CÂU HỎI CỦA MỴ CHÂU SAU KHI TRỌNG THỦY CHẾT

linhphuong

Trọng Thủy gánh non sông chạy về phía biển
Biển thét gào dậy sóng
Mịt mờ đường lông ngỗng
Đứng giữa hai đầu Tổ quốc
Hồn Mỵ Châu chắp tay hoa bật khóc
Đầu chít khăn tang

Ngó trời đất non sông
Nàng đớn đau bất lực
Máu hóa thành hạt ngọc
Chảy dài ra biển đông
Sóng vỗ bốn ngàn năm
Bóng ông cha chống gươm buồn vẫy gọi

Trường Sa lồng lộng gió
Hoàng Sa lồng lộng gió
Mỵ Châu đặt trong trái tim thương nhớ của mình vô vàn câu hỏi
Ai đánh cắp nỏ thần dâng cho giặc ?
Sao Thần Kim Quy nỡ đành nói sai sự thật
Để Mỵ Châu muôn đời mang tội với quê hương

Lịch sử có thể nào viết khác hơn
Giải oan cho người chết
Lịch sử có thể nào viết khác hơn
Tại sao nồi da xáo thịt ?

LINH PHƯƠNG

Tổ quốc là gì? Tôi vẫn tự hỏi

tuankhanh

Tổ quốc là gì, mà trước khi chết, Frederic Chopin, nhà soạn nhạc lừng danh của Ba Lan (1810 – 1849) cứ khắc khoải dặn dò trong lúc đau yếu, rằng hãy mang trái tim của ông về chôn cất ở quê nhà? Lưu lạc ở Pháp và Anh suốt trong 20 năm, nhưng Chopin luôn ngóng về đất mẹ, kể từ cuộc nổi dậy của người Ba Lan trước ách xâm lược của đế quốc Nga (1831).

Khi nghe tin cuộc cách mạng thất bại, dẫn đến việc hàng ngàn người Ba Lan phải ra đi lánh nạn, Chopin đã khóc và viết bản Etude cung Đô thứ (Op. 10, No. 12), còn gọi là bản etude Cách mạng, để ghi lại như một dữ liệu âm nhạc cho lịch sử đau thương của tổ quốc mình.

Tổ quốc là gì? Tôi vẫn tự hỏi

Với một nghệ sĩ cello tài danh, được cả thế giới chào đón như Mstislav Rostropovich (1927 – 2007), nơi nào cũng có thể là nhà, nhưng năm 1978 khi bị chính quyền Liên Xô cũ tước quyền công dân Nga, không cho trở về quê hương vì thái độ bất đồng chính kiến, ông đã đau khổ nói rằng “Nước Nga mãi trong trái tim tôi. Vậy mà tôi đã không thể quay lại để nhìn thấy tổ quốc và bạn bè của mình”.

Nhưng sau đó, năm 1991, khi Liên Xô tan rã, Rostropovich vội vã tìm cách bay trở lại Nga, xin một khẩu súng để được chiến đấu cho quê hương mình không còn chịu ách độc tài nữa. Lúc đó ông 54 tuổi, và đang được nhiều quốc gia như Anh, Canada, Nhật, Mỹ… sẵn lòng mời ông làm công dân danh dự của nước mình.

Tổ quốc, trong mỗi con người, ắt hẳn đều có những lý lẽ riêng cho sự ràng buộc lạ kỳ đó. Có thể đó là những lý lẽ dài dòng, hoặc chỉ là những cảm giác mơ hồ nhưng khó thể chối bỏ. Tổ quốc có thể gợi nhớ bằng hạnh phúc hay đau thương nhưng ký ức đó thì sẽ mang theo đến tận cuối đời như một món nợ trong tâm thức về nơi chốn.

Năm 2008, trong một bài nói chuyện về lòng ái quốc tại bang Missouri, ông Barack Obama đã nói với những người rất trẻ về tổ quốc và một tình yêu cho nó “khi đối diện với mất mát và hy sinh, con người trong một đất nước không bỏ chạy, không né tránh mà lại càng gắn kết với nhau hơn để đứng dậy, đó là tình yêu cho tổ quốc”.

Nước Mỹ là một quốc gia phải nói nhiều về tình yêu tổ quốc và giáo dục kiên trì ý tưởng đó, bởi đó là quốc gia của những người nhập cư, bao gồm nhập cư từ chính các nước có tư tưởng thù địch với họ. “Hãy bắt đầu bằng những ký ức đẹp đẽ nhất mà bạn đã sống trên đất nước này, gìn giữ nó bằng cảm giác đơn sơ nhất, thậm chí có thể bỏ ngoài tai các lời tuyên bố hay tranh cãi của các chính trị gia”, ông Obama nói.

