Có chồng vẫn hơn, vẫn được tiếng là gái có chồng, được ngẩng cao đầu lên nhìn thiên hạ và ngầm ý khoe rằng đây cũng có một tấm chồng như ai. Nếu ly dị chồng, nói theo các bà lắm điều – con đó chồng bỏ, nếu nói theo ngôn từ của các anh văn hoa bóng bẩy, “em ấy đã có một đời chồng, giờ vẫn còn son”. Ly dị chồng, bao nhiêu phiền phức xảy ra, nhà cửa, con cái, rồi còn những mối quan hệ xã hội phải đối mặt, có chồng dù sao vẫn được mọi người nhìn với một cặp mắt khác hơn … Tiếp tục đọc
CÓ MỘT CHIỀU THÁNG NĂM
“Thầy còn nhớ con không…?”
Tôi giật mình nhận ra
người đàn ông áo quần nhếch nhác
Người đàn ông gầy gò
ngồi sau tủ thuốc ven đường.
“Thầy còn nhớ con không…?”
Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng.
Hoa phượng tháng năm rơi đầy vỉa hè
Rụng xuống trên vai người thầy học cũ.
“Không… xin lỗi… ông lầm… tôi chưa từng dạy học
Xin thối lại ông tiền thuốc… cám ơn…”
Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn
Thầy học cũ mười năm không lầm được
Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc
Giấu mình trong hoa phượng rụng buồn tênh.
Còn biết nói gì hơn
Đứa học trò tôn sư
Người thầy cũ lại chối từ kỷ niệm
Chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng
Biết yêu anh em – đất nước – xóm giềng
Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão
Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.
Và hôm nay…
Bên hè phố im lìm
Vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt
Câu phủ nhận phải vì manh áo rách
Trước đứa học trò quần áo bảnh bao?
Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào
Những đứa trẻ tan trường đuổi nhau trên phố
Mười năm nữa đứa nào trong số đó
Sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?
ĐỖ TRUNG QUÂN
THÁNG MƯỜI HAI SAO CÒN GIÓ MƯA?
tay thẩn thờ khép vời cúc áo
tháng mười hai sao còn gió mưa
không biết ai có về lối cũ
tìm dấu ai giờ đã phai chưa
sao mùa đông Sài Gòn đầy nắng
ta muốn người gửi chút Cali
ta muốn mây bay về thầm lặng
vì gió mưa hôm ấy người đi
biệt ly nào không sầu vời vợi
chia phôi nào nghiêng cánh đường bay
lạc trong ta mắt ai mê muội
lịm trong ta tay với bàn tay
trăm năm sau có khi hóa kiếp
kéo tháng ngày xích lại gần hơn
kéo xích lại chỗ ngồi đã vắng
tháng mười hai sao còn gió mưa?
ÂU THỊ PHỤC AN
RU EM HOÀI BÉ DẠI*
Huyền Chiêu
À ơi !
Thương nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
Từ thuở nằm nôi, tôi đã nghe bà tôi hát câu hát ấy. Lớn hơn một chút, được nằm chung võng với bà, tôi vẫn chờ nghe bà hát như thế, không bao giờ chán. Và trong trí tưởng đầu đời của tôi luôn có hình ảnh một ai đó đang loay hoay cầm dao bổ trái cau thương ghét ra làm ba, làm sáu làm mười….Rồi tôi lại ngủ thiếp đi trong tiếng à ơi…
“Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.”
Bậu là ai mà ác quá chừng ? Tiếng ru của bà tôi sao mà thê thiết. Tôi đã bắt đầu biết thương bà tôi và ghét bậu. Gặp bậu thế nào tôi cũng sẽ cho bậu ăn một miếng cau bé xíu. Nhưng mặc cho bao nỗi buồn đau, bao điều thương ghét tôi vẫn vô tư ngủ ngon lành bên cánh võng đong đưa, trong vòng tay ấm áp và thơm nồng mùi trầu cay của bà tôi, yên trí rằng bà tôi sẽ dành hết phần “dữ” trong cuộc đời này về phần mình.
Rồi tôi lớn lên không còn bà bên cạnh. Mỗi lần nhớ bà, tôi hát một mình:
“Một mai ai chớ bỏ ai,
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim.”
Muốn có một cây kim để may cho được chiếc áo hạnh phúc thật khổ công và có thể là vô vọng. Nhưng bà tôi đã suốt bao năm tháng dặn dò như thế nên tôi vẫn tin đó là điều có thật.
