NÉM ĐÁ VÀO PHẲNG LẶNG VÀ ĐÒN THÙ CỦA THA HÓA

dami

13177201_1021882287867144_3663948909482267921_n

1.
tôi làm thơ nựng con mèo
từng câu rớt xuống bao nhiêu là lời

cái bài thơ nhẹ bẫng, không hàm một triết lý nào, lại dẫn tôi chạy về với yêu thương cuộc sống tràn bờ. thơ của trường, in hệt hắn, đầy ắp tình yêu với ngày tháng tên tuổi con mèo cái lá.
chẳng có bài thơ nào đem ra rổn rảng đọc bên bàn nhậu. chẳng có câu diễm tình nào để học thuộc mà thủ thỉ với giai nhân mộng đẹp. không hề có khái niệm cứu chuộc nhân loại với mớ triết học đỏm dáng. cũng chưa từng có ý định vun vén ú nu kho đụn chữ nghĩa để in thành tập rồi ngắm cái bìa, ngó cái gáy, nhìn cái tên mình mà tự… khoái cảm thẩm mỹ vân vân và vân vân.
chưa từng nghe hắn lập ngôn cho chuyện viết. không hề có chuyện viết là dạo chơi, chữ nghĩa là sân chơi kiểu phũ phàng vô trách nhiệm, kiểu ta đây sinh ra đời để dạo chơi rồi về.
trường có lần nói với tôi, ngắn: chữ của em quý lắm!
dòm thì biết. viết rất ít. mà không phải cái nào cũng tròn trịa đầu mình tứ chi. dòm, cũng biết, viết xuống, là cách cuối cùng để giải quyết một bức bách, một cùng quẫn, hoặc, một yêu thương không thể nói.
viết xong là vứt tung tóe. bởi, cái việc đã xong rồi thì không lý tới làm chi nữa
cho nên, thay vì lập ngôn bự sự, trường nói: nếu viết xuống được hết, em sẽ chết mất, vì khi đó trong em là trống rỗng.

2.
một lần cùng đi lên tây nguyên, một bạn vong niên sau cả ngày chơi chung đã buột miệng hỏi, trường người miền nào?
vì đơn giản, cả cái ngày chơi chung đó, hắn tịnh khẩu, chỉ cười, hiền lành. không ai biết hắn mang phương ngữ nơi mô để định quê quán.
sự hiền lành đó, như là trên cơ tất thảy. độ lượng, rộng lớn hơn. trong cái đời sống đầy dẫy sự thịnh nộ, đôi khi không lý do, và đầy dẫy sự độc địa, đôi khi không nguyên cớ, thì hắn, luôn như một trạng sư bao biện hết cho từng ngách xấu con người…
không lập tòa phán xét ai. nhưng rạch ròi giới tuyến bạn và không bạn. chỗ đôi khi cực đoan. nhưng con người mà, âu cũng là một sự độ lượng trong hệ quy chiếu của hắn. tránh xa để không làm tổn thương nhau.
nhưng trong hắn đầy ắp căm phẫn trước sự tha hóa. đã từng nhìn thấy khí hận bốc ngút đầu khi hắn xé tan tành một tờ báo văn nghệ đăng một bài nhiễm độc của một cây viết/độc trùng. không thõa hiệp với tha hóa, nên chi nhận lại, trong đời, sự phản phé của tha hóa, nhiều đòn thù khủng khiếp.

3.
không giỏi bia rượu. không ham bù khú. đôi khi lẫn quẫn chuyện nhà. nhưng như là rất ít có giấc ngủ bình yên. nói, em sợ giấc ngủ, sợ khi nằm xuống. nằm xuống là lúc bào cũng ám ảnh hai cây súng kề vô đầu.
nghe khủng khiếp quá. thượng đế sinh ra chi con người để đày đọa bằng cái án treo khủng bố kiểu is ám ảnh đến vậy. kêu đi khám thì nói thầy lang xứ ni tin chữa được bịnh em mới lạ.
sự phẳng lặng của đời sống với một thành phố yên ả có sông có núi có biển, sao lại dẫn đến nỗi bất an thế kia?
đêm nghe hắn ru con nai ngủ. bài ru êm đềm cái chất giọng ấm mười lần hơn tuấn ngọc, ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh quán tự tại…, hết một vòng thì lại tới thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni… những bài ru ăm ắp nhạc tính thiện lương, chở thẳng vào lòng không cần ám giai, đi thẳng vào hồn không cần hình tướng. mạnh mẽ khúc chiết dường ấy lẽ nào lại đi ra từ một nỗi bất an khôn lường?