Tổ quốc – đất mẹ

Thật bí ẩn khi đem vào tâm trạng của con người nỗi buồn ngập đến lúc ra đi, khi thấy mình bất lực. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888 – 1939) lúc say, đã giắt tấm bản đồ nước Việt rách ở lưng quần, lang thang ca hát nghêu ngao “Dù như sông cạn đá mòn. Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa” (Thề non nước).

Đất mẹ dưới ách thực dân, quan tham dẫy đầy, quân dữ lao nhao, người Việt không còn thương nhau, tổ quốc điêu linh, người trí thức nếu không viết xuống bằng thơ văn, thì biết phải làm sao?”

Tổ quốc là gì mà đời mình phải nhớ, đời sau phải giữ? Nguyễn Phi Khanh (1335 – 1428) khi kháng chiến chống quân Minh xâm lược nước Việt bị bắt, giải qua biên giới chịu tội đã quay lại dặn Nguyễn Trãi (1380 – 1442) rằng hãy quay về tìm cách diệt giặc cứu giang sơn. Trong Hận Nam Quan của nhà thơ Hoàng Cầm có hát lại lời xưa: Về ngay đi, ghi nhớ hận Nam Quan./ Bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt,/ Cha nguyện cầu con lấy lại giang san…

Với những người ghi danh trong lịch sử thì đã vậy, còn với từng con người Việt bình thường, tổ quốc là gì trong trái tim họ? Cô bạn có hơn 20 năm sống ở nước ngoài nói mỗi khi gần Tết Việt, nghe một khúc nhạc quê, nghe mùi hương trầm lại dậy lên nỗi nhớ nhà kinh khủng. Tổ quốc như một vết cắt trong tim, tưởng đã lành với nhiều người đi xa, nhưng không ngờ cứ nhói lên khi nghĩ đến.

Trong các cộng đồng người Việt xa quê, ngày Tết là ngày không thể quên. Nhiều khi Tết chỉ nằm trong trí tưởng tượng, Tết là ngày phiền toái vì phải trữ trong nhà những món ăn dài ngày không đúng theo luật vệ sinh của phương Tây, phải giải thích thật dài dòng cho lũ trẻ về một đất nước với nhiều huyền thoại mà ngày thường chúng không quen.

“Làm sao Việt Nam lại có những câu chuyện kỳ quái như một đôi vợ chồng lại đẻ ra trứng?” – “Nó là huyền thoại để ghi nhớ, để tìm hiểu về một quê hương có thật – mà dù lạ lùng đến thế nào chúng ta sẽ chấp nhận, phải giữ gìn, vì đó là nơi ông cha chúng ta sinh ra”, tôi nghe người cha trong gia đình giải thích cho đứa con sắp vào đại học, nói tiếng Việt đã ngọng nghịu.

Những câu chuyện về Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Ánh… là gia sản lớn nhất mà các bậc phụ huynh có thể tự hào nói với con cái mình – ở những vùng đất mà trẻ con hội nhập cuộc sống mới luôn nhanh và giỏi hơn, thậm chí dạy lại cho cha mẹ.

Quả là từng người Việt vẫn giữ gìn cho mình những điều không giải thích được về đất mẹ, dù khó lý giải được tận cùng các ý nghĩa. Cũng như mỗi người dù đi đâu, nơi nào, vẫn mang trong tim một gánh nặng yêu thương bí ẩn về quê hương, không dễ từ bỏ.

Lễ, Tết trong đời sống Việt xa quê, chỉ là dịp để gặp lại, để nhớ, để kết nối trong trí nhớ những ràng buộc mơ hồ về quê hương – mà đôi khi phải cố quên, nhưng thật dễ bùng lên thương nhớ. Một người bạn đã sống hơn 30 năm ở Mỹ kể rằng những năm 1970, số người Việt cứ báo bệnh, đồng loạt nghỉ vào ngày Tết âm lịch khiến nhiều công ty, hãng xưởng hoang mang, báo cho các cơ quan y tế về một bệnh dịch bí ẩn.

Sau này khi hiểu ra, nhiều nơi cũng châm chước vì đó là ngày không thể thiếu với cộng đồng Việt Nam. “Đôi khi, nghỉ cũng chẳng làm gì. Về nhà pha một ấm trà, ăn một cái bánh chưng và mất một ngày lương nhưng lại thấy vui, vì đó là phong tục xứ mình, phải giữ”, anh bạn Việt kiều kể lại.

