DẠ KHÚC XÁM

tonnuthudung1.
Lá thư nằm hờ hững trên bàn làm việc nhiều ngày cho tới khi tôi mở ra. Tôi hơi ngạc nhiên chứ không bận tâm gì cho lắm từ những lá thư vô thưởng vô phạt thường nhận được hằng ngày . Nhưng nhạc Vivaldi buổi sáng hôm nay đã làm cho mọi bực dọc đều trở nên mềm mại dễ thương… Tôi không định trả lời, tôi không muốn có một mối tương quan hệ lụy nào nữa với chung quanh… Nhưng chắc Hắn sẽ buồn vì chờ đợi một hồi âm biền biệt … Không có sự thất vọng nào làm vui vẻ cả . Hắn buồn ??? Ồ , tôi có chủ quan lắm không ??? Biết đâu Hắn chỉ chửi thề um lên rồi quên đi mọi chuyện ???… Nhưng nhạc Vivaldi đã làm tôi trở nên tử tế như một thiên thần và dịu dàng như một tình nhân …
Dịu dàng như một tình nhân … Câu này làm tôi nhớ Thụy , rất nhớ. Những lần chúng tôi cãi nhau , Thụy hay bực dọc :Tại sao em không bao giờ có thể dịu dàng như một tình nhân được nhỉ ?Và tôi luôn cáu kỉnh : Nếu muốn em vẫn có thể… nhưng như thế anh sẽ lẫn lộn em với vài người khác !
Tôi không nhớ Thụy nữa . Tôi đang nói tới gã họa sĩ.
Thành phố này , mùa thu , mưa lá vàng trên các con đường vắng…mỗi buổi trưa , tôi áo trắng , choàng khăn nỉ đỏ lang thang băng qua phòng vẽ của Hắn để đến ngồi ở góc cuối hàng hiên của quán cà phê Starbucks, tôi yêu chỗ ngồi quen thuộc này dưới tàng phượng tím…Từng cơn gió cuốn những chiếc lá li ti rơi lao xao thật đẹp…và mây… khi ngước lên , mắt tôi chạm tới những tảng mây cuồn cuộn rủ nhau về tận cuối trời .
Phòng làm việc của tôi đối diện với phòng vẽ của Hắn , có lần bực bội vì không tìm ra một từ chính xác để dịch cho thoát các ẩn ngữ trong các thứ gọi là Siêu Hình Tình Yêu Siêu Hình Sự Chết của Schaupenhouer, tôi ném bút và băng qua đường lơ đãng nhìn bâng quơ mấy bức tranh qua lớp cửa kính , gã họa sĩ trẻ rất ngầu với mái tóc ánh bạch kim và bộ râu điệu đàng kiểu Clark Gable đã mở cửa và gọi tôi :
– Nhỏ , vào hẵn đây mà xem .
Tôi đã thầm rủa gã hơi khùng … Nhưng tôi không giận với lầm lẫn ấy vì dân bản xứ thường không phân biệt được tuổi tác của dân Châu Á…nhất là dân Châu Á nhỏ con mà điệu đàng như tôi.
Nhưng Hắn dễ thương lắm. Khi biết tôi làm việc ở tờ báo bên kia đường ,tôi đang phụ trách phần dịch thuật…tôi đang dần bị nhiễm độc bởi thứ gọi là Chết là gì nếu không phải là nghỉ sống ? Yêu là khởi đầu cuộc sống… Mới khởi đầu thôi thì làm gì có chuyện sống mệt nhoài cần phải nghỉ ngơi … ???
Hắn chăm chú nghe tôi nói bằng cái vẻ hoài nghi đầy lễ độ và lập tức thay đổi danh xưng :
– Tôi chỉ thích H.Hesse, bà có nghe câu này chưa : Dù bị đau đớn khổ sở quằn quại , tôi vẫn thiết tha yêu thương trần gian điên dại này …
Tôi cười , tôi ít khi muốn bày tỏ chính kiến của mình với người lạ, nhưng Hắn đã rất ngây thơ mở ra cho tôi thấy hết mọi ngóc ngách của tâm hồn. Tôi không muốn nói với hắn rằng : Đó chỉ là một yêu thương mù quáng… nếu tôi bị khổ sở đau đớn quằn quại , tôi sẽ bằng mọi cách thoát khỏi nó ngay lập tức… Nhưng như đã nói tôi không hề thích bày tỏ chính kiến với người lạ nên tôi chỉ hờ hững trả lời cũng bằng cái vẻ hoài nghi lễ độ như Hắn vậy :
– Thế sao , thế sao !!!
2.
Sau lá thư là một bức tranh : Một con ngựa trắng , chạy điên cuồng trong sa mạc , giữa màn đêm , trên lưng chỉ chở duy nhất một đóa hồng … Tôi đến phòng vẽ để tỏ lòng ngưỡng mộ và cảm ơn. Tôi nói :
-Tôi rất cảm động về món quà sinh nhật này , tôi thấy đẹp và rất thích dù chẳng hiểu gì về hội họa
Hắn nhún vai :
– Thích là đủ rồi , công việc bà ra sao ?
– Mang lại đôi chút tăm tiếng và tai tiếng
– Bà đang viết gì vậy ? nếu đó không phải là điều bí mật ?
– Dịch Siddharthar.
– Trời , đó là một trạng thái mệt mõi, trầm uất , hãy coi chừng …
Ngần ngừ một chút , Hắn nói thêm cho rõ nghĩa :
– Thật điên dại khi đem tâm cảm mình nhận chìm vào tâm cảm một người xa lạ , dù điều đó đem lại những checks lương !!!
– Bởi vậy tôi mới cần phải nghỉ ngơi .
– Bằng cách nào đây ??? Một cuộc du lịch ? Một giấc ngủ ? Một chai rượu manh ? Hay một người tình ???
Một lần nữa tôi lại nhận định Hắn rất thông minh nhưng có lẽ cũng khùng khùng, thật tội , Hắn còn trẻ quá và cũng khá đẹp trai.
– Ồ không , tôi chỉ muốn một bức tranh để khi nhìn vào tôi thấy quá khứ mình hiển hiện…Soi bóng mình tôi thấy trái tim đau vậy đó thôi mà !
– Bà chọn đi , tôi có hơn 200 bức , tôi sẽ biếu không lấy tiền. Bức tranh này lão thị trưởng rất thích và đòi mua, nhưng lão là một trọc phú ngu đần không xứng ngắm tranh tôi.Bà có thích ?
– Không , tôi không thích tranh tĩnh vật , dù đó là TĨNH VẬT BUỒN
-Hay bức này , chân dung người tôi yêu CHARLES BRONSON của NGƯỜI LỮ HÀNH TRONG MƯA kỷ niệm. Chắc bà cũng có một thời như vậy !
Tôi bật cười vì tính hài hước của Hắn :
-Không , tôi chỉ yêu OMAR SHARIF.
– Vậy tôi sẽ vẽ hắn cho bà, thật tuyệt vọng trong vai DOCTOR ZHIVAGO nhìn theo chiếc xe ngựa đưa LARA về xa khuất nghìn trùng ???
– Không .
-Bà quả là một khách hàng khó tính. Tôi muốn hút một điếu thuốc , được chứ ?
-Tự nhiên đi !
Điếu thuốc làm hắn trở nên thông minh hơn :
-Này bà , hay thế này…bà viết đi , về điều bà muốn…Sau đó , tôi sẽ cố mà vẽ cho hợp . OK ?
3.
Cuối cùng , tôi viết DẠ KHÚC XÁM và khá tin tưởng vào tài năng của Hắn để biến ký ức tôi thành một bức tranh.
Sau một tháng đi du lịch trở về , tôi đến phòng vẽ, tôi bàng hoàng khi phòng vẽ không còn nữa …Người bảo vệ khu nhà đã đưa tôi những bức phác thảo dở dang kèm theo lá thư chẳng có một chữ nào ngoài hàng địa chỉ của một bệnh viện tâm thần ở LOS.
Gã Họa Sĩ đâu rồi với DẠ KHÚC XÁM của tôi ?

