộc Đệ Thất hạm đội thả neo tại cửa biển Đà Nẵng để đổ bộ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên, nhưng từ hơn 120 năm trước, Đà Nẵng đã là một nơi hẹn hò đầy định mệnh giữa quân đội Việt Nam thời Thiệu Trị và Hộ Tống Hạm Hoa Kỳ đầu tiên của hải quân Mỹ dưới quyền của hạm trưởng John Percival. Theo các tài liệu còn ghi lại, năm 1845, chiến hạm USS Constitution của Hải Quân Hoa Kỳ, trên chuyến hải hành 2 năm vòng quanh thế giới, dừng lại cảng Đà Nẵng để xin cung cấp thực phẩm và nước ngọt. Cũng tại hải cảng lịch sử nầy, Hạm trưởng John Percival xin phép quan trấn thủ thành Đà Nẵng để chôn cất thủy thủ William Cook vừa qua đời, dưới chân Núi Khỉ nằm trong rặng Sơn Chà. Thậm chí ông còn “viện trợ” 2 Mỹ kim để lo phần hương khói. Tiếc thay, chỉ vài ngày sau đó, vì việc triều đình Huế bắt giam Giám Mục Dominique LeFevre, đã làm cho tang lễ thắm đượm tình nhân đạo của con người, biến thành một xung đột quân sự giữa hai quốc gia. Cuộc chạm trán ngắn ngủi năm 1845 rất ít người biết đến. Những viên đại pháo bắn vào lãnh hải Việt Nam, dù chỉ để đe dọa, cũng đã vô tình gây thương tích cho quan hệ đầy oan trái giữa hai quốc gia Việt Mỹ sau này.

Đà Nẵng của tôi có khu Ngã Ba Huế nhộn nhịp, nơi tôi từ Hội An về thăm cô tôi những chiều thứ Sáu trong những chiếc xe khách hiệu Renault già nua màu xanh đậm. Tôi vẫn nhớ căn nhà nhỏ, ánh đèn dầu loe lắt, bàn tay xanh xao của cô khi dúi vào túi tôi những tờ giấy bạc được gói kín trong nhiều lớp vải. Đó là những đồng tiền khó khăn và vô giá mà cô dành dụm cho đứa cháu trai vào Hội An nương náu trong chùa ăn học. Tôi ra Đà Nẵng tìm cô vào đầu năm 1968. Nhà cô nghèo, con cháu lại quá đông. Nhiều đêm tôi phải ngủ đói trên căn gác của một trại cây ở hẻm 220 Hùng Vương, ngang hông phường Thạc Gián. Vài tuần sau, vì nhà đông đúc, cô đưa tôi đến sống với người anh họ và bà chị dâu vô cùng khó tánh ở Cỗ Mân, Sơn Chà. Chị dâu tôi khó tánh đến nỗi, chỉ sau một thời gian ngắn, tôi không chịu đựng được nữa nên lặng lẽ bỏ đi. Tôi vào chùa Viên Giác. Năm tháng như mây trời, bao độ hợp tan mang theo những giận hờn, thương ghét. Cô tôi đã về bên cõi khác nhưng lòng tôi sao vẫn nhớ vẫn thương. Trên xứ người, nhiều đêm không ngủ được, nhớ lại tiếng ho của người cô bịnh hoạn, tôi vẫn còn nghe nhức nhối như thuở mới về thăm. Chiến tranh và nghèo đói đã cướp đi bao thế hệ Việt Nam vô tội.

Đà Nẵng của tôi không phải chỉ là điêu linh tang tóc mà còn là thành phố cảng đẹp tuyệt vời. Những bờ biển uốn cong như mái tóc của người con gái Việt Nam đang đứng trông ra Thái Bình Dương bao la bát ngát. Từ eo biển mỹ miều đó những thương thuyền ngoại quốc đã đến thăm thành phố từ mấy trăm năm trước. Đà Nẵng của tôi có hàng phượng đỏ hai bên đường Bạch Đằng, đường Độc Lập với những chiếc ghế đá dọc bờ sông mang chứng tích của một thời học trò đầy kỷ niệm. Đà Nẵng của tôi có bãi Mỹ Khê (chứ không phải China Beach), với bờ cát trắng chạy dài và hàng dương vi vu theo gió, có bãi Thanh Bình với những chiếc ghe đánh cá đi về và cảnh chợ chiều nhộn nhịp. Những ngày hè oi bức, tôi và đám bạn vẫn thường ôm đàn ra ngồi dựa lưng vào những gốc dương liễu dọc bãi biển. Trong tiếng sóng từng nhịp vỗ vào bờ, chúng tôi cùng cất cao bài hát Ra Khơi như để cổ võ cho những chiếc thuyền đánh cá đang giong buồm ra biển. Tôi đâu biết vài năm sau, bạn bè tôi cũng lần lượt ra khơi như thế nhưng chẳng còn ai dám đến tiễn đưa.