Trong lịch sử hơn 2.000 năm không tổ quốc của người Do Thái. Tổ quốc – đất mẹ, là sự khắc khoải, là giấc mơ tìm về không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ. Từ những năm 60 trước Công nguyên, bị đế quốc La Mã xâm lược và xoá tên khỏi bản đồ thế giới, người Do Thái đã lưu lạc khắp nơi, và dù thành đạt ở đâu, đã quần tụ nơi nào… họ vẫn khát khao dựng lại quê nhà.

Trong Bài học Israel của nhà văn hoá Nguyễn Hiến Lê, điều mà mỗi người Do Thái cầu nguyện trước bữa ăn hay chào nhau, đều là “năm sau về Jerusalem”. Con cháu của những kẻ mất quê hương đó luôn được nghe và dạy nói như vậy, để biết và nhớ rằng mình có một tổ quốc.

Thật tuyệt vọng và viển vông với những người Do Thái góp tiền mua lại đất đai ở Palestine, dọn về xây dựng từ khô cằn và hoang mạc. Từ thế kỷ 19 đến sau đệ nhị Thế chiến, đến năm 1948 người Do Thái mới có cơ hội reo mừng dựng cờ trên đất mẹ, dù chung quanh đầy những quốc gia với tình trạng thù địch. Hôm nay, câu chào “năm sau về Jerusalem” vẫn được nhắc lại như một ký ức kiêu hãnh độc tôn của một dân tộc không từ bỏ tổ quốc của mình, dù trải qua ngàn năm quay quắt mong đợi.

Năm sau đến Hoàng Sa

Tôi có một người bạn ở Hà Nội, mà cứ thỉnh thoảng lại thấy ông treo hàng chữ “Năm sau đến Hoàng Sa”. Đó là một người sống cả đời vẫn chưa bao giờ có dịp ra biển đến gần Trường Sa hay Hoàng Sa. Nhưng sự âm vang trong lời hẹn của ông lại là sự khắc khoải kỳ quái đến mức suy nghĩ luôn luẩn quẩn về hai chữ Tổ quốc.

“Năm sau đến Hoàng Sa”, khẩu hiệu ấy đủ sức làm những ai nhìn thấy phải bật nhớ đến biển, đến mộ gió, đến những cái chết oan khiên của ngư dân và thanh niên người Việt được trao trách nhiệm gìn giữ quê hương mình. Đúng là chúng ta đã mất mát quá nhiều, nên đã đến lúc chúng ta cần đứng lại, cùng nhau, trên quê hương này.

Năm nay, tôi lại thấy người bạn đó treo cao câu “Năm sau đến Hoàng Sa”. Thật thú vị, tôi cũng thấy thêm một vài người treo khẩu hiệu đó. Hoá ra những người khắc khoải về quê hương không cô độc, dù là số ít. “Đến Hoàng Sa” chỉ là một khái niệm. “Đến Hoàng Sa” là con đường rất dài – có thể dài hơn con đường đến Jerusalem, có thể dài hơn cả 2.000 năm của người Do Thái, nhưng đó là con đường của những người yêu tổ quốc mình.

Nhiều năm, tôi vẫn không thể nào giải thích được trọn vẹn về ý nghĩa “tổ quốc”. Nhưng trong trí tưởng tượng của mình, tôi nhìn thấy đó là một ngôi nhà chung của bà mẹ Việt đã sinh ra rất nhiều đứa con.

Như trong câu hát Mẹ năm 2000 của nhạc sĩ Phạm Duy, có đứa đã là bạo chúa, có đứa là kẻ hèn, có đứa tham lam muốn bán đứng chính ngôi nhà của mẹ mình… nhưng dẫu thế, những đứa con còn lại rồi sẽ chung tay dựng lại, làm lại từ đầu, dù là tro tàn. Ngôi nhà đó – đất mẹ – và anh chị em tôi, tôi gọi tên, là Tổ Quốc.

TUẤN KHANH

XA RỒI

lephuhai

Xa rồi cát bụi mấy mươi năm
Chí lớn về đâu chí lớn thầm?
Rũ áo phong trần cơn mộng dữ
Lạnh về vai nhỏ rét căm căm
Lớp lớp thư sinh hề tráng sĩ
Mà tráng sĩ hề sống bao lăm
Còn mấy chàng Siêu ngày tóc bạc?
Lận đận tha hương những vết bầm.

Xa rồi khói bếp những chiều xưa
Một góc vườn hoang mấy gốc dừa
Ly biệt ly biệt sầu ly biệt
Mẹ ngồi lau sậy dáng đong đưa
Thương đứa con ngày xưa bé bỏng
Mòn đời trận mạc đã về chưa?
Cha già ngoảnh mặt che thương nhớ
Tiếng đàn hiu hắt mấy cơn mưa.