Tôn Nữ Thu Dung

KHÔNG MÀU

luuthy

Màu sắc là gì? Do đâu mà có?
Em hỏi chi mà khó! Anh biết trả lời sao!
Anh chỉ thấy bầu trời xanh, cụm mây trắng, con đường đất đỏ thuở nào…
mơ về những đám mây xa mà sợ hãi lo âu không biết lúc nào bầu trời đen xám xịt sẽ ạt ào  ập đến.

Anh nhớ những đêm đen với… mặt trời ửng đỏ
bóng hoàng hôn,
bên bếp lửa hồng,
nồi cơm dang dở,
tô canh đậm chất rau xanh.

Anh nhớ bộ đồng phục trắng,
bài luận văn chi chít những chữ xanh
và hai con dê-rô đỏ chói của một thời học sinh tinh nghịch.

Anh nhớ mặt biển xanh đen,
bóng đèn vàng le lói tít chân trời
và những tảng bê tông xám xịt chen chúc dọc ngang.

Màu sắc là gì? Do đâu mà có?
Câu em hỏi làm anh nhớ,
anh thấy, anh tưởng đã quên.
Trong mắt, trong tim, trong tận cùng tâm thức.
Màu sắc mọi nơi, mọi chốn, mọi ngỏ ngách của cuộc đời.
Khi u buồn,khi tươi rói, khi hừng hực, khi tái tê.

Ô hay! Lẩm cẩm!
Màu nào lại buồn?
Màu nào lại vui?
Màu là màu!
Sắc là sắc!
“Sắc chẳng khác gì không”
“Không chẳng khác gì sắc”
“Sắc tức là không”
“Không tức là sắc”
(Câu này không phải của anh!
Đừng mang đi rêu rao!
Làm anh xấu hổ!)

LƯU THY NGUYỄN

BẮN EM VỀ PHÍA NGHÌN TRÙNG

nguyendangtrinh

chợt không còn sức để buồn
chiều đưa em về Quảng Ngãi
cái nắm tay thôi cũng ngại
nói gì đến một nụ hôn…

từ ngày tôi em sông suối
biển rừng thả vó rong chơi
cuộc tình quanh năm mới rợi
bốn mùa tôi chẳng cần phơi…

sài gòn tháng giêng không mưa
mà sao lạnh đầy phố xá
đã say đâu mà muốn ngã
ngây ngây người mắc phải bùa…

đoàn tàu tối nay dễ ghét
không thơ như sáng em vào
tiếng còi cứ như tiếng thét
lạnh lùng lia một nhát dao!

còn tôi buộc làm xạ thủ
nát lòng khi phải giương cung
mím môi thi hành phận sự
bắn em về phía nghìn trùng…