Những đứa trẻ rồi sẽ ra sao nếu chúng không được ngủ ngon trong tiếng ru hời?
Tôi thích bài hát ru mà các bà vú da đen vẫn hay hát bên vành nôi của các cô cậu chủ bé con da trắng ở miền Nam nước Mỹ, thời xứ ấy còn là lãnh địa bông vải.
It’s Summertime
and the living is easy.
Fish are jumping
and the cotton is high
Oh! Your dad is rich
and your mom is good looking
So hush! little baby
Don’t you cry.
Bé ngoan bé ngủ đi nào
Có con cá lội bên ao nhà mình
Bông vải đang lên giá nhanh
Cha thì giàu có, mẹ xinh đẹp hoài
à ơi…bé ngủ đi thôi
đừng khóc nữa nhé, ngoài trời nắng lên..(**)
Khác với bà tôi. Bà vú ấy là người nô lệ và cuộc sống không dễ dàng. Nhưng bà đã nén lòng,không hát lên khúc hát thương đau của thân phận. Bà yêu đứa bé thật lòng. Bà hiểu rằng bên vành nôi một đứa trẻ luôn cần có lời thủ thỉ về một cuộc sống đẹp tươi.
Khi một lời ru cất lên, luôn có một trái tim yêu thương nở hoa thơm ngát.
Khi trẻ em không được lớn lên trong tiếng hát ru mà phải sống bơ vơ, ngơ ngác trong nhà trẻ thì thế giới này lạnh lẽo và buồn bã xiết bao.
HUYỀN CHIÊU
(*) lời nhạc TCS
(**) người viết dịch
LÃNG MẠN TÌNH XƯA
Qua đồi nhớ gió
Thấp thoáng má đào
Bềnh bồng hương tóc
Thả hồn chiêm bao
Mắt xưa đa cảm
Líu ríu tình hồng
Thương sao vạt cỏ
Thì thầm dưới chân
Chiều tương tư nắng
Lạc tiếng vĩ cầm
Chỗ ngồi bỏ trống
Thẫn thờ dư âm
Bóng sương côi cút
Thở lạnh hiên chờ
Thèm tay em nắm
Cho đời trú mưa
Đầy vai lá xước
Ngỡ dấu răng tình
Nỗi đau chết đuối
Trên bờ phù sinh
Trở lại đường xưa
Tìm mây cuối phố
Lãng mạn tình xa
Gọi thiên thu nhớ
TRẦN VĂN NGHĨA
Phan Rang
NHỚ MẸ MÙA BÃO
Thương kính ba mẹ
Tây Sơn _ Bình Định
Thương nhớ Miền Trung lũ lại dâng
Mùa đông đang tới bão xoay vần
Sài Gòn đất khách con rơi lệ
Bình Định quê nhà mẹ tủi thân
Bờ tre xơ xác tình dâu bể
Luống cải ngậm ngùi nghĩa hiếu nhân
Chạnh lòng nhìn gió mưa ray rứt
Tơi tả cụm hồng rụng trước sân!
NGUYỄN NGỌC THƠ
HẬU Ỷ THIÊN ĐỒ LONG KÝ
Phạm Hoài Nhân
1.
Từ ngày rời bỏ Minh giáo, xa lìa chốn giang hồ, Trương Vô Kỵ sống yên ấm bên người đẹp Triệu Mẫn. Giữ lời hứa năm nào, ngày ngày chàng làm nhiệm vụ kẽ lông mày cho nàng. Cuộc sống thật bình an và hạnh phúc.
Thế nhưng kẽ lông mày cho người đẹp riết cũng chán ngấy. Bữa nọ, Vô Kỵ chán như con gián, ngồi rờ râu ngẫm nghĩ, bổng một dị nhân xuất hiện. Dị nhân này trao cho chàng một bí kíp, gói kỹ trong lớp giấy dầu rồi biến mất, không để lại tính danh.
Vô Kỵ nhớ năm xưa dưới hang sâu, tình cờ tìm được trong bụng con vượn già cũng một quyển bí kíp gói trong giấy dầu như vậy mà luyện thành Cửu dương chân kinh, giúp chàng lừng danh chốn võ lâm. Bồi hồi nhớ chuyện ngày xưa, Vô Kỵ thầm nghĩ: Đây có lẽ lại là một môn võ công đệ nhất thiên hạ nữa chăng?