Xa rồi năm tháng cũ chơi vơi
Lửa khói binh đao dậy ngút trời
Ai cứ nhiều nhương mà thắng trận
Ta đành ngã ngựa mảnh hồn rơi
Em có theo ta về cõi nhớ
Những ngày mộng ảo biệt trùng khơi
Thương tiếc về đâu miền quá vãng?
Chim vàng nức nở gọi tình ơi!

Xa rồi ta có nhớ gì không?
Nghìn dặm quê hương mấy tấc lòng
Lá xác xơ bay buồn riêng nỗi
Khúc hát ngày về ai ngóng trông?
Chinh phụ ta xưa giờ tóc bạc
Phù dung cũng chết bởi hoài mong
Còn chút lòng ta là đồng vọng
Ai có còn không có còn không?

Lê Phú Hải

MÙA ĐÔNG QUẢNG NGÃI

tranthoainguyen

Tháng Chạp tôi về quê với Mẹ
Trời mùa đông Quảng Ngãi không mưa
Nắng ấm bàn chân mẹ nhẹ bước
Mà thương quá đỗi con đường xưa!

Làng trên xóm dưới tre cau quạnh
Bốn mươi năm ngóng đợi u hoài
Tôi gõ cửu đình:Không thần thánh,
Mẹ tôi già đâu còn tương lai!

Tôi điêu linh khóc mẹ lầm than!
Mẹ tôi ơi hỡi trời Việt Nam
Mùa đông Quảng Ngãi đồng khô nước
Lúa thì con gái lệ chứa chan!

Tháng Chạp tôi về quê bên Mẹ
Ăn mày chút kỷ niệm ấu thơ
Vườn quê cây lá xanh tình bạn
Chim gọi mùa vui hương thoảng mơ!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Nguyễn Bắc Sơn và nỗi kiêu mạn của tuổi trẻ thời chiến

tranhoaithu

Có lẽ so với Cao Bá Quát, cái cao ngạo của Nguyễn Đức Sơn còn trội hơn một bậc. Xin đọc lá thư gởi vợ viết từ nhà lao Bảo Lộc ngày 25 tháng 8 năm 1972, được dùng làm tựa trong thi phẩm Du Sỹ Ca, mới thấy cái mức độ cao ngạo này:

“Anh tin rằng tất cả những đứa làm thơ từ đây trở về sau đã vang danh thi sỹ từ bao kiếp trước nếu không đọc thuộc lòng ít nhiều bài Du Sỹ Ca này đều chẳng phải là thi sỹ nữa… (Du Sỹ Ca – An Tiêm xuất bản).

images (8)
Nguyễn Đức Sơn
dinhcuong

Nhưng có một người thơ khác, cũng kiêu ngạo không kém.
Người ấy là Nguyễn Bắc Sơn. Trong một lá thư gởi đi từ Phan Thiết đăng trên tạp chí văn nghệ “Sóng” do những người viết trẻ chủ trương, và chỉ sống được vài số, ông xem những người đàn anh mà ông cho là những lý thuyết gia khuyến hành ngây thơ, những kẻ chưa giác ngộ về mục đích đời sống.
Ông viết:
” Khi anh chưa biết ”Sống để làm gì”, anh không thể khuyên bảo người khác nên sống như thế này hay nên sống như thế kia, nên tranh đấu cho lý tưởng này hay tranh đấu cho lý tưởng kia.
Các bậc đàn anh tôi kể tên (Kim Định, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn) giống như những kẻ chỉ đường sốt sắng trong câu chuyện sau đây:
Có một người khách lạ đi ngang qua một thị trấn. Trong thị trấn ấy có ba người sốt sắng. Ba anh chàng này chặn ông khách lại. Anh chàng thứ nhất bảo ông khách : “Anh nên đi đường này”, trong khi anh chàng thứ hai bảo: ” Không, đi đường kia mới đúng”. Nhưng anh chàng thứ ba lại bảo con đường anh ta chỉ cho ông khách mới thật là “con đường đúng nhất”. Ba người thi nhau vẽ bản đồ tỉ mỉ trình bày con đường mình đề nghị cho đến khi ông khách chậm rãi hỏi: ” Các anh có biết tôi định đi đến đâu không mà các anh sốt sắng chỉ đường thế ?”
Và chắc chắn cũng có rất nhiều người khác nữa như Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn. Không phải họ theo cái mốt thời thượng như buồn nôn, nổi lọan, hay tuổi trẻ phản kháng… Đừng buộc tội họ như vậy, trong khi tuổi trẻ của họ như thế này:
…Bức thư đến đây tưởng có thể chấm dứt được nhưng tư nhiên tôi thấy hứng thú mời anh rời bỏ thế giới tư tưởng để đi vào cõi thế giới thi ca. Vì anh cũng là một kẻ làm thơ. Tôi muốn đọc những bài thơ tôi viết sau những giờ thiền định. Tôi cũng sẽ kể cho anh nghe một vài quãng đời của một người tuổi trẻ tại thành phố Phan Thiết trong đó y đã say mê tình yêu, say mê bạo động, say mê thi ca, say mê triết học, say mê câu cá. Y đã từng mang theo chiếc lưởi lam leo lên ngọn đồi nghĩa địa để cắt đứt mạch máu vì triết lý. Y đã từng đọc sách cả tháng không bước ra khỏi nhà. Y đã từng bán ”sôn” tất cả sách quí để say sưa cùng bằng hữu. Y đã đi làm thông dịch viên Lực Lượng Đặc Biệt để nhìn tận mắt chiến tranh Việt Nam. Y đã thiền định. Y đã ăn gạo lức muối mè…
(Thư Nguyễn Bắc Sơn gởi Nhất Hạnh, tạp chí Sóng, năm 1972, trang 38-39)

