biến khúc thời gian

sẽ có một lúc nào đó
chúng ta sẽ phải tìm về con đường đã từng qua
ở đó có dấu chân thời gian
cơn gió màu xanh lá
thổi qua nửa chừng xuân
bỗng hốt hoảng ngoái nhìn
bầu trời phía sau lưng
đã rực lên một màu hoang dã

bằng cách nào đó
có thể em sẽ nhặt được
tiếng ca đã từng rơi trên thảm cỏ hồng
bình minh thì rất vội
dòng sông đã bỏ đi rất xa
chỉ còn lại cây cầu
chơ vơ cùng tháng năm rời rã

dù thế nào
em cũng sẽ nhận ra
trong dòng âm thanh bất tận kia
có tiếng thầm thì của bông hoa đã úa tàn
nói với em những điều em chưa từng nghĩ đến
dội vào tâm thức
những sớm mai phù vân

thời gian sẽ song hành với chúng ta
để nâng niu những mảnh vỡ ký ức
ánh trăng xanh vô tình
rơi xuống vạt áo em
gợi mở một mùa thu huyền hoặc
những giấc mơ rối bời
lấp lửng sầu đông

NP phan

Tứ Tuyệt

1

Một giây một phút mà thuơng nhớ
Hồ huống trăm năm, đã một đời!
Núi cách sông ngăn đành chịu vậy
Nợ không duyên cũng nợ duyên thôi!

2

Người Tàu nặn óc bốn câu thơ
Ta cũng làm thơ cũng lụy đò
Bến giác bờ mê sương khói tỏa
Hương quan nhật mộ chẳng ai chờ!

3

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn không về bàn tay không!
Tiễn bạn, Thâm Tâm buồn buột miệng
Rồi, Thâm Tâm chết! Biệt Non Sông!

4

Mai, mùa Đông tới, đổi giờ rồi
Ta thổi hơi tàn cho lá rơi…
Chiếc lá cuối cùng rơi xuống đất
Trái tim ta hóa Nguyệt trên trời…

5

Trái tim ta vỡ thành tinh tú
Ta nói mơ hồ Nước Mắt Sao
Ta uống biển sông mà cạn hết
Chắc chi ta thấy lệ ta trào?

6

Ba năm Má đợi con về lại
Mà đã mười năm, mấy chục năm
Tống Biệt Hành ngâm, ta ứa lệ
Giận Thâm Tâm quá nhé Thâm Tâm!

Trần Vấn Lệ

TRẦN DOÃN NHO NGƯỜI DẪN NẮNG ĐI CHƠI



(TRẦN DOÃN NHO)
Photo: Nguyễn Huệ Chi

“Chạy: biết bao thảm cảnh, nhất là thảm cảnh thuyền nhân rúng động thế giới.
Chạy: một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” vô tiền khoáng hậu.”
(Trần Doãn Nho)
Trần Doãn Nho, tôi không biết gì nhiều về anh, ngoại trừ những truyện ngắn trên Văn đọc được trước năm 75. Và chỉ biết mang máng anh đã từng là nhà giáo như chúng tôi.
Nhưng có lẽ, ấn tượng nhất phải kể đến bài viết của anh, có tựa Khuôn mặt chiến tranh trong tác phẩm Y Uyên ký tên Trần Hữu Thục (Văn số đặc biệt Thương nhớ Y Uyên, số 129 ra ngày 1.5.1969). Nói ấn tượng, bởi trước cái chết của một nhà văn trẻ đã để lại niềm thương tiếc cho nhiều người nhất là những người cầm súng viết văn.
Cùng với những “tên tuổi lớn” như Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền, Châu Hải Kỳ, Trùng Dương…trong số báo này; khi phân tích các tác phẩm của Y Uyên, anh có cách nhìn khác hơn, gần và thật hơn khi phơi bóc bối cảnh và các nhân vật trong truyện (YU) theo độ sáng tối rõ ràng và chân thật như người trong cuộc, so với cách nhìn “phán xét” của các cây bút đàn anh; bởi anh cũng đang nhìn thấy rõ ràng khuôn mặt ấy, tay chân cũng sắp rờ chạm vào cây súng và đôi giày bot.
Chính vì anh đã sống với nên có phần hiểu rất rõ những nhân vật trong các tác phẩm của người vừa ngã xuống khi đặt bút lên trang giấy, như anh đã thú nhận: “…Trước mặt Y Uyên có lửa, sau lưng anh cũng có lửa, chung quanh đầy máu, chúng ta ở giữa ngây ngất, tê dại. Tôi viết để tưởng niệm Y Uyên trong khung cảnh hừng hực đó. Tôi không viết những lời phê bình anh. Tôi chỉ viết lên những xúc động về chính tôi, một người như bao người khác, đang chấp chới giữa thực trạng chiến tranh” (Văn số 129, trg 39).
Trần Doãn Nho cuốn hút tôi từ đó, chỉ vì anh viết phê bình văn học mà như đang làm thơ, mỗi câu chữ đều xoáy động tâm can người đọc (là tôi): một chút thê thiết, một chút hờn tủi về thân phận con người trong cõi nhân gian khi anh khẳng định “Y Uyên chắc không buồn, nhưng dòng suối, những đám cỏ lơ thơ, xơ xác ở đó buồn” ở đoạn mở đầu bài viết về tác phẩm của một nhà văn cùng thế hệ! Anh không đẩy niềm uất hận đau thương lên cao như Lê Văn Chính, sướt mướt như Mang Viên Long, Trần Huiền Ân hay Cao Thoại Châu… (Văn cùng số); anh cũng không đổ lỗi cho ai và đặt những câu hỏi tại sao; chỉ vừa đủ, chừng mực. Thoạt đọc tưởng anh đứng ngoài những rung cảm đau thương, nhưng kỳ thực len xoáy đến cả những vật vô tri là ngọn cỏ dòng suối. Thời đó, còn là sinh viên bậc cao học, tôi nghĩ anh có cách phê bình lạ, mới mẻ, có vẻ dửng dưng lạnh lùng khi chỉ mới lướt qua, nhưng kỳ thực mang tính “ẩn dụ” rất cao trong cách diễn đạt. Xin dẫn lại phần mở đầu bài viết của anh: “Lúc bây giờ, cái chết nào cũng đột ngột như đốm lửa tàn thuốc chợt tắt ngúm khi vứt vào vũng nước trong bóng đêm. Vừa sáng lóe lên đó và hết. Bốn viên đạn, và Y Uyên đã chết như thế. Chết bên một dòng suối. Y Uyên chắc không buồn, nhưng dòng suối, những đám cỏ lơ thơ, xơ xác ở đó buồn. Những người quen anh buồn. Những người không quen anh cũng buồn…” (Văn, 129, trg 30).
Chỉ chừng đó thôi về một Trần Doãn Nho trong tôi, không có gì để nhớ đến sau những biến cố đau thương, dồn dập đổ ập xuống xứ sở này.
Mãi cho đến khi tạp chí Thư Quán Bản Thảo thực hiện số chủ đề 20 năm Văn Học Miền Nam (số 63), ông chủ bút Trần Hoài Thư giao cho tôi điều hợp Những Ý Kiến Chung Quanh 20 Năm VHMN với sự tham dự của Luân Hoán, Trần Văn Nam (đã bước qua Bờ Bên Kia), Trần Doãn Nho, Trần Hoài Thư, Nguyễn Vy Khanh, Lữ Quỳnh, Phạm Văn Nhàn, Trần Thị Nguyệt Mai… tôi mới có dịp liên lạc với anh và trò chuyện qua email.
Đến lúc này tôi mới “tá hỏa” khi anh tiết lộ rằng “tôi bị động viên khóa 6/70 Thủ Đức”! Đó là khóa dài nhất (hơn 10 tháng) tại quân trường Thủ Đức. Trong khóa có rất nhiều các “cây bút trẻ” thụ huấn: Tôi cùng Cao Huy Khanh, Viêm Tịnh, Nguyễn Chí Kham, Nguyễn Thanh Trịnh (tức Đoàn Thạch Biền), Vũ Đức Sao Biển và nhiều anh em khác… Chúng tôi hay gặp nhau ở bãi tập, khu Dân sinh… Nhưng tuyệt nhiên chẳng ai biết có một Trần Hữu Thục cùng khóa?
Trong thư mới nhất, Trần Doãn Nho cho tôi biết thêm vài chi tiết: “ Tôi vào Sài Gòn ghi danh Cao Học đầu niên học 1968-1969. Viết lăng nhăng ở vài báo hàng ngày (Chính Luận, Điện Tín, Công Luận) kiếm tiền ăn. Đầu năm 1969, được tuyển vào VOF(Voice of Freedom) qua một kỳ thi do Dương Nghiễm Mậu giới thiệu; trong ban biên tập, có Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, chị Tâm (vợ VĐSB)…Cuối năm 1969, được Đại Học Văn Khoa Huế gọi về làm Phụ Khảo Triết một thời gian. Khi hết hạn hoãn dịch, thay vì chọn gia hạn, tôi chọn nhập ngũ để rồi biệt phái. Vì thế mà đi khóa 6/70. Ra trường, vì trục trặc giấy tờ, họ chuyển về Hành Chánh Quân Y một thời gian (3 tháng), sau đó biệt phái về Đại Học Văn Khoa Huế dạy học cho đến tháng 4/75. Tóm lại, đời quân ngũ ngắn.
Tuy nhiên, nhờ qua trường Bộ Binh và trở thành sĩ quan, mùa hè đỏ lửa năm 1972, tôi tự nguyện ở lại Huế, đóng góp một phần với chính quyền Huế trong công tác dân vận và sinh viên trong khi cả thành phố di tản vào Đà Nẵng.(thư ngày 22/9/2018).
Cuộc đời lắm “gian truân” của Trần Doãn Nho lôi kéo theo một Trần Hữu Thục xơ xác sau ngày 30/4 bi thảm, như bao triệu con người khác ở miền Nam. Không còn hơi sức với chữ nghĩa. Cho đến khi anh an cư trên đất khách (năm 1993), không còn bị theo dõi, dòm ngó canh chừng của đám công an mật; có công ăn việc làm, Trần Doãn Nho mới kéo Trần Hữu Thục ra trên các trang mạng, trên báo giấy…
Anh cầm bút trở lại. Viết đều và khỏe. Đủ các thể loại, từ tản văn, truyện ngắn, truyện dài, tùy bút chí đến biên khảo, phê bình văn học. Và thể loại nào cũng đậm vẻ tài hoa; đặc biệt là phê bình, sắc nét và bén như thanh quất trong tay Bát Lê ở truyện Chém Treo Ngành của Nguyễn Tuân.
Sau khi Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng Giúi rong chơi ở xứ sở Đười Ươi (Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn), ông Đoàn Tử Huyến mới gom nhặt tất cả các bài viết của các ông nhà văn nhà báo phe ta lẫn phe địch, nhét vào tập Bùi Giáng Trong Cõi Người Ta (1) dày gần 700 trang giấy, phần đầu trích thơ Bùi Giáng , phần sau là nhận định, phê bình của 44 vị cầm bút có tên tuổi hẳn hoi; và thảy đều vận dụng tất cả các mỹ từ có và không có trong tiếng Việt, hết lời ca ngợi cõi thơ của riêng Bùi Giáng “làm thơ chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác” thì duy chỉ có Thụy Khuê và Trần Hữu Thục là có đủ tỉnh táo để đánh giá cõi thơ Bùi Giáng một cách đúng đắn của một nhà phê bình văn học.
Trần Hữu Thục vẽ chân dung Bùi Giáng qua các nhân vật Kim Dung: “Bùi Giáng thân xác đã tiêu tán, nhưng Bùi-Giáng-như-một-hiện-sinh vẫn còn đâu đó, nghêu ngao ca hát, làm thơ và sống hồn nhiên trên các đường phố Sài Gòn. Một Sài Gòn có Bùi Giáng và một Bùi Giáng có Sài Gòn… Ngẫm mà xem, ta có thể tìm thấy ở Bùi Giáng khi thì một chút cuồng ngạo nghịch thường hoàngdượcsư, khi thì lém lỉnh hoàngdung, khi thì ngờ nghệch quáchtỉnh, khi thì đầy cả trào lộng lãongoanđồng, khi thì chân chính, hào sảng, trượng phu hồngthấtcông, khi thì quái đản kiểu mấy quái nhân luyện võ trong hang động, khi thì điên tàn, thống hận tạtốn…Ngẫm mà xem, ông sống đó cũng như ông mất đi. Ông như có đó mà như không hề có đó. Kẻ sĩ hay người điên. Nhà thơ hay triết nhân. Ông sống giữa thế kỷ này hay một ngàn, hai ngàn năm trước….” (Bùi Giáng giữa chúng ta – http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=344&rb=0103).
Anh cũng không ngần ngại chỉ ra: “Nói cho rõ ràng ra, thơ của Bùi Giáng dở. Trừ một số câu thơ hay – chưa hẳn là rất hay -, còn lại hầu hết thơ ông đều dở. Tôi có cảm tưởng rất nhiều câu thơ ông làm chẳng khác gì những câu thơ ngây ngô của mình khi mới bắt đầu tập tễnh làm thơ hồi còn học trò. Thậm chí có nhiều câu hệt như các em “ma-ri-sến” làm thơ tặng tình nhân. Vần điệu ráp nối tùy tiện, ý tứ lại tầm thường. Chúng ta thử đọc lại một vài câu:
ngô nghê:
Giật mình lúc chợt nghĩ ra
Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi.
gượng ép chữ cho có vần:
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói được nghiệp nghề người điên
lập lại (vần):
Non nửa thế kỷ xa quê
Mà chưa có dịp về quê một lần
nói nhăng nói cuội:
Một hôm gầu guốc gầm ghì
hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Nhưng Bùi Giáng có cái dở riêng, phải nói là rất riêng, của Bùi Giáng. Và ông không che dấu cái dở của mình. Không bao giờ. Chẳng những thế, ông lại còn cố ý phô bày nó ra, phô bày một cách chân tình, hồn nhiên, toàn diện” (đường dẫn trên). Điều này Trần Doãn Nho có lý, nếu như chúng ta thử đưa ra so sánh giữa 2 câu thơ của Bùi Giáng và Thu Bồn đều viết về Huế; nhưng rung cảm với Huế, mỗi người mỗi vẻ khác nhau:
Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương
(Bùi Giáng)
Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
(Thu Bồn – Tạm Biệt)