4.
cái đau quặn, không tới từ bất kỳ một hành vi nào của con người đơn lẻ.
khi ngồi cùng nhau đó, nhìn hắn đòng đưa chân hoặc, cười (kiểu đạo trưởng hay trẻ thơ) thì cũng thấy một khối cô độc. cái khối cô độc bền vũng không vật thể hữu hình hay vô hình nào có thể xuyên thủng, chen lọt.
cái ám tượng hai cây súng kê thái dương, dường như là cái đau quặn trước sự tha hóa của giống nòi, tôi không chắc lắm. nói, nếu phải banh xác ngay đây để đổi lại một mầm thiện lương tích đủ cho con người, em sẵn sàng. nói, sự ươn hèn giết chết chính chúng ta. nói, em chết cho con nai được an toàn thụ hưởng đời sống bình thường thì nên chết lắm đây.
rồi đôi khi viết. chữ như rịn máu!
những ngày con cá chết, hắn loay hoay như triệu người khác loay hoay. không, không hề có một cuộc nổi loạn cách mạng nào. chỉ là muốn tận cùng phơi mình ra chỉ báo: tôi phẫn nộ.
nhắn: mai em sẽ xuống phố với khẩu trang con cá và tấm bảng chưa biết viết chi.
nghe buồn lắm. không còn là cái khối cô độc nữa, mà đã quánh đặc thành biểu tượng. tôi trả lời yếu ớt: đừng. đừng!
nhưng biết là không thể. có thể đây là phác đồ tốt nhất để loại bỏ ám tượng cây súng kê vô đầu, bởi ít nhất một lần dõng dạc tuyên chiến cùng tha hóa.
bắt. dĩ nhiên. rồi thả. pháp luật lỡ đã minh định như thế.
bạn bè dù mạnh mẽ đến đâu đều đã bật khóc trước bức ảnh lan nhanh như điện xẹt trên mạng. người lữ hành cô độc. cartonman. sandwich man… dù có chế giễu hay không, thì sự lay thức dữ dội của hình ảnh đó đã đánh thức rất nhiều kẻ bàng quan.
nó đập vỡ nát rất nhiều vỏ ốc.
nó không nhân danh gì hết. nó là biểu tượng người. người thật. người không sợ hãi không trình diễn không giải bày. người, tuyên bố!

5.
và đến lúc, một lần nữa, tha hóa nhân danh phẳng lặng phục thù.
phẳng lặng gia đình nhân danh lịch sử và ý thức hệ, để bảo vệ những quyền lợi đang có nguy cơ bị tước đoạt, phản xạ ngay lập tức là loại trừ một quẫy đạp.
phẳng lặng khác, là nỗi sợ của nơi dung túng cho mầm móng phản loạn làm việc. phẳng lặng việc làm vô cùng quan ngại trước sự nỗi loạn. phản xạ là im lặng và tránh xa.
phẳng lặng khác nữa, cây gươm định kiến, sự hằn học của tha hóa treo lơ lửng trên đầu một gia đình nhỏ, với biết bao lời đe dọa, không phải lời suông.
sự tha hóa luôn biết cách trả đòn!

6.
tận đáy lòng mình, tôi tự hào. tự hào vì, tôi là bạn của trường! tự hào vì, tôi đã bước qua hết cái sợ còn lại khi chứng kiến bước chân cô độc của bạn tôi.

ĐA MI

BIỂN CỦA NHỮNG THÁNG 4

chieuanhnguyen

Tôi đang khóc cho dân tộc tôi
Một buổi ngày nhìn thấy bóng những con người soi trong biển nước
Có xác đồng bào trôi về từ thế kỉ trước
Gian nan
Cay đắng
Tủi hờn
Chết trên đường tìm đến tự do

Tôi đang khóc cho buổi sáng ngày
Những tháng tư định mệnh
Những tháng tư oan khiên của bốn mươi năm ròng
Bóng dân tộc mình trôi trên cay nghiệt
Hôm nay
Tôi đang đi giữa ngày
Giữa tự do của thép gai
Hàng rào dựng hiên ngang giữa phố
Tôi thấy bóng dân tộc mình mấy ngàn năm vẫy vùng
Thoát gọng kềm đô hộ
Đến bây giờ đã chấp nhận kiếp vong nô

Biển mùa này cháy rực những nấm mồ
Tôi thấy lời nguyền của những oan hồn
Sài gòn thép gai rào chắn, hơi cay, dùi cui và máu
Của 41 năm sau tên gọi hoà bình
Tôi thấy tổ quốc lênh đênh
Trên chướng nghiệp trên hoang tàn trên máu xương oan ức
Tổ quốc soi bóng trên biển tháng tư rã mục
Tháng tư về…