Mở lớp giấy ra, Vô Kỵ đọc thấy dòng chữ trên trang bìa quyển bí kíp: Blogger chân kinh – Cách tạo blog.
Vô cùng hào hứng, Vô Kỵ ngày đêm miệt mài luyện môn võ công này…
2.
Càng luyện tập, Trương Vô Kỵ càng say sưa với môn võ công bờ-lốc. Chàng đã biết tạo các entry cho mình, treo lên blog. Chàng invite nhiều bằng hữu đến viếng thăm ngôi nhà bờ-lốc của mình. Rồi mỗi ngày, mỗi giờ, chàng miệt mài viếng thăm các blog của bằng hữu, chăm chỉ đọc từng entry, rồi còm-men vào mỗi nơi một chút. Thế nhưng điều sung sướng nhất đối với Vô Kỵ là được bạn bè viếng thăm blog của mình, để lại những còm-men rất ư sảng khoái. Mỗi lần đọc được lời còm-men đắc ý, Vô Kỵ lại vỗ đùi cười lên ha hả!
Vô Kỵ rất hoan hỉ khi nhìn thấy pê-viêu (Page Views) của mình tăng lên, nó chứng tỏ bạn bè viếng thăm blog của chàng ngày càng nhiều. Đôi khi pê-viêu tăng chậm, chàng mặt mày ủ dột, thấy như mình bị bỏ rơi. Vô Kỵ bèn nghĩ ra cách câu pê-viêu, chàng treo lên blog những én-tri hấp dẫn như: Luyện Cửu dương chân kinh như thế nào? Chuyện chưa ai biết trên Băng hỏa đảo…
Cứ thế, Vô Kỵ ngày càng ghiền blog. Chàng treo hẳn lên phòng của mình một câu thư pháp như sau: Hảo hớn một ngày không blốc-ghinh, soi gương thấy mặt mũi gớm ghiếc!
(Nàng Triệu Mẫn đã viết tiếp ngay dưới đó một câu như sau: Hảo hớn lúc nào cũng blốc-ghinh, soi gương thấy mặt mũi như thằng ngố!)
3.
Tình cũ không rủ cũng tới. Trong số bạn blog của Trương Vô Kỵ có nàng Chu Chỉ Nhược, tức Cô gái Đồ Long. Khỏi phải nói là Vô Kỵ thường xuyên đọc blog của nàng.
Ngày nọ, vô tình Vô Kỵ bị cuốn theo một dòng entry của Chu Chỉ Nhược. Nàng post lên entry miệt thị một công nương danh giá chốn kinh thành. Thế rồi cõi giang hồ blog ồn ào lên, các còm-men, các én-tri bay như bươm bướm. Kẻ bênh vực, người phê phán loạn cả.
Mới đầu, Vô Kỵ cũng góp vui bằng cách còm-men mấy câu (gọi là góp vui, vì thật ra Vô Kỵ chẳng rành gì về vụ này, chàng chỉ còm-men để vui lòng Chu Chỉ Nhược), nhưng bất ngờ có kẻ đọc được còm-men của chàng, bèn post lên còm-men khác, chửi chàng như cờ-hó! (Cờ-hó nghĩa là gì, cho đến giờ Vô Kỵ cũng chưa hiểu, chàng chỉ chép lại nguyên văn như vậy thôi).
Vô Kỵ càng đọc càng thấy ép tim, tức ngực, cảm giác giống như trúng phải Huyền Minh thần chưởng của Huyền Minh nhị lão năm nào. Chàng oẹ ra mấy ngụm máu tươi, lảo đảo rời khỏi các trang blog đó.
4.
Vẫn ghiền blog, Vô Kỵ lò dò sang các blog khác. Chàng thấy có blogger nào đó post lên entry của mình một đoạn video clip, khuyến khích mọi người xem. Vốn tính quảng giao, thân thiện, chàng hăng hái click vào để xem cho tỏ lòng hiếu khách.
Vừa xem xong, Vô Kỵ thấy bủn rủn cả tay chân, đầu váng mắt hoa, y chang như trúng phải độc dược “Thập hương nhuyễn cân tán” của Triệu Mẫn ngày nào. Chắc các bạn còn nhớ, loại tà độc này một khi phát tác, lập tức gân cốt toàn thân yếu ớt, nội lực không thể phát huy.