Trên trang Diễn Đàn Thế Kỷ, số 29/9/2018 kỷ niệm 3 năm ngày mất của Võ Phiến, anh có những nhận xét khá chính xác về văn phong của “nhà văn lớn” này, mà trước đây nhiều người đều nói Võ Phiến ngồi “chẻ văn thành sợi tóc làm tư”. Dĩ nhiên, có người không đồng ý về lối nhìn nhận như trên, nhưng đa phần, từ truyện, đến viết ngắn, dài của Võ Phiến cứ nha nhẩn không đầu đuôi, như cuộn rơm ngồi tháo ra từng sợi, thấy đầu này còn hột lúa, chỗ kia cái gié bị dập, chỗ nọ dính chút bùn… Ông dắt người đọc lơn tơn đi trong sáng sớm dày sương, qua giữa trưa bốc khói đến tận chiều tối… có khi chưa thấy đường ngõ!
Và Trần Hữu Thục đã chỉ ra: “Thế giới trong tác phẩm của Võ Phiến là thế giới bề bộn chi tiết: việc có, sự việc có, vật có, sự vật có, rồi những ý nghĩ thoáng qua, những nhớ, những tiếc, những trạng thái tâm lý tủn mủn tỉ mỉ, chợt buồn chợt vui, chợt băn khoăn, chợt xao xuyến. Đọc văn ông, chúng ta sốt ruột đợi một chuyện gì đó đáng đồng tiền bát gạo xảy ra: một cuộc tình, một tấn thảm kịch hay ít nhất cũng là một biến cố có ý nghĩa nào đó. Nhưng không. Ông nhẩn nha, nhẩn nha kể chuyện “trong nhà ngoài phố” y như thế giới này cứ thế, chẳng có gì quan trọng lắm, ghê gớm lắm. Võ Phiến bắt ta nhìn vào vật này, rồi nghe thứ âm thanh gì ở một xó xỉnh nọ. Ông bắt ta rờ cái này, thoắt cái, nhớ đến chuyện khác. Chuyện con kiến, tiếng thở, cái hắt hơi, tờ báo nằm trên đỉnh mùng, bàn tay đè trên sống mũi, mấy cái hủ mắm, vân vân…” (https://www.diendantheky.net/2018/09/tran-huu-thuc-vo-phien-tam-va-canh.html).
Rồi thì, để chứng minh có cái gọi là “bề bộn, nhẩn nha”, chuyện nọ xọ chuyện kia là có thật, anh bắt đầu dẫn một số đoạn trong các văn bản của Võ Phiến để chứng minh. Đó là cách làm việc cẩn thận của anh, chứ thật ra, những ai đã từng đọc Võ Phiến đều dễ dàng nhận ra sự “con cà, con kê” của ông, vì ông cũng tự nhận “tiếc là không chẻ được làm tám”. Mới chỉ làm tư thôi mà đã làm mệt nhoài ngòi bút phê bình của Trần Hữu Thục rồi, huống chi là tám hay mười?
Đọc những bài phê bình của anh, tôi mường tượng anh cần mẫn, làm việc rất khoa học: đọc, ghi chép, đánh số vào thẻ, xếp loại… cẩn trọng, để khi cần, chỉ thò tay vào ngăn là có ngay.

Tôi cũng có dịp đọc loạt bài phỏng vấn Phạm Phú Minh và Trần Hoài Thư về văn học miền Nam và hải ngoại. Các câu hỏi anh đặt ra cho hai nhà văn trên, tôi cứ tưởng tượng như tôi đang được cùng ông nội dẫn đi gát cu hồi nhỏ. Con cu mồi là anh, đứng trên cầu nó cứ túc, gáy lúc khoan lúc nhặt; khi thách đố khi như khuất phục, làm như vấn đề đó anh hoàn toàn mù tịt, hỏi lại cho rõ nhưng kỳ thực anh muốn biết rõ hơn về thái độ của hai ông nhà văn kia trước những vấn đề có liên quan, buộc họ phải nói ra trên giấy trắng mực đen. Tôi gọi cách phỏng vấn của anh thuộc loại “tra khảo văn học”, hỏi cho đến nơi đến chốn, cho ra chuyện mới thôi!

Rồi, trong những thư từ qua lại, Trần Doãn Nho cho hay, trong những năm ngăn sông cấm chợ bo bo sắn mì… anh buộc phải đi buôn chuyến từ Huế vào Sài Gòn để nuôi vợ con (Nói tới buôn chuyến trên tàu hỏa thời bao cấp khiến tôi rùng mình: mua được tấm vé, mồ hôi như tắm, áo quần tả tơi, và thê thảm hơn là cảnh chen chúc trên tàu, chỉ có chỗ để đứng một chân, chân kia co lại như con cò già giữa muôn vàn mùi xú uế; lúc xuống được ga mình biến thành kẻ khác, như tên tù biệt giam, rách bơm, hôi hám). Anh nói, lượt ra, tàu ngừng rất lâu ở ga Tuy Hòa, anh thường xuống tàu giãn chân tay, ăn cơm dĩa ở ga này, cơm trắng thơm ngon, thịt gà vàng ruộm và nói “đâu có biết anh cũng ở Tuy Hòa!”.
Điều anh nói khiến tôi nhớ, lại có một sự trùng hợp: Một người có thật là anh, nhà văn Trần Hữu Thục nhiều lần ăn cơm ở ga xép Tuy Hòa trong thời kỳ gạo châu củi quế, và nhân vật nữ xưng tôi trong truyện ngắn Thư Từ Tuy Hòa của Cảnh Cửu giữa thời chiến tranh (1964), cũng có đoạn: “Anh có nói hồi đi ngang đó (ga Tuy Hòa – ghi chú của người viết) thấy người ta bán cục cơm vắt và cái đùi gà to tướng mười đồng. Sự thật cũng có như vậy anh à. Nếu anh muốn tôi ra ga mua gửi cho anh. Cục cơm đó không biết có ích dụng chi cho anh không, chứ ít ra nó cũng tố giác với anh vài điều về quê hương tôi… Sự nghèo khó đến gõ cửa thường xuyên, cơm thì gạo ít mà ngô khoai nhiều. Đậu mè, đậu phụng trộn với muối ran là món ăn đắt giá… Chắc khi đọc thư này anh có ăn cục cơm và miếng thịt gà tôi gửi theo thì dù cho cơm đã thiu thiu, thịt gà đã dai nhách cắn không bể nhưng chắc cũng đỡ hơn cái sống ở đây nhiều. Nó là cái tinh hoa của xứ sở tôi đãi du khách đấy” (Văn số 45).
Có lẽ, chính những năm tháng khốn khó, phải bấm bụng nhét bút giấy vào một xó để “chạy chợ” nuôi vợ con nên anh có thừa chất liệu để viết Dặm Trường (2). Chỉ mới chương đầu, đọc cảnh nhân vật Hạnh phải chịu để cho thằng tài xế đè ngửa trên cabin cũng đủ nhìn thấy cảnh đời ngang trái và tàn nhẫn, về thái độ của nhà văn trước thực tế xã hội đương thời mà nước mắt đắng cay nhiều như sông suối: “Trong bóng tối nhờ nhờ của buồng lái, nàng thấy bàn tay anh tài xế đặt lên bụng nàng. Bàn tay kia luồn vào ngực. Nàng lấy tay đè lên tay anh ta, giữ lại. Nhưng anh ta dùng một tay giữ chặt tay nàng, còn tay kia tiếp tục sờ soạn. Tay chân anh tài xế bây giờ như những gọng kềm siết lấy nàng. Hàng nút áo bung ra. Sức nàng yếu dần, ý chí chống cự tan biến. Nàng lơi tay, người mềm đi, phó mặc… Nàng đột ngột cắn vào vai anh tài xế. Nụ cắn sâu, sâu thẳm… Trong ái ân, Lục điệu nghệ, nhẹ nhàng, tỉ mỉ. Như một bài học thuộc lòng, bao giờ anh cũng đi từng bước một, cẩn thận, cố gắng không bỏ sót một chi tiết nào. Dù có nhậu nhẹt, quá chén hoặc có xa vắng nhau lâu ngày, anh vẫn thế, từ đầu chí cuối. Người đàn ông này khác hẳn. Hắn hấp tấp, cuồng bạo. Nàng khẽ thở dài, than thầm, mình hư quá, hư thật rồi. Trong thoáng chốc, mọi chuyện lật qua một trang khác…”. (Dặm Trường, trg 22).
Đọc lướt Dặm Trường của Trần Doãn Nho, tôi mãi ám ảnh về đoạn này. Anh không nói về sex, về dục tính như Nguyễn Mạnh Côn đã viết trong Tình Cao Thượng: “Vì, như em đã nói với anh, Tư Giỏn làm cho em hoàn toàn thỏa mãn. Cũng in hệt như đối với anh, lúc rung động của y lên đến tột độ thì rung động của em cũng lên đến tột độ… trong mọi cuộc giao hoan, chính người đàn ông mới là phương tiện!” (Tình Cao Thượng, trg 88 và 104) mà mặt nào đó, anh muốn dựng lại thực trạng xã hội thời đốn mạt và bi thương nhất của con người (VN). Những người dân vốn lương thiện đã bị “lịch sử” biến thành những tên lưu manh về phẩm giá, đạo đức, cách sống…mọi mặt. Không viết trực tiếp, nhưng qua các nhân vật, những cảnh đời một thời đã bị phủ bóng đen u ám, anh đã vẽ nên một phần “đổ vỡ” dưới chế độ hoang dã và hoang tưởng. Và, chữ nghĩa buộc phải “mửa” lên mặt chúng, là theo cách tôi nghĩ, cảm!

