HẠT CÁT TRÊN SA MẠC

nguyenhuynh


( Viết cho những ai cho mình là hạt cát)

Rất có thể tôi là hạt cát trên sa mạc
Chịu nằm im cam phận nhỏ nhoi mình
Chịu phơi thây cho mặt trời nung nóng
Chịu quay cuồng cho gió lốc đẩy đưa
Chịu cô đơn cho cô quạnh hoành hành
Và chịu chết cho một vùng đất chết!

Rất có thể tôi là hạt cát trên sa mạc
Chỉ dám mơ một giấc mơ mưa
Chỉ dám nghĩ một màu xanh bát ngát
Chỉ dám ước một ngày trời râm mát
Một bước chân người in dấu chân qua…

Nhưng cũng rất có thể tôi là hạt cát
Biết dậy mình phẫn nộ mặt trời kia
Biết uất ức vì gió đang sai khiến
Biết bất công vì sao mưa không tới
Biết dấy lên một bão cát san bằng
Mỗi hạt cát là một mũi tên sắc nhọn.

Cũng có thể anh là hòn núi
Tặc lưỡi mình thôi thây kệ thế gian
Sợ một chiếc lá trong rừng rơi rụng
Sợ một hòn đá bên sườn sạt lỡ.

Cũng có thể anh là biển rộng
Nhưng không dám một lần nổi sóng phong ba
Nỗi uất hận nuốt sâu dưới đáy
Sợ bên bờ đất lỡ trôi đi…

Hỡi những người sống ở hôm nay
Tôi muốn nói một lời rất thật
Một hạt cát biết trồi mình lên cử động
Còn hơn là biển cả tự đóng băng!

NGUYỄN HUỲNH

Cuộc phiêu lưu của đôi vợ chồng

truongvandan

Nguyên tác : L’avventura di due sposi
Tác giả: Italo Calvino ( Italia)

Italo Calvino (1923-1985) là một trong những nhà văn Ý quan tâm đến nhiều lĩnh vực và có ảnh hưởng đến chính trường, văn học và văn hoá Ý vào những năm sau chiến tranh.
Sinh năm 1923 tại Santiago de Las Vegas, Cuba: Cha ông là một nhà nông học và mẹ là một nhà sinh vật học. Họ sống và mở một vườn thực vật nhiệt đới tại Cuba nhưng sau một trận bão (1925) làm đổ nát nhà cửa và khu vườn này, họ quyết định quay về Ý và sống tại thành phố biển San Remo thuộc vùng Liguria, Italia.
Ngay từ thời trung học ông đã kết bạn thân thiết với Eugenio Scalfari và Eugenio Curia, sau này đều trở thành những nhà văn và trí thức lỗi lạc của Ý. Nhưng quan hệ quan trọng nhất trong văn nghiệp của ông là khi theo học văn khoa ở Torino, ông quen thân nhà văn nổi tiếng Cesare Pavese, sau trở thành người hướng dẫn và cũng là “độc giả đầu tiên” cho nhiều trang viết của ông.
Là tác giả của nhiều tiểu thuyết, tập luận văn, ông còn chủ biên rất nhiều công trình văn học quan trọng. Bắt đầu xuất bản từ năm 1947, ông đã đoạt nhiều giải thưởng và vinh dự lớn như sau: giải Viareggio 1957; giải Bagutta, 1959; giảiVeillon, 1963; giải Feltrinelli về truyện kể, 1972; viện sĩ danh dự của Hàn Lâm Viện Nghệ Thuật và Văn Chương Hoa Kỳ, 1975 giải Premio Riccione (Italy), 1984. .. Cùng với nhà văn Vittorini ông chủ biên tạp chí Menabò.
Ngoài việc sáng tác , ông còn là một nhà phê bình rất tên tuổi và cũng là nhà văn Ý trong thế kỷ 20 được dịch nhiều nhất ở Anh và Bắc Mỹ. Sau giải thưởng quốc tế Formendor ở Maiorca, năm 62, trong cuộc gặp gỡ với các nhà văn quốc tế ông đã gặp nữ phiên dịch nguời Argentina Esther Judith Dinger, thường được thân mật gọi là Chiquita và hai năm sau(1964) lấy bà làm vợ. Đám cươi được tổ chức tại Cuba nhưng họ về sinh sống tại Roma. Trong thời gian ở Cuba ông có gặp Che Guavara và về sau này ông có viết về cái chết của nhân vật này.Ông đã cộng tác với nhà xuất bản Einaudi và thành lập hội thân hữu Ý- Cuba.
Ông mất ngày 19-9-1985 tại bệnh viện Siena vì chứng xuất huyết não.
Các tác phẩm chính :
Phần lớn tác phẩm của Calvino là kiệt tác: bộ ba tiểu thuyết với tên gọi chung “Tổ tiên của chúng ta” gồm “Tử tước bị phân đôi ” (1952), “Nam tước leo cây” (1957) và “Hiệp sĩ không hiện hữu” (1959); “Cosmicomics” (1965); “Những thành phố vô hình” (1972), và đặc biệt là “Nếu một đêm đông người lữ khách…” (1979).
Sau khi ông mất, ba tác phẩm khác của ông cũng được lần lượt xuất bản: “Dưới bóng mặt trời Giaguaro”, “Con đường ở San Giovanni” và “Trước khi bạn nói sẵn sàng”.

Câu chuyện sau đây được viết về một gia đình Ý vào những năm sau đệ nhị thế chiến. Sự bùng nổ công nghiệp đã giúp nước Ý thoát khỏi những tàn phá của chiến tranh và mau chóng trở thành một trong những nước phát triển ở Âu Châu. Thế nhưng về phương diện xã hội, tinh thần đoàn kết, gắn bó truyền thống của gia đình Ý đã bị biến đổi và có nguy cơ bị phá vỡ.
Được viết từ năm 1958. Sự cảnh báo của Calvino đã đặt các nhà nghiên cứu trước vấn đề lương tâm và những năm tiếp đó ( 1961) nhiều trí thức Ý đã tham gia trong các thảo luận về đề tài “ Văn Học và Công nghiệp ”.