Đà Nẵng của tôi có những hàng cây sao tình tự dọc đường Thống Nhất, nối từ bờ sông đi ngang qua Trường Nữ, nơi các cô cậu học trò Phan Châu Trinh, Phan Thanh Giản vẫn thường đứng đợi người trong mơ sau mỗi buổi tan trường. Những chiếc áo dài trắng thướt tha. Những mái tóc thề chấm vai thơ mộng. Những đôi mắt nai tơ đó đã từng là nguồn cảm hứng của nhiều nhà thơ xứ Quảng đa tình. Xin mời đọc vài câu thơ của nhà thơ Luân Hoán viết về các cô nữ sinh Đà Nẵng:

chiều chiều luồn chợ Vườn Hoa

trôi theo Đồng Khánh bám tà áo bay

mắt hồng liệng cái ngoắt tay

dắt qua Độc Lập dựa cây đèn đường

chập chùng xuân ảnh vải hương

ngó ai lòng cũng yêu thương tức thì

giả vờ châm thuốc nhâm nhi

nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình.

(Đà Nẵng, thơ Luân Hoán)

Các cô nữ sinh của một thời thơ mộng tung tăng như những con bướm vàng trên đường Thống Nhất, Lê Lợi, Hoàng Diệu, Khải Định ngày xưa, đã không về nữa. Các cô đã ra đi, đã bỏ lại sau lưng mình hàng cây sao rợp bóng bên đường, bỏ lại những chiếc ghế vuông, những ly chanh muối, những quán chè. Các cô bây giờ đã lớn, đã trưởng thành. Nhiều cô đã là những bà mẹ tay bồng tay bế, để rồi, 17 năm sau ngồi nhớ lại năm mình 17 tuổi.

Và các cậu học trò cũng thế. Những chàng thanh niên với buồng phổi và trái tim chất đầy hùng khí của xứ địa linh nhân kiệt đã ra đi. Thế hệ trẻ Việt Nam trong thời chinh chiến và cả khi đất nước hòa bình, đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi mất mác. Nỗi bất hạnh lớn nhất của một đời người vẫn là bất hạnh không có tuổi hoa niên. Các cậu học trò ngày ấy ra đi, bỏ lại sau lưng những chiếc xe đạp, những quán Cà-phê Thạch Thảo, Thanh Hải, Ngọc Lan, những rạp hát Trưng Vương, Chợ Cồn, bỏ lại cây đàn guitar cũ kỹ và những bản tình ca chưa viết trọn trong sân trường. Để rồi nhiều năm, sau cuộc biển dâu, chinh chiến, gian lao, tù tội trở về. Trở về chỉ để thấy thành phố xưa nay đã đổi chủ và con đường xưa nay đã đổi thay tên. Tuổi thơ không bao giờ trở lại. Suối vẫn chảy, nước vẫn reo nhưng điêu linh tang tóc đã xua bầy nai tơ lạc đàn đi biền biệt, mất dấu đường về bên khe đá cũ.

Sau 1975, những bãi biển Mỹ Khê, Thanh Bình, Tiên Sa, Thanh Khê, Tân Thái, Mân Quang, Chợ Mai, Chợ Chiều, Non Nước, Nam Ô, v.v.., vẫn còn là điểm hẹn nhưng không phải là nơi hẹn hò của những cặp tình nhân mà là nơi những người con Đà Nẵng hẹn nhau để bỏ quê hương mà ra đi. Xin đừng hỏi họ đi đâu, về đâu trong những đêm tối trời lầm lủi đó. Không ai biết chắc. Chỉ một điều họ biết là họ không còn chọn lựa nào khác hơn là phải ra đi. Không một người dân Quảng nào bỏ quê hương ra đi mà không đau xót.

Xin đừng dán lên lưng, lên trán họ những nhãn hiệu theo Tây, theo Mỹ. Không. Người dân Quảng là những người yêu nước. Ông cha họ đã từng cười mà bước lên máy chém Thực Dân. Những cơn bão lụt tàn phá mỗi năm đã không làm họ bỏ làng mạc ra đi. Nạn hạn hán làm ruộng đồng khô cháy mỗi năm không buộc họ phải bỏ mồ mả tổ tiên ra đi. Sụp căn nhà này họ căm cụi xây trên nền đất cũ căn nhà khác. Trôi căn nhà này họ lại xẻ gỗ, lợp tranh xây lên căn nhà khác. Bao thế hệ đã sống và đã chết trên vùng đất cày lên sỏi đá đó. Nhưng chế độ mới, một chế độ nhân danh những mục tiêu tốt đẹp nhất trên đời đã buộc họ phải ra đi. Sự thôi thúc của tự do như tiếng gọi thiêng liêng của người cha già vọng về từ một nơi xa thăm thẳm. Và sẽ không ai biết, bao nhiêu người, trong số hàng ngàn, hàng vạn người bỏ Đà Nẵng ra đi, đã đến được HongKong, Philippines và bao nhiêu người không may mắn đã bị chôn sâu trong lòng biển, chết thảm thương trong bàn tay hải tặc, chết trong đói khát sau những tuần, những tháng lênh đênh ngoài biển cả.