Sau khi phát hành Thư Quán Bản Thảo số 63, Trần Doãn Nho có thư hỏi tôi có còn Văn số 129, nếu còn giữ được sao cho anh 1 tập. Tôi hứa sẽ cố gắng, vì trong tủ sách không còn số này. Tôi chạy xuống thị xã, hỏi vài người bạn, ai cũng lắc đầu. Nhưng rồi cuối cùng cũng tìm ra được nơi người bạn vong niên. Tôi vội vã mang đi photo rồi tìm cách gửi qua cho anh. Khi nhận được anh viết thư cảm ơn rối rít, vì theo anh, bài viết về Y Uyên là bài đầu tiên anh viết về phê bình văn học, nó là kỷ niệm khó quên, bởi sau khi đăng bài viết này, ông Thư ký tòa soạn Văn Trần Phong Giao có nhã ý mời anh cộng tác thường xuyên về phê bình, biên khảo… cho Văn và Tân Văn. Cách đây mấy tháng, tình cờ tôi đọc ở đâu đó trên một trang mạng, có đoạn anh viết về tờ Văn photo này, đại ý nhờ NgLu photo gửi qua, nó còn đẹp hơn bản gốc.
Nửa năm 2015, Trần Doãn Nho về thăm quê nhà, từ Huế, anh gửi nhờ Viêm Tịnh tặng tôi quyển biên khảo Ẩn Dụ, Cuộc Phiêu Lưu Của Chữ do Người Việt ấn hành. Thú thật, tôi phải mất đến 5 ngày vừa căng mắt vừa căng đầu mà đọc nhưng không “thấm” nổi. Sau Văn Việt post lại từng kỳ, tôi nhẩn nha đọc mới rõ được đôi phần, mở ra lắm điều thú vị mà bấy lâu cứ ù lì trong đống sách giáo khoa của các thầy bên Văn Khoa thời xa xưa.
Tôi và Trần Doãn Nho, Trần Hữu Thục chỉ chừng ấy, không hơn.

Những năm gần đây, sức khỏe giảm. Hai ông bạn đốc tờ khuyên phải thuốc thang đều đặn, nghỉ ngơi, chớ suy nghĩ, chớ viết, đọc vừa vừa… tóm lại là phải tĩnh dưỡng, phải an nhiên, tự tại, tốt nữa là thiền định, quán niệm hơi thở… phải và phải… đủ thứ. Nghe thì nghe vậy, nhưng không bỏ được, vẫn cứ dòm ngó với chữ nghĩa, vẫn cứ mở máy và đọc. Và, tôi đọc văn chương của bạn quen, bạn dưng theo cách đó.
Với Trần Doãn Nho, Trần Hữu Thục cũng “nhẹ” như vậy. Mà kiểu đọc này, lại có nhiều cái hay khi ta từ từ không vội, để có thể nhận ra lắm điều bất ngờ. Ví như trong tùy bút Nắng trên trang mạng Da Màu. Chỉ có nắng thôi, một hiện tượng tự nhiên của thời tiết; vậy mà anh khéo léo và duyên dáng dẫn cái nắng ấy rong chơi khắp chốn: từ chỗ nhà quê qua thị thành phồn hoa, ngoài ngõ nhà anh phú nông đến sân nương nương quý tộc, từ âm nhạc qua thơ, qua cầu, qua sông suối, ruộng đồng, sa mạc… dẫn từ các ông nhà thơ, nhạc sĩ tên tuổi để tổng kết lại thành một thứ Nắng đa màu sắc, hương vị, biết đi đứng, biết hỉ nộ ái ố, có hình dạng mập ốm nghiêng thẳng điệu đà, là người yêu, kẻ thù, biết đi biết nằm, biết hờn dỗi …nghĩa là trên cõi đời này có bao nhiêu nguồn cơn cớ sự thì Nắng của anh đều có mặt, khi dịu dàng lúc hung tợn. Thích chí và đồng cảm, tôi gọi bà vợ nằm toòng teeng trên chiếc võng gai đang đọc Già Sao Cho Sướng của ông đốc tờ Đỗ Hồng Ngọc. Dừng lại, nghe cái này. Tôi đọc hết tùy bút Nắng, cả hai vợ chồng già đều bật cười như được gãi ngứa: “Vẫn còn đủ thời gian để nhà văn nhà thơ sáng tạo ra thêm hàng triệu thứ nắng khác nhau nữa để làm vui cuộc đời. Này nhé: nắng trào, nắng tưới, nắng xanh, bẻ nắng, chôm nắng, bửa nắng, bắt nắng, trồng nắng, gặt nắng, hái nắng, gọt nắng và thậm chí…liếm nắng. Đã có sân nắng, vườn nắng, rừng nắng thì chắc cũng phải có: ao nắng, hồ nắng, phố nắng và vũng nắng, hố nắng. Đã có “nắng xiên vào nỗi nhớ” thì cũng sẽ có: nắng đâm, nắng chọc, nắng cắt hay nắng cứa….vào nỗi buồn. Đã có hạt nắng, vệt nắng sao lại không: viên nắng, hòn nắng, miếng nắng và …cục nắng” (https://damau.org/archives/44610).
Với truyện ngắn, tính ẩn dụ cao hơn; thường gây cho người đọc những ảo giác trên bề mặt văn bản, nghĩa là điều anh muốn nói đến không phải là những hàng chữ sắp hàng ngay ngắn trên trang giấy như hàng quân mà, phải tự lật ra phía sau, nó ẩn sâu bên dưới mới tìm ra “nhân dạng”.
Hầu hết những truyện tôi đọc được của anh luôn là những bất toàn, xung đột, mâu thuẫn, mất mát… xoáy sâu vào những “niềm đau nhức” về thân phận, quê hương phải đành đoạn bỏ lại phía sau cùng những giọt nước mắt chảy thầm (truyện nào cũng thấp thoáng, dẫu không có hình hài rõ ràng).
Một Chút Việt Nam như một điển hình cho cách phơi bày tâm trạng u uẩn của những con người “bị biệt xứ”. Từ đầu tới gần cuối truyện là cuộc gặp gỡ, trò chuyện qua lại giữa chàng thanh niên tên Hưng và cô gái tên Miên Tâm trên đất khách. Cô vượt biên theo dạng gửi kèm khi mới lên tám. Sống trên đất Mỹ cho tới lúc có chồng, cô không có một khái niệm nào rõ rệt về quê nhà. Cô bị những người thân, những bạn học đối xử khá tệ. Miên Tâm cô đơn và lạc lõng giữa những người không cùng màu da, ngôn ngữ, văn hóa…để cuối cùng anh chàng người Honduras trở thành bạn rồi thành chồng cô. Cuộc hôn nhân với Garcia chỉ là cách trả ơn, cô giải thích: “Em biết anh giận. Nhưng em nói thật, anh có quyền tin hay không tin. Em muốn yêu một người Việt Nam, nhưng em lại chẳng quen một người Việt Nam nào cả… Em đã trải qua tuổi thơ, mà người ta cho là đẹp nhất đời, không cha, không mẹ, không bà con, không bạn trai, không bạn gái. Em không biết yêu. Có ai đâu để em yêu!”.
Gặp Hưng, cô như người chấp chới dưới làn nước lạnh ngắt, với được khúc gỗ mục. Cô thoát hiện thoắt biến trước Hưng như một cái cớ để có thể ngửi được chút mùi, mùi Việt Nam!
Đỉnh điểm của “chút mùi” ấy là cái đêm trước khi vợ chồng cô chuyển đi nơi khác. Cô đến phòng Hưng với những tâm trạng rối bời, những khao khát cháy bỏng “muốn yêu một người Việt Nam nhưng không quen ai là người Việt Nam cả”. Đích thị là cô chơi vơi với tuổi thơ đã mất như cô đã mất quê hương, gia đình, người thân yêu từ tuổi ấu thơ. Và Hưng là hiện thân của sự mất mát-đang-được-nhìn-thấy. Hành động của cô là muốn kiếm tìm cái đã mất, một chút, một chút thôi : “Anh chưa kịp phản ứng gì thì nàng đã vật anh xuống giường, hôn tới tấp. Nàng cắn. Nàng liếm. Nàng rờ rẫm. Hơi thở nàng nóng hổi. Anh nghe mùi tóc, mùi nước hoa, mùi da thịt nàng tràn trề trên người. Những nụ hôn và những ngón tay. Nàng thành thạo. Dữ dội. Cuồng nhiệt. Đắm đuối. Anh đờ đẫn, run rẩy, bàng hoàng, không biết phải làm gì. Tóc nàng rối tung. Cái áo ngủ gần như tuột hẳn xuống…Hưng, em muốn một kỷ niệm Việt Nam. Đừng trách em, tội nghiệp. Em muốn … em muốn … một chút mùi … mùi Việt Nam. Em muốn … enjoy a little taste of Vietnamese … Một chút hương … Việt Nam, một chút … một chút …Anh chồm lên người nàng. Như một con thú hoang. Không còn là một Hưng e dè, thận trọng nữa. Không còn Miên Tâm. Không còn Garcia. Không còn trời. Không còn đất. Hai sức trẻ quấn vào nhau như chưa từng. Một lần. Chỉ một lần thôi. Căn phòng rung rinh. Chao đảo. Từng hồi.
Và rồi tất cả lắng xuống. Hai người nằm lặng lẽ nghe hơi thở của nhau”. (http://www.hocxa.com/Truyen/MotChutVietNam_TranDoanNho.html).
Truyện khép lại ở đây. Có thể người đọc sẽ lầm tưởng dục tính là có thật ở truyện này, vì trước đó ít phút, Miên Tâm đã tâm sự với Hưng: “cái kiểu make love của Garcia … ghê quá!… Ghê quá là dữ dội … là … Garcia đêm nào, ngày nào cũng bắt em xem phim sex, rồi thì là … dày vò em, bắt em chiều … đủ kiểu. Em sợ …”. Nhưng tôi nghĩ rằng, Trần Doãn Nho không hề viết về dục tính. Giây phút “hai sức trẻ quấn vào nhau như chưa từng” chỉ là cái cớ. Bởi truyện này anh viết năm 1995, chỉ hơn hai năm, sau khi anh phải rời bỏ Việt Nam, mang theo quê nhà trong nỗi nhớ ngắt ngoải. Vậy thì anh nhắm tới điều gì? Phải chăng những hoan lạc và rung động mà họ tìm thấy của nhau, chính xác là với Miên Tâm nhiều hơn, là những cảm xúc thông qua thân xác để chụp nắm về một quê hương đã mất? Cô đã nắm giữ được hình ảnh quê hương trong thoáng chốc với người bạn trai trên giường…Quanh không gian hẹp đó là cánh cửa mở rộng để có thể nhìn thấy những gốc rạ vừa gặt, là mùi khói đốt đồng, mùi cá lóc nướng trui, là hương vị ngọt chát của trái bần quẹt mắm tép rong, cá tràu kho nằm cong trong om đất…? “Nghe hơi thở của nhau” có lẽ là nghe lại hương vị quê hương đã mất sau cuộc “bỏ phiếu bằng chân” của hơn 2 triệu dân miền Nam!
Trong Vết Xước Đầu Đời trên Da Màu và Diễn Đàn Thế Kỷ số tháng 7/2017 được Văn Việt đăng lại trong chuyên mục Văn Hải Ngoại sau 1975 (kỳ 68), với nội dung khá đơn giản: Tâm bị tù cải tạo được thả về, đến ở nhà mẹ con Ánh trên dưới 1 tháng, bởi trước khi là “lính ngụy” hai người đã yêu nhau, nhưng không lấy được nhau. Ánh lấy chồng để trả thù Tâm, chồng chết do tai nạn máy bay. Bữa nọ hai chú cháu đi chơi, về trễ (tối), Ánh “tra hỏi” với con gái và với Tâm, người yêu cũ. Cú “tra gạn” kia hình như làm tổn thương khá nhiều đến người gạn hỏi là Ánh.
Motif truyện không mới, chủ đề không lạ. Trước năm 1975, chuyện chú cháu, rung động đầu đời yêu thương, nhớ nhung sương khói… đã được các nhà văn khai thác đến tối đa, nơi đón nhận và tập trung là tuần báo Tuổi Ngọc của Duyên Anh. Và tiêu biểu cho loại truyện này là Hoàng Ngọc Tuấn với Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau, Cô Bé Treo Mùng, Buổi Chiều Hạ Lan, Hình Như Là Tình Yêu… trở thành loại sách luôn nằm trong cặp sách vở của các cô cậu lứa tuổi “Ô Mai”.
Nếu như Vết Xước Đầu Đời bị “rơi” vào tay các nhà văn theo trường phái lãng mạn hay feuilleton trước 75, chắc chắn sẽ mùi mẫn như Bên Dòng Sông Trẹm của Dương Hà, Chú Tư Cầu của Lê Xuyên hay hàng loạt tiểu thuyết của bà Tùng Long…Nhưng với Trần Doãn Nho thì khác hẳn, bởi tầm vóc của truyện “to lớn” hơn theo cấu trúc ngôn ngữ bình dị với những ẩn dụ vừa đủ để người đọc không dụng công suy nghĩ, mò đoán nhiều; cũng không đưa đẩy đến sướt mướt, éo le… nhưng có cái gì đó nhột nhạt, ngưa ngứa tận chân tóc như khi ta nhai phải trái ớt hiểm cay xè; không chảy nước mắt, nhưng mọi chân tóc đều tưng tưng dựng lên!
Ngay ở đoạn hai chú cháu quay về, nhà văn đã khéo léo phối một gam màu hoàn hảo lúc hoàng hôn, tạo thành vẻ hư hư thực thực trong thứ ánh sáng nhập nhoạng, để độc giả có thể hiểu được cái “nhập nhoạng” ấy ở cô bé và mẹ cô. Trước hết là vật thể có thật: bóng tối vừa đủ, ánh sáng vừa đủ để có thể nhìn ra “dáng cao lớn, chênh vênh như muốn ngã về phía trước” của chú Tâm và cảm giác “cả một khoảng trời chao đảo theo bước chân chú” của Lan. Bức tranh này là của cô bé vẽ nên bằng những cảm nhận từ đáy lòng qua bàn tay nhào nặn của nhà văn. Toàn cảnh trong bức tranh là sự so sánh có cảm giác của Lan tưởng có thể cầm nắm được trong tay: “Nắng tắt. Cả vùng ngoại ô lặng xuống. Cây cối như kết vào nhau thành từng chòm, rải rác. Hai người im lặng bước đi. Lan cố đi chậm lại đàng sau. Tự nhiên, cô cảm thấy bối rối. Chú Tâm bước, dáng cao lớn, chênh vênh như muốn ngã về phía trước. Lan có cảm giác như cả một khoảng trời chao đảo theo bước chân chú. Chú, đàn ông trông vững, lớn và đáng tin cậy. Khác với mẹ. Mẹ bao dung, chu đáo, nhưng có cái gì không ổn. Bao giờ mẹ cũng thu vén, tém tủm, tránh trút. Mẹ ngăn, mẹ chặn. Trước và sau. Mẹ sợ mọi thứ. Mẹ đúng, dĩ nhiên. Nhưng Lan buồn”.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 68): Trần Doãn Nho – Vết xước đầu đời