Công nhân Arturo Massolari làm ca đêm, công việc của anh chấm dứt vào sáu giờ sáng. Để về nhà, anh phải đi một quãng đường dài. Những khi trời tốt anh đi bằng xe đạp còn lúc có mưa hay những tháng muà đông anh phải dùng xe điện. Anh về đến nhà trong khoảng sáu giờ bốn mươi lăm đến bảy giờ, nghĩa là trước hoặc sau tràng chuông báo thức mà vợ mình, cô Elide, đã cài đặt.
Có hai thứ tiếng động vang lên cùng lúc: tiếng chuông báo thức và tiếng chân của chồng bước vào nhà. Hai thứ tiếng động đó chồng chất trong đầu Elide, cùng đến trong giấc ngủ say, mà cô còn muốn kéo dài thêm bằng cách áp sát mặt vào chiếc gối. Sau đó cô bước xuống giường, mắt nhắm mắt mở cho hai tay vào chiếc áo choàng, và những sợi tóc phủ loè xoè xuống mắt. Cô đi xuống nhà bếp và thấy Arturo đang lấy từ túi xách các thứ mà anh mang đến hãng: chiếc cà mèng đựng thức ăn, bình thermos…và những chiếc hộp không rồi đặt chúng trong chậu rửa bát. Lúc đó anh cũng vừa đốt bếp để pha cà phê. Biết chồng đang nhìn, Elide cảm thấy bối rối. Cô mở to mắt và muốn đưa hai tay lên che đầu, cứ như mỗi lần cô đều xấu hổ cho cái hình ảnh đầu tiên mà chồng nhìn thấy mỗi khi bước vào nhà, đầu tóc cô luôn rối bù trên khuôn mặt ngái ngủ. Khi hai người ân ái hay ngủ chung thì là chuyện khác, buổi sáng khi thức dậy, cả hai cùng phờ phạc và có chung cảm giác thiếu ngủ như nhau.
Có đôi khi Arturo bước vào phòng ngủ để lay thức vợ, anh còn mang cho cô tách cà phê nóng trước khi chuông báo thức reo; nhưng lúc đó mọi sự đều rất tự nhiên, vẻ nhăn nhó lúc cô thức giấc trông giống như một sự lười biếng ngọt ngào, cô ưỡn người, hai cánh tay trần duỗi ra và cuối cùng cô quàng vào cổ chồng một cách âu yếm. Họ ôm nhau. Arturo còn mặc trên người chiếc áo khoát và lúc anh đến gần là cô hiểu ngay thời tiết hôm đó: trời mưa, có sương mù hay tuyết, tùy theo hơi lạnh giá hay sự ẩm ướt trên người anh. Tuy vậy cô vẫn hỏi: “Thời tiết thế nào, anh?” và lúc ấy anh bắt đầu than thở, kể lể về những khó khăn đã gặp. Anh thường bắt đầu từ đoạn cuối: hành trình trên xe đạp, thời tiết khi vừa bước ra khỏi xưởng, nó khác với chiều hôm trước ra sao rồi những bực bội trong công việc và những chuyện ngồi lê đôi mách trong hãng xưởng…
Vào giờ đó căn nhà chỉ vừa được sưởi ấm, nhưng Elide cũng phải khoả thân, rùng mình bước vào phòng tắm. Sau đó anh chồng cũng vào theo, bình tĩnh cởi đồ, chậm rãi kỳ cọ, và chăm chú xoá những vết dầu trong xưởng máy. Cứ thế, cả hai trần truồng và lạnh lẽo, đứng quanh cái bồn rửa nhỏ xíu, thỉnh thoảng họ đụng, đẩy nhau hay giật lấy cục xà phòng, ống kem đánh răng và tiếp tục nói với nhau những điều cần nói; Cũng có lúc họ biểu lộ vài cử chỉ thân mật, giúp nhau kỳ lưng, khe khẽ vuốt ve và cuối cùng ôm lấy nhau một cách vội vã. Nhưng bất thình lình Elide kêu lên: “Chúa ơi! Mấy giờ rồi vậy?” rồi vội vã chạy đi mang vớ, mặc váy, vừa đứng soi mặt trước tấm kính trên bàn phấn vừa đưa bàn chải chạy lên chạy xuống trên mái tóc bù, hai hàm răng còn cắn chặt cái kẹp tóc. Arturo bước đến sau lưng vợ, đốt một điếu thuốc và nhìn vợ đang đứng bên mình, mỗi lần rít thuốc anh đều cảm thấy bối rối vì đứng đấy mà không biết phải làm gì. Cuối cùng Elide đã sẵn sàng, cô vội tròng lên người chiếc áo khoát, hôn vội chồng rồi mở cửa, chạy nhanh xuống cầu thang.