Vậy Vô Kỵ vừa xem thấy cái gì? Thấy cái mà ai cũng có thể thấy nhưng không thể nói ra, chẳng qua chỉ là cảnh sinh hoạt gia đình của một tiểu thư khuê các mà thôi. Nhưng càng đọc các en-tri, còm-men bình phẩm, bênh vực, chê bai (có cả những lời khả ố) Vô Kỵ càng thấy u u mê mê, chẳng còn biết đâu là lối đi nữa. Người ta thấy chàng lơ mơ như một thằng khùng, miệng lẩm bẩm những câu vô nghĩa: Có lỗi mà không có tội? Có tội mà không có lỗi?
5.
Lại nói sang chuyện Chu Nguyên Chương, một giáo đồ trong Minh giáo của Trương Vô Kỵ. Lúc này Chu Nguyên Chương đã lên ngôi vua, lấy hiệu là Minh Thái Tổ. Quần hào và bá tánh trong thiên hạ người phục, kẻ không phục, thế là lại dấy lên một làn sóng tranh luận trong cõi blog.
Vô Kỵ lò dò đọc trong blog thì thấy có những blogger cho rằng Minh giáo suy cho cùng cũng là Ma giáo như giang hồ trước đây vẫn gọi, cũng có những blogger ca ngợi Chu Nguyên Chương có công đánh đuổi quân Mông Cổ giành lại đất nước. Thế rồi chửi nhau ì-xèo, chửi đến mức cuối cùng cũng không ai biết mình đang chửi cái gì nữa. Thậm chí có những blogger chẳng ai biết là ai, chẳng biết là đang ủng hộ cái gì, vì lúc thì nói thế này, lúc thì kêu thế nọ, tựu trung là chỉ chửi cho… sướng miệng!
Vô Kỵ quá hoang mang, không biết còm-men như thế nào, post lên én-tri ra làm sao để đừng bị ai chửi rủa, bởi vì ngay chính Chu Nguyên Chương là một đồng đạo của chàng trong Minh giáo thuở nào chàng cũng không biết là nên khen hay nên chê!
Chàng ngỡ đâu càng luyện blogger chân kinh thì càng hiểu blog, ngờ đâu càng luyện càng thấy rối tinh lên, chẳng hiểu cõi blog này là cái quái gì mà huyền vi đến thế.
Vô Kỵ quyết định quay về núi Võ Đang, tìm gặp thái sư phụ Trương Tam Phong để hỏi cho ra lẽ xem cõi blog là gì mà u u minh minh vậy.
6.
Tại núi Võ Đang, sau khi nghe Vô Kỵ kể lể sự tình, Trương Tam Phong điềm đạm giải thích:
Cõi blog như cõi giang hồ của chúng ta. Nó tự phát, nằm ngoài tầm kiểm soát của triều đình.
Trong giang hồ cũng có đủ hạng người, đủ bang hội, môn phái. Có môn phái đức cao vọng trọng như Thiếu Lâm, Võ Đang… cũng có bang ăn mày như Cái bang, lại có những bang hội chuyên môn cướp bóc… thì cõi blog cũng thế.
Trong giang hồ có bậc hào kiệt, có gã lãng tử, có tay bá đạo, có kẻ đa tình… thì blogger cũng vậy.
Ngoài chính quyền, nhưng giang hồ có luật riêng của nó, đó là… luật giang hồ! Không phải muốn làm gì thì làm, nếu không sẽ bị chính giang hồ đào thải.
Có những người thân chốn giang hồ, nhưng dốc lòng phụng sự quốc gia, cũng có những người thân làm triều chính, nhưng giao du với nghĩa hiệp giang hồ.
Vô Kỵ cúi đầu nghe dạy, Trương Tam Phong bỗng nói thêm:
Này con, cõi blog bao la lắm, vấn đề là con phải biết đọc và hiểu những điều sáng suốt. Đọc gì, viết gì trên blog là cả một tuyệt kỹ võ công con ạ. Ta tặng bí kíp này, con hãy về xem đi nhé.
Trương Tam Phong ban cho Trương Vô Kỵ một bí kíp chỉ lớn bằng đầu ngón tay. Vô Kỵ cung kính nhận lấy và quay về.
7.
Vô Kỵ mở bí kíp của sư phụ ra để xem. Trong đó chỉ có duy nhất một dòng chữ là địa chỉ web của một blogger có nick là Ức Trai.