Sự “giam cầm” tình cảm của mẹ lúc dạy dỗ con gái về người đàn ông, tất cả những người đàn ông khiến cô cảm thấy chơi vơi lúc bên chú Tâm: “Lan cắn môi. Cô muốn khóc. Trời sẫm. Đường vắng. Cô bỗng muốn ngã vào lòng chú Tâm. Nhưng cô giật mình, nhẹ gỡ bàn tay thô nhám của chú Tâm vừa đặt lên bàn tay nhỏ nhắn của cô. Mùi áo quần từ nơi chú Tâm tỏa ra khiến cô ngây ngấy. Cái mùi lạ hoắc! Thơm không thơm, hôi không hôi, lại nồng nồng. Cô bồn chồn, lạc dạ, quay mặt đi chỗ khác”.
Suốt dọc câu chuyện, cứ nghĩ nhà văn tạo ra cô bé và Tâm là hai nhân vật chính. Nhưng thật ra, nhân vật dẫn đến mọi cớ sự lại là Ánh, mẹ cô bé. Đó mới là nhân vật trung tâm, xuất hiện gần cuối để đưa câu chuyện thành cao trào, có kịch tính: “Đời mẹ đã khổ vì đàn ông, con biết không. Đàn ông không có gì đáng tin hết. Họ luôn luôn phỉnh phờ, luờng gạt. Họ không hề biết yêu như đàn bà. Có họ mình cũng khổ, mất họ mình cũng khổ. Mẹ không muốn con gần đàn ông vì không muốn con khổ, con hiểu chưa?”
Tất nhiên cô bé đã hiểu qua lời mẹ: “Một chút gì tái tê, một chút gì đăng đắng, nghèn nghẹn của mùi vị cuộc đời lan vào trong cô. Chỉ là một vết xước. Vết xước đầu đời, nhẹ nhưng buốt. Cô chợt nhận ra một mẹ khác, một mẹ lạ hẳn, một mẹ cô chưa hề biết, chưa hề thấy. Và cô, cô cũng khác. Cô trở thành một người khác”.
Thành một người khác bổng trở nên đậm hơn lúc nhìn thấy cái áo của chú Tâm bỏ quên, “Lan chợt nhớ đến mùi đàn ông phảng phất đâu đây”.
Tâm chỉ là cái cớ cho Ánh nhớ lại 20 năm về trước và cũng là cái cớ cho cô bé Lan ngập ngừng với cái mùi đàn ông phảng phất đâu đây. Người đàn ông xuất hiện đúng lúc và ra đi đúng lúc để lại cho hai mẹ con, mỗi người một tâm trạng khác nhau.
Gấp lại truyện, tôi có thêm cảm giác nhồn nhột, cồn cào gai gai trong đầu giống như cảm giác cánh tay vung ra, đụng phải dề gai bàn chải non!
Nhưng đến Bữa Ăn (http://vanviet.info/van/bua-an/) thì không còn cảm giác bàn tay chạm phải “dề gai bàn chải non” như các truyện khác mà, tựa như có hàng trăm ngàn mũi kim nhọn xoáy vào tận tim gan. Hơn 10 trang viết hiển hiện tràn đầy nỗi thống khổ, đau đớn, quặn thắt… đến tận cùng của một kiếp người trong một xã hội đốn mạt nhất. Sự đốn mạt ở Làm Đĩ, Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng thời Pháp thuộc, không thấm vào đâu so với thời mạt pháp trong xã hội cùn mạt ở truyện này. Cảnh người cha (từng là ông giáo làng, dẫu là ông giáo Ấp Tân Sinh thời Việt Nam Cộng Hòa) phải ngồi nhìn những đứa con bán trôn nuôi sống cả gia đình với nỗi-hân-hoan-đau xé, với những tê-điếng-cam-chịu diễn ra hàng ngày trước mắt ông và vợ như những ngọn roi vô hình đập nát những ai còn lại chút lương tri: “Ông nhắp một hơi rượu, rùng mình. Ông nhìn quanh. Ôi, những rượu, những trà, những đồ ăn, thức uống, những cột kèo, cửa sổ, cửa lớn, bàn ghế, áo quần, và chính cả thân xác ông, tâm hồn ông bây giờ đều xuất phát từ thân xác mấy đứa con gái. Ông cảm thấy lợm giọng, buồn mửa. Hai mắt mờ đi. Trong thoáng chốc, ông bỗng nhìn thấy đồ đạc trong nhà, hết thảy đều uốn éo, quằn quại, lăn lộn. Bộ xa lông biến thành con Loan, cái tủ lạnh biến thành con Dục, tủ áo quần biến thành con Lài. Chúng trần truồng, hoang hóa, chịu đựng và thảm thương vô cùng tận. Chúng giương mắt nhìn ông ngơ ngác, bất lực”.
Cả truyện, từ đầu đến cuối, Trần Doãn Nho không hề có một từ nào đổ lỗi, anh chỉ dựng lên một sân khấu nhỏ (nhưng lại là biểu tượng vô cùng to lớn cho xã hội hiện tại) là vợ chồng cha con ông Tám. Cả 6 người đều nhập vai và vai nào cũng tròn trịa làm “rúng liệt” mọi chân tơ kẽ tóc người đọc! Truyện không kể lể, chỉ thủng thẳng mô tả những sự việc và sự vật từ từ diễn ra trước mắt có lớp lang, thỉnh thoảng chen ngang những suy nghĩ, dằn vặt nội tâm nhân vật. Chừng đó thôi, nhưng từng con chữ làm nhói đau tận xương tủy người đọc. Gia đình gồm 6 con người khốn khổ và khốn nạn đó là bộ mặt xã hội hiện tại được Trần Doãn Nho thu nhỏ lại. Tất cả họ đều phải chịu đựng và chấp nhận, xem như là chuyện bình thường hàng ngày, không có gì ghê gớm khiến phải “nôn mửa”.
Anh phác họa các nhân vật của mình qua vài nét ký họa nghuệch ngoạc và những nhân vật đó y như mẫu đất sét bọn trẻ con nặn con trâu, con vịt, chiếc xe… là những chiếc mặt nạ biết đi đứng, nói năng:
Thằng Vụ: “… tảng sáng là thức dậy đi. Với đôi dép nhựa cáu bẩn, đứt quai, bộ đồ lính bạc màu, chiếc mũ lưỡi trai, hắn lang thang đâu đó suốt ngày trong mấy cái chợ, khu bến xe, trên đường phố, khi thì giả què, khi thì giả bệnh để xin xỏ, và tìm mọi sơ hở của người ta để chụp giựt, chôm chỉa”.
Còn ba cô con gái: “suốt ngày chỉ lo chuyện phấn son, lụa là. Các cô tỉa lông mày, nhổ lông nách, hoặc chăm chút hết bộ áo quần này này sang bộ khác. Khi áo dài, khi áo đầm, khi đồ bộ. Ðủ dạng, đủ loại. Khách vào, khách ra. Những õng ẹo, gạ gẫm, trả giá, vỗ mông, sờ ngực, cười cợt”.
Ông Tám, người chủ gia đình như một khán giả (bà vợ chỉ là cái bóng, thui thủi, cam phận “ẩn nhẫn, nhịn nhục”), hàng ngày phải nhìn các hoạt cảnh trên bằng những tâm trạng khác nhau: “Người cựu giáo viên ấp tân sinh cứ thế, nhìn mọi sự diễn ra trong nhà mình hàng ngày như xem những màn biểu diễn trên sân khấu”. Đôi lúc ông lại cay đắng, chua chát: “Biết thế này, đẻ thêm chục đứa nữa để đáp ứng nhu cầu… Những cắng đắng, đau khổ lúc đầu, chịu riết rồi cũng nguôi ngoai. Dẫu vậy, không có khách thì thôi, hễ có khách mang đi một cô, lòng ông lại nhói lên một chút. Ông cảm thấy đau tê tê ở một nơi nào đó trong người, khi ở bụng, khi ở ngực, khi ở trong đầu”.
Để cho màn kịch có thêm mùi vị đắng cay, Trần Doãn Nho thêm vào hai vai phụ, không lờ mờ mà sáng lóa thời đại ma quỷ, ngay ở tầng-sâu-địa-ngục-dương-gian: Một anh công an khu vực đến “thu hụi chết” và một ông cán bộ tập kết đương chức trưởng phòng thương nghiệp huyện tuổi bằng cha ba cô gái. Một người thì hàng tháng thu giá bán thân của ba cô, người kia thì gạ tình.
Bữa Ăn chính là những tan nát của bộ mặt xã hội hôm nay. Bộ mặt ấy không như chapeau của Văn Việt: “ Khi người chủ gia đình/người cha, đã không thể bảo vệ và che chở con cái, phải để chúng lao ra đường kiếm tiền theo cách đó mà không còn thấy đau khổ, nó bộc lộ một sự thật: khi gia đình rã tan, xã hội cũng sẽ rã tan…”, bởi gia đình rã tan chỉ là hiện tượng phơi trần bản chất xã hội đã mục ruỗng, rã tan!

