GIÁNG SINH KHÓ QUÊN

Mới giữa tháng Mười Hai nơi tôi làm việc đã trang trí mừng lễ Giáng Sinh. Dây kim tuyến trắng bạc giăng khắp nơi. Ở góc tường chiếc xe lửa có nhiều toa màu đỏ chạy vòng quanh cây Noel gắn đèn chớp tắt màu trắng làm không khí có vẻ tưng bừng hẳn lên. Viền quanh phòng làm việc của bà Jean Đi Bộ là mấy chiếc vớ to màu đỏ và các nốt nhạc màu trắng cắt bằng những miếng nhựa xốp. Ban Công chánh ăn tiệc sớm vì đa số nhân viên nghỉ hai tuần cuối năm mừng lễ, mãi đến sau Tết Dương Lịch mới trở lại. Tôi vẫn chưa mua quà cho con tôi. Hôm nay thứ Năm là ngày lĩnh lương. Cuối tuần này tôi sẽ đưa con gái đi mua quà. Tôi đến gặp Natasha.

“Tôi cần chị đi với tôi đến cầu Moor.”

“Tại sao phải đi hôm nay? Trưa nay là tiệc Giáng sinh mà. Để tuần sau đi.” Natasha vùng vằng.

“Nếu không cần gấp thì tôi đã không làm phiền chị. Đi hôm nay trời rất ấm vì có Indian summer. Tôi hứa sẽ đưa chị về trước giờ ăn trưa để dự tiệc Giáng sinh.”

Tôi lái xe đưa Natasha đến cầu Moor. Đây là loại cầu quay, giống như một cái bàn chân, khi mở, những “ngón chân” ngóc lên, còn cái “gót chân” sà xuống gần mặt nước. Trong lúc lái xe tôi giải thích, cần phải đi ngày hôm nay vì lệnh trên đưa xuống. Tổng Giám đốc của công ty muốn áp dụng cách khóa cầu của một công ty ở tiểu bang khác vào cầu Moor. Đường hỏa xa chạy trên cầu này băng qua eo biển có nhiều thuyền qua lại. Cầu mở cho đường thủy giao thông. Khi hạ cầu xuống đường rầy trên cầu phải nối liền với đường rầy trên đất như không hề bị cắt làm đôi. Để đề phòng cầu bị tách rời khi xe hỏa đang đến, giữa hai mối cắt này là một thanh khóa rất to được điều khiển bằng máy. Máy khóa cầu của cầu Moor vẫn còn tốt nhưng thuộc loại máy cũ. Tổng Giám đốc muốn dùng máy mới điều khiển bằng điện tử. Lệnh của Tổng Giám Đốc đưa xuống, sếp tôi muốn được lòng thượng cấp, ra lệnh phải thi hành ngay trong ngày hôm nay.

“Chị biết. Tôi chỉ là lính, phải tuân lệnh cấp trên. Sếp bảo nhảy là nhảy thôi!”

“Chẳng những thế, chị phải hỏi lại là cần nhảy cao đến mức nào.” Natasha trêu tôi.

Những khi cần ra ngoài công trường tôi thường yêu cầu Natasha đi với tôi. Một để giữ an toàn, trường hợp có tai nạn thì có người gọi cấp cứu. Hai, vì cùng là đàn bà với nhau. Tôi phân công. “Chị vào trạm gác cầu báo là tôi sẽ làm việc trên giàn máy quay cầu chừng hai giờ đồng hồ. Chị có thể ở trong trạm gác cho ấm, khi nào tôi cần chị giúp trong việc đo đạc tôi sẽ gọi. Nhắc người gác cầu mở còi hụ báo cho tôi biết khi phải mở cầu cho thuyền đi qua.”

Hồ sơ của máy quay cầu đều có ở văn phòng. Hôm nay tôi đi chỉ để kiểm chứng, so sánh hiện trường với tài liệu ở văn phòng. Tôi cũng muốn xem có chỗ trống đủ để gắn bộ máy mới hay không. Đo một khoảng rộng tôi cần có người giữ một đầu của cái thước dây nhưng Natasha ở trong trạm gác cầu nên công việc hơi khó khăn hơn. Một tay tôi cầm thước đo. Một tay tôi cầm cái bảng nhôm có kẹp sắt để giữ tập giấy tôi dùng để ghi chép. Đây là loại thước bằng kim loại mỏng. Ở đầu thước có cái móc nhỏ tôi có thể móc vào những thứ tôi muốn đo. Thước có nút bấm để rút thước dây lại cuộn vào bên trong cái vỏ kim loại. Vì thước mỏng và mềm nên tôi không thể đo cái gì cao quá đầu tôi. Tuy thế tôi có thể thả thước xuống để đo một khoảng cách phía dưới chân tôi.