Còn lại một mình Arturo theo dõi tiếng chân của Elide bước trên các bậc thang cho đến khi không còn nghe thấy và anh vẫn tiếp tục theo dõi bằng suy tưởng tiếng nhún nhảy vội vã trong sân, tiếng mở cửa chính của toà nhà, tiếng chân bước trên vỉa hè cho đến tận trạm dừng xe điện. Riêng tiếng bánh sắt trên đường ray thì anh nghe rất rõ khi nó rít lên để dừng lại, và tiếng động khô khốc của bàn đạp khi có người leo lên. “May quá, cô ấy đã bắt kịp”, anh nghĩ và thấy vợ mình đứng chen chúc giữa đám công nhân đông đảo, nam và nữ, trên xe số 11 đang chở họ đến nhà máy như mọi ngày. Anh dụi tắt điếu thuốc, đứng lên khép hai cánh cửa sổ, căn hộ tối sầm lại và anh đi ngủ.
Chiếc giường ngủ vẫn như lúc Elide đứng dậy, nhưng về phần giường của mình, Arturo thấy nó vẫn còn nguyên, như vừa mới trải giường. Leo lên giường, anh nằm ngay ngắn ở phần mình, nhưng lát sau lại thò một chân qua phía bên kia, nơi có hơi ấm của vợ, sau đó anh còn thò thêm chiếc chân kia nữa…và cứ thế dần dần anh lăn người di chuyển toàn thân sang phần giường của vợ, trong cái hơi ấm được giữ lại ở cái chỗ lõm có hình dạng của thân hình Elide. Anh áp má vào chiếc gối của vợ để cảm nhận mùi thơm của cô và thiếp dần vào giấc ngủ.
Buổi chiều khi Elide trở về nhà cô thường thấy Arturo đang quanh quẩn trong nhà: Anh đang đốt lò sưởi hay nấu nướng cái gì đó. Anh thường làm một vài việc trước bữa cơm chiều, như trải lại giường nằm, quét dọn chút đỉnh hay ngâm quần áo để chờ vợ về giặt. Nhưng Elide thấy mọi việc chồng làm đều rất qua loa. Cô quá biết chồng mình cẩu thả và ít quan tâm đến những việc này: những gì anh làm thực ra chỉ để đánh lừa thời gian trong lúc chờ vợ về, như để giúp vợ chút ít khi anh vẫn còn ở nhà, trong lúc bên ngoài đèn đường đã bật sáng và vợ đang hối hả đi từ cửa tiệm này sang cửa tiệm khác trong sự nhộn nhịp khác thường vì đó là thời điểm các bà nội trợ đang vắt chân mua sắm những thứ cần thiết cho bữa cơm chiều.
Cuối cùng Arturo nghe tiếng chân vợ bước lên cầu thang, tiếng vang hoàn toàn khác tiếng động vào ban sáng, lúc này nặng nề hơn bởi cô bước từng bước mệt mỏi sau một ngày làm việc và còn phải mang những túi thức ăn vừa mua được. Anh mở cửa bước ra hành lang, đỡ lấy các thứ cho vợ, rồi cả hai cùng bước vào nhà và trò chuyện. Chưa kịp cởi áo khoát cô vợ đã ngồi phịch xuống chiếc ghế trong nhà bếp trong khi chồng lấy thức ăn từ túi xách ra. Ngồi nghỉ một lát rồi Elide kêu khẽ “ Thôi, làm cái gì đi !” vừa nói cô vừa đứng lên, cởi áo khoát và thay quần áo mặc trong nhà. Cô bắt đầu nấu bữa ăn tối cho hai người, sau đó chuẩn bị bữa ăn nhẹ để chồng mang vào nhà máy cho giờ nghỉ giải lao vào một giờ khuya và bữa điểm tâm cho mình để mang theo vào sáng hôm sau ; Ngoài ra cô còn phải sửa soạn sẵn sàng bữa cơm cho chồng vào ngày mai lúc anh thức giấc.
Elide vừa làm, thỉnh thoảng cô ngồi nghỉ vài giây trên chiếc ghế mây trong nhà bếp và nhờ chồng làm giúp vài điều gì đó. Nhưng anh chồng vẫn còn đang nghỉ nên chỉ đi quanh quẩn, có lẽ anh cũng muốn làm tất cả mọi việc ấy, nhưng lơ đãng, đầu óc bỏ tận đâu đâu. Trong những lúc như vậy, giữa hai vợ chồng có khi xảy ra va chạm, nói với nhau những lời bực tức bỡi vì cô vợ muốn chồng chú ý hơn về những gì đang làm, tập trung hơn hay gần gủi với mình hơn, đến gần bên mình, an ủi mình nhiều hơn. Nhưng anh chồng, sau lúc phấn khởi vì vợ đã về nhà, đầu óc anh thả rông ra ngoài, anh muốn mọi việc được làm sớm vì anh cũng sắp phải đi làm.
Khi dọn thức ăn lên bàn, tất cả đều nằm trong tầm tay để cả hai khỏi phải đứng lên nữa, thì cũng chính là lúc hai người cảm thấy thấm thía vì có quá ít thời gian để sống gần nhau, buồn đến nỗi không ai đưa nổi muổng thức ăn lên miệng. Họ chỉ muốn ngồi đó mà nắm tay nhau.
Dường như tách cà phê chưa kịp uống cạn thì anh chồng đã đứng sau chiếc xe đạp, kiểm tra xem có còn thiếu thứ gì không. Họ ôm nhau. Hình như chỉ lúc đó Arturo mới cảm nhận thân hình mềm mại và nóng ấm của vợ mình. Anh vác lên vai chiếc xe đạp và cẩn thận bước xuống cầu thang.
Elide đứng rửa chồng chén bát. Cô nhìn từ đầu đến cuối những việc nhà mà chồng làm khi cô vắng mặt rồi khe khẽ lắc đầu. Bây giờ thì anh ấy đang đạp xe trên một con đường tối tăm, có những cột đèn thưa thớt. Có thể anh đã đi qua khỏi trạm ga.
Elide tắt đèn, đi ngủ.Từ phần giường của mình, cô đưa một chân về phía chồng để tìm hơi ấm, nhưng mỗi lần như thế cô đều nhận thấy nơi mình nằm là ấm nhất, dấu hiệu là Arturo cũng đã ngủ ở chỗ này và lòng cô dấy lên một niềm thương cảm.

Trương Văn Dân chuyển ngữ

Trái đắng của khổ đau: Thư gửi mẹ tôi , một người tị nạn

nguyetthuho

Dịch từ:The Fruits of Your Suffering: A Letter to My Refugee Mom- Adrienne Minh-Chau Le

Khi con hỏi điều gì khiến mẹ nhớ sâu đậm nhất về ngày Sài Gòn sụp đổ. Mẹ trả lời: những đôi mắt buồn tủi của người dân.

Mẹ đang ở nhà một mình khi chính quyền miền nam Việt Nam đầu hàng vào ngày 30 tháng 4, 1975. Bán tín bán nghi nghi mẹ chạy ra khỏi nhà, theo hàng xóm ùa ra đường phố. Mẹ thấy xe tăng Mỹ đang chạy trên đường – nhưng lại không cắm cờ Mỹ và đươc điều khiển bởi những người lính của phe bên kia-

Mẹ muốn khóc nhưng không rơi lệ nổi . Lúc đó mẹ mới 22 tuổi và đang mang bầu con gái đầu lòng chỉ mới hai tháng .

Trong những năm kế tiếp sau khi Sài Gòn sụp đổ, mỗi tế bào của cơ thể mẹ đều được rèn luyện cho mục tiêu tìm kiếm mọi phương cách . Thời gian đầu, mẹ phải tìm kiếm phương cách để tồn tại dưới chế độ mới – tìm kiếm phương cách để đương đầu với những cuộc xét nhà , đốt sách ( toàn là sách quý), với nổi khổ khi cha và hai người anh bị bắt đi học tập để “cải tạo”, đi lao động thủy lợi không trả lương, với cái đói, với việc đổi tiền liên tục và đồng tiền mất giá đã khiến mẹ hết sạch, trắng tay, chẳng còn gì cả. Và đất nước của mẹ đã hoàn toàn biến đổi . Lo sợ và bí mật luôn bao trùm cuộc sống của mẹ và cách duy nhất để tồn tại là ra đi .