Đà Nẵng của tôi, sau 1975, không còn thơ mộng nữa. Những câu ca dao đậm đà tình quê hương đất nước: “Ngó lên hòn Kẽm đá Dừng, thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi” đã được thay bằng những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp chất chứa toàn chuyện oán thù. Những điệu hò khoan đậm đà hương vị Quảng Nam “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, rươụ hồng đào chưa nhấm đà say” đã được thay bằng những những đêm dài học tập, thảo luận, khuyến khích thầy cô, cha mẹ, anh em tố cáo lẫn nhau. Ánh trăng không còn là những dải lụa vàng Duy Xuyên đang trải trên dòng sông Hàn mỗi đêm Rằm, nhưng là những vết dao nghèo đói đang chém xuống một quê hương vốn đã chịu đựng nhiều bất hạnh.

Ngày cuối cùng của tôi ở Đà Nẵng như đoạn kết của một cuốn phim buồn. Tôi và cô bé, lý do cho những bài thơ tình học trò đầy sáo ngữ của tôi, ngồi trên chiếc ghế đá trên đường Bạch Đằng, nhìn sang hướng Sơn Chà.

– Anh sắp phải đi xa.

– Em biết.

– Sao em biết, anh chưa nói với em mà?

– Anh nói với em rồi. “Anh phải vô Sài Gòn học đại học. Học xong anh sẽ về quê, không đi nữa.” Em còn nhớ anh nói với em câu đó lúc mấy giờ, ngày nào và tại đâu nữa kìa.

– Không phải. Đó là chuyện hồi chưa “giải phóng”, bây giờ thì khác.

– Bây chừ anh tính đi đâu?

– Anh vượt biên. Nếu đi lọt, có thể anh sẽ qua Mỹ học.

– Bộ ở Việt Nam không có trường cho anh học sao. Em nghe nói Mỹ xa lắm, chắc là xa hơn Sài Gòn nhiều. Mùa hè làm sao anh về thăm quê được.

– Anh sẽ về nhưng chắc không phải mùa hè.

– Anh lại hứa.

Hai đứa nhìn ra sông. Chiếc phà An Hải vẫn mệt mỏi đưa người qua lại. Giọng hát buồn não nuột của anh thương phế binh cụt hai chân từ ngoài bến vọng vào: “Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi. Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì. Tôi là người đi chinh chiến dài lâu. Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sâu”. Anh hát để tưởng nhớ bạn bè nhưng không biết rằng bạn bè anh đang lần lượt bỏ anh đi. Hàng phượng dọc bờ sông đã bắt đầu nở rộ nhưng không còn để “Mỗi năm đến hè, lòng man mác buồn” nhưng là mùa chia tay vĩnh viễn, nát tan.

Nước sông Hàn lững lờ trôi mang theo dăm chiếc lá. Hai đứa ngồi im lặng, không biết phải nói gì. Nói gì rồi cũng chia tay. Em đơn giản, hồn nhiên và ngây thơ đến tội nghiệp. Em sẽ chẳng thể nào hiểu được tôi, và tôi cũng chẳng biết giải thích thế nào cho em hiểu. Trái đất của em nhỏ nhoi, bao bọc bởi những rặng tre xanh hiền hòa. Tâm hồn em là giòng sông mùa thu êm đềm, tĩnh lặng. Tâm hồn tôi thì hoàn toàn tương phản, trùng điệp núi đèo, ghềnh thác. Tôi sinh ra trong cuộc đời này để gánh hết khổ đau, để làm tên du mục đi lang thang trên chính quê hương mình. Và ngày mai, tôi lại sẽ bắt đầu hành trình du mục mới. Con nước trôi còn biết mình đang ra biển. Chiếc lá rơi còn biết cội quay về, nhưng tôi không biết sẽ về đâu.

Hai mươi hai năm rồi tôi chưa về Đà Nẵng. Cô tôi đã qua đời. Bạn bè mỗi người một ngã. Cô bé ngày xưa đã có gia đình. Khuôn mặt thành phố mang nhiều thay đổi. Đà Nẵng thân yêu ơi, có còn nhớ đến tôi không? Căn gác đường Hùng Vương, căn nhà lá phía trong Ngã Ba Huế, cồn cát trắng ở Mân Quang, nơi tôi chôn dấu kho tàng tuổi thơ khốn khổ của mình, biết có còn nhận ra tôi, cho dù tôi trở lại. Và đêm nay, tôi ngồi đây, tưởng tượng một ngày về Đà Nẵng.

Và biết đâu, nhờ chưa về, mà thành phố còn nguyên vẹn trong trái tim tôi, bởi vì, nếu tôi về thăm, Đà Nẵng chắc sẽ không còn nữa. Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi.