NBS
Nguyễn Bắc Sơn
dinhcuong

Xét cho cùng, chúng ta cũng nên thông cảm ở nỗi bất mãn của họ. Khi mà chiến tranh cận kề, khi mà miệng lưỡi họ câm, khi “phần chết thì dành cho thanh niên còn phần sống thì dành cho những ngài hàn lâm áo thụng”, khi mà văn học chỉ được nhắc nhở ở Sài Gòn, qua những chiếu trên chíêu dưới,thì dĩ nhiên, tiếng kêu cần phải thoát ra cổ họng, phải tuôn trên giấy, cho dù tiếng kêu của loài ễnh ương đi nữa.
Có thể những nỗi kiêu mạn này gây dị ứng cho một số người. Tuy nhiên, chúng phản ánh những suy nghĩ thầm kín nhất của một thế hệ bị thiệt thòi về mọi phương diện trong chiến tranh và ngay cả sau khi hết chiến tranh. Chúng cũng phản ánh một nền văn học tự do ” yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét…” trái ngược với văn học miền Bắc, giả dối, tuyên truyền, một chiều, dựa và đơn đặt hàng, triệt tiêu cảm xúc.

Trần Hoài Thư
August 7, 2015
Source: http://www.pd4pic.com

TÔI THẤY

nguyendinhbon

Em nhỏ đánh giày mười hai tuổi
chiều qua tôi gặp ngã tư đường
chuyển mưa ánh chớp lòa trong mắt
gữa dòng xe mù mịt khói tuôn

Cụ già tôi thấy trên phố rộng
còng lưng xe rác nhô vai gầy
một đời đã ngã sang hố lạnh
tiếng sét trên đầu bao lá bay

Cô điếm dưới hàng sao cổ thụ
đêm qua đứng khóc nhớ làng quê
thân đã tàn như dòng nước bẩn
cơn mưa không gột được ê chề

Tôi thấy những mùa u ám qua
mùa nay đang chuyển giữa quê nhà
đêm qua tôi xếp tình yêu lại
để bút đau cùng tiếng sấm xa!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Bóng tàn phai

nguyenminhphuc

Trăng lạnh quá buồn một trời thê thiết
Đêm nghìn sau chạm với cõi vô thường
Tên cuồng sĩ chiều một mình tiễn biệt
Một người về chìm dưới bến thu sương

Vất cung kiếm ngồi mơ về viễn xứ
Bến sông buồn khuất bao nẻo mưa qua
Sao chẳng thấy ai mang vầng trăng cũ
Để về đây nghe hiu hắt quê nhà

Thắp đèn khuya ngồi mơ chiều đại mộng
Áo giang hồ gửi lại bến sông xưa
Ôm mặt khóc giữa trần gian quá rộng
Tiếng chuông buồn vấp bóng dọc sông mưa

Chỉ còn lại một vầng trăng ngày cũ
Và trang kinh đã mục nát phai tàn
Tên cuồng sỹ chắp tay ngày du thủ
Khuya một mình chao bóng gióng chuông tan…