Ước tính khoảng cách từ dưới mặt đất đến chỗ đặt máy để có thể mang dụng cụ và đồ phụ tùng để lắp ráp bộ máy điều khiển cái khóa cầu, tôi nhìn xuống bên dưới sàn chứa máy lót bằng fiberglass màu vàng. Có một sợi dây chạy song song theo đường rầy xe lửa mà lần trước ra cầu này tôi không để ý. Đường dây này cản trở công việc của tôi. Trên cầu thường có những dây chạy tín hiệu không còn dùng nữa nhưng công nhân không muốn mất thì giờ tháo bỏ chúng. Những dây này gọi là dây chết, vì không có điện. Tôi nghĩ sợi dây này là dây chết và tôi sẽ đề nghị tháo bỏ nó. Muốn biết khoảng cách từ đường dây điện đến sàn chứa máy bao xa tôi kéo thước dây bằng thép nghiêng người thả thước dây xuống. Đo cái này xong là tôi có thể đưa Natasha về. Công việc nhanh hơn tôi dự tính. Ăn tiệc Giáng sinh xong tôi sẽ về sớm. Có lẽ tôi sẽ nhân dịp này đi mua quà cho con tôi. Con bé muốn Santa cho một con búp bê bằng vải đội hoa hướng dương.

– “Ê! Chị kia… A! STOP! Ngừng lại! Đụng…chết! Tiếng la hét xôn xao hỗn loạn phía dưới đất vọng lên, mỗi lúc một cấp bách hơn. Tôi nghe nhưng không mấy chú ý cứ cố gắng giữ cây thước thả xuống phía dưới cho thẳng để đo khoảng cách của sợ dây đến sàn của giàn máy nơi tôi đang đứng. Gió thổi cây thước của tôi nên tôi cố gắng mấy lần mà không được. Cho dù Natasha có ở trên giàn máy này cũng chẳng giúp tôi được.

Tiếng la hét rõ rệt hơn và người la hét không ai khác hơn là Natasha và người gác cầu. Cả hai hối hả rời trạm gác chạy về hướng tôi. Natasha vẫy tay lia lịa, tôi chẳng hiểu chuyện gì. Người gác cầu ở phía sau Natasha dường như rượt nàng. Tôi ngơ ngác nhìn, tay vẫn cầm cây thước một đầu thả đong đưa phía dưới. Người gác cầu thổi còi. Tiếng còi xé rách không khí. Đâu có chuyến xe lửa nào. Phải còn ít ra hai mươi phút mới có chuyến xe lửa kế tiếp. Tôi nhìn người gác cầu. Anh ta tréo hai cánh tay trước mặt như hình chữ X rồi dang tay ra, ba lần liên tiếp. Tôi chợt nhận ra những tiếng la hét ấy dành cho tôi với dụng ý bảo tôi ngừng tức khắc công việc tôi đang làm.

Khi người gác cầu và Natasha đến gần, ngước mặt lên quát mắng tôi.

“Sao chị ngu thế. Chị thả thước dây lòng thòng xuống nhỡ chạm vào dây điện cao thế là chết đấy.”

“Dây điện cao thế nào?” Tôi hỏi ngớ ngẩn, không tin sợi dây điện màu nâu tầm thường này dây điện cao thế.

“Tôi không chạm vào dây điện. Dây điện thì phải có bọc chất cách điện bên ngoài cây thước của tôi nhỡ có chạm vào thì cũng chẳng hề gì.” Tôi cố cãi.

Người gác cầu vừa quát, vừa khoác tay ra hiệu bảo tôi phải xuống ngay lập tức. Công việc coi như đã xong, tôi vâng lời. Anh ta và Natasha quay trở lại trạm gác cầu. Tôi xốc túi đồ nghề lên lưng. Cây thước dây bằng thép bất ngờ rơi xuống đụng vào sợi dây điện. Một ánh chớp lóe lên, một tiếng nổ lớn, tôi ngã vào hàng rào cản trên sàn chứa máy. Hình ảnh đôi mắt đen láy, mái tóc pompei, xúng xính trong bộ áo ngủ trắng có hình trái dâu tây màu đỏ của con tôi là điều cuối cùng mà tôi nhớ.

Có một dạo tôi không ưa Natasha vì Natasha cùng phe với Sue White. Nghĩ cũng lạ. Lẽ ra chúng tôi phải thân với nhau thay vì xem nhau như kẻ thù. Cả ba chúng tôi đều là di dân. Natasha là người Nga, đến Mỹ trước tôi và Sue. Tôi và Sue đều là dân da vàng, cùng là kỹ sư cơ khí. Trong ban Công chánh có mấy chục kỹ sư toàn là đàn ông, nhưng chỉ có hai chúng tôi là phụ nữ. Natasha là họa viên chuyên vẽ kỹ thuật. Sue gốc Hoa sinh ra ở Costa Rica, mười lăm tuổi di dân sang Hoa Kỳ. Lấy chồng Mỹ, Sue đổi họ Wang lấy họ White của chồng. Cô ta bảo rằng muốn bứt cho sạch cái gốc người Hoa. Sue có đôi mắt xếch, rất đẹp. Khuôn mặt trái xoan dễ nhìn tuy nhiên hàm răng khấp khểnh vì không đeo niền chỉnh răng như người Mỹ từ lúc nhỏ. Thêm vào đó Sue thuộc tạng người béo phì và bị chứng hói. Phụ nữ mà bị hói như đàn ông, đầu Sue đã mang máng lộ chỗ hói hình tròn giống như cái bánh donut.