Chàng vội vã vào blog của Ức Trai để xem, đọc ngay được một entry có tựa là Bình Ngô Đại Cáo, trong đó có những dòng như sau:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo
Đọc xong, Trương Vô Kỵ ngửa mặt lên trời, kêu lên:
Đội ơn thái sư phụ, con đã hiểu rồi. Cõi blog thật vi diệu!
PHẠM HOÀI NHÂN
ĐÊM RA BIỂN
Đêm ra biển, đêm dậy đàn. Đêm tuyệt mộ
Đêm lạy Trời lạy Phật lạy Ba Ngôi
Đêm lên thiên đàng hay địa ngục, đêm ơi
Đêm chới với lằn ranh miền sống chết.
Đêm rất lặng mà đêm tru thảm thiết
Đêm hiền từ mà đêm nổ lòng ghe
Đêm sóng gào mà đêm lại nín khe
Đêm gió dữ mà bình an nhắm mắt.
Đêm nước mặn mà ngọt ngào nỗi chết
Đêm quá dài mà ngắn chớp tử sinh
Đêm ơi đêm, một cõi u minh
Đêm bật khóc nhìn chúng tôi tự sát…
TRẦN HOÀI THƯ
THƯA RẰNG SẮT SON
Hỏi trời con mắt tinh sương
Cho tôi trong trẻo soi gương cuộc đời
Mốt mai dẫu chẳng nụ cười
Ngậm trong hạt lệ vẫn lời vui chia
Hỏi trời con mắt pha lê
Cho reo vui bước em về với anh
Thời gian con đường rất xanh
Cậy trời ngày ngọt đêm lành tóc tơ
Từ đây con mắt bài thơ
Bảo tôi thôi nhé đừng ngờ nghìn năm
Nữa mai đời có xa xăm
Ơn trời vẫn bóng trăng rằm thề non
Hỏi trời con mắt nào còn
nhìn nhau
Thì vẫn sắt son thưa rằng…
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Paramecvari 2
Lưu Thy
NHÂN VẬT:
Chế Ông: Tuổi tác không cách nào biết được chính xác. Có thể U100, U200 hay U500. Gương mặt hơi xương xương, nước da ngâm đen, cặp mắt sáng quắt. Cặp lông mày rậm, râu tóc dài cũng bạc phơ trắng xoá. Trên người bận một bộ y phục hơi khác thường rộng thùng thình, màu xám tro có viền hoa văn sặc sỡ. Chân mang đôi dép màu cam mũi nhọn uốn cong, tay mang vòng đeo tay màu đen bóng và đeo sợi dây chuyền dài với 108 hạt 108 màu 108 hình dạng khác nhau thòng tới bụng. Đầu để trần, không đội mũ, không quấn khăn, và nhất là không được mang mắt kính, dù là lão hay đen.
Nhà Thơ: U50, dong dỏng cao, gầy và đeo kính trắng. Nhà Thơ đúng là Nhà Thơ của màn 1. Nhà Thơ tóc vẫn bồng bềnh và cặp kính cận vẫn phải đeo, nhưng mắt hình như đã bớt mơ màng. Nhà Thơ giờ không còn sốc nổi. Nhà Thơ yêu đời. Nhà Thơ lạc quan. Nhà Thơ giờ mới đúng là nhà thơ. Cái gì làm cho Nhà Thơ thay đổi? Người nào tạo nên điều kỳ diệu này? Nàng Thơ hay Cô Hàng Cà Phê bên màn 1? Chỉ có Nhà Thơ là biết! Cứ hỏi Nhà Thơ, nếu Nhà Thơ chịu trả lời.
***
MÀN 2 :
Thời gian : Trưa, đúng ngọ, đầu tháng 11 mùa mưa nhưng bầu trời trong xanh và nắng chói chang.
Không gian: Giữa sân khấu là một cái tháp Chàm ở trên một ngọn đồi cao. Tháp đang trong thời kỳ tu bổ. Giàn giáo dựng sát bên phải tháp, phía trên che tấm vải bạc màu xanh lá cây rách vài ba chỗ. Phía trái tháp bên dưới là đống cát sỏi và dăm ba thanh gỗ vụn, hai ba bao xi măng và đồ nghề xây dựng nằm lăng lóc chung quanh. Cỏ lởm chởm, hai ba cục đá lớn và rác rưới rải rác khắp nơi Tiếp tục đọc