Phải mất hai năm để hoạch định kế hoạch trốn thoát, và mẹ phải giấu nhẹm việc này không cho ai biết cả kể cả ông bà ngoại . Mọi người đều biết rằng vượt biên bằng đường biển cũng đồng nghĩa với chết chóc, và bà ngoại sẽ không thể nào chịu nổi khi biết chuyện này. Hai ngày trước khi lên thuyền, mẹ về nhà và nhìn thẳng vào đôi mắt của ông ngoại- mắt ông đã già cổi & mờ đục vì bị cườm . Mẹ nhờ ông nói lại với bà là mẹ sẽ ra đi .

Ông ngoại quỵ ngay xuống sàn, và khóc ngay ở ngưỡng cửa. Ông nài nỉ” Cho em trai con đi theo cho có chị có em “. Trong số 12 người con của ông, hai người vẫn còn trong trại tù cải tạo và hai người còn ở nhà sắp có nguy cơ bị bắt gia nhập quân đội Cộng sản. Điều đó vượt quá sức chịu đựng của ông ngoại. Mẹ hứa với ông là mẹ sẽ cố gắng sẽ tìm cách bằng mọi giá .

Lúc mẹ con mình đang ngồi xem một đoạn video về đám tang của ông ngoại, lần đầu tiên con thấy mẹ khóc . Mẹ không thể bay về Việt Nam để dự tang lễ. Con hỏi mẹ chuyện gì vậy mẹ. Mẹ giải thích rằng ông ngoại đang ở một cái hủ gì đó màu xanh. Con tưởng tượng ông đang ngồi ở co mình và bó gối mình như một thai nhi trong cái hủ đó. Con chẳng hiểu gì cả , nhưng con cũng tuôn nước mắt vì thấy mẹ đang tuôn lệ.

Năm 1979 trong một đêm không trăng mẹ rời Việt Nam trên trên một chiếc thuyền đánh cá nhỏ xíu cùng với chồng, cậu em , đứa con ba tuổi và 21 người khác. Mẹ bị say sóng suốt ba đêm và bốn ngày trên biển, nhưng mẹ chỉ nghĩ đến một điều duy nhất: đi càng xa Việt Nam càng tốt. Khi hải tặc Thái Lan đuổi theo tàu mẹ nhắm mắt thật chặt và cầu nguyện với Phật Bà Quan Âm, vì mẹ đã từng nghe chuyện hải tặc thường cướp bóc và hãm hiếp thuyền nhân. Những lời cầu nguyện của mẹ đã được lắng nghe, và tự dưng bọn cướp biển mất hẳn dấu tích tàu của mẹ .

Tới đêm thứ tư, tàu mẹ thấy đất liền. Nhưng khi lên bờ, mẹ thấy chồng, em trai, và những người đàn ông khác bị cảnh sát Mã Lai đánh túi bụi – lấy báng súng tọng vào đầu. Đêm ấy mẹ nằm run rẩy trên bãi biển, ôm chặt con gái đầu lòng vào người và trăn trở hỏi làm sao con người lại có thể dã man đến thế. Ngày hôm sau, mẹ cùng 300 thuyền nhân khác bị đẩy lên một chiếc tàu không máy, kéo ra đến giữa biển và nằm chờ chết.

Kiệt sức và mê sảng vì đói lả, mẹ nằm gục trong một góc tàu, quá yếu đuối để xê dịch hay thậm chí mở miệng lên tiếng khi một người đàn ông vô tình tiểu lên người mẹ trong bóng đêm. Khi tỉnh lại, mẹ mới biết mình đã được cứu vớt bởi tàu hải quân Indo .

Mẹ khá vui thích khi hồi tưởng lại cuộc sống ở trại tị nạn. Mẹ kiếm được việc làm bằng cách may áo quần cho dân địa phương và mấy người tị nạn khác; với số vải còn dư mẹ lấy may áo quần cho đứa con mới sanh của mình. Mẹ cười khi kể lại cách cậu em hùng hổ xua đuổi bọn người bất lịch sự tới ngay chỗ ở của gia đình để phóng uế hay khi hai chị em( mẹ và cậu) vừa vội vàng nhảy qua mực nước giữa các hòn đảo khi thủy triều lên, khệ nệ ôm trên mình một số trái cây đã nhặt hái để sau đó đem bán .Khi nước biên dâng lên ngang đùi , cậu đã hối thúc mẹ chạy trước để nếu thủy triểu lên quá nhanh cậu sẽ là người chết chìm . Dù rằng cả hai chị em đều không hề biết bơi .

Mẹ tin rằng mẹ sống sót nhờ Trời Phật phù hộ. Sau tám tháng ở trại tị nạn, rồi nhà thờ ở Knoxville với bao người hoàn toàn xa lạ , và cuối cùng được bảo trợ ở Tennessee đến vùng đất mơ ước. Sự tranh đấu để tồn tại và ăn nên làm ra tại Mỹ lại là một câu chuyện khác cũng rất xứng đáng được kể lại – những thành quả đạt được, theo mẹ một phần là do lòng rộng lượng, nhân từ của nhiều người khác và một phần còn lại là do ý chí sắt đá của riêng mình.

Có lẽ điều lạ lùng nhất trong mọi chuyện là: khi kể cho con nghe những chuyện này ,con không cảm nhận chút nào cay đắng trong giọng nói của mẹ.Có những lúc mẹ thì thầm, thở dài, la lớn, cười vui và đôi mắt nhuốm buồn. Nhưng vượt trên tất cả là sự chấp nhận bình thản rằng phần số của mẹ là vậy đó.
Sau khi thu hết can đảm con bay về nhà để gạn hỏi mẹ, vì muôn ghi chép thật đầy đủ từ đầu chí cuối về cuộc đời của mẹ . Hôm đó hai mẹ con mình ngổi bệt dưới sàn nhà trong phòng ngủ để cùng nhau tâm sự. Mẹ con mình đã tâm sự với nhau bằng tiếng Việt, một ngôn ngữ mà cũng nhờ mẹ con mới nói được, nghe được và hiểu được. Nhưng con sẽ không bao giờ thật sự hiểu được những gì mẹ đã trải qua, hoặc việc thừa huởng một lịch sử phức tạp sẽ mang lại ý nghĩa gì cho đời con?