Sue nhiều tham vọng, muốn trở thành kỹ sư trưởng nên lúc nào cũng nhắc nhở và phóng đại năng khiếu chỉ huy của mình. Chuyện này đáng lẽ chẳng phiền lòng tôi nếu Sue không dùng tôi làm đối tượng cho khả năng tự thổi phồng của Sue. Gặp ai Sue cũng giới thiệu tôi là nhân viên của Sue. Sue vào làm trước tôi hai năm, chức vụ cao hơn tôi một bậc, nhưng không phải là sếp của tôi. Tất cả chúng tôi lúc ấy đều làm việc dưới quyền một ông già Mỹ, người da trắng tên Weber.

Đôi khi tôi tự hỏi tôi không phục tùng Sue, không xem Sue là cấp trên của tôi vì bản tính tôi bướng bỉnh, bất trị bởi thời thơ ấu không ai dạy dỗ, suốt ngày chạy rong trên đồng cỏ, hay vì Sue trẻ tuổi và là đàn bà. Đàn bà thường không phục tùng đàn bà. Tôi đã nghe rất nhiều phụ nữ nói rằng họ không thích làm việc dưới quyền đàn bà vì đàn bà thiển cận, đói khát quyền lực, thiếu ý chí, không biết quyết định, và còn hằng chục lý do khác nữa. Đàn bà thường sợ người khác giỏi hơn mình vì thế hay dìm tài người khác. Phụ nữ không biết làm việc chung với nhau, không biết làm “teamplayer.” Kẻ thù của phụ nữ là một người phụ nữ khác. Phải chăng đàn bà, kể cả tôi, quá quen thuộc với nền văn hóa phụ hệ chỉ muốn tuân lệnh đàn ông? Hay vì Sue không có tài chỉ huy? Tôi ghét Sue làm tài lanh dạy dỗ tôi những chuyện chẳng liên quan gì đến công việc, thí dụ như “chị phải dạy ông chồng Việt Nam của chị cho biết cách đối xử với đàn bà.” Sue quan niệm đàn ông Á châu nào cũng chồng chúa vợ tôi, giống như bố Sue. Cô nàng hay nói lớn giọng với tôi về việc phụ nữ bị trả lương ít hơn nam giới dù công việc họ làm giống nhau. Tuy nói với tôi nhưng dụng ý của Sue là muốn ông Weber nghe. Dường như Sue muốn chứng minh Sue xứng đáng là sếp của tôi bởi vì cái gì cô cũng giỏi hơn tôi. Khi tôi khoe một môn học tôi được điểm cao. Sue bảo “tôi ghét phải van xin nịnh nọt mấy ông thầy để được điểm cao.” Biết chồng tôi là người Việt, Sue bảo phải lấy chồng Mỹ thì mới thấm nhập văn hóa Mỹ để có thể được tiếp nhận vào xã hội Mỹ. Những chuyện như thế tuy nhỏ nhặt nhưng dần dần tôi đâm ra ghét Sue. Ghét đủ đến mức thầm nguyền rủa cho cô nàng té xuống sông chết chìm khi ra công trường. Nếu hai chúng tôi có ý tưởng khác biệt trong công việc Sue thường bắt tôi phải chìu ý Sue vì cô nàng lúc nào cũng nghĩ là mình đúng. Để được lòng sếp có lần Sue sai tôi mang xe sếp ra tiệm rửa xe. Tôi chống đối yếu ớt, thường làm lơ hơn là cãi lại. Không vừa ý tôi không phản đối mà ngấm ngầm uất ức rồi trở nên cau có hay lạnh nhạt. Tuy nhiên Sue chỉ lắng nhắng với tôi chứ không làm thế với Natasha. Tôi tự hỏi có phải vì tôi nhút nhát hay vì tôi không giỏi cãi nhau bằng tiếng Anh. Hay vì Natasha là người da trắng và được lòng của cấp trên? Hay tại Natasha biết cách bày tỏ ý nghĩ mỗi khi bất đồng ý kiến với Sue?

Vì nói tiếng Anh không giỏi nên tôi tránh tranh luận với Sue. Tôi trả đũa bằng cách khác. Sue thường ví von:

“Ban Công chánh giống như là một cái sở thú. Richard là con cọp. James là con gấu. Natasha là một con thiên nga đỏm dáng. Nhìn chị ấy xem lúc nào cũng yểu điệu mượt mà. Bob là con chó sủa to mà không cắn.”