nguyễn đăng trình

ĐỜI QUÁ PHÙ DU

nguyentri

Ba Nghinh.
Nghe cái tên thôi đã thấy buồn cười. Mà cũng đừng nói buồn cười hay buồn không cười nổi về vụ tên người ở cái xứ này. Tên thường gọi nghe chói tai không chịu được. Trong khai sanh người ta cũng Mộng Hường, Diễm Thúy, Mạnh Bảo, Hoàng Huy hẳn hoi. Vậy mà, nghe tên con của Ba Nghinh nè, hai đứa con gái đầu là Hai Lụm, Ba Mót. Hai thằng trai kề là Bốn Nghĩnh, Năm Ngãng. Ở đó mà nghĩnh ngãng, nó khôn trời thần đất lỡ luôn… Hai đứa út, áp út gọi Sáu Thôi và Út Nhen.
Cái vụ thôi, nhen nầy là tự hiểu à. Nghèo, đẻ cho cố rồi túng thiếu là phải quá. Xì tốp vậy là quá trễ. Không thấy thiên hạ sao? Một hoặc hai là đã mướt mồ hôi. Người ta giàu gần nứt đố đổ vách còn hạn chế tối đa vụ sanh đẻ, Ba Nghinh thì đúng là nghèo mà ham vui.
Cũng thông cảm dùm. Thuở Ba Nghinh trẻ là cái thuở xứ ta còn lạc hậu lắm. Ba cái kế hoạch sinh đẻ tuyên truyền chiếu lệ cho có phong trào. Dân chưa kịp hiểu cán bộ đã thông qua, còn thêm chuyện đồn miệng là thằng đó mát mát là do thắt cái ống chi chi đó, còn vợ thằng kia phải đi viện vì đặt vòng gây phản ứng phụ… Vậy là thôi, mặc kệ em. Con em đẻ em nuôi chẳng cầu ai nuôi giúp.
Phải toát cả máu chớ hổng phải toát mồ hôi, vợ chồng mới dìu bầy trẻ qua nổi cái ải cơm áo gạo tiền. Học hành hả? Có nghe câu giặc đói giặc dốt và giặc xâm lăng không? Vậy thì qua cái đói là hết thời đi học. Bầy trẻ phải đêm đêm đi lớp xóa mù. May quá, cũng biết đọc biết viết, cộng trừ nhân chia, đi làm thuê không đến nổi bị người ta ăn gian.
Nhà ba Nghinh nghèo như tám phần mười dân ấp Một, vậy nên dễ gần gũi nhau. Lúc tối lửa tắt đèn không gì bằng dân nghèo. Hôm nay bữa cơm có món gì hàng xóm còn biết huống chi tài sản. Ba Nghinh có hai sào ruộng, đất cất nhà ba trăm vuông chẵn.
Sáu đứa con hai vợ chồng túm tụm trong một căn bảy mươi mét vuông mái lá dừa, cột, đòn tay, kèo xiên gì gì cũng bạch đàn tất. Vì vườn toàn loại cây nầy. Từ ngày rừng đi vân du không hẹn ngày trở lại, chỉ còn bạch đàn là cực kỳ hữu dụng cho tám phần mười dân ấp Một.
Đất đai vậy rồi con cái lớn lên tính sao cho công bình đây? Thời nào cũng vậy, trai gái gì cũng phải đồng đều. Để anh chị em trong nhà mích lòng không nhìn nhau là nhục lắm chớ chẳng chơi. May quá. Hai Lụm lấy chồng tuy rớt mồng tơi thiệt nhưng dù sao cũng có đất để mồng tơi có chổ mà rớt. Ba Mót cũng y khuôn. Bốn Nghĩnh lấy vợ trước. Cha nói với con:
– Hai vợ chồng mày ra riêng cho tự do. Tao cho làm rẻ một sào ruộng, tới mùa đong lúa để tao nuôi em mày. Chừng nào tao chết rồi tính tiếp.
Tới phiên Năm Ngãng lấy vợ cũng bổn cũ soạn lại. Thiên hạ hiểu Ba Nghinh ngầm chia ruộng cho hai thằng trai, đất làm nhà mỗi thằng trăm mét. Cha nói với hai đứa áp và út:
– Vậy đi. Tới vụ nó đong lúa cho cha con mình, khỏi gặt đập chi cho mệt.
Không còn ruộng để làm, tới mùa được ba hột lúa, tuy chật vật một chút, nhưng nghèo quen rồi, kiểu nào cũng chịu được. Hai đứa gái út cấy hái thuê cũng giúp cha mẹ qua thì túng bấn. Dân mình cứ dựa vô câu cái dòng con gái ngoại tông mà xử kể cũng tội quá. Nhưng biết sao, nghèo thì nước đến đâu vuốt mặt đến đó, đúng hông?
Sáu Thôi nên gia thất chẳng có gì đáng nói. Nhưng Út Nhen lấy chồng làm Ba nghinh tức ói máu. Bà nội cha nó. Trong bốn đứa gái, Út Nhen đẹp nhứt. Cằm chẻ, môi trái tim, mũi dọc dừa, cười má lúm đồng tiền lại thêm răng khểnh duyên ơi là duyên. Bao nhiêu thằng chạy theo xin xách dép.
Nó mà ừ thằng Đại là cứ ở nhà đếm tiền. Con chưa lấy vợ mà cha của thẳng đã cho một dãy mười cái phòng trọ trong khu công nghiệp. Thằng Tư Hơn chủ lò bành mì bỏ mối cho cả nửa cõi xã nhà, mê Út Nhen đến độ xem nhà Ba Nghinh như nhà mình, tới là không muốn về.
Còn nhiều nhiều nữa các anh chàng con nhà giàu có, vậy mà con nhỏ chê ỏng chê eo. Đùng một cái, thiên hạ đồn rằng, nó đi chơi với thằng Sạch Nhách, cháu nội bà Bốn Hoa.
Ai cũng được, nhưng làm ơn dang xa cái thằng Sạch Nhách. Nghe tên cũng thấy trên răng dưới một rổ củ từ rồi. Cả cái ấp Một và ấp Hai chẳng ai không rành gia cảnh bà cháu Bốn Hoa. Chớ cha mẹ đâu mà Sạch Nhách ở với bà nội? Nghe hoàn cảnh mà goảnh càng luôn.
Bệnh viện huyện đưa má nó lên Từ Dũ cấp cứu vì bị băng huyết. Sanh thằng nhỏ ra là thảy luôn vô tủ kính thở ô-xy. Mẹ chết trẻ, được xác định là do quá thờ ơ trong khi thai nghén.
Cha nó kể hồi ăn ở với nhau, kỳ nào vợ cũng hành kinh cả nửa tháng. Thấy cũng chẳng sao, lại thêm túng bấn nên cứ cho qua. Tới khi sanh thì đã quá trễ.
Nhà có sào ruộng cha nó bán đi, không đủ cho tiền thuê xe và mua một đơn vị máu, nên má nó đành ra nghĩa địa. Sạch Nhách sống sót, được bà nội nuôi, cho bú bình.
Cha nó quá buồn, lấy rượu giải khuây. Bạn bè cũng xúm vô nâng ly an ủi. Số phận mà, biết sao giờ? Say… Say lướt khướt trở về, đi qua cầu Hưu. Thuở đó cây cầu nầy còn gát bằng mấy cây tre, có tay vịn như cầu khỉ. Tay vịn gãy, cha nó rớt xuống sông. Tuy cha nó bơi giỏi nhưng dưới sông lại có cái cọc tre đâm xuyên kẻ xấu số.
Sáng hôm sau cả thiên hạ chống xuồng ra, lôi lên. Bà nội nó khóc hết nước mắt. May còn có thằng cháu hủ hỉ. Thiên hạ thương quá, cho đủ thứ. Sạch Nhách được uống cả sữa SMA, sữa Meiji, còn sữa bò lúc nào cũng đầy cả giỏ cần xé. Bá tánh và tình thương đã cho Sạch cái dáng vạm vỡ, cao ráo, đẹp trai khi lớn. Học đến lớp chín, Sạch bỏ học đi kiếm tiền.
Mười tám tuổi, khi bà nội đã năm lăm, Sạch đâu thể cứ ăn học tiếp khi bà đã rên rẩm nhức tay mỏi chân. Nó đi phụ hồ. Thông minh và siêng sắn nên chủ thầu dìu lần cho lên thợ. Hai mươi tuổi, nó cầm bay gõ vào máng hò hơi khi Út Nhen đi ngang: Hỡi cô đi đường cái quan. Dừng chân đứng lại anh than đôi lời… Vậy mà Út Nhen lại thích mới lạ chớ.
Yêu cái khỉ mẹ gì, Ba Nghinh la lớn. Ai cũng được, nhưng thằng đó thì không? Mày không thấy dòng nó chết yểu sao? Cha nó mới hai mấy, má nó cũng vậy luôn, ông nội nó thì không quá ba mươi. Mày lấy nó rồi cạp đất mà ăn hả? Không. Ba Nghinh hét lớn.
Tiếng hét dịu lại khi thấy mồ hôi mướt trên trán bà xã. Ba Nghinh gặng vợ. Vợ thưa rằng nó lớn bụng rồi. Thấy ông bà ông vải chưa? Ở đó mà ngăn với cấm. May sao Sạch Nhách đồng ý cưới.
Bà mẹ nó. Ba Nghinh tổ chức đúng là từ A đến Z. May là anh em bà con cô bác được mời đều đủ mặt, nếu lỗ thì có mà vác bị đi ăn mày.
Vậy nên trong bốn thằng rể, ba Nghinh ghét nhất thằng rể út.
Út cũng chẳng ưa chi ông già vợ. Mấy thằng mồ côi mồ cút thiệt tình mà nói, đều khôn trời sợ. Ai nói chi nói, nó cứ tẩm ngẩm mà đấm chết voi. Nghèo thì nghèo nhưng nó thương vợ thiếu điều đội vợ lên đầu. Con vợ lớn bụng thèm ăn chi nó đều phục vụ tới bến.