CHIÊU ANH NGUYỄN

Nhân dân mãi mãi là người đến sau

tuankhanh

Tháng 4/2016, cá chết trắng dọc bờ biển Hà Tĩnh cho đến tận Thừa Thiên Huế. Suốt 3 tuần lễ dân chúng hoang mang, người đi biển chết đứng chết ngồi. Báo chí tố cáo Formosa – Khu Công nghiệp Vũng Áng do người Đài Loan – Trung Quốc đầu tư làm chủ là nơi gây ra tai họa. Thế nhưng, nhiều ngày sau khi thảm kịch lan tràn, ngày 22/4, Bộ Tài nguyên và Môi trường mới có một cuộc họp với chính quyền tỉnh Hà Tĩnh, nhưng lại là họp kín, không cho báo chí tham dự. Đoàn công tác của Bộ này nói “luật không cho phép báo chí tham dự (?)”, nhưng đồng thời cũng nhắc là “đây là công tác kiểm tra định kỳ” nên không có gì để báo chí vào xem.
Có nhìn thấy những bầy cá nằm chết vật vã, tràn trên bờ biển bởi các loại thuốc cực độc, mới thấy kinh hoàng. Các loại chất đầu độc biển cả đó, đều nằm trong số 45 loại hóa chất độc hại do Formosa được phép nhập về. Người hay cá cũng đều có thể là nạn nhân trong một thời gian ngắn với các loại hóa chất này. Nhưng mỉa mai là kết quả điều tra tìm thấy, thì do các chuyên gia về độc học mà báo chí tự mời phân tích và công bố, còn đoàn công tác của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì ngoài chuyện ngăn không cho báo chí vào lấy tin tìm hiểu, chỉ đưa ra những kết luận mơ hồ.
Người ta không biết rồi cuộc họp đó giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và chính quyền Hà Tĩnh, khu tự trị Formosa đó sẽ công bố điều gì với báo chí. Ung dung với sức mạnh về tiền bạc và thế lực kiểu Chaebol, chủ đường ống chất thải độc có thể sẽ đưa ra những bản kết luận nhòe nhoẹt với trách nhiệm không thuộc về ai. Bất chấp nguồn tài nguyên biển hàng trăm cây số của Việt Nam bị hủy diệt, môi trường sống của hàng triệu con người bị đảo lộn, đe dọa.
Người dân Việt Nam thường là người biết sau, chỉ vỡ lẽ khi hiểm nguy kề sát bên mình. Không ai ngờ rằng đường ống xả chất độc từ Formosa, là chính là hệ thống được Bộ Tài nguyên và Môi trường ký giấy cho phép và xác định là luôn kiểm tra, nhận thấy mẫu nước thải “đủ chuẩn”. Đường ống đó chạy dài ra vịnh Sơn Dương, ống có đường kính 1,2m, chiều dài 1,3km, nằm cách mặt biển 12m. Nhân dân chỉ biết về đường ống chất thải đó – ngày đêm đổ vào nguồn nước, nguồn đánh bắt của họ – ngay sau khi cá tôm vật vã, ngoi ngóp chết ngập bờ. Mọi thứ diễn ra như chuyện đã rồi.
Nhân dân chỉ được biết sau, chỉ biết khi phải oan uổng gánh chịu hậu quả, một cách ngơ ngác. Kể từ năm 1989, khi Trung Quốc khởi dựng đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam) cho đến nay, hàng chục đập nước ngăn dòng Mekong khác đã trở thành một loại vũ khí sinh thái trấn áp toàn bộ vùng Đông Dương, Thái Lan, Miến Điện. Thế nhưng người dân Việt Nam cũng chỉ nhận được những tin tức hết sức lạc quan và hời hợt của Ủy Ban Mekong Việt Nam. Và rồi khi khô hạn đến, đất đai chết, ruộng đồng chết… người dân mới bàng hoàng nhận ra mình đang ở tình cảnh gì, bị bỏ rơi thế nào.
Bà Phạm Thị Loan, Ủy viên Ủy ban tài chính và ngân sách Quốc hội tiết lộ cho biết có đến 90% các dự án tổng thầu EPC ở Việt Nam là do Trung Quốc nắm giữ, kể các các ngành quan trọng như dầu khí, hóa chất, điện, dệt kim. Có đến 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang thực hiện các dự án hàng trọng điểm quốc gia. Rồi nhân dân chỉ là người biết sau cùng, khi đường ống Sông Đà vỡ đến lần thứ 17, do nhà thầu Xinxing, Trung Quốc đảm nhiệm. Dự kiến, hơn 200.000 dân cư sẽ là nạn nhân trực tiếp.
Nhân dân chỉ được biết sau cùng, khi nghe tin dữ rằng mỗi người đang mang trên lưng món nợ công lịch sử, với 30 triệu đồng/người. Có những gia đình người Việt suốt cuộc đời cắm mặt làm, không đủ ăn, nay giật mình nghe tin mình cũng phải gánh nợ công cho Nhà nước. Kể cả hai đứa bé chết chìm ở Krông Pắk, tỉnh Đắc Lắc, nghèo đến mức phải chôn chung một hòm cũng không thoát khỏi. Nhân dân mãi mãi là người đến sau trong con đường đến ấm no, thịnh vượng, hạnh phúc. Họ được gọi tên để biết mình cùng chịu trách nhiệm vì Nhà nước khai thác bauxite cho Trung Quốc, ở Nhân Cơ lỗ đến 3000 tỷ đồng trong 6 năm mà vẫn cố làm. Người dân được thông báo muộn màng rằng hàng trăm ngàn tỉ đồng mà họ đóng cho quỹ bảo hiểm xã hội đã bị tự tiện mang đi cho vay, mất trắng cả ngàn tỉ nhưng không ai chịu trách nhiệm. Trong khi đó, một công nhân chưa đủ tiền đóng bảo hiểm xã hội, thì bị răn đe là sẽ mang đi xử lý hình sự.
Nhân dân mãi mãi là người đến sau. Và đến chỉ để nhận biết sự thiệt hại hay tai ương đang rót xuống đầu mình, xuống gia đình mình. Họ cũng chỉ biết sau cùng, rằng những nhân vật cấp cao như Tổng thanh tra chính phủ Trần Văn Truyền thì vượt lên trên, thoát khỏi mọi thứ với nhà cao cửa rộng xênh xang.
Như những con cá chết oan ức trên bờ biển, chỉ biết sau cùng rằng đại dương không còn là nhà, mà chỉ còn đầy độc dược, những người dân Việt Nam cũng chỉ biết được phần đen đủi nhất được gieo về phía mình, dù chung quanh đầy lâu đài và dự án vĩ đại, như đang phát triển cho ai khác.
Nếu như có một thiên đường để đến, có lẽ người dân Việt nhỏ bé như móng tay chúng ta, mãi cũng chỉ là người đến sau. Và đường đi đến đó, chẳng thong dong gì, mà có thể thông qua những ống dẫn chất thải như của Formosa.