*
Trong bài Tạp Ghi Tháng Tư: Vết Thương, Trần Doãn Nho viết: “Trong đời tôi, tính ra, tôi trải qua …bốn lần chạy. Mỗi lần chạy là một kinh nghiệm rất riêng”. Rồi anh kể lại kinh nghiệm bốn lần chạy đó, lần lượt từ thời bé con khi Việt Minh nổi lên tổng khởi nghĩa năm 45-46, chạy Mậu Thân, chạy Mùa Hè Đỏ Lửa và chạy dài… theo chiều dài trên phần đất bên này vĩ tuyến 17, lần cuối cùng, 30/4. Bốn lần chạy là chạy trốn cộng sản, những con quái vật hình người!
Cảnh chạy lần đầu khi còn là bé con: “Thay vì chạy và đi, thì tôi được gánh. Tôi một đầu, ngồi trong thúng. Đầu kia là một ít gạo và đồ đạc. Cứ thế, mẹ, chị và anh tôi thay nhau gánh, theo đoàn người, tản cư về một nơi vô định”.
Cảnh chạy tết Mậu Thân: “Cả gia đình tôi dắt díu nhau, không chỉ chạy, mà là chui, rúc, lăn, trốn từ vùng bộ đội Cộng Sản chiếm đóng về vùng quốc gia. Đoạn đường không dài, chỉ 5,7 cây số nhưng là một biên giới sinh tử”.
Rồi đến Mùa hè đỏ lửa: “Kinh nghiệm Mậu Thân đã mang cả Huế ra đi. Ngay lập tức. Không chần chừ. Không đắn đo. Không tiếc nuối. Khi nghe tin bộ đội Cộng Sản vượt sông Bến Hải, là Huế đã bắt đầu chạy. Hối hả chạy, bằng mọi cách, mọi giá. Mang được gì thì mang, không mang được thì bỏ lại”.
Và 3 năm sau, khi miền Nam bị xoá sổ: “Chạy. Hễ còn chạy được là chạy. Đi bộ, đi xe, đi thuyền, đi tàu, đi máy bay, đi, đi, đi, đi đâu, miễn là thoát khỏi Cộng Sản. Chạy: biết bao thảm cảnh, nhất là thảm cảnh thuyền nhân rúng động thế giới. Chạy: một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” vô tiền khoáng hậu”.
Lần chạy nào cũng có nước mắt thậm chí cả máu… của những người dân vô tội. Anh lơn tơn kể, độc giả vừa đọc vừa ngẫm lại bản thân và cả thế hệ của mình phải gánh chịu quá nhiều đau thương tang tóc qua những biến cố trên. Ở lần chạy “bỏ phiếu bằng chân” cuối cùng: “Lần này, ra đi, trong thâm tâm, ai cũng đau đớn nghĩ rằng: Huế sẽ mất vào tay Cộng Sản. Thành thử, chạy là chạy…luôn, không bao giờ trở lại. Là bỏ Huế. Bỏ Huế! Chao ôi, hai chữ “bỏ Huế” nghe như nhát dao đâm ngay giữa trái tim. Nhưng làm sao được. Đành thôi, Huế ơi”. (https://damau.org/archives/49337)
Anh ghi lại từng chi tiết nhỏ của những lần “chạy” nó trung thực đến độ tàn khốc, đến nỗi người đọc cảm thấy tim như bị bóp nghẹt, băm nát: “Chao ôi, những người lính! Trong lúc cả nước miền Nam chạy thục mạng, chạy hớt hãi, chạy trối chết…thì nơi đây, vào những giây phút cuối cùng của cuộc chiến, những người lính nhảy dù này vẫn cứ làm nhiệm vụ, sẵn sàng chiến đấu, như …bình thường. Cũng như tôi, nhất định họ biết rằng Sài Gòn sắp mất. Nhưng họ vẫn ở đó, cầm súng canh gác. Tôi bước tới, muốn làm một cử chỉ biết ơn, nhưng anh bạn tôi cản lại. Tôi vẫy tay. Một người lính vẫy tay lại. Trong nhá nhem tối, nhìn nhau ngậm ngùi. Đọc lịch sử, những tưởng chuyện phế hưng chỉ là của ai đó, thế mà bây giờ, mình ở trong cuộc!”.
Những ngày cuối cùng này, anh đang ở trong cuộc… Tất cả mọi người dân miền Nam đều ở trong cuộc. Và thảy đều đều nát tan sau cái ngày khốn nạn nhất của lịch sử! Dân tộc Việt Nam tiếp tục chạy kể từ buổi bình minh lịch sử; chạy từ bờ nam sông Dương Tử dạt mãi xuống phương Nam… mà chưa hết! Sẽ còn những “Thủy Mộ Quan” cho dân tộc này sao? Đọc đoạn cuối anh viết về cái vẫy tay của mình với người lính nhảy dù đang trong tư thế chiến đấu ở giờ phút cuối cùng trên đường phố Sài Gòn, tôi bật khóc thầm, bởi những ngày cuối cùng đó tôi cũng dáo dát trên các ngả đường Sài Gòn hy vọng tìm thấy cha mẹ và hai đứa em bắt đầu lưu tán từ Tuy Hòa trước đó! Còn gì bi thảm hơn không? Và có lúc nào đó, những người dân chạy giặc kia tự hỏi: Tại sao khi chỉ mới nhắc đến hai chữ cộng sản thôi là mọi người đều phải bỏ chạy, chạy bán sống bán chết; biết chạy là chết mà vẫn cứ chạy. Ôi, họ mỉn cười chọn cái chết thay vì chọn cộng sản! Anh gọi cuộc chạy cuối cùng của dân miền Nam là cuộc “bỏ phiếu bằng chân”, một cụm từ đã lột tả đầy đủ và chính xác mà từ trước tới giờ tôi mới thấy, tuy có nhiều nhà văn nhà báo cũng viết về cuộc tháo chạy này, nhưng chưa có từ nào nói lên tính chất bi thảm của dân tộc Việt Nam như một cuộc bỏ phiếu bằng chân của anh!
Từ những gì đọc được, tôi trở thành “bạn” trên từng trang viết của anh lúc nào không hay, chẳng qua vì cách viết của anh rất đời thường, gần gũi mùi khoai sắn trên từng góc phố, ngọn gió, giữa đẹp và xấu, giữa những giằng xé nội tâm, giữa những xô đẩy té nhào và đứng lên. Cách viết ấy, với nhiều thể loại khác nhau, tôi ví anh như người dẫn nắng đi chơi khiến ai cũng ngắm nhìn cái sự lạ lùng này: hân hoan và đắng cay, hạnh phúc và đau khổ, thiên đường và địa ngục, lấp ló những thống hận. Vậy đó, như Nguyễn Mộng Giác từng viết về anh: “anh thích đặt nhân vật vào những cảnh ngộ thử thách, và cách nhân vật ứng xử với những thử thách ấy rất “người”, nghĩa là chênh vênh giữa tốt và xấu, yếu đuối mâu thuẫn nhưng vẫn có đủ nghị lực để chấp nhận bất hạnh và thích nghi với đời sống”. (https://nguyenmonggiac.com/phe-binh/508-vet-xuoc-dau-doi-cua-tran-doan-nho.html)

Nguyễn Lệ Uyên
(Quê nhà tháng 9/2018)
*Ghi chú: bài viết theo yêu cầu của tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 82 chủ đề nhà văn Trần Doãn Nho, đã được nhuận sắc tháng 10/2018.
__________________
(1) NXB Lao Động & TT VH Ngôn Ngữ Đông Tây, HN, 2012)
(2) Dặm trường, TÂQ, HK, 2018

ĐÔI KHI NẮNG LÊN

Đôi khi nắng lên làm tôi nhớ
Trịnh Công Sơn

Mưa!

Không chỉ một cơn mà nhiều cơn. Không chỉ một ngày mà nhiều ngày. Mưa gần như suốt mùa đông. Có một nhà thơ đã phải kêu lên:

Mưa chi mưa mãi
Mưa mãi mưa hoài
Lòng biết thương ai
Trăng lạnh về non không trở lại.

Đó là những cơn mưa xứ Huế, mưa dầm dề, mưa lê thê. Mưa như một người đàn bà ghen ngồi tỉ tê kể tội chồng mình suốt đêm dài không cho anh ta ngủ.Đất trời chìm trong màn mưa trắng đục, lạnh cả chiếu chăn, lạnh cả hồn.

Thế rồi bỗng dưng mây tan, và nắng lên. Ôi nắng mới ngọt và ấm làm sao. Nắng xối xả, nắng vàng tươi, nắng trên mái nhà, trên đường phố, trên bãi cỏ ven sông… nắng cũng có âm thanh trong veo như tiếng cười. Mọi người đều đổ ra đường kể cả những cụ già suốt ngày ngồi ôm lồng ấp trước ngực. Tiếng người nói, tiếng guốc khua, tiếng còi xe sau bao nhiêu ngày như mất tăm trong mưa bỗng dưng xuất hiện đông vui, rộn rã.

Nhưng cũng chỉ một ngày, có khi chỉ một vài giờ, rồi lại mưa, mưa dầm dề mưa lê thê, mưa như để bù lại cái bất chợt nắng lên.

Lại lạnh cả chiếu chăn. Và, lại lạnh cả hồn.

Nhưng, đôi khi, hay chỉ là một vài khi, như thế cũng đủ ấm lòng người. Trịnh Công Sơn hát:

Đôi khi nắng lên làm tôi nhớ

Nhớ gì nào?

Nhớ những buổi sáng đầy sương mù trên sông Hương, những con thuyền hư ảo như trôi trong mơ, những tà áo trắng của nữ sinh Đồng Khánh biến thành mây trên bến Thừa Phủ.

Và những chiều tím với bao tà áo màu tím than rất riêng của Huế, nhớ tiếng rao hàng ngọt ngào nũng nịu, đã nghe là y như rằng không thể không muốn ăn.

Nhớ sen nở trắng như tuyết quanh hồ thành nội, những mảng tường rêu xanh ở cữa Thượng Tứ, nhớ những quan văn quan võ bằng đá cung kính đứng chầu trước sân đại nội cho dù các ông vua triều Nguyễn đã đi vào thiên cổ, nhớ chợ Đông Ba trên bến dưới thuyền và cầu Trường Tiền như một nét mày cong duyên dáng của giai nhân.

Có lẽ, người ta chỉ thật sự yêu Huế khi đã đi xa. Và cũng chỉ một đôi lần nhớ Huế khi mùa mưa tới. Nhất là một đôi khi nắng lên.