Trần Trung Đạo

MƯA VỀ ĐÂY, CÒN EM VỀ ĐÂU?

tranvannghia

Mưa về đây, còn em về đâu?
Sông xưa nước vẫn chảy qua cầu
Nước mong tìm lối về bến cũ
Còn bóng tôi tìm với bể dâu

Mưa về đây, còn em về đâu?
Hàng cây đứng đợi lá nghiêng đầu
Có rơi góc phố chiều hò hẹn
Xin đợi tôi tìm trong chiêm bao

Mưa về đây, còn em về đâu?
Tình xa ướt sủng gió xô nhầu
Dẫu rêu khuất mái ngôi nhà cũ
Vẫn nhớ ánh đèn khuya xanh xao

Mưa về đây, còn em về đâu?
Sân ga thảng thốt níu con tàu
Môi chưa nói hết lời từ biệt
Mà đắng xót lòng buông tay nhau

TRẦN VĂN NGHĨA

Tuổi Thơ Ngày Năm Mới

tranvanle

Sau hai tuần nghỉ Lễ, học trò lại đến trường. Những chiếc xe bus vàng ,lại dọc ngang trong phố…

Tôi không còn tuổi nhỏ, chỉ nhìn theo nhìn theo…những bước chân bé trèo, những bàn tay bé nắm…

Xe bus không chật lắm, chỉ nụ cười nở toang. Những tiếng cười vang vang. Cuối đuờng xe mất hút…

Ngày đầu năm có thật – ngày nắng mới vàng tươi, những xe bus vàng ơi ,chở tuổi thơ tới bến!

Những tia nắng lưu luyến- chạy theo xe bus vàng. Tôi ngó trời mênh mang. Tôi ngó đường thênh thang…

Tuổi xanh tôi vương vương, mái tóc vàng nắng chiếu. Không một lần tôi hiểu: Mình Đang Ở Xứ Người!

Chiếc xe bus chạy rồi, tôi về nơi tôi trọ ,nghe lòng tôi thương nhớ, tuổi thơ tôi…ngày xưa…

Trần Vấn Lệ

THIÊN ĐÀNG VÀ ĐỊA NGỤC.

truongvandan

…Chủ nhật chúng tôi chỉ muốn nằm nhà bên nhau. Quỹ thời gian sống còn được bao lâu? Nhưng bè bạn lại đến chơi. Sao anh lắm bạn thế nhỉ? Anh hiếu khách, nên bạn bè thường đến chơi chuyện trò rôm rả. Ông nào cũng hăng, từ tranh luận đến tranh cãi đủ chuyện trên trời dưới đất, chuyện kinh tế, xã hội, môi trường, từ chuyện hôm nay đến chuyện cả ngàn năm sau.

Hai khách hôm nay, một là anh vợ, họa sĩ Lâm, một là em rể, thương gia Hưng. Anh vợ em rể, nhưng xưng hô mày tao thoải mái. Họ là bạn thân từ hồi trung học. Hình như anh Hưng vừa đi chơi golf về, trên đường về tiện ghé chở anh Lâm và họ tranh luận điều gì đó trên đường đi chưa đã, nên ghé đây cãi tiếp.
Anh thích những buổi tranh luận như thế, thường kiên nhẫn lắng nghe, đôi khi chen vào…