“Chị có biết chị giống con gì không?” Nhìn thẳng vào mắt tôi, Sue hỏi.

“Tôi không nghĩ là tôi giống bất cứ con vật nào.” Tôi nhìn thẳng vào mắt Sue. Có lẽ vẻ hằn học hiện rõ nên cô nàng nhìn lảng sang chỗ khác. Tôi thầm nghĩ tôi giống như con hummingbird, chăm chỉ, và có cái mỏ nhọn sẵn sàng rỉa rói tấn công. “Còn chị giống con gì?” Tôi hỏi.

“Con heo!” Sue tự chế nhạo nàng.

Tôi mỉm cười không nói gì. Và có lẽ cái cười mỉm này làm Sue không vừa ý.

“Heo là con vật khôn ngoan và rất sạch sẽ.” Cô nàng nói tiếp.

Tôi lại cười.

“Má tôi nuôi nhiều heo. Chị dâu tôi chịu không nổi mùi heo, cám heo, và phân heo đã bỏ nhà chồng chạy về nhà mẹ ruột ba ngày sau khi kết hôn.”

Buổi trưa hôm ấy Sue rủ tôi đi ăn buffet. Sau câu chuyện tự ví von với heo, tôi biết Sue mặc cảm vì cái dáng béo của nàng. Tôi ngoáy vào vết thương của Sue.

“Ôi, tôi béo lắm rồi. Đi ăn kiểu này thì tôi sẽ như con lợn mất. Tôi đang cố gắng mất vài pound đây.”

“Chị mà diet thì trước tiên là mất cả bộ óc.” Sue trả đũa giọng chua như giấm.

“Nếu nhịn ăn mà mất bộ óc thì sao cô ăn nhiều mà óc không lớn lên.” Tôi nói thầm; muốn nói thẳng với Sue nhưng e sẽ cãi nhau lớn chuyện nên tôi làm thinh, nhưng tức tối. Và ghét.

Nếu Sue như một con lợn thông minh lắm mồm thì Natasha như một con thiên nga sang trọng, đài các và yểu điệu. Sue không bao giờ nặng lời với Natasha như với tôi, dù chức vụ của Natasha thấp hơn của tôi. Có gì không đồng ý về đồ án và bản vẽ Natasha không nói với tôi mà đi nói với Sue. Không chỉ được lòng Sue, Natasha được lòng tất cả mọi người cấp trên. Mỗi khi vào họp toàn ban, người đông thiếu ghế, Natasha luôn được sếp mời ngồi trong khi đám kỹ sư, kể cả phụ nữ như tôi và Sue, phải đứng. Bình đẳng mà. Khi công ty có một cuộc chấn chỉnh nội bộ Sue rời khỏi ban công chánh. Trong công việc mới tuy Sue không được tăng lương nhưng được quyền chỉ huy chừng hai tá công nhân, thế là thỏa lòng mơ ước. Được một thời gian, có lẽ không vừa ý nên cô nàng lại chuyển qua ban khác. Vốn đã bị hói đầu, tóc của cô nàng càng rụng nhiều hơn. Thỉnh thoảng gặp Sue White trong công ty, chúng tôi giả vờ không nhìn thấy nhau.

Thoát khỏi sự kềm kẹp của Sue, tôi im lặng làm việc. Tôi tuân lệnh cấp trên tuyệt đối vì tôi biết trong cái xã hội nho nhỏ này, nó rập khuôn xã hội lớn ngoài kia, đàn ông là chúa tể. Rất ít phụ nữ có quyền thế trong công ty này, và những người phụ nữ quyền thế này chẳng đoái hoài gì đến tôi. Tôi đoán trước ý muốn của cấp trên luôn hoàn thành nhiệm vụ, và vượt qua những dự đoán của sếp. Tôi được giao nhiều đồ án có giá trị tài chánh rất cao, lên chức hai ba lần và Natasha trở thành nhân viên dưới quyền tôi. Vẫn còn căm ghét Natasha đã về phe với Sue, tôi muốn trả đũa tận tình nhưng chỉ có thể dở trò xéo xắt. Tôi không thể đối xử tệ với Natasha vì chị được cấp trên mến chuộng dù chị không chăm chỉ làm việc như tôi. Tôi vẫn thường nghe nói, nhưng không tin, là xã hội Hoa Kỳ có một thứ tự, không nói thành lời cũng không viết thành văn bản. Đó là đàn ông da trắng được xếp ở địa vị cao nhất, kế đến là đàn ông da đen, rồi phụ nữ da trắng, phụ nữ da đen, đàn ông Á châu và cuối cùng mới đến đàn bà Á châu. Cho dù tôi có học cao hơn, làm việc siêng hơn, nhưng Natasha vẫn được yêu mến hơn và kính trọng hơn.