NGUYỄN MINH PHÚC

NGUYỆT THỰC

khuatdau

Như những chiếc lá bàng cùng chết tập thể trong mùa đông, cả đại đội cùng nằm phơi xác trên đỉnh đèo.
Chiều xuống.
Rồi trăng lên.
Những linh hồn trẻ theo ánh trăng đang dắt díu nhau tìm về quê cũ. Nhưng anh không về được. Anh chưa thật chết. Một mảnh đạn ghim vào lưng khiến anh nằm bất động.
Khi đơn vị giải cứu đưa những xác đã bốc mùi lên xe, người ta tìm thấy anh mềm oặt như một sợi bún. Nhưng một sợi bún hãy còn một chút ấm nóng nên người ta đưa anh vào quân y viện.
Sau ba mươi tháng tư, anh bị đem bỏ ra đường. Mẹ anh tìm đến. Bà ôm anh vào lòng như mười chín năm trước bà đã sinh anh ra. Đối với bà, anh vẫn là đứa con vẹn toàn và xinh đẹp nhất. Bà mớm cho anh ăn và hát ru cho anh ngủ. Bên tai anh không lúc nào ngớt tiếng à ơi. Bà đặt anh nằm bên cửa sổ, vì vậy trăng và anh vẫn thường trò chuyện với nhau. Dĩ nhiên mẹ anh không hiểu, nhưng bà biết được anh vui mỗi khi nhìn thấy trăng.

Bọn họ được đưa tới trong đêm sau khi bị buộc phải rời bỏ thành phố. Nơi đây là vùng đất mới dành riêng cho họ, những kẻ bị buộc tội ôm chân đế quốc và bóc lột.
Một khu rừng toàn cỏ tranh và những bụi tre rừng đầy gai. Một con suối nước không chảy nổi ngập đầy lá mục, hứa hẹn sẽ ban phát cho họ một cách công bằng và hào sảng các bệnh sốt rét, thương hàn.
Nàng mười bảy tuổi. Vạt áo trắng nữ sinh ngày nào được xé ra căng trên mặt xô để lọc nước. Cha nói vui, uống nước này nghe có mùi học trò. Mẹ nói, tôi lại nghe ra mùi nước mắt. Cha bảo, từ nay không ai được khóc. Hãy cắn răng mà sống.
Và họ sống được. Bằng chút ít lương thực mang theo. Bằng măng tre rừng. Và sau cùng là bằng than đốt được từ rừng cây phát quang.
Thành phố đã không còn là quê nội. Cũng không là quê ngoại. Nhưng mà nhớ. Nhớ nôn nao. Nhớ cồn cào. Nhất là những đêm trăng. Nàng không ngủ được, vẫn thường lang thang ra tận bờ suối. Con suối dưới trăng như có vẻ huyền bí. Nó rủ rỉ kể cho nàng nghe chuyện những con nai, con thỏ, chuyện những con sông và những cây cầu. Nhưng nàng chỉ muốn nghe chuyện của phố phường. Nàng rời bỏ suối, tìm lại con đường trở về phố.
Nàng đi suốt đêm theo ánh trăng, thấy mình đang nghiêng nghiêng dưới những mái lầu. Rồi qua công viên, qua trường học cũ, nhìn thấy ánh điện trong ngôi nhà mình. Mặc dù cha đã cấm, nhưng nàng vẫn khóc. Nước mắt và sương làm áo nàng ướt đẫm.

Hãy đi theo ta, ánh trăng bảo.
Nhưng làm sao đi được, hai chân tôi đã không còn nhúc nhích
Ta cũng đâu có chân, nhưng chỗ nào mà ta không tới được. Không đi được bằng chân thì đi bằng hồn.
Từ đó, anh rời bỏ cái xác thân bất động của mình để đi theo ánh trăng bát ngát. Trăng đưa anh đi qua những dòng sông, những cồn bãi. Qua những xóm thôn yên ngủ. Qua những phố thị thức suốt đêm dài.
Và anh đã gặp nàng.
Em đi tìm ai, anh hỏi.
Tôi đi tìm tôi.
Tìm em?
Vâng, tìm chính tôi.
Em đánh mất mình khi nào?
Tôi không đánh mất. Tôi bị cướp mất. Còn anh?
Tôi sống lại.
Anh đã chết một lần rồi sao?
Gần như thế.
Làm sao anh sống lại?
Tôi theo ánh trăng.
Tôi cũng vậy. Trăng giúp tôi tìm lại chính mình.