Tôi đứng dậy pha cà phê, anh ngả mình trên ghế nghe các bạn đang mải câu chuyện, thỉnh thoảng liếc sang như thể anh là trọng tài
– Kinh tế phát triển. Tao thấy bây giờ đời sống tốt hơn xưa nhiều, Hưng ngồi vắt chân chữ ngũ, nhấp nhấp ly cà phê…
– Chưa chắc đâu, Lâm thủng thỉnh, hồi trước, gần nhà tao có ông công chức quèn đi làm, vợ ở nhà trông con, nội trợ, vậy mà họ vẫn sống, ba đứa con đều con tốt nghiệp đại học, thành đạt cả. Bây giờ cuộc sống tăng lên, nhưng mấy ai đã làm được thế? Chồng là kỹ sư, vợ là nhà giáo, cả hai đều đi làm, nuôi một đứa con còn thấy chật vật. Không ai dám bỏ việc.
– Cái giá của tăng trưởng là phải thế. Đời sống cao hơn, nhiều vật chất hơn, nhiều tiện nghi hơn. Phải xài tủ lạnh, máy lạnh, máy DVD, karaoke, computer, internet,… Mấy cái tiện nghi của thời đại thông tin này, bộ bỏ qua không xài à? Muốn thụ hưởng, phải có tiền. Muốn có tiền phải đi làm, chồng đi làm không đủ, vợ cũng đi làm. Con cái hả? Cho đi học trường quốc tế. Có tiền là xong tuốt. Chẳng lẽ hàng xóm hưởng thụ mấy cái tiện nghi đó, còn mình thì nhắm mắt à ? Thời buổi cạnh tranh mà !.
– Đồng ý, nhưng tại sao lại phải cạnh tranh? Chẳng lẽ không có lối sống nào khác sao? Ai cũng làm việc quần quật với nhịp độ kinh khủng để sản xuất ra cái mobile phone đủ model, mà tiện ích có khi người dùng cũng chưa biết xài hết. Rồi đến lượt người khác cũng phải đầu tắt mặt tối mới có thể mua nổi mobile hiện đại đó. Đây là cách sống dựa vào vật chất.
– Mày hoài cổ. Cứ hay phê phán đời sống mới. Có thấy đầu tư nước ngoài vào nhiều hơn không?
– Thấy chứ. Đầu tư nhà máy ở Việt nam là…bèo. , chỉ cần mang dây chuyền cũ, công nghệ lạc hậu cũ, không biết bán cho ai, qua Việt Nam hợp tác liên doanh là làm giàu đủ rồi, định giá công nghệ cũ cao, công nhân rẻ, quảng bá thương hiệu, . . Không giàu to à?
– Họ có đóng thuế cho ta mà!
– Thuế? Lâm cười lớn. Thất thoát lớn ông bạn ơi. Không ít doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã khai giá nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài cao hơn giá mua thực tế để tăng chi phí, dẫn đến thua lỗ để khỏi phải nộp thuế thu nhập doan nghiệp. Nhiều doanh nghiệp khai lỗ mấy năm liền để tránh thuế nhưng liện tục mở rộng quy mô sản xuất.
– Chắc cũng có chuyện này, nhưng nghĩ cho cùng, chẳng lẽ chúng ta ngồi im nhìn Việt Nam nghèo đói mãi? Cũng phải tạo công ăn việc làm cho người dân chứ. Tao nghĩ là muốn hiện đại để bắt kịp Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan chúng ta cần phải dựa vào nước ngoài và viện trợ quốc tế. Dĩ nhiên phải trả một cái giá nào đó. Không ai cho không cái gì.
– Việc làm hả? Hiện đại hóa để bắt kịp người ta hả? Muốn thế phải khởi đầu từ công nghệ mới, năng suất hơn, giá thành rẻ hơn, chứ không phải từ công nghệ lạc hậu. Đó là lợi thế của thằng đi sau, mày hiểu không? Đó là chưa nói đến môi trường, công nghệ lạc hậu sản xuất bột ngọt, men bánh mì,… thải ra môi trường cả đống chất độc hại. Giải quyết nước thải ở mấy quốc gia đó, có mà đẩy giá thành sản phẩm lên đến tuyệt đỉnh. Thôi mang qua Việt Nam sản xuất cho thoải mái, luật môi trường còn lỏng lẻo, viên chức nhà nước cũng lỏng lẻo luôn…Không sướng à? Còn ô nhiễm môi trường, đâu cần đến thế hệ sau mới thấy. Tôm cá chết đầy sông, trồng trọt cái gì thì thua cái đó, nuôi heo nuôi gà cũng thua luôn, mày không thấy à? Vậy đâu là mục tiêu của phát triển ? Để con người hạnh phúc hơn hay để họ bị lệ thuộc nhiều hơn ?
– Mầy cũng có lý, nhưng không thể phủ nhận giá trị tăng trưởng. Những năm vừa rồi, thu nhập bình quân đầu người đã tăng nhiều lần
– Đừng vận dụng quá khứ đói khổ, so sánh với những năm tháng cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc để nhấn mạnh đến thành tựu chứ ông bạn. Đồng ý là mặt bằng có tăng, nhưng cũng phải xét đến các khía cạnh khác nữa.Vì nếu không trừ những thiệt hại đối với nông, ngư, môi trường, số tiền phải chi trả cho bệnh viện để chăm sóc các vấn đề nảy sinh như sức khỏe, thì chưa đủ. Tao sợ rằng chúng ta tăng trưởng theo mẫu hình : đổ tiền ra đầu tư, sản xuất vô độ, huỷ hoại môi trường. Trên mặt báo không thiếu những câu chuyện cầu không ai đi, cảng không ai đến, sân bay không ai dùng, hàng đống biệt thự sang trọng bỏ không. Đừng có hù tao, GDP tăng trưởng 7-8% , thu nhập đầu người một hai ngàn đô la. Tăng trưởng và phát triển khác nhau xa…
– Khác chỗ nào?
– Tăng trưởng càng cao, của cải xã hội càng nhiều, phân hóa giàu nghèo càng tợn. Của cải chỉ chui vào túi một nhóm người. Đâu là an sinh xã hội? Đâu là phúc lợi mà người dân được hưởng? Cá nhân trong cộng đồng có điều kiện tiến thân như nhau không? Hay con bác sãi chùa thì cứ tiếp tục quét lá đa cho được việc… Một quốc gia phát triển hay không là ở chỗ đó đấy. Còn ỷ vào viện trợ quốc tế hả? Xin lỗi… Chơi dao hai lưỡi, quờ quạng là phá sản như chơi…
– Phá chỗ nào?
– Tao cho mày một thí dụ của Philippines. Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế viện trợ cho nước này với yêu cầu mở cửa thị trường cho hàng hóa và vốn đầu tư nước ngoài. Họ khuyên Philippines tập trung sản xuất quần áo, giày dép, hàng điện dụng, nói chung là các ngành thâm dụng lao động, cần nhiều nhân công và kỹ thuật không cao. Nói thì nghe ngon, nhưng sau khi phá giá đồng pesos, để dễ xuất khẩu, xuất qua mấy nước giàu, một hai năm đầu còn trôi chảy, về sau, tưởng ngon, xuất nhiều thì những mặt hàng này bị cạnh tranh khốc liệt với các nước Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan…cũng đang nhận viện trợ và được khuyên sản xuất các mặt hàng tương tự. Thế là hàng ứ đọng. Kẻ bán nhiều mà ít người mua, thế mà sau đó các ông nhà giàu cho vay còn kiếm chuyện, lập hàng rào kỹ thuật, áp thuế chống phá giá… như ngón đòn ác hiểm đá vào hạ bộ. Gục. Nhiều doanh nghiệp đã “chết”, hay trên bờ vực phá sản. Đầu tư nước ngoài đổ vào, ai mà không sướng, tiền bạc rủng rỉnh, tiêu xài hàng cao cấp nhập khẩu, xe hơi, nước hoa,… Đến giai đoạn trả nợ bằng đô la , mới khốn khổ. Xuất không được lấy gì trả nợ? Phá giá đồng tiền nữa để dễ xuất hàng, thì dân khổ. Việt Nam có rơi vào trường hợp của Philippines hay không thì tự mày đoán ra… Quẹt gas, xe đạp mà tụi Châu Âu còn áp thuế chống phá giá muốn nín thở, nói gì đến hàng thực phẩm tôm cá, giở chiêu đánh phá giá mà mày còn lỳ đòn hả?, đánh luôn tiêu chuẩn an toàn thực phẩm… là sụm ngay. Có Chúa mới hiểu thế nào là “an toàn thực phẩm tuyệt đối” kiểu Châu Âu.
– Thì nước nào chẳng có chính sách bảo hộ mậu dịch. Mình phải biết luật chơi chứ!, Hưng chống chế
– Trước khi nhận đầu tư từ ngoài, phải biết dự đoán và bảo vệ mình.Tao thấy nền kinh tế hiện nay rất mong manh, dễ vỡ. Hiện nay chỉ số giá tiêu dùng cao hơn tốc độ tăng lương thì chất lượng nằm ở đâu ? Người dân không cần biết kinh tế tăng bao nhiêu; người ta chỉ biết lương mình trước đây mua được 200 tô phở, sau vài năm chỉ còn mua được 150 tô. Đấy là chưa kể giá nhà đất. Một người bạn của tao hai năm trước dành tiền mua một căn hộ 60 m2, còn thiếu một 100 triệu ; năm nay cũng căn nhà khu đó, cần phải thêm 300 triệu mới mua được. Vậy về mặt xã hội, căn hộ 60 m2 đất vẫn chỉ là 60 m2, có tăng thêm được chút nào đâu !
Nếu phát triển kiểu này thì không thể nào xuất khẩu ra thế giới và kiếm tiền của người mà chỉ có thể trấn lột dân nghèo.
– Mầy rắc rối. Suy nghĩ nhiều quá! Đời sống cao hơn thì cứ làm giàu đi. Hãy hưởng thụ.
– Không! Tao nghĩ tăng trưởng kinh tế cần phải đi đôi với phát triển xã hội. Có nơi như Bhutan không nhắc đến tăng trưởng mà nói đến chỉ số hạnh phúc GNH .
– Nữa! Lại tự làm khổ mình. Này nhé, về chuyện này tao thấy nghịch lý : Nhiều quốc gia có chỉ số hạnh phúc vượt trội so với các quốc gia tiên tiến có nền kinh tế phát triển, nhưng người dân tại các quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao vẫn có nhu cầu tìm đến và xin định cư ở những quốc gia có chỉ số hạnh phúc thấp. Hàng ngày có bao người sắp hàng trước sứ quán các nước phương Tây!
– Họ nghèo quá nên trước hết phải kiếm lấy miếng ăn….