Không hiểu tại sao tôi và Sue lại có thể ghét nhau như mèo với chó, thật ra chúng tôi rất giống nhau. Giàu tham vọng, và thích quyền hành. Sue thích chỉ huy nhưng tôi thì thích được ở vị trí của người chỉ huy mà không cần phải chỉ huy. Thỉnh thoảng họp với các hãng kỹ sư tư vấn phụ trách công việc sửa chữa cầu giúp tôi, tôi được làm chủ tọa. Tôi ngồi ở đầu bàn và hai bên là những kỹ sư sẽ làm công việc giúp tôi. Tôi có cảm tưởng tôi là lãnh đạo của những người ăn mặc nghiêm chỉnh sang trọng, ăn nói lưu loát, hiểu biết, và nhiều kinh nghiệm này. Say sưa với giấc mơ thành công, tôi làm việc tận lực. Có con đầu lòng, tôi chỉ nghỉ sáu tuần trong khi đa số phụ nữ nghỉ sáu tháng. Trời mùa đông, lạnh đến độ tất cả các bắp thịt trên mặt dường như đông cứng lại tôi vẫn ra công trường trông coi những công trình sửa chữa cầu. Trong khi tôi đang cố gắng đuổi theo một chức vị cao hơn thì má tôi qua đời. Tôi không về Việt Nam dự đám tang vì nếu người khác làm thế công việc tôi, mọi cố gắng của tôi có thể sẽ tan như bọt sóng. Chức vụ, cái biểu tượng của sự thành công, lủng lẳng trước mắt tôi, chỉ cần ráng chút nữa, vươn chút nữa, tay tôi sẽ chạm đến. Nhưng tôi không đạt được chức vụ tôi muốn. Chị tôi làm đám tang cho mẹ vắng mặt tôi. Tôi nghĩ, nếu tôi thành công má tôi sẽ vui và có lẽ bà tha tội bất hiếu cho tôi.

Khi tỉnh dậy tôi thấy đầu tôi đang gác trên đùi Natasha. Vẻ mặt Natasha đầy lo lắng.

“Tôi làm sao thế?”

“Cây thước dây chị đánh rơi đụng vào dây điện. Cây thước bốc cháy và cái biến điện gần đó bị nổ. Chị bị ngã đụng đầu ngất đi. Xe cứu thương sắp đến để chở chị vào nhà thương.” Natasha nói. “Nếu chị còn cầm cây thước trên tay thì có lẽ chị đã biến thành trái banh lửa.”

“Nổ máy biến điện à? Chắc tôi sẽ bị mất việc làm thôi. Tôi xin lỗi đã không thể giữ lời hứa đưa chị về kịp giờ để ăn tiệc Giáng sinh.”

Natasha khoác tay. Giọng Natasha ấm áp, dịu dàng.

“Chị đúng là điên. Suýt mất mạng không sợ mà lại lo mất việc. Chị bình an là mừng rồi.”

Chuyện như mới hôm qua nhưng thật ra đã xảy ra mười lăm năm về trước. Sau cái tai nạn suýt chết đó tôi nhìn Natasha bằng đôi mắt khác. Ở chị có vẻ điềm tĩnh vui vẻ với công việc và mọi người chung quanh. Chị làm việc vừa phải tránh những tranh giành ganh tị, không nói những lời chua ngoa hay lên mặt với người khác. Dù tôi nhiều khi khắc nghiệt Natasha vẫn dịu dàng với tôi. Tôi nhận ra rằng sự ganh tị và tranh giành của tôi là những chuyện vô bổ. Người ta thành công nhiều khi nhờ may mắn hơn là tài ba. Sự hung hăng và hiếu thắng của tôi biết đâu chừng lại cản trở mức độ tiến thân, bớt hung hăng có lẽ tôi có nhiều bạn bè hơn và được nhiều người hỗ trợ hơn. Thành công và sự nghiệp có thể biến thành trái banh lửa trong nháy mắt. Sau cái Giáng sinh ấy tôi có nhiều thay đổi. Tôi nhận ra rằng cuộc đời rất mong manh. Tôi có thể vĩnh viễn không về sau một ngày làm việc. Suýt tí nữa con tôi đã không có quà, mà cũng chẳng còn mẹ.

Nguyễn Thị Hải Hà

đêm có mưa phùn bay

Hà Nội
có em
nên tôi thường vội nhớ
có những con đường tôi chưa từng bước qua
có nắng hiên nhà em ngồi hong tóc
có tên nhớ người ở chốn phương thật xa

Hà Nội
nơi tôi không biết gì
chỗ chào đời của mẹ
mẹ cũng không biết gì mai sau con sẽ yêu
con yêu mầu xưa con nhớ mầu đen trắng
con chợt yêu một nguòi chẳng biết sao lại yêu

Hà Nội có em
đẹp như mầu cổ tích
em ôm chổi bay lên tôi thấy như nàng tiên
tiếng khúc khích cười em như ngày trăng là nguyệt
từ những vết thương anh mọc những nhánh ưu phiền