Tuấn Khanh

ĐÊM

mocmienthao

Vách đêm sừng sững
Khói ray trắng những cung đường

Bờ không mộng mị
Trăng ngồi kể chuyện đinh hương

Ru tôi cánh mỏng
Chiều qua bẽn lẽn dấu chân

Tháng ngày như mộng
Hoàng hôn khép mở bao lần

Đêm về trong vắt
Tứ bề cô quạnh cánh sầu

Lẻ loi tiếng vạc
Đuổi nhau xé toạc đêm thâu.

Mộc Miên Thảo

TỊNH CA MÙA CŨ

phuonguy

ám ảnh tôi
đau
niềm đau từng kiếp
vận âm thanh
nghe nhật tụng xô bồ
ngày vong nô
nhận từng phiên âm gãy
ám ảnh luỵ phiền
thương hải mù mưa

nhập siêu tôi
nhập từng cơn
đau mãi
ngày là xanh
tím đỏ hay là vàng
ngày qua tôi
từng canh
ru tiếng nấc
dọn chỗ nằm
cho phiến gãy
lang thang

khát khao tôi
ngày tháng tư nhập thất
tịnh thanh âm
đừng vọng tiếng em cười
đừng để gió
ruổi rong bờ kí ức
mang về tôi
vằng vặc tiếng em xưa

khúc tịnh ca
em gọi về nắng cháy
tháng tư qua rồi tháng năm cũng qua
tôi lặn ngụp tôi u mê
tâm tưởng
úp mặt rồi
gột giặt tháng ngày xa

rỉ hoen tôi
cho từng mùa ân ái
hoá mù sa rồi không nhận mặt người
em ở lại phía bên bờ cát lở
tràn cung khuya
rấm rứt ánh sao soi
đừng tỏ mặt
đêm như ngày
lạc vận
nghe bài thơ cũng ức tử lâu rồi
em cứ đến
dẫu niềm đau không thật
soi dùm tôi
giữa hư ảo nông vơi…

PHƯƠNG UY

RANH GIỚI. ANH HÙNG. BẠO CHÚA!!!