Cuộc tranh luận đang sôi nổi thì bác Thuận đến. Ông bác sĩ già xem ra thoát tục, chẳng có gì trên cõi đời này làm ông vội vã.
– Bác đi ngang, ghé thăm Gấm xem có khỏe hay không thôi. Tới đây, thấy đang ngồi hóng chuyện, chắc là khỏe rồi ! Các anh cứ tiếp tục đi…, Bác Thuận từ tốn.

Lâm hào hứng vào cuộc tiếp…
– Họ nghèo, nên phải kiếm miếng ăn. Họ chưa hiểu hết những gì chờ đợi họ nếu được gia nhập vào “thiên đường” ở nước người. Nhiều người Việt sống lâu năm ở Mỹ và các nước Tây phương đều đang vỡ mộng. Họ có nhiều thứ hơn xưa: điện thoại di động, xe hơi, cao ốc…mà so với thời trước đời sống căng thẳng và thiếu hạnh phúc. Quốc vương Thái Lan mới đây cũng phát biểu: “Là một con hổ không quan trọng. Điều quan trọng là có một nền kinh tế có thể cung cấp đủ để ăn và sống”.
– Nhưng chúng ta không thể tự cô lập mình. Cần phải làm giàu. Và phải thoát cảnh nghèo đói
– Thì đúng thôi! Ngay cụ Khổng ngày xưa cũng quan tâm đến chuyện làm giầu, có lúc còn khuyến khích : “Ở một nước có đạo lý mà mình nghèo hèn thì đáng xấu hổ ; ở một nước không có đạo lý mà mình giầu sang thì đáng xấu hổ ”. Bác Thuận tiếp lời.
– Hay quá! Đúng quá. Nghèo cũng là một cái tội. Hưng như được tiếp sức.