Nó cũng thương bà nội không thua. Vợ với bà nội mà không thương thì thương ai nữa trong cái nhà chỉ có ba nhân mạng? Nhưng không phải vì vậy mà nó sinh nợ nần, lại nợ ngay ông già vợ. Nguyên do là bà nội Sạch Nhách bỗng dưng giật tay giật chân ngã cái rầm vào một đêm khuya khoắt kia.
Tuổi già cao huyết áp là chuyện không tránh được. Nhưng quê mùa ai biết chuyện máu cao máu thấp mà phòng bị. Ba nội té, đầu đập vô vách gỗ cao su, máu me đầm đìa, Sạch sợ quá, lấy chiếc xe 78 càng lên ga càng chạy chậm chở bà nội lên bệnh viện huyện.
Bao nhiêu tiền dành dụm tích cóp tính để lo cho vợ đổ ra cái một. Chẳng còn phương, chồng năn nỉ vợ về má xin viện trợ sau này sẽ hoàn lại. Mất đứt của Ba Nghinh hai chỉ bốn số chín bà nội Sạch mới hồi hương.
Hẹn trong hai tháng sẽ trả, nhưng lấy đâu ra mà trả. Bà nội sau tai biến đi đứng khó khăn, vợ trong kỳ thai nghén, ngửi mùi cơm sôi là ói cả mật xanh mật vàng. Làm thợ hồ tháng mưa bữa đực bữa cái. Đành nằm nhà lai rai ba sợi chớ biết làm chi.
Đúng hạn không trả nợ, ông già vợ lúc đầu còn càm ràm với người nhà, hai thằng anh nhắc nhở:
– Hai đứa bây lo trả cho ổng. Ngày nào cũng nghe ổng càm ràm bọn tao nhức đầu quá. Mà mày cũng bớt nhậu lại. Mấy đứa thấy mầy nhậu nó về méc với ổng…
– Ai mà đa sự vậy anh Tư?
– Thì mấy thằng trước theo con Nhen không được chớ ai vô nữa.
Chờ không được, Ba Nghinh đích thân gặp thằng rể. Cha vợ mà nói oan con rể còn phải chịu, huống hồ nói trúng. Nào bê tha, vợ sắp sanh mà lúc nào cũng rượu chè, nào nhà dột, nợ lút đầu mà không biết lo, rồi kết luận:
– Vậy mày tính chừng nào mới trả cho tao?
– Dạ tại mưa quá không đi làm được, ba thông cảm. Hết mưa con đi làm, trả liền.
– Sau mưa là tới bão. Mày đợi bão tan luôn hả mậy?
Thiệt tình. Thằng Sạch tiếng học tới lớp chín nhưng mồ côi cha mẹ, bà nội quý nó như cục vàng. Thế gian có câu có thể có nguời cha không thương con, nhưng không thể có người ông không thương cháu, huống chi đây là bà.
Nó chẳng biết trời cao đất thấp. Trên đời nầy nó chỉ sợ làm bà buồn. Còn vợ ư? Cũng thương dữ lắm nhưng đừng có giỡn. Thêm cái nghề đội nắng đội gió, hễ mở miệng ra là văng đủ thứ.
Hôm đó đang có rượu, nó cãi lại cha già chút chút. Ba Nghinh sẵn thành kiến từ lâu, chửi nó đồ này đồ nọ. Ba Nghinh cũng trùm rượu, bữa cơm nào không có một hai xị đưa cay. Rượu vô, đố thằng nào không văng tục, kể chi già hay trẻ.
Thấy con rể cự lại, già Nghinh nóng lên, văng tục. Bạn bè can, biểu thôi về đi Sạch Nhách, ở lại là có chuyện à. Sạch nghe lời bạn đi ra đường, sau khi “mè” một tiếng. Vậy mà Ba Nghinh bắt bẻ nầy nọ, sao mày dám đù tao. Rồi dài giọng chửi đồ thứ con không cha, đồ thứ mồ côi vô học. Con gái tao nó nhắm đui con mắt mới lấy mầy… Đồ khốn nạn, không kiếm hai chỉ vàng trả tao là không yên với tao. Có chết tao cũng về đòi. Mày ăn không ngon ngủ không yên với tao đâu…
Sạch Nhách tức tối ra về. Không dám nói to sợ bà nội nghe, thủ thỉ với vợ:
– Ba ổng khinh tui nghèo. Nói thiệt với em tui mà trả được hai chỉ vàng cho ổng, lần sau có chết tui cũng không mượn ổng. Mà ổng cũng đừng hòng nhờ được gì tui.
– Thôi mà anh, vợ nói, ba già rồi, lại có rượu nữa, anh cự ổng làm chi.
Bà nội thính tai lắm, hỏi ngay:
– Gì đó Sạch Nhách?
Cái thằng đúng là có hiếu, nó đánh trống lãng ngay. Nó cứ sợ bà buồn rồi bịnh:
– Dạ không có chi nội ơi. Vợ chồng con nói chuyện chơi thôi.
– Có gì nói với tao, không được giấu à.
– Dà…
Nửa đêm đang ngon giấc, cái di động đập đá của Sạch Nhách réo liên hồi. Ú ớ ù ờ một hồi, nó mới vực vợ dậy.
– Gì vậy anh? Vợ hỏi.
– Ba…
– Ba sao?
– Ổng mất rồi.
Cả hai vợ chồng bỗng tỉnh như sáo, nhất là chồng. Chuyện cự cãi với ông già vợ hồi chiều hiện rõ mồn một. Mắt Sạch thoáng âu lo, cả sờ sợ. Chuyện thiếu nợ ông già chưa trả, thêm cái lời nguyền còn mới rợi chưa tan.
Đầu óc Sạch nghĩ đến mấy thằng bạn. Mỗi thằng năm bảy trăm một triệu, sao cho ra hai chỉ vàng mà trả gấp. Từ đây đến lúc liệm phải có. Mẹ ơi, ổng đã nguyền thì gay rồi. Mà lũ bạn ở ấp Một này chẳng thằng nào có cái xe cho ra hồn, đâu ra tiền dư sẵn mà cho mượn?
– Giờ anh chở em về nhà, còn anh chạy mượn tiền mua vàng trả cho ba.
– Chạy ở đâu, anh?
– Không biết, nhưng phải chạy.
Vợ chồng lúi húi dắt xe ra. Bà nội hỏi đi đâu. Cháu dâu vừa khóc vừa nói ba con chết. Nghe vậy nhưng bà nội đâu có đi được. Thôi nội ở nhà, muốn đi mai con chở nội đi.
Xe chạy. Đến trước nhà đã nghe thiên hạ lao xao về vụ hai cha con cự cãi nhau lúc chiều. Bàn nào cũng nói quả báo nhỡn tiền luân hồi nghiệp chướng. Ai đó còn nói thằng Sạch Nhách lo mà trả lại cho ổng. Ổng dành dụm cả đời, thương Út Nhen lắm ổng mới đưa cho đó. Ổng hăm rồi mà không trả ổng về kéo cẳng là thấy bà luôn…
Sạch ta thả vợ xuống rồi phóng 78 đi tìm lũ bạn. Toàn bạn thân chớ đâu phải sơ. Nhưng đâu có ai dư tiền mà mượn. Mấy tay nhà gạch có tiền thì làm từ thiện để hy vọng một chỗ ở Nát Bàn, còn dân nhà lá thì có cái củ từ.
Đến sáng. Sạch về nhà. Nghe đích tôn cứ thở dài bà hỏi:
– Gì mà thở dài hả con?
Quá buồn, Sạch phải than với nội về vụ thiếu nợ. Bà hỏi:
– Mày làm gì mà thiếu nợ ổng?
Sạch nói luôn:
– Hồi nội bị tai biến, con mượn của ổng để lo thuốc. Lâu quá chưa trả, nay ổng mất…
– Sao con không nói với nội.
Nói xong, bà già lê chân về chỗ đặt lu gạo, nhấc lu ra rồi moi đất lên, lòi ra một keo chao. Bà mở nắp keo, trút ra tay hai cái khâu óng ánh vàng.
– Con đem trả cho ba đi. Tại mày không nói nên nội đâu có biết. Nội để dành phòng khi có chuyện. Nay đúng là chuyện đó con.
Sạch há hốc miệng nhìn bà. Mô Phật. Bả dành dụm từ khi nào hay vậy ta?
Mừng quýnh, Sạch phóng xe lên nhà ông già vợ. May quá, vẫn chưa đến giờ liệm.
Sạch vào thắp nhang rồi lại chỗ người chết đang nằm. Trên bụng ông có để một lưỡi dao phay. Hai bàn tay được xếp úp trên ngực.
Sạch nắm tay người chết, định ngửa ra để bỏ vàng vào lòng tay, nhưng bàn tay đã giá lạnh, cứng quèo, không duỗi được nữa.
Ai đó đưa cho Sạch cái dĩa, biểu bỏ vàng vào rồi đặt bên dưới con dao. Sạch lầm thầm, ba ơi con trả hai chỉ vàng cho ba, con có gì không phải ba bỏ qua cho, tội nghiệp con…
Cả thiên hạ ấp Một nhìn con dao và cái dĩa đựng vàng. Họ bỗng nhận ra là giờ đây chủ nhân của nó không thể xài gì được nữa. Cầm còn không xong thì làm sao xài nổi…
Và bỗng chốc, ai cũng ngộ ra câu Đời phu du có nghĩa chi, những lợi danh sẽ tan thành tro…