Tôi chỉ ở Huế một mùa thu và nửa mùa đông. Tôi không có một chút ấn tượng nào của núi Ngự, dù rằng Bùi Giáng đã rất thực và cũng rất dí dỏm khi viết:

Thưa rằng: xứ Huế bây giờ
Hãy còn núi Ngự bên bờ sông Hương

Ngọn núi trở thành bình phong của kinh thành nhà Nguyễn ngày nào đã không còn thông reo vi vu xanh ngắt, giờ trơ trụi với mồ mả chênh vênh trồi sụt. Tôi cũng không ưa những lăng tẩm tàn phai buồn hiu hắt. Lăng Gia Long khiến tôi nhớ đến cuộc hành hình tàn bạo đối với mẹ con nữ tướng Bùi Thị Xuân, lăng Minh Mạng nhớ tới cái chết của lão thần Nguyễn văn Thành, lăng Tự Đức nhớ tới giặc Chày Vôi, còn lăng Đồng Khánh thì nửa Tây nửa Tàu rất dị hợm.

Cái còn đọng lại trong tôi ấy là, gần như các gốc cây cổ thụ trong thành nội đều có những ngôi miếu nhỏ lúc nào cũng khói hương ấm áp. Người Huế đã không quên cái đêm kinh thành thất thủ khiến mấy ngàn người chết. Và lại càng khó quên những người chết trên bãi Dâu trong trận Mậu Thân.

Tôi cũng không quên được cái rạp hát bội cũ nghèo nàn trên đường Phan Bội Châu, chỉ lèo tèo một vài chục khách mà đêm nào cũng sáng đèn hự hự ứ ư, quán thịt dê bên cạnh với những con dê chờ chết suốt đêm kêu be be như oán như than.

Và lại càng không quên những chiếc bánh nậm mỏng như chiếc lá, bánh bột lọc trong vắt như kiếng trông thấy cả con tôm nằm im bên trong, chén nước mấm ngon dầm ớt xanh vừa cay vừa thơm ngát.

Hỏi rằng có nhớ riêng cô gái Huế nào không, thì thưa rằng không dám. Nhưng bảo rằng quên thì thực khó mà quên được những chiếc nón bài thơ e ấp, nép bên trong là những mái tóc thề. Gần như các cô gái Huế chưa chồng không cô nào chịu phi dê. Các cô chỉ ra khỏi nhà khi đi học và chỉ đi bộ hay đi xe đạp tới trường rồi lặng lẽ ra về, không tụm năm tụm ba ăn quà vặt hay dung dăng dung dẻ lang thang trên đường. Cho nên cô nào cũng có vẻ tiểu thư con nhà khuê các.

Những cô gái ấy, sau này trở thành bà quận trưởng, bà đại úy lại nói rất nhiều và ghen đáo để.

Tôi có anh bạn, bảo rằng anh đã lầm cái vẻ khuê các đó trong nhiều năm và ngao ngán chịu đựng suốt cả một đời.

Mà thôi, hãy yêu Huế một đôi khi và nhớ Huế một đôi lần, để thấy mình giàu có thêm đôi chút, vậy là vui rồi.

Khuất Đẩu

BẾP LỬA CHIỀU

Có phải buổi chiều làm người ta nhớ nhà hơn buổi sáng?
Có phải làn khói cơm chiều tỏa lên từ mái tranh nghèo làm mình nhớ quá ngày còn thơ bên dáng mẹ hiền.
Có phải vì “ lúc chiều về là lúc yên vui” (*), khi mình nhìn thấy xa xa bóng mục đồng dẩn trâu về chuồng.
Có phải vì ngôi sao hôm mọc trên nền trời xanh thẩm đang nhìn xuống, mang đến cho mình một nổi buồn sao quá dịu ngọt.
Không đèn điện, không radio, không TV, chỉ có ngọn đèn dầu leo lét đặt trên bàn mà sao những buổi tối chỉ có tiếng ếch nhái kêu cứ còn hoài trong ký ức?
Hồi nhỏ, nhớ có vở cải lương tên “Bếp Lửa Chiều Ly Biệt” .
Nhớ chiếc xe lam rao tuồng chạy qua xóm phát tờ rơi. Không được xem tuồng nhưng hai chữ “Ly Biệt” đã làm cho lòng mình rưng rưng lo sợ.
Có phải rồi có lúc mình phải rời xa “Bếp Lửa Chiều” của mẹ?
Từ thuở nhỏ mình đã yêu lửa. Chẳng phải lửa là phản ứng hóa học tuyệt vời , huyền ảo nhất, gần gủi nhất với mình sao? Nhớ lắm hình ảnh của đống củi khô mẹ chất bên chái bếp, nhớ lắm dáng mẹ cầm rựa chẻ làm ba, làm tư thanh củi cong queo.
Mẹ kể “Hồi mẹ còn nhỏ vẫn thường theo người lớn lên rừng hái củi. Người lớn chặt cây to, mẹ gom những cành nhỏ gánh về cho bà ngoại nấu cơm. Rừng đẹp lắm , có suối chảy, có trái dâu, trái đỏ , trái xay tha hồ hái.” Mình nghe mà ước gì được đi hái củi.
Nhóm lửa là điều thú vị nhất đối với mình thuở đó nên mình hay xin mẹ được làm công việc này.
Cho đến bây giờ mình vẫn nhớ cái cảm giác mắt cay xè khi thổi hoài lửa không bùng lên và chỉ có khói bay đầy gian bếp.
Và đẹp làm sao khi bếp lửa hồng rực sáng.
Thuở ấy mẹ nấu cơm trong nồi bằng đồng. Nấu canh, kho cá trong niêu bằng đất.
“Lọ nghẹ” là chữ trẻ nhỏ bây giờ không hiểu nhưng đối với mình thật quen thuộc khi vào bếp.
Buổi chiều đi làm đồng về, cha xổ từ trong “đụt” (**) ra một mớ cá. Mẹ chạy ra vườn hái nắm lá me, vài trái khế. Mẹ sai mình ra bụi tre bẻ vài đọt măng vòi. Đi ngang qua mương nước mình không quên nhổ một tàu môn.
Mấy con cá lóc nhỏ mẹ nấu canh chua, còn lại mớ cá sặc, cá rô mẹ kho với ớt bột nêm lá lốt xắt nhỏ.
Mâm cơm chiều được dọn ra giửa sân. Cả nhà bên nhau trong màu trời xâm xẩm tối.
Tô canh chua ấy không có bột ngọt. Ớt bột kho cá thuở ấy không trộn phẩm màu công nghiệp.
Cơm nóng hổi, cá kho béo ngậy cay cay hăng mùi lá lốt.
Nhớ quá đi thôi, bếp lửa chiều quê cũ.
Nhớ câu thơ của Phạm Hữu Quang trong bài “ Giang Hồ”

“Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”

Tôi tin rằng tiếng cơm sôi trong câu thơ của Phạm Hữu Quang là từ một nồi cơm nấu trên bếp lủa củi chứ không phải nấu từ lò ga.
Chao ôi, còn đâu nữa những bóng mẹ hiền ngồi chẻ củi.
Còn nâu nữa làn khói lam chiều trên mái nhà tranh.
Có lần, trên TV người ta khoe khoang rằng đã đưa bộ tộc người Rục ở vùng núi cao về đồng bằng làm quen với đời sống văn minh. Bộ tộc này sắp tuyệt chủng, chỉ còn một nhóm người sống trong rừng sâu. Họ không có nhà cửa và ngủ trong hang đá.
Người ta cất cho bộ tộc này những ngôi nhà gạch nhỏ và tập cho họ bỏ những thói quen hoang dã.
Nhưng sau đó, nhóm người này lại bỏ trốn lên núi, trở về hang đá cũ.
Làm sao họ quên được tiếng chim kêu, vượn hú. Làm sao họ quên được ngọn lửa rừng đêm rực sáng. Hàng triệu hecta rừng đã bị phá. Người miền núi tuyệt chủng vì không còn rừng chứ không phải vì họ không biết cách sống văn minh.
Bếp lửa củi bây giờ đã dần đi vào ly biệt!
Đã không còn ai đi hái củi. Nông thôn bây giờ cũng chỉ dùng lò ga.
Nồi đồng đã tuyệt chủng, trẻ em chỉ nhìn thấy nồi cơm điện.
Nếu đi lạc trong rừng không biết chúng có biết cách nhóm lên một ngọn lửa để mưu sinh?
Ngọn lửa ấm cúng ngày nào bị lãng quên nhưng ngọn lửa hung bạo của thời văn minh đang tấn công đất nước tôi. Ngày nào trên báo cũng có đăng tin những vụ cháy nhà, cháy xưởng, cháy rừng , cháy xe đò, xe máy. Ngay cả tàu đang chạy trên biển cũng cháy.
Tiếc quá đi ngọn lửa yêu dấu ngày nào.
Ngọn lửa trong tuổi thơ tôi không bao giờ làm cháy nhà , cháy rừng, cháy xe cộ…
Chỉ có ngọn lửa dìu dịu đủ làm nồi đồng cho mình những miếng cơm cháy ngọt bùi.
Hè này cháu nội tôi về thăm, tôi sẽ dẩn cháu vào chơi trong rừng, dạy cháu gom củi khô tự nấu một nồi cơm bằng ngọn lửa do chính mình nhen nhóm.

Huyền Chiêu

(*) Trong Nương Chiều. Phạm Duy.
(**) dụng cụ đan bằng tre để đựng cá.

CUỘC BẦU CỬ “VĨ ĐẠI”