Bác Thuận trầm ngâm một lát rồi nói như tâm sự :

– Nhưng nếu sống chỉ chạy theo vật chất là sai lầm. Hạnh phúc là sống bình an. Có lẽ vì thế mà nhiều nước đang xét lại sự phát triển của mình và nghiên cứu kinh sách Phật giáo và triết học Đông phương.
Suốt buổi, đây là lần đầu tiên anh lên tiếng: “ Theo con, đây là quyết định đúng đắn. Cần phải dừng lại và suy ngẫm. Chúng ta đang quá đà.”
– Chẳng những cần mà còn phải nữa. Hiện nay chúng ta đang bước vào giai đoạn cuối của thời đại kỹ nghệ đặt căn bản trên các nhiên liệu hoá thạch, trên dầu lửa, trên các loại khí đốt thiên nhiên. Nghĩa là nguồn năng lượng làm chuyển động nền văn minh kỹ thuật của các thế kỷ trước đang bắt đầu tàn lụi. Và chúng ta sắp bước vào một kỷ nguyên mới.
– Vì dầu lửa sẽ hết?
– Đúng! Ai cũng biết là nguồn nhiên liệu này có hạn. Có hạn không có nghĩa là cạn kiệt, dưới lòng đất chỗ nào cũng có, nhưng để khai thác có hiệu quả kinh tế thì từ nay sẽ càng ngày càng khó. Đã rất xa cái thời đào đâu cũng thấy dầu tràn. Vì chúng ta đã đào khắp nơi, trong lòng đất, dưới đáy biển.
– Không nhiên liệu là bế tắc. Nay mai chắc sẽ thấy người kéo xe xuất hiện trên đường phố quá! Mà tại sao con chưa thấy nước nào có hành động cụ thể?
– Vì lòng tham và ích kỷ. Chúng ta đang sống như không cần tương lai. Chúng ta sống như chỉ muốn hiện tại không bao giờ kết thúc. Với phương tiện hiện nay, sự vùi đầu dưới cát của các nước Âu Mỹ không thể đổ lỗi tại thiếu tiền hoặc thiếu kiến thức. Cái thiếu lúc này là một chữ Tâm làm nền tảng cho những tư duy và hành động
– Vậy theo ý bác thì tương lai sẽ ra sao? Chúng ta sẽ phải làm gì?
– Bác nghĩ là thế giới này cần tạo một cuộc cách mạng mới, một cuộc cách mạng kỹ nghệ thứ ba. Mục đích là loại bỏ nguồn năng lượng dựa vào nhiên liệu hoá thạch và triệt để sử dụng năng lượng tái tạo trong thế kỷ XXI. Con thấy không, mặt trời ngày nào không soi sáng thế giới. Mỗi ngày gió đều thổi vi vu trên khắp địa cầu. Từ bất cứ nơi nào trên thế giới chúng ta đều có nguồn hơi nóng dưới lòng đất và biến nó thành năng lượng không khó. Nếu sống ở vùng quê, chúng ta có thể sử dụng những phế phẩm của nông nghiệp và lâm sản. Nếu sống ở vùng biển chúng ta có thể khai thác chuyển động của sóng. Chúng ta còn có thể biến các thứ rác thải thành năng lượng. Trí tuệ nhân loại phải hướng về điều này thay vì làm điện thoại di động, TV, xe hơi, computer… đời mới. Và đây mới là sự thách thức cho tương lai. Bắt buộc. Mọi quốc gia thành viên đều phải tham gia . Ngoài ra chúng ta còn phải hợp lực đối phó với sự biến đổi khí hậu, điều này không chỉ có nghĩa là trái đất nóng dần lên mà còn phải quan tâm đến chế độ mưa nắng đổi thay và nền sản xuất nông phẩm nhiều nơi bị tàn phá.
-Ý tưởng tuyệt vời !
Anh reo lên. Còn anh Hưng và hoạ sĩ Lâm dường như bị lôi cuốn về những ý kiến của bác.
– Nhưng có lẽ thay vì gọi là cuộc cách mạng, bác thấy nên gọi là “cuộc tiến hoá mới của loài người”. Bác hy vọng là các thế hệ tiếp nối sẽ biết là chúng ta đang đi trên con đường sai lạc và phải đổi chiều. Rất tiếc là hiện nay mỗi cá thể đều bị trói buộc bởi những chính sách thối nát, những ràng buộc vào sự giả dối của các hệ thống ngân hàng và phải chấp nhận tất cả những gì mà các chính khách và giới tài chính đang lũng đoạn và áp đặt.
Bác quay sang anh, “Bác vừa dịch một tiểu phẩm từ email của một người bạn từ Ý gửi qua. Thấy hay, nên đến đây, vừa thăm Gấm, vừa đưa cháu, xem có báo nào thích thì đăng. “Bác già rồi, tranh luận không còn sôi nổi như mấy anh chị, thôi thì nói chuyện ngụ ngôn cho ngắn gọn”, giọng ông già hóm hỉnh.