truongdinhphuong

Nguyễn Ánh bị Huệ ép cho cùng đường đành sang cầu cứu Xiêm La và người Pháp.Một mưu thần dưới trướng bảo Ánh:
-Thưa minh công, theo ngu ý của tôi ngài nên nằm gai nếm mật đợi thời chờ cho lực lượng nhà Tây Sơn suy yếu rồi hãy phản công bằng thực lực của chính mình. Nếu bây giờ dựa vào sức ngoại bang có thể ngài sẽ dành lại được giang sơn mau chóng nhưng tôi e là sẽ xảy ra thảm cảnh rước voi dày mả tổ chăng?
Ánh trợn trừng hai con ngươi mà rằng:
-Nhà ngươi có đứng vào vị trí của ta mới hiểu được lòng ta. Toàn bộ gia tộc nhà ta bị một tay bè lũ Tây Sơn giết hại nếu ta không trả được thù thì có xứng làm kẻ đứng trong trời đất hay chăng?
Kẻ đó nói:
-Thưa tôi hiểu mối uất hận của ngài. Nhưng thiển nghĩ thù nhà tuy quan trọng nhưng non sông này còn quan trọng hơn ngàn vạn lần.Nếu một mai ngài trả được mối hận nhà mà non sông lại lọt vào tay giặc thì biết tính sao?
Ánh vắt tay lên trán suy nghĩ rất lung. Những thây người đẫm máu, những tiếng than khóc xé ruột của người thân lần lượt hiện về trong tâm trí Ánh. Ánh ngẩng đầu lên dứt khoát:
-Đúng sai gì hãy để hậu thế phẩm bình, nay ta hãy cứ thỏa mãn chí tang bồng của ta. Ngươi có biết không, ai cũng nghĩ ta chỉ vì thù tư mà dựa dẫm người Xiêm La và người Pháp để tiêu diệt nhà Tây Sơn, thật sự tất cả các ngươi đều lầm, các ngươi biết một mà không biết hai.Ánh nghĩ một lát lại thở dài nói tiếp. Hiện nay nền chính trị cũng như đời sống xã hội nước ta đang sa vào vũng lầy cổ tục, nếu không chấn hưng thì e là sẽ tụt hậu trầm trọng so với các nước lân bang.
Ta nhìn ra phương Tây thấy tư tưởng cũng như nền văn hóa của họ vượt xa chúng ta cả mấy trăm năm, nếu được sau khi mượn tay họ trả mối thù giết hại dòng tộc ta muốn dựa vào họ để cải cách lại nền văn hóa nước nhà.
Kẻ mưu sĩ nhìn Ánh đầy nghi hoặc. Ánh cười ha hả:
-Ôi chí của chim hồng chim hộc loài cỏ lác có thể hiểu được sao? Ta nói cho ngươi hay Huệ là một tay thân thịt áo lông, lòng chồn dạ cáo.Bên ngoài hắn tỏ vẻ vì dân nước và phục tùng nhà Tây Sơn nhưng thật sự trong bụng hắn chứa đầy tham vọng.
Kẻ mưu sĩ lắc đầu cười thầm cúi mình xá Ánh rồi cáo lui. Ba hôm sau kẻ mưu sĩ ấy bỏ Ánh mà chạy sang đầu quân cho Huệ. Huệ nhìn kẻ ấy thấy mình hạc mặt chuột thì nghĩ:
-Cổ nhân bảo mình hạc thì ác mặt chuột thì gian, kẻ này ta có nên sử dụng hay chăng?
Tính Huệ xưa nay vốn hào sảng yêu chuộng người tài bởi vậy chỉ nghĩ thoáng qua một chút rồi cười nói:
-Ta áo vải cờ đào, một niềm đau đáu vì non sông nòi giống nay ngươi bỏ chỗ tối sang nơi sáng nguyện giúp ta tiêu trừ tên chuột nhắt Nguyễn Ánh âu cũng thuận theo lẽ tự nhiên vậy.
Kẻ mưu sĩ cúi gập mình mà rằng:
-Cảm tạ sự ưu ái thâu nhận của ngài tôi nguyện óc gan lầy đất cũng không từ nan.
Huệ hỏi:
-Nhà ngươi ở dưới trướng của hắn bao lâu?
Kẻ sĩ đáp:
-Dạ thưa gần mười năm.
Huệ nói:
-Vậy là người theo hắn từ thuở hắn còn trứng nước?. Ta muốn ngươi nói rõ cho ta về tính cách cũng như suy nghĩ của hắn liệu có được chăng?
Kẻ sĩ sửa áo đáp:
-Ánh là kẻ bên ngoài cương nhưng bên trong nhu. Điểm yếu chết người của hắn là luôn mang nặng trong lòng mối thù gia tộc, tôi nghĩ kẻ nào mà chỉ đau đáu trả tư thù thì trí tuệ sẽ luôn bị bó buộc bởi hai chữ vì thân.Nếu Ánh nghĩ thông suốt đem lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu hắn sẽ là một tay anh hùng lật đất đổi trời.
Kẻ có tham vọng làm vương mà hạ mình cầu cứu ngoại bang đã là một sai lầm nghiêm trọng, theo ngu ý của tôi tốt nhất mình hãy tự lực tự cường. Muốn đất nước phát triển có thể nhìn vào nền văn minh của người ta mà thay da đổi thịt nhưng không đồng nghĩa với việc để cho người kiềm tỏa mình. Ánh nói thì hay mà suy nghĩ của Ánh tôi nghĩ còn nhiều điều chưa thoát ly khỏi gấu váy đàn bà.
Huệ cười thầm tự nhủ:
-Tên này ăn nói cũng khéo đấy, vừa nói về Ánh nhưng đồng thời hắn “dạy khéo” cả ta.
Kẻ mưu sĩ chưa lập gia đình nên Huệ cho hắn tạm thời sang ở cùng Ngô Thời Nhậm.
Từ đó kẻ mưu sĩ đã ngày đêm cống hiến nhiều kế hay giúp cho Huệ lắm phen khiến quân của Ánh khốn đốn. Ánh thề một ngày tiêu diệt được Tây sơn sẽ băm vằm kẻ phản tặc.
Năm 1792 Huệ đột ngột lâm trọng bệnh qua đời khi mới 40 tuổi. Con trai Huệ là Quang Toản lên nắm quyền. Quảng trí hèn, tài sơ cuối cùng bị Ánh tiêu diệt, vương triều Tây Sơn hoàn toàn sụp đổ. Sau khi giành thắng lợi Ánh bắt đầu cuộc trả thù bỉ ổi nhất trong lịch sử Việt Nam.
“ Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt, 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệđều bị xử lăng trì[170].
Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác[171][172], đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục[171].
Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày[172], chồng bà là Trần Quang Diệu do trước đó đã có lần tỏ ra khoan thứ cho quân Nguyễn[172] nên xin được Nguyễn Ánh tha cho mẹ già 80 tuổi trước khi bị xử chết…
Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã nát quăng đi[171], đầu ba vua Tây Sơn (Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh) và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì bị giam trong ngục tối[173][174][175].
Các quan văn khác của Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích ra hàng thì cho đánh đòn và được tha về (riêng Ngô Thì Nhậm thì bị Đặng Trần Thường trước có thù riêng nên cho người đánh chết.
(trích từ bách khoa toàn thư điển tử Wikipedia)
Ánh cho người lùng xục khắp hang cùng ngõ hẻm quyết tìm cho được kẻ mưu sĩ. Hơn mười ngày quân lính xục xạo từ hang chuột góc bếp vẫn không thấy kẻ ấy.
Mấy năm sau, vào một buổi sáng Ánh lúc này đã lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, đang thiết triều thì được quân lính canh cổng thành vào bẩm báo có một kẻ cụt chân hò hét bên ngoài đòi diện kiến cho bằng được nhà vua.
Ánh cho là sự lạ liền khiến quân lính cho kẻ đó vào.
Nhìn kẻ đứng dưới vóc hạc mặt chuột Ánh hơi nghi nghi nhưng kẻ này râu ria xồm xoàm lại chột một bên mắt nên Ánh chưa dám chắc bèn hỏi:
-Ngươi là ai muốn gặp trẫm có chuyện gì?
Kẻ cụt chân cười ha hả nói:
-Cách xa chưa bao lâu lẽ nào ngài vội quên kẻ mưu sĩ đã theo ngài từ thuở còn hàn vi?
Ánh ồ lên một tiếng, rồi cười nói:
-Qủa nhiên là ngươi, nếu là mấy năm trước khi ta vừa tiêu diệt xong Huệ tìm được ngươi hẳn ta đã ban cho ngươi cái chết không nhẹ nhàng, nhưng bây giờ ta đã ở ngôi cao muôn dân trong vào ta cũng chả thèm chấp một kẻ đã thành đứa vô dụng như ngươi.
Kẻ cụt chân con mắt còn lại long sòng sọc nhìn Ánh:
-Khi các người kéo quân đánh vào quân Tây Sơn lẽ ra ta đã bị vùi xác trong chiến loạn nhưng ta đã gắng gượng chạy thoát và cố gắng sống cho đến ngày hôm nay, ngài có biết vì sao chăng?
Ánh lắc đầu:
-Thú thật là ta không biết, ngươi có thể nói rõ ta nghe được chăng?
Ánh nhìn kẻ ấy vẻ tò mò. Kẻ cụt chân vung gậy chỉ vào mặt Ánh:
-Là để gặp lại ngươi đấy.
Ánh giật nảy mình suýt chút nữa thì đứng bật dậy.Nhưng Ánh cố kìm nén ngồi im.
Kẻ cụt chân nói tiếp:
-Ngươi từng nói với ta sẽ không vì tư thù mà rước ngoại bang vào dày xéo non sông, ngươi lại còn vung vít rằng sẽ thay da đổi thịt cho đất nước này. Nay thì sao?
Ngươi diệt nhà Tây Sơn trả thù một cách bỉ ổi táng tận lương tâm đến cầm thú cũng phải ghê sợ. Nay người ngồi ngôi cao lại đặt ra sưu cao thuế nặng khiến sinh linh khốn khổ. Ta đã từng nghĩ ngươi rốt cuộc cũng chỉ là kẻ miệng chó mõm quạ nay thì thật đúng lắm thay.
Nếu ta là ngươi thì đã không như bây giờ. Tại sao ngươi không lập nên đất nước của riêng ngươi cùng Huệ chia đôi hai miền nam bắc ngươi quản Nam để Bắc Hà cho Huệ song song cùng tồn tại, gạt bỏ mối tư thù, nước sông không phạm nước giếng.
Nếu ngươi làm được như vậy thì hậu thế ngàn đời ngợi ca ngươi thay vì ngươi trở thành mảnh gương xấu cho muôn đời phỉ nhổ.
Nghe những lời ấy Ánh rúng động tâm can lẩm bẩm:
-Nếu ta làm vậy liệu có được không?
Nhìn kẻ cụt chân nói:
-Nếu ta làm như ngươi nói thì liệu Huệ có tha cho ta chăng? Huệ là tay tham vọng không hề nhỏ.
Kẻ cụt chân nói:
-Đúng vậy Huệ tham vọng không nhỏ nhưng tấm lòng vì dân vì nước của Huệ là vô cùng bao la. Nếu như ngươi cố quên thù cũ đưa ra sách lược cùng Huệ chia đôi hai miền để non sông ổn định thì Huệ chắc chắn sẽ nghe.
Ánh nói:
-Tại sao trước đây ngươi không nói cho ta điều này?
Kẻ cụt chân cười:
-Ngươi còn nhớ có lần ta dâng ngươi một chiếc túi chăng, ta nói trong chiếc túi đấy có chứa một cẩm nang giúp ngươi thực hiện được hoài bão của ngươi mà không cần phải đổ máu người dân vô tội nhưng ngươi chỉ cười trừ xem ta là tên nói xằng.
Kẻ cụt chân thở dài :
-Dù sao mọi sự cũng đã rồi nói nhiều cũng chả được gì. Từ nay ta mong ngươi hãy suy nghĩ thấu đáo vì nhân dân mà thay đổi những đạo luật hà khắc. Dân là gốc triều đình là ngọn không có nhân dân thì ngôi cao quyền trọng cũng chỉ là phù du, kẻ nào dùng cái ác để quản lý đất nước lấy bất công để cai trị bá tánh thì sớm muộn cũng bị diệt vong mà thôi.
Kẻ cụt chân nặng nề lê tấm thân tàn rời hoàng cung. Ánh ra lệnh cho quân lính không được cấm cản hắn.
Đêm đấy Ánh đang nằm ngủ, giật mình choàng dậy vì một giấc mơ kinh hoàng. Ánh thấy rất nhiều người máu me be bét quây quanh mình khóc lóc, chửi bới đòi đền mạng. Khuôn mặt Huệ uy nghi hai mắt như điện chiếu thằng vào Ánh mà nói:
-Ta sẽ được ngàn đời nhắc đến với sự ngưỡng vọng nuối tiếc còn ngươi sẽ bị hậu thế nguyền rủa.
Ánh hét lớn:
-Không, không ta không phải thế, ta không phải thế.
Một tiếng sét đinh tai, rồi mưa như trút. Ánh hốt hoảng chạy lại mở toang cửa nhìn ra sân. Từng dòng nước mưa chảy tràn, dưới làn chớp sáng ngời đỏ quạch như máu.