Nhưng nhờ vào trái đắng của khổ đau của mẹ mà con đã lớn khôn trong sung sướng no đủ.

Bây giờ con 24 tuổi rồi, cùng lứa tuổi khi mẹ trốn khỏi Việt Nam ôm trong tay chị gái của con. Từ lúc đứa con gái thứ hai này ra đời, con đã sống trong nhung lụa. Nhờ ơn Trời, con chưa hề biết gì về đói khổ và tuyệt vọng, hai yếu tố đã định hướng lứa tuổi hai mươi của mẹ. Thật không ngờ biết bao thay đổi đã xảy ra chỉ trong vòng một thế hệ. Mẹ không hề ngần ngại, luôn bảo con là niềm tự hào của mẹ . Tuy nhiên, với tất cả các đặc quyền của một người phụ nữ tươi trẻ ,khỏe mạnh, có bằng cấp từ Đại Học Yale, bất kỳ thành quả nào con đạt được cũng không thể so sánh với những gì mẹ đã chu toàn.

Mẹ chuyển hóa mọi đau khổ vì thế con không bao giờ cảm nhận được, không bao giờ nhìn thấy nó ẩn sâu bên trong tình thương tràn trề của mẹ, cho đến khi con đủ lớn , biết tò mò và bắt đầu tìm hiểu . Con biết mẹ không vui nhưng mỗi khi nhớ về quá khứ của mẹ con luôn bật khóc. Quá khứ đầy đau khổ này khiến con muốn làm tất cả mọi thứ vì mẹ và con luôn sẵn sàng…Thật vậy mẹ à .
Mẹ luôn nói với con rằng máu của con chính là máu của mẹ, xương của con là xương của mẹ. Con là mẹ và mẹ là con. Quá khứ của mẹ là của con, hiện tại là của chúng ta, và tương lai của con là tương lai của mẹ. Tất cả mọi thứ con làm trong cuộc đời này là cho mẹ hết thôi., mẹ ơi . Con mong mẹ cảm nhận điều này .

HỒ NGUYỆT THU

HIỆN HỮU

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

hiện hữu luôn xuất hiện như một dấu hỏi
nó làm anh a!
nó khiến anh ê!
nó kéo anh đi… nó đẩy anh vào
nó xô nó đẩy
nó làm anh chạy… nó xui anh múa
và anh hát anh ca
ý a í a
như một đứa yêu đời

hiện hữu luôn xuất hiện như một dấu hỏi
như triệu mặt trời bay trong ngày mưa
như những bong bóng nước ngừng trước cửa nhà em
rồi vỡ
rồi nghe
tiếng tí tách chiếc đồng hồ len trong mái tóc em đen
mầu mực mới ghi
chép
bay bay đi
bay bay đi những cơn mưa phùn chở gió
trên những cách đồng tuổi thơ
tiếng chân chạy tìm nhau
ngày đuổi bắt năm mười

hiện hữu đã xuất hiện trong những câu trả lời
trong chất keo dán bộ não vào thành sọ
mùi thuốc súng trong hơi thở
con tim tật nguyền chống nạng đi ngang qua buổi chiều
úa trên vai
nắng
và mưa
loãng
phai
những lời thề nguyện
vết xâm trên da bốc lửa
ngày hạn hán trên môi khô
phù thuỷ
xoè đôi tay thổi phù chú vào phố thị ngày hoàng hôn những thần linh

hiện hữu là sự thực trong lời nói
chiều gọi em
tối gọi anh


chúng ta đi về
rủ nhau về

đi về nhà
mỗi người một bóng

tiếng tí tách chiếc đồng hồ treo trên tường nhắc
từng cơn mộng
chưa qua
ờ… chưa qua…

NGÔ YÊN THÁI

(viết tặng Tôn nữ thu Dung)

Đất nước mình…

hoaithuongdang

Đất nước mình văn hiến bốn ngàn năm
Đất nước ngàn đời của tổ tiên trao cho con cháu
Đất nước đắp bồi bằng núi xương, sông máu
Sao bây giờ lại ngộ thế em ơi!

Không, đất nước mình vui lắm đấy thôi
Mỗi một năm có tám ngàn lễ hội
Bao kỷ lục nọ kia, nhiều trò múa rối
Tiền bạc vung ra mua cả thánh thần

Đất nước mình quá đỗi bình yên
Chung sống bình yên với láng giềng hữu hảo
Rừng núi quê hương, chủ quyền biển đảo
Đã có bạn vàng dang tay giữ hộ cho rồi

Đất nước mình ổn định lắm em ơi
Ngay cả tham nhũng cũng cực kỳ ổn định
Đánh chuột sợ vỡ bình thì thôi, đừng đánh
Bởi bình vỡ rồi chuột nấp vào đâu?

Em không thấy đất nước mình hạnh phúc lắm sao?
Hạnh phúc xếp vào hàng nhất nhì thế giới
Cười vui lên đi, đừng lo gì thiếu đói
Ngắm pháo hoa sáng trời là hạnh phúc vô biên

Đất nước mình giàu: lắm bạc nhiều tiền
Có bôxit Tây Nguyên, có lò hạt nhân, có Formosa Vũng Áng…
Có bao nhiêu trụ sở công quyền, dinh cơ hoành tráng
Đầy tớ sướng như tiên, ông chủ phát thèm

Đất nước mình tuyệt lắm đó em
Cả đất nước cùng vui ăn bẩn
Đừng nghĩ suy chi cho lòng vướng bận
Chết đúng quy trình thì đã làm sao?

Em đừng hỏi đất nước này rồi sẽ về đâu
Đã có biển chỉ đường, cứ thế mà đi tới
Cả em và tôi, các thế hệ cháu con hãy kiên trì, nhẫn nại
Cuối thế kỷ này sẽ lấp ló bình minh!

Cả bốn biển năm châu, rồi sẽ phải ngước nhìn !

HOÀI THƯƠNG ĐẶNG

Cửa đã mở

 

khuatdau

Tặng TTM
Đúng là cánh cửa đã mở, một cánh cửa nặng tưởng chừng như Ngũ hành sơn đè trên lưng Tôn Ngộ Không.
Nặng và to như thế nhưng không hề có một tiếng động nào cho dù rất nhỏ.
Cửa mở lúc 4 giờ!
Cửa mở cho riêng ông, mỗi một mình ông, cánh cửa của một đời người. Vậy nên, trong cái lạnh của miền cao, mọi người trong nhà không một ai hay biết. Ngay cả người bạn đời đang cuộn mình trong chăn như con nhộng nhăn nheo trong cái kén vàng rực, cũng tưởng là mình đang hóa bướm.
Vậy thì đừng có khóc than giận hờn rằng, cuộc từ ly sao mà thui thủi một thân, nếu đó là cuộc ra đi không bao giờ trở lại.
Cánh cửa đã mở toang, nhưng ông chỉ cảm thấy chứ không trông thấy. Cảm thấy bằng thịt da bởi vì cửa mở dưới lưng ông, nhanh như nhát kiếm, như tia chớp với một sức mạnh khủng khiếp tưởng chừng tâm bão Haiyan cuốn lấy ông, kéo tuột ông xuống một nơi thăm thẳm không biết đến bao giờ mới chạm được đáy.
Bác sĩ hỏi, lúc đó anh thấy thế nào? Đáp: lúc 4 giờ, tôi định đi toilet, nhưng ngã vật ra, dán chặt xuống giường không cách gì ngồi dậy được.
“Sao anh không gọi tôi dậy?”
“Tôi sợ anh mất ngủ”
“Tai anh có ù không?”
“Không”.
“Mắt anh có mờ không?”
“Không”.
“Vậy thì không sao đâu. Để tôi đo lại huyết áp”
…..
“Có khi nào huyết áp anh tăng cao không?”
“Thường là rất thấp, nhưng có lần uống Bò húc lên đến 15”
“Giờ là 16,9. Cũng khá cao, nhưng sáng ra tôi kiếm thuốc cho anh uống. Sẽ hạ xuống thôi. Sợ tuột áp, chứ lên chừng này cũng không ngại lắm”
Sự bình tĩnh của bác sĩ, một sự bình tĩnh dạn dày, có sức nâng đỡ mạnh mẽ khiến ông cảm thấy cánh cửa sau lưng mình như đã được bàn tay kỳ diệu của một kẻ vô hình khép lại.
Đúng là thiếu chút nữa ông đã bị đột quỵ. Giả dụ lúc 4 giờ sáng ông không ngồi dậy trên giường mà trên một sàn nhà cứng như đá ở nhà ông, hay trong toilet, trên sân thượng, trên con dốc sâu thẳm dẫn xuống điền trang, cái cách ông ngã vật ra cứ như một người Do Thái trốn đâu đó bị một tên gestapo đạp vào ngực, thì thế nào sọ ông cũng bị rạn, những mạch máu nhỏ li ti trong não sẽ bị đứt và thế là ông đi đoang!
Có nhiều cách gọi cho cuộc ra đi không mong đợi ấy. Văn vẻ trang nhã thì từ trần. Bác Hồ đang sống bỗng sang từ trần (Bút Tre) . Bình dân quê mùa thì ngủm. Ngủm củ tỏi hay ngủm cù đeo cũng là chết giống như ngoẻo. Ở quê người đẹp của đời ông thì có một tiếng gọi không giống ai, là trẩu. Lão ấy trẩu rồi!
Ôi chao, thế thì một ngày sẽ không giống như mọi ngày, một ngày hết sức bận rộn với xe chớp đèn hụ còi liên tục, với người vợ sẽ biết thế nào là góa phụ, với điện thoại di động sẽ reo lên như dế gáy để báo cho nhau biết có kẻ chán đời bỏ cuộc chơi!
Ông đâu có chán đời nhưng cái cách bỏ đi như thế, hay bắt buộc phải bỏ đi vì đã đến lúc, nhưng quá bất ngờ khiến cho người ở lại cảm thấy giật mình. Cánh cửa của mỗi người không chỉ mở ra lúc 4 giờ sáng, mà có thể lúc 5 giờ chiều. Có thể mở ra trên cao nguyên xanh rực nắng, mà cũng có thể mở ra giữa một con phố hắt hiu đèn vàng… Mở ra bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Sẽ không có một hồi chuông báo tử lãng mạn. Cũng sẽ không có tiếng gõ cửa lạnh lùng của định mệnh. Chỉ giống như chiếc xe đang bon bon trên đường cao tốc bỗng sụp xuống một cái ổ voi, không phải voi buôn Đôn mà voi ma mút!
8 giờ sáng, ông ngồi dậy được, huyết áp xuống 12. Ông đã có thể một mình ra ngồi phơi nắng trước cửa. Dưới kia là vườn cà phê lác đác chín đỏ, những trái hồng ấm áp còn sót lại trên cành cây trụi lá và phía xa thấp thoáng mái chùa Tàu tưởng chừng hãy con vang vọng những câu kinh bằng tiếng quan thoại.
Đấy là đời sống, là phía bên này cánh cửa, là cái mà nhiều người và chính ông gọi là cõi tạm. Có nghĩa rằng người ta tin bên kia đời sống này còn có một đời khác miên trường vĩnh cửu.
Nhưng, đó là trước lúc 4 giờ sáng kém một phần ngàn giây, lúc mà ông và mọi người phung phí những phút giây của đời mình như tiền âm phủ; còn giờ đây, cũng rừng cây ấy, cũng màu nắng ấy, cũng trước hiên ngôi nhà ấy, giữa những lao xao thăm hỏi của bạn bè, ông không còn nghĩ đó là cõi tạm nữa.
Ông nghĩ đó là cõi duy nhất để sống, để yêu, để vui chơi, để đau khổ…ngoài ra không còn cõi nào khác.
Cửa đã mở nhưng không phải để đưa bước chân vào cõi thiên đường, cũng không phải vào chốn thường trụ, lại càng không phải là cõi vĩnh hằng như cách nói của những kẻ làm dáng. Đó là cõi không tức là không có cõi nào.
Đã đến lúc trở về nơi ông đã khởi sự đến. Cha con chủ nhân và ba người bạn già ái ngại dìu ông lên tận đầu con dốc. Ông có cảm giác như đây là con dốc của Quang Dũng, dốc cao đến nỗi súng ngửi trời. Ông cũng bàng hoàng nhận ra đó là con dốc mà lúc 4 giờ sáng ông tưởng mình đã bị đạp cho một đạp lăn xuống. Giờ ông mới thấy được đứng trên đầu dốc là cái gì gần như ơn phước, một sự bình yên nói sao cho xiết bùi ngùi.
Mọi người tiễn ông đi với nụ cười chúc phúc, nụ cười mà ông cho là rất đẹp, nụ cười của cuộc sống không bao giờ là quạnh hiu, không bao giờ bị bỏ quên.
Trên đường về xuôi, ngang qua rừng thông Dạ Oai và rừng nguyên sinh Khánh Vĩnh, mặc dù xe đi trong mưa và mây mù, trái tim ông có vẻ như đang ngủ yên. Ông lơ mơ sống lại những giờ phút cũ. Ông tưởng như đang đi trong gió lạnh quanh đường bờ hồ, rồi quành lên nhà tu kín Domaine de Marie, qua nhà thờ con gà, lên chùa Tàu, ngồi uống cà phê trong một cái quán cóc có chiếc bàn tự quay…rồi xuống thủy tạ, đi xem triển lãm tranh của Đinh Cường, Thân Trọng Minh…đêm đốt lửa ngoài sân vườn, ngồi quanh uống rượu Chivas cực kỳ ngon, nghe người vợ mộc mạc cất tiếng hát để mừng sinh nhật một người không còn trẻ nhưng chưa muốn chịu già, tiếng hát sang trọng bất ngờ nghe như của một cô đầm lai…ông sống lại chứ không phải nhớ lại khoảng thời gian mà lúc này ông thấy là tuyệt đẹp, những phút những giờ trước lúc được coi là định mệnh ấy, 4 giờ kém một phần ngàn giây.
Đương nhiên, cánh cửa sẽ mở ra một lần nữa nhưng ông tin hãy còn lâu.
Chỉ hù một chút chơi, nói như Bùi Giáng, cho vui thôi mà!