Từng đêm, nhất là những đêm trăng tròn, họ sóng đôi đi bên nhau. Người nọ trở thành chiếc bóng của người kia. Họ đi qua những cánh đồng lúa trổ ngát thơm. Qua những con đường làng nằm ngủ hớ hênh. Qua những phố không đèn mỏi mệt. Một đôi lần họ đi qua những chiến trường xưa. Hãy còn những ụ súng, những hố bom, những xương khô lấp lánh. Trên đỉnh một ngọn đồi, nơi trước kia hai khẩu pháo155 ly ngày đêm thi nhau nhả đạn, họ tìm thấy những vỏ đạn han rỉ nằm lăn lóc.
Chúng tôi đã chơi trò bắn giết nhau, anh nói, tay chúng tôi đã từng nhúng máu đồng bào mình. Đến bây giờ tôi cũng chẳng hiểu vì sao!
Anh ân hận?
Không, chúng tôi đâu có quyền gì trong cuộc chiến này, chúng tôi chỉ làm theo mệnh lệnh. Điều không hiểu được là tại sao chúng tôi lại làm theo răm rắp trong khi chúng tôi biết quá rõ đó là những mệnh lệnh xuẩn ngốc.
Họ ngồi tựa lưng vào nhau, mắt họ nhìn vào hai hướng khác nhau. Trăng tràn ngập đất trời. Đất trời trong sáng quá nhưng tương lai họ tối đen. Bỗng họ quay mặt vào nhau, người nọ nhìn sâu vào mắt người kia. Họ thấy mình trong đó, cô đơn và lạnh lẽo như một hòn cuội trong lòng giếng. Họ không hôn nhau, nhưng một lúc sau, anh nói:
Tôi muốn nhìn thấy em.
Em cũng muốn nhìn thấy anh.
Họ cởi áo quần cho nhau. Cả hai đều rất đẹp. Dưới trăng, họ như hai chồi non mới mọc. Họ chiêm ngưỡng lẫn nhau, thần phục lẫn nhau. Sau cùng họ san sẻ cho nhau. Đó là một đêm trăng rất viên mãn giúp họ kéo dài những cuộc rượt đuổi trên thân thể của nhau tới tận sáng.
Cô đi đâu suốt đêm qua và cả ngày hôm nay?
Đi chơi.
Cô trốn về thành phố phải không?
Muốn là về. Việc gì phải trốn.
Cô chống lại chính sách hả?
Tôi chẳng chống cái gì hết. Thích là đi vậy thôi.
Từ nay muốn đi đâu là phải xin phép, biết chưa?
Tôi sẽ đi nữa. Chẳng cần xin phép ai.
Đồ phản động. Liệu hồn đấy.
Những cán bộ tự quản bỏ đi. Bà mẹ vẫn chưa hết lo sợ, nói: con đi đâu vậy? cả nhà sợ lắm. Con đi theo ánh trăng. Nào có ai nhốt được trăng đâu mà mẹ lo. Cả nhà tưởng nàng lam lũ quá sắp hóa điên. Có người bảo nàng bị bệnh mộng du. Cách tốt nhất là xích chân nàng vào giường. Nhưng cha nàng bảo như vậy là giết nàng.
Những đêm sau, bão từ biển xa đem hàng triệu tấn mây thả xuống núi rừng. Trời đất tối đen như bị nhốt kín trong hầm than. Nàng rất nhớ anh, nhưng chỉ biết ngồi trong lều nhìn gió mưa gầm thét.
Cánh cửa bên chỗ anh nằm bị gió đập suýt rời ra khiến bà mẹ phải dùng dây buộc chặt. Anh cũng bị nhốt. Chỉ có ánh trăng trên cao, cao lắm, tự do thả mái tóc vàng óng lên đầu những đám mây ướt sũng.
Cả một mùa đông dài ẩm ướt sau đó, họ không gặp nhau. Anh mấy lần mắt không nháy, mẹ phải hú hồn hú vía cho anh sống lại. Những lần ấy, trong đôi mắt sâu của con, bà thấy ứa ra hai giọt nước.
Cả nhà nàng đang đói, đứa em nhỏ của nàng không còn đủ sức để khóc. Nó như một đọt rau héo trên tay mẹ. Cha phải trốn xuống phố làm nghề bốc vác. Nhiều cô gái và cả những bà mẹ trẻ cũng về lại phố bán những thứ ít ỏi trời cho. Chẳng ai buồn nhớ đến trăng ngoài nàng. Lạ một điều, càng đói nàng càng đẹp. Mẹ ngắm nàng mà rơi nước mắt.
Mùa xuân năm ấy, một người trong ban tự quản đem đến tặng nàng rất nhiều gạo, nhiều đường. Có sữa, nhiều hộp cho em bé. Có vải, nhiều thước cho mẹ và nàng may quần áo.
Nàng muốn ném tất cả xuống suối, nhưng mẹ bảo: đừng. Cha cũng bảo: cái lưng của tao cũng sắp gãy rồi. Nhà này sắp chết đói đến nơi. Nó cho mà không nhận là tự đào hố chôn mình. Nhiều người đàn bà cũng nói, em ơi, như thế là được giá lắm đấy, bọn chị rạc rài cả đêm cũng chỉ mua được vài cân gạo mà thôi.
Nó còn hứa, lấy nhau xong nó sẽ đưa về phố. Trước mắt là nàng, sau đó là cả nhà. Chưa bao giờ sắc đẹp lại có quyền lực lớn to như thế. Cả nhà cùng ừ.
Trời lúc ấy hãy còn lạnh, nền trời trong vắt. Mặt trăng mới hiện ra, mỏng và đẹp như một nụ cười. Nhưng chỉ một thoáng, trăng lại chìm vào núi rừng. Nàng phải chờ trăng lớn lên mới có thể theo trăng đi tìm anh. Và anh chắc cũng vậy.
Rồi trăng hườm hườm và sau cùng trăng chín vàng hực. Trăng đưa nàng đi trên một con thuyền có những cánh buồm mỏng như lụa. Nàng lại đi qua những cánh đồng, những dòng sông, những phố chợ, cả những hố bom chưa kịp lấp. Đi mãi, nhưng chỉ một mình. Đi mãi tới khi trăng mỏi mệt vẫn không gặp được anh.
-Còn anh, trời nhiều sương đêm và hãy còn gió bấc nên mẹ anh vẫn chưa mở lại cửa sổ. Qua khe cửa, anh biết là có trăng sáng bên ngoài nhưng không biết làm sao để gọi mẹ. Anh nằm nghe tiếng gió thổi, tưởng chừng như tiếng bước chân của nàng xạc xào trên lá khô.
Đêm sau, báo đài cả nước báo tin có nguyệt thực toàn phần. Nhưng giữa núi rừng, chẳng ai buồn biết trên trời sắp có chuyện lạ. Không đợi mọi người ngủ say, nàng đã lại nương theo ánh trăng đi tìm anh. Nàng không lang thang giữa đất trời mà đến ngay thành phố. Nàng tin rằng anh đang ngồi trên một ban công nào đó. Trăng ở phố xanh xao ốm yếu, nhưng vẫn đủ soi sáng bước chân nàng. Đi qua những mái nhà, những sân thượng trên cao ốc, qua những mái chùa cong vút và cả những tháp chuông dốc ngược, qua hết ban công này đến ban công nọ nhưng vẫn chưa gặp được anh.
Lúc ấy đã quá nửa đêm. Một vệt đen xuất hiện trên mặt trăng như một cái bớt nhỏ. Rồi bớt lớn dần, lớn dần như một con gấu đen cuộn mình ôm trọn cả trái bóng.
Dân phố nhiều người thức đợi. Người ta chỉ chỏ, nói cười. Khi bóng đen phủ kín mặt trăng, người ta trông thấy một luồng ánh sáng như sao băng rơi từ từng lầu thứ mười tám xuống đất.
Đó là lúc nàng bước hụt chân.
Sau cánh cửa kia, anh nghe nhói trong tim và không bao giờ mở mắt ra nữa.