Hà Nội anh yêu
có tiếng sét ái tình
có những cơn mưa phùn thấm trên ngực em
anh thèm bên em . nằm bên em trong đụn rơm lấy ngón tay chỉ mũi
nói vào mắt em bằng tiếng mọi tiếng miên
mắt ướt em nói lời không nói
và mưa rơi không biết cả trong ngoài

Hà Nội anh ghi
Hà Nội anh chép vào trang tình sử
huyền thoại nguòi con gái thành cát tư hãn đầu đội mũ lông chim
tiếng ngọc lũ tiếng tù và mường bản
hoa trên trời rơi tả ngạn nhánh sông hồng…

Ngô Yên Thái

sáng nay có kẻ ngậm lời nhớ quê

hồn quê bám những ngón tay
khói hương rơm rạ vờn bay phương nào
chướng mùa con nước lao xao
có nâng thuyền giấy trôi vào tuổi thơ?

rễ bần buông chạm cơn mơ
giêng hai hoa tím bãi bờ biệt tăm
lũ sương mai ủ hạt mầm
tìm đâu bóng mẹ hút tầm nhìn con

cũng đành nỗi nhớ héo hon
hãy rung khẽ nhé cho tròn ngày đông
ô hay, bao giọt nắng hồng!
tan vào con chữ cho lòng reo vui

mây trời theo gió rong chơi
sáng nay có kẻ ngậm lời nhớ quê.

KHALY CHÀM

TÌM ĐÂU

Về chơi trăng đời và trăng phố
tấm lòng quê mơ một đóa phù dung
hoa cỏ lạ bên kia bờ hải ngạn
cuộc tình tôi mộng ước vô cùng.

Và lối thẳm biệt ly ngày hẹn ước
trăng đời buông trăng phố ngại ngùng qua
tôi đâu phải Ngưu-Lang tiền kiếp trước
để chờ em Chức-Nữ đợi mùa hoa.

Mây vẫn bay và cuồng phong vẫn nổi
phận bèo trôi hoa dạt biết về đâu ?
Về không trung quyết tìm em trên bến
bến Ngân-Hà đau xót một giọt châu.

Tôi là ai mà buồn vui hóa kiếp
kiếp quân vương cho đến kiếp ăn mày
kiếp phù du áo cơm đau buồn tủi
chí giang hồ mà cúi ngã xin ăn.

Về hang sâu gặp thuồng luồng ma quái
về Trường-Sơn nguồn cội biến mất rồi
suối khe chảy chỉ còn cây lá đổ
ăn của rừng non nước phải điêu linh.

Tôi yêu em mà hồn say hoang dại
say mùa xuân và say cả mùa thu
tôi yêu em ly rượu nồng đáy cốc
hồn Trương-Chi chén ngọc vỡ tan tành.

Huế, ngày về 2018

VƯƠNG KIỀU

Dạ khúc lãng quên

tôi có một dạ khúc
dạ khúc lãng quên
ngân nga bằng âm vọng đứt quãng của tuổi trẻ
người ta ví thanh xuân như cơn mưa rào
nhưng đâu đó vẫn ầm ào thác lũ
dạ khúc
choàng áo vàng rực của mặt trời sững nắng
sao đau bặt buồn qua nốt ngấn hoàng hôn
cũng tình tự bao mùa xuân ửng mọng
lại phảng phất lam khói đồng ai củi lửa hong lên
dạ khúc
hôm nay xanh rêu màu lam lũ
rạ rơm nướng mình theo cánh bướm chao nghiêng
dạ khúc với đêm
nhọc nhòa nấc nghẹn
rồi lại mủi lòng ngồi khỏa nước nhớ sông
dạ khúc đa mang
dạ khúc miên trường
mang nỗi nhớ thiên di
qua đồng chiều
ngập ngừng rơi ráng nắng
qua đất hạn
soi bóng nứt vết chân
qua gang tay
bỗng nhớ ngày nhớ tháng
rồi
mình có là mình trong dạ khúc
dạ khúc man di
dạ khúc không hé nửa lời
mà đau đến bên bồi bên lỡ
dạ khúc đưa nôi
dạ khúc thập tự
dạ khúc gục đầu tạ lỗi với mông mênh.

Trần Đức Tín

ngõ chiều hoa giấy

có lẽ ba mươi năm rồi nhỉ…
chiều qua ngõ cũ chợt nhớ người
những chùm hoa giấy thầm mộng mị
còn nhớ chút gì – tôi hai mươi…

ngày ấy vụt trôi tràn trí nhớ
theo em mê mãi chặng đường dài
tình nghiêng nón lá màu hoa đỏ
bước chậm nghe mùi hương tóc ai

có con chim hót trên cành trúc
qua ngõ nhà em áo lụa đào
mùa thu rơi nhẹ vào hoa cúc
thoảng chút hương thầm tôi gửi trao

nắng hanh thơm mộng vương chiều gió
vương mãi vào đêm những giấc nồng
ngõ nào tôi gửi mùa thương nhớ
hoa giấy hãy còn hương nhớ mong

…rồi những mùa trăng trôi bóng nghiêng
khói sương chìm khuất dấu quê nhà
ngày đi ánh mắt buồn đưa tiễn
hoa giấy rơi nhiều qua ngõ hoa

xa quê biền biệt giờ quay lại
ba mươi năm em đã theo chồng
còn đây ngõ nhỏ chiều tê tái
chắc gì em còn nhớ tôi không..