NGUYỄN TRÍ

NHỚ VỀ NƠI ẤY

tranvannghia

Và mãi dặn lòng cố quên thôi
Về nơi xưa ấy có em ngồi
Có chút nắng vàng rơi trên áo
Có làn gió nhẹ lẳng lơ trôi

Có lá thư xưa màu mực tím
Suốt đời lẽo đẽo cứ theo anh
Mân mê tay mở trang lưu bút
Thấy cả một trời xanh rất xanh

Có anh gửi mộng ngoài cửa lớp
Mơ tóc em dài ngan ngát hương
Trói chân bên góc sân trường cũ
Lóng ngóng tình theo chắc lạc đường?

Có tiếng cười nghe nôn nao quá
Và đôi mắt liếc khổ đời nhau
Muốn thả hồn theo vào cặp sách
Để còn vương vấn áo chiêm bao

Có bao nỗi nhớ về bên đó
Vô tình rớt lại ở sau em
Có những bài thơ còn viết dở…
Cũng đành giữ lại để rồi quên

Có tìm, nơi ấy giờ xa quá !
Mười sáu trăng xưa đã khuyết rồi
Áo em còn trắng đường mây trắng
Ngậm ngùi níu lại khói sương trôi

TRẦN VĂN NGHĨA

VỀ THĂM NHA TRANG

nguyenvi

Mỗi lần đến là một lần say sóng
Mặt trời còn lạng quạng huống chi tôi
Thành phố soi cũng phải rung rinh bóng
Hà cớ gì tôi mắc cỡ, Nha Trang ơi.

Biển muôn đời cám dỗ rủ rê tôi
Tôi lại rủ rê bạn bè về thăm biển
Chia cùng tôi nỗi hả hê bay liệng
Muốn ôm vào mình trọn vẹn Nha Trang.

Tôi lặng im, thơ thì cứ hát tràn
Không dấu nổi lòng tôi hòa cùng sóng
Những muốn tâm tình ngàn lời cháy bỏng
Với Hòn Chồng và những đảo xa kia.

Không dấu nổi lòng tôi trên bờ cát về khuya
Đếm sóng biển ôm hôn bờ rạo rực
Đếm những dấu chân xưa có thực và không thực
Dẫm ngổn ngang cát biển, cát lòng tôi.

NGUYÊN VI

XE LỬA Ở QUÊ TÔI

huyenchieu

Ngày xưa ông bà mình đi Nha Trang bằng xe gì hả mẹ?
-“đi bộ. Ông ngoại con đi ra Bình Định học cũng đi bộ. Khi qua đèo Cả, sợ cọp , phải chờ những người buôn trâu dẩn trâu qua đèo, ông đi theo. Đến thời của mẹ, muốn đi Nha Trang mẹ được đi xe ngựa. Phải mất một ngày mới đến được Nha Trang”
Như vậy, tôi đã hưởng được một nền vận tải văn minh khi tôi được đi Nha Trang bằng xe lửa.
Khác với bến xe ngựa hôi hám, bến xe đò chật hẹp , ồn ào, ga xe lửa là nơi sang trọng có cảnh quan đẹp nhất ở quê tôi.
Tôi không biết Ga xe lửa Ninh Hòa được khánh thành từ năm nào, chỉ biết các ga và tuyến đường rầy đều do người Pháp xây.
Thuở ấy xe lửa chạy bằng đầu máy hơi nước. Sợ hãi nhưng thích thú nhìn đoàn tàu tới gần với đầu máy nặng nề tỏa khói đen sì là một cảm giác khó quên của bọn trẻ nhà quê chúng tôi thời đó. Tiếng bánh xe nghiến ầm ỉ trên đường rầy , tiếng còi tàu lanh lãnh cũng thật kỳ vĩ.
Ga Ninh Hòa là một trong những nhà ga hiếm hoi còn nguyên vẹn sau chiến tranh và có cảnh quan vô cùng ấn tượng..
Ga có vị trí thoáng mát với bốn bề núi non, ruộng đồng xanh ngát.Đứng trên sân ga chúng ta có thể nhìn thấy một kiến trúc uy nghi và có dáng dấp của một ngôi nhà kiểu đền đài Hy Lạp, thực ra nó là đề pô , nơi sửa chửa đầu máy. Cái bồn nước trên cao để tiếp nước vào nồi súp de cũng thật lạ mắt và còn cả một cái lô cốt chắc là nơi ngày trước quân đội Pháp canh gát cho an ninh của ga…
Chiếc cầu dành riêng cho xe lửa bắt qua sông Dinh cũng rất quen thuộc với người dân Ninh Hòa mặc dù hình ảnh con tàu ầm ầm vượt qua cây cầu bằng sắt thật tương phản với phong cảnh êm đềm hai bên bờ sông .
Nói đến chuyện đi xe lửa , thú vị nhất là được chui qua hầm.
Tối thui, ngộp thở, kinh hoàng vì tiếng bánh xe nghiến trên đường rầy bất ngờ nghe như tiếng núi lở , nhưng cũng thật ngây ngất.
Rồi bóng tối nhạt dần báo hiệu …hết hầm. Không khí mát rượi tha hồ tràn đầy buồng phổi, ánh sáng chói chang làm lóa mắt và dù mặt mủi có thể dính đầy bụi than bọn trẻ con vẫn chờ đợi nhất được hưởng giây phút xe lửa chui qua hầm.
.
Thập niên 50 , cuộc sống không nhiều biến động và người nông dân ít có lý do di chuyển. Ga xe lửa luôn vắng vẻ với năm ba người khách mỗi lần tàu vào ga.
Cuối tuần, tàu nhiều khách hơn nhưng những vị khách ấy cũng chỉ là đám học trò đi học ở Nha Trang về thăm nhà và hầu hết là khách đi cọp!
Dầu sao truyền thống của một ngành hỏa xa văn minh cũng còn lưu dấu trên bộ đồng phục của sếp ga, của nhân viên soát vé, của người gác ghi với lá cờ hoặc chiếc đèn có mặt kính nhiều màu mà ông ta cầm lắc lư báo hiệu cho tàu ra vào ga trong đêm tối.
Từ năm 1964 hệ thống hỏa xa miền Nam ngưng hoạt động. Đường rầy ở nhiều nơi bị phá dở, xe lửa bị đặt mìn. Từ Nha Trang muốn đi Saigon phải đi bằng máy bay vì không ai dám đi xe đò qua Rừng Lá. . Từ Tuy Hòa vào Nha Trang chỉ có thể đi bằng ghe bầu.
Sau năm 1975 ngành hỏa xa được tái thiết và được gọi là Đường Sắt Việt Nam.
Không còn dáng vẻ văn minh năm nào, đường Sắt Việt Nam đã trở thành một phương tiện giao thông xô bồ chưa bao giờ có và sẽ không bao giờ lập lại.
Xe lửa đã trở thành phương tiện để người ta bấu víu vào kiếm sống .
Những năm ấy , những chiếc xe đò cũ kỷ lại càng thêm kỳ dị khi phải gắn một thiết bị phía sau để chạy bằng than. Giá tiền đi xe đò lại đắt nên người ta ùn ùn rủ nhau đi buôn bằng xe lửa.
Đường sắt trở nên quá tải và chen được một chân lên xe lửa là một kỳ công .
Đường cát trắng hồi đó biến mất và người dân quê tôi theo xe lửa ra tận La Hai để buôn loại đường vàng làm từ mật mía , cô lại thành bánh. Người đi củi cũng biến gon xe lửa thành xe chở củi. Xe lửa không dừng lâu nên ng, cứ quăng bừa các thân củi vào cửa sổ toa xe.. Rồi hàng chục bao gạo, bao bắp, bao khoai mì tiếp tục được nhồi nhét , rồi cá khô, mắm muối, đậu mè từng bao tới tấp quăng lên mặc cho những tiếng chửi rủa náo động cả toa tàu. Khi tàu chuyển bánh, hàng chục người vẫn thản nhiên chạy nhảy …trên mui xe để di chuyển từ toa này sang toa khác. Đã có mấy em bé bán nước trà đá đã rơi xuống đường rầy khi tàu chuyển bánh. Và không ít dân nghèo đã mất mạng vì không tiền mua vé phải nhảy tàu khi tàu đã tăng tốc.
Nhớ lại những ngày khốn khổ ấy mà thương cho người dân của thời hòa bình thống nhất.
Ngày nay ga Ninh Hòa không còn hổn loạn như thế nữa. Sân ga , nhà ga được tu sửa sạch sẽ hơn và đầu máy hơi nước đã được thay bằng dầu máy diesel.
Tuy nhiên khách nước ngoài đến Việt Nam rất ngạc nhiên vì hàng trăm năm rồi sao Việt Nam vẫn còn sử dụng đường ray có chiều ngang 1 mét.
Riêng tôi, tôi rất sợ một ngày nào những đường tàu cũ kỷ ấy biến mất.