KHUẤT ĐẨU

NGÀN DẤU YÊU XƯA…

vuhytrieu

với tay chạm bóng thời gian
ngàn xưa rơi xuống vô vàn dấu yêu
từ sâu thăm thẳm của chiều
lòng tôi lay động ít nhiều tiếc thương
tôi về dốc nhỏ mù sương
vàng hoa thoang thoảng chút hương dịu dàng
xa người từ những ly tan
trong tôi vọng khúc bàng hoàng xót xa
nhớ người sương khói phôi pha
khói sương dường đã nhạt nhoà dấu xưa
đâu rồi chủ nhật chiều mưa
nắm bàn tay ấm tiền đưa người về
tháng ngày lạnh đẫm cơn mê
thông rơi phủ kín hẹn thề năm nao
ngàn xưa…một giấc chiêm bao
thời gian như đổ bóng vào hồn tôi…

Vũ Hy Triệu

là đã yêu em

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

kiếp xưa ta đẹp giai
mà em còn vội bỏ
giờ muốn thành thiên tài
tình lại hoá thiên tai

muốn làm tên cầu bại
lê kiếm khắp giang hồ
mà đôi chân cứ vướng
bàn tay em sóng xô

ngày tháng trên đá dựng
không mòn nét phong sương
lang thang ta giầy cỏ
độc đạo một con đường

kiếp này em không bỏ
nhưng ta đành ra đi
tình như mưa phút cuối
rơi xuống thành cổ thi

từng vết thương thành bại
trên da thịt giang hồ
soi trong mầu nắng úa
mầu máu vẫn chưa khô

trăng xưa trên đầu núi
đã rơi vực sâu kia
ta như là hạt bụi
đi nối những chia lìa

thôi,về rừng đốn củi
nghe từng chiều mưa râm
muốn ghi trên vách đá
chỉ một điều không lầm…

Ngô Yên Thái