ôi những mùa xưa trăng đã tàn
buổi về nhòa nhạt bóng hoàng hôn
hoa giấy còn rơi ngày đã cạn
cơn gió chiều nay lạnh buốt hồn

ba mươi năm mà như chớp mắt
tôi ngồi lặng đếm những mùa sang
nhìn quanh ngõ nhỏ buồn se thắt
chỉ thấy màu hoa thắm bẽ bàng…

…em hỡi bây giờ em ở đâu
áo xưa còn khép lụa đôi tà
nhớ em cơn gió chiều hoang hoải
đọng mãi hương thầm bên ngõ hoa….

nguyễn minh phúc

ĐÊM NGUYỆT QUẾ

Đêm Nguyệt Quế sương hay là nước mắt
Bờ cỏ xanh hoài nhớ dấu chân ai
Con dế nhỏ vì sao mà thổn thức
Giọt long lanh rơi vỡ suốt khuya dài

Khung cửa sổ ngọn đèn vàng hiu hắt
Bài du ca muôn thuở gió ru buồn
Bàn tay lạnh che ngang vầng trăng muộn
Nghe nghẹn ngào lời vọng thức mưa tuôn

Bầy dơi xám bay qua vườn lặng lẽ
Cánh rã rời tiễn biệt dấu chân đêm
Từ ký ức- suốt đời- hương Nguyệt Quế
Và một người, tôi không chắc, đã quên

Đêm Nguyệt Quế
dịu dàng
đêm Nguyệt Quế
Đêm cuối cùng rồi từ đó xa xăm…

Tôn Nữ Thu Dung

SILENT NIGHT

Đúng ngày hôm nay, cách đây 200 năm, vào đêm áp lễ Giáng sinh – 24 tháng 12, 1818 – trong một nhà thờ nhỏ bé tại vùng quê thuộc nước Áo, bài thơ Stille Nacht được đem phổ nhạc lần đầu và không ngờ bài hát đó trở thành một trong những bản thánh ca được nhiều người yêu thích nhất.

Lễ nửa đêm năm đó, Stille Nacht (Silent Night) được hát lần đầu tiên tại nhà thờ Thánh Nicholas tại Oberndorf, một ngôi làng nằm sát biên giới của đế quốc Áo và Đức. Bài thơ do cha Joseph Mohr, một linh mục trẻ và được một nhạc sĩ đàn ống (organ), Francis Xavier Gruber, sáng tác.

Truyền thuyết cho rằng chiếc đàn ống trong nhà thờ bị hư nên cha Mohr nhờ ông hiệu trưởng kiêm nhạc sĩ đàn ống Gruber phổ nhạc bài hát, nguyên thủy bằng tiếng Đức, cho đờn guitar để hát vào lễ nửa đêm. Câu chuyện thêm thắt rằng khi khám phá ra chiếc đàn ống hư hỏng (theo truyền thống thánh lễ phải có tiếng đàn ống, và bằng tiếng Latinh), vị linh mục trẻ hoảng hốt không biết xoay xở thế nào thì chợt nhớ đến bài thơ và nhờ ông Gruber phổ nhạc chỉ vài tiếng trước thánh lễ nửa đêm.

Thật sự cha Mohr viết lời thơ Stille Nacht vào năm 1816, tại Mariapfarr, một thị trấn nằm gần Salzburg, thuộc nước Áo. Hai năm sau, 1818, ngài được bổ về phục vụ tại nhà thờ Thánh Nicholas thuộc Oberndorf, và ngài nhờ ông Gruber phổ nhạc. Chuyện tuần tự xảy ra và đơn giản như thế. Có lẽ vì bài hát quá nổi tiếng nên người ta thêm thắt một vài huyền thoại để tăng thêm nét bi hùng cho bản nhạc. Điểm chính xác là bài hát lần đầu tiên hát trong thánh lễ nửa đêm Vọng Giáng sinh năm 1818.

Kể từ đêm 24/12/1818 đó, bài thánh ca lan dần sang các làng mạc xung quanh trong nước Áo và dần dần được phổ biến rộng rãi trên thế giới. Bài thơ Stille Nacht thật đơn sơ, hiền hòa. Gruber phổ nhạc với một giai điệu cũng bình thường, không cầu kỳ phức tạp. Thế mà tính đến đầu thế kỷ 20, Stille Nacht được hát và trình diễn trên khắp năm châu và không một nhà thờ nào mà không hát bản nhạc này trong đêm Giáng sinh. Hiện nay, bài hát đã được dịch ra hơn 300 ngôn ngữ và thổ ngữ.