Ngày 6/11/2018 này, dân Mỹ sẽ đi bầu hàng loạt chức vụ lớn nhỏ cấp địa phương, tiểu bang và liên bang. Quan trọng hơn cả là việc bầu toàn thể Hạ Viện liên bang và 1/3 Thượng Viện liên bang. Ta sẽ không bàn về các cuộc bầu địa phương và tiểu bang, chỉ bàn về cuộc bầu quốc hội liên bang.
Việc đảng DC tìm đủ mọi cách để xé bỏ kết quả bầu tổng thống vừa qua đã quá rõ ràng, quá thô bạo, và quá trơ trẽn, đã được bàn quá nhiều, không cần nói thêm. Vả lại, bài này sẽ bàn về cuộc bầu cử giữa mùa tới đây, không liên quan gì đến cuộc bầu tổng thống hết.
Đề tài tranh cử của hai bên là gì?
Bên phiá CH dĩ nhiên là đang khoe những thành tựu của TT Trump và hứa hẹn sẽ tiếp tục con đường đó, cũng như cố gắng thực hiện những việc chưa làm được. TT Trump khi ra tranh cử đã hứa khá nhiều chuyện và cho đến nay, ông đã thực hiện được không ít. Ngay cả báo Washington Post cũng đã phải nhìn nhận TT Trump là tổng thống ‘lương thiện nhất’, giữ lời hứa hơn tất cả các tổng thống khác.
Về phiá DC, thú thật với quý vị, kẻ này hơi bối rối không biết phải viết gì vì lý do rất giản dị là dường như đảng DC không có chương trình cụ thể gì ngoài kế hoạch … lật đổ TT Trump qua cả chục vụ điều tra, rồi đàn hặc và truất nhiệm, hay nếu không được thì tìm mọi cách phá, đòi hỏi ngược lại tất cả những gì TT Trump đã làm hay muốn làm. Nói cách khác, nếu muốn biết DC muốn làm gì thì cứ nghĩ đến những việc TT Trump đã hay sẽ làm, rồi quay ngược lại thì sẽ biến thành chương trình kinh bang tế thế của DC.
Bên nào sẽ thắng?
Phải nói ngay để tránh mọi hiểu lầm, kẻ này không đủ “khả năng, viễn kiến, tầm nhìn xa” để có thể làm Trạng Trình, đoán mò bằng những câu sấm mù mờ mà mấy trăm năm sau, ai cũng có thể diễn giải theo ý mình, cách nào cũng đúng. Hơn thế nữa, tiên đoán về chính trị Mỹ thì thật sự Trạng Trình có tái sinh cũng … mù tịt. Chỉ một ngày trước ngày bầu năm 2016 vừa qua, ai dám nói bà Hillary sẽ về nhà giữ cháu ngoại?
Một điều cần phải cân nhắc khi đi bỏ phiếu: giữa tư cách cá nhân của một ông Trump, là tiêu điểm của cuộc bầu cử dưới cái nhìn của đảng DC, và thành quả kinh tế là chủ điểm của bầu cử theo đảng CH, cái nào quan trọng hơn?
Nếu DC thắng, chiếm đa số tại Hạ Viện, cho dù vẫn không chiếm được Thượng Viện, thì như đã bàn nhiều lần, ta sẽ thấy hàng loạt vụ điều tra, vài công tố độc lập có thể được Hạ Viện bổ nhiệm để điều tra cửu tộc nhà họ Trump và cả tam tộc các phụ tá, cố vấn, bà con, chú bác, dâu rể,… Thậm chí có thể sẽ đàn hặc TT Trump luôn. Tình trạng lạc quan tếu nhất, các dân biểu DC không làm những việc trên thì, ít ra họ cũng sẽ bác bỏ tất cả mọi dự luật phe CH hay TT Trump có thể đề nghị. Hay ngược lại, phe CH và TT Trump sẽ bác tất cả mọi dự luật phe DC đề nghị. Nôm na ra, guồng máy chính quyền Mỹ sẽ hoàn toàn tê liệt, từ tổng thống đến bộ trưởng, nghị sĩ, dân biểu, quan chức,… tất cả đều lãnh lương để ngồi chơi xơi nước, chửi bới qua lại. Chẳng có một đạo luật đáng kể nào được ban hành. Chờ đến bầu cử 2020. TT Trump chỉ còn một cách: cai trị bằng sắc lệnh, qua mặt quốc hội, theo đúng cách của TT Obama trong nhiệm kỳ hai đấy.
Nếu phe CH thắng, giữ được thế đa số tại Hạ Viện, thì TT Trump sẽ có dịp tiếp tục những việc ông đã làm từ hai năm qua, và làm thêm những gì đã hứa mà chưa thực hiện được.
TTDC báo động: nếu CH thắng giữ được cả hai viện thì sẽ là đại hoạ vì “con ngựa chứng Trump sẽ không còn ai cầm cương và sẽ đá loạn xà ngầu”. TTDC quên mất một chuyện lớn: dân Mỹ đã đi bầu tháng 11/2016, cho ‘con ngựa chứng’ được chạy nhẩy, tại sao bây giờ lại một hai đòi nhốt con ngựa đó lại? Ý dân vứt đi đâu rồi?
Trong cuộc bầu cử này, yếu tố quyết định thật sự là hậu thuẫn của khối đa số mà TT Nixon gọi là “đa số thầm lặng’, -silent majority-, đang ủng hộ TT Trump. Không ai biết khối này đông đảo đến cỡ nào và nhất là sẽ tham gia bầu cử đông đảo đến mức nào. Đây là bí số chẳng những quan trọng nhất mà cũng là hiểm hóc nhất. Đó chính là bí số đã khiến tất cả khối DC vàTTDC tiên đoán sai bét trong cuộc bầu tổng thống vừa qua. Mà cũng là bí số khiến không ai dám chắc kết quả bầu cử lần này sẽ ra sao.
Chuyện chính trong bài này là cộng đồng Việt tỵ nạn tính sao?
Như đã có dịp bàn qua nhiều lần, dù muốn hay không, đây cũng là đất ta sinh sống, nơi mà các quyết định của các chính khách có tác động trực tiếp đến cuộc sống của chúng ta. Do đó, việc cộng đồng Việt tỵ nạn tham gia vào sinh hoạt chính trị Mỹ là điều tối cần thiết để có thể bảo vệ quyền lợi của chúng ta một cách hữu hiệu nhất. Tham gia bằng cách ra ứng cử càng nhiều chức vụ càng tốt, bất kể ở cấp nào, địa phương, tiểu bang hay liên bang. Và tham gia bằng cách đi bỏ phiếu. Và dĩ nhiên tham gia bằng cách tìm hiểu cho kỹ mọi vấn đề trước khi lấy quyết định cho chính mình.
Diễn Đàn này chủ trương cố giảm thiểu tình trạng chia rẽ trong cộng đồng nên cố tránh đi vào vấn đề cá nhân các ứng cử viên gốc Việt bất kể thuộc đảng nào. Do đó sẽ không ủng hộ hay chống bất cứ cá nhân nào. Không có nghiã là diễn đàn này nghĩ rằng ai đi bỏ phiếu cho ai cũng được. Mà vấn đề là cần bỏ phiếu theo chủ trương, theo sách lược,… của ứng cử viên, chứ không theo cá nhân hay cá tính của ứng cử viên.
Một điểm cần nhớ cho rõ: quan trọng là quyền lợi của nước Mỹ nói chung và quyền lợi của cộng đồng tỵ nạn nói riêng. Cần phải biết ứng cử viên đó và đảng của người ấy đã, đang, và sẽ làm gì cho cộng đồng chúng ta và cho nước Mỹ. Đó mới chính là những tiêu chuẩn căn bản để bỏ phiếu. Chứ không thể bỏ phiếu theo tiêu chuẩn… bạn bè, chỗ quen biết, bà con, hay… ‘cùng gốc Việt’.
Trên căn bản, những ứng cử viên ‘cùng gốc Việt’ tất nhiên phải hiểu cộng đồng tỵ nạn hơn những người không phải gốc tỵ nạn Việt, do đó có thể hiểu và bảo vệ nhu cầu của chúng ta hữu hiệu hơn những người khác. Vấn đề là trên thực tế không phải tất cả các ứng cử viên gốc Việt đều có cách suy nghĩ và hành xử giống hệt nhau.
Một ví dụ điển hình: một ứng cử viên tỵ nạn có thể vì thù ghét cá nhân TT Trump vẫn quyết tâm chống ông Trump đến cùng, chống luôn cả việc ông đang đánh Trung Cộng để giảm uy thế của TC, rất có lợi cho VN. Trong trường hợp này thì chúng ta có nên nhắm mắt bỏ phiếu cho người này chỉ vì họ ‘cùng gốc Việt’ không?
Trong cộng đồng tỵ nạn chúng ta, hiện nay có 4 vấn đề quan trọng nhất mà chúng ta cần cân nhắc.
1. Vấn đề kinh tế hiện hữu tại Mỹ
Dĩ nhiên, một số lớn dân tỵ nạn hiện còn trong tuổi đi làm, phải đóng thuế, nên họ cần phải cân nhắc cho kỹ việc TT Trump đã giảm thuế quy mô cũng như tạo ra được cả triệu việc làm. Chuyện công của ai là chuỵên tranh cãi phe phái không thể là yếu tố quyết định lá phiếu.
Một số không nhỏ dân tỵ nạn thuộc loại dưới trung lưu, không phải đóng thuế gì hết, cũng có nhiều người vì lớn tuổi chẳng đi làm gì hết mà sống bằng trợ cấp. Đối với họ, việc TT Trump giảm thuế, tạo công ăn việc làm chẳng có nghiã lý gì hết, trái lại, họ lo sợ giảm thuế sẽ giảm thu nhập của chính phủ, đưa đến việc cắt giảm trợ cấp của họ. Đây là một trong những luận điệu tuyên truyền rất mạnh của khối DC, để hù dọa thiên hạ.
Xin nói cho rõ: giảm thuế lợi tức, nhất là giảm thuế cho các đại gia và giảm thuế đánh trên lợi nhuận của các đại công ty, không phải là thể hiện tính phe đảng của TT Trump với nhà giàu để hại người nghèo như tuyên truyền ngớ ngẩn của phe chống TT Trump la hoảng. Việc giảm thuế cho các đại doanh gia và đại công ty có mục đích rõ ràng là khuyến khích việc đầu tư, mở hãng xưởng, tạo công ăn việc làm cho thiên hạ, phát triển kinh tế chung cho cả nước. Giảm thuế lợi tức cá nhân cho quý vị cũng giúp cho quý vị có thêm chút tiền để xài, tức là giúp các công ty bán thêm chút hàng hóa. Quý vị nào không muốn xài số tiền đó, có thể gửi ngân hàng, giúp ngân hàng có thêm ít tiền cho các doanh gia vay mượn để phát triển cơ sở kinh doanh của họ. Kinh tế nói chung sẽ phát triển (thật ra, đã và đang phát triển mạnh theo tất cả những thống kê chính thức). Mà kinh tế phát triển thì tức là lợi nhuận công ty tăng, lương thiên hạ tăng, thì cũng là dịp Nhà Nước thu thuế nhiều hơn, có tiền nhiều hơn, chứ không phải ít đi.
Như kẻ này đã chứng minh nhiều lần, kinh nghiệm những lần giảm thuế từ TT Kennedy đến TT Reagan và TT Bush con, sau thời gian đầu thì thu nhập thuế của chính phủ đều tăng vọt. Trong lịch sử cận đại Mỹ, đã có nhiều lần các tổng thống giảm thuế, nhưng chưa có một tổng thống nào bị hụt tiền đến độ phải cắt giảm trợ cấp.
Nếu quý vị nghe một ứng cử viên hô hoán TT Trump giảm thuế cho nhà giàu rồi sẽ cắt trợ cấp của người nghèo, thì xin quý vị hãy tỉnh táo suy luận để tránh nghe lập luận lừa phỉnh mỵ dân hay hù dọa thiên hạ. (Muốn tìm hiểu thêm về chuyện giảm thuế trước khi đi bầu, xin quý vị đọc lại bài ‘Luật Giảm Thuế’ trên diễn đàn này, tháng Chạp năm 2017)
Trong câu chuyện kinh tế, nhiều cụ tỵ nạn sao y bản chính TTDC, đã đưa ra những lập luận giả dối đáng ngạc nhiên.
Họ tố cáo TT Trump giảm thuế, kinh tế tăng trưởng, thu nhập của chính phủ phải tăng mạnh, cớ sao lại có chuyện nợ công vẫn tăng ào ạt lên tới xấp xỉ 21.000 tỷ đô, ngân sách vẫn thâm thủng nặng? Rõ ràng Trump lại nói láo sao?
Chỉ là tố cáo nếu không phải vì gian ý thì cũng chỉ vì thiếu hiểu biết. Giảm thuế có hiệu lực năm nay, tức là thu nhập của Nhà Nước đã giảm ngay, trong khi tăng trưởng kinh tế chỉ mới bắt đầu và chưa thể có tác dụng gì trên chi tiêu trong ngân sách đã được thiết lập cả năm trước. Chi tiêu của Nhà Nước có muốn cắt giảm như TT Trump đang cố làm, cũng không thể thực hiện trong vài tháng. Một ví dụ điển hình: muốn giảm nhân sự để tiết kiệm tiền lương, sa thải nhân viên hay công chức, cũng phải cấp cho họ một số tiền lớn cho họ sống trong khi chờ đợi có việc mới, chứ không có chuyện sa thải họ với hai tay trắng. Một ví dụ khác: tiền lãi phải trả trên hơn 20.000 tỷ công nợ, TT Trump không thể quyết định ngày mai sẽ ngưng trả. Nói cách khác hậu quả của chính sách kinh tế của TT Obama cần thời gian để thay đổi. Kinh tế Mỹ như cái tàu hàng lớn, muốn quay ngược lại, không thể một sớm một chiều, trở đầu như cái xuồng câu cá. Chưa kể cái giả dối thô bạo khi vài cụ tỵ nạn mê Obama la hoảng về số công nợ tăng lên tới 21.000 tỷ. Những người này núp ở đâu khi TT Obama tăng công nợ gấp đôi từ xấp xỉ 10.000 tỷ lên tới 20.000 tỷ đô?
Họ nói kinh tế phục hồi là nhờ TT Obama, ông Trump chỉ thừa hưởng gia tài thôi. Chuyện này, tôi đã bàn quá nhiều nhưng như nước đổ lá môn, họ vẫn nhắm mắt và bịt tai không muốn biết sự thật. Tôi sẽ không phí thời giờ viết lại tri₫ong bài này. Chỉ xin tóm lược rất ngắn gọn câu chuyện trước mắt.
Phục hồi của TT Obama có thật, nhưng chiếc xe của Obama chạy ì ạch 10 cây số một giờ trong 7 năm sau. Ông Trump ra tranh cử, hứa sẽ thi hành một loạt biện pháp để phục hồi tăng trưởng kinh tế thật sự và tạo công ăn việc làm lại. Các kinh tế gia DC nhao nhao báo động TT Trump sẽ lôi kinh tế xuống ruộng lại. Ông Trump đắc cử, thi hành những biện pháp đã hứa, chiếc xe chạy vọt lên 60 cây số một giờ. Cả triệu việc làm được tái tạo, chứng khoán bay bổng, kinh tế tăng trưởng quá mạnh khiến chính quyền phải tăng lãi suất để làm chậm lại. Phe Obama nhanh như chớp nhẩy ra vỗ ngực nhận công. Theo đúng mô thức Obama: cái gì tốt là công của tôi, cái gì xấu là lỗi của tất cả mọi người khác. Tại sao những tăng vọt đó không xẩy ra trong những năm từ 2009 tới 2016? Mà lại chỉ xẩy ra sau khi ông Trump đã nhậm chức và đã ban hành những biện pháp kinh tế mới?
2. Obamacare
Một cụ tỵ nạn báo động, tố TT Trump muốn thu hồi Obamacare, tức là “lấy đi bảo hiểm y tế của thiên hạ”. Đây là một lập luận cực kỳ thiếu lương thiện. Trong chế độ dân chủ, tự do cạnh tranh, kể cả cạnh tranh về tư tưởng, ai cũng có quyền chống những ý kiến khác ý của mình, nhưng điều kiện tối thiểu là phải lương thiện. Không bao giờ lại có chuyện vớ vẩn TT Trump và đảng CH muốn lấy đi bảo hiểm y tế của thiên hạ hết. Fake news! Vấn đề chỉ là cái Obamacare đầy sai lầm, gây ra đủ thứ tai hại trong hiện tại và cả tương lai, do đó, cần phải làm lại, tức là thay thế bằng một luật bảo hiểm y tế mới. Vì chưa đạt được đồng thuận ý kiến trên giải pháp mới nên Obamacare vẫn còn đó. Nói trắng ra, trước sau gì thì mọi người, ai cũng có bảo hiểm y tế hết, quý vị không cần phải lo sợ chuyện CH sẽ lấy đi bảo hiểm y tế cho quý vị. Tranh cãi giữa CH và DC chỉ là vấn đề bảo hiểm kiểu nào tốt hơn thôi.
3. Vấn đề di trú
Đây cũng là một đề tài những người thiếu lương thiện mang ra khai thác để hù dọa dân tỵ nạn. Họ tố TT Trump kỳ thị, sẽ tìm cách trục xuất dân tỵ nạn ta về VN hết. Chuyện gọi là… bố láo. Tất cả dân tỵ nạn ta qua Mỹ và sống ở đây hoàn toàn hợp pháp, được nhận qua một luật được cả hai viện quốc hội phê chuẩn và tổng thống ký. Không ai nên dở trò xập xí xập ngầu lẫn lộn chúng ta với đám di dân lậu mà TT Trump đang tìm cách ngăn chặn. Không có tổng thống nào có thể trục xuất chúng ta đi đâu hết.
Ngoại trừ hai trường hợp.
– Những người chưa được vào quốc tịch, chỉ mới ở trong trường hợp ‘thử thách’ có thẻ xanh: nếu phạm pháp, tất nhiên luật Mỹ (chứ không phải luật Trump!) sẽ không cho trở thành dân Mỹ và sẽ bị trục xuất. Ở đây, phải nói cho rõ để tránh xuyên tạc bóp méo. Vi phạm luật là vi phạm luật. Nặng hay nhẹ và bị trừng phạt như thế nào, trục xuất hay không là quyết định của quan tòa (chứ cũng không phải là phán quyết của Trump đâu!).
– Những công dân CHXHCNVN qua đây du học hay du lịch, ở lậu lại tất nhiên sẽ bị coi là di dân lậu, có bị bắt và trục xuất là chuyện đương nhiên theo luật Mỹ (chứ không phải luật Trump!)
Báo chí Việt tỵ nạn tung tin T Trump bắt nhốt hơn một chục ngàn người gốc Việt và sẽ trục xuất họ. Vẫn chỉ là cái mánh xuyên tạc để hù dọa. Đại khái hầu hết những người này đã bị bắt từ thời TT Obama (vẫn không phải là Trump đâu!), nhưng Mỹ không trục xuất về VN được vì VC không chịu nhận. Năm 1995, TT Clinton ký thỏa ước với VC, ‘công dân Việt’ phạm tội bị trục xuất về VN, nhưng chỉ áp dụng cho những người qua Mỹ sau năm 1995 thôi. Do đó, tình trạng cả chục ngàn người phạm tội đang bị nhốt chưa có giải pháp. TT Obama và Trump đã và đang điều đình với chính quyền VC về chuyện này, là chuyện chẳng phải lỗi của TT Trump.
4. Lo ngại về việc Hán hóa quê hương chúng ta
Vâng, thưa quý vị, dù sao, VN vẫn là quê hương chúng ta và chúng ta vẫn lo sợ cho việc VN sẽ bị mất vào tay Trung Cộng, một cách thô bỉ nhất như biến thành một tỉnh của Tầu, hay một cách gián tiếp, biến thành một xứ bị Tàu đô hộ qua các quan thái thú VC. Dù muốn hay không thì VN vẫn là quê hương, đất nước của chúng ta. Chính quyền VC chỉ là những người đang nắm quyền, không sớm thì muộn cũng sẽ không còn nữa. Đất nước là chuyện vĩnh viễn, chế độ là chuyện nhất thời, ta không nên lẫn lộn.
Trong cái nhìn đó, kẻ thù gần là chế độ VC, kẻ thù xa là chủ nghiã bành trướng của tân đế quốc Trung Cộng. TT Trump đang cố gắng ngăn chặn tham vọng đó. Bất kể vì lý do gì. Rất có thể TT Trump muốn chặn TC để bảo vệ thế đứng thống trị thế giới của Mỹ chứ chẳng phải vì yêu thương dân Việt ta. Không cần biết. Ta chỉ cần biết trong sách lược chặn TC đó, VN có thể tựa lưng vào để tránh trở thành ngôi sao nhí trên cờ máu. Nôm na ra, ta chỉ có một lựa chọn duy nhất: ủng hộ sách lược chặn TC của TT Trump, không có tam thập lục chước nào khác hết.
Muốn ủng hộ thì phải giúp cho ông thực hiện được sách lược đó. Nghiã là phải củng cố thế lực chính trị của TT Trump bằng cách giúp cho ông có đồng minh trong quốc hội, Hạ Viện cũng như Thượng Viện. Không có đồng minh, TT Trump trong hai năm tới sẽ bị trói tay, không thực hành được bất cứ sách lược nào hết, không ra được bất cứ luật nào hết. Họ Tập sẽ tha hồ lộng hành tại Biển Đông. Đó có phải là điều quý vị mong muốn không?
Như đã phân tích ở trên, việc đảng DC hay đảng CH kiểm soát được quốc hội sẽ có những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng. Có thể nói đến mức biến cuộc bầu giữa mùa này thành cuộc bầu giữa mùa quan trọng nhất trong lịch sử cận đại Mỹ. Nước Mỹ sẽ đi vào bế tắc toàn diện trong ít nhất hai năm nữa, hay TT Trump sẽ tiếp tục thực hiện những lời hứa như trong hai năm qua? Một mình TT Trump không thể làm gì được. Quốc hội đóng vai trò giúp ông hay cản ông, đó là quyết định của quý vị.
Lá phiếu của quý vị chính là lá phiếu quyết định chuyện này.