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

Thứ Bảy Này

tranvanle

Thứ Bảy này, đài loan tin dự báo: Một cơn mưa sẽ đổ xuống Cali. Những con chim én trên đường bay về, tội nghiệp nhỉ đường xa Nam Bắc!

Hôm nay Thứ Năm mây giăng giăng khắp, những đám mây chưa đủ nặng sầu đời. Mây đang trôi và gió thổi mây trôi, không biết có đám mây nào tới lầu Hoàng Hạc…

Tôi bỗng nhớ những gì mình mất mát, chẳng hạn Quê Hương, chẳng hạn người thân…rồi nhủ lòng bằng nhiều ít bâng khuâng: cái gì quá khứ đã thuộc về quá khứ!

Chim hoàng hạc cõng trên lưng lịch sử cả những người mình nhớ mình thương, thí dụ như Hưng Đạo Đại Vương, thí dụ như Quang Trung Hoàng Đế, thí dụ như anh chàng Hoàng Tử Bé…muôn thuở huy hoàng trả lại muôn xưa!

Em ơi em, anh nhớ em bây giờ và cơn mưa sắp tới – một cơn mưa nặng lòng chờ đợi của đường cây sắp sửa héo hon…

…của lòng anh, sắp sửa lại buồn, mỗi giọt nước chắc là giọt lệ biết đâu chẳng vì ngày tận thế, thương làm sao những đứa nhỏ mới chào đời…

Chúng sẽ không được nhìn những đám mây trôi. Chúng sẽ không biết gì cõi đời hư ảo. Chúng rúc vào ngực Mẹ che đầu bằng vạt áo…áo dài em bay một thuở rất nên thơ!

Trần Vấn Lệ

NGƯỜI ĐÀN ÔNG KHIẾN TRÁI TIM EM ĐAU

linhphuong

Quá khứ anh nâng niu-sớm mai nào cũng đem ra phơi nắng
Để gió đại ngàn ướp muối biển mặn – nồng hôm qua hạnh phúc
Mỗi lần kể chuyện cũ trong veo thủy tinh em đều khóc
Ngày tháng năm – dâng hiến cho anh máu thịt của mình

Ngày tháng năm-người đàn ông bạc tình
Bỏ lại sau lưng vầng trăng thiêng liêng mười sáu
Em – cô thiếu nữ dậy thì nắm tay anh đi bằng bước chân chim sáo
Hồn nhiên vô cùng ngần ấy tuổi mùa ngâu

Yêu chi người đàn ông khiến trái tim em đau
Chạy theo anh-nước mắt chảy dài theo đường xe hiu hắt
Chạy theo anh-chạy theo thằng cha Linh Phương háo sắc
Đã chết rồi-thềm xưa- ly cà phê đá – ngồi lặng lẽ nhớ vu vơ

Người đàn ông tưng tửng làm thơ
Nơi biển đợi chờ -ước nguyện mang đến em cánh buồm thắm đỏ
Cánh buồm với giấc mơ hết đời chồng vợ
Da diết hoài bàn tay nắm lấy bàn tay

Phố chợ ngậm ngùi màu áo em phai
Ràn rụa ngấn lệ nhìn về phía chân trời xa bóng anh liêu xiêu chiều muộn tím
Nụ hôn liêu xiêu chỉ còn là kỷ niệm
Chôn dưới nấm mồ oán hận oan khiên

Muốn vực em dậy-ôm em- và nói với em rằng : – Anh rất cần em
Người đàn bà bình thường như bao người đàn bà khác
Quên đi những giận hờn – sáng mai bình minh em thức
Hít điên cuồng mùi ngực người đàn ông thương nhất xứ hôm nào

Người đàn ông khiến trái tim em đau
Và khóc – khi hoàng hôn nắng vàng vọt tắt
Và khóc – khi đạp xe trên đường – hai bên bờ ruộng ghé thăm ngôi chùa cô bạn thân đã mất
Và khóc – khi nghe tiếng động cơ Đồng Phước xa dần…

LINH PHƯƠNG

Đà Lạt Trời Mưa

phamtinanninh

Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình, và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.

Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.

Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang Alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời.

Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.

Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh.Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.

– Anh chờ em có lâu không?

Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi.

– Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.

Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây. Tôi dè dặt:

– Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.

– Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái, em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.

Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi.

– Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị đề nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.

– Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.

Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun – loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc, một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.

Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài bắc.

Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong Nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt nghiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang không quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh, khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan Alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng tư, thì hai người đã làm đám cưới.

Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.

Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.

Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh. Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải giấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này.

Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.

Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẵn sàng hết lòng giúp Thống.

Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.

Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả. Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.

Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.

Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo giòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào:

– Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.

Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống:

– Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.

Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn:

– Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong ba lô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta… xin lỗi cô ta.

Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiềm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá. Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”.

Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.

Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa.

Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.

Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc. Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.

– Em cám ơn anh, và xin lỗi… em đã không nén được xúc động.

Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng:

– Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.

Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng:

– Chị Nhất Anh! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe!

Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.

Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng:

– Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.

Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỉ mỉ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.

Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.

Mùa hè năm rồi, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexcico. Đến ngày thứ bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi. Bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.

Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Hội trường không còn một chỗ ngồi. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng.

Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.

Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ. Tôi chợt nhớ tới một bài viết nào đó mà tôi đã đọc được: Người Việt đến Mỹ, nữ giới thành công hơn là nam giới, và số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, cộng đồng ngày một nhiều hơn. Tôi nghĩ tới Dương Nguyệt Ánh, Lê Duy Loan, những người phụ nữ đã mang đến cho người Việt bao điều hãnh diện. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu thêm: Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.

Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của Phó trưởng ty Cảnh sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.

Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu “nhạc phẩm Ai Lên Xứ Hoa Đào với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt”.

Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.

Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi :

– Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy? Hay lại là một người xưa?

Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị:

– Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.

– Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe.

Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.

Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi:

– Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?

Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu:

– Xin lỗi, em không nhớ ra.

Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô:

– Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống? – Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ?

Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu:

– Xin lỗi, em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với… ai đó!

Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.

Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:

– Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.

Trên sân khấu chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng.

Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.

Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi. Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường:

– Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe!

Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, chủ nhật, em sẽ chờ anh ở nhà”

Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn giấu mọi người. Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.

Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều chủ nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.

Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp:

– Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ. Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.

Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt.

– Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.

Tôi đỡ lời:

– Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không?

Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:

– Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh?

Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.

– Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!

Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẫng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi.

Cô gái hạ giọng:

– Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất. Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.

Tôi nhìn cô ngờ vực:

– Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà- Anh mà? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót.

– Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh, mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh.

Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa. Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo:

– Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn .

Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:

– Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.

Tôi giật mình hoảng hốt:

– Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không?

– Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.

– Và chị đã chết? Tôi hỏi

– Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống.

– Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống?

– Có chứ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt. Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.

– Còn chị Hà Nhất Anh?

– Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chữa. Trong mấy ngày tỉnh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.

Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh:

– Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà Lạt.

– Dạ . Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.

– Đồi thông hai mộ . Tự dưng tôi buột miệng.

Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười:

– Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà lạt có khá nhiều “đồi thông hai mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.

– Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống?

Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn. Khi tôi cúi đầu chào bà, cô gái giới thiệu:

– Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.

Rồi quay sang tôi:

– Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.

Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.

Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ:

– Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.

Nhị Anh nắm tay bà cụ:

– Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má. Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuồi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.

Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.

Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô:

– Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy?

Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng:

– Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm mầu từ chị Nhất Anh – anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe.

Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh, Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.

Phạm Tín An Ninh

TAN HOANG

nguyendangtrinh

tôi đứng đó mà như… không đứng đó
trời chẳng mưa sao lũ lụt ngập lòng
mắt lơ láo ngó vào đâu cũng sợ
ngày… tan hoang… đêm cũng… tan hoang!…

em đã đến mà chi ngày tháng ấy
dáng cò nhang đòi cứu rỗi mùa khuya
còn bày đặt ngọt ngon lời phỉnh dụ
giơ… tay này… liền rụt lại… tay kia!…

giá em cứ… thật xa ngoài đó quách
yên thân nơi đất hứa với thiên đường
ta đã không đau
và không cùng… ngán ngẩm
môi chưa nồng là… mãi mãi môi hương!…

tôi đang sống mà như… không đang sống
ngày xanh rêu hoang hóa dấu địa đàng
đêm mục ruỗng đen thui màu ảo vọng
đời… tan hoang… tình cũng… tan hoang!…

nguyễn đăng trình