Bác rút trong túi áo mảnh giấy gấp tư đưa anh, nhưng Hưng chồm sang, cầm lấy và đọc to :

Thiên Đường & Địa Ngục

Một người đàn ông gặp Chúa và thỉnh cầu: “Lạy Chúa, con rất muốn biết thế nào là Thiên Đường và Địa Ngục”. Chúa dắt ông ta đến trước hai cánh cửa.Ngài mở một cánh cửa và bảo ông ta nhìn vào bên trong. Ông ta thấy, một chiếc bàn tròn thật lớn, giữa bàn bày rất nhiều thức ăn, mùi thơm phưng phức làm ông ta thèm chảy nước miếng. Nhiều người ngồi quanh bàn, nhưng trông họ gầy gò, nước da xanh tái, bệnh hoạn. Họ có vẻ rất đói. Trên cánh tay họ gắn những chiếc muỗng nhưng cán rất dài. Họ có thể với lấy thức ăn nhưng vì cán muỗng dài hơn cánh tay nên không thể đưa thức ăn vào miệng .
Người đàn ông rùng mình khi nhìn thấy đau khổ của họ .
Chúa phán : “Con vừa nhìn thấy Địa Ngục”

Sau đó Chúa dẫn ông ta đến chiếc cửa thứ hai. Chúa mở cửa. Quang cảnh mà người đàn ông nhìn thấy vẫn giống như lần trước. Có một chiếc bàn thật lớn bày biện nhiều thức ăn làm ông ta chảy nước bọt. Nhiều người ngồi quanh bàn có những cánh tay gắn những chiếc muỗng cán dài. Nhưng lần này ông ta thấy mọi người đều khoẻ mạnh và vui vẻ nói cười.
Chúa phán “ Đây là thiên đường”
Người đàn ông ngạc nhiên, “Lạy Chúa, con không hiểu!”
– “Đơn giản thôi”, Chúa trả lời, “những người này biết là cán muỗng quá dài, không thể tự đút ăn cho mình được…Tuy nhiên họ có thể đút thức ăn cho người ngồi cạnh mình. Bởi vậy họ đã thực hành việc người này đút thức ăn để nuôi người kia.
Chúa tiếp: “ Con biết không, ta còn muốn nói thêm một điều này nữa… Trên trái đất này có đủ thức ăn để thoả mãn nhu cầu của tất cả nhưng không thể thoả mãn lòng tham lam của một nhóm người. Những ý nghĩ của chúng ta, dù có tốt lành đến đâu cũng chỉ là những viên ngọc giả nếu nó không được biến thành hành động. Con phải là sự thay đổi mà con muốn nhìn thấy điều đó xảy ra trên thế giới ”
– Tuyệt vời quá!
Bác Thuận nhìn chúng tôi và nói thêm :
– Bác nghĩ, cuộc cách mạng duy nhất là cuộc cách mạng nội tâm. Cuộc cách mạng chuyển hoá lòng tham, giận dữ thành nhân ái, thân thiện với người và với thiên nhiên. Con người không thể sống bình an và hạnh phúc khi dùng cái ác làm phương tiện.

Bác ra về, nhưng chúng tôi ai cũng trầm ngâm về câu chuyện chiếc muỗng dài…

TRƯƠNG VĂN DÂN

BAN MAI KHÁC

nguyenthikhanhminh

Đâu đó
Khúc nhạc của người da đen
Rơi vào buổi sáng
Nơi giờ khắc thong thả của những giọt cà phê
Bỗng nức nở những hạt lệ mầu đen, khóc nắng
Tiếng kèn run rẩy bóng đêm
Thốc tới một ban mai rất khác
Cây xương rồng trong bình
Khóc nhớ sa mạc

Tiếng dương cầm
Buộc tôi vào gió
Dưới bóng mát những lùm cây
Tôi tan ra khoái cảm
Ban mai cũng thế
Đang là một bài ca trữ tình được viết bằng những nốt nhạc
Mà bao lâu nay
Nó cứ ngỡ mình chỉ được vẽ bằng ánh sáng
Như thời gian
Cũng tin rằng mình đã được viết bằng chờ đợi.

Đừng nói gì
Ban mai đang dịu dàng biết mấy
Em sợ tiếng nói
Sẽ chạm vào con gió nhẹ
Em sợ sức nặng của lời
Làm hỏng đi mầu xanh đang thao thức trong cây
Em sợ tiếng nói
Không có gì chở che
Sẽ rơi
Những hạt sương tan
Đừng nói gì trước khi ngày tới
Em cũng chưa sẵn sàng
Để nghe lời từ giã

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH