Chả biết Thư đi đâu

nguyentri

Cái món cóc ổi xoài chấm mắm ruốc Huế và muối ớt Tây ninh của Năm Mập quyến rũ lắm. Dân ba xi đế mê đã đành, bầy học trò cũng tít thò lò luôn. Đừng nói đến dân ăn mặn, cả chay trường như chị em Thảo Hiếu và bé Thư cũng hít hà sau những buổi tan trường là rất chi thường tình.
Xin đừng trách Thảo Hiếu Thư. Cả ba cùng một hoàn cảnh cha mẹ chia tay. Cha có vợ khác, mẹ cũng vậy nên chị em Thảo Hiếu ở với bà nội. Cô ba ở chùa từ nhỏ nên đưa hai chị em vào chùa tu cái tâm. Ở chùa đương nhiên là chay trường và tóc phải xuống. Nói vậy chứ ngày nào cũng rau củ quả tàu hủ nước tương, lớn còn thèm thịt cá nói chi nhỏ. Không phải là kiểng chùa nơi Thảo Hiếu Thư nương nhờ cũng dọn bữa có cá thịt đùi gà cánh gà bằng tàu hủ ky đó sao? Ở đó mà không vọng.
Thiệt tình, mắm ruốc và muối ớt đã quá trời ạ. Năm Mập lôi kéo bầy học trò về quán của bà khiến ngữ bán hàng rong trước cổng trường không ai dám tranh, ế liền nếu dám ti toe. Người ta cũng chế chiếc mọi cách cho ra cái cay mặn ngọt trứ danh nầy, nhưng cuối cùng phải chào thua. Lại đánh Năm Mập bằng đòn ê muối và mắm ruốc của bả có bỏ xì ke khi chế biến, bây ăn riết ghiền xì ke luôn cho coi. Lão Năm nghe qua cười khì khì:
– Có thì tao đi buôn xì ke luôn cho mau giàu, ngu sao pha vô muối mắm.
Tan trường là bầy trẻ ùa vô. Ba nhóc nhỏ tu vì hoàn cảnh về muộn nhất vì ngại bạn bè nói nâu sồng mà cũng mắm ruốc. Với lại vợ chồng Năm Mập thương nhứt ba đứa nầy, nghĩ đi, có cha có mẹ mà phải nương nhờ cửa Phật thì tủi nào hơn. Được cái bầy trẻ tiền nhiều, muốn chi có nấy. Riêng Thảo Hiếu nhận trợ cấp từ hai phía. Cha lâu lâu ghé chùa dúi một ít, mẹ cũng vậy. Nói chung cha mẹ nào chẳng thương con, ai chẳng xót lòng khi đẻ ra mà tống cho nội ngoại, rồi từ nội ngoại mà thẩy lên chùa thì trời ơi xót lắm. Nhưng biết làm sao? Thảo Hiếu nghe nói ở với cha hay mẹ ghẻ là lắc đầu. Tại sao lại ghẻ chóc khi ta có nội? Thôi thì bù cái vật chất để chúng yên tâm học hành, ba bữa lớn rồi ba má tính cho.
Thảo Hiếu thì dù sao cũng còn cô ở chùa ngó mắt nhìn qua. Còn Thư? Thư có khác hơn một tí. Một tí thôi nhưng lại rất đau lòng. Mười ba tuổi dáng dấp ra chiều lắm. Ốm nhưng không mòn, dáng nầy mà lớn tí là người mẫu chắc như bắp. Thư bảnh nhứt sóc, xài máy tính bảng, miệng nhai cóc ổi chắm mắm ruốc tai nghe nhạc sành điệu như dân phố. Ba dượng của Thư là thầu xây dựng nên tiền vô thiên lũng. Còn ba ruột? Thảo kể với bà Năm Mập:
– Nó nói tưởng ba là ruột ai ngờ không phải Năm ơi.
– Là sao?
– Năm nói nó kể cho nghe, con không biết kể làm sao nữa.
Là chúa tò mò chuyện thiên hạ nên bà Năm kể với chồng rằng. Nó nói đâu ngờ ba má là rổ rá cạp lại, nó tưởng con ruột của ba, cho tới một hôm:
– Lúc đó con mười tuổi rồi Năm, con đón em đi học về nghe cha chửi má là lăng loan, là đĩ thoả… Cha la lên. Mày còn tơ tưởng đến cha con Thư thì theo nó mà sống… Rồi sau đó là li dị ba dẫn em con đi mất. Con ở với má.
– Rồi sao mày vô chùa? Rồi ba ruột của mày đâu?
– Má nói ba ruột con chết rồi.
– Chết? Mà sao chết? Rồi má mày sao mà gặp ổng? … Mày nói Năm không hiểu chi hết trơn.
– Dạ… má kể ba ruột bị ung thư gan, tại ổng uống rượu dữ lắm. Bữa đó ổng gặp má giữa đường xin tiền bị ba con gặp. Ba hiểu lầm nên bỏ má con. Sau đó ba ruột con chết… là má kể vậy nên con biết vậy.
Bà Năm chép miệng xoa cái đầu trọc và vuốt cái chỏm tóc con bé ra chiều thương cảm
Riêng chuyện vì sao vô chùa thì Thư không nói. Nhưng bà Năm vẫn biết vì Thảo kể:
– Nó nói bị ông dượng thầu khoán mò Năm ơi.
– Trời đất ơi… có chuyện đó sao con?
Mấy tay khoán khuyết nầy cũng ma bùn lắm. Chiều nào cũng lai rai với anh em thợ đến mút cà tha. Thầu mà, ăn nhậu và huê tình ghê lắm. Cũng phải cảm thông cho họ. Làm ăn lơn lớn, tiếp xúc với dân cầm bay chặt gạch thầu không đẹp là vong liền. Dăm ba khung bia vào chiều thứ bảy nào có chi lớn. Lớn là mấy anh bên trên. Tỷ như xây dãy trọ cho một trung gia nào đó, tuy giấy phép đủ nhưng ân tình đâu thể ta lơ, đúng không? Xây dựng phải biết sống biết chơi mới bền. Mấy cái nhà mọc lên từ một lô nông nghiệp nào đó còn lâu mới phép tắc. Thầu mà không quen biết lớn dễ chi thông. Mà mấy anh ni đâu phải như bọn thợ nhậu xong rồi vui vẻ về với vợ. Dũng Thầu – cha ghẻ của Thư – phải đưa quý anh đi mát xa chân, mát xa đá. Dũng cũng mát.
Chuyện làm ăn phải vậy. Thầu cầm bạc vạn trong tay đâu sướng ích chi. Nhất là các chị em phụ hồ bưng gạch. Nhiều em đẹp như tiên, duyên tình sao đó mà dang dỡ nên Dũng Thầu cám cảnh lắm. Anh cám em thì em cám lại. Thấy cảnh anh bị vợ bỏ em thương liền. Mà thiệt là Dũng và vợ chia tay. Không chia sao được khi chồng cứ ngoài đường mà lượn. Tháng mò qua nhà một lần thì đường ai nấy đi cho rồi. Mấy em ni thì thiệt mà nói đâu có tình chi với anh. Em thương và đi nhà nghỉ với anh chả qua anh cho tiền. Tàn cuộc là xong. Vậy nên mới ra chuyện Dũng Thầu ráp vô một nhà với má Thư.
Sau li dị má được hưởng căn nhà. Dũng Thầu đưa lính đến gia công cái bếp nhà Thư. Cùng cảnh cô đơn nên cả hai ráp lạị mà nên chồng vợ. Má đẻ cho dượng một thằng cu. Trời ơi. Dượng mừng thiếu điều sập nhà. Thư yên lành ngày cắp sách đến trường, tan học về ru em phụ má. Đời nếu vậy mà tới luôn cho tới chết thì hay quá. Nào ngờ một tối kia, mẹ cha ơi. Má mà không mắc đi ngoài thì chết chắc. Đi ngang phòng Thư má thấy thằng dượng ghẻ khốn kiếp đang ở trong mùng con nhỏ mười ba tuổi, tay nó đang sờ soạng trên ngực… Má lạnh gáy, lạnh toàn thân… trời ơi con nhỏ vú vê như vú chó mà ham hố chi hả trời? Má liền lôi thằng khốn về phòng:
– Trời ơi – dượng phân trần – tui say. Tui đi lộn phòng, tui tưởng bà…
Má hỏi Thư:
– Ổng có làm chi con không? Mấy lần rồi?
Má nghe nói những ba lần tuy chỉ sờ mó chút đỉnh thôi nhưng má hoảng lên. Thánh cũng hoảng chứ nói chi ai. Vội vàng đưa Thư gửi cho chùa.
Nghe qua Già Năm điên gan:
– Đù má… thằng ghẻ chóc khốn nạn. Mà sao con nhỏ không cho má nó hay?
– Ông không thấy nó lớn bộn rồi sao? Thời buổi giờ khó nói lắm ông ơi…
Ừ – già Năm ngẫm nghĩ – Khó nói thiệt. Thời mà ngay cả các gia đình cha mẹ đình huỳnh ăn nên làm ra còn dụng tiền để mua hạnh phúc ảo. Không phải cứ tiền và đưa rước đến tận cổng trường là bậc cha mẹ đã có quyền tự hào rằng ta đã tròn trách nhiệm đó sao?. Chả ai có thời gian để biết rằng khi cổng trường đóng lại, thầy cô giáo đã xong trách nhiệm truyền đạt kiến thức là bầy trẻ con nhào vô quán cóc ổi mắt dán vô máy tính bảng chơi game, nghe nhạc, xem phim… Chúng dậy thì sớm là tất nhiên. Những đứa có cả một mái ấm hạnh phúc cha mẹ anh chị đủ đầy còn không quản nổi lọ chi cha đông mẹ tây như Thảo Hiếu Thư. Ai ngó ngàng đến chúng. Chùa ư?
Đúng rồi. Chùa phải lo chứ sao. Đừng có tưởng từ bi hay không không sắc sắc rồi chùa cũng sắc không cái vụ tiền nghe. Có tu cũng phải ăn, ông Phật còn phải khoác áo rách đi khất thực nói chi sư sãi. Có gửi con em đến chùa xin chút từ tâm cũng phải gửi cái cho chúng ăn và cắp sách đến trường. Mọi cái được quy ra tiền. Một tháng là… Còn thí chủ muốn cúng thêm bao nhiêu cho chùa thì tuỳ tâm… Vậy thì khi quý ngài đã nhận tiền thì phải có trách nhiệm về nhân thân của người đó đúng không? Chuyện đó tất nhiên là không ai cãi hết. Nhưng qúy sư thầy, quý chư ni cả một đời chay lạt tụng kinh gõ mỏ, họ biết cái chi ngoài ta bà không nhỉ? Biết chứ. Biết nhiều, rất nhiều. Nhưng thông không? Các vị ấy có con mắt giữa trán như Dương Tiển cũng không nhìn ra cái chi ẩn dấu trong những tâm hồn rất trẻ đang bị lạc. Thảo Hiếu và Thư có đường nào để bước đâu mà mà không lạc.
Già Năm nghĩ mà ngậm ngùi cho bầy trẻ quá. Nhất là con Thư. Mà vợ chồng Năm Mập nầy cũng đa ngôn đa thế sự dữ, chuyện thiên hạ nhúng mũi vô làm chi cho nhọc. Cóc ổi mắm ruốc không lo ở đó mà lo đời. Thiệt mà nói, vợ chồng Năm Mập tội nghiệp lắm, nghèo của thì chớ, nghèo luôn cả con. Tròm trèm sáu chục mà chỉ hai vợ chồng ra vô ngó mặt nhau. Nghe đâu hồi trẻ cả hai cũng một thời ngang dọc, dân đội trời đạp đất. Cỡ bà Năm rành mắm ruốc Huế thì chớ còn sành điệu cả muối ớt Tây ninh. Cha Năm mới ghê, ngồi nghe chả kể chuyện bốn phương rồi có ba giọt vô chả ôm đàn hát bài trên bốn vùng chiến thuật là dân chơi lé xẹ nguyên cả cặp mắt liền. Nhớ cái bữa bầy học trò méc mấy người bán rong nói muối mắm ông Năm có trộn xì ke ông Năm ơi. Già Năm liền thân chinh đến từng thằng cha, từng con mẹ điểm mặt:
– Muốn bán ở đây để kiếm sống không? Tao quậy là bây vong à.
Đơn độc nên bà Năm thương lắm bé Thư. Có máu du côn nên Năm già dằn cha thầu khoán – thằng dượng ghẻ chóc – nhân một hôm hắn ghé trường rước nhỏ Thư.
Xưa nay mấy tay thầu xây dựng có cái ngoài bảnh lắm. Tay ga đời mới áo bỏ vô thùng kính mát Rayban. Nhìn qua là thiên hạ kính lắm chứ không chơi. Năm già cũng kính, kéo ghế mời ngồi, rót trà đưa tận tay:
– Ông là cha con Thư hả? Chà… bảnh dữ ha… Ông thầu khoán hả? Làm tách trà chơi. Nhỏ Thư sao mà phải gửi lên chùa vậy ông? Hề hề hề… nó ghé đây nhai cóc ổi mắm ruốc hoài hề hề hề…
Nghe cái giọng cười là biết ngay tay già bố láo nầy có ý xách mé rồi. Thằng ngu còn biết nói chi già đời như Dũng Thầu. Và Dũng chứ đâu phải con gà rù mà trêu? Mẹ nó… thầu nào dưới trướng không có vài thằng em đâm cha chém thiên hạ, và dưới mấy thằng nầy là một lũ cô hồn sống. Không có bè lũ nầy dễ gì có công trình mà xây tô dán gạch? Dũng cũng xách mé:
– Ông anh sít tốp lại cho em nhờ tí được không? Cóc ổi lo cóc ổi đi há, đừng đâm lao vô chuyện người khác được không ông anh?
– Hề hề hề… cái tính tui nó chó vậy bạn ơi… tui xía vô là vì tui coi con Thư như con cái trong nhà. Nó có kể cho bà nhà tui cái sự vụ vì sao má nó gửi vô chùa… thì ra là do ông anh đây mà ra cả.
Thầu ta văng tục liền. Thầu mà không dữ dằn dễ gì trị được thợ:
– Ông im cái miệng thúi lại… muốn cái quán nầy banh chành không?
– Ông nhắm lại tui không? – Bà Năm xía vô.
Dũng phắt dậy móc di động alô … tao đây… rảnh hông nhờ tí coi. Tao đang ở… bà má nó tự dưng có một thằng già đòi xử tao… ờ… xuống lẹ đi. Tao chờ…
Mười phút sau cuộc gọi hai chiếc cũng phân khối lớn nẹt ga bốc đầu thắng cái réc. Bốn thằng xâm mình rằn ri, tháo nón bảo hiểm là lòi ra bốn trái dừa khô, mặt mũi trông sát khí đằng đằng. Vừa vào quán lập tức một thằng la lên:
– Trời đất… tưởng ai. Ông ở đây hả ông Năm?
Nó nắm tay già lựu đạn lắc lia lịa ra cái rất thân tình. Năm già lại hề hề:
– Tao chớ ai mậy? Mầy làm cái khỉ mẹ gì đây?
Thằng xâm mình lôi Dũng Thầu ngồi lại ghế. Thầu ta ngơ ngác nghe giới thiệu chương trình:
– Ê… Dũng Thầu, giới thiệu với ông đây là Năm Lì, ông thầy của tui. Bộ ông ghẹo ổng hả?
– Đâu có mày ơi – Già Năm trả lời hộ – Có mấy thằng đi ngang đây xin thằng Dũng vài đồng, nhưng tao quyết xong rồi. Ai dám ghẹo tao mậy?
Vậy là cả bọn nhào vô làm vài xị với cóc ổi mắm ruốc cùng muối ớt. Dũng Thầu ngồi tì tì không dám uống nhiều, rượu vào lời ra hố hàng là chết. Tàn cuộc rượu Năm Lì nói với thầu biến thái khi bọn đầu trọc đã rồ ga lên đường:
– Đời tao cũng khá súc vật, nhưng kiểu như mày thì không? Cỡ mày tao búng một cái là vô tăm tích… Về nói với vợ mày đem con Thư về. Không nên gửi nó vô chùa. Nó đâu có tâm tu mà buộc nó chay lạt. Tao nói mày hiểu không?
Cuối năm học Thư rời chùa về nhà. Má nó tậu cho chiếc xe điện. Chiều chiều Thư nhấn ga vi vu lên chùa thăm Thảo Hiếu, nó lại ghé ngang vợ chồng Năm Mập ăn cóc ổi xoài. Mười bốn tuổi nó lớn phổng và xinh ơi là xinh.
***
Nhưng một tuần trước năm học mới, không thấy Thư có mặt như mọi hôm. Năm già chưa kịp hỏi thì má nhỏ Thư tốp xe, vẻ tất bật:
– Có con Thư đây không chú Năm?
– Không. Sáng giờ nó không có mặt đây… Sao cô không gọi điện cho nó?
– Không hiểu sao nó không bắt máy chú Năm ơi… cha ơi… không biết nó đi đâu vậy kìa?
– Không chừng nó lên chùa chơi với con Thảo với thằng Hiếu…
– Con lên rồi… không có nó ở trển chú ơi.
Nói rồi bà mẹ tội nghiệp phóng xe đi. Năm Già nhìn theo gật gật đầu ra chiều nghĩ ngợi. Giả nghĩ gì vậy kìa? Được một lát Năm ta cũng lấy xe:
– Ông đi đâu vậy? – Bà Năm hỏi.
– Tui tìm thằng thầu khoán coi sao.
Lúc về chồng kể với vợ rằng thằng thầu cũng không biết con nhỏ đi đâu. Thầu thề với Năm lựu đạn rằng nó có chi bậy bạ thì Năm cứ thiến nó… Chà… vậy thì con nhỏ đi đâu? Một đêm trôi qua, thêm một ngày nữa cũng bặt tin tức. Không điện thoại, không bóng dáng chị chàng. Bà má tội nghiệp phần con trai còn nhỏ, phần đang bầu bì, cứ thút tha thút thít suốt… nóng ruột quá mà chả biết làm sao. Làm sao đây trời hỡi?
Năm lại chạy lên chùa. Lúc về, bà xã hỏi;
– Sao rồi ông?
Rất lâu. Lâu thiệt lâu. Năm nhấm nhẳn:
– Tui lên chùa xin gặp trụ trì nhưng mấy sư cô nói…
– Nói sao?
– Thầy cũng đi đâu hai ngày nay rồi, chắc đi họp bên giáo hội tỉnh…
Năm, mười, mười lăm ngày rồi một tháng trôi qua. Thư bặt vô âm tín. Thầy trụ trì cũng âm tín bặt luôn. Nhưng sau nghe nói thầy được chuyển đi đâu đó. Giáo hội đưa một thầy khác về quản chùa. Còn Thư? Có ai biết Thư đi đâu không?
Năm lựu đạn còn không biết nói chi ai.
Nguyễn Trí

25 năm ra chợ

tranthienthi

25 bỏ lại viên phấn trên mặt bàn và đi 34 tuổi đời và 8 tuổi nghề dạy gì cho các em ? ngoài một nỗi phân vân một đời không dứt

dắt díu vợ con dựng lều xóm chợ đặt hai tay lên bàn cân thử đời nặng nhẹ câu thơ buồn như một tiếng rao khan

25 năm đói no đã từng những buổi chiều thất thơ chờ bạn may mà còn đây chén rượu cơ hàn cô hàng xén nghèo đãi một gã từ quan

vẫn còn những đứa học trò thưa thầy giữa chợ vẫn còn biết đợi chờ một bàn tay vẫy sắp sẳn chiếc gùi và đi rừng vẫn xanh cô hàng xóm vẫn xuân thì

buổi sáng xung quanh thơm lừng hương thị buổi chiều quần lững với môi thơm chợ hai mươi lăm năm dài trêu chọc nỗi cô đơn câu thơ ngắn dài không bán được

ta còn sẳn đây một buổi chiều nay dọn sẵn lòng thanh lương em uống với ta kể cho ta nghe về câu chuyện của ngôi trường 25 ta trót chôn khúc ruột mình ở đó

trần thiên thị (sáng 20.11.2014)

MỘT THUỞ NGƯỜI VỀ

nguyenanbinh

Người về trong mơ hay chiêm bao
Môi thơm còn ngát nụ hôn đầu
Thịt da chưa nở rời thương nhớ
Đã vội chia lìa, nhói tim đau.

Người về theo mưa hay sương giăng
Chút nắng thu xa cuốn bụi lầm
Mắt ai mang cả trời giông tố
Lạc bến bờ xưa xóa dấu chân.

Người về chờ sao hay trăng lên
Đèn khuya hắt bóng dáng ai quen
Sao ta lại đứng chờ vô vọng
Chỉ thấy gió lùa qua phố đêm.

Người về cùng mây hay hoa ngâu
Lang thang trôi mất mộng ban đầu
Rụng rơi từng cánh phai hương thắm
Hiu quạnh một đời như cỏ lau.

Một thuở người về bên hiên cũ
Đâu còn son trẻ để chờ nhau
Tóc thề phiêu dạt đời dâu bể
Ứa mắt nhìn theo đến bạc đầu.

NGUYỄN AN BÌNH

NƠI PHÍA NAM DÃY NÚI MỜ…

khuatdau

Nơi ấy là quê ngoại của các con tôi. Hay chính xác hơn là gần dãy núi mờ, nơi sừng sững hai khối đá một to một nhỏ đứng bên nhau mà ông cha chúng ta, khi vào đến đất Khánh Hòa đã đặt tên là hòn Vọng Phu. Nếu Quang Dũng sinh ra ở đất này, trong bài thơ Tây Tiến xé ruột xé gan làm khổ cả một đời ông, có hai câu thơ đã phải viết:

Tôi nhớ Khánh Hòa mây trắng lắm
Chiều xanh không thấy bóng Vọng Phu!

Nghe không được xuôi tai mấy, nhưng chỉ giả dụ thôi, tôi nào phải công an mà dám cắt hộ khẩu của ông!

Ở chính nơi này, chiều không xanh cũng không thấy được bóng Vọng Phu. Phải là chiều rất xanh, khi những đám mây hãy còn lang thang trên biển chưa chịu bay về núi, mới có cơ may thấy được bóng ai bế con mãi đứng chờ.

Cơ may đó cũng ít nhất một lần có được trong đời nhạc sĩ Lê Thương, và cũng từ chiều rất xanh ấy in mãi trong hồn ông hình bóng người chinh phụ chờ chồng. Sau bà Đoàn Thị Điểm, không ai khác ngoài ông chuyển được hồn Chinh phụ của Đặng Trần Côn vào âm nhạc tài tình đến như vậy.

Đấy mới thực là nỗi buồn sâu thẳm của chiến tranh.

Chưa có nước nào mà chiến tranh nhiều như ở nước Việt Nam, một kỷ lục kinh hoàng!

Chiến tranh chống ngoại xâm, đã đành một nhẽ.

Chiến tranh để mở rộng biên cương, thì thôi cũng lại đành một nhẽ nữa.

Chiến tranh giữa mười hai sứ quân, giữa họ Lê họ Mạc, giữa Lý Trần, giữa chúa Trịnh chúa Nguyễn, giữa anh em nhà Tây Sơn và Gia Long, giữa cộng sản và không cộng sản, có nghĩa rằng những đứa con cùng một cha Lạc Long Quân và một mẹ Âu Cơ, tức là nội chiến. Đây mới là kỷ lục đắng cay đáng xấu hổ.

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng chưa thật là buồn vì trong cuộc chiến đáng xấu hổ vừa qua, khi có triệu người buồn thì cũng có triệu người vui.

Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh!
Mẹ vỗ tay hoan hô hòa bình! (TCS)

Mẹ của những đứa con thắng cuộc vỗ tay reo mừng vì xong cuộc chém giết chúng sẽ được gần như tất cả.

Còn mẹ của những đứa con thua cuộc cũng vỗ tay hoan hô vì xong cuộc rồi, tuy gần như mất tất cả nhưng ít ra cũng còn được cái mạng sống.

Có triệu bà mẹ vui ra mặt nhưng cũng có triệu bà mẹ buồn giấu mặt.

Ngay cả những đứa chết rồi, những bà mẹ của bên thắng cuộc cũng vui vì được nhà nước phong tặng danh hiệu bà mẹ việt nam* anh hùng.

Ngày xưa, nhất tướng công thành vạn cốt khô. Ngày nay các bà chỉ cần vài mảnh xương trâu bò đưa vào các ngôi mộ liệt sĩ là đã được tiếng anh hùng. Nhiều đến mười cái mộ thì mẹ được dựng tượng!

Một triệu đứa con bên thắng cuộc chết trận, thì cũng có gần một triệu bà mẹ việt nam* anh hùng. Cho nên không cần ra ngõ, chỉ bước xuống bếp là đã thấy anh hùng đang bó gối ngồi đó.

Có thực các bà vui ra mặt?!

Bảo rằng vui là gieo tiếng dữ cho các bà.

Có bà mẹ nào từ ngàn xưa đến ngàn sau lại vui vì con mình bị giết! Có chăng là những kẻ suốt ngày tự tung hô mình là người thắng cuộc. Chính họ đã giật đứa con trong tay của các bà ném ra chiến trận, nơi người ta ném binh như vãi đậu**. Thế rồi họ bảo cười lên đi, vỗ tay reo mừng vì đã hoàn thành sứ mạng lịch sử.

Để mần chi? Thưa để át tiếng khóc.

Cũng như hát để át tiếng bom.

Ác và đểu cáng đến thế là cùng!

Giờ các bà như con mèo ướt ngồi trong xó bếp, không phải cần hơi ấm dù trời đang lạnh, mà là để giấu cái mặt xấu hổ của mình đi, vì không bằng một con gà mái dám xù lông ra trước con diều hâu để bảo vệ đàn con của mình.

Còn các bà mẹ của những đứa con thua cuộc, buồn giấu mặt là lẽ đương nhiên. Buồn vì áo rách tả tơi, bo bo bát vơi bát đầy. Buồn vì nhà bị tịch thu, ruộng đồng bị lấy mất. Buồn vì đứa chết không tìm ra xác, đứa đi cải tạo không biết bao giờ về, đứa trốn đi vượt biên giữa trùng khơi bão tố, biết có đến được bến bờ nào hay nằm trong bụng cá!

Cuộc chiến tranh đáng nguyền rủa vừa qua khủng khiếp quá. Cả hai miền đều có đến hàng triệu những bà mẹ mất con và sắp mất con. Nỗi đau của các bà to và cao hơn cả núi Vọng Phu.

Lại giả dụ, nếu có một ngày đẹp trời nào đó, không còn bên thắng cuộc và bên thua cuộc, cả nước cùng đồng lòng canh giữ biển đông nơi đã có những đứa con của cả hai bên cùng hy sinh anh dũng ở Trường Sa và Hoàng Sa, thì xin được đặt lại tên hai khối đá khổng lồ ấy là Mẹ và Con bất khuất, gọi tắt là hòn Bất Khuất. Chừng đó sẽ chung một bóng cờ, không cờ vàng sọc đỏ, cũng không cờ đỏ sao vàng. Mà là cờ với màu xanh của rừng biển, màu vàng của vựa lúa hai miền, màu nâu của mồ hôi và máu đã khô.

Tin giùm tôi đi, không còn giả dụ nữa, ngày ấy đang tới, cờ ba màu vàng-nâu-xanh sẽ tung bay nơi phía Nam dãy núi mờ… Hòn Vọng Phu cũng sẽ còn mãi, nhưng là trong trường ca bất tử của Lê Thương.

Khuất Đẩu
_____________________

*phong tặng ẩu nên không viết hoa.
**Thơ của Phạm Ngọc Lư trong Biên cương hành

Nắng Thủy Tinh

tranvanle

Nắng thủy tinh! Đúng là nắng-thủy-tinh!
Lạnh như gương vỡ vẫn còn hình:
những đường kính nứt hay dao để
sát mặt em và sát mặt anh?

Nắng thủy tinh là nắng rất trong
tại sao lại lạnh đến tê lòng?
Gió bay qua, nắng, rung rinh nắng,
nắng lấp lánh, kìa, em thấy không?

Sáng hôm nay ngồi hong nắng mai.
Lạnh chao ôi lạnh tóc em dài.
Mưa không có nước…mà mưa nắng
và lạnh vô cùng rung cả vai!

Em nói hồn nhiên: nắng vỡ rồi,
anh à mình trốn nắng đi thôi,
vào nhà đốt lửa ngồi hơ nóng,
đừng ở ngoài vườn kẻo…nắng rơi!

Quả thật mùa Đông nắng cũng run!
Hai tay siết, vẫn, lạnh vô cùng…
Chim không thấy lượn trong trời nắng.
Anh lượn lờ em đôi mắt nhung!

Nắng thủy tinh…là nắng pha lê.
Đường xa không biết có ai về?
Quê nhà không biết mưa hay nắng?
Nhớ quá hồi em chải tóc thề…

Cây đào trên dốc Bà Trưng sáng
đợi nắng mùa Xuân, anh đợi em
nhoẻn nụ cười duyên và bẽn lẽn:
anh ơi đem nắng để em mừng…

Ôi nắng ngày xưa, nắng ngọt ngào,
ở đây nhìn nắng cứ nao nao…
Nắng như gương vỡ ra từng mảnh!
Nắng vệt nào nghiêng cũng giống dao…


Trần Vấn Lệ

NGÀY XƯA NGƯỜI ĐẸP…

thuyvi

thấy hình ảnh thiên hạ giành nhau mua ” hàng hiệu ” tại VN vừa rồi trên báo. Tự nhiên muốn post lại bài NGÀY XƯA NGƯỜI ĐẸP cùng với lời muốn nhắn đến các nàng : ĐẸP, LÀ PHONG THÁI, DÁNG VẺ DUYÊN DÁNG, QUÝ PHÁI CHỨ KHÔNG PHẢI DO HÀNG HIỆU HAY TRÉT ĐẦY SON PHẤN !

Nếu ai hỏi tôi đám cưới của Hoàng tử William và Công nương Kate vừa qua, hình ảnh nào đẹp nhất? Một đám cưới của Hoàng gia Anh quốc ước tính tốn 34 triệu Mỹ kim thì chắc chắn mọi cái đều tuyệt hảo đến từng chi tiết nhỏ.

Bài này người viết không bàn đến sự xuất hiện của các công tước, mệnh phụ hoặc những người nổi tiếng – Không bàn đến đến những chiếc song mã cầu kỳ hay những chiếc xe đắt tiền – Không bàn đến chiếc vương miện truyền thống lấp lánh kim cương được nhà Cartier chế tác từ năm 1936, là chiếc vương miện Nữ hoàng Elizabeth dành tặng cho công nương mới nhất của Hoàng gia – Không bàn đến tòa kiến trúc lộng lẫy của ngôi nhà thờ ngàn năm tuổi. Theo tôi, đẹp nhất, thu hút mọi mắt nhìn nhất là chiếc áo cưới của cô dâu. Vâng, chiếc áo cưới do nhà thiết kế Sarah Burton mà cô Kate chọn cho đám cưới mình đánh giá cô có gout thẩm mỹ khá cao. Tôi không quan tâm nó được may bằng loại hàng gì, chắc chắn đó là một loại tơ lụa thật giá trị, phải được may tỉ mỉ với những bàn tay khéo léo…. Nó không phải đẹp ở điểm đuôi váy dài khiêm tốn hơn đuôi váy dài 7,5m của Công nương Diana. Nó không phải đẹp vì thân váy được trang trí bằng những hoa văn hết sức tinh tế làm bằng ren và đính lên váy bằng tay phương pháp thủ công được gọi là làm ren Carrickmacross có nguồn gốc tại Ireland từ những năm 1820. Nó không phải đẹp vì những bông hoa như hoa Hồng, hoa cây Kế, hoa Thủy tiên và loại cỏ 3 lá trên thân váy là bốn loài hoa cỏ đặc trưng của Vương quốc Anh. Đối với tôi, chiếc áo cưới bằng vải satin trắng ngà đẹp ở chổ kiểu áo như cố tình làm trang nhã đi để phô bày một thân hình thon thả mềm mại và tôn cao cặp ngực vun lên thật thanh tú của cô dâu. Hèn nào chú rể và cô dâu quen nhau gần nhau bấy năm trời, khi cô dâu được ông bố đưa lên nơi hành lễ đã khiến chú rể sững sờ buột miệng “Em đẹp tuyệt!”

Hình ảnh Kate đẹp tự nhiên không điệu bộ trong chiếc áo cưới vừa qua khiến tôi nhớ lại hình ảnh những chiếc dài Việt Nam một thời – Ngày trước các thiếu nữ mặc áo dài đẹp lắm, chiếc áo mặc ôm sát dáng dấp mỏng manh, ôm thắt vòng eo nhỏ xíu với vùng bụng phẳng lỳ khiến vô tình đã làm nổi bật lên vòng ngực e ấp dưới lớp lụa mềm của con gái VN. Chiếc áo dài VN thật gợi cảm, thật sexy mà không gợi dục. À có thể nói như người nào đó đã phân biệt tranh khỏa thân của danh họa Nguyễn Trung trên Facebook “Nếu được hỏi, tôi sẽ nói: Ở Sài Gòn người vẽ nude ấn tượng nhất là Nguyễn Trung…Anh đã tạo nên thứ chuẩn mực phụ nữ của riêng cho mình: tóc dài, ngực nhu nhú, gương mặt thanh thoát, nhẹ nhàng và có đôi tay dài ngoẵng… Sự nâng niu trau chuốt, thể hiện tài hoa ở các chi tiết và ở kỹ năng hòa sắc đầy biểu cảm với gam sáng như vàng – trắng, lam – trắng, nâu nhạt – trắng… thật tinh khôi, thanh khiết. Có lẽ vậy mà tranh khỏa thân của Nguyễn Trung không gợi cho người xem ý tưởng về tính dục chăng?”. Có lẽ vậy mà chiếc áo dài ngày đó đẹp không thể tưởng được, nó vừa dễ thương, vừa quý phái, hai tà áo phất phơ quấn quít khiến cho dáng đi càng thanh thoát mềm mại yểu điệu thục nữ.

Ngày nay chiếc áo dài đã bị các cô nghệ sĩ, người mẫu làm cho mất đẹp. Nhìn những tấm lịch thấy mấy cô mặc áo dài ểnh ngực, hẩy mông, kiểu catwalk kệch cỡm chướng mắt không chịu được. Mỗi lần thấy họ uốn éo trong các lễ hội tiệc tùng, chắc hẳn nhiều người chép miệng: Còn lâu họ mới theo kịp những phong thái thanh lịch của người Tây phương. ( ngày xưa lứa chúng tôi hoặc các bậc lớn hơn từ nhỏ hầu như được gia đình dạy ăn, dạy nói, đi đứng….. Hoặc tự tìm học trong sách như sách của BS Nguyễn Ngọc Bảy chẳng hạn…).

Đâu phải ngày xưa người đẹp. Bây giờ người càng đẹp đó chứ – quần áo, mỹ phẩm, thể dục, tiện nghi giúp rất nhiều cho người phụ nữ giữ gìn cái đẹp. Tuy nhiên nếu chúng ta biết cách tôn lên những ưu điểm, trau chuốt lại những khuyết điểm thì chúng ta càng không sợ thời gian.