Và tôi sẽ không còn được bồi hồi ngắm nhìn những đường tàu trăm năm chạy song song rồi giao nhau ở đầu sân ga như lời nhắc nhở cho con tàu rằng bạn đã về tới bến.

HUYỀN CHIÊU
Ninh Hòa
Tháng 9 2014

TRẢ

dotandat

Trả ngày trả tháng cho năm
Trả giêng cho những bữa rằm khất trăng
Trả mùi áo ngựa đường quen
Trả thân kỵ sĩ cung tên giữa chiều
Trả đời một bức phù điêu
Chìm chìm nổi nổi những điều huyễn hư
Trả thương cho ghét ậm ừ
Trả mưa cho nắng mềm nhừ cỏ cây
Trả hanh hao những vơi đầy
Trả cho em hết cuộc này một tôi…

ĐỖ TẤN ĐẠT

NGẠO MẠN

hochibuu

em đọc thơ – bảo thơ ta ngạo mạn
ừ, một chút thôi – chỉ một chút thôi
ta đấm ngực thơ tuôn ra lai láng
nhìn xa đi – thơ ướt một góc đời

là thế đó – thơ ta luôn có ớt
một chút tiêu pha trộn một chút gừng
ớt thì đẹp tiêu thơm gừng nồng ấm
nhưng ăn nhiều coi chừng nhảy cà tưng

em lại bảo thơ ta có nhiều người dị ứng
cũng đúng thôi- thơ hảo hán giang hồ
hào sảng – ngông nghênh – thẳng thừng – tưng tửng
đọc tối ngày không thấy chữ nam mô

ta xuống núi chẻ chữ thiền đứt nghiến
rẽ mây đen bước nhẹ xuống trần
không thấy gì chỉ thấy toàn lũ kiến
đang tranh giành hai hạt lợi danh

quá chán nản ta đi luồn vô núi
định lên non cao sống với thú cầm
bỗng bất chợt gặp một nàng Tôn nữ
thôi trở về làm thơ tiếp – tự ngâm…

Hồ Chí Bửu

TT NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐÃ TỪNG GIÚP GẠO CHO DÂN TỴ NẠN TÂY TẠNG TẠI ẤN ĐỘ?

trantrungdao

Vài tháng trước trên internet xuất hiện bài viết “Câu chuyện thật cảm động của đức ĐẠT LẠI LẠT MA nói về ĐỆ NHẤT VNCH” với nội dung chính: “Ngày 20.09.2013 khi người Việt tại Đức được vinh dự đón Đức Dalai Lama tại chùa Viên Giác, Ngài đã kể lại 1 câu chuyện thật cảm động. Những thập niên 50, Mao Trạch Đông xua quân vào Tây Tạng giết sư, đốt chùa và gây ra hằng hà xa số tội ác với dân tộc Tây Tạng hiền lành chịu đựng. Năm 1959 Đức Dalai Lama phải cùng dân tộc của Ngài từ bỏ quê hương lên đường tỵ nạn. TQ lúc bấy giờ như con hổ đói, họ dùng đủ mọi cách để truy lùng Ngài. Khoảng thời gian đó trên thế giới ít người biết và để ý đến tình hình xảy ra ở Tây Tạng, và cũng chẳng ai biết gì về 1 thanh niên với nụ cười thật nhân hậu đang dìu dắt dân tộc mình lánh nạn trước mũi súng bạo tàn của Mao Trạch Đông. Ấn Độ luôn có đụng độ với TQ về vấn đề biên giới, vi vậy họ không muốn làm tình hình căng thẳng thêm, nên cũng chẳng tha thiết giúp đỡ đoàn người tỵ nạn đến từ Tây Tạng. Tin tức về tình hình bi đát từ Tây Tạng chẳng được loan truyền, lại bị TQ cô lập thông tin toàn diện, nên thế giới chẳng ai biết đến mà quan tâm. Đoàn người tỵ nạn vì vậy thiếu thốn cơ cực đủ điều, tình hình lúc bấy giờ thật nghiệt ngã.

May thay ở vùng Đông Nam Á có 1 vị Tổng Thống cũng nhân đạo không kém. Ông từng biết thế nào là tỵ nạn CS, vì chính ông cũng đã mở rộng vòng tay đón tiếp và giúp đỡ hằng triệu đồng bào của ông chạy nạn CS từ Bắc vào Nam… Đó là cố TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng. Một miếng khi đói bằng một gói khi no, Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm đối với dân tộc của ông vào những ngày tháng khó khăn nhất”.