KHUẤT ĐẨU

 

Bóng Hoa Xưa

hacthanhhoa
.

Người đến dịu dàng như ngọn gió
Người đến mơ hồ như ánh trăng
Đêm xanh một đóa Quỳnh hoa nở
Trắng ngần mấy cánh mỏng như sương

Đóa hoa chỉ nở trong chớp mắt
Rồi lặng lẽ tàn lúc nửa đêm
Gió đã đi rồi trăng cũng lặng
Bình minh ngơ ngẩn dáng sương mềm

Đóa Quỳnh đã lặn vào đêm tối
Tưởng đâu khép cánh ngủ muôn đời
Những đêm trời đất mênh mông quá
Lại trở về trong bóng nguyệt soi.

Hạc Thành Hoa

NHỮNG MẢNH KHĂN TANG MÀU ĐỎ

tranthienthi

cá đã nói thật bằng cái chết của mình
chúng ta đi qua tháng ngày bằng trái tim nhiễm độc
thủy triều đỏ và bạo quyền

chúng ta từng ví mẹ như Thái bình Dương
trong những ngày hôm nay biển chết
chúng ta biết chôn người nơi đâu

xin đừng nói về mai sau
những giấc mơ trãi dài
chưa bao giơ đi ra ngoài đêm tối

sáng nay tôi ngồi trong lòng đà nẵng
phố như là thanh bình
biển vẫn mang tên thanh bình
chỉ có mỗi ly cafe là đắng
cái đắng của ký ninh
người ta bắt đầu cho vào đây nước mắm nhỉ
thứ nước mắm đang được làm từ cá chết

gần một đời tôi chưa bao giờ viết được một bài thơ về mẹ
cho đến bây giờ
và sau này cũng thế
những con chữ tôi đã nhiễm độc tự bao giờ ?

tôi chưa bao giờ viết được một dòng cho con
những đứa con sẽ mang hình tôi lên nguồn xuống biển
buổi sáng hôm nay mọi người lên tiếng
tôi ngồi đây một mình cư tang
những mảnh khăn tang màu đỏ

trần thiên thị
8.5.2016

Tường trình từ thành phố bị bao vây!