Giáo sư Thánh nhạc Sara Pecknold thuộc Đại học Catholic University of America nhận định, “Cha Mohr sáng tác bài thơ trong bối cảnh thật đặc biệt. Hậu quả của cuộc chiến (1803-1815) do Napoleon phát động vẫn còn đè nặng trong tâm trí con người. Bài thơ diễn tả sự tĩnh lặng và an bình trong một đêm đông buốt giá, khi Chúa Hài đồng được sinh ra đơn sơ và nghèo hèn trong chuồng gia súc. Bài hát mời gọi sự thinh lặng của tâm hồn, rũ bỏ mọi ưu tư để đắm chìm trong sự an bình đích thực mà Ngôi Hai mang đến cho nhân loại.

Trong thinh lặng và thầm thì hát bản nhạc này, ai cũng cảm nhận được một sự bình an lạ lùng. Thơ và nhạc quyện vào nhau êm ả như một lời ru khiến lòng bồi hồi khó tả. Trong Thế chiến I, quân Pháp và Anh đóng chốt ở giao thông hào, ghìm nhau khốc liệt từng giờ với quân Đức. Đó là đêm Vọng Giáng sinh năm 1914, trời đông buốt giá, tuyết rơi phủ đầy mặt đất. Bất ngờ đâu đó có tiếng ai ngân lên bài Stille Nacht. Tiếng hát ban đầu mỏng như sợi tơ và rồi lạ lùng thay, binh lính hai bên cùng nhau hát theo thật tự nhiên. Ngoài súng đạn hận thù, Stille Nacht là ngôn ngữ yêu thương duy nhất của binh sĩ của hai đầu chiến tuyến. Bài hát Stille Nacht vang lừng khắp hai thông hào, dội vào đêm khuya như tiếng chuông ngân kêu gọi một thế giới vun đắp tình thương. Ngày hôm sau, tất cả binh lính nhỏm dậy từ hai chiến tuyến, bước đến chào hỏi bắt tay nhau. Đôi bên không hẹn trước, đã bỏ hết hận thù, cùng nhau vui chơi suốt một ngày.

Bài hát được chuyển sang tiếng Anh nhờ linh mục Anh giáo John Freeman Young năm 1859. Ngài chỉ giữ 3 phiên khúc so với 6 của bài thơ nguyên thủy. Đã có rất nhiều ca sĩ hát và thu âm bài hát nhưng chỉ riêng đĩa mang tiếng hát của ca sĩ Bing Crosby phát hành năm 1935 được xếp hạng Ba với số lượng bán chạy và nhiều nhất trong lịch sử ngành đĩa thu âm của Hoa kỳ.

Cho đến nay, bài hát vẫn nổi tiếng và phổ biến hơn bao giờ. Theo một cuộc khảo sát của báo Time, bài Silent Night được thu âm nhiều nhất tại Mỹ, và bài Joy to the World xếp hạng nhì nhưng cách bản Silent Night rất xa. Năm 2011, UNESCO tuyên bố bản nhạc Stille Nacht là “di sản văn hóa.” Stille Nacht được cố nhạc sĩ Hùng Lân dịch sang tiếng Việt mang tên Đêm Thánh Vô Cùng. Cố nhạc sĩ Nguyễn văn Đông cũng dịch ra lời Việt mang cùng tên.

Trong bối cảnh thế giới nhiễu nhương ngày nay, bài Stille Nacht càng mang một ý nghĩa đích thực về sự an bình trong cõi lòng mỗi người, để thế giới thật sự hưởng được nền Hòa Bình chân chính. Rũ bỏ hết mọi tị hiềm, thù hằn, ganh ghét để Tâm mỗi người được bình an, và thế giới sẽ được an bình, như lời của Đức Phật, “Tâm Bình, Thế Giới Bình.”

Cầu chúc mọi người một đêm Giáng Sinh an lành.

HẠ NGÔN

TỪ EM

Từ em chiều bỗng thiệt hiền
Mở ra những cánh chim quyên về ngàn
Địa đàng quyến luyến khăn san
Bỏ quên cơn lạnh trên hàng lá khô

Nhạc từ em chín bao giờ
Ngọt thơm môi biếc thơ thơ vai hường
Chúa từ tâm giấu khói sương
Một đêm tay ấm miên trường phúc âm

Con sông dài mấy dấu dầm
Nước về qua phố bến nằm đợi trăng
Ngõ tóc thề gió phân vân
Vang hồi chuông thánh trong ngần Giáng Sinh

Cỏ hân hoan cỏ niệm tình
Từ em Chúa cũng hiển sinh ngọt bùi
Từ em em nói em cười
Phố mùa đông đã lần hồi nắng lên.

Bùi Diệp