Vài hôm sau tôi nhận bài viết phản bác bài viết trên với cái tựa khá dài “ĐỨC DALAI LAMA, ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ MẶC CẢM TỘI LỖI CỦA NHÓM “HOÀI NGÔ”” của tác giả Nguyễn Kha. Tác giả dành khá nhiều công sức để tìm kiếm gần như tất cả các phương tiện truyền thông thông dụng, từ google cho đến các trang web Tây Tạng và nhất là nghe kỹ youtube thu lại buổi thuyết pháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở chùa Viên Giác.

Theo tác giả Nguyễn Kha, ngoài ba lần nhắc đến Việt Nam trong chiến tranh, trong toàn bộ buổi thuyết pháp “Đức Dalai Lama đã không còn đả động gì đến Việt Nam nữa. Nhất là Ngài HOÀN TOÀN KHÔNG NÓI MỘT TIẾNG “PRESIDENT DIEM” HAY MỘT TIẾNG “RICE DONATION” NÀO CẢ. Do đó, dĩ nhiên là không có câu chuyện hoang đường “Đức Dalai Lama bồi hồi khi kể lại sự giúp đỡ của cụ Diệm” đã “âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng.” như “Chị Hoa Lan” đã gian trá phịa ra”.

Một lần, bạn tôi, Luật sư Nguyễn Xuân Phước ở Dallas gọi để thảo luận về chuyện “TT Ngô Đình Diệm tặng gạo cho dân Tây Tạng” này. Tôi nói với anh, trên quan điểm chính trị và nhân đạo, tôi tin là có nhưng thú thật tôi không chứng minh được bằng tài liệu nào. Biết tôi sắp đi Đức, anh Phước dặn tôi để đích thân nhờ Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương trượng chùa Viên Giác, Hannover xác nhận dùm chuyện “hàng tấn gạo” này. Tôi hứa sẽ bạch với thầy.

Tôi đến Hannover chiều thứ Năm tuần trước. Lần đầu đến viếng chùa Viên Giác, nhưng về tình cảm, với tôi đây là chuyến trở về. Viên Giác Hannover không có bóng đa già và những mùa thu ngập lá như Viên Giác Hội An. Viên Giác Hannover không có thằng bé ngồi nhìn bóng trăng soi trên sân gạch mà nhớ đến mẹ mình trong những đêm rằm Vu Lan tháng Bảy như Viên Giác Hội An. Cây đa già đã chết, thằng bé đã đi xa nhưng ký ức của một phần đời cô đơn nhất vẫn còn nguyên vẹn trong tâm hồn nó.

Sau những chuyện riêng tư, thăm hỏi sức khỏe, tôi bạch với Hòa thượng Thích Như Điển trong thời gian Đức Đạt Lai Lạt Ma viếng thăm chùa Viên Giác hôm 20 tháng 9, 2013, khi ngài thuyết pháp, khi ngài trò chuyện, khi ngài nói trong chương trình, khi ngài thăm hỏi ngoài chương trình, có bao giờ Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc đến việc “TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng” không?

Hòa thượng Như Điển xác định “Không”.

Nhưng rồi hòa thượng nói tiếp, sau khi đọc bài viết chính hòa thượng cũng thắc mắc về chuyện “hàng tấn gạo” và bảo các đệ tử, trong đó có nhiều người tu học tại Ấn Độ truy cứu tài liệu để tìm xem nếu Việt Nam Cộng Hòa đã từng viện trợ gạo cho nhân dân Tây Tạng. Ngày 7 tháng 8 vừa qua, hòa thượng nhận được kết quả truy cứu.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã hai lần tặng gạo cho dân tỵ nạn Tây Tạng.

Tài liệu xác nhận Việt Nam Cộng Hòa đã có cứu trợ gạo cho dân tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn, và không chỉ cứu trợ “hàng tấn gạo”, vài chục ngàn tấn mà đã gởi hai lần tổng cộng một ngàn năm trăm tấn gạo qua trung gian chính phủ Ấn. Hòa thượng chuyển cho tôi nguyên văn tài liệu và cả đường link dẫn đến tài liệu. Ngài cũng khuyến khích tôi dịch các đoạn liên hệ đến Việt Nam để phổ biến cho công chúng. “Sự thật cần phải làm sáng tỏ”, thầy dặn tôi như thế.

Tôi thật có duyên với câu chuyện “hàng tấn gạo” này vì người đón gia đình tôi ở phi trường và cả nhà ga Berlin lại là chị Hoa Lan. Chúng tôi không biết nhau trước. Chị ở Berlin nên Hòa thượng Phương Trượng chùa Viên Giác nhờ chị đón chúng tôi ở phi trường, đưa sang nhà ga đi Hannover và đón chúng tôi khi về lại Berlin. Khi chị đón tôi ở nhà ga Berlin, trên đường về khách sạn, tôi hỏi có phải chính chị đã nghe đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng “TT Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống Công Giáo, đã âm thầm gửi hàng tấn gạo để cứu khổ những người Phật Giáo Tây Tạng” hay không? Chị Hoa Lan trả lời “Không”. Chị Hoa Lan cũng không biết ai đã dùng tên chị để đưa vào bài viết. Vì tôi đã được hòa thượng xác nhận bằng tài liệu chính thức của chính phủ Ấn nên việc chị Hoa Lan có nói hay không, không còn là chuyện quan trọng.

Giá trị của tài liệu

Tài liệu do Hòa thượng Như Điển chuyển dày 116 trang do Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Sách và Quốc Hội Tây Tạng (Tibetan Parliamentary and Policy Research Centre) công bố năm 2006. Trung tâm đặt văn phòng tại H-10, 2nd Floor, Lajpat Nagar – III, New Delhi – 110024, INDIA. Đây là tổng kết các biên bản ghi lại các buổi phỏng vấn các lãnh đạo trong chính phủ Ấn Độ. Những người được phỏng vấn có Thủ tướng Shri Jawaharlal Nehru, Bộ Trưởng Ngoại Giao Shrimati Lakshmi Menon, Bộ trưởng Thương mại Shri D.P. Karmarkar, Thứ trưởng Ngoại Giao Shri A.K. Chanda, Bộ trưởng Thương Mại và Kỹ Nghệ Shri T.T. Krishnamachari và nhiều viên chức cao cấp khác có liên hệ đến tiến trình định cư người tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn từ năm 1952 đến năm 2005.

Phỏng vấn Thủ tướng Nehru

Ngày 19 tháng 12 năm 1960, người phỏng vấn tên Shri Harihar Patel hỏi Thủ Tướng Shri Jawaharlal Nehru: “Thủ tướng vui lòng cho biết tên các quốc gia, cơ quan cứu trợ tư có liên hệ đến công việc cứu giúp và định cư người tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn và số lượng cũng như tên các trại do các cơ quan đó điều hành tại Ấn, Sikkim và Bhutan?”
Thủ tướng Shri Jawaharlal Nehru: “Các chính phủ Úc, Mỹ và Tân Tây Lan đã viện trợ 10 lakhs Rupees, 4,75,000 Rupees, 2,63,920 Rupees theo thứ tự để chính phủ Ấn chi dùng cho các chương trình tỵ nạn Tây Tạng. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng 1300 tấn gạo”.
Các cơ quan thiện nguyện tư cung cấp thức ăn, áo quần, thuốc men v.v. gồm có (1) Co-operative for American Relief Everywhere; (2) American Emergency Committee for Tibetan Refugees; (3) Catholic Relief Services in India; (4) National Christian Council of India; (5) World Veterans’ Federation; (6) Indian Red Cross Society; (7) Junior Chamber International; (8) The Buddhist Society of Thailand. Không có một trại tỵ nạn nào được đặt dưới sự điều hành bởi các cơ quan từ thiện ngoại quốc.”