VŨ LINH
( Diễn Đàn Trái Chiều)

Bạn Kìa Ngó Lên Trời

Bạn kìa, ngó lên trời: chim thiên di bay đó! Trời bắt đầu đổi gió, chim bắt đầu di cư!

Chim cũng giống…giống như / con người “trốn” Cách Mạng! Người thì đi “tị nạn”, chim thì đi đổi mùa…

Quy luật có tự xưa, nay chỉ là lăp lại! Luật không có lề phải hay lề trái bao giờ…

Luật, giống như bài thơ, thí dụ thơ Đường Luật. Thơ thường sầu chất ngất (đổi dời ai vui đâu?)…

Nguyễn Khuyến có hai câu / nhắc là buồn nhói ruột: “Mấy chùm trước ngõ, hoa năm ngoái, một tiếng trên không, ngỗng nước nào!”.

Thơ…cứ ngỡ tào lao / mà nghẹn ngào lắm bạn! Sao người trốn Cách Mạng?
Sao chim lại thiên di?

Thiên di là…Đi! Đi! Mà Đi…đồng nghĩa Chết. Chết đây…không chết hết, mà một ít trong lòng!

Tây nói, bạn nhớ không? “Partir c’est mourir un peu!”. Xuân Diệu…đổi thành thơ: “Yêu là chết ở trong lòng một ít! (*)

*
Bạn ơi, đừng nhúc nhích, hãy để yên chim bay…rồi hết mùa rét này / chúng lại về tổ cũ!

…chỉ chúng ta là “xấu” với Tổ Quốc của mình…ngay trong thời chiến tranh, biết bao người…chạy giặc!

Ôi những giọt nước mắt / Tổng Thống Thiệu ứa ra! Ôi chiếc khăn mouchoir, Phó Tổng Thống…xếp lại!

Chúng ta buồn mãi mãi!
Chúng ta cứ thiên di!
Chúng ta uống cà phê…bên hiên trời lộng gió!

Trần Vấn Lệ

TÌNH REO NGUYÊN THỦY

Gửi cho người ở phương xa
Câu thơ giấu mãi nụ hoa trên nguồn
Nở trên đôi cánh chuồn chuồn
Buồn thì đậu lại bên đường em đi

Từ con khe suối xuân thì
Một mặt trời mọc phương phi tứ bề
Từ tay mấy ngón sơn khê
Thắp lên mấy ngọn nẻo về sử xanh

Tình treo cổ tháp kinh thành
Gửi theo gió cuốn chân thành cỏ may
Cờ lay trên vạt mây say
Trăng lay vạn cổ lâu đài bóng nghiêng

Ngã dài men rượu thần tiên
Cỏ xanh giấc ngủ bên triền cổ lai
Tôi tìm lưng dốc nguyên khai
Tình reo nguyên thủy ô bài thơ xưa

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

PHÂN ƯU


Chúng tôi vô cùng xúc động và thương tiếc khi nhận được tin buồn:
Thân Mẫu của:
Anh Chị Nguyễn Ngọc Hoa- Nguyễn thị Minh Ngọc
và bạn Nguyễn thị Huế Xưa

Đã từ trần ngày 21 tháng 10 năm 2018 tại Texas
Hưởng thọ 93 tuổi.

BBT TuongTri và thân hữu xin chân thành chia sẻ nỗi đau buồn và mất mát lớn lao này cùng tang quyến.
Nguyện cầu hương linh Bác an lạc ở cõi vĩnh hằng.