tuankhanh

Trong nhiều ngày, thành phố bị bao vây rất đỗi ngặt nghèo. Bất kỳ ai cùng đều có thể nhìn thấy điều đó, theo bước chân của người xuống đường hay chỉ nhìn lén qua khung cửa sổ với những lời thì thào.
Rõ là thành phố bị bao vây. Những hàng rào thép gai được cài chặt kiên cố vào khung sắt rực đỏ dựng lên ở nhiều lối đi. Phối cảnh có khi là tháp nhà thờ cổ hay một kiến trúc có hơn trăm năm, khiến người ta nhớ đến một cuộc tấn công nào đó vào thời Trung cổ của các đoàn quân tàn bạo Vikings đến từ Bắc Âu, mục đích để bảo vệ thịnh vượng của mình bằng cướp phá và huỷ diệt kẻ khác.
Suốt trong nhiều ngày, không chỉ Sài Gòn mà nhiều thành phố khác cũng bị bao vây. Người dân bị giam hãm trong sự sợ hãi về môi trường sống của mình đột nhiên chuyển màu u ám. Hàng hàng lớp lớp sinh vật thiên nhiên chết gục trên bờ biển. Cảnh tượng như sấm truyền về ngày tận thế. Biển trở thành cửa địa ngục. Những thợ lặn nhoi người lên mặt nước, thở gấp và qua đời không nói kịp lời ai oán.
Suốt trong nhiều ngày, nhiều thành phố bị cầm giữ trong bí mật về cái chết mà tất cả vua quan đều lánh mặt. Bọn tôi tớ nói vài lời qua loa với đám đông đang xanh xao vì lo sợ. Bọn tôi tớ ấy chạy vội về nhận bữa ăn riêng đặc cách: sạch sẽ và an toàn như đã hứa để trả công cho sự dối trá.
Suốt trong nhiều ngày, thành phố thì thầm về những khu ghetto mới lập. Có thể đó là một sân vận động, nhưng cũng có thể là một văn phòng của cơ quan địa phương. Tất cả những nơi đó đều có một điểm chung: những loài súc sinh có gương mặt người được trao hiến pháp mới về quyền cắn xé bất cứ những ai có một linh hồn.
Thời đại của thành phố với những tấm bảng tuyên truyền về đạo đức Hồ Chí Minh, là những background ngập màu sắc, tạo nên một bức tranh hùng vĩ ghi lại từng gương mặt những người Việt yêu con cá, yêu giọt nước biển và yêu một tương lai không mù mờ u ám. Họ bị bao vây, đánh đập, chà đạp. Trẻ nhỏ bị giật tóc lôi trên đường. Những thanh niên bị đấm, bị xịt hơi cay mà khi chưa hề có ý định kháng cự. Những phụ nữ bị sờ soạng và đạp vào đầu. Máu. Internet như một loại truyền hình vĩnh cửu với các buối chiếu không dứt miễn phí cho vợ con, cha mẹ… của những bọn khát máu đánh người. Họ im lặng ngồi xem, có thể xem trong bữa ăn tối, với phần ăn là một con cá vô định.
Thành phố bị bao vây không chừa ngày nào. Mọi ngôi nhà bị đánh dấu như số phận của Moses. Mọi bà tổ trưởng trở thành kẻ cướp rình mò tự do của hàng xóm. Số phận con người nhỏ nhoi như ngọn cỏ. Đức Phật ở Sài Gòn không còn ngăn nổi một cuộc chiến nhằm vào con người, mà Ajàtasattu mê đắm cưỡng đoạt Vajji, trong suy nghĩ chỉ còn nụ cười xã hội chủ nghĩa.
Thành phố không chỉ bị bao vây bởi những kẻ muốn dẫm lên đồng loại để giới thiệu mình, mà còn bị bao vây bởi những đoàn diễu hành quanh thành phố với những cái lưỡi nhọn. Nhà thơ Zbigniew Herbert có nhắc tôi rằng đó là những cái lưỡi được mài nhọn, chực chờ để dùng hiến tế đồng loại. Những trái tim dám mơ về tương lai hay dám bật ra điều mình nghĩ có thể bị treo lên trong nhiều tuần, chết khô với hoài bão.
Thành phố bị vây chặt trong ngày của Mẹ. Một ngày của mẹ đẫm máu đáng nhớ trong ký ức của những người yêu tự do. Những người đàn bà bị chà đạp trong tiếng reo hò của nắm đấm và của đoàn diễu hành lưỡi nhọn: những kẻ hèn nhát và đê tiện luôn cầm loa nói át đi sự thật, nhưng không bao giờ dám tự cật vấn về cuộc đời sâu bọ mà họ đang mang là loại sự thật gì.
Những loại đê tiện và hèn nhát đó, có thể là một kẻ nghe hóng và lập tức nói để khoe khoang sự phân tích khôn ngoan của mình, có thể là một tên chủ báo đêm đêm che mặt vào nhà thổ nhưng thích nói giọng đạo đức. Tất cả gào thét và cùng che giấu một sự thật, như là một người phụ nữ bị đánh đập trên đường phố Công xã Paris cùng con của mình. Mọi giọng hò hét bạo dâm đều lạc đi vì phấn khích do an toàn ngồi trước máy tính, chưa bao giờ dám đặt chân xuống vỉa hè để phỏng vấn một con cá, nhưng lại mừng rỡ vì mình được sơn màu công lý của kẻ mạnh.
Tôi nhớ Wislawa Szymborska, bà viết và để lại trong cuộc đời đã sống và chiêm nghiệm, về giống loài suy đồi, qua các triều đại cộng sản:
Không có gì đồi trụy hơn là suy tưởng. Cái thứ phóng túng này tràn lan như một giống cỏ dại mà gió đem lại trên một mảnh đất dành cho hoa cúc.
Không có gì là thiêng liêng đối với bọn người suy tưởng. Trâng tráo gọi mọi sự bằng tên, những phân tích bạt mạng, những tổng hợp sỗ sàng, theo đuổi như điên cuồng và phóng đãng những sự kiện trần truồng,mân mê thật bẩn thỉu những chủ đề dễ kích ứng.
Tôi viết vội bản tường trình về thành phố bị bao vây, mọi thứ được bỏ vào một cái chai, thả vào tương lai. Tôi gửi đi với niềm hy vọng chưa bao giờ mạnh mẽ hơn lúc này. Vì lẽ, cùng tiếng loa công cộng vờ điềm tĩnh kêu gọi trật tự để che giấu cho bạo lực phi nhân được kích hoạt, tôi nhận thấy những tiếng hát vang – đã ngày càng lớn – của những con người công chính về một ngày mới sẽ đến tốt đẹp hơn.
Tôi có gửi thêm trong chai một câu chuyện cổ xưa của người Ấn Độ. Câu chuyện kể về những ngày tháng thế gian dị động. Ngày tháng có rất nhiều dạng súc sinh mang hình dáng người, trà trộn vào trần thế để tung hoành nhưng chúng sớm bị phát hiện, bởi vẫn còn nguyên vẹn trái tim loài súc sinh. Tôi muốn nói rằng chúng tôi – thế hệ chúng tôi, có cả những người rất trẻ – đã từng kiêu hãnh vì thật sự là con người trọn vẹn nơi thành phố đó.

TUẤN KHANH

LẮNG NGHE BIỂN KHÓC TRẮNG TRỜI MÂY BAY

tranvannghia

Biển ngày nào biển của tôi
Miên man lời sóng bao đời thiết tha
Rộn ràng đón bước chân qua
Đám dây muống dại nở hoa trắng đầy

Nghiêng trời cánh hải âu bay
Tung tăng theo những cánh tay thủy triều

Biển ngày nào biển thương yêu
Nước xanh bóng áo dưới chiều đợi ai?
Dõi tìm vàng vệt nắng phai
Đậu trên mắt lưới làng chài quê em

Biển ngày nào biển thân quen
Bữa ăn dân dã chan thêm tiếng cười

Biển bây giờ biển lẻ loi
Gió ngơ ngác sóng mồ côi nhớ thuyền
Ngậm ngùi nhìn bóng trăng đêm
Thương trùng khơi vắng ánh đèn buông câu

Đời buồn đâu chỉ mưa ngâu
Mà đau với biển bạc đầu phong ba
Biển bây giờ biển xót xa
Thấy sao lạ chính quê nhà tôi ơi!

Rưng rưng đắng đến nghẹn lời
Lắng nghe biển khóc trắng trời mây bay

TRẦN VĂN NGHĨA
5/2016