Phỏng vấn Bộ Trưởng Ngoại Giao Shrimati Lakshmi Menon

Ngày 30 tháng Tư, 1962, người phỏng vấn tên Shri N. Sri Rama Reddy phỏng vấn Bộ Trưởng Ngoại Giao Ấn Shrimati Lakshmi Menon: “Thủ tưởng có vui lòng cho biết đúng hay không rằng Chính phủ Nam Việt Nam đã đề nghị tặng 200 tấn gạo để cứu giúp người tỵ nạn Tây Tạng tại Ấn Độ”. Bộ trưởng Ngoại Giao Ấn Shrimati Lakshmi Menon đáp “Đúng vậy, thưa ông”.

Như vậy, việc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không chỉ một lần mà hai lần và cũng không chỉ vài ngàn mà hàng trăm ngàn tấn gạo là chuyện thật.

Người xác nhận nghĩa cử cao quý của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không phải là một viên chức cấp thấp chăm lo công việc cứu trợ hay một phóng viên báo chí góp nhặt tin tức đó đây mà chính từ lời phát ngôn trang trọng của cố Thủ Tướng Shri Jawaharlal Nehru, người có thẩm quyền cao nhất của chính phủ Ấn và cũng là nhà kiến trúc nên quốc gia dân chủ Ấn Độ hiện đại ngày nay.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng gạo cả hai lần đều qua trung gian của chính phủ Ấn và các trại tỵ nạn Tây Tạng ngày đó như Thủ Tướng Shri Jawaharlal Nehru xác nhận, đều đặt dưới quyền điều hành của các cơ quan xã hội Ấn nên đức Đạt Lai Lạt Ma có thể không biết.

Lý do không “hoang đường” mà rất đơn giản và dễ hiểu

Về mặt nhân đạo, việc cố Tổng thống Ngô Đình Diệm tặng gạo cho nhân dân Tây Tạng phát xuất từ tình người. TT Ngô Đình Diệm đâu cần phải vượt qua hàng rào tôn giáo như người viết bài gán ghép cho cố tổng thống. TT Ngô Đình Diệm cũng không phải “âm thầm” giúp đở chỉ vì ngài là “Tổng Thống Công Giáo” mà lại giúp đở “những người Phật Giáo Tây Tạng”. Đạo Công Giáo chẳng những không cấm cản mà còn khuyến khích con cái Chúa giúp đỡ những người khó khăn, đói khát, chịu đựng không cùng tôn giáo. Hình ảnh Mẹ Teresa sẽ mãi mãi như ánh trăng thương yêu soi sáng sông Hằng Hindu Ấn Độ. Hàng triệu người Việt tỵ nạn Cộng Sản sau 1975 đã vượt qua được chặng đường đầu đầy khó khăn phần lớn cũng nhờ vào bàn tay cứu giúp của những người không cùng tôn giáo.

Về mặt chính trị, cố Tổng thống Ngô Đình Diệm chắc chắn biết rằng Việt Nam Cộng Hòa và Tây Tạng có nhiều điểm giống nhau về hoàn cảnh lịch sử và địa lý chính trị. Hai dân tộc từng chịu đựng dưới ách thống trị của phong kiến Trung Hoa, hai quốc gia nhỏ chịu số phận vùng trái độn sát biên giới Trung Cộng, hai cuộc di dân tìm tự do trong đói khát, chịu đựng, viện trợ gạo, do đó, là một cách để thế giới thấy rằng Việt Nam Cộng Hòa luôn đứng về phía những người cùng chiến tuyến tự do. Tổng thống Ngô Đình Diệm không làm việc đó trong “âm thầm” mà đã chính thức thông báo cho Thủ tướng Ấn Độ Shri Jawaharlal Nehru biết và được thủ tướng vui mừng đón nhận.

‘Ngày nay rất nhiều quốc gia có cảm tình với Tây Tạng nhưng trong thời điểm 1960 chỉ vỏn vẹn bốn quốc gia, trong đó có Việt Nam Cộng Hòa đã đóng góp trực tiếp vào việc cứu trợ dân tỵ nạn Tây Tạng. Và trong số bốn quốc gia, Việt Nam Cộng Hòa có thể là nước nghèo nhất về của cải nhưng giàu hơn nhiều cường quốc về lòng nhân đạo.

Hai lý do đó chẳng “hoang đường” nhưng rất đơn giản và dễ hiểu mà vị lãnh đạo một quốc gia cùng số phận với Tây Tạng hẳn phải biết.
Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm có đức tính sống cao cả hơn và có một tâm hồn trong sáng hơn nhiều người đang “ca tụng” hay “vinh danh” ngài. Nếu biết kính trọng, hãy để ngài là cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, đừng cô lập ngài thành một vị “Tổng Thống Công Giáo”. Lịch sử để lại nhiều vết thương đau nhưng không có vết thương đau nào là của riêng Công Giáo hay Phật Giáo mà là vết thương đau của dân tộc.

Phản bác bài viết “Câu chuyện thật cảm động của đức ĐẠT LẠI LẠT MA nói về ĐỆ NHẤT VNCH”, tác giả của bài “ĐỨC DALAI LAMA, ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ MẶC CẢM TỘI LỖI CỦA NHÓM “HOÀI NGÔ” cũng chẳng xây dựng hay tích cực gì hơn. Thái độ hiềm khích, hằn học thể hiện ngay trong cách dùng từ, đặt tựa.

Không thể đánh giá một con người đã sống, một biến cố đã xảy ra hơn nửa thế kỷ bằng tiêu chuẩn ngày nay. Phương pháp đó thiếu đặc tính khách quan và lịch sử. Dân chủ là một tiến trình từ thấp đến cao, từ non trẻ đến trưởng thành chứ không phải là một sản phẩm được chế tạo theo một công thức, mẫu mực nhất định hay được nhập từ một quốc gia nào. Nền dân chủ Mỹ trả giá bằng sinh mạng của sáu trăm ngàn người lính hai miền trong năm năm nội chiến. Nền dân chủ Nam Hàn cũng phải chịu đựng ám sát, đảo chính, độc tài, tham nhũng trước khi trở thành một trong G20 của thế giới ngày nay.

Việt Nam Cộng Hòa, sau hiệp định Geneva, từ một thường dân cho đến nguyên thủ quốc gia đều bắt đầu hành trình dân chủ đầy gai góc bằng hai bàn tay trắng, vừa học vừa hành trong máu và nước mắt. Không ai muốn nhưng đã để lại những hố sâu, những vết nứt trên đường đi của các thế hệ hôm nay. Một người Việt Nam có trách nhiệm, nếu không giúp lấp lại những cách ngăn, không giúp xoa dịu nỗi đau, không giúp bắt một nhịp cầu cảm thông thì cũng không nên đào sâu thêm hố hận thù, chia rẽ trong lòng một dân tộc đang quá khao khát thương yêu và đoàn kết.

Prague, chiều 26-8-2014
TRẦN TRUNG ĐẠO