Sắc đẹp rồi sẽ tàn tạ, nhưng phong thái dáng vẻ còn mãi. Cốt cách là ở chỗ đó.


thuỵvi

(Hầm Nắng Michigan đầu tháng 5-2011)

DẠ KHÚC CHIM DI.

phamkhanhvu

tôi có một trăm năm để ngồi nghe chim hót
tôi có một buổi chiều để đứng trước gương soi
trong tĩnh lặng của gương một bóng hình phù thủy
đang vẽ những hoa văn lên khuôn mặt cuộc đời

tôi có một nghìn đêm dằn vặt nỗi đau
trong máu chảy mùi mặn nồng của biển
những ngày xa như chưa bao giờ đến
những đêm gần chỉ có ở chiêm bao

những sớm mai vẫn xanh như mộng tưởng
dù những con chim gào tuyệt vọng trong lồng
tôi lại có một trăm ngày để vẽ nỗi cô đơn
như một bàn tay đưa ra về phía trước

những giòng sông vẫn lặng lẽ trôi về nơi xa
hoặc là em hoặc là chẳng bao giờ
tôi đã đến nơi này , cố nhủ lòng gắng đợi
chim sẽ lại về những khuya khoắt đêm xưa…

PHẠM KHÁNH VŨ

LAY GIÙM TÔI NHÉ !

tranvannghia

Gió về lay ngọn cỏ lau
Lay giùm tôi nhé chiêm bao một thời
Cái đêm hôm ấy xa vời
Run run khẻ chạm môi người trước hiên
Cái đêm xưa đó chưa quên
Lay tôi tìm lại bóng thiên thu buồn

Làm ơn ! Lay nhẹ , làm ơn !
Kẻo mưa xóa dấu tinh sương ngậm ngùi

Làm ơn ! Lay nhẹ , nhẹ thôi !
Sợ không giữ được mảnh đời phù du

TRẦN VĂN NGHĨA

CON CÓ MỘT TỔ QUỐC

 

trantrungdao

 

Hai tháng trước tôi được ban tổ chức đại hội sinh viên Bắc Mỹ đề nghị đến nói chuyện với các bạn trẻ đại diện của khoảng 50 tổ chức thanh niên sinh viên Hoa Kỳ và Canada về tham dự đại hội lần thứ nhất, được tổ chức đại học Emerson, thành phố Boston. Vì khẩu hiệu chính của đại hội là “Tôi là người Việt Nam” nên buổi tâm tình của tôi cũng tập trung chung quanh ý nghĩa của câu khẩu hiệu này. Một dương ảnh với kỹ thuật khá công phu được chiếu trong lễ khai mạc với tiếng hô “Tôi Là Người Việt Nam” của các bạn trẻ nối tiếp nhau, vang lên khắp năm châu, ngoại trừ trong nước, đã làm mọi người xúc động.
Trong buổi sáng tâm tình đó, tôi có dịp chia xẻ với các em niềm vui khi biết các em đã trưởng thành. Sự trưởng thành của các em, không chỉ chứng tỏ một cách đơn giản bằng tiếng hô “Tôi Là Người Việt Nam” đã được ít nhiều kỹ thuật hóa, nhưng bằng việc theo dõi công việc các em đã và đang làm trong thời gian qua. Mặc dù được mời làm cố vấn cho ban tổ chức đại hội, tôi chẳng những không cố vấn được một lời nào, trái lại trở thành người học trò chăm chỉ của các em. Tôi học ở các em cách tổ chức, cách suy nghĩ, cách làm việc và cả cách giải quyết những bất đồng. Tôi sung sướng tự nhủ, sau gần 30 năm, những nhánh sông, những con nước trôi lạc loài trên biển ngày nào đang trên đường trở về nguồn cội. Giấc mơ Việt Nam mà tôi đang tha thiết kêu gọi đang dần dần hiện rõ.
Nếu chúng ta xuống khu người Ý để hỏi một thanh niên Mỹ gốc Ý anh là ai, anh ta chắc chắn sẽ trả lời rất gọn “Tôi là người Mỹ.” Tương tự, nếu chúng ta qua khu người Đức để hỏi một phụ nữ Mỹ gốc Đức chị là ai, chị cũng sẽ trả lời “Tôi là người Mỹ.” Nhưng một cô bé Việt Nam đang định cư ở Atlanta đã trả lời với tôi em là người Việt Nam. Em nói một cách chân thành. Các em là người Việt Nam và hãnh diện là người Việt Nam, dù đa số các em có mặt trong ba ngày đại hội, đã sinh ra tại hải ngoại, và thậm chí có em chưa bao giờ đặt chân lên đất nước Việt Nam. Sau buổi nói chuyện tôi dành thời gian để trao đổi thêm với các em có những ưu tư bức xúc riêng nhưng không kịp hay không tiện trình bày trong buổi nói chuyện. Tôi xúc động khi biết nhiều em đã dành suốt mùa hè để học tiếng Việt, nhiều em lo lắng không biết bao giờ mới có đủ khả năng tiếng Việt để đọc được Kiều, nhiều em phân vân không biết các tác phẩm về chiến tranh Việt Nam do các tác giả ngoại quốc viết có phản ảnh trung thực và khách quan cuộc chiến Việt Nam hay không. Nghe các em nói, tôi cảm thấy trách nhiệm đè nặng trên vai mình.
Qua nhiều lần tiếp xúc với các bạn trẻ, tôi hiểu được rằng, trong các thế hệ Việt Nam tỵ nạn, thế hệ của chúng tôi có nhiều may mắn nhất. Trong thời kỳ chiến tranh đẫm máu, chúng tôi còn ngồi trong trường trung học hay một, hai năm đầu đại học. Trong thời kỳ đói khổ sau 1975, chúng tôi đã vào tuổi hai mươi và có khả năng bương chải qua ngày. Khi đặt chân sang nước ngoài, chúng tôi lại là thế hệ sở hữu những kinh nghiệm sống cần thiết để đương đầu với những khó khăn trong đời sống mới và có số vốn liếng Việt ngữ, tuy khiêm tốn nhưng cũng tạm đủ để tiếp tục học hỏi và duy trì văn hóa Việt. Các em thì không. Tuổi thơ của các em được ru, không phải bằng những câu ầu ơ dí dầu thân thương tha thiết nhưng là các chương trình truyền hình Mister Rogers’ Neighborhood, bằng Sesame Street, Mickey Mouse. Thế nhưng các em đã ngồi lại với nhau, học hỏi lẫn nhau, tìm cách giúp đỡ cho nhau và cho quê hương của cha mẹ em đang cần được giúp. Điều đó cho thấy, tình yêu nước Việt là một thôi thúc kỳ diệu, không đơn giản được xác định bằng tấm giấy khai sinh, bằng quốc tịch nhưng bằng máu huyết luân lưu suốt mấy nghìn năm, bằng đời sống và giáo dục gia đình, bằng truyền thống và tập tục văn hóa đã không ngừng được duy trì và phát triển tại hải ngoại. Đặc tính kế thừa và gắn bó với quê cha đất tổ đó rất khó tìm thấy trong cộng đồng của một sắc dân nào khác.
Một bằng chứng khác, rất hùng hồn và dễ thương tôi đã chứng kiến cũng trong ngày đại hội sinh viên Bắc Mỹ vừa qua, là cách trả lời câu hỏi của một thí sinh trong giải Hoa Hậu Nhân Ái, một tiết mục bên cạnh chương trình chính của ba ngày đại hội. Câu hỏi thế này: “Nếu em chỉ có 24 giờ để sống trên đời, em sẽ làm gì trong 24 giờ đó?” Và đây là nguyên văn câu trả lời của thí sinh trúng giải: “Nếu em chỉ có 24 giờ để sống, em sẽ dành 24 giờ đó cho ba mẹ em. Em sẽ thưa với ba mẹ em rằng em cám ơn ba mẹ đã sinh em ra, đã trải qua nhiều cực khổ từ những ngày mới đặt chân đến Mỹ để nuôi em nên người như ngày hôm nay. Em có một đứa em nhỏ, nếu còn thời gian em sẽ dành cho nó, dặn dò nó chăm lo học hành, có hiếu với ba mẹ và thay em chăm sóc ba mẹ trong tuổi già.” Cô bé đứng trên khán đài cao, nhìn xuống ba mẹ em ở dưới, vừa trả lời vừa rưng rưng nước mắt, tưởng chừng 24 giờ tới đây em sẽ ra đi thật. Em có thể đã có người yêu. Em có thể đã có hàng trăm nhu cầu, ham muốn khác của tuổi mười tám, hai mươi. Nhưng không, cuối cùng em chỉ muốn trở về với nơi em đã sinh ra. Ý thức về nguồn, qua câu trả lời tuy không được chuẩn bị trước nhưng rất tự nhiên, chân thành bằng tiếng Việt, đã cho thấy sức sống kỳ diệu của dân tộc Việt Nam. Sức mạnh của văn hóa dân tộc Việt Nam như một dòng sông dài, có lúc trôi êm ả và cũng có lúc phải vượt qua nhiều ghềnh đá cheo leo, nhưng chưa bao giờ gián đoạn.
Câu nói “Tôi là người Việt Nam” thoạt nghe qua rất đơn giản, ai cũng có thể nói được, người Việt Nam nào, dù trong nước hay đang sống ở ngoài nước, cũng có thể nói như thế. Nếu chúng ta hỏi một em du học sinh từ trong nước vừa ra đến hải ngoại, em sẽ trả lời một cách hãnh diện “Tôi là người Việt Nam” và tương tự nếu chúng ta hỏi một sinh viên Việt Nam lớn lên ở Mỹ, Canada, Đức, Pháp, Úc hay xứ nào khác, em cũng sẽ vui sướng trả lời “Em là người Việt Nam.” Tuy nhiên nếu chúng ta hỏi tiếp “Việt Nam của em là Việt Nam nào?” thái độ, phản ứng và cách trả lời của mỗi em sẽ khác.
Em sinh viên ở hải ngoại sẽ ngập ngừng, vì trước hết, em không thể tin được trên thế giới này có thể có hơn một nước Việt Nam.
Nước Việt Nam duy nhất mà em biết là một dân tộc tuy có lịch sử anh hùng, bất khuất, có tinh thần tự chủ cao độ, truyền thống giáo dục gia đình tốt đẹp nhưng hiện nay đã trở thành lạc hậu.
Việt Nam mà em biết là quốc gia có lợi tức đầu người vỏn vẹn 401 Mỹ Kim, thấp xa so với nhiều quốc gia kém phát triển khác ở Châu Phi, và với một nền kinh tế sống nhờ vào khu vực nông nghiệp và dịch vụ.
Việt Nam mà em biết là quốc gia có những người lãnh đạo đất nước già nua, độc tài, cực đoan, bảo thủ ngồi trên ghế quyền lực tròn nửa thế kỷ nhưng vẫn còn muốn duy trì quyền chuyên chế ngay cả trong lúc đang nằm trên giường bịnh chờ chết.
Việt Nam mà các em biết là một trong năm nước trên thế giới vẫn tiếp tục bám vào chủ nghĩa Cộng Sản, một ý thức hệ một thời bành trướng nhờ vào chiến tranh, đấu tố, ám sát, hiện nay đã lùi xa vào quá khứ.
Việt Nam mà các em biết là quốc gia có 100 ngàn phụ nữ chỉ vì chén cơm manh áo mà phải bán thân lưu lạc xứ người, bị đánh đập, xô đuổi, ném ra đường phố như những nô lệ tình dục thời Trung Cổ.
Việt Nam mà các em biết là quốc gia có 45 triệu thanh niên nhưng đa số không có sức sống, không có hoài bảo cho tương lai của đời mình và cho đất nước mình, sống trong chờ đợi một bình minh chưa đến và có thể sẽ không bao giờ đến trong đời họ.
Tóm lại, Việt Nam mà thế hệ trẻ ở hải ngoại biết là một dân tộc đáng yêu nhưng cũng là quốc gia đang cần một cuộc thay đổi toàn diện để hy vọng có thể hội nhập vào dòng tiến hóa của loài người.
Trái lại với một Việt Nam bi thảm đó, đối với đa số các em du học sinh từ trong nước mới sang hay đang ngồi trong trường đại học tại Việt Nam, Việt Nam mà các em được dạy là “xứ sở của anh hùng, độc lập, tự do, hạnh phúc, một đất nước, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam, đã liên tục đánh gục ba tên đế quốc đầu sỏ Pháp, Nhật và Mỹ. Cả thế giới nghiêng mình kính phục khi nghe nhắc đến hai chữ Việt Nam.” Nói chung, ý thức của các em là bản sao của một bài hát tuyên truyền được lặp đi lặp lại suốt gần ba chục năm qua, nhiều đến nỗi đã trở thành tự nhiên như một đặc tính bẩm sinh. Thật khó có thể tin được, giữa lúc cả nước chìm trong nạn đói của những năm sau 1975, trong đó hàng triệu người dân bị đày đi kinh tế mới, hàng triệu người không có ngay cả mỗi ngày chén cháo để ăn, nhưng trên các loa phóng thanh đầu làng cuối phố, người dân Việt Nam vẫn sáng chiều hai buổi nghe toàn là những thành quả vượt chỉ tiêu, những khẩu hiệu đầy hứa hẹn.
Trong phạm vi văn học, những ngày sau 1975, bài thơ được diễn ngâm nhiều lần trên các hệ thống truyền thanh và truyền hình Việt Nam là bài “Tổ Quốc Bao Giờ Đẹp Thế Này Chăng” của Chế Lan Viên. Mặc dù bài thơ viết năm 1965, nhưng Ban Tuyên Huấn Trung Ương Đảng chỉ thị phát thanh nhiều lần sau 1975 với ngụ ý thời đại họ gọi là “thời đại Hồ Chí Minh” mới thật sự là thời đại vàng son nhất trong lịch sử Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
Chưa đâu !
Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sông Bạch Đằng…
Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả…
Dù mai sau đời vạn lần hơn....
Khi so sánh những ngày đói khổ sau 1975, ở đó, mỗi ngày khi trời chưa sáng, trước bịnh viện Chơ Rẫy, Bình Dân, đã có hàng trăm người chờ bán máu, mỗi ngày trước cửa hàng thực phẩm hàng ngàn người sắp hàng chờ mua từng cân thịt, là đẹp hơn, là vinh quang, là hào hùng hơn cả thời “Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sông Bạch Đằng” hay “Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc”, quả thật, giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam đã khinh mạn tổ tiên, xúc phạm một cách nghiêm trọng đến anh linh của những bậc anh hùng đã đem máu xương để viết lên như trang sử hào hùng của dân tộc Việt. Thật khó tin, Chế Lan Viên, tác giả của Điêu Tàn, một thời là thần tượng thi ca của thế hệ ông, đã viết những lời nịnh bợ Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam một cách trơ trẽn đến như thế. Khi nghe bài thơ này, tôi thắc mắc không biết tổ quốc của Chế Lan Viên là tổ quốc nào. Bài thơ của Chế Lan Viên cho chúng ta thấy ý thức hệ Cộng Sản có khả năng đầu độc và làm thay đổi toàn bộ ý thức của con người về lịch sử, nhân sinh và vũ trụ.
Nói đến sự độc hại của ý thức hệ Cộng Sản tôi nhớ một câu chuyện vui về hai học sinh Bắc Hàn, được nhà nước cử đi học chuyên môn tại một đại học Mỹ. Hai em phải viết một luận văn như một phần trong thủ tục nhập học. Tòa đại sứ Bắc Hàn dùng đó như cơ hội tuyên truyền nên chỉ thị hai em viết về đất nước Triều Tiên của các em dưới sự lãnh đạo của Kim Chủ Tịch anh minh và vĩ đại. Hai bài luận văn, dù viết rất hay nhưng sau đó đã bị nhà trường từ chối không cho phép nhập học. Lý do nhà trường nghi ngờ hai em đã chép nguyên văn bài của nhau. Thật ra, hai em không chép bài của nhau nhưng đó là tất cả những gì các em biết về xứ sở của các em, nơi chỉ có một tờ báo, một đài phát thanh nội địa, một đài truyền hình nội địa, một đường dây điện thoại nội địa, một khẩu phần ăn giống nhau cho mọi gia đình, một giáo trình duy nhất cho tất cả trường học và một quốc gia duy nhất trên thế giới còn xử dụng phòng hơi ngạt trang bị chất độc để tra tấn kẻ thù chế độ. Câu chuyện về hai cậu học sinh Bắc Hàn, có thể chỉ là chuyện vui nhưng nếu chúng ta đọc các bản tường trình về tình trạng nhân quyền tại Bắc Hàn của các tổ chức nhân quyền quốc tế như Amnesty International hay của Human Rights Watch, sẽ biết đời sống con người tại Bắc Hàn còn bi thảm hơn thế nữa.
Việt Nam là một trong số vài đồng chí thân thiết còn lại của Bắc Hàn, thân đến mức đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt cả nước phải để tang Kim Nhật Thành khi tên bạo chúa của 20 triệu dân Bắc Hàn vĩnh biệt cuộc đời năm 1994. Hành động trơ trẽn này đã bị Hòa Thượng Thích Quảng Độ vạch ra trong lá thư gởi Tổng Bí Thư Đỗ Mười như sau: “Riêng ông Kim Nhật Thành của Bắc Triều Tiên thì mới chết gần đây và đảng Cộng Sản Việt Nam đã dành trọn ngày 17-7-94 để “quốc tang” cho ông ấy. Tôi thiết nghĩ nếu ông Kim Nhật Thành đã giúp đỡ gì cho đảng Cộng Sản Việt Nam, hoặc vì tình “anh em như môi với răng” giữa những người Cộng Sản quốc tế với nhau, thì chỉ đảng và 1 triệu 800 nghìn đảng viên để tang cho ông ấy thôi, chứ ông Kim Nhật Thành đã làm gì cho đất nước Việt Nam và 70 triệu nhân dân Việt Nam có là đảng viên đảng Cộng Sản cả đâu mà đảng bắt toàn dân phải để tang ấy, dù chỉ một ngày? Thế sao đảng không làm một ngôi đền thật lớn ở ngay Hà Nội để thờ tổ Hùng Vương và tuyên bố lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch – ngày giỗ tổ – làm ngày Quốc lễ, nghĩ trọn ngày để cho toàn dân có dịp tưởng nhớ đến công ơn của đức Quốc tổ và các bậc tiền bối đã có công mở nước và dựng nước, nhờ thế ngày nay mới có đảng Cộng Sản Việt Nam? Mồ cha sao mình không khóc! Ông Kim Nhật Thành là người ngoại chủng thì đảng Cộng Sản Việt Nam đối đãi như thế, còn đối với người đồng bào đồng chủng với nhau thì đảng Cộng Sản lại bắn giết.”
Nhiều độc giả có thể không hoàn toàn đồng ý với tôi trong việc so sánh giữa xã hội Bắc Hàn và Việt Nam vì sinh hoạt xã hội tại Việt Nam dù sao cũng khá hơn nhiều so với xã hội Bắc Hàn. Vâng. Báo chí Việt Nam được phép thăm dò đời sống tình dục trong giới trẻ, được phép thống kê những cách ăn chơi trong giới trẻ nhưng có bao giờ những tờ Tuổi Trẻ hay Thanh Niên dám hỏi thanh niên Việt Nam nghĩ gì về chế độ chính trị mà các em đang sống và hướng đi đích thực nào dành cho dân tộc Việt Nam. Báo chí Việt Nam được phép khai thác những ham muốn vật chất, những thú vui sa đọa, trụy lạc trong xã hội nhưng không được phép cổ võ cho các giá trị cao đẹp của quyền sống, quyền tự do dân chủ của con người. Nếu hai em học sinh phổ thông Việt Nam ngồi viết hai bài luận văn về đất nước của em, nội dung có lẽ cũng không khác hai em học sinh Bắc Hàn kia bao nhiêu. Các em sẽ viết gì ngoài việc ca ngợi những thành tích của đảng Cộng Sản, về cuốc chiến thắng được gọi là “Chống Mỹ cứu nước”, về những thành quả kinh tế vượt chỉ tiêu nhưng không bao giờ được kiểm chứng một cách khách quan và độc lập. Và hẳn nhiên, các em sẽ không bao giờ dám viết về những bữa ăn chiều không đủ cháo thay cơm, những ngày đi lượm giấy, lượm bao, những đêm ngủ bờ ngủ bụi. Xét cho kỹ, về tư tưởng, người dân Việt Nam cũng không may mắn gì hơn một người dân Bắc Hàn, nghĩa là cũng hoàn toàn bị khống chế bởi một bộ máy tuyên truyền duy nhất mà thôi. Tự do, nếu định nghĩa như Các Mác, là sự thừa nhận các quy luật tất yếu của xã hội, thì quy luật tất yếu tại Việt Nam là sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của đảng Cộng Sản.
Khi nói đến tình trạng vong thân trí thức trong giới trẻ Việt Nam, tôi không có ý cho rằng tất cả thế hệ trẻ Việt Nam đều đánh mất quê hương trên chính quê hương mình, đều ngoảnh mặt làm ngơ trước sự chịu đựng của cha mẹ và bà con thân thuộc mình. Không. Trên kẽ đá hẹp giữa lòng núi, dù cheo leo nguy hiểm bao nhiêu vẫn mọc lên những bông hoa rừng tuyệt mỹ. Đất nước chúng ta cũng thế. Lịch sử đã chứng minh, thời đại nào người yêu nước cũng đông hơn kẻ phản dân hại nước. Trong cơn lũ độc tài áp bức kéo dài mấy chục năm qua, những búp măng non vẫn cố vươn mình lên. Những Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình và nhiều khuôn mặt trẻ can đảm khác vẫn còn sángsuốt, bằng nhiều cách khác nhau, đang cố đánh thức thế hệ họ, đồng bào họ đang chìm trong cơn mê dài.
Đối với các em du học sinh, những người sinh sau cuộc chiến Việt Nam, có được cơ hội ra nước ngoài học hỏi, không phải em nào cũng là Cộng Sản. Thành phố nơi tôi ở là thành phố đại học nên tôi có cơ hội gặp khá nhiều sinh viên từ trong nước sang. Trong những lần gặp gỡ đó, có khi tôi cũng nghe vài em thao thao bất tuyệt về một “Bác Hồ anh minh và vĩ đại”, nghe các em đọc dăm bài thơ của Tố Hữu, Chế Lan Viên đầy sắc máu hận thù, và cũng có khi nghe các em nói lên niềm hãnh diện về nước Việt Nam, nơi đó, cái gì cũng vượt trên tầm thời đại. Bạn bè tôi, nhiều người cảm thấy khó chịu, đứng dậy đi ra, một số khác e ngại và từ đó tìm cách tránh xa, nhưng tôi thì không. Tôi ngồi lại và kiên nhẫn chờ đợi một cơ hội để nói với em những điều em chưa hề được nghe, cơ hội để mang các em về với thực tế đầy đau xót của đất nước, về với cái chung của anh em chúng tôi đang bị chìm khuất phía sau đám mây đen vong bản.
Tôi ở lại với các em vì tôi thật sự không tin những điều các em nói phát xuất từ trái tim trong sáng Việt Nam hay những bài thơ các em đọc phát xuất từ tâm hồn đầy ắp thi ca và nhân bản Việt Nam. Ý thức của các em khi sinh ra giống như một tờ giấy trắng, đảng Cộng Sản vẽ lên đó hình gì, sẽ hiện lên hình đó, chế độ độc tài sơn lên màu gì, sẽ hiện ra màu đó. Trách nhiệm lương tâm và đạo đức của những ai còn nghĩ đến tương lai dân tộc, không phải xé bỏ tờ giấy đó đi nhưng chỉ nên xóa đi màu đỏ của hận thù, xóa bỏ bức hình độc ác trong tâm thức của các em. Nếu làm được vậy, tấm giấy kia vẫn sẽ là tấm giấy Việt Nam. Thay vì đẩy các em về phía bóng tối, hãy giúp các em đi về phía ánh sáng của tình đồng bào, tình đất nước.
Tôi muốn nói với các em về một nước Việt Nam mà có thể các em chưa biết, một Việt Nam đang bị bỏ rơi tận đàng sau đuôi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật không ngừng của nhân loại. Thế giới mà các em đang đối diện không phải là thế giới mà các em đã học ở trong nước. Sau1975, những nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam tự mãn với hào quang chiến thắng của họ đến nỗi trở nên cô lập với thế giới bên ngoài. Hậu quả của căn bịnh kiêu căng đầy hoang tưởng đó là một Việt Nam suy thoái về mọi phương diện. Về kinh tế, Việt Nam nghèo nàn còn hơn cả những nước châu Phi chưa ra khỏi tình trạng bán khai, bộ lạc như Congo, Yemen, Senegal. Về mặt quốc phòng, Việt Nam không có ngay cả một chiếc tàu chiến hiện đại để bảo vệ lãnh hải dài trên ba ngàn cây số, không có một chiếc chiến đấu cơ bay đủ cao, đủ xa để bảo vệ vùng trời tổ quốc. Về ngoại giao, Việt Nam, tuy đứng trước Trung Cộng lúc nào cũng lăm le xâm chiếm nhưng không có một đồng minh nào trên thế giới, dù chỉ để nói đôi lời an ủi.
Tôi muốn nói với các em về lòng yêu nước, một đức tính vô cùng cao quý và đáng ca ngợi của dân tộc Việt Nam. Chúng ta hãnh diện với truyền thống yêu nước và tinh thần tự chủ đã được may mắn kế thừa từ tổ tiên suốt bốn ngàn năm lịch sử. Nếu không nhờ tinh thần đó thì ngày nay Việt Nam không phải là nước Việt Nam mà là tỉnh Việt Nam, giống như tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây hay đã chịu chung số phận của Mãn Châu, Nội Mông, Tây Tạng. Nhưng yêu nước là một tình yêu cần được soi sáng và hướng dẫn bằng trí tuệ chứ không phải là một thứ tình yêu cực đoan và mù quáng. Hãy nhìn lại cuộc đấu tranh chống Thực Dân Pháp đầy gian khổ của dân tộc Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh đó, không phải chỉ miền Bắc là chống Pháp và miền Nam thì theo Pháp, không phải chỉ những người Cộng Sản là hô hào đánh Pháp và người Quốc Gia thì chạy theo chân Pháp. Không. Từ sông lạch miền Nam đến núi rừng Việt Bắc, nhân dân Việt Nam đã tùy theo điều kiện địa lý, hoàn cảnh chính trị của mỗi miền, và cả của mỗi người để đánh đuổi Thực Dân. Có vị chủ trương cứng rắn, có vị chủ xướng ôn hòa, có vị chủ trương võ lực, có vị chủ xướng Duy Tân. Nhưng nếu họ cùng có một tấm lòng vì nước, một đức tính trung thành và chung thủy với quê hương, nhân dân Việt Nam vẫn biết ơn họ và lịch sử Việt Nam sẽ ghi công họ. Giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam thì khác, chưa đánh đuổi được ngoại xâm đã tàn sát không nương tay những người Việt Nam yêu nước mà họ nghĩ sẽ tranh quyền đoạt lợi với họ sau này. Và trong suốt nửa thế kỷ qua, giới lãnh đạo Cộng Sản lại một lần nữa lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam, đẩy hàng triệu thanh niên Việt Nam vào chỗ chết cho các mục tiêu bành trướng ý thức hệ Cộng Sản, cho quyền lợi của đàn anh Trung Cộng, Liên-Xô dưới hình thức cuôc chiến tranh gọi là “Chống Mỹ cứu nước” vô cùng ngu xuẩn. Hôm nay, cơn lũ chiến tranh tuy đã qua đi nhưng trên cánh đồng Việt Nam vẫn còn phơi đầy thân xác anh em, máu xương của đồng bào ruột thịt.
Tôi muốn nói với các em về những kẻ trước đây đã từng ca ngợi chế độ Cộng Sản Việt Nam như “ngọn hải đăng thời đại”, những kẻ “mơ sáng mai thức dậy biến thành người Việt Nam” và họ thật sự là ai.
Họ là đảng và nhà nước Liên Xô thời chế độ này còn thoi thóp, họ là đảng Cộng Sản Trung Hoa, họ là những nhà văn, nhà thơ chống chiến tranh và họ là lãnh tụ các phong trào phản chiến châu Âu.
Đảng và nhà nước Liên-Xô ca ngợi Cộng Sản Việt Nam bởi vì chiến tranh Việt Nam đã giúp làm chậm lại cuộc chạy đua vũ khí với Mỹ mà chính họ đang dần dần kiệt quệ. Trung Cộng ca ngợi Cộng Sản Việt Nam đơn giản vì nhân dân Việt Nam đã chết thay cho họ để bảo vệ biên giới phía Nam. Trong ly rượu sâm-banh của các tên lái buôn chiến tranh đế quốc chúc tụng nhau ở Nhân Dân Đại Sảnh Bắc Kinh, ở điện Kremlin có máu của đồng bào Việt Nam đổ xuống khắp ba miền. Trong tiếng cười rạng rỡ của các chủ tịch nhà nước, các tổng bí thư trong đêm liên hoan mừng chiến thắng, không phải chiến thắng của nhân dân Việt Nam nhưng vì các mục tiêu riêng của họ đã đạt được, có nước mắt của hàng triệu bà mẹ Việt Nam khóc cho những đứa con của mẹ đã gởi xác ở Trường Sơn, Khe Sanh, Bình Long, Trị Thiên, An Lộc.
Lãnh tụ các phong trào phản chiến Châu Âu ca ngợi Cộng Sản Việt Nam chỉ vì sự ganh tị trước một nước Mỹ giàu sang hơn là lòng trắc ẩn dành cho dân tộc Việt Nam. Bằng chứng, chính những phong trào được mệnh danh hòa bình này trong chiến tranh Iraq vừa qua, đã vận động người sang Iraq làm thành những vòng chắn người (Human shields) để bảo vệ cho chế độ Saddam Hussein khi liên quân Anh Mỹ chuẩn bị dội bom Baghdad. Các lãnh tụ hòa bình, phản chiến đó ở đâu khi tên đồ tể Saddam Hussein và tập đoàn tàn sát hàng triệu người dân Kurds, kể cả trẻ em vừa mới ra đời, bằng những phương tiện vô cùng phi nhân như hơi ngạt và vũ khí vi khuẩn. Hành động nhân đạo bao giờ cũng cần được khuyến khích nhưng hành động đó phải phát xuất từ tình người chân thật thay vì từ sự ganh tị cá nhân, quốc gia, tôn giáo.
Các nhà văn, nhà thơ phản chiến Mỹ ca ngợi Cộng Sản Việt Nam chỉ vì mặc cảm bị lãng quên sau cuộc chiến và ngây thơ về hoàn cảnh chính trị xã hội tại Việt Nam. Tôi đã hơn một lần ngồi chung với các nhà văn nhà thơ phản chiến này trong một số hội luận văn học dành cho các nhà văn, nhà thơ từ các quốc gia đã từng chịu đựng chiến tranh. Họ ngạc nhiên khi nghe những người cầm bút trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại nói về đời sống của một người Việt Nam sau 1975 với những trại tập trung, với nhà tù, sân bắn, với những khu kinh tế mới, với thảm cảnh hàng triệu người đã phải bỏ nước ra đi. Họ đến Việt Nam để gọi là góp phần xoa dịu vết thương của nạn nhân chiến tranh nhưng không hề biết nạn nhân thật sự của cuộc chiến Việt Nam là ai. Họ mời các nhà thơ, nhà văn mang quân hàm đại tá, được nhà cầm quyền Cộng Sản chỉ định hay cho phép sang tham quan hàng năm, để gọi là hòa giải với những cựu thù nhưng không biết rằng, những ngưòi họ thật sự cần hòa giải, những thương phế binh đang vá xe nuôi một bầy con ở góc đường Hà Nội, những “cô gái Trường Sơn” ngồi khóc tuổi thanh xuân không bao giờ trở lại trong căn nhà tập thể chật hẹp ở Hải Phòng, lại không được quyền có mặt và sẽ không bao giờ biết được những gì xảy ra ở thế giới bên ngoài.
Tôi muốn nói với các em, dân tộc chúng ta đã được những gì sau cuộc chiến Việt Nam. Một thành quả của đảng Cộng Sản mà các em nghe hàng triệu lần là thống nhất dân tộc. Vâng, thống nhất dân tộc là một nhu cầu cần thiết. Không một người Việt yêu nước nào không muốn dân tộc Việt Nam thống nhất, nhưng liệu cần thiết đến nỗi phải đổi bằng thân xác của 5 triệu người dân vô tội, hủy diệt mầm sống của 80 triệu người còn lại trong suốt nửa thế kỷ qua và hậu quả xã hội sẽ kéo dài không biết đến bao giờ? Tại sao Đông Đức không chọn con đường võ lực? Tại sao Bắc Hàn, sau cuộc thử lửa với Mỹ vào năm 1953, đã không tiếp tục chọn con đường võ lực? Nếu Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Cộng Sản thật sự là những người yêu nước, họ ít nhất phải học ở Erich Honecker và Kim Nhật Thành, dù độc ác bao nhiêu cũng biết sợ hậu quả không thể đo lường được khi phải đương đầu với Mỹ, một cường quốc mạnh nhất thế giới về khoa học kỹ thuật, kinh tế và quốc phòng. Con số năm chục ngàn binh sĩ Mỹ đã chết trong cuộc chiến Việt Nam tuy không nhỏ nhưng chỉ bằng một phần trăm mức tổn thất của phe hãnh diện rằng mình đã thắng. Nếu Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Cộng Sản miền Bắc thật sự là những người yêu nước, họ phải biết dừng lại ở hiệp định Geneve và chờ một cơ hội hòa bình, một giải pháp không đổ máu để thống nhất đất nước, thay vì thống nhất bằng xe tăng T54, bằng đại pháo, bằng trại tập trung, bằng nhà tù và sân bắn, để rồi gần ba mươi năm sau, con sông Gianh vẫn chảy trong lòng người.
Và tôi cũng muốn nói với các em một điều hệ trọng hơn tất cả những điều đã nói, rằng, dù em sinh ra ở Huế, Hà Nội hay Sài Gòn, ở San Diego, Santa Ana, San Jose, Sydney, Victoria, Oslo, Berlin, Paris hay một nơi nào khác, em cũng nên hãnh diện để nói lớn rằng “Tôi là người Việt Nam.” Định mệnh lịch sử khắc nghiệt đã đẩy các em vào nhiều hoàn cảnh khác nhau, điều kiện trưởng thành khác nhau, nhưng tôi tin rằng, một ngày không xa, tất cả những người con yêu của mẹ Việt Nam sẽ gặp lại nhau tại một điểm hẹn huy hoàng của lịch sử, đó là ngày phục hưng dân tộc Việt Nam. Em đang ở đâu và đang làm gì, hãy nỗ lực cho ngày đẹp trời đó của dân tộc. Những buồn đau chia cắt sẽ qua đi và một nước Việt Nam mới, tự do, dân chủ, nhân bản, khai phóng sẽ ra đời. Đó cũng là ngày, những người con của Mẹ Việt Nam ở năm châu bốn biển, sẽ hẹn nhau về lại Phong Châu, quỳ trước điện Hùng Vương và cùng thưa với anh linh Quốc Tổ Việt Nam: “Con có một tổ quốc.”
Tổ quốc của các em cũng là tổ quốc của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Trong đêm tối giữa nhà lao Phan Đăng Lưu hay trong buổi chiều mưa tầm tãm, tay dắt bà mẹ già 90 tuổi trên đường lưu đày ra huyện Vũ Đoài, Thái Bình, ngài vẫn một tấm lòng son sắt với quê hương:
Nghe lòng xa vắng những chiều đông
Nhìn nước mênh mông khắp mặt đồng
Bát ngát núi xa mờ bóng cọp
Thăm thẳm trời cao bặt cánh hồng
Bao độ cà tan cà nở nụ
Mấy mùa lúa rụng lúa đơm bông
Năm tháng mỏi mòn đầu đã bạc
Còn chút lòng son gởi núi sông
(–Thơ HT Thích Quảng Độ–)
Tổ quốc của các em cũng là tổ quốc của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Trong giờ phút cùng cực của khổ đau hoạn nạn tại Cây Vông, Phú Khánh ngày 8-12-1975, ngài đã dặn dò lấy chính ngài và cũng nhắn nhủ các thế hệ mai trong bài thơ Con Có Một Tổ Quốc hùng hồn như trang sử:
Con có một Tổ Quốc: Việt Nam
Quê hương yêu quý ngàn đời
Con hãnh diện
Con vui sướng
Con yêu non sông gấm vóc
Con yêu lịch sử vẻ vang
Con yêu đồng bào cần mẫn
Con yêu chiến sĩ hào hùng
Sông cuồn cuộn máu chảy cuộn hơn
Núi cao cao, xương chất cao hơn
Đất tuy hẹp nhưng chí lớn
Nước tuy nhỏ nhưng danh vang
Con phục vụ hết tâm hồn
Con trung thành hết nhiệt huyết
Con bảo vệ bằng xương máu
Con xây dựng bằng tim óc
Vui niềm vui đồng bào
Buồn nỗi buồn của dân tộc
Một nước Việt Nam
Một dân tộc Việt Nam
Một tâm hồn Việt Nam
Một văn hoá Việt Nam
Một truyền thống Việt Nam.
(–Thơ Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận–)
Tôi tin một ngày không xa, các em học sinh Việt Nam sẽ có cơ hội đọc lớn những bài thơ của các ngài trong giờ Việt Văn ở trường học các em, và bên ngoài cửa lớp, những cánh chim họa mi đang cất cao tiếng hót, báo hiệu mùa Xuân đang về trên quê hương không còn hận thù, rẻ chia, ngăn cách. Cám ơn Đức Hồng Y, cám ơn Hòa Thượng Viện Trưởng đã trao cho chúng con và các thế hệ mai sau niềm hy vọng Việt Nam.